SỰ TÍCH THÀNH CỔ LOA

Nói về thời xa xưa Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc, trong đó có nước Việt Trung Nguyên.
Nước Việt Trung Nguyên chính là Bắc Văn Lang, cha con Doãn Thường nổi lên chiếm lấy, đến đời Việt Vương Câu Tiễn, thời nước Việt Trung Nguyên đã quy thuận Nhà Chu. Ở vào thời Chu Nguyên Vương. Đến cuối đời Việt Vương Câu Tiễn thời nước Việt Trung Nguyên mất về tay Tần Thủy Hoàng.

Ở thời Việt Vương Câu Tiễn quân binh phần lớn nằm trong tay họ Triệu. Nước Việt Trung Nguyên mất về tay quân Tần. Tàn dư quân Việt Trung Nguyên chạy vào Trung Văn Lang chiếm lĩnh một vùng rộng lớn, vùng Đông Hải, Quân Triệu Đà. Còn các cánh quân họ Triệu khác thất bại chạy tản lạc khắp nơi.

Các cánh quân họ Triệu chạy tản lạc khắp nơi, khi biết Triệu Đà đã có đất dụng võ chiếm lĩnh Đông Nam Hải Trung Văn Lang, liền kéo đến gia nhập với quân Triệu Đà. Quân Triệu Đà vì thế lớn mạnh như thổi không bao lâu lên đến hơn mười vạn quân. Dân Chúng vùng Nam Hải cũng như các vùng khác ở Trung Văn Lang theo về rất đông quân Triệu vì thế trở nên hùng mạnh, có hơn mười lăm vạn quân.

Khi ấy con cháu Tây Thục Vương, là Thục Phán ở phía Tây Nam, Văn Lang nổi danh như cồn vì có Cao Lỗ theo trợ giúp. Và nhiều tướng tài khác như Dương Sàn, Tây Lương, Dương Lương. Cao Lỗ là nhà khoa học, nhà binh pháp kỳ tài. Lại hiểu rõ cách luyện thép tốt nhất chế tạo mũi tên bắn xuyên thủng áo giáp đồng, mũ đồng.

Thục Phán là con cháu nhiều đời của Tây Thục Vương. Tây Thục Vương đã từng đánh bại quân Ân xâm lược lần thứ nhất thời Hùng Tiên Lang. Mẹ Thục Phán là Công Chúa Mị Hoa con của Hùng Nghị Vương anh em với Hùng Duệ Vương. Thục Phán kêu Hùng Duệ Vương bằng cậu.

Thục Phán họ An rất thông minh cơ trí hơn người thạo nghề cung, nỏ. Có thể đứng xa một trăm mét bắng trúng vào hồng tâm. Năm 26 tuổi Thục Phán trở thành một vị Tây Vương.

Có lẽ niên đại Hùng Vương sắp kết thúc, nên đến đời Hùng Duệ Vương luôn ở trên đà suy vong. Năm giáp thìn 257 trước công nguyên nước Văn Lang chỉ còn lại Nam Văn Lang là nằm trong vòng kiểm soát của Hùng Duệ Vương. Nam Văn Lang liên tiếp xảy ra mất mùa dân chúng khốn khổ đói kém, giặc đói, giặc cướp, giặc nội loạn thường nổi lên. Nhất là nạn quan liêu, nạn tham nhũng, giặc ngoại xâm tìm trăm phương nhìn kế thôn tính Nam Văn Lang. Dân chúng khổ chồng lên khổ, họa chồng lên họa, trăm họ lầm than mệt mỏi mong cầu có sự thay đổi.

Hùng Duệ Vương không có con trai nối dõi luôn buồn phiền, lấy rượu ca múa hát thay thế, thường lơ là việc triều chính, các quan thi nhau mà vơ mà vét khiến lòng dân bất mãn vô cùng.

Thục Phán khi ấy ra sức chống giặc Tần. giặc Triệu từng ngày xâm lấn đất đai. Công khổ nhọc biết bao, nhiều tướng tài bỏ mạng nơi sa trường.

Bổng một hôm Thục Phán nghe Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho cho con rễ là Tản Viên Sơn Thánh, thời hét lớn: Ta là con cháu trong nhà, biết bao công lao cực khổ giữ gìn tất đất của Ông Cha. Không nhường ngôi cho Ta, mà lại nhường ngôi cho người ngoài. Ta phải giành lấy không thể để mất vào tay người khác.

Trước tình hình như vậy các tướng lĩnh đều họp lại nói với Thục Phán: Bẩm Thục Vương hãy kéo quân vào kinh đô Văn Lang ép Vua Hùng nhường ngôi. Hùng Duệ Vương thấy quân binh Thục Vương kéo về cung thành đông như kiến lấy làm kinh hãi, bằng cho người mời Sơn Tinh đến nói: Ta sẽ nhường ngôi cho con, con hãy hóa phép đánh tan quân Thục Phán.

Sơn Tinh thấu rõ cơ Trời bằng tâu rằng: Con đủ sức đánh tan quân binh Thục Phán. Nhưng Ý Trời không cho làm thế đành phải thuận theo Ý Trời.

Hùng Duệ Vương nghe Tản Viên Sơn Thánh nói thế, bằng nói: Như vậy Cha phải nhường ngôi cho Thục Phán.
Sơn Tinh nói: Muôn tâu Phụ Hoàng đúng như vậy. Dù cho Phụ Hoàng triệu hết quân đóng phía Nam Văn Lang, quân đóng phía Đông Nam Văn Lang lên đến 20 vạn quân cũng không đánh lại quân Thục Phán đâu. Vì Thục Phán đã ngấm ngầm chế tạo mũi tên thép, bắn xuyên thủng áo giáp đồng, mũ đồng. Trở thành những nỏ Thần vô cùng lợi hại.

Hơn nữa khi xảy ra chiến tranh, nhất là anh em tương tàn, nồi da xáo thịt. Không bên nào có lợi sự hi sinh chết chóc vô ích. Lưỡng hổ tranh nhau thợ săn đắp lợi. Quân Triệu đang rình rập, quân Tần trăm mưu nghìn kế nuốt trọn đất nước Văn Lang. Chi bằng nhường ngôi cho Thục Phán là thuận theo ý Trời.

Hùng Duệ Vương không còn con đường nào khác, mở cổng thành đón quân Thục Phán, rồi nhường ngôi cho Thục Phán. Thục Phán quá bất ngờ trước sự thay đổi ý định của Hùng Duệ Vương, không nhường ngôi cho Tản Viên Sơn Thánh mà nhường ngôi cho mình.

Thục Phán chính thức lên ngôi báu, chuyển đổi niên đại Hùng Vương thành niên hiệu An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc.

Cùng vào thời gian ấy quân Tần đã gồm thâu lục quốc, Việt Trung Nguyên đã thuộc về nhà Tần, với tham vọng chiếm trọn nước Văn Lang.

Năm 218 trước công nguyên Vua Tần sai tướng Đồ Thư thống lãnh 50 vạn quân đánh tiến vào Trung Văn Lang ồ ạt thế mạnh như chẻ tre. Quân Tần giáp trụ đầy mình, nón đồng phủ kín, nào kị binh, bộ binh, chiến xa, trang bị ná phóng đá, xe chống tên vô cùng lợi hại. Chia ra làm hai đạo quân, một đạo quân tiến đánh Triệu Đà đang ở Nam Hải. Đạo Quân chủ lực do Thống Soái Đồ Thư trực tiếp chỉ huy thống lãnh 30 vạn quân tiến đánh Nam Văn Lang.

Trước thế giặc hung hãn An Dương Vương ra lệnh cho Dương Sàn cùng Tây Lương, bình tĩnh vừa đánh vừa chủ động vừa rút lui. Dân chúng ở mọi Châu, mọi vùng miền tạm thời di cư sâu vào Nam Văn Lang, theo kế sách ( Vườn không nhà trống)

Giặc Tần đi đến đâu cũng không thấy dân, nên không cướp bóc được gì, chờ cho quân Tần chia ra nhiều nhánh tiến sâu vào các châu, quận địa phận Nam Văn Lang. Thống soái Dương Sàn, cùng phó thống soái Tây Lương, cho quân Văn Lang mai phục những nơi địa hình hiểm trở nơi sông suối, đèo, dốc mai phục, bất ngờ tấn công quân Tần. Đại quân di chuyển nhanh chóng, nhất là đội quân cung nỏ, phóng lao tinh nhuệ, cũng như áp dụng chiến thuật bắn tỉa, dồn quân Tần vào nơi phục kích, dùng nỏ tên hạ gục chúng.

Với chiến thuật trên kéo dài trận chiến, dưới dồn ép quân Tần vào chỗ hiểm nghèo quân Tần chết vô số kể, lại không cướp bóc được gì của dân. Đứng trước nguy cơ thiếu lương thực. Quân Tần không làm chi được, tiến đánh không xong mà lùi cũng bị kẹt, tình thế vô cùng bất lợi, càng kéo dài càng nguy, hơn nữa quân dân Bách Việt tinh thần yêu nước quật khởi rất cao. Có thể nói là không sao quân Tần đánh bại được.

Năm 211 trước công nguyên Tướng Đồ Thư quyết định rút lui về Việt Trung Nguyên, không tiến đánh Nam Văn Lang nữa. Quân Tần rút lui vừa tới nơi hiểm trở. An Dương Vương trực tiếp thống lãnh đại quân xạ thủ đuổi theo truy kích, quân Tần quay lại chống trả. Quân Âu Lạc nhiều ngã kéo tới xáp chiến. Quân Tần bị động, lại thêm thiếu lương thực nhiều ngày đã mệt mỏi, tinh thần chiến đấu không còn cao. Quân Âu Lạc thời khí thế dâng trào. Những mũi tên thép bắn ra từ quân Âu Lạc. Xuyên thủng giáp thủng nón đồng quân Tần chết như rạ. Tướng giặc Đồ Thư chỉ huy la hét. An Dương Vương liền bắn một phát tên thép xé gió vút nhanh cắm thẳng vào cổ tướng giặc Đồ Thư. Thống soái Đồ Thư tướng giặc ngã nhào. An Dương Vương nhanh như con mèo phi ngựa lao tới vớt cho một đao, tướng Đồ Thư đầu lìa khỏi cổ.

Đại quân binh mã nhà Tần như rắn mất đầu khiếp kinh hốt hoảng tháo chạy dẫm đạp lên nhau lớp chết lớp bị thương vô số những quân binh sống sót chạy về Việt Trung Nguyên Bắc Văn Lang hú hồn hú vía.

Sau lễ ăn mừng đánh đuổi quân Tần. An Dương Vương chọn đất Phong Khê (nay là vùng Cổ Loa) lập kinh đô. Phòng thủ trước âm mưu xâm lược từ phương bắc.

Khu vực chọn để đắp thành là một quả đồi Rắn. Quân binh cùng dân chúng ra sức hì hục đắp lũy đào hào hết ngày nọ sang ngày kia. Thành rộng hơn nghìn trượng, gồm lớp tường thành quây tròn lại với nhau giống hình trôn ốc. Dân quen gọi là loa thành. Việc xây dựng An Dương Vương ủy quyền cho vị tướng thân tín là Cao Lỗ. Vị Tướng học rộng hiểu nhiều, lại lắm biệt tài không ai sánh kịp toàn quyền xây dựng.

Kiến trúc thành Cổ Loa vô cùng phức tạp xen giữa khu chung cư là lũy hào chiến đấu. Nền móng của tòa thành vừa có nước vừa có thành, lũy. Nên việc đào, đắp vô cùng công phu. Với sức người sỏi đá cũng thành cơm, việc khó khăn chi cũng làm nổi. Tòa thành cao lần, hào càng sâu thẳm. An Dương Vương cùng các quan đến xem lấy làm hài lòng. Cho rằng một tòa thành có thể đứng vững muôn đời, không ai có thể làm cho nó sụp đổ được, mưa bão sấm sét không lay chuyển, quân giặc cũng không thể nào phá nổi.

Nhưng ai ngờ sau một đêm, cả tường thành quanh co đều sụp đổ xuống như đất bằng. An Dương Vương đến xem vô cùng tức giận. Cho người dò hỏi chúng dân gần đó cũng như quân dân đắp lũy xây thành kể lại rằng ban đêm họ nghe thấy những bước chân rầm rập có thể nói là rất đông khắp các ngã kéo đến, với những tiếng xì xào. Quân dân sợ quá nên không dám ra nhìn, chỉ nghe những tiếng đổ ầm ầm như sấm dậy.

An Dương Vương sai các tướng lĩnh đốc thúc quân dân đắp lại, nhưng hổi ôi xây lên rồi lại đổ xuống chỉ trong vòng một đêm. An Dương Vương lại sai người dọ hỏi, thời dân chúng vẫn kể y như những lời kể trước, ban đêm họ nghe thấy rầm rầm như thiên binh vạn mã đi qua, rồi lại nghe những tiếng huỳnh huỵch ầm ầm đùng đùng như sấm dậy.

Dân chúng nói: Đã lâu rồi, ở núi Thất Diệu có con Ma Quỷ hiện con gà trắng đêm đêm hiện về phá quấy phá cuộc sống an lành dân chúng, nhất là gần đây quấy phá dân quân đắp thành. Những người có trách nhiệm trong công cuộc xây thành nghe dân địa phương nói thế thời lấy làm chán nản, sợ hãi.

An Dương Vương không nản lòng, Vua động viên ba quân tướng sĩ cũng như những người có trách nhiệm đôn đốc xây thành nhất tâm không bỏ cuộc, nhất là động viên Cao Lỗ tiếp tục công trình. An Dương Vương nói với quân binh cùng dân chúng “ sống chết có số, ma quỷ làm gì nổi chúng ta ”

An Dương Lập đàn cầu Trời phù hộ đắp cho được loa thành. Cao Lỗ nói: Hãy cầu Thần Kim Quy sẽ có cách chỉ cho Bệ Hạ xây thành. An Dương Vương theo lời Cao Lỗ vừa cầu Trời, vừa cầu Thần Kim Quy. Quả đúng như lời Cao Lỗ nói Thần Kim Quy xuất hiện chấp tay bái lạy An
Dương Vương rồi nói: Thần là Thần Kim Quy, ở vào thời dựng nước. Thần được Cao Tổ cứu sống nên nhớ mãi ơn người, nay có Cao Lỗ con cháu nhiều đời của Cao Tổ mách bảo Bệ Hạ cầu Thần, Thần liền xuất hiện.

Tâu Bệ Hạ ở núi Thất Diệu có một con Gà Trắng to lớn Hồn của con Gà Trắng chính là Hồn Hồ Tinh có phép biến hóa khôn lường, nó thường hãm hại dân lành nhất là những cô gái đẹp, cũng như những khách trọ trong vùng nầy.

Ở vào thời dựng nước Bách Việt Văn Lang giết chết không biết bao nhiêu là yêu tinh quỷ dữ trong đó có họ nhà Hồ Tinh. Đến thời Hậu Hùng Vương thời Hùng Vân Lang yêu tinh lại nổi lên quấy phá, bị quân dân Bách Việt tiêu diệt chôn lấp dưới núi Thất Diệu có đến hàng vạn, những u hồn yêu tinh quỷ quái đến nay vẫn chưa tan. Lẫn khuất trong khe đá, ở hang sâu có cơ hội là phục thù.

Con Gà Trắng sống ở núi Thất Diệu vì có chơn dương rất cao nên bị Hồ Tinh cướp xác tu luyện thành Tinh, có pháp thuật thần thông biến hóa khôn lường, tụ tập những linh hồn tiểu yêu tiểu quỷ. Chúng có mối thù truyền kiếp với Bách Việt Văn Lang nay là Bách Việt Âu Lạc.

Chính con Gà Trắng nầy điều động những u hồn đến chân thành xúm nhau phá đổ tường thành gần sáng lại kéo về núi. Nếu không có cách thời không dễ gì tiêu diệt được chúng. Hồ Tinh Gà Trắng vốn thích gái. Thường hiện ra chàng trai, đến nhà lão chủ quán, ân ái với con gái lão chủ quán gần chân núi Thất Diệu.

Bệ Hạ muốn xây được thành thời phải trừ khử cho được con Gà Trắng, và giết đứa con gái của lão chủ quán kia đi. Con gái của lão chủ quán chính là Hồ Tinh Cái đầu thai. Thần Kim Quy tấu trình xong thời biến mất.

Nghe theo lời Thần Kim Quy mách bảo An Dương Vương liền sai vài viên tướng có võ công cao cường, dẫn quân vào rừng mai phục. Những mũi tên tẩm máu chó mực. An Dương Vương cùng hai vị tướng có tài trừ yêu, diệt quỷ cải trang làm khách bộ hành, đến quán xin ngủ trọ qua đêm viện cớ là trời sắp tối. Chủ quán từ chối lấy cớ nói là trong núi có nhiều yêu quái hay làm hại khách trọ.

An Dương Vương cùng hai vị tướng nói to nói nhỏ năn nỉ chủ quán, cũng như trả vàng bạc với giá cao, cuối cùng chủ quán đành phải chiều theo ba vị khách lạ.

Đêm đến An Dương cùng hai vị tướng nghe thấy bước chân rầm rập mỗi lúc một rộn ràng. Một con Gà Trắng to lớn xuất hiện hóa ra chàng trai lao nhanh vào buồng người con gái ông chủ quán. Theo lời dặn của Thần Kim Quy trời hừng sáng mới ra tay.

An Dương cùng hai vị tướng vẫn chờ đợi tiếng gà đã gáy, không bao lâu nơi phương đông hừng sáng. Liền thấy một con Gà Trắng từ trong phòng con gái ông chủ quán đi ra, có lẽ suốt đêm thỏa giấc vu sơn, chàng trai đã hiện nguyên hình là con Gà Trắng, thần thông pháp thuật đã giảm sút. Đây chính là cơ hội để giết chết con Gà Trắng.

Không thể bỏ lở cơ hội An Dương Vương liền bắn một phát tên trúng ngay vào con Gà. Con Gà không chết kêu quát quát cất cánh bay lên, hai vị tướng liền phối hợp nhau nhanh như chớp phi tới chém mỗi người mỗi đao giết chết con Gà Trắng. Con Gà Trắng vừa chết thời người con gái ông chủ quán cũng lăng đùng ra chết. Hóa thành con chim lớn từ trong phòng bay ra. An Dương Vương liền bắn một phát con chim trúng tên chết ngay lập tức.

An Dương Vương ra lệnh cho quân binh đuổi theo đám u hồn yêu tinh mà bắn. Cứ một loạt tên bay đi, liền nghe thấy tiếng Ma kêu Quỷ khóc vô cùng rùng rợn. Tiếng thét hãi hùng mỗi lúc một thưa dần.

Đến khi mặt trời mọc thời yêu khí tan biến hết, quân binh theo lệnh của An Dương Vương đào được rất nhiều hài cốt bỏ vào từng đống, chất thành đống cao, đốt đi rồi đổ tro xuống suối, không cho u hồn trụ bám tan biến hết.

Yêu Ma đã trừ xong An Dương Vương ra lệnh cho quân, dân, cùng binh lính xây lại thành. Dưới sự chỉ huy của Cao Lỗ dùng những tảng đá lớn chèn vào chân thành. Lũy Thành xây đến đâu, hệ thống sông đào đến đó. Tạo thành vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ Thủy Binh, Bộ Binh, Kỵ Binh, hùng mạnh. Cuối cùng thành Cổ Loa cũng xây xong. Vua, Vương, Quan, nhân dân vui mừng khôn xiết thành Cổ Loa rộng tới nghìn trượng, Tường thành vừa dày vừa cao, sông hào vừa sâu vừa rộng. xoáy tròn như hình trôn ốc nên gọi là Loa Thành.

Thành Cổ Loa là một công trình Văn Hóa vào loại phi thường nhất trong lịch sử Văn Minh nhân loại vào thời cổ đại của người Việt.

Thành Cổ Loa có chín vòng, chu vi vòng ngoài cùng 8km2 vòng giữa 6,5 km2. Vòng trong cùng 1,6 km2 Diện tích trung tâm thành lên tới 2km2 lũy cao 4, 5 m, có chỗ cao đến 8m đến 12 m. Mặt lũy rộng đến 6- 12 m chân lũy tường thành rộng đến 20- đến 30 m. Đây là một duy chứng, di tích lịch sử quý báu nhất. Nhiều lớp tường cổ vẫn còn.

Nói về An Dương Vương xây xong thành Cổ Loa ra sức tổ chức quân đội, tập dợt chiến đấu. Tướng Lĩnh và Binh Lính hàng ngày cần mẫn thao luyện.

Những đội thợ chuyên rèn vũ khí, sản xuất hàng loạt mũi tên đồng. Cũng như, lao, côn, kiếm, thương, đao, giáo, mác đều đạt đến kỷ thuật cao.
Nhất là kỷ thuật chế tạo mũi tên thép là cả sự bí mật của Âu Lạc. Chỉ riêng Cao Lỗ mới chế tạo được những mũi tên thép nầy, trên toàn thế giới ở vào thời kỳ ấy chưa có nước nào sản xuất được.

Cao Lỗ không những chế tạo ra mũi tên thép, mà còn phát minh ra liên châu nỏ thần. Loại vũ khí bắn ra một lần hàng trăm mũi vô cùng lợi hại. Tên đồng, tên sắt, tên thép bay thẳng vào mục tiêu.

An Dương Vương làm chủ hai thứ vũ khí vô cùng lợi hại đó là mũi tên thép, và nỏ thần liên châu.

An Dương Vương đặt nỏ Thần Liên Châu vào những chỗ trọng yếu loa thành. Để thử sự lợi hại nỏ Thần Liên Châu bằng ra lệnh cho Cao Lỗ bắn thử. Đám mưa tên dày đặc bắn ra, sứ mạnh thật kinh hồn, hàng trăm mũi tên xé gió đến rợn người. An Dương Vương lấy làm hài lòng lắm, không hết lời khen tài bác học Cao Lỗ.

Đây nói về Hồ Tinh Gà Trắng cùng con gái Ông Chủ quán chết. Thân Gà tuy chết nhưng Linh Hồn Hồ Tinh Gà Trắng vẫn còn do tu luyện nghìn năm Linh Hồn chúng vô cùng lợi hại bám sát An Dương Vương, có cơ hội là báo thù. Hồ Tinh Gà Trắng nói với Hồ Tinh cái: Muốn diệt được An Dương Vương thời chúng Ta phải đầu thai làm người một đàng làm con Triệu Đà, một đàng làm con An Dương Vương. Hai ta sẽ có cơ hội trả thù. Thế là Hồ Tinh Gà Trắng đầu thai làm con Triệu Đà trở thành Trọng Thủy. Hồ Tinh cái trước đây cướp xác người con gái Ông Chủ Quán, trở thành con gái Ông Chủ Quán, đêm nào cũng ái ân với Hồ Tinh Gà Trắng, bị An Dương Vương giết chết, Liền đầu thai làm con An Dương Vương trở thành Mỵ Châu.

Nói về An Dương Vương có người con gái xinh đẹp tuyệt trần mắt phụng, mày ngài giọng nói ngọt ngào như mật rót vào tai. Một hôm Mỵ Châu đang ngồi soi mặt xuống giếng thời thấy một con Chồn xuất hiện dưới mặt giếng. Mỵ Châu hoảng sợ thét ré lên nhưng thật ra con chồn cái Mỵ Châu thấy khi soi mặt dưới giếng chính là tiền Thân của Mỵ Châu Hồ Tinh Cái. Mỵ Châu sau cơn thấy Chồn liền trở nên khôn khéo hơn xưa nhất là càng về sau càng xinh đẹp. Lúc nào cũng dạ dạ vâng vâng ngọt ngào còn hơn lúc trước. An Dương Dương lấy làm mừng lắm nghĩ mình có phúc mới mới có đứa con như Mỵ Châu. Vừa thông minh, vừa xinh đẹp, vừa có hiếu. An Dương Vương coi Mỵ Châu hơn châu báu, còn quý hơn sanh mạng của mình.

Nói về Triệu Đà có nhiều người con nhưng Trọng Thủy là khôi ngô tuấn tú thông minh hơn cả. Một hôm Trọng Thủy thấy mình biến thành con Chồn to lớn bị người ta chém máu me đầy mình con Chồn thét lên. Trọng Thủy liền mê mang không biết gì nữa. Khi tỉnh dậy như người bệnh nặng tính tình Trọng Thủy đổi khác, đôi lúc làm phật ý Triệu Đà. Triệu Đà không mấy quan tâm về tánh tình Trọng Thủy. Vì nghĩ Trọng Thủy là người tài giỏi lại khôi ngô tuấn tú nên tánh tình kêu căng là chuyện bình thường. Quả đúng như vậy Trọng Thủy từ khi thấy Chồn trở nên khôn lanh đáo để, ma mị ít ai bì kịp.

Quân Triệu càng ngày càng trở nên hùng mạnh lên đến 30 vạn quân Triệu Đà trực tiếp chỉ huy, nhờ có móng Rồng đội lên đầu Triệu Đà đánh bại quân Tây Lương, bắn chết Dương Sàn vị thống soái tài ba của An Dương Vương Thục Phán qua trận giao tranh khốc liệt chiếm trọn Trung Văn Lang. Quân Triệu vì thế mạnh lên gấp bội.

Triệu Đà lên ngôi xưng Triệu Việt Vương rắp tâm chiếm nước Âu Lạc, tức là Nam Văn Lang.

Triệu Đà ngày đêm luyện tập binh mã, cách đánh thành, những binh pháp được coi như là tối ưu nhất.

Mùa đông năm 210 trước công nguyên Triệu Đà thống lãnh ba quân Bộ Binh, Thủy Binh, Kị Binh, tấn công vào Nam Văn Lang, thế mạnh như chẻ tre. Tướng Tây Lương chống cự không lại đành bỏ mạng. Quân Triệu hung hãn tiến quân vào thành Cổ Loa. Triệu Đà xua quân công thành hai bên xáp chiến long trời lở đất. Bao chiến thuật cao nhất Triệu Đà bằng sử dụng hết.Thơ rằng:

Thang lớp lớp bắt lên tường đất
Người trùng trùng lớp lớp leo lên
Máy xe đá bắn lên không ngớt
Tiếng gươm đao, dậy sóng cùng tên
Mù trời mịt đất tấn công
Long trời lở đất khiếp kinh hãi hùng.

Nói về An Dương Vương thấy quân Triệu trèo lên tường lớp lớp đông như kiến cỏ. Liền ra lệnh cho Cao Lỗ sử dụng nỏ Thần Liên Châu.

Cao Lỗ phất cờ ra hiệu bắn tức thời nỏ Thần Liên Châu phản pháo nhã tên quân Triệu chết thôi là chết chỉ trong nháy mắt quân Triệu đi tiêu hơn mười vạn quân. Triệu Đà khiếp vía hoảng kinh. Đánh trống thổi kèn lui binh.Thơ rằng :

Quân Âu Lạc bừng bừng khí thế
Thành Cổ Loa, huyền bí lạ lùng
Quân Triệu khiếp vía kinh hồn
Chết không kịp ngáp tàn đời xác thân
Thành trôn ốc, vòng quanh khép kín
Lũy tường thành nào khác mê cung
Có vào thời hết đường ra
Ăn tên ăn giáo gươm đao tàn đời
Thân trúng tên ngã nhào như rạ
Khiếp kinh hồn bỏ mạng vùi thây.


Loa thành bí hiểm biết bao Chỉ trong chớp mắt đi tiêu mười vạn quân binh không còn, Triệu Đà khiếp vía kinh hồn Thua to nhục nhã hết còn xâm lăng. Triệu Đà thua to nhục nhã rút quân về. An Dương Vương đại thắng mở tiệc ăn mừng ba ngày ba đêm. Không bao lâu Triệu Đà sai sứ cầu hòa. Hai bên thỏa thuận lấy sông Thiên Đức làm ranh giới. An Dương Vương lấy đó cho là thắng lợi mới, mở tiệc chiêu đãi ăn mừng cả tháng, quần thần trong triều ai nấy cũng hào hứng say sưa.

Cao Lỗ thấy vậy lo lắng bằng quỳ xuống tâu rằng: Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ. Quốc Vương nên bớt tiệc tùng, hãy chăm lo chận đứng mưu đồ của quân Triệu.

An Dương Vương nghe Cao Lỗ tâu như thế liền cười lớn nói “ Ta có Loa thành hiểm hóc lại có nhiều dàn nỏ Thần Liên Châu vô địch bày binh bố trận ” kẻ nào dám gây sự với Ta.

Long Hoa Lược Truyện, Văn Hóa Cội Nguồn

Câu Chuyện Sự Tích Thành Cổ Loa đến đây là hết, mời xem tiếp câu chuyện Trọng Thủy Mỵ Châu.