BÁO TIÊN RỒNG

NHÂN THẬP ĐẠI CƯ SỸ

VĂN LANG CHIẾN SỰ

QUỐC BẢO CHÂN KINH

VĂN LANG

CHIẾN

SỰ

1

THIÊN ẤN     THIÊN BÚT

GÒ HỘI

ĐỨC PHỔ     QUẢNG NGÃI

2005

Đinh Hùng Chung

 

PHẦN 1

 

Có sinh có tử luật xưa nay

Tổ Tiên Tạo Hóa đã an bày

Hết mưa tới nắng đời là thế

Hết thịnh rồi suy vốn xưa nay

Cách đây năm nghìn năm

Hùng Vương Quốc Tổ là con của Kinh Dương Vương. Mở rộng đất đai vào Nam. Khai lâp ra nước Văn Lang, cùng văn hóa Cội Nguồn Tiên Rồng, ra đời Hiến Pháp nước Văn Lang, nền Quốc Đạo Tiên Rồng dân tộc. Mở ra thời đại mới, thời đại văn minh tinh thần lẫn vật chất. Có một không hai ở giai đoạn nhân loại con người thời kỳ ấy.

Vua Hùng lên ngôi Quốc Vương năm 30 tuổi, ở ngôi Quốc Vương 79 năm. Truyền ngôi cho con cả là Hùng Qúi Lân vào năm 2880 trước Công Nguyên. Ở ngôi Quốc Đạo thêm 3 năm thì về Trời, thọ 112 tuổi. Rồi cứ thế lần lượt con, cháu các Vua Hùng kế vị Quốc Vương trị vì Thiên hạ. Nối nhau được 23 đời. Đời Hùng Vương thứ 23 không có con trai. Hùng Dịch Lang đành phải lập cháu. Con của Hùng Cừ dòng thứ, là Hùng Vân Lang lên ngôi Quốc Vương. Niên hiệu Hạ Hùng Vương đời thứ nhất bắt đầu vào năm 1232 tức là năm Nhâm Dần trước Công Nguyên. (Xem thêm Long Hoa Mật Tạng)

Thời dựng nước 79 năm thời Quốc Tổ Vua Hùng.

Thời giữ nước, mở rộng thêm đất nước 2622 năm.

Thời con, cháu kế vị các Vua Hùng. Tổng cộng thời dựng nước, thời giữ nước của các Vua Hùng là 2701 năm. Nhà nước Văn Lang ra đời vào năm 2959 trước Công Nguyên.

**************  

PHẦN 2

Văn Lang Độc Lập mấy nghìn đời

Nào phải không người chớ dễ ngươi

Con cháu Tiên Rồng luôn yêu nước

Hiếu trung truyền thống dễ mà xơi.

Nước Văn Lang: Bắc giáp Hồ Động Đình. Tây Bắc giáp Ba Thục. Tây giáp sông Hồng Lạc tức là sông Mê Công ngày nay. Ở thời Thượng Hùng Vương, Nam giáp Đèo Ngang. Ở thời Hạ Hùng Vương Nam giáp Hồ Tôn, Giáp giới Quảng Nam. Đông giáp biển Nam Hải, Đông Hải.

Nước Xích Quỷ đươc mở rộng vào Nam lên tới 23 Bộ thành nước Văn Lang. Có hai Kinh Đô chính. Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ là Kinh Đô cổ có từ thời Viêm Đế Thần Nông trên đất Giao Chỉ.

Còn Kinh Đô Văn Lang trên vùng đất Phong Châu Nghĩa Lĩnh Phú Thọ là Kinh Đô có từ thời Hùng Vương. Cũng từ đây nền Quốc Đạo Tiên Rồng mở màn Hiến Pháp nước Văn Lang. Thượng trị Quốc Đạo, hạ trị Quốc Hội. Trên thi hành Đạo, dưới thi hành Luật, đồng nghĩa thời nay Thượng viện Quốc Đạo, Hạ viện Quốc Hội, trên ban hành Công Đạo, dưới ban hành Công Luật. Nền Quốc Đạo không truyền xuống dân, mà chỉ truyền xuống Vua. Rồi Vua truyền xuống Quan ở hàng Vương tộc, Châu – Bộ        .

23 Bộ thời Văn Lang dựng nước, được duy trì hết thời thượng Hùng Vương. Đến thời hạ Hùng Vương 23 bộ xác nhập lại còn 15 bộ đó là:

1:  Bộ Giao Chỉ

2:  Bộ Chu Diêm

3:  Bộ Vũ Ninh

4:  Bộ Phú Lộc

5:  Bộ Việt Thường

6:  Bộ Ninh Hải  

7:  Bộ Dương Truyền

8:  Bộ Lục Hải

9:  Bộ Gia Ninh

10: Bộ Nhật Nam

11:  Bộ Cửu Chân

12:  Bộ Bình Văn

13:  Bộ Tân Hưng

14:  Bộ Cửu Đức

15:  Bộ Văn Lang

Nước Văn Lang tuy sáp nhập còn 15 Bộ. Nhưng có tới hàng nghìn Châu, Huyện. Đất đai rộng lớn vô cùng, rộng lớn hơn thời thượng Hùng Vương, giàu có trù phú vô cùng.

**************

 PHẦN 3

Văn Lang Độc Lập thái bình ca

Xuân nở đầy xuân gấm đầy nhà

Bổng đâu sấm nổ từ phương Bắc

Giặc Ân tham vọng dấy binh qua.

Thời hạ Hùng Vương đời thứ 3 Hùng Tiên Lang lên ngôi Quốc Vương trị vì thiên hạ thay Cha Ông Nội Hùng Yên Lang vào năm 1141 trước Công Nguyên. Non sông đất nước thái bình an lạc, đời sống lên cao, dân giàu có, của Báu đầy nhà. Hoa khôi xuất hiện khắp nơi, tin đồn vạn cõi. Bay đến tai Ân Thọ Vương Vua Trụ. Đời Ân Vua Trụ là tay háo sắc, háo chiến, hung bạo, tham lam, độc ác. Lúc nào cũng muốn độc bá thiên hạ, luôn luôn đi ngược lại lời dạy của các bậc nhơn hiền, nghịch Thiên, ác Đạo. Nghe tin đồn phương Nam giàu có, gái đẹp như Tiên nữ giáng trần. Sơn hào, hải vị, món ngon vật lạ, ngọc ngà châu báu khắp nơi. Thì lòng thèm muốn nổi lên, đến nỗi ăn không ngon, ngủ không yên. Lúc nào cũng nghĩ đến xâm lược thôn tính nước Văn Lang. Cho đến một hôm Vua Trụ không kiềm lòng nỗi nữa, liền thực hiện làm theo ý muốn của mình. Thường thường Vua Trụ lâm triều hơi muộn. Nhưng hôm nay lại khác hơn mọi khi, Trụ Vương nét mặt rạng rỡ, nhưng không dấu nỗi đầy vẻ tham vọng, khi thấy các Quan, Tướng đến chầu đông đủ.

Chiễm chệ trên bệ rồng, Trụ Vương tiếng nói oang oang như sấm, hai con mắt tóe lửa, nhìn chòng chọc đầy hung khí, ai nhìn thấy cũng phải khiếp sợ, với hàm râu quay nón dài thòm vểnh ngược như muốn ăn tươi nuốt sống ai đó:

   Trẫm nghe nói ở phương Nam Độc Lập gần hai nghìn năm, uy danh các Vua Hùng lừng lẫy, xem thường phương Bắt chúng ta. Từ thời Nghiêu, Thuấn nhà Hạ, đến đời nhà Thương ông cha ta. Có trên dưới nghìn năm. Đều kiêng dè Nam Bang Văn Lang. Có lẽ vì thế Nam Bang Văn Lang coi thường phương Bắc chúng ta. Đời tiền nhân kiêng dè, nhưng đời ÂN THỌ VƯƠNG ta thì không. Ta phải làm cho chúng biết thế nào là sức mạnh phương Bắc ta. Không những đất phương Nam, mà ngay cả đất Bắc chúng ta. Những nước không tùng phục, thì ta cũng phải xóa sổ chúng làm bá chủ thiên hạ.

Càng nói Trụ Vương càng đắc ý:

   Trẫm nghe đâu thời hậu Hùng Vương, chỉ là những vị Vua tầm thường, chẳng tài cán chi. Trẩm còn nghe nói nước Văn Lang giàu có, không những sơn hào hải vị, món ngon vật lạ, ngọc ngà châu báu như núi như non. Lại thêm văn minh nông nghiệp lúa nước, hạt ngọc ấm no, khai thác đồng thau, sắt thép vượt bậc. Nhất là thép quí hiếm vô cùng.

Vua Trụ càng kể càng nổi lên thèm khát tột độ. Không những Vua mà ngay cả Quan cũng nỗi lên sự thèm khát như vậy. Nếu thu phục được nước Văn Lang, gồm thâu Thiên Hạ Nam Bắc về một mối. Lập lên kỳ tích mà từ xưa tới nay chưa ai làm nỗi. Nhà Ân sáng chói có một không hai, trong lịch sử nhân loại. Có lẽ lòng háo chiến, háo thắng, dã tâm, tham vọng quá lớn. Nên đã làm lu mờ lý trí Vua Trụ. Lượm lặc thông tin không chính xác. Dẩn đến đánh giá thấp nhân tài, thực lực của nước Văn Lang.

Thừa Tướng Thương Dung thấy Trụ Vương xem thường nước Văn Lang thì than thầm rằng: Có lẽ cơ nghiệp nhà Thương sắp hủy diệt, nên bệ hạ mới nỗi lên lòng háo chiến, ngạo mạn xem thường Nam phương Văn Lang.

Liền khuyên can Vua Trụ rằng:

   Muôn tâu bệ hạ. Nam Bang Văn Lang không phải tự nhiên mà giàu có, Độc Lập kéo dài như thế, điều có cái gốc rễ nguyên nhân của nó. Đó chính là nền Quốc Đạo dân tộc. Hiến Pháp của nước Văn Lang, Hiến Pháp nền Quốc Đạo, Mới thật là Vua của nước Văn Lang. Các Vua Hùng nối nhau phò trì nền Quốc Đạo nầy. Đánh bại Vua Hùng thì có thể làm được. Nhưng đánh bại nền Quốc Đạo Tiên Rồng thì…

Thừa Tướng Thương Dung không dám nói nữa. Vua Trụ nổi nóng quát:

   Thì sao Thừa Tướng không nói tiếp.

Thương Dung ấp a..ấp úng.

Vua Trụ nói:

   Thừa Tướng cứ nói ta không bắt tội.

Thương Dung thưa:

   Muôn tâu bệ hạ. Thắng người thì dễ, nhưng thắng Đạo, thì từ xưa tới nay chưa có ai làm nổi. Huống chi là nền Quốc Đạo Tiên Rồng Hiến Pháp khai dựng lập lên nước Văn Lang.

   Muôn tâu bệ hạ. Nam Bang Văn Lang là một cường quốc vô cùng lợi hại. Lợi hại cả hai mặt, về tinh thần lẫn vật chất. Đất đai rộng lớn, rừng núi hiểm trở, sông ngòi, kinh rạch chằng chịt. Đúng là nơi Hổ ẩn, Rồng nằm vô cùng bí hiểm. Nên gần 2000 năm Độc Lập giữ vững chủ quyền. Không phải là không có lý do.

Vua Trụ nghe cũng có lý thì thừ người. Nét mặt buồn thảm vô hạn.

Vưu Hồn, Bí Trọng thấy Vua Trụ mất vui, liền tâu rằng:

   Muôn tâu bệ hạ: Nước Văn Lang thế nầy thế nọ. Chẳng qua là lời đồn, còn thực tế ra sao thì chưa tỏ rõ. Hùng Tiên Lang chỉ là vị Vua tầm thường. Chỉ lo an hưởng thái bình vui thú núi non. Các thân Vương, hầu Vương cũng vậy, bất tài vô dụng, béo mập chẳng nên tích sự gì. Có lẽ đây là cơ hội lập lên nhà Ân rộng lớn uy danh chúng ta, thống nhất thiên hạ Nam Bắc mở ra trang sử mới, trang sử hào hùng thời Ân.

Trụ Vương đang u sầu, nghe Vưu Hồn, Bí Trọng nói có lý, tâng bốc sướng tai khoái chí vô cùng. Thấy Trụ Vương đắc ý nghe lời sàm tấu của loài nịnh hót Hồ tinh.

Mai Bá tâu rằng:

   Ở đời Thái Hậu, đất Ba Thục có hai vị Chúa Vương là Hồ Xương, Hồ Quảng. Thần thông Pháp thuật vô biên. Có dã tâm lớn muốn nuốt nước Văn Lang. Nhưng đều thất bại bỏ mạng tại sa trường. Sau đó thì tới giặc Hung Di Mũ Đỏ là thứ giặc hung hiểm vô cùng, bước chân lên đất Văn Lang liền bỏ mạng không có ngày về.

Triệu Khải tâu thêm:

   Muôn tâu bệ hạ. Hạ Thần lâu nay vẫn nghe nói nước Văn Lang có bảy thanh Bảo Kiếm vô cùng lợi hại. Báu vật trấn Quốc, do Quốc Tổ Vua Hùng truyền lại. Nhờ thế nước Văn Lang vững bền Độc Lập, quân Văn Lang bất khả chiến bại.

Vua Trụ nghe Triệu Khải tâu thế mặt liền biến sắc, thấy Triệu Khải đề cao nước Văn Lang nhân tài báu vật thái quá.

Sùng Hầu Hổ liền lên tiếng. Sùng Hầu Hổ tính tình mười phần giống Vua Trụ tám chín phần. Háo sắc, hung dữ, tham lam, xưng hùng xưng bá, luôn coi thiên hạ ở dưới chân. Nghe Thương Dung, Mai Bá, Triệu Khải đề cao đất Nam. Nhân tài, vật báu, Quốc Đạo thái quá. Làm giảm uy phong đất Bắc thời đại bành trướng nhà Ân.

Thời liền tâu lên Vua Trụ rằng:

   Muôn tâu bệ hạ. Đời Ân ta so với các đời trước thì thế lực, vật lực, binh khí, nhân tài mạnh lên gấp hàng chục lần. Có thể nói là tột đỉnh. Nếu đem so với nước Văn Lang về mặt nào chỉ có hơn chứ không kém. Nhân sự, quân sự, chính trị, binh lính, đều hơn hẳn nước Văn Lang, gấp đôi, gấp ba, gấp bốn lần. Hơn nữa đất Ba Thục là do đời Ân ta cai quản. Hồ Yêu, Hồ Ma là con cháu của Hồ Xương, Hồ Quảng, từ thời nhà Hạ di cư xuống. Nên có mối tình giao hảo thời Ân Thương chúng ta. Sức mạnh đất Bắc chúng ta dời núi lấp sông. Chưa giao chiến sao biết là không thắng. Theo tôi nghĩ nước Văn Lang chỉ là con cọp đất nắn nặn lên mà thôi.

Trụ Vương thấy Sùng Hầu Hổ gãi đúng chổ ngứa, khoái chí cười lên ha hả:

   Ta cũng muốn xem Nam Bang lợi hại như thế nào.

Thấy Vua Trụ đã Quyết, các Quan các Tướng chẳng giám hớ môi.

Đây nói về Vi Tử Khải, Vi Tử Điển là anh của Vua Trụ. Không được chọn lập lên ngôi Hoàng Đế. Tuy không phản đối nhưng lòng lúc nào cũng buồn rười rựơi. Nghĩ đây là cơ hội ngàn vàng: Nếu chiếm được nước Văn Lang thì ta xưng Vương ở đó. Mặc sức tha hồ mà hưởng.

Liền tâu lên Vua Trụ rằng:

   Hạ Vương cũng muốn tham gia cuộc chiến lập công góp sức cùng Bệ Hạ.

Vua Trụ lấy làm ngạc nhiên, không nghi ngờ gì phê chuẩn cho đi. Thế là:

Lòng tham bùng dậy đá sắt tiêu

Bất chấp lời khuyên chết cũng liều

Binh hùng tướng mạnh rền đất Bắc

Hung tin nghìn dặm sấm vang kêu

Bầu trời u ám sa bão táp

Beo gầm sói hụ hiện quỷ yêu

Cuồn cuộn mây đen bay cùng khắp

Trời Nam dân chúng khổ lên nhiều.

***************

PHẦN 4

Tiên Lang đang niệm Cha Trời

Bổng đâu ngọn gió lạnh người bay qua

Hiện đầy quỹ dữ yêu ma

Gươm đao giáo mác bay ra mịt mù

Máu xương đầy khắp hoang vu

Quê hương lửa dậy âm u đen ngòm

Tiên Lang lo lắng bồn chồn

Họp liền quan tướng, kế bàn chuyển xây.

Năm 1141 trước công nguyên, Hùng Tiên Lang lên ngôi Quốc Vương. Non sông đất nước thái bình an lạc, ngô, lúa, sắn, khoai. Nông, lâm, ngư, nghiệp luôn luôn được mùa lớn. Biển lặng sóng êm, giao thương thuyền bè buôn bán tấp nập. Ao hồ sông rạch tôm cá đầy ghe. Danh lam thắng cảnh. Ca, múa, chiêng, trống, hội hè. Người chen sắc áo, hoa thắm đua khoe. Ấm tình non nước, ấm nghĩa bạn bè. Hè già nắng dịu, nẫy đọt non thu.

Nơi đền thờ. Hùng Tiên Lang đang thành tâm niệm Đức Cha Trời Lạc Long Quân. Địa Mẫu Âu Cơ. Thì bổng có một cơn gió dữ nỗi lên. Làm đèn nến tắc sạch. Hiện lên đầy Cáo Sói, Ma Qủy hung tợn. Hùng Tiên Lang giật mình lo sợ. Không hiểu điều gì sắp xảy ra. Lại thấy binh lửa dậy trời, người chết như rạ. Máu xương đầy khắp Giao Chỉ. Hùng Tiên Lang liền cho người thông báo khẩn cấp, các bộ các châu về họp.

Thường thường hàng năm hai lần họp. Đều ở Cung Hạ Trị Quốc Hội. Nhưng nay cuộc họp bất thường lại khác hẳn cuộc hộp ở Cung Thượng Trị Quốc Đạo, nên các quan tướng cũng đánh giá được phần nào tầm quan trọng của cuộc hộp bất thường nầy.

Có thể nói là tối quan trọng, liên quan đến sự an nguy Tổ Quốc. Nên sắc mặt các vị quan tướng người nào, người nấy tỏ vẻ hết sức căng thẳng. Nơi Cung Thượng Trị Quốc Đạo. Thái Thượng Hoàng Hùng Yên Lang cùng Hùng Tiên Lang ở đó đợi các vương, các quan, các tướng đến họp. Hương trầm nghi ngút trước Tiên Linh 24 vị Quốc Vương đã về trời, ngôi cao nhất chính giữa ngôi Quốc Tổ Hùng Vương: Trên Quốc Tổ là hai Đấng Tiên Rồng, Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Còn hai bên tả hữu dưới ngôi Quốc Tổ. Một bên là Thượng Hùng vương. Một bên là Hạ Hùng Vương.

Thượng Hùng Vương:  23 Linh Vị từ cao xuống thấp

Hạ Hùng Vương: 1 Linh Vị ở trên cao cánh hữu. Linh Vị Hùng Vân Lang, đời thứ nhất hạ Hùng Vương.  Đời Thứ 24 thời Hùng Vương.

Ai bước vào Cung Thượng Trị Quốc Đạo cũng điều thấy khiếp sợ, trước tài năng uy Đức của các Quốc Vương Thánh Tổ. Lúc bấy giờ nơi Cung Thượng Trị Quốc Đạo. Bá quan văn võ đủ mặt chẳng thiếu một ai. Hùng Tiên Lang đi ngay vào ý chính. Kể lại câu chuyện cách đây bảy hôm: Trẫm đang niệm danh hiệu Đức Cha Trời. Thì một chuyện lạ lùng rùng rợn xảy ra. Hùng Tiên Lang kể lại không bỏ sót một chi tiết nào. Nghe xong các Vương, các Quan, các Tướng ai nấy cũng đều kinh hãi. Trong số các Vương gia, có Cao Hầu Tể Vương Gia là con cháu lâu đời của Cao Tông, Cao Tổ là người giỏi về thiên văn, địa lý, dịch lý, tướng số, thuật số, đoán mộng, tiên liệu như thần. Nghe Quốc Vương kể xong liền co tay bấm quẻ, mặt liền biến sắc. Các Vương, các Quan, các Tướng, không khỏi lo lắng đồng nghĩ việc gì sắp xảy ra.

Cao Hầu Tể Vương tâu với Quốc Vương rằng:

   Muôn tâu Quốc Vương, hạ quan thấy những ngày gần đây, trên bầu trời các chòm sao sáng lên một cách kỳ lạ, hạ quan nghĩ mãi. Bổng một hôm hạ quan thấy mình bay lên trời, tới những vì sao sáng ấy, đó là những chòm sao gần miền hạ giới, hạ Thiên Vũ Trụ, những chòm sao sáng ấy chưa có ngôi chủ quản, nên đã phát ra hung tinh, thiện tinh xung phá lẫn nhau, mỗi ngày một thêm dữ dội. Không lẽ Huyền Cơ Vũ Trụ đã chuyển đến giai đoạn phong thần, ý trời chọn người chủ quản cho đủ số bộ máy huyền vi vũ trụ. Nếu thế thì cuộc phong thần sắp xảy ra.

Thái Thượng Hoàng, Hùng Yên Lang nói:

   Không lẽ cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc lại rơi vào cuộc phong thần?

Cao Hầu Tể vương nói:

   Muôn tâu Thái Thượng, chúng ta là con cháu Tiên Rồng, giai cấp cao quí Vũ Trụ, giai cấp Phật, Thánh, Tiên. Chiến tranh bảo vệ tổ quốc là cuộc chiến tranh chính nghĩa, không phải là cuộc chiến tranh xưng hùng, xưng bá, mà cuộc chiến tranh tự vệ theo Thiên luật hành trì, giữ vững cán cân công lý, bảo vệ độc lập tự do, nhân quyền, bình đẳng công bằng theo thiên luật tôn trọng lẫn nhau. Vì vậy hi sinh bảo vệ Tổ quốc giữ vững chủ quyền độc lập là sự hi sinh cao cả, nếu Trời có phong cũng chỉ phong Thánh mà thôi.

Thái Thượng Hoàng nói:

   Ta cũng nghĩ như vậy và ta cũng đã nhớ lại, các thời Tiên Vương truyền xuống giai đoạn phong Thánh, sau phong Thần ba nghìn năm Hội Long Hoa khai mở. Đó là thời kỳ Quốc Tổ lâm phàm trở lại, mở ra Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng toàn thế giới. Đó là việc xa xôi vì phong Thần chưa xảy ra chúng ta không nên bàn tới nữa, mà hãy bàn về chuyện sắp xảy ra đối với non sông Tổ quốc chúng ta. Cao Tể Vương cho biết việc Kiết – Hung của toán quẻ vừa rồi.

Xin tuân lệnh Cao Hầu Tề Vương nói:

   Muôn tâu Quốc Vương có lẽ nước Văn Lang chúng ta đi vào cuộc chiến chưa từng có ở thời ông cha ta. Quân Bắc giặc Ân đang dốc toàn lực lượng xâm lược nước ta với quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh nhân loại, thế mạnh dời non lấp biển. Thời ông cha ta dựng nước Xích Quỷ, dựng nước Văn Lang. Đã chém không biết bao nhiêu là chúa Yêu, chúa Quỷ, thuồng luồng, chồn, cáo, sói, rắn, hổ, báo. Nhất là Hồ Tinh – Ngư Tinh – Mộc Tinh lợi hại vô cùng. Nay chúng đã đầu thai làm người phần đông đều ở phương Bắc. Dọc theo các con sông lớn từ thượng nguồn cho đến hạ nguồn, như sông Hoàng Hà, Trường Giang v.v.. và các con sông phụ lưu khác. Có cơ hội là chúng trả thù tiêu diệt chúng ta ngay và cơ hội thời cơ đó đã đến. Chúng đã hội tụ đủ nhân duyên tạo dựng được binh hùng tướng mạnh và đã bắt đầu di chuyển lực lượng xâm lược thôn tính nước Văn Lang ta, yêu khí, hung khí xông lên làm cho trời đất u ám đến kinh người. Muôn tâu Quốc Vương. Chúng ta khẩn cấp cho cuộc chiến, dốc toàn lực lượng chống trả một còn, một mất nầy.

Tây Thục Hầu nói:

   Ta sợ gì chúng, loài ăn cướp chồn, cáo Yêu Tinh. Tuy nước Văn Lang ta sóng yên, biển lặng, thái bình độc lập đã lâu, nhưng nhờ vào nền Quốc Đạo, nên con cháu Tiên Rồng lúc nào cũng bền vững ý chí. Muôn người như một nhất hô bá ứng. Ta hãy cho chúng biết thế nào là truyền thống anh hùng dân tộc. Đã dẫm chân lên đất Văn Lang, thì không có ngày về, thây phơi chật đất, làm phân cho cỏ cho cây.

Hùng Tiên Lang nói:

   Văn Lang chúng ta xưa nay nhân tài mọc lên như nấm, địa hình phức tạp, núi non hiểm trở, sông lạch chằng chịt, rừng đồi cùng khắp với địa hình này ta không bao giờ sợ chúng.

Thục Vương nói:

   Muôn tâu Quốc Vương, đúng vậy đúng vậy. Đất Tây Bắc Văn Lang sẽ là nơi vùi xác chúng.

Hùng Cao Lang nói:

   Nam Kinh Xích Quỷ, Giao Chỉ là vùng đất Tổ của ông cha ta có bề dày lịch sử hơn ba nghìn năm. Đã từng đánh tan quân xâm lược Bắc giữ yên bờ cõi, là vựa lúa lớn nhất của nước Văn Lang ta, cũng là nguồn thủy sản lớn nhất cung cấp cho cả nước. Bắc Giao Chỉ là sông Nam Trường Giang. Nam Giao Chỉ là sông Tây Giang. Quân xâm lược sẽ vùi chôn nơi đây, không còn một mạng sống sót trở về.

Cao Lạc Hầu vương thưa:

   Muôn tâu Quốc vương. Đông Hải Văn Lang xưa nay là thế mạnh của thủy chiến, không những mạnh về thủy chiến mà còn mạnh cả về bộ chiến rừng, lạch chằng chịt âm u. Quân xâm lược sẻ bỏ mạng, thân xác làm mồi cho tôm cho cá. Trị cái tội xâm lược ngông cuồng của chúng.

Thấy khí phách hào hùng của các bậc Vương, Quan, Tướng. Hùng Tiên Lang lấy làm vừa lòng nói:

   Chúng ta là con cháu Rồng Tiên thì không có gì phải tham sống sợ chết. Tức thời hàng loạt kế sách, sách lược, chiến lược, chiến thuật được nêu ra bàn bạc thảo luận nắm lấy mọi chủ động, mọi cơ hội, mọi thời cơ ứng biến tiêu diệt địch.

**************

PHẦN 5

 Nói về Vưu Hồn, Bí Trọng ngày đêm xúi giục Vua Trụ xâm lăng tiêu diệt nước Văn Lang, thấy ý mình đã đạt. Trong lòng lấy làm sung sướng đánh một giấc ngủ ngon lành. Bổng thấy hồn mình lạc đến U Hồn Cốc ra mắt Chúa Vương là một con cáo già bảy đuôi.

Vưu Hồn, Bí Trọng lạy:

   Chúng con ra mắt Chúa Vương.

Chúa Vương hỏi:

   Hai con theo hầu Chúa Tổ có khổ lắm không?

Vưu Hồn, Bí Trọng ngơ ngác: Không rõ Chúa Tổ là ai? Nhưng không dám hỏi. Chúa Vương nói:

   Các con đã đầu thai làm người, không phải loài Cáo nữa. Nhưng Linh giác vẩn không quên mối thù diệt Tổ, diệt Tông của quân dân Văn Lang cách đây gần hai ngàn năm. Loài Chồn, Cáo ta có cơ hội là trả thù, đòi lại Địa Long Vũ Trụ. Nhưng đã thất bại nhiều lần. Loài Chồn, Cáo ta có đến hàng triệu, dù tu luyện đến đâu, cũng không làm gì được loài người, sẽ bị loài người sát hại. Không dể gì đòi lại Địa Long Vũ Trụ trả mối hận thù. Chỉ có một con đường duy nhất là xả bỏ thân Chồn Cáo ngàn năm, trăm năm tu luyện. Đầu thai làm người. Chỉ có loài người mới diệt được loài người, đó là lời nói của Chúa Tổ. Chúa Tổ đã xả bỏ cái thân tinh khí tu luyện hàng triệu năm, để đầu thai làm người mưu đồ nghiệp lớn. Làm bá chủ thống trị nhân loại, trả mối hận thù ngàn xưa, đòi lại Địa Long Vũ Trụ. Không bao lâu nữa, Chúa Tổ Mẫu của loài Hồ Tinh chúng ta cũng sẽ lâm phàm. Nhưng không đầu thai chi mượn xác người. Tuy thân hồn các con là người. Nhưng tâm hồn ý thức vẫn còn loài Chồn, Cáo dù cho Thần Thánh cũng không phát hiện được. Thôi hai con trở về trần thế đi.

Chúa Tinh liền thổi một luồng yêu khí vào hồn người Vưu Hồn, Bí Trọng sau đó thì phất tay một cái. Vưu Hồn, Bí Trọng giật mình thức giất mới hay là mình vừa chiêm bao. Từ đó về sau lúc nào Vưu Hồn, Bí Trọng cũng xúi dục Vua Trụ làm nhiều điều đại gian đại ác đối với con người. Nhất là tàn sát con cháu Tiên Rồng, chiếm lấy nước Văn Lang cho bằng được. Vua Trụ càng ngày càng cương quyết, huy động binh hùng tướng mạnh tiêu diệt nước Văn Lang càng sớm càng tốt.

Chồn Cáo xưa nay vẫn âm thầm

Mưu mô tiêu diệt các Vua Hùng

Mài gươm nghìn kiếp trên núi hận

Con cháu Tiên Rồng họa hiểm hung

Bắc phương hung khí đầy trời

Từ lâu muốn nuốt Nam thời Văn Lang

Quân hùng tướng mạnh rền vang

Giáo gươm ngun ngút loáng loang kinh người

Trường Giang sóng dậy ầm ầm

Lớp sau lớp trước cuộn cuồn tiến qua

Cậy mình quân tướng tài ba

Lòng tham vô đáy Trời coi ra gì.

Trên đồi Vọng Đọ người ta nhìn thấy quân Ân đông như kiến, trùng trùng điệp điệp lan lan lớp lớp gươm giáo sáng ngời. Xe ngựa mịt mù có hơn trăm vạn, ai nhìn thấy cũng thất kinh. Không bao lâu vượt qua Bắc sông Trường Giang, tiến thẳng về Nam sông Trường Giang. Cách Nam sông Trường Giang hơn khoảng 6 hoặc 7 dặm, thì hạ trại đóng quân tại đó.

Vua Trụ hạ trại đóng quân chưa được bao lâu, thì có quân vào báo:

   Bẩm Chúa Công hơn 50 trấn chư hầu lớn nhỏ đã kéo đến, tổng cộng trên dưới 60 vạn. Quả là con số không nhỏ.

Vua Trụ nói:

   Quân ta đã lên tới 160 vạn quân thì quân Văn Lang chỉ cần thấy đã khiếp rồi. Còn đâu tinh thần để mà đánh.

Nói xong cười lên ha hả vô cùng đắc ý.

**************

PHẦN 6

Vì nước vì non kể chi thân

Thịt nát xương tan chẳng ngại ngần

Một mất một còn quân xâm lược

Rồng Tiên truyền thống diệt quân Ân

Trải mật phơi gan, đầy non nước

Vang rền trung hiếu, Đạo cháu con

Cha ông dẹp giặc nghìn đời trước

Kim cổ rạng danh mãi thường còn

Nói về Hùng Tiên Lang Quốc Vương cùng 50 vạn quân tinh nhuệ. Nhắm hướng Nam Kinh Xích Quỷ tức tốc lên đường. Khí thế dậy non dậy núi, không bao lâu tới địa phận Giao Chỉ. Suốt dọc đường, hai bên đường dân chúng hết lòng ca ngợi, hết lòng sùng kính, hết lòng ngưỡng mộ dâng lên đồ ăn thức uống, lương thực thuốc men đồ gia dụng cần thiết, góp công góp của đánh giặc Ân.

Thấy dân vì nước giọt lệ rơi

Tiên Lang thề nguyện khấn giữa trời

Chỉ còn hơi thở ta cũng đánh

Đánh cho lũ giặc nát tả tơi

Đại quân đi gần tới Nam Kinh Xích Quỷ. Thì chiêng trống dậy trời, cờ bay phất phới. Đó không phải là quân giặc, mà là quân Nam Kinh Xích Qủy đội ngũ chỉnh tề tiếp đón Quốc Vương. Hùng Tiên Lang khen thầm trong bụng. Bỗng tiếng vó ngựa vang lên rồm rộp. Một đội kỵ mã mũ giáp chỉnh tề oai hùng tiến tới trước Quốc Vương ra mắt hành lễ. Hùng Cao Lang cỡi con ngựa Xích Long Câu to lớn dẫn đầu các quan tướng, xuống ngựa hành lễ ra mắt Quốc Vương. Hùng Tiên Lang xuống ngựa đỡ Hùng Cao Lang dậy: Nói miễn lễ miễn lễ.

Hùng Cao Lang mời Quốc Vương cùng các quan tướng vào thành, đi thẳng vào ngôi Chính Diện. Nơi mà Quốc Tổ Vua Hùng đã sinh ra. Các quan tướng ở Kinh Đô Văn Lang, phần nhiều chưa có dịp ra Kinh Bắc, Kinh Đô Nam Kinh Xích Qủy. Thấy sự giàu có ở đây còn hơn cả Phong Châu Kinh Đô Văn Lang.

Các quan tướng lấy làm kinh ngạc:

   Sao Quốc Tổ không ở đây mà lại ở Kinh Đô Văn Lang?

Nhưng không ai trả lời được câu hỏi nầy. Lại thấy nơi chính giữa cung điện có đôi Quốc Vương Nam Nữ diện mạo phi phàm. Người cha bồng đứa hài nhi, tỏa hào quang. Bức tượng người cha bồng con. Không ai khác hơn là Đức Vua Kinh Dương Vương. Còn đứa hài nhi tỏa hào quang ấy, chính là Quốc Tổ Hùng Vương.

Các quan, tướng nhìn thấy ba bức tượng ấy. Lòng xúc động, như nhìn thấy ở quá khứ hiện ra hết sức thiêng liêng, ăn sâu vào tâm hồn bao thế hệ con cháu Văn Lang. Nhất là Quốc Vương Hùng Tiên Lang không sao cầm giọt nước mắt.

Bổng có người vào báo:

   Có Cao Lạc Hầu Vương đến.

Mời Hầu Vương vào, Hùng Tiên Lang ra lệnh. Cao Lạc Hầu Vương vào ra mắt Quốc Vương nói:

   Xin Quốc Vương tha tội, Hạ quan đến trễ.

Hùng Tiên Lang cười nói:

   Miễn lễ.

Sau đó thời Vua tôi an tọa đi vào nghị sự bàn kế sách chống giặc. Đây nói về Tây Thục Hầu Vương, sau khi rời khỏi Kinh Đô Văn Lang, cấp tốc bay về Tây Thục.

Có câu thơ ca rằng:

Bạch Long Thần Mã ai bì

Ngày đi vạn dặm ai thời cũng kinh

Huống chi gặp lúc ngoại xâm

Ngựa bay vun vút vượt tầng núi cao

Hơn tên bắn hơn tên lao

Xé mây xé gió, biết bao oai hùng

Thục Vương anh dũng phi thường

Ngựa người lao vút núi rừng vụt qua

Tây Thục Vương là vị Vương đang cai quản hàng mấy mươi Bộ Lạc, Bộ Tộc vùng Tây Vu rộng lớn từ Tây Bắc giáp Ba Thục, đến Tây Nam AI LAO dân số lên tới vài triệu người.

Bắc Tây Thục gồm những châu lớn như: Di Tây Châu, Ngô Bắc Tây Châu, Hung Hung Tây Châu, Liêu Tây Thượng Châu, Phù Ung Tây Châu, Tam Giang Tây Châu, Lư Tây Trung Châu, Lô Lô Tây Châu, Phiên Tây Thượng Châu, Mân Di Tây Châu, Đinh Giao Tây Châu, Thượng Tây Giang Châu, Uất Lang Việt Châu, Lâm Giang Tây Châu.

Trung Trung Tây Thục Văn Lang gồm những châu lớn như: Tây Âu Châu, Hồng Thượng Thượng Châu, Hồng Lạc Châu, Thạch Vân Châu, Thái Vân Tây Châu, Bộc Tây Châu, Cựu Tây Châu, Thượng Đà Châu, Lai Trung Tây Châu, Âu Điền Châu, Môn Tây Châu.

Nam Tây Thục Văn Lang gồm những châu lớn như: Lao Sơn Thượng Tây Châu, Lao Sơn Tây Nam Châu, Lao Sơn Đông Tây Châu, Thượng Thượng Châu, Đà Thịnh Châu, Vệ Linh Tây Châu, Mã Linh Tây Châu, A Pha Tây Châu, Khơ Khơ Tây Châu, Mường Lai Tây Châu, Điện Linh Tây Châu.

Tây Thục Vương có tới chín người con, chia nhau cai quản toàn lãnh thổ Tây Vu, Tây Văn Lang. Chín người con đó là:

1:  Thục Lao

2:  Thục Man

3:  Thục Di

4:  Thục Chăm

5:  Thục Liêu

6:  Thục Châu

7:  Thục Mân

8:  Thục Ren

9:  Thục Cương

Đa phần dân chúng Tây Thục Văn Lang đều xưng dân tộc Âu. Khi Tây Thục Vương về đến Tây Thục vào thành Âu Tây liền cho gọi chín người con đến bàn tính kế sách chống giặc ngoại xâm.

Thấy các con đến đông đủ Thục Hầu Vương nói:

   Quân Bắc sắp xâm lược nước Văn Lang ta các con khẩn cấp về điểm binh mã dốc toàn lưc lượng theo cha đến Nam Kinh Xích Quỷ chống giặc.

Thục Lao nói:

   Thưa cha từ khi Quốc Tổ dựng nước tới nay, giặc Hồ, giặc mũ Đỏ, giặc Hung Nô, đã bị ông cha ta đánh tơi bời kinh hoàng khiếp vía, sau này còn dám hó hé. Đồ ếch, nhái mà cũng đòi vuốt râu Hùm sao?

Tây Thục Vương nói:

   Các con lầm rồi lần này không phải là ếch, nhái mà là cọp, beo, hổ, báo, Yêu tinh, Qủy dữ giặc Ân xâm lược nước ta với khí thế long trời lở đất. Cuộc chống ngoại xâm lần này là một còn một mất, các con hãy chuẩn bị tinh thần cho thật tốt, đối mặt với quân thù.

Các con Tây Thục Vương nghe nói không cãi mà muốn gặp ngay quân thù đánh cho một trận biết thế nào lợi hại của con cháu Tiên Rồng.

Đây nói về Hùng Tiên Lang Quốc Vương cùng các Vương, các Quan, các Tướng, bàn kế sách đánh giặc thì có quân vào báo:

   Tây Thục Vương đã tới xin ra mắt Quốc Vương.

Cho mời Tây Thục Vương vào. Xin tuân lệnh.

Đi đầu là Tây Thục Vương, sau Tây Thục Vương là 18 võ Tướng cả nam lẩn nữ uy dũng vô cùng. Hùng Tiên Lang khen:

   Quả thật Tây Thục danh Tướng oai hùng.

Tây Thục Hầu Vương nói:

   Tâu Quốc Vương đây là dâu, con, cháu lớn của hạ Quan các con ra mắt Quốc Vương đi.

Tức thời 18 võ tướng bước tới hành lễ nói:

   Chúng con là con cháu Vua Hùng xin ra mắt Quốc Vương.

Hùng Tiên Lang vui vẻ nói:

   Miễn lễ, miễn lễ.

18 người con cả dâu lẫn cháu ra mắt Quốc Vương hành lễ xong liền lui ra sau Tây Thục Vương an vị chỗ ngồi.

Hùng Tiên Lang Quốc Vương vẻ mặt đầy nghiêm nghị cho người mang hộp bảo vật Trấn Quốc đặc lên hương án, tuyên thệ hành lễ rồi mở hộp ra. Các vương, các quan, các tướng ai nấy cũng đều hồi hộp, bỗng từng chiếc hộp muôn Đạo hào quang tỏa ra vô cùng đẹp mắt, đó là ánh sáng của 6 cây bảo kiếm từ thời Quốc Tổ truyền xuống đến nay chỉ nghe kể, không bao giờ được thấy, chỉ trừ các vị Quốc Vương nối tiếp nhau trị vì Thiên Hạ.

Hùng Tiên Lang kể:

   Tiên Thiên Thất Tinh Bảo Kiếm là báu vật có một không hai vũ trụ. Hùng Vương Quốc Tổ dùng thần thông pháp thuật thu hút Tiên Thiên, Chơn Âm Chơn Dương tinh hoa vũ trụ kết cấu luyện thành hay còn gọi là thất linh Bảo Kiếm, không những uy lực vô biên mà còn theo ý tưởng của con người biến hóa diệu kỳ. Nếu đủ 7 linh kiếm Thiên Tiên vũ trụ, thì Thần Thánh Phật Tiên cũng khó bảo toàn tính mạng huống hồ là loài Yêu ma Quỉ dữ. Chỉ cần 5 linh kiếm Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ là chúng cũng đã đi đời, nay non sông Tổ quốc đi vào cảnh lâm nguy, không còn cách nào hơn là đem bảo vật trấn quốc ra xử tử bọn chúng, càn quét quân xâm lược. Có một điều rất lạ 7 thanh bảo kiếm truyền từ đời Quốc Tổ xuống đến đời thứ 23 thời thượng Hùng Vương nhưng khi truyền qua đời thứ 24 đời thứ nhất Hạ Hùng Vương thì xảy ra chuyện lạ. Hùng Vân Lang lên ngôi Quốc Vương làm lễ tiếp nhận 7 thanh báu kiếm trấn quốc. Đang lúc tiếp nhận trong tay đời thứ 23 Hùng Dịch Lang bỗng trời đất tối om rồi sáng lại rất nhanh chỉ trong vòng nháy mắt đã mất đi Thượng Thiên Chủ Kiếm chỉ còn lại Hạ Thiên Chủ Kiếm mà thôi. Có lẽ Quốc Tổ đã thu Thượng Thiên Chủ Kiếm về Trời rồi cũng nên, sự việc ấy xảy ra cách đây 91 năm và câu chuyện ấy cũng lần lần đi vào quên lãng chỉ riêng các Vua Hùng kế sau luôn luôn nối tiếc và ta đây cũng vậy. Nay non sông Tổ quốc lâm nguy vì thế ta đem bảo kiếm trấn Quốc ra tiêu diệt quân thù xâm lược bảo vệ con cháu Tiên Rồng, bảo vệ non sông Tổ quốc mà ông cha ta đã bao đời dày công xây dựng.

Thời gian cấp bách Hùng Tiên Lang phân bổ lực lượng như sau.

   Tây Thục Hầu Vương nghe lệnh: Có thuộc hạ.

Hùng Tiên Lang liền lấy thanh Kim Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm trao cho Thục Vương Gia nói:

   Hầu Vương dẫn 30 vạn quân chia làm 3 mủi trấn giữ Tây Giang Giao Châu, Dương Giang Châu, Kiến Giang Giao Châu, Tam Giang Tây Châu xin tuân lệnh, nhận ấn đồng vải trắng dẫn quân ra đi.

Hùng Tiên Lang nói:

   Cao Lạc Hầu Vương nghe lệnh: Có thuộc hạ.

Hùng Tiên Lang lấy Thanh Thủy Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm trao cho Cao Lạc Hầu Vương nói:

   Hầu Vương dẫn 20 vạn quân trấn thủ Đông Giang Giao Châu, Quế Giang Giao Châu, Lạc Trung Giao Châu xin tuân lệnh, nhận ấn đồng vải đen ra đi.

Hùng Tiên Lang lại nói:

   Hùng Cao Lang nghe lệnh: Có thuộc hạ.

Hùng Tiên Lang lấy thanh Hỏa Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm trao cho Hùng Cao Lang nói:

   Hầu Vương dẫn 30 vạn quân trấn thủ Bắc Giang Giao Châu, Lạc Giang Giao Châu, Kinh Giang Giao Châu, Giao Giao Minh Châu, Quí Linh Giao Châu. Xin tuân lệnh. Nhận ấn đồng vãi đỏ dẫn quân ra đi.

Hùng Tiên Lang lại nói:

   Điền Điền Lang nghe lệnh: Có thuộc hạ. Con nhận lấy thanh Mộc Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm nhận ấn đồng vải xanh dẫn 10 vạn quân mai phục bảo vệ vòng đai Kinh Đô Xích Quỷ, Hợp Giao Châu, Hạt Linh Châu, Lạc Điền Châu. Tuân lệnh dẫn quân ra đi.

Hùng Tiên Lang lại nói:

   Diệp Lang nghe lệnh: Có thuộc hạ. Cháu nhận lấy Địa Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm nhận ấn đồng vải vàng dẫn 10 vạn quân mai phục tại rừng Tiên Du, dưới chân Hùng Phong Sơn tiếp cho quân Tây Thục, cháu xin tuân lệnh dẫn quân ra đi.

Phân bố lực lượng xong Hùng Tiên Lang mới thở phào nhẹ nhỏm. Ở tại Nam Kinh theo dõi tình hình chiến trận, tiếp tục điều động lương thực, quân binh ứng chiến. Thế là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc đã mở màn.

***************

PHẦN 7

Trùng Trùng Cáo Sói ở kia sông

Tanh máu xông lên bốc nực nồng

Nhe nanh múa vuốt nghe hùng hục

Liếm mép nhìn qua, Tử Giang sông

Nhắc lại bên kia bờ Bắc sông Trường Giang ÂN THỌ VƯƠNG lòng nóng như lửa đốt, mau chiếm lấy nước Văn Lang lên ngôi bá chủ gồm thâu Thiên Hạ về một mối, tùng phục nhà Ân.

Nói về Vi Tử Khải, Vi Tử Điển luôn luôn nghĩ đây là cơ hội hiếm có để xưng Vương. Lòng háo hức muốn tiến quân đánh ngay, liền tâu lên Ân Thọ Vương rằng:

   Muôn tâu bệ hạ, hạ thần xin nguyện lãnh ấn tiên phong đánh chiếm Nam Kinh Xích Quỉ lập chiến công mở màn thu phục nước Văn Lang.

Vua Trụ lấy làm ngạc nhiên nhưng rồi cũng cho đi. Vi Tử Khải, Vi Tử Điển, mỗi người thống lãnh 39 vạn quân chia làm 2 mũi đánh thẳng vào trung lộ Bắc Văn Lang, chiếm lĩnh các thành lớn như: Lạc Giang Giao Châu, Quý Linh Giao Châu, Kinh Kinh Giao Châu, Bắc Giang Giao Châu, Xích Linh Giao Châu, Hợp Giao Châu, sau cùng là chiếm lấy Nam Kinh Xích Quỉ.

Vua Trụ lại tiếp tục ra lệnh: Cho Khương Hoàng Nhân, Triều Chấn Lôi, Tử Điền Phi kết hợp với 20 trấn chư Hần lớn nhỏ Yên, Sở, Triệu, Tề, Tần, Tấn lên tới 50 vạn quân. Tấn công Đông Bắc Văn Lang Đông Giao Chỉ chiếm lĩnh các thành lớn như: Đông Giang Giao Châu, Quế Giang Giao Châu, Liễu Giang Giao Châu, Lạc Trung Châu, Đông Hải Giao Châu, Hạ Linh Châu sau cùng bọc lên tấn công vào Nam Kinh Xích Quỉ, tuân lệnh.

Trụ Vương lại tiếp tục ra lệnh: Cho Ngạc Sùng Cảnh, Ngạc Sùng Văn, Triệu Tử Quân, Chu Công Minh, Thiệu Công Tiển, kết hợp với 20 trấn chư Hầu lớn nhỏ, Mân, Chu, Cảo, Phong, Ngân, Lâm, Hồ, Hàn, Ngụy lên tới 50 vạn quân. Tấn công Tây Bắc Văn Lang Tây Giao Chỉ, chiếm lĩnh các thành lớn như: Tây Giang Châu, Dương Giao Châu, Kiến Giao Châu, Hồ Tây Châu, Âu Giao Châu, Tam Giang Tây Châu rồi đánh bọc xuống Lạc Điền Châu chiếm lấy Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ.

Hùng Tiên Lang nhìn về phương Bắc, thấy trời đất u ám, sát khí trùng trùng trong lòng không khỏi lo lắng, liền cho quân lập đài cầu Trời gia hộ cho con cháu Tiên Rồng giữ vững non sông Tổ quốc.

Vì Nguồn vì Cội vì Cha Ông

Vì nước vì non dốc một lòng

Ta còn hơi thở, còn chiến đấu

Đuổi quân xâm lược khỏi non sông

Nơi đất Tây Giang Châu ba anh em Thục Mân, Thục Ren, Thục Cương đang ra sức kêu gọi dân chúng di tản sâu vào Nam lánh giặc, dẫn 10 vạn quân kết hợp cùng quân lính các quận Huyện nhanh chóng trấn thủ thành Tây Giang Châu. Thành Tây Giang Châu là nơi trọng yếu giao thương với các thành gần biên giới yếu huyệt của kinh tế, chính trị, quân sự. Thành Tây Giang Châu, địa thế phức tạp bí hiểm, núi non hiểm trở, xưa nay quân Bắc xâm lược đều khó vượt qua địa phận đất Tây Giang.

Nơi thành Tây Giang Châu có vị quan phủ Bố Chính An Lạc Điền là vị quan hiền lành, văn võ song toàn, luyện được đao pháp thượng thừa, có 2 người con 1 nam 1 nữ đều là bậc hảo hán anh hùng. Nhận được tin mật báo, quan phủ liền ra lệnh di tản dân nội thành đi nơi khác, thấy quân Văn Lang đến liền mở cổng thành đón 10 vạn quân vào, rồi đi vào nghị sự bàn luận kế sách chống giặc.

Thục Mân nói:

   Nếu nói về ngôi thứ thì 3 anh em tôi cùng quan phủ vai vế khác nhau. Nhưng nói về tuổi tác cũng như kinh nghiệm về chinh chiến, địa hình phức tạp ở đây, thì 3 anh em chúng tôi không bằng đại nhân được, xin đại nhân chỉ bảo cho.

Thấy sự ăn nói khéo léo của Thục Mân, An Lạc Điền thầm khen ngợi, nên đã có ít nhiều thiện cảm, không khách sáo chi nữa liền đưa ra phương án chống giặc, theo sáu phương án sau:

1:  là thông

2:  là cảng

3:  là đối

4:  là ải

5:  là hiểm

6:  là viễn

   Luận về binh pháp xưa nay giặc chưa hiểu về ta, nên giặc phải chọn nơi đất bình quan cảnh thông thoáng, để dễ tiến, thối khi gặp trở ngại. Theo hạ quan được biết thế giặc tấn công tây Bắc chúng ta lên tới 50 vạn quân trong khi chúng ta chỉ có hơn 10 vạn, vì vậy chúng ta không thể đánh phủ đầu trực diện đối mặt với chúng được, hơn nữa thế giặc chưa mệt mỏi, còn đang hưng phấn chiến đấu ngùn ngụt, vì thế trước mắt thủ thành là chủ yếu, chờ giặc phân tán lực lượng ta mới ra tay tấn công. Dựa vào thế cảng nơi có nhiều chướng ngại như Núi, Sông, Kinh Lạch, Rừng, chúng ta mai phục ở đó dụ chúng lọt vào bẫy ra sức tiêu diệt, lúc này mới dùng chiến thuật đối mặt gọi là chặn dồn ép giặc chạy về phía hiểm địa gọi là kế ải. Cắt đứt giặc ra từng khúc gọi là kế tử. Thế giặc đã lâm vào tử ải thì coi như đã hết đời, chết nơi hiểm địa, giả đò thua dụ địch sâu vào đất Văn Lang, bất ngờ tấn công cắt đứt liên lạc, tiếp viện đưa giặc vào thế cô lập làm cho chúng mất ăn, mất ngủ, bất ngờ đồng loạt tấn công giống như đàn sư tử tấn công con voi, giặc rơi vào thế yếu ngã gục đi đời.

Trong lúc đang bàn kế sách chống giặc, thì có quân vào báo:

   Quân giặc đã tràn qua ải Tây Giang, đã chiếm lĩnh một số Quận, Huyện. Chúng đang ra sức vơ vét của cải, những người dân tiếc của không chịu di tản bị giặc tàn sát thê thảm.

Ôi thôi làng xóm còn gì

Hùm Beo Cáo Sói mấy khi hiền lành

Đầy mình móng vuốt cùng nanh

Gái tơ hơi hới phải đành nát tan

Dân lành máu chảy loáng loang

Chúng đâm chúng chém ác gian kể gì

Núi thù biển hận kể chi

Rồng Tiên con cháu xông lên diệt thù.

Nói về 50 vạn quân cùng 20 trấn chư hầu lớn nhỏ do Ngạc Sùng Cảnh, Ngạc Sùng Văn chỉ huy. Người ngựa, xe cộ, thuyền bè tiến qua các Quận, Huyện như thác lũ. Càng lúc càng tiến sâu vào đất Văn Lang, hơn 50 dặm, thì trời cũng bắt đầu xẩm tối. Trưới mặt là những rừng đồi lô nhô kéo dài tới dãy núi Hùng Phong Sơn cao vút. Cùng con sông ẩn mình qua bao khu rừng rậm, kinh rạch, ngoằn ngoèo, ngoắt ngoéo uống lượng quanh co qua những vùng thung lũng lau sậy. Như nói lên bao sự huyền bí của vùng Tây Bắc Văn Lang.

Ngạc Sùng Cảnh lạnh cả người, như có gì mách bảo là ngày tử nạn của ông không xa. Ngạc Sùng Cảnh rùng mình không dám nghĩ nữa. Liền cho quân hạ trại, dừng lại không tiến sâu thêm nữa.

Ông nói:

   Chúng ta đã tiến quân sâu vào đất Văn Lang hơn 30 dặm, vượt qua một số Quận, Huyện, chỉ gặp cảnh vườn không nhà trống, không gặp trở lực nào cả. Điều đó chứng tỏ rằng Quân Văn Lang có chủ ý, không thể không đề phòng.

Liền cho trinh thám dò đường thám thính tình hình quân địch. Không bao lâu thời thám tử về báo:

   Trước mặt ta 10 dặm về hướng Nam là vùng gò đồi rừng Mây, thung lũng, lau sậy có nhiều kinh lạch chảy xuống sông Âu. Qua khỏi vùng gò đồi rừng Mây về hướng Tây Nam 8 – 9 dặm là thành Tây Giang Châu.

Suốt cả đêm bọn tướng tá thăng chốt của lũ giặc Ân nỗ lực đưa ra kế sách tiến quân thôn tính toàn bộ địa phận Tây Bắc Văn Lang và cuối cùng thống nhất đánh thẳng vào ba yếu huyệt chiếm lấy ba thành.

**************

PHẦN 8

Nói về bộ sậu chủ chốt giặc Ân thảo luận kế sách sáng đêm, tiến quân đánh ba thành. Ngạc Sùng Cảnh điều động quân binh như sau.

1: Triệu Tử Quân nghe lệnh: Có thuộc hạ; Tướng quân điểm 10 vạn quân kết hợp với quân:  Chu, Cảo, Phong tiến đánh thành Tây Giang Châu. Tuân lệnh.

2: Chu Công Minh nghe lệnh: Có thuộc hạ; Tướng quân điểm 10 vạn quân kết hợp với quân:  Lâm, Hồ, Hàn tiến đánh thành Dương Giao Châu. Tuân lịnh.

3: Thiệu Công Tiển nghe lệnh: Có thuộc hạ; Tướng quân điểm 10 vạn quân: Mân, Ngân, Ngụy. Tiến đánh thành Kiến Giao Châu. Tuân lệnh.

Tiếng gà vừa gáy mộng chưa tan

Ba con rắn độc đã vội vàng

Uốn mình lao tới chân rồm rộp

Các bụi mịt mù trống canh vang.

Mặt trời còn ngủ chưa thức. Trong màn đêm những giọt sương còn nằm chơi trên mái lá. Bỗng giật mình khiếp sợ, nhìn ba con rắn khổng lồ dài 8-9 dặm cuồn cuộn há mồm lao thẳng về thành Tây Giang Giao Châu, Dương Giao Châu, Kiến Giao Châu. Cách thành độ hơn 2 dặm thì ba con rắn dừng lại. Cũng là lúc mặt trời thức giấc ánh bình minh trở lại với quê. Với cặp mắt cú vọ diều Hâu, Triệu Tử Quân hết nhìn núi non hùng vĩ, sông nước hữu tình. Những cánh đồng lúa xanh thăm thẳm, những đàn cò trắng lã bay qua. Đàn ong bướm bay lượn nhành hoa. Như toát lên đời no ấm xuân hoa. Liền thở dài: Thảo nào mà Bệ Hạ không thèm khát sao được. Và trách nhiệm nặng nề của ta là phải chiếm cho được thành Tây Giang Giao Châu.

Đây nói về thành Tây Giang Giao Châu, theo kế sách đã hoạch định. Trời vừa xẩm tối, từ nơi cửa thành 1 vạn quân bí mật nhắm dãy núi Hùng Phong Sơn âm thầm lặng lẽ ra đi. Lại 1 vạn nữa nhắm hướng Đông Bắc tới thung lũng rừng Lau Sậy phục kích. Nhìn thấy quân Ân vượt qua sông, vượt qua rừng Mây như thác đổ, vì chưa có lệnh nên không tấn công chỉ im lặng để cho giặc đi qua.

Kìa quân ăn cướp đến rồi

Chúng vơ chúng vét hết thời của dân

Của ngon vật lạ chúng ăn

Cửa nhà chúng đốt sang bằng còn chi

Gái tơ chúng bắt nâng ni

Xài rồi chúng lại bắt đi làm hầu

Miếu thờ chúng kể gì đâu

Gái trai già trẻ chúng xâu một lùm

Đáng ra dân phải lên đường

Vườn không nhà trống lánh nương, giặc càn

Cũng vì tiếc của giàu sang

Giờ đành phải chịu lắm đàng họa tai

Kêu trời khóc đất thảm thay

Trời im đất lặng có hay bao giờ

Kia kìa giặc đã công thành

Rồng Tiên Chồn Cáo phân tranh mất còn.

Đứng trên thành cao, quan văn tướng võ nhìn thấy quân Ân trùng trùng lớp lớp kéo đến cách cổng thành độ chừng hai dặm thì hạ trại. Chặn đường ra vào chính yếu của thành Tây Giang Giao Châu. Bổng từ nơi doanh trại của giặc, xông ra một tướng oai phong lẩm liệt, dẩn theo 3 nghìn quân, kéo tới cổng thành dàn trận.

Rồi lên tiếng hách dịch quát lớn:

   Quân cỏ rát thành Tây Châu kia, mau ra qui hàng thì sống, còn chống lại thì chết.

Khoác lác vô cùng. Thấy tướng giặc hỗn xược ngạo nghễ như vậy, không kèm nỗi sự tức giận An Lạc Sơn nói:

   Thưa cha. Để con ra lấy đầu thằng nhái ranh đó cho.

An Lạc Điền nhìn ba vị tướng quân hơi ngần ngại. Thục Mân nói:

   Lạc Sơn tướng quân ra trận hết sức cẩn thận.

An Lạc Điền nhìn An Lạc Sơn nói:

   Đây là trận mở màn, chỉ có thắng chứ không được thua.

An Lạc Sơn nói:

   Con hiểu rồi.

An Lạc Sơn hăm hở, điểm 3 nghìn quân mở cổng thành xông ra nghinh chiến đón đánh. Thấy tướng giặc nghinh nghinh tự đắc. An Lạc Sơn vốn khôi ngô tuấn tú. Nay ra trận mão giáp chỉnh tề, thể hiện khí chất bất phàm oai phong lẩm lẩm. Tướng giặc Ân, thấy An Lạc Sơn cốt cách oai hùng như vậy cũng phải khen thầm.

An Lạc Sơn giục ngựa xông tới hét lớn:

   Hãy xưng tên họ rồi chết. Làm phân cho đất Nam ta.

Tướng giặc tức quá hét lớn:

   Nhãi ranh, hôm nay là ngày giỗ của ngươi.

Liền phi ngựa xông tới chém liền mấy nhát. Tướng giặc Ân ấy không ai khác hơn là Ly Ảnh Quân, con trai của Cảo Hầu Vương là người khắc tiếng về Đạo pháp. Có thể lấy mạng đối thủ ngoài mười thước. Biệt hiệu là Vô Ảnh Đao. An Lạc Sơn nào có kém chi. Nhờ ăn được quả linh chi ngàn năm. Nên đã luyện Đao pháp đến xuất thần nhập hóa. Thế là hai con cọp vồ nhau chí tử. Các bụi mịt mù, ánh Đao chớp chớp, đinh tai nhức óc, rét rét, ầm ầm kinh thiên động địa, kẻ qua người lại như bóng với hình. Chiêng trống rền trời, quân reo dậy đất.

Đúng là:

Một bên vì nước vì non

Một bên xâm lược ác gian kể gì

Đao qua đao lại kể chi

Bình sanh dốc hết lấy đi đầu thù

Đao đà luyện đến hư vu

Cuồn phong lạnh buốt âm u rợn người

Đánh cho tới mãi trời chiều

Bất phân thắng bại khó mà hơn thua.

Thế là hai bên đành thu quân hẹn ngày mai một còn một mất. Vào cung thành, An Lạc Sơn thưa với Thục Vương rằng:

   Bẩm chủ soái mạc tướng tội thật đáng chết. Trận đầu mà tôi không lấy được đầu giặc làm mất nhuệ khí ba quân tướng sĩ.

Thục Mân nói:

   Ra trận thắng thua là chuyện bình thường. Thủ hòa coi như là lập được công đầu.

Nói về tướng giặc Ly Ảnh Quân sáng bữa sau xin Chủ Soái ra trận nữa. Triệu Tử Quân nói:

   Tướng quân nghỉ cho khỏe, nay để cho tướng khác ra trận.

Biết Chủ Soái không ưng ý, bằng làm thinh không giám thưa thỉnh nữa.

**************

PHẦN 9

Trời vừa hừng sáng. Quân vào báo rằng:

   Quân Ân rầm rầm rộ rộ kéo đến gây chiến.

Nghe thế tất cả quan tướng đều lên thành để xem. Thấy quân Ân lập lên đài quan sát. Cờ hiệu Chủ Soái Triệu Tử Quân. Quân binh đông như kiến. Thời thấy rõ dụng ý của giặc là quyết tâm xóa sổ thành Tây Giang Giao Châu ( Tây Giang), Triệu Tử Quân đứng trên đài quan sát chỉ huy.

Với cặp mắt cú vọ diều hâu, Triệu Tử Quân phất cờ hiệu lệnh, tức thời cánh tả đài quan sát có một tướng oai phong lẩm lẩm. Đầu đôi Kim Khôi, mình mang giáp đồng, cởi ngựa ô, tay cầm Long đao nặng sáu mươi cân, lách mình tới trước đài quan sát nói:

   Bẩm chủ soái. Để thuộc hạ khiêu chiến trận này.

Triệu Tử Quân đồng ý nói:

   Tướng quân điểm năm nghìn quân kéo tới sát cửa thành, khiêu khích khiêu chiến, làm cho địch ra mặt và tiêu diệt chúng, tuân lệnh.

Người tướng ra trận đó không ai khác hơn là Chu Vũ Chương con trai lớn nhất của Chu Công, nổi tiếng là luyện được ngọn chỉ phong vô cùng lợi hai giết người nháy mắt. Dẫn 5 nghìn quân ra trận kéo trước tới cổng thành thách thức phách lối ngạo mạn coi quân tướng Văn Lang như loài ếch nhái, thùng rỗng kêu to mà thôi.

Thành Tây Giang Giao Châu, chiêng, trống nỗi lên rền trời rền đất. Ba anh em nhà Tây Thục mở cửa thành xông ra bày binh bố trận đối mặt với quân thù. Thấy tướng giặc Ân ngạo mạn phách lối.

Thục Ren nói:

   Để em ra lấy đầu tên giặc cướp này cho hả cơn giận.

Liền điểm năm nghìn quân xông tới xáp chiến. Hai tướng như hai con hổ gầm gừ lao tới quật nhau ầm ầm. Thục Ren nhờ có sức mạnh Trời ban, mình mang giáp đồng nặng tới 100 cân, cỡi con ngựa Huyết Hản cao lớn, trường thương nặng hơn 80 cân lao qua lao lại vùn vụt. Những nhát thương như sấm sét, chưa đầy 30 hiệp, tướng giặc biết mình đánh không lại liền dở tuyệt chiêu vận hết 12 thần công lực, quát lên một tiếng như sấm sét, bàn tay liền đỏ như máu, phóng luôn chín chỉ huyết ma công, chỉ phong xé gió véo véo thật kinh người. Thục Ren bất ngờ tránh không kịp trúng luôn sáu chỉ, có chỉ đã thủng giáp nhưng chưa gây được nội thương. Nếu không nhờ có áo giáp quá dày coi như đã toi mạng. Thục Ren nổi trận lôi đình, trường thương xé gió ào ào, ngựa người như tia chớp giáng xuống ầm ầm. Tướng giặc tay chân rã rời trúng liền một thương chết ngay tại chổ.

Trên đài cao Triệu Tử Quân khiếp vía: Tướng nào mà dữ thế? Thấy con tử trận Chu Công vô cùng đau xót, tức giận đến nỗi râu tóc dựng ngược, cỡi Chiến Mã lao ra, nhắm Thục Ren chém xuống. Đây là loại kiếm báu hiếm quí trên đời, chém sắt, đồng như chém chuối, không hiểu là ai đã luyện đúc ra nó. Chỉ biết là tìm thấy trong hang động. Thục Ren bất ngờ đưa trường thương lên đở, liền bị chặt đứt làm mấy khúc, Thục Ren kinh hãi phi ngựa bỏ chạy. Chu Công nào để cho Thục Ren chạy thoát.

Với chiêu Mãnh Hổ Vồ Mồi, đường kiếm như tia chớp chém xuống đầu Thục Ren. Kết liễu kẻ địch trả thù cho con. Thục Ren mạng sống chỉ còn trong đường tơ kẻ tóc.

Bổng tiếng quát lanh lảnh thét lên:

   Ác tặc hãy xem bảo bối của ta đây.

Tức thời một Đạo hào quang chụp xuống đầu Chu Công. Chu Công khiếp vía hồn kinh thâu kiếm lại chống đở ầm ầm. Thục Ren thoát chết trong đường tơ kẻ tóc. Tức giận đùng đùng còn lại khúc cán của trường thương, nhân cơ hội Chu Công lo chống đở bảo bối của vợ phóng ra, bị hào quang bảo bối làm chóa cả mắt. Thục Ren lấy Kim Lê nhọn hoắt phóng tới một tốc lực kinh người lao nhanh về Chu Công. Thế là một tiếng rú thê thảm làm kinh rợn lòng người. Thục Ren lao tới lấy đầu đối thủ.

Bổng nghe tiếng quát nỗi lên như sấm:

   Nghiệt súc hổn láo.

Thục Ren bị một luồng kình lực hất bay bổng cả người lẩn ngựa lên cao, ngã nhào lộn trọc. Nàng liền lao mình tới xem chồng có sao không. Thục Ren chưa hết kinh hoàng. Nhìn luồng kình lực đó cuốn hút lấy xác cha con Chu Công cùng thanh kiếm báu vô cùng lợi hại bay ra khỏi trận địa.

Nói về nàng Nê Xi xinh đẹp theo chồng xung trận, lòng hồi hộp không yên lúc nào cũng cầm bảo bối trên tay. Thấy chồng sắp mất mạng. Nhanh như tia chớp niệm chú ném bảo bối xuống đầu Chu Công cứu chồng. Sự việc diễn biến quá mau lẹ. Thấy Chu Công đã bị chồng mình hạ gục, liền thâu bảo bối lại. Sững sốt kinh hoàng, khi thấy chồng mình cả người lẩn ngựa hất lên cao rớt xuống lăn lông lốc. Nàng liền lao tới thấy chồng không sao. Mới tỉnh hồn. Người có Pháp thuật kinh người đó không ai khác hơn chính là Hồ Ma Yêu. Một tay Pháp thuật kinh người.

Thấy giặc Ân chết liền hai tướng, Quân Văn Lang thắng thế. Thục Mân chỉ kiếm ra lệnh tấn công, tiến lên tiêu diệt quân thù. Tiến lên. Tiến lên. Thế là

Gươm Đao vang động chân trời

Ngựa người ập tới mịt mù tên bay

Giặc Ân rời rả chân tay

Bão tên mưa gió chết ngay bạc ngàn

Quân Nam mặt trận thắng giòn

Ngựa người lao tới đạp càn giặc Ân

Trên thành chiêng trống vang ngân

Thu quân trở lại chiến công lẫy lừng.

Trên đài quan sát, Triệu Tử Quân sắc mặt mỗi lúc một thêm kinh hoàng. Thấy chết liền 5 tướng, quân binh chết la liệt, hơn vạn quân đi đời, thì than thở ra lệnh rút quân về doanh trại.

Suốt đêm không ngủ than thở mãi. Nói với các tướng:

   Từ trước đến nay ta chinh chiến đã nhiều. Chưa thua trận nào nhục như trận nầy, đã mất 5 tướng hao binh hơn một vạn. Việc chiếm lấy thành Tây Giang đã có phần khó khăn tính liệu làm sao thở than mãi.

HỒ MA YÊU nói:

   Không phải ta thua, mà ta quá chủ quan, đánh giá địch quá thấp. Binh gia thắng bại là chuyện thường. Chủ Soái yên tâm mai tôi ra trận sẽ lấy đầu bọn chúng tế Linh Hồn tướng sĩ.

Triệu Tử Quân nói:

   Ta cũng cầu mong Hồ Lão tướng quân làm được như thế. Lão tướng quân cần bao nhiêu quân.

Thưa Chủ Soái:

   Thuộc hạ chỉ cần ba nghìn quân tinh nhuệ mà thôi.

**************

PHẦN 10

Tưởng đâu Nam Quốc dễ xơi

Nào hay bỏ mạng ở nơi xứ người

Xưa nay muôn sự ở đời

Ngông cuồng xâm lược mấy đời ai nên

Hại người, người hại liền bên

Thây phơi chật đất mấy khi còn về

Văn Lang Rồng hội Cọp hề

Nuốt quân xâm lược ngón nghề xưa nay.

Nói về Cao Lạc Hầu Vương, nhận lãnh Thủy Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm, tinh thần vô cùng phấn chấn. Cao Lạc Hầu Vương là nhà quân sự lỗi lạc tài ba, thống lãnh 20 vạn quân trấn thủ Đông Bắc Văn Lang, Đông Giao Chỉ. Không tiến về thành Đông Giang Châu, Quế Giang Giao Châu, Liễu Giao Châu mà kéo quân đến Trúc Lâm, Lạc Trung Châu hạ trại đóng quân ở đó. Đặc phái đội quân thám báo khắp mọi chổ mọi nơi. Bám sát theo dõi mọi động tĩnh của giặc.

Trong lúc hộp bàn khẩn cấp lên kế hoạch đối phó với giặc. Thì có quân vào báo:

   Các thám tử mật thám xin cần gặp Hầu Vương. Cho họ vào. Xin tuân lệnh.

Không bao lâu ba mật thám xuất hiện. Người thứ nhất báo rằng:

   Bẩm Vương Gia. Quân Ân đang chuyển về hướng Đông, liền tách chia ra làm hai mũi. Một mũi theo sông Trường Giang ra biển. Một mũi bộ binh tấn công qua đất liền.

Người thứ hai báo cáo:

   Bẩm Vương Gia. Cánh quân xuôi theo sông Trường Giang ra biển hơn nghìn chiếc thuyền lớn nhỏ. Có ba chiếc thuyền cực lớn ước lượng chừng 15 vạn quân.

Người thứ ba báo cáo:

   Bẩm Vương Gia. Cánh quân giặc bộ binh, kỵ binh tấn công đất liền. Xe cộ hàng nghìn chiếc. Hình như phương tiện dụng cụ công phá thành, ước lượng 35 vạn quân.

Nghe qua tình hình báo cáo. Cao Lạc Hầu Vương nói:

   Quân Nam, Bắc ở sát bên nhau, núi liền núi, sông liền sông, biển liền biển. Có thể nói hiểu nhau nữa là khác. Nên sự xâm lược của chúng, phải nói là chu đáo khá đầy đủ, phương tiện, dụng cụ, khí cụ, quân, lương, tướng tá, binh pháp, sách lược, chiến lược, chiến thuật dồi dào. Chúng ta cũng chia làm hai ngã để đối phó với chúng. Đường bộ và đường thủy. Chúng chia làm 2 ngã tấn công ta. Đường bộ đánh phủ đầu. Đường biển đánh bọc hậu. Theo kế sách cắt đứt các đường, chi viện, tiếp viện. Đánh rắn đánh đầu. Những Châu mà chúng cho là trọng yếu đưa đến thắng lợi mau chóng.

   Chúng ta chỉ có 20 vạn quân. Nếu dùng quân đối quân trực diện tấn công thời nguy cơ chiến bại là rất lớn. Chi bằng chúng ta giành lấy mọi chủ động, áp dụng kỹ thuật, vận dụng địa hình địa thế, đất nước gió lửa làm tiên phong ở mọi lúc mọi nơi. Nòng cốt chủ yếu vẩn là đội quân cảm tử sẵn sàng cống hiến đời mình cho quê hương non sông Tổ quốc, áp dụng chiến thuật quấy rối phân tán lực lượng giặc, dụ giặc vào bẫy để làm thịt, đã tấn công thì đánh vào chỗ yếu huyệt của chúng. Những chỗ giặc không ngờ tới, thiếu đi sự phòng bị đề cao cảnh giác. Vì thế sự đòi hỏi ở đây là tinh thần quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh, dám nghĩ, dám làm, dám liều, quyết định vận mệnh non sông Tổ Quốc, sự thắng bại đều ở lòng quyết tử hay không quyết tử mà thôi. Chiến thuật né tránh đối diện chúng là chiến dịch tạm thời vì con mãng xà đang lúc còn sung sức. Vũ khí của chúng ta không chỉ có gươm đao, cung tên, giáo mác mà còn có núi, rừng, sông, hồ, gió, nước, lửa. Kế bẫy hào sâu, hầm chông, độc dược v..v. Mà còn có cả Gươm Thiên Trấn Quốc, truyền thống nền Quốc Đạo dân tộc. Với cái lối đánh mượn gió hạ cây, ròng rọc kéo voi, lấy ít thắng nhiều, làm hoang mang tinh thần của giặc. Hàng rào phòng thủ của ta lúc này là vườn không nhà trống. Quân giặc nóng lòng thôn tính nước ta, còn ta thì nhàn hạ tùy cơ ứng biến.

   Nói tóm lại ta thì hiểu rõ về giặc mà giặc thì không hiểu rõ về ta, ý định và cơ mưu, thì phần thắng đã nghiêng về ta rồi. Chúng ta có thể biến núi thành gò, biến biển thành ao, biến Rồng thành rắn nước, để cho chúng kinh thường, để rồi nhận lấy đại bại. Cao Hầu Vương liền ra lệnh: Kêu gọi dân chúng trong thành ngoại thành, khẩn cấp di tản sâu vào đất liền nhất là bốn thành, Đông Giang Giao Châu, Lâm Quế Giao Châu, Liễu Giao Châu, Môn Hải Hạ Giang Châu.

Tình hình quá khẩn cấp, Cao Lạc Hầu Vương liền phân bổ lực lượng như sau:

   Cao Lạc Hải nghe lệnh:  Có thuộc hạ. Tướng quân thống lãnh 8 vạn quân thủy chiến đến Dạ Loan Châu trấn thủ eo Môn Hải Hạ Giang Châu, dụ giặc vào sâu đất liền tiêu diệt chúng tại đây, tuân lệnh.

   Nguyễn Sinh Kỳ nghe lệnh: Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 1 vạn quân tới thành Đông Giang Giao Châu, kết hợp binh lính các Quận Huyện theo kế giăng bẫy, đào hầm hố, cọc chông, ngụy trang theo đường dọc ngang khắp cung thành, trên cung thành cũng giăng bẫy khắp mọi nơi, dọc ngang hai bên đường, những vật dễ cháy vung vãi khắp mọi nơi. Khi giặc tràn vào thành đến đâu là châm lửa đến đó cho chúng chạy loạn xạ sụp hầm mà chết. Dùng hỏa công tên độc triệt hạ thiêu rụi chúng, sau đó rút quân theo đường hầm bí mật ra sông Lạc chi nhánh của sông Trường Giang lẩn sâu vào rừng U Minh Hạ, ở đó đợi lịnh tiếp theo. Tuân lệnh.

   Trần Nhân Luân nghe lệnh: Có thuộc hạ. Tướng quân dẩn 2 vạn quân trấn thủ thành Lâm Quế Giang Châu. Chuẩn bị dầu sôi lửa bỏng, cung tên lưới sắt cố thủ thành, khi nào thấy núi Ngũ Chân có ánh lửa, chiêng trống nổi lên inh õi nơi doanh trại của giặc, thì mở cổng thành xông ra tấn công tiêu diệt kẻ thù, tấn công hai mặt sau lưng đánh tới trong thành đánh ra, kẹp giặc vào giữa mà xơi. Tuân lệnh.

   Nguyên Chấn Lạc nghe lệnh: Có thuộc hạ. Tướng quân dẩn 3 vạn quân, cành lá ngụy trang ở dưới chân núi Ngũ Chân một dặm về hướng Bắc phục kích ở đó, khi nào thấy núi Ngũ Chân có ánh lửa, liền tấn công khúc giữa con mãng xà cắt đôi lực lượng đầu đuôi chúng ra. Tuân lệnh.

   Cao Hùng Phi nghe lệnh: Có thuộc hạ. Tướng quân dẩn 3 vạn quân, cách thành Lâm Quế Giao Châu 3 dặm về hướng Đông mai phục ở đó, khi thấy ánh lửa núi Ngũ Chân bùng lên thời di chuyển áp sát đầu con mãng xà chờ khúc giữa con mãng xà bị tấn công trước độ chừng gần nửa cây nhang. Thì tiến quân xông trận đánh phủ đầu con rắn độc, không cho chúng quay đầu trở lại. Tuân lệnh.

   Huỳnh Trung Hải nghe lệnh:  Có thuộc hạ. Tướng quân dẫn 1 vạn quân tới chân núi Ông Tượng gần U Minh Thượng, phục kích ở đó khi nhìn thấy ánh lửa ở núi Ông Tượng, thì tiến quân áp sát đuôi con mãng xà, chờ cho gần cây nhang, thì tấn công tiêu diệt khúc đuôi dồn chúng tháo chạy trở lại. Tuân lệnh.

   Đinh Hùng Quân nghe lệnh: Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 5 nghìn quân phục kích ở huyện Lâm Giao. Không đánh giặc đến mà chỉ đánh khi giặc thua rút chạy. Tuân lệnh.

Tuy bầu trời yên tĩnh, nhưng dưới đất khắp non sông Tổ Quốc lời cầu nguyện vẫn vang, vang cầu Cha Rồng, Mẹ Tiên che chở.

**************

PHẦN 11

Nói về quân Ân ỷ sức mạnh, do Khương Hoàng Nhân, Triều Chấn Lôi, Tử Điền Phi. Thống lãnh hơn 50 vạn quân. Chia làm hai ngã. Một xuôi theo sông Trường Giang tiến về Đông Hải, thuyền lao đi vùn vụt. Một vượt qua sông Trường Giang như thác đổ, cuồn cuộn lao đi khói bụi mịt mù, kéo dài vài chục cây số. Tiến thẳng về thành Đông Giao sang bằng các Quận Huyện, gà chó cũng chẳng còn. Khi còn cách thành Đông Giang Giao Châu hơn 20 dặm về hướng Bắc. Thì dừng quân hạ trại nơi đó. Bàn luận kế sách công thành.

Khương Hoàng Nhân nói:

   Đây là cuộc chiến chỉ có thắng chứ không được bại. Vì cuộc chiến nầy là xóa sổ nước Văn Lang, vì vậy cuộc đánh đầu tiên là cuộc đánh vô cùng quan trọng, chỉ có thắng chứ không được thua. Bằng mọi giá phải lấy cho được thành Đông Giao, phải chuẩn bị dụng cụ công phá thành, lực lượng hùng hậu, thang dây, và các dụng cụ khác công phá thành. Mở màng chiến dịch thôn tính nước Văn Lang.

Khương Hoàng Nhân hỏi:

   Có tướng nào mở màn khai đao, mổ gà, xẻ lợn không?

Thấy các tướng có vẻ yên lặng. Khương Hoàng Nhân hơi có vẻ bực mình. Tử Điền Phi liền nói:

   Bẩm Thống Soái. Sá gì cái thành cỏn con đó. Thuộc hạ xin đi tiên phong lập công đầu.

Khương Hoàng Nhân liền phê chuẩn cho đi. Tử Điền Phi liền điểm 10 vạn quân kết hợp với quân: Sở, Yên, Tề lên tới 15 vạn quân, nhắm Thành Đông Giang Giao Châu tiến tới.

Nhắc về Nguyễn Sinh Kỳ theo kế sách chỉ đạo của Cao Hầu Vương Gia dẫn 1 vạn quân đến thành Đông Giang Giao Châu, cố thủ hai ngày. Ngày thứ ba lúc trời sắp tối thì giả thua, dụ chúng vào thành dùng hỏa công, hầm chông, tên độc hạ gục chúng, độ chừng hơn canh giờ thì rút lui bảo toàn lực lượng. Khi rút lui thì châm lửa đốt sạch, nếu không đốt thì giặc cũng đốt phá, thà ta đốt trước thì có lợi hơn, không cho giặc lấy được một thứ gì. Lại chặn đường rút lui bằng hỏa công, khói lửa mịt mù. Giặc không bao giờ tìm được đường rút lui của ta.

Đứng trên thành cao, Nguyễn Sinh Kỳ cùng các quan các tướng. Thấy quân Ân trùng trùng lớp lớp, xe cộ mịt mù thì lấy làm kinh hãi. Nhưng các quan, tướng nghĩ đến quê hương Tổ Quốc bị giặc Ân dày xéo, dân chúng lầm thang.

Thì nộ khí xung thiên nổi lên, râu tóc dựng ngược liền rút kiếm chỉ giặc Ân hét lớn:

   Văn Lang ta xưa nay không xâm phạm đất Bắc. Nước giếng nào có xâm phạm nước ao. Thế mà sao các ngươi xâm lược tàn hại dân ta đầu rơi máu đổ. Quân xâm lược các ngươi phải chết, lũ ác ôn các ngươi sẽ bỏ mạng nơi đây. Quân xâm lược các ngươi phải chết, các ngươi sẽ bỏ mạng nơi đây.

Tiếng hô vang càng về sau càng hào hùng. Hùng khí Nam Thiên, ai nghe thấy cũng khiếp sợ. Giặc Ân nghe tiếng hô đầy hào hùng, đầy căm hận của quân Nam. Có một số đông binh lính giặc Ân đã sanh lòng khiếp hãi.

Tử Điền Phi nghỉ: Nếu chần chừ kéo dài thời gian sẽ gây bất lợi cho quân ta. Việc đầu tiên là phải khiêu chiến thăm dò thực lực của địch.

Tử Điền Phi liền ra lệnh:

   Cơ Hầu Yên nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân dẫn 5 nghìn quân tới sát cổng thành khiêu chiến. Tuân lệnh.

Cơ Hầu Yên dẫn 5 nghìn quân kéo đến trước cổng thành khiêu chiến. Khiêu chiến đến nửa ngày vẩn không thấy quân Nam ra giao chiến. Dù cho giặc Ân khiêu khích chửi rủa chọc tức đến đâu. Quân Nam chỉ thủ thành không động tỉnh gi cả. Thấy quân Nam không dám ló mặt ra xáp chiến cứ co ro thủ thành.

Cơ Hầu Vương nói:

   Bẩm chủ Soái. Có lẽ chúng thấy quân ta binh hùng tướng mạnh, nên không dám mở cổng thành ra giao chiến. Cố thủ chờ quân tiếp viện mà thôi. Chúng ta chỉ còn cách là công phá thành tiêu diệt chúng.

Lữ Hầu Tề Vương nói:

   Bẩm Chủ Soái. Một Thành Đông Giang Giao Châu cỏn con nầy thì có đáng sá chi. Quân Nam nghĩ cho cùng cũng chỉ là bất tài đồ bị thịt, không có gì là đáng sợ. Chúng ta đã càn qua một số Châu, Quận, Huyện. Chúng ra sức chống trả. Nhưng toàn là những binh lính tạp nhạp vô dụng. Thành Đông Giang Giao Châu nầy tuy có phần kiên cố hơn, nhưng binh sĩ cũng chỉ là loài ếch nhái, cá mè một bọn mà thôi. Chúng ta mau tấn công thành làm thịt chúng.

Tử Điền Phi nghe Lữ Hầu Tề nói chí phải. Liền ra lệnh cho một vạn quân. Kết hợp với quân Yên, Tề công phá thành. Tử Điền Phi không còn cách nào hơn mới ra lệnh tấn công phá thành. Việc tấn công phá thành là việc hạ sách tốn kém, hao quân tổn tướng. nếu quân Văn Lang phòng thủ vững chắc, thì có thể 1 chọi 10. dù cho phá được thành, cũng phải trả cái giá rất đắc. Việc hao tổn về mình là rất lớn. Nhưng ở thế tiên phong cỡi cọp, thì chỉ còn cách là tiến về phía trước hạ gục đối phương. Giành lấy thắng lợi về mình chiếm lĩnh thành Đông Giang Giao Châu làm bàn đạp cho bước một. Thế là cuộc chiến, công thành bắt đầu. Vì chuẩn bị trước nên quân Văn Lang nắm mọi ưu thế chủ động. Vì dòng giống Tiên Rồng, truyền thống anh hùng. Vì non sông Tổ Quốc mà chiến đấu. Chiến đấu anh dũng, chiến đấu khôn khéo đầy mưu trí. Chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Trên dưới hai vạn quân Ân được lệnh tấn công hàng loạt xông lên tử chiến.

Thế là:

Lửa dầu trút xuống như mưa

Đá cây lao xuống nào thua thác gầm

Đất trời rung chuyển ầm ầm

Giặc Ân tan xát cháy thành bụi tro

Xác phơi như rạ như rơm

Tên Thần xé gió khiếp hồn giặc Ân

Thây giặc chồng chất như non

Điền Phi tức quá lộn gan lên đầu

Dồn quân xông tới mịt mù

Ba ngày mới phá được thành Đông Giao

Rền trời ngựa hí quân reo

Giặc Ân nước lũ tràn vô cung thành

Rồng Tiên biến mất thình lình

Bổng đâu lửa dậy đùng đùng khắp nơi

Lửa Thần tìm giặc mà xơi

Ngựa người khiếp vía đạp thôi ngựa người

Đạp nhau sống chết kể gì

Sói lang lũ giặc phen nầy ra tương

Hầm chông vùi xác giặc muôn

Chông xơi hầm nuốt còn chi cuộc đời

Yên, Tề tên độc trúng rồi

Hồn lìa âm phủ muôn đời đọa sa

Tưởng đâu tài trí ba hoa

Nào hay mắc bẫy phải sa đường cùng

Giặc Ân la liệt xác người

Ngông cuồng xâm lược bỏ đời tại đây

Điền Phi hồn phách tiêu ma

Chỉ còn 5 vạn lết la dọc đường

Tưởng đâu phá được thành rồi

Ngọc ngà châu báu mặc thời vét vơ

Nào hay chẳn có thứ chi

Khắp thành tro bụi bay đi tìm trời

Ở đời ăn cướp ở đời

Con đường kết cuộc mấy đời ai nên

Luật trời luôn ở kề bên

Chuyển xây bộ máy huyền vi tàn đời.

Nói về Tử Điền Phi ra lệnh tấn công tứ phía gần 2 vạn quân ồ ạc xông lên thành, càng xông lên thời càng chết. Ngày thứ nhất, ngày thứ nhì cho đến hơn nữa ngày thứ ba cũng chưa phá được thành. Quân Ân chết la chết liệt, ước lượng hơn 4 vạn quân. Tử Điền Phi tức Phát điên. Liền ra lệnh cho 11 vạn quân còn lại xông lên tấn công. Tức thời lớp trước ngã xuống lớp sau tràn lên. Càng lúc càng nhiều đông như kiến. Quân Văn Lang cố sức chống cự cho đến lúc trời gần sắp tối. Thì chống không nổi nữa. Quân Ân phá cổng thành, leo tường ùa vô như cơn bão lũ. Nhưng kỳ lạ thay quân Văn Lang biến đi đâu mất. Bất ngờ lửa dậy khắp nơi, gặp lúc ngọn gió Đông Nam hoạt động mạnh. Ngọn lửa bốc cháy cao chín mười mét lan nhanh dữ dội. Quân Ân tràng vô thành đông như kiến, bất nhờ bị ngọn lửa thiêu đốt. Chạy toán loạn sụp hầm chông, hào chông, bẫy chông, quân Ân kinh hoàng hoảng khiếp.

Cơ Hầu Yên, Lữ Hầu Tề, cùng các quan tướng khác biết mình đã sa lưới trúng kế địch. Nhưng đã muộn rút lui không kịp nữa vì tên xơi, hào nuốt, lửa đốt, chông đâm. Quân binh hỗn loạn, người ngựa dẫm đạp lên nhau chết thôi là chết. Cơ Hầu Yên, Lữ Hầu Tề cùng các tướng lĩnh khác chung cùng số phận.

Tử Điền Phi khiếp vía, tưởng đâu phá được thành, hốt trọn ổ quân Văn Lang. Làm thịt chúng cho hả giận. Nào hay đâu nhìn thấy cảnh tượng thê thảm. Quân binh chết ngổn ngang, có số cháy ra than, ra tro, ra bụi. Chẳng lấy được gì ngoài lớp tro bụi bay đi tìm Trời. Nhìn năm vạn quân còn lại bơ phờ xơ xác thương vong đầy mình lê lếch thảm thương. Tử Điền Phi đành thu quân trở lại thọ tội với Thống Soái.

Nói về Thống Soái Khương Hoàng Nhân luôn luôn cho người bám sát theo dõi cuộc chiến nghe chiếm được thành Đông Giao thì mừng rỡ. Chừng nghe lại thời 10 vạn quân đã đi đời, 5 tướng đi tiêu Yên, Tề xóa sổ. Quân Văn Lang biến đi đâu mất, thì kinh hồn bạc vía. Nhưng cũng ra oai ra lệnh. Đem Tử Điền Phi ra chém quách cho rồi nhằm răn đe tướng sĩ. Các quan tướng khuyên can mãi Tử Điền Phi mới thoát được tội chết.

**************

PHẦN 12

Trời thu cao vót xanh xanh

Lá vàng rơi rụng đếm chân giặc thù

Gió thu vừa hận, vừa ru

À ơi non nước còn đâu yên lành

Quê hương tai họa thình lình

Giặc càn giặc phá lắm nghìn bi ai

Tiên Rồng nào dễ nuốt xơi

Chủ quyền còn đó muôn thời nghìn xưa

Dầu cho rau muối tương dưa

Trường kỳ kháng chiến giặc thua phen nầy.

Đây nói về Hùng Cao Vương. Nhận lãnh thanh Hỏa Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm, thống lãnh 30 vạn quân trấn thủ.

1:  Bắc Giang Giao Châu.

2:  Lạc Giang Giao Châu.

3:  Kinh Giang Giao Châu.

4:  Giao Giao Minh Châu.

5:  Quí Linh Giao Châu.

Đại quân lặng lẽ đi tới núi Vũ Khê. Thì đóng quân hạ trại, vì nơi đây là trục giao thương của Châu phủ, lại thêm địa hình vô cùng phức tạp. Dù cho trăm vạn quân, cũng khó mà thắng nổi 30 vạn quân mai phục ở đây là nơi đầy bí mật, thuận lợi cập nhật thông tin. Họp bàn nghị sự kế sách chống giặc.

Các quan tướng đang lên phương án đối địch thì có quân thám báo vào báo:

   Bẩm Vương Gia quân Ân đã tràn qua Nam sông Trường Giang như kiến. Nghe đâu trên dưới 60 vạn quân do Vi Tử Khải, Vi Tử Điển dẫn đầu. Vi Tử Điển dẫn quân theo đường bộ. Vi Tử Khải tiến quân theo đường thủy. Ước lượng 2.000 chiến thuyền lớn nhỏ trên dưới 30 vạn quân. Xuôi theo sông Tử Giang tiến sâu vào nước ta. Có lẽ giặc sẽ vượt qua từ Dương Châu, tiến đánh Lạc Giang Giao Châu rồi vượt qua Giao Giao Minh Châu. Tiến đánh Quí Linh Giao Châu. Rồi theo hướng thuận lợi sông Giao qua sông Lạc, tiến đánh Kinh Kinh Giao Châu. Chiếm lấy Nam Kinh Xích Quỷ.

Hùng Cao Lang nghe xong ngẫm nghĩ một hồi, rồi nhìn các quan các tướng nói:

   Giặc ra quân với một lực lượng hùng hậu chưa từng có trong lịch sử. Có thể nói giặc dốc toàn lực lượng xâm lược nước ta, ý định của giặc đã quá rõ, quyết xóa sổ nước Văn Lang trở thành thuộc địa của chúng. Trong trận chiến này hoặc sơ sót hoặc tính sai nước cờ là giặc Ân sẽ đánh tới Kinh Đô Văn Lang rồi biến nước Văn Lang thành thuộc địa của chúng.

Lúc các quan các tướng đang say sưa lên phương án chống giặc. Thì có quân thám báo vào tâu:

   Bẫm Vương Gia. Hơn 30 vạn quân Ân do Vi Tử Điển thống lãnh, đang ồ ồ ạt ạt vượt qua Nam Trường Giang và lao thẳng về Bắc Giang Giao Châu rồi vượt qua Kinh Giang Giao Châu (Kinh Châu) vì địa hình Kinh Giang Giao Châu (Kinh Châu) rất phức tạp chưa phải là yếu huyệt của Bắc Giao Chỉ nên giặc sẽ bỏ qua thành này, tiến đánh Xích Linh Giao Châu, Kinh Kinh Giao Châu và nuốt Nam Kinh vào bụng.

Tin khẩn cấp dồn dập, hết người nầy tới người khác, hết người nọ tới người kia:

   Khẩn báo quân Ân, mỗi lúc một tiến sâu vào đất Văn Lang và nuốt lần từng Châu từng Quận từng Huyện. Có những Quận, Huyện binh lính không sợ chết lao vào giặc tử chiến. Những trận đánh không cân sức cuối cùng đã bỏ mạng tại sa trường.

Thơ rằng:

Khiếp cho con cháu Tiên Rồng

Chết cho non nước, sống còn về sau

Tinh thần chống giặc rất cao

Chết vì Tổ quốc biết bao oai hùng

Người chết thì chết một lần

Không già thì trẻ cuối cùng cũng đi

Sống đời nô lệ còn chi

Chết vì Tổ Quốc uy nghi cuộc đời.

Hùng Cao Vương cùng các chiến sĩ nghe các Châu, Quận, Huyện lần lược chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, tất cả đều tử nạn trong trận chiến thì lấy làm kinh phục nhưng cũng rất đau lòng, mãi mãi tự hào nòi giống Rồng Tiên.

Hùng Cao Vương nói:

   Tuy cái chết của các binh lính Quận Huyện. Cái chết của sự liều lĩnh trứng chọi đá, cái chết không mấy kết quả, thiếu sĩ mưu, nhưng không phải cái chết của sự vô ích mà là sự mở màn cho sự thắng lợi về sau đó cũng là kế sách hay, làm cho quân giặc xem thường chúng ta, chúng càng coi chúng ta không ra gì thì càng có lợi cho chúng ta, chúng càng lún sâu vào kế bẫy của chúng ta. Lại nữa giặc đã tạo cho chúng một thứ vũ khí vô cùng nguy hiểm cho ta, đó là thứ vũ khí hận thù, giặc càng chém giết dã man, càng chà đạp lên thể xác con cháu Tiên Rồng đã ngã xuống, tàn phá quê hương non sông Tổ Quốc chúng ta. Thì chúng đã tạo cho quân dân ta, một sức mạnh đoàn kết triệu người như một, phực lên ngọn lửa hận thù ngút tận trời xanh, Lòng câm thù giặc đến cực điểm, thì những trận đánh quyết tử càng khủng khiếp, tiêu diệt thiêu rụi giặc Ân.

Khi kế sách chống giặc đã bàn xong, Hùng Cao Vương liền ra lệnh:

   Mai Đức Thọ nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 3 vạn quân tức tốc tới Tử Dương Châu. Không là phải yểm trợ quân Tử Dương Châu, mà là mai phục ở thung lũng Tử Thần. Chờ khi quân Ân đánh bại quân Tử Dương rồi tiến quân qua khỏi eo Tử Thần, tiến sâu vào địa phận Lạc Giang Giao Châu. Giặc sẽ để lại một ít quân để canh giữ bảo vệ khúc sông nguy hiểm này.

        1:  Tướng quân chọn 20 chiến thuyền giả làm thuyền giặc, đề cờ quân tiếp viện.

        2:  Tướng quân cho quân mai phục bao vây áp sát eo Tử Thần.

        3: Những binh lính trên 20 chiến thuyền giả làm thuyền giặc toàn là tay võ nghệ cao cường, khi thuyền xáp lá cà phải thật sự mau lẹ ra tay nhanh chóng, đừng cho giặc bắn mật hiệu lên không, còn tên nào vào lên bờ tẩu thoát, thì đã có binh lính mai phục tóm cổ, tiêu diệt không để một tên sống sót, bảo toàn bí mật phục kích tuyệt đối.

        4:  Sử dụng thuyền giặc làm thuyền của ta, còn thuyền của ta thời tìm nơi ẩn núp kín đáo sâu vào kinh lạch, khi có hiệu lịnh thì xông ra mà tiêu diệt địch.

        5:  Tướng quân cho quân lính đóng cọc trận giữa lòng sông dài ba bốn dặm, cho quân phục kích dọc hai bên bờ sông bốn năm dặm, sự chuẩn bị phải thật khéo léo bảo mật tuyệt đối. Phục kích chờ đợi cho đến khi quân Ân thua trận kéo quân tháo chạy trở lại hoặc quân tiếp viện của giặc sa vào cọc trận, thì chúng ta dốc toàn lực với tất cả lòng căm hận trút xuống đầu chúng trả mối hận thù mà chúng đã hại nhân dân ta, rồi nói nhỏ một hồi những điều cơ mật. Nhìn vẻ mặt đầy sát khí của tướng quân Mai Đức Thọ cũng hiểu được phần nào. Có thể nói đây là một cuộc tử chiến một còn một mất giữa ta và giặc.

   Huỳnh Trung Phong nghe lệnh. Có thuộc hạ, Tướng quân thống lảnh 10 vạn quân nhanh chóng tới gò Lạc Hồn, khúc sông Lạc Cội, cách thành Lạc Giang Giao Châu 25 dặm theo hướng Tây Bắc, nơi đây chính là vùng đất hiểm địa, khúc sông chết, địa phận rừng Âm U, dân địa phương ít ai đi qua khúc sông này, hai bên bờ sông lau lách cây cối rậm rạp nên giặc hết sức đề phòng vì vậy quân binh hết sức cẩn thận ngụy trang khéo léo, nhất là đừng cho chim chóc sợ hãi bay loạn xạ.

        1:  Tướng quân cho binh lính đóng cọc trận hai bên lòng sông, âm dưới mặt nước ba tất, tức là một gang rưỡi tay (Thủy âm cọc trận).

        2:  Cọc cách cọc 1 mét, dài dọc theo hai bên bờ sông đến sáu bảy dặm, từ bờ trở ra cọc đóng rộng ra cỡ 20 mét và cuối cùng là đóng cọc đầy lòng sông âm dưới mặt nước một tất rưỡi gần một gang tay dài đúng 200 mét chận đứng thuyền giặc lại. Điều thuận lợi cho ta lúc này là vùng thượng nguồn đã có những trận mưa lớn, nên nước khúc sông chết nầy càng thêm vấy đục, làm tăng thêm hiệu quả thủy âm cọc trận của chúng ta. Thuyền giặc đi qua khúc sông này là ban ngày nhưng theo tình hình chiến sự mà giặc đã lần lượt đi qua, luôn luôn đem đến thắng lợi cho giặc, có thể nói là quá dễ dàng lòng kiêu ngạo xem thường chúng ta. Thời có lẽ thuyền giặc đi qua khúc sông chết nầy vào lúc trời vừa sáng tỏ, thời coi như giặc không sợ gì nữa, sự cảnh giác đề phòng của giặc cũng đã giảm bớt, thuyền cứ giữa dòng sông mà đi, chúng sẽ nối đuôi nhau dài bảy tám dặm.

       3:  Tướng quân cho binh lính phục kích dọc theo hai bên bờ sông thưa thớt ngụy trang khéo léo, còn đại binh phục kích cách bờ sông 200 mét kéo dài dọc theo hai bên bờ sông chín mười dặm. Thấy thuyền giặc đã sa vào bẫy cọc trận chưa vội tấn công, khi nào có hiệu lệnh pháo phóng lên cao thì tấn công. Những bè chất đốt củi lau sậy tốc hành đẩy ra sông mồi sẵn chất dầu khi nào bè chất đốt đã áp sát thuyền giặc, tức thời dùng tên lửa bắn vào tạo thành trận hỏa công có một không hai trong lịch sử tiêu diệt quân xâm lược.

       4:  Những chiến thuyền giặc còn sống sót, ráng chèo ngược dòng sông để rút lui tẩu thoát, thì thuyền ta rược đuổi gần tới khúc sông Tử Dương eo Tử Thần thì rút lui trở lại. Tuân lệnh.

   Bùi Xuân Mẹo nghe lệnh.  Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 3 vạn quân tới huyện Lỗ An xã Tử Địa gò Mộ Ma, lợi dụng địa hình phức tạp, nơi đây toàn là rừng còi đầy gai gốc lại có nhiều gò đồi liên kết, đây là con đường duy nhất vượt qua Kinh Giang Giao Châu, tiến đánh Xích Linh Giao Châu. Tướng quân cho quân lính đào hầm ẩn núp ngụy trang ẩn mình dưới đất, để cho giặc đi qua không ngăn cản chi cả, giặc sẽ để lại một ít quân trấn giữ phục kích ở đây, làm trạm thông tin liên lạc và cũng là nơi hiểm địa để chúng thối lui, chờ trời tối thì bất ngờ dưới đất chui lên, chọn nhưng người võ công cao cường ra tay thần tốc mau lẹ, bất ngờ phất thuốc mê vào bọn chúng, còn số không bị thuốc thì nhanh như tia chớp tiêu diệt gọn sạch. Bảo vệ tuyệt đối bí mật của chúng ta, để lại một ít tên, dụ dỗ khéo léo khai thác những thông tin cần thiết bí mật của chúng. Khi đã nắm gọn thông tin ít nhất là 3 người khai giống nhau, liền cho quân phục kích giăng bẫy mà con đường khi cần thiết rút lui chúng sẽ đi qua, chờ cho chúng sa vào kế bẫy sa vào hào trận, thì dốc toàn lực xông ra tiêu diệt chúng, trừng trị cái tội xâm lược tàn hại dân ta và cũng cho chúng biết thế nào là sức mạnh uy linh của nòi giống Tiên Rồng. Tuân lệnh.

   Cao Đình Luân nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân thống lãnh 10 vạn quân mai phục tại rừng Lâm Nguy giáp ranh giữa Kinh Giang Giao Châu và Xích Linh Giao Châu, nơi đây có 3 khu rừng như kiền ba chân, rừng Ông Cọp, rừng Ông Beo và rừng Quỷ, nếu để giặc qua khỏi ba khu rừng này, thời nguy cơ cho Xích Linh Giao Châu. Giặc muốn nuốt Nam Kinh Xích Quỷ thuận lợi nhanh chóng, thì không có con đường nào tốt hơn là thông qua con đường này vì thế giặc hết sức đề cao, cảnh giác, quan trọng hóa về ba khu rừng này. Trời tối hoặc chiều tối giặc không những không đến gần, chớ đừng nói là giặc sẽ đi qua, muốn đi qua giặc phải cho người thám thính, nếu phát hiện có mai phục, thì giặc sẽ lập tức bao vây dùng hỏa công thiêu rụi ba khu rừng này, vừa tiêu diệt chúng ta, vừa dọn đường sạch sẽ, xong đâu vào đó thì đại binh của giặc mới đi qua, vì vậy hiểu được ý định của giặc thì ta mới thắng được giặc.

   Vì vậy tướng quân phải hành sự theo phương án như sau: Theo lộ trình của giặc tiến quân, thì giặc vượt qua Kinh Giang Giao Châu ( Kinh Châu) tới địa phận Xích Linh Giao Châu thì trời đã về chiều, khi giặc còn cách ba khu rừng chừng 5 dặm thì hạ trại. Chờ ngày mai trời sáng tỏ giặc mới hành sự theo kế sách tiến qua khu rừng này bằng phương án kết quả cao nhất, hiệu quả an toàn, vừa diệt được quân ta mai phục, vừa tránh được hỏa công khi đại quân băng qua khu rừng, vì vậy chúng ta hành động ra tay trước ý định của chúng, làm cho chúng bất ngờ trở tay chẳng kịp. Khi giặc hạ trại nghỉ chân con mãng xà khổng lồ có thể kéo dài đến chín mười dặm, vì vậy tướng quân tính toán cho thật kỹ, cho quân lính đào hầm mai phục ẩn mình dưới đất nơi giặc dừng chân hạ trại không xa, có thể nói gần sát chân địch, đây là chiến thuật đầy gan dạ của đội quân cảm tử phục kích ở chỗ mà giặc không ngờ tới, sự phục kích ấy ở đoạn giữa và khúc đuôi, đó là đội quân âm phủ còn đội quân dương gian thì phục kích gần đó không xa, sự bày binh bố trận như sau:

1:  Là quân âm phủ ẩn mình dưới đất.

2:  Là quân dương gian phục kích trên mặt đất.

3:  Là quân ẩn mình phục kích trong ba khu rừng.

   Cách thức tấn công con mãng xà như sau: Ba khu rừng trực diện như kiền ba chân, chờ trời tối di chuyển quân, áp sát phần đầu, phần cổ con rắn, khi pháo hiệu tấn công đã nổi lên, thì đội quân thiết giáp rừng Ông Cọp tấn công vào đầu con mãng xà, tiếp theo sau là kỵ binh, bộ binh tấn công tới tấp dồn dập xuống đầu con mãng xà. Tiếp theo là hai cánh quân tả hữu rừng Ông Beo, rừng Quỷ. Hai đội quân thiết giáp hai bên tả hữu đồng loạt tấn công siết chặt cổ con rắn bằng sức mạnh đội quân thiết giáp, kỵ binh, bộ binh như hai gọng kiềm siết chặt cổ chúng. Khi cuộc chiến xảy ra rầm trời, rầm đất ở cổ và đầu con rắn, thì quân cảm tử âm phủ bất ngờ dưới đất chui lên, đội quân dương gian ập tới. Quân Ân khúc đuôi, khúc giữa lúng túng chỗ nào cũng thấy địch, đội quân âm phủ cảm tử banh xé nội tạng của giặc đứt từng khúc, đội quân dương gian lấn thế ào tới mà xơi tiêu diệt chúng. Tuân lệnh.

**************

PHẦN 13

Lòng tham muốn nuốt Văn Lang

Trụ Vương dồn dập quân sang giựt gành

Giới ranh còn đó đành rành

Cớ sao Trụ lại đưa người lấn xâm

Tự xưng là Thánh là Tiên

Xem ra một lũ cuồng điên thú cầm

Tự xưng là Thánh là Thần

Mà đi xâm lược, giết người, ác gian

Luật trời nào để huênh hoang

Thay Trời trừng trị nát tan phen này

Xâm lược nào gặt cái hay

Gặt toàn quả báo đầu bay chiến trường.

Đây nói về Vi Tử Điển là anh ruột của Ân Thọ Vương. Không được lên ngôi Hoàng Đế. Vì vậy luôn luôn mơ mộng đến Thế Giới cho riêng mình và đây chính là cơ hội. Nên nóng lòng muốn nuốt nước Văn Lang. Biến nước Văn Lang thành An Nam Quốc thuộc địa nhà Ân. Thống lãnh 30 vạn quân ồ ồ ạt ạt lao thẳng về thành Bắc Giang Giao Châu. Các Châu, Quận, Huyện lần lược bị con Mãng Xà thành tinh khỗng lồ, nuốt vào bụng như nuốt một con kiến, con giun, con dế. Sự thắng lợi quá dể dàng ấy, đã làm cho quân tướng giặc Ân, càng kiêu căng ngạo mạn, coi Quân lính Văn Lang như cỏ rác. Dân chúng các Quận Huyện sợ quá trốn chui trốn nhủi, nhưng giặc nào có tha, chúng bắt được liền đem ra làm những trò vui như mèo vồ chuột, như mổ gà xẻ lợn vô cùng thê thảm, thê thảm hơn là đàn bà con gái chúng tranh nhau vùi hoa dập liễu, chúng vùi chán chơi chê hoa tơi nhị rữa rồi vứt xác, dẫm đạp lên như đạp xác con giun, con dế, kiến xơi quạ mỗ. Có thằng như quỷ dữ ăn thịt trẻ con còn khen ngon khen béo.

Nói về thành Bắc Giang Giao Châu, nghe tin quân Ân xâm lược, với quy mô chưa từng có trong lịch sử chiến tranh. Binh hùng tướng mạnh lên tới trên dưới 160 vạn quân, con số khủng khiếp chia nhau tấn công đều khắp Tây Bắc Văn Lang, Bắc Văn Lang, Đông Bắc Văn Lang. Bắc Văn Lang giặc tấn công hai mũi chính đường bộ và đường thủy thời tức tốc một phần tích góp lương thực, một phần chuẩn bị lực lượng binh lính chống giặc. Cho người đến Nam Kinh Xích Quỷ cầu quân tiếp viện, đã phái người ra đi, đã bảy ngày sao không thấy trở lại, phần giặc Ân đại quân di chuyển gần tới, phủ chánh Tư Mã Nhân lo lắng vô cùng. Câu chuyện là thế này.

Bố Chánh Hầu Bưu là vị quan của huyện Hưng Bình là 1 trong 7 Quận Huyện Châu Phủ. Bắc Giang Châu là Huyện có số dân đông nhất, đây là vị quan có tài ngoại giao lại có võ nghệ cao cường, nên được phủ Chánh Tư Mã Nhân giao cho nhiệm vụ trọng đại. Mang mật thư đến Nam Kinh Xích Quỷ, báo cáo tình hình giặc, cầu viện binh mã hoặc có kế sách chỉ đạo của Hùng Cao Vương. Bố Thánh Hầu Bưu đã ra đi hơn bảy ngày mà chưa thấy trở lại làm cho phủ Chánh Tử Mã Nhân đứng ngồi không yên, lại thêm giặc Ân mỗi lúc một tới gần, không còn cách nào khác hơn là tự mình giải quyết sự vụ, sự việc.

Nói về bố Chánh Hầu Bưu, ngựa đang phi vùn vụt, bỗng thấy ba người chận lại, nhìn cách ăn mặt khác thường, không phải dân địa phương, thì biết đó là ba tên sát thủ giặc Ân. Hầu Bưu lấy lại bình tỉnh rút kiếm chém tới phi ngựa vụt qua nào ngờ ánh kiếm của ba tên giặc chớp lên, tức thời cái đầu của Hầu Bưu bay đi lông lốc.

Chúng lục lạo tìm kiếm trong người Hầu Bưu thấy có mật thư liền nói:

   Chủ soái quả đoán không sai.

Rồi phi thân mất dạng. Nói về 30 vạn quân do Vi Tử Điển làm thống soái, thống lãnh các trấn chư hầu lớn, nhỏ như. Trâu, Thái, Diệp, Tào, Tống, Trịnh còn hơn 15 dặm thời tới thành Bắc Giang Giao Châu thời cho 30 vạn quân dừng lại, thuộc Huyện Châu Dương đồng cỏ mênh mông, cảnh quang thống thoáng đúng là nơi lý tưởng cho bộ chỉ huy đóng ở.

Vi Tử Điển nói:

   Chúng ta đã tiến sâu vào đất Văn Lang hơn 60 dặm, các Quận, Huyện rơi vào tay ta cũng nhiều và chỉ còn 15 dặm nữa là tới Bắc Giang Giao Châu, việc đầu tiên là tìm ra tiên phong chủ soái thống lãnh đại binh đánh chiếm các thành trọng yếu tới chiếm lĩnh Kinh Đô Xích Quỷ hoàn thành giai đoạn một.

Vi Tử Điển nghe danh Vũ Tử Như từ lâu, văn võ song toàn thông kim bác cổ, cùng học một thầy với Triệu Công Tiển tại núi La Bảo, Động Ác Xà pháp thuật cao cường, là người có thể thống lãnh đạo quân làm nên nghiệp lớn.

Vi Tử Điển liền ra lệnh:

   Vũ Tử Như nghe lệnh. Có thuộc hạ. Ta phong cho tướng quân làm chủ soái. Thống lãnh 20 vạn quân, các trấn chư hầu Thái, Diệp, Tào, Tống làm tiên phong đánh chiếm các Châu Thành trọng yếu huyết mạch giao thương, Giao Chỉ.

1: Bắc Giang Giao Châu

2:  Xích Linh Giao Châu

3:  Kinh Kinh Giao Châu

4:  Nam Kinh Xích Quỷ.

Tuân lệnh.

Hai mươi vạn quân do Vũ Tử Như lãnh đạo, khí thế dậy non dậy núi.

Thành Bắc Giang là thành sơ sài hơn hết trong các thành ở Bắc Văn Lang, binh lính tập hợp các Quận, Huyện chỉ hơn 3 nghìn người toàn là binh lính ô hộp, chưa từng tập trận, nên kinh nghiệm chiến đấu vô cùng non nớt, binh lính đứng trên thành nhìn xuống thấy quân Ân đông như kiến, như 1 con mãng xà dài thăm thẳm uốn lượn lao đi. Người, ngựa, xe, cộ, gươm, đao, giáo, mác rợp trời, rợp đất khói bụi mịt mù lao thẳng về thành Bắc Giang Giao Châu thì kinh hoàng đến bủn rủn tay chân.

Phủ Chánh Tư Mã Nhân nhìn thấy tinh thần anh em binh lính như thế thời thở dài nói:

   Hỡi anh em binh lính, giặc đã đến nhà ta thì ta không giết giặc, giặc cũng sẽ giết ta, chúng ta là con cháu nhà Trời, hai đấng Tiên Rồng, thì sợ gì cái chết, sống thì bảo vệ non sông Tổ Quốc, chết thì về Trời hoặc đầu thai làm người trở lại hoặc làm anh linh Hồn Thiên sông núi có chi là đáng sợ. Đây là lúc chúng ta xả thân vì non sông Tổ Quốc, đền đáp công ơn nước nhà, cũng là trả thù giặc sát hại đồng bào anh em ta. Tiến lên tiêu diệt bầy Lang Sói, trả mối hận thù cho những người đã ngã xuống tiến lên, tiến lên.

Lời kêu gọi đầy chính nghĩa của phủ Chánh Tư Mã Nhân như một luồng thuốc Tiên thấm sâu vào tâm hồn chiến sĩ, bừng lên ngọn lửa anh hùng, ngọn lửa tiêu diệt quân thù bảo vệ non sông Tổ Quốc.

Hơn 3 nghìn binh lính đồng hô vang khẩu hiệu:

   Chúng ta vì non sông Tổ Quốc mà tử chiến. Chúng ta vì đồng bào thiên hạ anh em mà tử chiến. Chúng ta theo gót cha ông đuổi ngoại xâm tử chiến.

Nói về 5 vạn quân tiên phong của giặc Ân do tướng soái Đề Cốt Ma dẫn đầu, khi cách thành Bắc Giang Giao Châu nửa dặm thời tỏa ra bao vây lớp trong, lớp ngoài kêu gọi binh lính thành Bắc Giang Giao Châu đầu hàng, Trả lời giặc là những mũi tên bắn xuống. Đề Cốt Ma nỗi nóng ra lệnh tấn công. Thế là:

Thế là máu đổ đầu rơi

Giặc tràn lớp lớp ôi thôi còn gì

Ba nghìn quân lính ra đi

Chìm trong binh lửa còn chi cuộc đời

Giặc Ân người ngựa rợp trời

Gái trai già trẻ ôi thời thảm thê

Giặc ân khoái chí hả hê

Lục sùng châu báu ngón nghề từ lâu

Tay vơ tay vét túi sâu

Bò, Dê, Trâu Ngựa chúng đâu bỏ thừa

Trẻ con trong bụng càng ưa

Linh đơn diệu dụng còn thua món này

Trời ơi là hỡi ông trời

Yêu tinh quỹ dữ hay loài ác ma

Ăn xương nuốt máu người ta

Đất sầu trời thảm tuôn ra hận thù

Hồn linh tử sĩ kia rồi

Căm thù quân giặc chẳng thời chịu tan

Giặc Ân thắng trận huênh hoang

Quân Nam con cóc chẳng hơn con gà

Đồng bào chúng đập chúng chà

Chúng gào chúng thét giống loài kênh kênh

Chúng rằng Nam Quốc sấm rền

Chẳng qua ếch nhái oàng ênh cầu Trời

Ở đời mấy kẻ hiểu đời

Đã loài xâm lược để rồi mà xem

Rồng Tiên nào để giặc yên

Chờ xem lũ giặc mấy tên sống còn.

Giặc Ân phá thành Bắc Giang Giao Châu như phá u gò mối, chiếm thành dễ như lấy đồ trong túi, chẳng tiêu hao binh lính là mấy. Hết chiến thắng này tới chiến thắng khác, hết thành công nọ tới thành công kia. Càng đi sâu vào đất Văn Lang, chúng luôn luôn gặt hái bao điều thuận lợi, càng lúc càng coi thường quân Văn Lang.

**************

PHẦN 14

Nói về Kinh Giang Giao Châu (Kinh Châu), địa hình vô cùng phức tạp, theo kế sách của giặc là không cần đánh thành Kinh Giang Giao Châu. Tiến đánh Xích Linh Giao Châu, thời một số các Châu, Quận, Huyện tự đầu hàng. Giặc chỉ cần dọn sạch đường tiến, cho quân bảo vệ con đường lui, chiếm lĩnh các nơi trọng yếu là thượng sách và cứ thế tiến sâu vào đất Văn Lang, vì thế giặc bỏ qua Kinh Giang Giao Châu tiến đánh Xích Linh Giao Châu, giặc muốn thôn tính thành Xích Linh Giao Châu một cách thuận lợi phải đi theo đường tắt, chỉ cần qua khỏi đồi gò Mộ Ma và rừng Lâm Nguy thì đã coi như 80% thuận lợi.

Nói về Kinh Giang Giao Châu (  địa phận phức tạp đất đai rộng lớn, thành trì kiên cố có thêm 12 Quận, Huyện nên số binh lính gấp đôi số binh lính Bắc Giang Giao Châu, nhân tài vì thế mà nhiều hơn. Vị Đại Nhân Châu phủ thành này là Trung Đại tên thường gọi là Trung Đại Nhân, có 3 người con 2 gái 1 trai, gái thì đẹp như Tiên Nga giáng thế, trai thì khôi ngô tuấn tú phi phàm.

Ngọc Linh Châu là chị cả, Trung Hoài là em trai kế, Ngọc Thiên Hương là cô gái út. Khi Đại Kim Châu phu nhân sinh con gái út, thì hương thơm nỗi lên khắp nhà ai nấy cũng lấy làm kinh ngạc, cô út càng lớn càng xinh đẹp hơn cả cô chị lại có tài học đâu nhớ đấy, khi cô lên chín tuổi không có thầy nào dạy cô nổi nữa. Trung Đại Nhân định gởi cô vào Kinh Đô Văn Lang để học. Một hôm cô đang chơi ngoài vườn hoa cây cảnh, bổng nổi lên một trận gió lạ cuốn cô bay đâu mất làm cả nhà ai nấy cũng đều sửng sốt, đau xót vừa nhớ, vừa thương, đến nay đã hơn 10 năm tính ra cô cũng đã 19-20 tuổi rồi.

Đây nói về Ngọc Thiên Hương đang chơi ở vườn cây cảnh, cô đang săm soi những cành hoa xinh đẹp, bỗng trận gió lạ cuốn cô lên mây. 5 vị Tiên Cô chấp tay hành lễ nói:

   Thưa Cung Chủ, Cung Chủ hãy theo chúng nữ về trời gặp Vương Mẫu Nương Nương.

Tức thời nắm lấy tay Ngọc Thiên Hương đằng vân giá vũ bay đi như tia chớp, không bao lâu thời tới Cung Vương Mẫu, Ngọc Thiên Hương nhìn thấy cảnh giới nơi đây, khác xa cảnh giới phàm trần. Lầu đài cung điện tráng lệ nơi đây, cấu trúc xây dựng toàn bằng vàng, bạc, kim cương, trân châu, pha lê, xà cừ, hổ phách, trang nghiêm, xinh đẹp lộng lẫy. Cô được các Tiên nữ đưa đi qua nhiều cung điện. Mỗi cung điện hoa văn, điêu khắc, chạm trỗ khác nhau, tinh vi có hồn như vật sống. Cô nào có biết những đồ trang trí toàn là vật chí bảo. Bảo bối của Vương Mẫu cung. Không bao lâu cô được các Tiên Nữ đưa đến một cung Điện vô cùng sang trọng lộng lẫy đến lóa cả mắt. Cô nhìn thấy Vương Mẫu ngồi trên tòa châu báu uy nghi rực rỡ vô cùng xinh đẹp tuổi độ khoảng 30. Cô nào có biết Vương Mẫu Nương Nương tuổi rất cao có đến hàng triệu triệu năm.

Vương Mẫu Nương Nương nhìn Ngọc Thiên Hương nói:

   Khổ cho con quá.

Ngọc Thiên Hương nhìn Vương Mẫu sao thấy quen quá thân thiết như mẹ đẻ ra mình. Liền quỳ xuống Lễ Lạy. Nhìn thấy Ngọc Thiên Hương tâm linh minh mẩn sáng suốt liền khen:

   Tuy con mang xác phàm đầy ô trược, nằm trong ngục sanh tử chín tháng mười ngày. Mà Linh hồn con vẫn minh mẩn sáng suốt vô cùng âu đó cũng là nhờ con tu luyện hàng triệu năm.

Vương Mẫu quay sang Ngũ Linh Tiên Cô nói:

   Các con dẫn cung chủ đến Cung Kỳ Hoa truyền dạy Pháp thuật nhanh chóng. Để Cung   Chủ trở về trần thế giúp Ngọc Tinh Tử. Trị Quốc an dân lập công với Cội Nguồn lên ngôi Thánh Mẫu.

Ngũ Linh Tiên Cô vâng dạ liền dẫn Ngọc Thiên Hương đến Cung Kỳ Hoa. Ngọc Thiên Hương nhận thấy nơi đây sao quen thuộc đối với mình, tần ngần suy nghĩ. Năm vị Tiên Cô giật mình hốt hoảng, Cung Chủ quả thật lợi hại. Sợ Ngọc Thiên Hương phá vở màng u minh nhớ lại Tiền Thân của mình thì hỏng mất, làm hỏng Thiên Cơ của trời đất. Liền hóa phép không cho Ngọc Thiên Hương nghĩ tới nữa. Tức tốc truyền dạy Pháp thuật, kiếm thuật, Đạo Thuật, Nhơn Luân Hiếu Nghĩa, phép tắc nghi Lễ Vương Cung. Từ khi cô về Trời ở Cung Kỳ Hoa, Cô nhìn thấy tòa bảo tháp bảy tầng. Hào quang sáng chóa, có các Tiên Cô thay nhau canh giữ. Vương Mẫu cấm không cho Cô đến gần. Cô nghe nói trong Bảo Tháp có vị Cung Chủ đang ngủ.

Ngọc Thiên Hương chăm chú nhìn tòa Bảo Tháp suy nghĩ: Ở Thiên đàng mà cũng có nhiều điều bí ẩn. Thì có Tiên Nữ đến thưa rằng:

   Thưa Cung Chủ, Vương Mẫu cho gọi người.

Tức thời Ngọc Thiên Hương đến Cung Vương Mẫu để nghe truyền chỉ. Thấy Ngọc Thiên Hương vào Vương Mẫu nói:

   Con càng lớn càng giống lắm, chỉ khác nhau ở xác phàm và xác Tiên mà thôi.

Ngọc Thiên Hương nghe Vương Mẫu nói thì không hiểu chi cả. Vương Mẫu nói:

   Con đã xa gia đình hơn 10 năm, cha con sắp lâm đại nạn, con mau về trần thế cứu cha con để không kịp.

Ngọc Thiên Hương nói:

   Con ở đây mới hơn có 3 ngày sao Vương Mẫu nói là con đã xa gia đình tới 10 năm.

Vương Mẫu nói:

   Đây là cõi thiên đàng đương nhiên phải khác chốn nhân gian, con vốn có duyên với Ngọc Tinh Tử, sau này làm Mẫu Nghi thiên hạ, an hưởng thái bình sau cơn binh đao máu lửa.

Vương Mẫu liền trao cho chiếc áo giáp Tiên để chống lại đao, kiếm, một tấm lưới, một con Thần Ưng, một thanh bảo kiếm.

Vương Mẫu đưa viên thuốc và nói:

   Con hãy uốn viên thuốc này vào sẽ quên hết chuyện ở đây, không bao lâu mãn số trần gian Ngũ Tiên đón rước con về Thượng giới.

Nghe lời Vương Mẫu Ngọc Thiên Hương liền nuốt viên thuốc vào bụng thì không còn biết chi nữa, khi Ngọc Thiên Hương tỉnh dậy thì thấy mình đang ở động Phong Lan thuộc dãy núi Hùng Phong Sơn, bên mình là một bà già tóc bạc.

Ngọc Hương hỏi:

   Bà là ai?

Bà lão nói:

   Con quên hết rồi sao? Ta là sư phụ của con đây mà.

Rồi bà đọc lại các câu thần chú xử dụng bảo bối cùng bầu hồ lô đựng linh đơn giải độc với những điều căn dặn. Tiếng huýt sáo của bà vang lên thời Bạch Long Thần Mã bay đến. Bà hối thúc Ngọc Thiên Hương xuống núi cứu cha ở huyện Hàm Giang, một huyện 12 quận, huyện Kinh Giang Châu, thuộc địa phận của cha quản lý. Ngọc Thiên Hương liền từ biệt sư phụ cởi bạch Long Thần Mã bay đi xuống núi, bà già liền rùng mình hiện lại nàng tiên xinh đẹp nhắm hướng trời xanh bay đi mất hút.

Đây nói về Diệp Lang là Cháu Đức Tôn của Hùng Tiên Lang Quốc Vương, con lớn của Điền Lang, nhận lãnh Địa Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm, thống lãnh 10 vạn quân tiếp ứng quân Tây Thục Vương, có 3 nhiệm vụ chính,

1:  Là chận đường tiếp viện, quân rút lui của giặc.

2:  Là quân cứu viện, tiếp viện khi cần thiết.

3:  Là bao vây khi thế giặc bị xé nhỏ.

Diệp Lang sau khi hạ trại ẩn mình xong, liền bí mật một mình dò la thám thính tình hình của giặc cũng như của ta, để mà tìm cách đối phó và đã biết được ba anh em nhà Tây Thục đánh cho giặc Ân một trận tơi bời. Đang trên đường tiếp tục thăm dò tình hình quân giặc, bỗng thấy một bóng trắng lao tới nhanh như chớp dưới ánh nắng hoàng hôn yếu ớt sắp lặng. Diệp Lang giật mình tưởng đâu giặc đã phát hiện ra mình, liền rút kiếm tấn công chém tới.

Bổng nghe tiếng thanh tao như ngọc quát:

   Đạo tặc hỗn láo.

Diệp Lang giật mình thâu kiếm lại:

   Té ra là cô.

Diệp Lang biết lỡ lời liền nín thinh. Người con gái đẹp như Tiên Giáng Trần trợn mắt quát:

   Người là ai? Ta làm gì có quen với người vốn không oán, không thù sao ngươi lại ra tay độc ác định giết ta.

Diệp Lang nói:

   Xin lỗi cô nương tại hạ hiểu lầm tưởng đâu là giặc.

Nàng bĩm môi:

   Ngươi giặc thì có.

Thấy chàng thanh niên cứ nhìn mình chăm chăm. Ngọc Thiên Hương thẹn quá quát lớn:

   Tránh ra sao ngươi lại cản đường ta?

Lấy lại trầm tĩnh Diệp Lang hỏi:

   Cô từ đâu tới? Cô có biết lúc này là lúc nào không? Lúc đang dầu sôi lửa bỏng, những trận đánh liên tục xảy ra.

Ngọc Thiên Hương bĩm môi nói:

   Ai đánh ai chứ, chỉ có ngươi đánh ta thì có.

Diệp Lang ngớ người, đứng thừ người ra nhìn cô gái một hồi, chẳng nói chẳng rằng vội vả bỏ đi. Ngọc Thiên Hương nỗi cáu thúc ngựa phi tới chận đầu, bĩm môi trợn mắt nói:

   Ngươi khinh ta phải không? Ta hỏi sao ngươi không nói.

Diệp Lang nghỉ trong bụng đúng là oan gia rồi, thấy điệu bộ ngây thơ của nàng, khác gì trẻ con liền phì cười, thấy nàng nỗi cáu.

Diệp Lang xuống giọng thi lễ rồi hỏi:

   Thật ra cô là ai? Từ đâu tới?

Ngọc Thiên Hương thấy Diệp Lang lễ phép với mình thì hết giận ngay. Ngọc Thiên Hương thấy chàng trai trước mặt mình, không những bảnh trai khôi ngô tuấn tú, mà còn điền đạm oai phong hơn người, liền chấp tay thi lễ nói:

   Tiện nữ là con của Vương phủ Trung Đại Nhân, tên là Ngọc Thiên Hương.

Diệp Lang như không tin ở lỗ tai mình, liền hỏi lại:

   Cô là con gái của Trung Đại Nhân phủ gia à?

Thấy cô gái có vẻ mặt giận dữ mặt đằng đằng sát khí, biết là cô đã hiểu lầm lời nói của mình, liền nói tiếp:

   Nghe quân thám báo cho biết là cha cô sắp tử chiến với giặc Ân, có lẽ giờ này đã đánh với giặc Ân rồi sống chết ra sao chưa rõ.

Ngọc Thiên Hương nghe Diệp Lang nói thế giật mình hốt hoảng la lớn:

   Ái chà

Vội vả thúc ngựa bay đi vùn vụt. Diệp Lang giật mình nói:

   Thần Mã

Thấy nhiều cử chỉ lạ của cô gái, Diệp Lang liền huýt sáo, tức thời Thần Mã Bạch Long Câu xuất hiện, Diệp Lang phóng lên ngựa bay theo sau, tiếng sét ái tình đã nổ từ lúc ấy.

Nàng là ai, sao nàng xinh đẹp quá

Làm hồn ta, say đắm ngất ngây

Là Tiên Nữ, hay nằm mộng ta đây

Ôi cô gái từ đâu nàng lại đến

Sóng lòng ta đã cuồng dân triều mến

Vầng trăng tròn, rực rở vạn mùa xuân

Ta đã yêu và ta đã nhớ thương

Nàng là ai, sao ta mãi vấn vương.

Đây nói về châu phủ Đại Nhân dẫn hơn 6 nghìn quân, mai phục Hàm Giang, tuy biết mình quân ít, tướng yếu không thể đối đầu lại đại binh của giặc. Nhưng không lẽ để cho giặc tự tung, tự tác giết hại đồng bào, tàn sát dân lành, dày xéo quê hương. Thôi thà chết đi còn hơn, sống mà cúi đầu làm nô lệ, thời sống để mà làm gì.

Nghe tin Bắc Giang Giao Châu, binh lính vì non sông Tổ quốc đi vào tử nạn, không chút sợ sệt, lòng đau xót bùi ngùi xúc động. Ý nguyện hy sinh cho non sông Tổ Quốc trả thù cho anh em con cháu Tiên Rồng đã ngã xuống liền quyết tâm tử chiến đến cùng với giặc. Nhưng giặc quá mạnh, ta đánh sao đây cho có hiệu quả, làm sao giảm đi sức mạnh của giặc. Liền nghĩ ra một phương án là đánh vào giữa khúc đuôi của con rắn có hàng trăm, hàng nghìn xe vận chuyển lương thực. Nếu thành công thì coi như lập được đại công góp phần đánh đuổi quân xâm lược.

Ba cha con Trung Đại Nhân nghỉ đến cảnh tiêu diệt giặc liền nổi lên bao cảm khoái, chia nhau mỗi người hơn 2 nghìn quân phục kích gần sông Hàm Tử nơi giặc đi qua. Chờ cho 20 vạn quân Ân lần lượt qua sông Hàm Giang khúc sông Hàm Tử, khi đầu con mãng xà đã xa hơn 10 dặm. Còn khúc đuôi con mãng xà kéo theo hàng nghìn xe lương thực, gần một nửa đã qua sông, hơn một nửaa chưa qua. Đây là cơ hội tiêu diệt giặc Ân, dù địch còn nhiều hơn ta gấp đôi vẩn cứ đánh. Lúc bấy giờ cơn mưa đã bắt đầu nhẹ hột, mặt trời cũng đã bắt đầu dần dần xuống núi. Tiếng tù tử chiến đã nỗi lên, tức thời cách Hàm Tử không xa, từ mé sông các lùm cây bụi rậm, chui ra lúc nhúc ào ào lao tới chém giết giặc Ân như vũ bão. Tinh thần quyết tử lại thêm chủ động, quân giặc bất ngờ bị quân ta tấn công xối xả, quân Ân ngã gục thây nằm chật đất, tên bay vun vút gươm giáo mịt mù.

Thơ rằng:

Cảm khoái nào hơn giết giặc Ân

Giữ gìn tấc đất của cha ông

Xả thân vì nước Hồn hiển Thánh

Trả thù, rửa hận nước non sông

Bình sanh dốc hết, đầu giặc rụng

Gươm giáo loáng loang xác giặc chồng

Hào khí phương Nam, Rồng mọc cánh

Cuồng phong nổi dậy, khắp non sông.

Trung Hoài Nghĩa thét lớn:

   Lũ ác ôn ngoại xâm chết nầy.

Ầm ầm ầm tướng giặc trúng liền ba chưởng ngã ngựa chết tươi. Trung Hoài Nghĩa như cọp xông vào đàn dê quật ngã binh lính Ân rầm rầm.

Bỗng nghe tiếng cười khanh khách nỗi lên, thì ra đó là tiếng cười của tướng giặc:

   Con cái nhà ai mà đẹp đến thế, để ta bắt sống làm món đồ chơi.

Tướng giặc có vẻ xem thường người con gái trước mặt, đó cũng là yếu điểm của những tay háo sắc. Tướng giặc phi ngựa tới định quật ngả Ngọc Linh Châu bắt sống.

Ngọc Linh Châu quát lanh lảnh:

   Loài ác tặc ngoại xâm lũ các ngươi phải chết.

Ngựa, người liền vút tới với chiêu Vô Ảnh Kiếm uy lực vô cùng vu vu nghe rợn người chém xuống đầu tướng giặc nhanh như tia chớp.

Tướng giặc thốt lên:

   Ấy chà, coi đẹp thế mà cũng có ngón nghề dữ tợn.

Tướng giặc liền đưa giáo lên chống đở, bất ngờ Ngọc Linh Châu biến mất. Từ chiêu Vô Ảnh Kiếm biến thành chiêu Vô Ảnh Sát Thủ. Tướng giặc kinh hoàng định bỏ chạy, nhưng đả muộn một tiếng rú thê thảm, tướng giặc đã trúng liền một kiếm sau đó là cái đầu bay đi lông lốc.

Ngọc Linh Châu như con Phụng Hoàng xông vào đàn quạ đôi song kiếm quét vào quân thù như sấm sét, quân Ân thi nhau ngã gục.

Thơ rằng:

Giặc vừa thấy một bóng hồng chơm chớp

Thời đầu bay lớp lớp xác thây phơi

Tướng nước Nam hay là tướng nhà Trời

Giặc kinh hoảng trước bóng hồng vun vút

Như Phụng Hoàng, lùa vịt để mà xơi.

Bổng nghe tiếng quát như sấm:

   Chết nầy.

Thanh Lao Đao trên tay Trung Đại Nhân, bỗng hóa ra 5 Thanh Đao với chiêu Ngũ Ảnh Đoạt Hồn tấn công nhanh như chớp. Thượng trung hạ, đầu mình và tứ chi, tướng giặc hoa cả mắt trúng liền một đao bỏ mạng. Quân lính Kinh Giao Châu thấy ba tướng giặc bỏ mạng, liền hăng máu xông lên như bão lốc người chém giết giặc Ân kẻ đốt phá lương thực, giặc Ân hơn 1 vạn quân đã đi tiêu hơn hai phần ba, chỉ còn 3 nghìn quân nữa sắp bị tiêu diệt đến nơi, hàng nghìn xe lương thực sắp bị phá vở thiêu rụi.

Có bài thơ rằng:

Rồng Tiên chính nghĩa mạnh vô biên

Chết sống kể chi giữa trận tiền

Dòng máu Lạc Hồng đâu sợ chết

Lao vào tử chiến, thật kinh thiên

Giặc Ân khiếp vía, tinh thần ấy

Truyền thống hùng anh, khắp mọi miền

Quốc Đạo anh linh, rền kim cổ

Toàn dân quyết tử dậy cương biên

Quân lính Kinh Giang Giao Châu đang lúc hăng máu, say sưa tiêu diệt giặc Ân đốt phá lương thực, thì nghe quân reo dậy đất ngựa hí vang trời, thì ra quân Ân gần khúc đuôi đội quân chủ lực đã bọc bao vây trở lại bao vây trùng trùng lớp lớp. Chỉ còn hơn 2 nghìn quân giặc Ân sắp đi chầu âm phủ, thấy quân tiếp viện đến bao vây binh lính Kinh Châu, liền phản công quyết liệt. Giặc Ân trong đánh ra ngoài đánh vô, kẹp quân Kinh Giang Giao Châu ở giữa. Bốn nghìn quân Kinh Giang Giao Châu còn lại đụng độ với quân chủ lực giặc Ân nháy mắt tất cả đều bỏ mạng lìa đời.

Thơ rằng:

Nào có sợ trước lủ bầy cáo, sói

Chí anh hùng, xông tới tiến tiến lên

Dù ngã xuống, nhưng hồn linh sống mãi

Diệt quân thù nào để sót một tên

Kìa cha ông đang tiếp hồn tử sĩ

Về Cội Nguồn về Tiên giới Thánh Tiên

Hỡi Hồn Thiêng, hỡi anh linh trung dũng

Người ngã rồi, nhưng hồn vẫn đứng lên

Như núi cao, như hùng sơn sừng sửng

Mãi muôn đời bao thế hệ không quên.

Thấy cha và anh sắp bị giặc giết Linh Châu lao tới cứu cha và anh trước mưa tên, bão giáo tên đã bắn trúng cô xối xả, cô từ từ ngã xuống gục nơi chiến trường.

Có bài thơ rằng:

Giặc Ân xâm lược nước nhà

Làm thân con gái cũng ra chiến trường

Tung hoành ngang dọc thư hùng

Đầu giặc rụng xuống như sung chín mùi

Tướng giặc khiếp vía rụng rời

Trời nam phận gái cũng thời liệt oanh

Cỡi mây đạp gió xông lên

Trước bầy quỷ dữ lung linh sáng ngời

Tuy nàng đã ngã xuống rồi

Nhưng bầy quỷ dữ vẫn thời khiếp kinh.

Ngọc Linh Châu trúng tên nhiều quá, biết mình khó sống thét lên:

   Cha, anh con đi trước đây.

Nói xong Linh Châu nhắm mắt lìa đời, hồn bay về trời chầu Tiên Mẫu. Hai Cha, Con Trung Nhân thấy Linh Châu đã ra đi, thì dùng hết thần lực vào cánh tay Đao, Kiếm đây là đoàn cuối cùng giết giặc theo Linh Châu sang bên kia thế giới về chầu Quốc Tổ. Với đường Đao cuối cùng cuồng phong nỗi dậy cát chạy, đá bay một vùng Đao pháp rộng lớn cuồn cuộn tuông ra trùm xuống đầu quân giặc.

Tướng soái giặc Ân thấy thế thét lớn:

   Bắn.

Tức thời hàng trăm mũi tên đồng tên sắt bắn vào vùng Đao Kiếm tiêu diệt hai cha, con Trung Đại Nhân. Trước phút lâm nguy nghìn cân treo sợi tóc, bỗng hai bóng trắng xuất hiện với hai luồng kình lực một cương một nhu, đẩy hàng trăm mũi tên lệch xong một bên, đùng đùng ầm ầm quân Ân ngã gục mấy chục tên.

Hai cha con Trung Đại Nhân thần lực cạn kiệt loạn choạng sắp ngã, liền bên tai có tiếng người nói:

   Mau sang ngựa.

Tức thời 2 luồng kình lực hút hai cha con Trung Đại Nhân bay lên không. Nói thì hơi lâu, còn việc xảy ra thời nhanh như chớp, quân giặc chưa kịp trở tay thời hai bóng trắng đã mất hút trước sự ngơ ngác của giặc, hai cha con Trung Đại Nhân không cánh mà bay.

Nói về hai cha con Trung Đại Nhân sắp kề cái chết, bỗng có người đến cứu không rõ là ai mà có võ công thần kỳ đến thế. Lần đầu tiên chứng kiến cảnh ngựa bay, ngựa phi ngày nghìn dặm đã là hiếm thấy, tuy trời đã tối nhưng hai cha con Trung Đại Nhân cũng cảm nhận được núi, rừng trôi qua vùn vụt ngựa đang bay. Hai cha con Trung Đại Nhân xưa nay chỉ nghe kể, nhưng hiện giờ thì tai nghe, mắt thấy, tay sờ đụng không thể chuyện kể hay chiêm bao gì cả mà là sự thật.

Khi ngựa dừng chân, thì thấy 5 vị tướng quân ra mắt cung kính thi lễ nói:

   Đức Tôn Vương đi quá lâu, làm cho các thuộc hạ quan tướng lo lắng.

Hai cha con Trung Đại Nhân nghe 5 vị tướng quân thi lễ trong 2 vị cứu mình, một vị là Đích Tôn Vương Tử, còn vị kia không rõ là ai thời vô cùng kinh hãi, liền quỳ lạy:

   Xin tha mạng cho tội thất lễ.

Diệp Lang đỡ hai cha con Trung Đại Nhân dậy nói:

   Thật đáng khen cho tấm lòng vì dân vì nước của Đại Nhân. Vì nước quên thân, vì dân chiến đấu, chiến đấu anh dũng, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, ai nhìn thấy cũng sinh tâm kính phục.

Ngọc Thiên Hương thì đờ người ra ấp a ấp úng Diệp Lang thấy vậy phì cười. Hai cha con Trung Đại Nhân lại tiếp tục quỳ lạy ơn cứu mạng.

Diệp Lang lại đỡ dậy nói:

   Người cứu hai cha con Đại Nhân không phải là bổn Vương, mà là cô con gái út của Đại Nhân. Ngọc Thiên Hương.

Diệp Lang chỉ người con gái đã cứu ông thoát chết trong đường tơ kẻ tóc. Ông như người trong mơ ngơ ngác. Ngọc Thiên Hương nhào tới ôm lấy cha:

   Cha con xuống núi hơi trễ, thiếu chút nửa Cha và Anh chầu Trời, con thật có lỗi xin Cha thứ tội cho.

Vuốt chòm râu của Cha, Ngọc Thiên Hương nói:

   Cha đã già đi nhiều.

Ông la lớn:

   Đúng là con rồi. Đúng là Ngọc Hương của Cha rồi.

Ông ôm Ngọc Thiên Hương mà khóc:

   Cha nhớ con lắm, con đi đâu mà lâu thế đã hơn 10 năm rồi còn gì.

Nghe hai cha con Trung Đại Nhân nói chuyện, Diệp Lang đã hiểu ra tất cả, thì ra là thế. Đúng là nàng không hay biết gì, có lẽ nàng vừa mới xuống núi, lòng bổng dâng lên bao điều cảm xúc khó tả. Nhìn người con gái út, ông nhớ đến Linh Châu người chị cả của Ngọc Hương, em trở về thì người chị lại ra đi, hi sinh anh dũng nơi trận chiến. Hình ảnh Ngọc Linh Châu đã hiện ra như con Phụng Hoàng xông vào bầy sói dữ càng nghĩ nước mắt ông càng chảy ròng ròng.

Ngọc Hương hốt hoảng:

   Cha sao thế?

Ông nghẹn ngào nói:

   Chị cả hi sinh rồi, xác chị con còn nằm nơi chiến trận.

Nói xong nước mắt ông lại càng chảy hơn, thấy cha và anh vô cùng đau khổ. Ngọc Hương nghiến răng nói:

   Lũ ác ôn, giặc Ân rồi đây chúng bay sẽ biết tay bổn cô nương, ta sẽ cho các ngươi biết thế nào là lòng căm hận của những người thân, các ngươi đã tàn sát.

Ngọc Hương nói:

   Để con đi tìm xác chị về đây tạm thời an táng, sau khi tiêu diệt giặc Ân đem chị về Châu Phủ an táng tử tế.

Nghe Ngọc Hương nói ai nấy cũng đều kinh hãi. Trung Đại Nhân khuyên:

   Con, nguy hiểm lắm, nguy hiểm lắm.

Trung Hoài Nghĩa nói:

   Hiền muội không nên đi vì lúc này giặc Ân chưa rời xa hết nơi chiến trận, để giặc bỏ đi anh sẽ tìm xác chị.

Ngọc Hương nói:

   Từ đây đến đó cả hàng trăm dặm, giặc Ân tai mắt cùng khắp, để em cỡi Thần Mã tới đó chưa được nửa giờ, lũ giặc Ân không làm gì nổi con đâu, hơn nữa con sẽ khôn khéo không cho chúng phát hiện. Cha, anh cứ yên tâm.

Ngọc Hương đứng phất dậy, hai con mắt tỏa hào quang oai phong lẩm lẩm, giờ đây nàng không phải là con gái ngây thơ nữa mà là một Nữ Tướng anh hùng không khác gì chị của nó Linh Châu oai phong lẫm liệt. Ngọc Hương nhảy lên con Thần Mã bay lên không biến mất trong màn đêm u tối.

**************

PHẦN 15

Nói về Vi Tử Khải thống lãnh 30 vạn quân hơn 2 nghìn chiến thuyền lớn, nhỏ, khí thế dời non lấp biển, nếu quân Văn Lang không dốc toàn lực sức người, sức của hoặc thiếu đi sáng suốt, phán đoán không chính xác, thì sẽ dẫn đến hậu quả vô cùng tai hại, quân Ân sẽ dẫm lên đất Văn Lang như dẫm lên cỏ rác. Lòng yêu nước của người dân Văn Lang thật đáng kính nể, từ già đến trẻ dù trai hay gái ai nấy cũng xung phong tham chiến đuổi giặc Ân, hàng nghìn năm với truyền thống yêu nước của nền Quốc Đạo, cũng bởi vì truyền thống yêu nước đó cho nên các quận, huyện chưa kịp có lệnh rút lui hoặc di tản. Thì nhất nhất một lòng lần lượt đi vào tử chiến, dù biết đó là đi vào con đường chết. Huyện Giang Trạch là một minh chứng cụ thể, mở màn cho tinh thần chống xâm lăng đầy hào hùng thể hiện lòng bất khuất hiên ngang anh dũng trước quân thù, sau đó các Châu Quận Huyện cũng đều tử chiến như thế. Thành Tử Dương cũng đưa quân ra chống giặc tại eo Tử Thần cách thành Tử Dương 25 – 26 dặm, với truyền thống con Rồng Cháu Tiên gần 2 nghìn năm, luôn luôn nêu cao ý thức chống ngoại xâm, chống đến hơi thở cuối cùng, chẳng hạn như ba cha con Trung Đại Nhân cùng 7 nghìn quân lính đánh trận Hàm Giang khúc sông Hàm Tử, như trận chiến phủ chánh Tư Mã Nhân tại thành Bắc Giang Giao Châu và còn không biết bao nhiêu là trận chống xâm lăng đầy anh dũng nữa.

Nền Quốc Đạo Tiên Rồng, Hiến Pháp của nước Văn Lang, tuy đã có phần lệch lạc tam sao thất bổn qua truyền khẩu dẩn đến lệch lạc tinh hoa văn hóa Cội Nguồn, nhưng vẫn còn anh linh vô tận, hùng khí dân tộc vẫn còn cao vót sẵn sàng chết cho Tổ quốc, quyết sinh.

Đây nói về huyện Giang Trạch không những giàu về tôm, cá mà còn giàu về lúa, gạo mà người dân ở đây cũng giàu lòng yêu nước, nghe giặc Ân xâm lăng nước nhà, thì lòng sôi lên sùng sục. Chúng ta sinh ra từ quê hương đất nước có chi mà sợ, huyện Giang Trạch binh lính chỉ hơn 100, sau đó các làng xã, các quận, huyện, làng xã lân cận tham gia chiến dịch chống giặc lên đến 2 nghìn người. Lợi dụng địa hình hiểm trở, cung tên giáo mác phục kích khúc sông Triệt Giang, hai bên bờ sông lau, sậy, dừa nước sầm uất rậm rạp.

Quân Dĩ An nhìn thấy thuyền giặc nơi đầu nguồn xa xa, xuôi theo dòng nước từ từ lao tới khúc sông Triệt Giang. Thuyền cách thuyền vài chục mét, thành một muỗi dài tận đâu đâu, thuyền giặc cứ giữa sông mà đi, gần đến khúc sông Triệt Giang thuyền giặc đi chậm lại. Ba cha con, bố Chánh Dĩ An nào có biết những chiến thuyền đi đầu của giặc là những chiến thuyền trang bị hiện đại. Không những là những chiến binh thiện chiến, thiện xạ, võ nghệ cao cường, trận pháp lại thông mà còn ván thuyền cũng chắc tên lao khó phá vỡ. Binh lính quân Giang Trạch là hỗn hợp chưa được tập luyện bao nhiêu, chỉ thấy giặc là đánh. Chờ cho thuyền giặc vào tầm ngắm sâu vào khúc sông Triệt Giang là tấn công ngay, thấy thuyền giặc đã vào tầm 5 – 6 chiếc, ba cha con Bố Chánh Dĩ An phất cờ ra lệnh tấn công.

Thế là tiếng hò hét vang dậy cả một vùng tên bay, giáo phóng như mưa nhưng thuyền giặc không hề hấn gì, giặc tạo ra tường đồng, vách sắt nhiều miếng ghép lại vô cùng nhanh chóng, hàng rào chống tên lao. Chỉ nghe lăng ken như pháo nổ rang, tên lao rơi xuống nước lổm tổm như mưa trút. Thuyền giặc không bắn chống trả, chỉ hơi dừng lại rồi tiếp tục lao đi. Thuyền giặc đã hơn 20 chiến kéo dài hơn dặm, bỗng thình lình tấp vào bờ, người ngựa xông lên xáp chiến. Ôi thôi những con nai vốn không nanh vuốt, chưa nhiều kinh nghiệm, chiến đấu binh pháp còn non, đã gặp phải bầy hổ dữ, bầy cáo, sói đầy những răng nanh móng vuốt. Những con hổ, báo đang đói với bầy cáo, sói đang thèm thịt người. Thế là loáng mắt chúng liền chém sạch, thây người ngã đổ như chuối bị chặt.

Ba cha con Bố Chánh Dĩ An đồng cùng chung số phận, giặc dẫm lên xác con dân Văn Lang, con cháu Tiên Rồng, chúng tru lên như quỹ dữ, sói điên.

Chúng còn nói:

   Đồ cóc nhái mà cũng vuốt râu hùm.

Sau có thơ ca ngợi rằng:

Sống chết ở đời có sợ chi

Vì non, vì nước có mấy khi

Người tuy ngã xuống, danh còn đó

Rồng Tiên mở hội mới kịp kỳ

Quốc Tổ Hùng Vương người có thấy

Cháu con nối gót thật uy nghi

Hồn nương theo gió ghì chân giặc

Trời Nam nay đã mở đề thi

Trên dòng sông Tử Dương có một chiếc thuyền rất to lớn, xung quanh mấy trăm chiếc thuyền hộ giá. Đó là thuyền của Vi Tử Khải đang đậu giữa dòng sông chỗ khúc sông sâu, bùng binh rộng lớn, bỗng có một chiếc thuyền nhỏ lướt mau như tên tới thuyền lớn, khi gần tới thuyền lớn, từ chiến thuyền con, một bóng đen bay lên như con chim Ưng hạ xuống thuyền lớn, đúng là một loại kinh công hiếm thấy ở đời. Kinh công thượng đẳng, bóng đen đó là một thanh niên độ 40 – 41 tuổi.

Thì ra đây là một tướng chủ soái của giặc Ân, chấp tay thi lễ hướng vào trong thuyền nói:

   Bẩm Vương Gia quân địch đã bị quân ta tiêu diệt nhanh chóng. Đúng như lời phán đoán của Vương Gia, quân Nam chỉ là quân bị thịt, chúng đã phơi xác đầy đất chật bãi, trong khi quân ta tử thương có mấy người. Quân văn Lang cũng chỉ là ếch nhái, ngu si hơn loài lợn. Loài lợn thấy Cọp, Beo còn biết chạy trốn. Còn nầy chúng như cái trứng chọi đá, để rồi chết sạch không phải là ngu lắm sao. Không bao lâu nữa nước Văn Lang sẽ thuộc về tay Chúa Vương Gia.

Bổng Vi Tử Khải xuất hiện khen:

   Tướng quân khá lắm. Không những giỏi về võ nghệ thuộc hàng thượng đẳng. Mà còn giỏi binh pháp, quân sự cơ. Không những thế mà còn khéo ăn nói, ta ở đây chờ tin thắng trận việc lấy thành Lạc Giao Châu. Ta sẽ tới đó bàn kế sách chiếm Nam Kinh Xích Quỷ.

Thuộc hạ xin tuân lệnh. Nói xong vị trung niên tướng quân ấy như con Đại Bàng bay lên không hạ xuống chiếc thuyền con loáng cái là mất dạng. Vi Tử Khải nhìn thấy cái tài kinh công ấy cũng phải lắc đầu thầm phục: Quả đúng là một nhân tài hiếm thấy.

Đây nhắc lại, nói về kế sách tiến quân của giặc Ân bằng con đường thủy. Vi Tử Khải cùng hơn hai nghìn chiếc thuyền theo chi nhánh sông Trường Giang vượt qua biên giới tiến sâu vào nước Văn Lang, thuộc Huyện Giang Trạch tới khúc sông Tử Dương bồng binh rộng lớn thượng nguồn của nhiều kinh lạch địa hình bằng phẳng cảnh quang thông thoáng nhìn xa đến 6 – 7 dặm liền cho thuyền neo đậu lại. Họp bàn kế sách thôn tính nước Văn Lang. Thấy các quan tướng bàn sôi nỗi, nhưng toàn là vấn đề xa thực tế.

Mao Toại thấy vậy liền nói:

   Theo tôi thì chúng ta nên bàn những vấn đề trọng yếu. Những thứ tự mà chúng ta lần lượt tiến tới ta phải giải quyết bằng cách nào phương pháp cụ thể nhất. Chẳng hạn ta sẽ đến đoạn nào, nơi đó có những gì, và sự nguy hiểm của nó. Chúng ta phải có phương án tác chiến gọn nhất và nhanh nhất, ít làm tổn hại quân bị và binh lính. Như eo Tử Thần, khúc sông Tử Thần. Nếu có quân Văn Lang mai phục, thì ta tiêu diệt chúng bằng cách nào, hiệu quả nhất, gọn nhẹ nhất, đở hao binh lính chúng ta. Những khúc sông nguy hiểm đi qua, phải để lại quân canh giữ, liên lạc thông tin hoặc bắn pháo hiệu phát hiện khi có địch. Khúc sông thứ hai là khúc sông có thể nói là nguy hiểm vô cùng. Đó là khúc sông Lạc Cội rừng Lạc Hồn, khúc sông chết. Tuy khúc sông nầy khá rộng khoảng độ 200 mét lùm lách cây cối rậm rạp, lại có nhiều kinh rạch chạy ngang chạy dọc. Chúng ta không thể không đề phòng khi đi qua địa phận nầy. Tùy cơ ứng biến rút kinh nghiệm khi qua eo Tử Thần. Bổ sung ưu khuyết điểm, tiến qua khúc sông Lạc Cội rừng Lạc Hồn.

Các quan tướng thấy Mao Toại phân tích cụ thể chuyên sâu vào trọng tâm của vấn đề, vừa linh hoạt vừa biến hóa ai nấy cũng phải thầm khen. Mao Toại là người học thức uyên bác, võ công xuất chúng, cơ mưu tài trí thuộc hàng thượng thừa. Lại có cô em gái xinh đẹp như Tiên Nga gián trần điêu ngoa xảo quyệt thuộc hàng bật nhất. Người đàn bà gian ác đầy ngón nghề mánh khóe. Là món đồ chơi ưu ái không thể thiếu của Vi Tử Khải. Vì có cô em gái phục vụ đắc lực nên Mao Toại được Vi Tử Khải tin tưởng giao cho những trọng trách lớn. Nghe Mao Toại phân tách đầy hữu lý.

Vi Tử Khải coi như đã tìm ra được Chủ Soái liền ra lệnh:

   Mao Toại nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân thống lãnh 20 vạn quân 2 nghìn chiến thuyền 400 binh lính thiết giáp, tiến đánh thành Lạc Giao Châu, vượt qua Giao Giao Minh Châu tiến đánh Quí Linh Giao Châu đánh Kinh Kinh Giao Châu chiếm Nam Kinh Xích Quỷ trước Vi Tử Điển em ta. Làm lễ ra mắt dâng lên Bệ Hạ. Chúa Công tuân lệnh.

Thế là Mao Toại thống lãnh 20 vạn quân cùng các trấn chư hầu Vệ, Ngô, Lăng, Bái cho thuyền xuôi theo dòng sông Tử Dương tiến sâu vào lãnh địa của nước Văn Lang. Với tài điều binh khiển tướng bày binh bố trận, điều khiển 2000 chiến thuyền như sau:

*-1:  500 chiến thuyền 5 vạn quân đi đầu tiên phong do Hồ Giả Nhân làm tướng soái tổng chỉ huy được phân bổ lực lượng như sau. 100 chiến thuyền đi trước, đi hàng một. Cứ giữa sông mà đi, thuyền cách thuyền độ 10 mét. 200 chiến thuyền kế theo đi hàng đôi thuyền cách thuyền 10 mét. Hàng trước cách hàng sau 20 mét. Có hai chiếc nhỏ đi hai bên ở đoạn giữa chở 100 binh lính thiết giáp, là hai chiếc thuyền chủ lực, di chuyển mau lẹ vô cùng, Và tấn công địch thủ vào chổ lợi hại nhất khi có lịnh của Tướng Soái. 200 chiến thuyền kế theo nữa, đi hàng ba thuyền cách thuyền 5 mét, hàng sau cách hàng trước 20 mét. Năm trăm chiếc thuyền 5 vạn quân tiên phong là đội quân xáp chiến chủ lực được trang bị phương tiện xáp chiền hiện đại nhất thời bấy giờ. Đội quân được coi như bách chiến bách thắng của giặc Ân.

*-2:  Kế theo sau quân của Hồ Giả Nhân là quân Trịnh Hoài Điển cũng 500 chiến thuyền, 5 vạn quân. Là quân xáp chiến bao vây trận địa ở vòng một xé nát quân địch ra nhiều mảnh bao vây tiêu diệt. Quân Trịnh Hoài Điển cách quân Hồ Giả Nhân 200 mét, cứ ba hàng ngang song song, ba hàng dọc hàng trước cách hàng sau 20 mét. Có đội quân thiết giáp đi giữa ở hai bên, cũng chính là đội quân chủ lực xáp chiến những chổ địch mạnh nhất khi có lịnh của Tướng Soái chỉ huy.

*-3:  Kế theo sau quân của Trịnh Hoài Điển là quân của Ly Tử Càn. Cùng 500 chiến thuyền, 5 vạn quân là quân bao vây ở vòng hai rộng lớn hơn khi đã đổ bộ lên mặt đất. Vừa chặn đứng quân tiếp viện, vừa không cho quân địch chạy thoát. Thuyền cách thuyền 5 mét bốn hàng ngang bốn hàng dọc hàng sau cách hàng trước 30 mét.

*-4: Kế theo quân của Ly Tử Càn là bộ tổng tham mưu cũng gần 500 chiến thuyền, 5 vạn quân cách quân Ly Tử Càn 200 mét, thuyền giăng năm hàng ngang năm hàng dọc. hàng sau cách hàng trước 30 mét 400 chiếc thuyền. Còn 100 chiến thuyền sau cùng giăng hàng 6.

Chính giữa đội thuyền thứ 4 cũng là đội thuyền cuối cùng có một chiếc thuyền to lớn chở mấy trăm binh sĩ. Đó là thuyền chở Mao Toại vị Chủ Soái tổng chỉ huy toàn cục. Điều hành tướng lĩnh đưa quân xâm lược thôn tính nước Văn Lang. Bảo vệ thuyền lớn có bốn chiếc thuyền nhỏ di chuyển vô cùng mau lẹ. Đó là thuyền chở 200 quân thiết giáp lợi hại vô cùng. Đây là đội quân dự bị, bổ sung trận chiến, đội quân xáp chiến sau cùng, để ăn thịt những con mảnh hổ đã bị thương, hoặc đã kiệt sức ngất như. 5 đội tinh nhuệ 200 quân thiết giáp, là đội quân hùng mạnh nhất trong bốn đội quân. Thế mà lại chuyên ăn nước cờ tàn. Chỉ cần con tốt cũng làm nên chuyện lớn, huống chi là một lực lượng còn xe, pháo, mã.

Có thể nói nước cờ xâm lược cao tay ấn nầy của Mao Toại, ứng dụng tấn công phòng thủ, tiếp ứng biến hóa lợi hại vô cùng. Với tài bày binh bố trận, điều binh khiển tướng, xuất quỷ nhập thần như thế, đương thì khó có người hơn được, vì vậy mà Vi Tử Khải rất tin tưởng ở con người nầy. Có thể nói với lối tiến quân đầy biến hóa, và mạnh như vũ bão. Chúng luôn luôn tin tưởng nuốt quân Văn Lang như nuốt một con nhái. Bằng chứng cụ thể chúng nuốt quân Dĩ An còn dễ hơn lấy đồ trong túi. Thôn tính xong quân Dĩ An thuyền tiếp tục xuôi dòng. Hết Giang Trạch qua Tử Dương tới Giang Châu cách eo Tử Thần ba dặm thì cho thuyền dừng lại, đợi lịnh của Chủ Soái.

Mao Toại báo tin xong liền trở lại thuyền. Thì thấy các tướng soái đã đợi sẵn.

Thì ra người đàn ông trung niên báo tin thắng lên Vương Gia Vi Tử Khải, không ai khác hơn chính là Chủ Soái Mao Toại. Mao Toại khi nghe qua tình hình do thám eo Tử Thần phát hiện, thấy chim phát hiện có người bay toán loạn.

Mao Toại cười ngất có vẻ xem thường đắc ý lắm:

   Đúng là một lũ ngốc khác nào nói lạy ông tôi ở bụi nầy.

Mao Toại nói:

   Tuy trời sắp tối nhưng có trăng sáng tỏ ta vẩn cứ đi qua. Dù có 3 vạn quân mai phục, chẳng qua đó cũng chỉ là những miếng mồi ngon cho ta xơi mà thôi.

Liền nói nhỏ với ba tướng soái chỉ huy theo đó mà tiến hành. Có lẽ theo kế sách bí mật của Mao Toại là ba vạn quân xáp chiến đối diện cầm chừng thu hút lực lượng của địch dồn tới. Sáu vạn quân tỏa ra bao vây hốt trọn ổ mai phục. Và đúng như vậy khi giặc Ân phát hiện hai bên bờ sông rừng âm u, eo Tử Thần có người mai phục, liền cho sáu vạn quân tỏa ra lên hai bên bờ sông, mỗi bên 3 vạn quân bao vây rừng Âm U. Sự bao vây nầy quân lính Tử Dương không hề hay biết. Chỉ nôm nôm nhìn theo dòng sông chờ thuyền giặc sa vào ổ mai phục là đánh.

**************

PHẦN 16

Nói về Quan Phủ Chánh Bố Cái Đại Nhân, nghe tin giặc giết chết ba cha con Bố Dĩ An, thì đau xót căm hận lũ giặc Ân vô cùng. Bố Cái Đại Nhân nói với hai con là Bố Cừ và Bố Khôi:

   Chú họ, cùng các em họ các con đã ngã xuống, mối hận xâm lược thù nhà nầy ta phải tính luôn cả vốn lẩn lãi với chúng và eo Tử Thần là mồ chôn của lũ giặc Ân.

Bố Cái Đại Nhân nói:

   Ý đồ của giặc, là chỉ cần chiếm được các Châu Thành trọng yếu. Thì các Châu Thành, Quận Huyện khác bỏ qua không đánh cũng tự đầu hàng. Các con hãy huy động các Quận Huyện. Chọn những tay thiện xạ cừ khôi, phóng lao thượng hạng, giỏi võ công tới eo Tử Thần phục kích tiêu diệt giặc.

Eo Tử Thần là ranh giới của Giang Châu và Tử Dương địa hình phức tạp. Cách thành Tử Dương về hướng Tây Nam 27 – 28 dặm eo Tử Thần là khúc sông hẹp nước chảy xiết. Nếu người có sức mạnh vào loại khá, thì có thể từ bờ nầy sang bờ kia. Sự tính toán của phủ Chánh Bố Cái Đại Nhân phải nói là khá chu đáo, công phu, tiến tới mạch lạc. Phục kích ở eo Tử Thần đã hai ngày đêm. Đêm nay là đêm thứ ba, đêm quyết định vận mệnh giữa ta và giặc. Lòng quyết tâm tiêu diệt kẻ thù bảo vệ non sông Tổ Quốc. Trả thù cho những đồng bào anh em đã ngã xuống.

Trời vừa xẩm tối, vầng trăng tròn đã treo lơ lững trên ngọn cây. Thuyền giặc từ từ tiến gần đến eo Tử Thần 1 dặm, nữa dặm, rồi 100 mét 50 mét, 10 mét tới rồi. Thuyền giặc cứ giữa sông mà đi, thuyền đi chậm, thuyền cách thuyền 20 mét. Có hai thuyền nhỏ xen kẽ theo thuyền lớn lần lượt tiến sâu vào eo Tử Thần. Ánh trăng xuyên qua lùm cây kẽ lá. Cảnh lốm đốm sáng tối vằn vệnh lổ hang u linh huyền ảo. Mặt sông lấp lánh cá lội tung tăng. Dòng sông đang yên bình tỉnh lặng. Bổng sóng dậy ầm ầm quân reo dậy đất, tên bay lớp lớp, lao phóng như mưa.

Thế là:

Ánh trăng lấp lánh Tử Dương sông

Cá lội tung tăng lướt ngược dòng

Bổng đâu gươm giáo rền sông núi

Máu chảy đầu rơi lấp ngăn sông

Thương thay chiến sỉ vì non nước

Giữ gìn tất đất của cha ông

Chết vì đại nghĩa, vì trung hiếu

Sáng bừng khí phách, rạng Tổ Tông

Ba cha con thấy thuyền giặc đã sa vào lọt vào ổ phục kích liền chỉ giáo vào thuyền giặc thét lớn tấn công. Thế là quân reo dậy đất, tên bay lớp lớp, lao phóng như mưa. Thuyền giặc liền đứng lại chống cự. Tên qua giáo lại tên lại giáo qua mỗi lúc mỗi thêm dữ dội, tên lao như mưa trút. Quân Tử Dương càng đánh người nầy ngả xuống người khác đứng lên. Thuyền giặc muốn tấp vào bờ cũng không nổi đã có một số binh lính giặc đã tử trận.

Sau có bài thơ ca ngợi rằng:

Khiếp cho con cháu Tiên Rồng

Vì non vì nước lướt xông diệt thù

Dẫu cho quân giặc trùng trùng

Rồng Tiên nào sợ cuộn cuồn xông lên

Dẫu cho giặc khắp Tây Đông

Tung hoành ngang dọc cũng không sợ gì

Tuy người đã ngã xuống rồi

Nhưng hồn đã nở một trời hoa xuân

Con đường chính nghĩa rộng thênh

Gương Thiên trung hiếu rạng rền cha ông

Hỡi ai con Lạc cháu Hồng

Vai mang chính nghĩa Tiên Rồng tiến lên

Cha Trời Địa Mẫu kề bên

Con đường truyền thống anh linh con đường

Chiến trận xảy ra hơn một giờ qua giờ Dậu nữa giờ Tuất. Quân Tử Dương đang chiến đấu hăng say. Thời nghe sau lưng quân Ân đã thắt chặc vòng vây tiến sát sau lưng đánh bọc tới như thác đỗ. Quân Tử Dương liền bị kẹp giữa hai làn tên mũi giáo. Giặc tấp thuyền vào bờ xông lên. Giặc sau lưng tràn tới đèn đuốc trùng trùng điệp điệp, hai mũi giáp công. Quân Tử Dương loáng cái là chết sạch. Giặc Ân thắng liền hai trận, Triệt Giang và eo Tử Thần. Eo Tử Thần giặc có tổn thất nhưng không đáng kể. Còn Tử Dương thiệt mạng hơn nửa vạn quân. Thời lòng kiêu ngạo của giặc nỗi lên cao vót.

Có tướng không kiềm hãm được lòng kiêu ngạo đắt ý thốt:

   Sự phục kích tiêu diệt quân ta cũng chỉ đến thế mà thôi. Quân Văn Lang cũng chỉ là con cọp đất, được nén lên vẻ vời mà thôi hữu danh vô thực. Nói cho cùng cũng chỉ là loài ếch nhái ềnh oang lỗ miệng, thùng rỗng kêu to có khác.

Nói xong bọn chúng cười lên hềnh hệt coi quân Văn Lang cỏ rác. Đây nói về Mai Đức Thọ. Theo lệnh của Hùng Vương Gia điểm 3 vạn quân tốc hành tới Tử Dương Châu. Cách eo Tử Thần khỏi rừng Âm U hai dặm ẩn núp khu thung lũng Tử Thần đừng để cho giặc phát hiện. Ngụy trang khéo léo đừng cho chim chóc phát hiện sợ hãi. Không phải là yểm trợ quân Tử Dương. Mà là thực hiện theo một kế sách bí mật. Sau khi quân Ân đánh bại quân Tử Dương bỏ đi, Thì mới thực hiện theo kế sách bí mật đó. Đã gọi là chiến trận phục binh cơ, càng bí mật thì càng thắng. Vì vậy mỗi hành động đều phải hết sức cẩn thận. Bất ngờ tiêu diệt địch.

Sau khi 3 vạn quân ẩn mình kín đáo, thì quân dò thám do Mai Đức Thọ phái đi theo dõi tình hình quân giặc đã trở về bẩm báo lại tình hình:

   Bẩm chủ soái, quân Ân đã tỏa ra hai bên eo Tử Thần đông như kiến, hình như quân Tử Dương chỉ lo phục kích eo Tử Thần nên không hay biết gì cả.

Mai Đức Thọ bỗng thở ra:

   Hùng Vương Gia diệu đoán như thần, quân Tử Dương khó mà thoát chết.

Rồi hạ lệnh án binh bất động bảo vệ tuyệt đối an toàn bí mật. Nghe tiếng binh khí chạm nhau, quân reo dậy đất nhưng mới hơn một canh giờ im bặt, không gian yên tĩnh trở lại, thế là hết. Mai Đức Thọ nghĩ: Quân Tử Dương giờ này chẳng còn một mạng.

Mai Đức Thọ nghiến răng trẹo trẹo:

   Quân ăn cướp, quân dã man xâm lược, chúng mày sẽ đền tội, chúng mày đã dẩm chân lên đất Văn Lang thì không còn xác để trở về quê hương đất nước nữa, cho chúng mày kiêu căng hách dịch rồi thi nhau về chầu âm phủ.

Nói về quân thắng trận vẻ vang, dừng quân khao thưởng tướng sĩ cho tới sáng. Chúng vứt xác quân Tử Dương xuống sông cho cá nuốt, tôm xơi. Có những tên hung tợn chúng đạp lên thể xác nạn nhân, lúc la lúc lắc cái đầu, dưới ánh trăng mờ cũng có thể lộ bộ mặt xù xì như da cóc với cặp mắt cú vọ, diều hâu, loài kềnh kềnh, dòm thịt người chết chảy nước dãi. Loài hổ, báo nhìn thấy cũng phải lắc đầu cho loài yêu tinh khát máu, quá tàn độc không còn nhân tính của loài người. Lũ giặc Ân chúng đã chà đạp lên quê hương non sông Tổ quốc Văn Lang, giết người cướp của, ăn thịt trẻ con, hãm hiếp đàn bà con gái. Tội ác của lũ ngoại xâm đã cao như non, như núi và chúng cứ tiếp tục tiến sâu vào đất Văn Lang tiếp tục gây thêm nhiều tội ác mới tàn độc hơn nữa và chúng đã bắt đầu thọc sâu vào đất Văn Lang địa phận Lạc Giao Châu.

Nơi eo Tử Thần, giặc để lại ba chiến thuyền hai lớn một nhỏ, khoảng độ hơn 100 quân tướng. Cầm đầu là tên mặt đen như lọ chão Hắc Hổ, lúc nào cũng khoác lác khoe khoang múa tay múa chân như con rối:

   Ta là vị tướng tài nên Mao Thống Soái mới phái ta chỉ huy canh giữ nơi đây. Với cái mũi trâu của ta có thể đánh hơi mùi giặc hơn 3 dặm với lỗ tai chuột của ta có thể nghe tới tận âm ti, cặp mắt lương ti hí của ta có thể nhìn thấu ruột gan của đàn bà.

Nghe tướng chỉ huy nói những cái tài của mình thuộc hàng hiếm thấy ở thời nay, liền nịnh hót tán thán ca ngợi hò reo vang dậy cả rừng âm u, làm cho chim chóc bay lên loạn xạ. Chúng có biết đâu chúng vừa mới giết quân Tử Dương, thì có đội quân chủ lực nước Văn Lang tiến tới gần mai phục. Có thể nói chúng vừa nuốt con nai, nhưng đã có con hổ tới ăn thịt chúng. Hắc Hổ nghe binh lính ton hót nịnh bợ sướng tai, khoái cả mình liền ra lệnh chè chén vui say cả ngày.

Một ngày sắp qua, mặt trời sắp đi ngủ, đàn chim cũng vội vã bay đi tìm nơi ẩn núp qua đêm, điều kỳ lạ ở đây sao hôm nay mặt trời chưa xuống đất trời bỗng âm u đến lạ lùng, sương mù mỗi lúc càng thêm đày dặc. Đó có phải là do khí thiên sông núi kết hợp với anh linh tử sĩ, hồn thiên sông núi tạo ra để giúp cho quân chủ lực tiêu diệt kẻ thù. Chỉ có Trời Đất, Thần Thánh là hiểu rõ điều này. Bỗng 10 chiến thuyền đầu nguồn đổ xuống theo dòng nước lao đi vùn vụt tới eo Tử Thần, đề cờ quân Ân tiếp viện lương thực.

Một tên lính phát hiện la lên:

   Có thuyền, có thuyền.

Nhưng vì sương mù dày dặc che khuất tầm nhìn, khi thấy được thuyền thì thuyền đã đến gần chỉ còn hơn 100 mét. Có người la lên:

   Bắn pháo hiệu mau.

Hắc Hổ nói:

   Khoan đã để xem thuyền ai rồi bắn pháo hiệu cũng chưa muộn.

Thấy chưa tướng mặt đen nói:

   Ta nói có sai đâu, khúc sông làm gì có thuyền địch, đó là thuyền của ta tiếp viện lương thực, may chưa bắn pháo nên chưa làm hỏng đại sự.

Loáng cái thuyền đã sát thuyền, nhanh hơn loài sóc với những đường gươm thần tốc bay qua bất ngờ chém xuống đầu giặc véo véo, phặp phặp, chém giặc Ân như chém chuối, lính giặc Ân vừa tỉnh rượu thời hồn đã lìa khỏi xác. Tướng giặc Ân Hắc Hổ định nhảy xuống sông tẩu thoát, nhưng ánh sáng kiếm báu đã chớp lên, tức thời đầu tướng giặc bay đi lông lốc rớt  tõm xuống nước, người chém đầu tướng giặc không ai khác hơn chính là tướng soái Mai Đức Thọ.

Thế là nháy mắt trăm tên giặc đi đời làm hồn ma xứ người, bắt sống 10 tên với ngón nghề mưu trí, khai thác thông tin bí mật của bọn chúng, cuối cùng dụ dổ bọn giặc cũng có tên khai.

Chúng khai rằng:

   Nếu thuyền ta thì bắn pháo hỏa xanh, thuyền bên kia cũng phải bắn pháo xanh đáp lại như vậy, bắn hai quả pháo xanh là báo hiệu nơi đây đã an toàn, bắn pháo hiệu một xanh một đỏ là báo hiệu địch đã mai phục, bắn pháo hiệu một vàng một đỏ là báo hiệu cầu cứu viện binh, nếu bắn sai mật hiệu đó là thuyền địch.

Khai thác xong viên quan tướng liền hỏi:

   Ngươi giết quân Tử Dương mấy mạng?

Nghe hỏi thế tên giặc biết mình khó sống liền nhảy xuống sông tự vẫn, nhưng nào kịp ánh đao đã chớp lên thế là rồi đời những tên giặc cuối cùng. Những việc tuyệt đối quan trọng, Mai Đức Thọ phải tự mình làm lấy, tự mình giải quyết không thể nào giao cho ai được, với kế sách đầy gan dạ khôn khéo mưu trí nên đã gặt hái nhiều kết quả như mong muốn nhanh chóng, gọn sạch. Thôn tính bọn giặc xong, quân ta đóng giả làm quân giặc, 10 chiến thuyền chạy ngược dòng sông tìm nơi ẩn núp sâu kín trong kinh lạch, thực hiện kế sách nhiệm vụ tiếp theo.

Mai Đức Thọ cho binh lính đóng cọc giữa dòng sông 5 – 6 dặm, đoạn giữa cọc trận, giữa eo Tử Thần đóng cọc đầy lòng sông hơn nửa dặm, chận đứng quân tiếp viện, chận đứng quân thua chạy rút lui, ép chúng vào hai bên lòng sông để tiêu diệt. Hai bên eo Tử Thần phân bổ lực lượng theo cơ trí phán đoán tình hình rút lui của giặc, phân bổ lực lượng chủ lực đội quân thiết giáp theo móc xích liên hoàn công thủ, vây bắt chủ thống soái Mao Toại khi sa bước đường cùng. Ba vạn quân Văn Lang với tinh thần quyết tử cao, ẩn mình kín đáo chờ giặc đến là xáp chiến.

**************

PHẦN 17

Mối hận nào hơn mối hận nầy

Giết người cướp của giặc ác thay

Công lý Trời cao nào có thấy

Thay Trời hành đạo chẳng nương tay

Một đạo hào quang trùm khắp chốn

Thiên La Địa Võng chuyển vòng xây

Sấm dậy Trời Nam rền đất Bắc

Giặc Ân tan xác Cọc trận này.

Đây nói về Huỳnh Trung Phong. Thống lãnh 10 vạn quân. Theo kế sách của Hùng Vương Gia phân chia lực lượng ra làm ba mũi tiến công nhanh chóng hoàn thành kế sách hoạch định đã đề ra. Tiêu diệt giặc Ân tại khúc sông Lạc Cội rừng Lạc Hồn. Trước khi giặc tấn công vào thành Lạc Giao Châu.

Huỳnh Trung Phong ra lệnh:

   Phan Anh Tuấn nghe Lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân điểm ba vạn quân phân công làm ba nhiệm vụ khẩn cấp quan trọng.

1:  Chặt cọc

2:  Vận chuyển cọc

3:  Đóng cọc xuống lòng sông

Hình thù như cái toa lờ kéo dài 9 – 10 dặm theo kế sách đã hoạch định.

Rồi rỉ tai nói nhỏ một hồi. Chỉ thấy Phan Anh Tuấn, nét mặt hiện lên đầy vẻ căng thẳng khẩn cấp vội vã điểm quân ra đi.

   Nguyên Gia Thành nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 3 vạn quân chia làm ba nhiệm vụ:

1:  Đóng bè chở chất đốt lớn nhỏ trên 5 nghìn.

2:   Vận chuyển dầu.

3:  Tìm chất đốt củi rác rơm.

Chuẩn bị cho trận hỏa công, ẩn mình, ẩn bè ngụy trang thật khéo léo đừng cho giặc phát hiện.

Rồi rỉ tai nói nhỏ một hồi. Chỉ thấy sắc mặt Nguyên Gia Thành đầy căng thẳng, vội vã điểm quân ra đi thi hành nhiệm vụ.

   Huỳnh Trung Thông nghe lệnh. Có thuộc hạ. Con điểm 3 vạn quân chủ lực chia làm ba:

1:  Huy động hơn 2000 chiếc thuyền nhỏ ngụy trang khéo léo ẩn sâu xa bờ sông. Một nửa thuyền chuẩn bị chất đốt cho trận hỏa công, một nữa thuyền chở quân lao ra xáp chiến.

2:   Đội quân thiết giáp, thiện xạ, tên đồng, tên sắt, tên độc.

3:  Đội quân phóng lao, đội quân tên lữa, đội quân gươm đao giáo mát phục kích hai bên bờ sông có lệnh là xáp chiến.

Rồi rỉ tai nói nhỏ một hồi gì đó. Chỉ thấy mặt Huỳnh Trung Thông sát khí đằng đằng vội vã điểm quân phân công theo kế sách đã hoạch định.

   Chu Thành Lợi nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 1 vạn quân chặt tre vận chuyển ẩn dấu hai bên bờ sông để dùng đẩy bè lửa, thuyền lửa xông ra khỏi bờ lao vào đốt thuyền giặc. Tuân lệnh.

   Tất cả phải hoàn thành trước hai ngày, trước khi giặc đến.

Nói về Mao Toại cùng binh lính tướng sĩ sau hai lần thắng trận quá dễ dàng, sanh ra kêu ngạo xem thường quân Văn Lang, ăn uống no say không cần vội vã, vì chúng nghĩ thôn tính nước Văn Lang chỉ là thời gian mà thôi, chúng muốn lúc nào mà chẳng được, tin thắng lợi dồn dập làm cho Vi Tử Khải sung sướng muốn phát điên cùng Mao Ly Hương dồn dập mưa xuân chờ ngày xưng Vương Nam Đế.

Mặt trời đứng bóng con thuyền, mãng thuyền xà kéo dài hơn 10 dặm, nước vốn do mưa nguồn đã đục con mãng thuyền xà khổng lồ khuấy động ầm ầm làm cho thêm đục. Chúng từ từ vượt qua khúc Tử Giang, tiến sâu vào khúc sông Lạc Giao Châu 20 vạn quân, 2 nghìn chiến thuyền lớn nhỏ ùn ùn chuyển động dậy đục lấp trong, có phải chăng đây là ý Trời hay là giặc gặp xui thì khúc sông vốn đục, giặc khuấy, mưa nguồn càng thêm đục. Thuyền giặc cứ giữa dòng sông mà đi thì khó mà phát hiện, cọc trận đã âm dưới nước đến ba tấc, kéo dài đến 10 dặm như một toi lờ dài khổng lồ, hầu như gần hết khúc sông Lạc Cội, rừng Lạc Hồn.

Con mãng xà thuyền cứ rầm rầm, rộ rộ lao đi tìm mồi để ăn thịt, gần tới khúc sông Lạc Cội, rừng Lạc Hồn thì trời sắp tối, đáng lý ra từ eo Tử Thần đến rừng Lạc Hồn khúc sông Lạc Cội chỉ hơn nửa ngày mà thôi, nhưng vì thuyền giặc đi chậm có chủ ý, quan sát địa hình xem xét cẩn thận vì vậy nên mới đi lâu. Chỉ còn hơn dặm nữa là tới khúc sông Lạc Cội, khúc sông tuy rộng rãi nhưng đầy bí hiểm.

Mao Toại liền cho thuyền dừng lại vì đây là rừng Lạc Hồn âm u bao phủ hai bên kéo dài hơn 10 dặm. Đây là khúc sông đầy nguy hiểm, kinh lạch chằn chịt ở đoạn sông này, Mao Toại liền cho người dò thám nghe động tịnh của chim chóc, nhưng không phát hiện được gì, Mao Toại hơi lấy làm lạ. Để chắc ăn hơn Mao Toại ra lệnh cho đội thuyền con thám thính khi mặt trời buông xuống, tiến sâu vào khúc sông Lạc Cội, rừng Lạc Hồn nghe ngóng theo dõi động tĩnh khả nghi, để mà tính kế đối phó với địch khi đi qua khúc sông này.

Màn đêm buông xuống

Mù sương kéo đến

Ánh trăng lấp lánh

Chị Hằng soi mặt đầy sông

Trời yên gió lặng rừng buồn, rừng nghe.

Bỗng khúc sông Lạc Cội xuất hiện nhiều chấm đen nhè nhẹ xuôi theo dòng nước, thì ra đó là những chiếc thuyền con chỉ chở được ba, bốn người. Nhẹ nhàng đi giữa dòng sông có lúc chúng cũng tấp vô gần bờ khoảng 5 – 10 mét yên lặng lắng nghe, chúng đã đi sâu vào khúc sông Lạc Cội khoảng 5 – 6 dặm, chúng không phát hiện được gì liền cho thuyền quay trở lại.

Lúc này mới nhận rõ là thuyền của giặc có bốn chiếc, ba chiếc quan sát còn một chiếc chở pháo hiệu. Rừng âm u Lạc Hồn vẫn yên bình, đàng chim vẩn tự nhiên bay đi bay đến, tiếng gà đã mấy lần gáy, phương Đông ửng hồng xuất hiện, sương mù dày đặc bổng có tiếng động, ồ ra là thế, một chiếc thuyền con của giặc nằm yên suốt đêm ở lại theo dõi tình hình động tĩnh. Có thể nói một sự phục kích theo dõi tình hình, động tịnh hết sức bí mật, đầy sự chu đáo của tướng chỉ huy đầy mưu trí tài năng này. Trời vừa hừng sáng chiếc thuyền con âm thầm lặng lẽ phục kích theo dõi suốt đêm, giờ đây mới lao nhanh ra khỏi khúc sông Lạc Cội phóng thẳng tới thuyền to lớn, thì đã thấy Hồ Giả Nhân đã đứng chờ đợi không rõ từ bao giờ.

Ba cao thủ thám tử mật thám phóng lên thuyền lớn chấp tay thi lễ nói:

   Bẩm tướng soái, chúng thuộc hạ suốt đêm nghe ngóng không phát hiện được gì, chim chóc thú cầm vẫn tự nhiên như không hề có người ở đó.

Hồ Giả Nhân nghe xong hết ngạc nhiên, xuống thuyền nhỏ lao đi vùn vụt đến chiếc thuyền lớn báo cáo tình hình dò thám suốt đêm. Mao Toại cùng các tướng lĩnh nghe qua tình hình dò thám suốt đêm cũng không phát hiện được gì thời lấy làm lạ, nghỉ: Không lẽ, không lẽ.

Mao Toại nói:

   Không lẽ không chẳng gì cả, thì ra là thế, thì ra là thế, chúng đã phục kích hai lần đều thất bại cả hai, chúng sợ ta tỏa ra bao vây tiêu diệt chúng vì thành trì chỉ là khu rừng không vững chắc chúng sợ khi ta phát hiện ra chúng không những tỏa ra bao vây, còn tiêu diệt chúng bằng hỏa công, chi bằng dồn hết lực lượng bảo vệ thành.

Mao Toại khoái chí cười lên khanh khách:

   Chẳng có con ma nào phục kích ở đây đâu? Sự tấn công nước Văn Lang lần này của chúng ta rải đều khắp hơn 160 vạn quân, thọc sâu vào đất Văn Lang vào những nơi chính yếu, buộc quân Văn Lang xé nhỏ lực lượng chia nhau đối dịch với ta. Chúng ta có mộng xâm lược từ lâu nên chuẩn bị chu đáo về binh lực hùng mạnh, còn chúng thì thái bình an Lạc lâu như thế lại bất ngờ chi viện cho chiến tranh, lẽ đương nhiên chúng lấy đâu ra quân tinh nhuệ đông như người ta mà cản bước tiến của ta. Dù cho chúng có 10 vạn quân mai phục ở đây, thì chúng cũng chỉ là con mồi cho ta nuốt mà thôi, chúng cũng đã hiểu quân ta đông, trang bị kỹ thuật chiến tranh hiện đại, nhiều chiến thuật biến hóa, cụ thể như eo Tử Thần, chúng chẳng còn một tên.

**************

PHẦN 18

Bình minh ló dạng ông mặt trời cũng vừa thức dậy, nhưng khúc sông Lạc Cội, rừng Lạc Hồn vẫn mù sương dày đặc âm u. Quân Ân nóng lòng thôn tính nước Văn Lang nghĩ đến cảnh thống trị phương Nam tha hồ mà vơ mà vét của ngon vật lạ, ngọc ngà châu báu, sơn hào hải vị, gái đẹp cung phụng cả đời. Chúng nhìn non núi hùng vĩ rừng xanh tăm tắp xa xa những cách đồng bao bọc, cảnh xóm làng ôm lấy vạn lũy tre, đầy cánh cò bay, thơm mùi lúa chín, chim hót trâu nghe. Phương Nam rộng lớn mờ mờ ảo ảo, huyền bí lung linh sáng chiều sương khói ôm lấy quê hương, một màu xanh hiền hòa ấm cúng. Bức tranh quê đẹp tựa bồng lai, chúng gục gục cúi đầu như muốn nói rằng giang sơn này là của chúng.

Bỗng có tiếng nói cắt ngang sự suy tưởng ảo vọng đầy lòng tham của giặc:

   Thưa chủ thống soái, hôm nay là ngày gì mà sao sương mù chẳng chịu tan? Trời đất càng lúc càng âm u, liệu chúng ta có đi qua khúc sông Lạc Cội, rừng Lạc Hồn này không? Hay đợi vào hôm khác.

Mao Toại nói:

   Có gì mà không qua, đi ngang lúc này cần gì đợi đến ngày mai, chúng ta đã cho người dò thám suốt đêm cũng không phát hiện được gì, sâu vào đến 5 – 6 dặm tất cả đều yên tĩnh, chim chóc chẳng động bay, thú cầm vẩn nhởn nhơ như không có người.

Mao Toại liền ra lệnh tiến quân, thế là con mãng xà thành tinh khổng lồ lao đi một cách chầm chậm.

Lưới người giăng khắp Lạc Cội Giang

Trời u đất thảm dệt u màng

Xa xa vang vọng gà đã gáy

Trời đông rừng rựng ánh dương quang

Hôm nay có phải ngày quỷ khóc

Mà sao sương mãi chẳn chịu tan

Hồn Thiên sông núi vào trận chiến

Hay cõi âm ti mở Địa Đàng.

Con mãng xà thành tinh khổng lồ mỗi lúc mỗi tiến sâu vào khúc chết, giặc Ân vô cùng hồi hộp, thuyền càng tiến sâu càng thấy bình yên, ngoài những con chim nhí nha nhí nhảnh nhảy nhót lung tung. Thế là giặc Ân thở phào nhẹ nhõm, giảm bớt áp lực căng thẳng, sự cảnh giác cũng có phần lơ là, có những tên lính linh cảm rằng, mình sẽ bỏ mạng tại nơi đây, nhưng không dám hó hé chi cả. Tuy bầu trời mỗi lúc một sáng tỏ, nhưng quang cảnh Lạc Cội vẩn âm u đến rợn người.

Mãng xà lang sói đã đến rồi

Lạc Giang nổi sóng dậy đất trời

Bốc mùi xâm lược bay khắp chốn

Hôi tanh gian ác dậy khắp nơi

Hỡi loài xâm lược ngươi có biết

Văn Lang có chủ mấy nghìn đời

Chớ cậy mình tài đi xâm lược

Lạc giang là chốn xác thây phơi

Kìa mặt trời đã bừng lên hồng đỏ

Khắp non sông già trẻ đuổi ngoại xâm

Gươm trung hiếu, mấy nghìn năm luyện chín

Diệt quân thù bảo vệ đất Nam Linh.

Khi chiến thuyền đầu tiên của giặc chỉ còn 100 mét nữa là ra khỏi khúc sông Lạc Cội rừng Âm U, cả 100 tên lính đi chiến thuyền đầu tiên reo lên ầm ỉ, gần qua khúc sông Tử Thần rồi, sương mờ mờ đã giảm một miền quê quang đảng mênh mông. Thuyền đang đi giữa dòng bỗng đụng phải gì thuyền không đi được.

Chúng la lên:

   Cái gì thế? Cái gì thế?

Thuyền sau dồn tới nối đuôi nhau hỏi:

   Chuyện gì thế? Chuyện gì thế?

Các thuyền sau lách mình vượt lên càng lúc càng mắc kẹt chạy không được, tiếng la hoảng nỗi lên cùng khắp:

   Cọc, cọc, cọc gì, cọc gì.

Thuyền càng dồn tới tấp lách vào hai bên dòng sông, hể ráng tấp vào bờ liền bị mắc kẹt trong cọc trận. Bỗng pháo lệnh tử chiến khắp nơi đã bắn lên.

Rừng chyển động quân rền ngựa hí

Tên rợp trời xả xuống lũ giặc Ân

Giờ quyết tử vì non sông Tổ quốc

Tiến lên tiến lên, con cháu Lạc Hồng.

*         *         *

Lạc giang binh lửa mịt mù

Tên bay rợp đất, kiếm rền dậy non

Gươm đao chơm chớp loáng loang

Ầm ầm trận địa kinh thiên rợn người

Ào ào lao phóng rợp trời

Cuộn cuồn người ngựa xông vào xáp xông

Lửa trời bùng dậy khắp sông

Xông vào thiêu đốt giặc Ân tơi bời

Thuyền giặc kẹt cứng hết rồi

Thi nhau bốc cháy rực trời đỏ sông

Giặc Ân chống trả không xong

Xác người ngã xuống lấp sông ngăn bờ

Một bên vì nước vì nhà

Một bên xâm lược tràng qua giật mình

Đã vào trận đánh tử sanh

Kể gì sống chết, liệt oanh anh hùng

Kể gì sanh tử sống còn

Bình sanh dốc hết lấp vùi giặc kia

Cuộn cuồn đao kiếm tung bay

Trút lòng lửa hận tan thây giặc thù

Ôi thôi một lũ giặc cuồng

Ra đi còn xác ngày về thời không

Ôi thôi một lũ cuồng ngông

Dã tràng xe cát biển đông dã tràng

Ôi thôi một lũ bạo tàn

Khói mây rồi cũng đăng đàng khói mây

Móc son lịch sử là đây

Bài học xâm lược dễ xơi mà hòng

Ở đời nhớ mãi ở đời

Tham lam xâm lược để rồi vùi chôn

Được gì hỡi lũ ngoại xâm

Được mang tiếng ác muôn năm đời đời.

Nói về quân giặc đã biết mình sa vào kế bẫy thủy âm cọc trận của địch, thì thất kinh thuyền dồn tới nối đuôi nhau kẹt cứng vào bờ không được, lui không được, người ngựa lao chao thuyền có lúc như muốn lật, hai bên bờ sông tên bắn như mưa trút, giáo lao cuồn cuộn tuôn ra trút xuống như thác gầm, trừ đội quân thiết giáp của giặc chưa thiệt hại mấy, đang chống trả quyết liệt, thuyền giặc xoay trở khó khăn hể tấp vào bờ liền mắc kẹt trong cọc trận, xáp chiến một hồi bỗng thấy bè từ lùm cây lạch nước chui ra lúc nhúc, lớn, nhỏ thi nhau theo dòng nước tuông ra áp sát thuyền giặc.

Quân giặc sợ quá la lên:

   Coi chừng hỏa công, coi chừng hỏa công.

Nhưng ôi thôi hàng chục nghìn tên lửa lao ra đỏ rực bầu trời, bè củi tẩm dầu sẳn gặp lửa liền bốc cháy dữ dội. Khúc sông dài hơn 10 dặm đã biến thành khúc sông lửa, ngọn gió xoáy không hiểu từ đâu cuộn đến làm cho ngọn lửa bừng lên khủng khiếp phủ xuống đầu giặc, binh lính giặc Ân nhảy xuống sông lao vào bờ đông như kiến. Lớp đạp lên nhau chết chìm, lớp thì bị cọc đâm chết, lớp thì bị lửa thui, lớp thì bị trúng tên lao mà chết.

Tiếng gào thét rền trời rền đất làm kinh động đến Huyền Cơ Lão Tổ, mở con mắt trời nhìn xuống nhân gian thấy cảnh ấy cũng phải lắc đầu nói:

   Ý Trời, ý Trời kiếp nạn Văn Lang sau này khó tránh khỏi, giặc chết đến đâu sau này giặc sinh đến đó.

Nói về quân giặc chỉ còn con đường sống là nhảy xuống nước dẩm đạp lên nhau xông lên bờ, lớp này ngã xuống, lớp khác xông lên thi nhau nạp mạng. Giặc hỗn loạn mất hết tinh thần chiến đấu làm sao chống trả nổi. Căm thù của giặc ngút tận trời xanh của quân Văn Lang, chỉ nghe tiếng hò hét dậy trời Đao, Kiếm chém xối xả vào quân giặc như chém chuối.

Tướng giặc Ân là Hồ Giả Nhân biết không thể cứu vãn được tình hình, liền phi thân chạy trốn, chỉ thấy một cái bóng vụt qua biển lửa lao nhanh lên bờ phóng đi vùn vụt, chưa thoát ra khỏi vòng vây của quân Văn Lang, đang đà chạy thoát.

Bổng một luồng kình lực ngăn chặn lại:

   Tướng giặc ngươi chạy đi đâu, để cái đầu lại đã.

Hồ Giả Nhân thấy trước mặt mình ba người đeo mặt nạ quỷ đã xuất hiện đến đòi hồn, Hồ Giả Nhân biết khó thoát thân được đành rút kiếm ra tử chiến véo véo với đường kiếm đầy bí hiểm, nhanh như tia chớp chém xuống người chính giữa với tất cả bình sanh 12 thần công lực. Bỗng thấy hai Đao một Kiếm đồng chớp lên với vận tốc kinh người, ầm ầm ầm Hồ Giả Nhân bật ra sau đến sáu, bảy mét, mồm thở ra máu. Hồ Giả Nhân đã cởi giáp, bỏ ngựa âm thầm thoát thân, nhưng làm sao qua được con mắt nhà nghề đã để tâm chú ý.

Hồ Giả Nhân khích tướng tìm cơ hội tẩu thoát:

   Các ngươi tự cho mình là anh hùng sao? Ba người đánh một.

Người chính giữa nói:

   Đối với lũ ngoại xâm các ngươi ta không cần có anh hùng mà chỉ cần lấy đầu ngươi tế hồn chiến sĩ, những người dân vô tội bị lũ lang sói các ngươi sát hại. Tiến lên giải quyết tên giặc này sớm đi tiến lên.

Hồ Giả Nhân biết mình khó sống liền lấy ra một vật gì đó để cùng chết với nhau, nhưng không còn kịp nữa, ánh Đao, ánh Kiếm đã chớp lên chân, tay, đầu, mình của Hồ Giả Nhân bị chặt lông lốc.

Rồi đời một kiếp gian hùng

Lang thang đói rách một vùng âm ti

Giấc mơ Vương Bá còn chi

Hồn lìa khỏi xác, hồn đi âm tào.

Đây nói về Trịnh Hoài Điển cho quân phá cọc lao thuyền vào bờ tránh lửa, bất kể sống chết, đội quân thiết giáp xông lên tử chiến mở đường cho binh lính xông lên xáp lá cà. Nhưng quân Ân rối loạn không còn theo hiệu lệnh được nữa. Bầy cáo, sói đã gặp phải đội quân Đại Bàng chủ lực, đầy nanh vuốt với những cú vồ như sấm sét đánh xuống lũ giặc như địa chấn sụp núi, sụp non. Đại Bàng quân chủ lực Văn Lang lớp trước ào tới, lớp sau xông lên như muôn nghìn cơn sóng dữ nhấn chìm quân giặc. Đội quân thiết giáp Văn Lang lượm đẹp đội quân thiết giáp giặc Ân, vùi hồn chúng sang bên kia thế giới, âm phủ, nhìn binh lính chết chồng lên nhau thành gò thành đống.

Trịnh Hoài Điển hoa cả mắt, biết khó mà chống đỡ liền giục ngựa phá vòng vây tẩu thoát lao đi vùn vụt. Bỗng ầm một tiếng người ngựa bị dội ngược. Trịnh Hoài Điển thất kinh, đã thấy một người cỡi ngựa ô, đầu đội kim cô, mình mang giáp sắt oai phong lẩm lẩm, sát khí đằng đằng. Đó là Huỳnh Trung Thông vị tướng trẻ tài ba của quân Văn Lang, không để cho tướng giặc trở tay, với đường Đao Đại Bàng Bắt Rắn cả người lẩn ngựa lướt tới chém xuống như sấm sét. Trịnh Hoài Điển thất kinh vội dồn hết bình sanh công lực cả chưởng lẩn Đao lên chống đở rắc rắc ầm ầm kinh thiên động địa. Trịnh Hoài Điển xây xẩm mặt mày. Huỳnh Trung Thông hét lớn nạp mạng đây với chiêu Núi Ẩn Trong Mây, tức thời kình lực từ Đại Đao tuông ra ào ào làm cát chạy đá bay hóa thành thiên Đao vạn Kiếm phủ xuống đầu tướng giặc. Trịnh Hoài Điển biết mình khó sống liền nuốt vội viên linh đơn bá đạo, tử hoàng đơn là loại linh đơn tà đạo, khi uống vào thần lực tăng lên gấp năm gấp sáu lần sau đó nổ tung thể xác mà chết với chiêu Tam Quỷ Đoạt Hồn chí mạng hai bên cùng chết. Huỳnh Trung Thông nào biết về viên linh đơn tà đạo ấy, chỉ nghỉ rằng tướng giặc uống thuốc trị nội thương. Huỳnh Trung Phong đang thi tuyển tuyệt chiêu Thiên La Đao Pháp Núi Ẩn Trong Mây kết liễu đời tướng giặc, nào ngờ chiêu Tam Quỷ Đoạt Hồn như những dãy núi đè xuống Đao pháp, hào quang lé lên khiếp người phóng thẳng vào người Huỳnh Trung Thông.

Bỗng có tiếng quát lớn đầy kinh hãi:

   Con hãy lùi mau.

Nhưng không còn kịp nữa rồi hai tiếng sắt nổ đinh tai nát óc, kẻ trúng Đao người trúng Thương đâm thủng giáp, thủng ngực hai người ngã xuống ngựa tại chổ, thế là hồn lìa khỏi xác, kẻ chầu trời, người châu âm phủ. Huỳnh Trung Phong ôm xác con đầm đìa nước mắt.

Giặc sắp chết vẩn còn đòn chí mạng

Lúc sắp thành, mầm họa vẩn kề bên

Đường cảnh giác, càng về sau càng lớn

Thắng giặc rồi, càng cẩn thận càng hơn.

Chiến trận vẩn còn rền trời, rền đất, Huỳnh Trung Phong ngẹn ngào uất hận nhìn giặc thù tức giận thét lên:

   Tiến lên tiến lên quét sạch quân thù, vùi thây chúng xuống tế hồn dân ta.

Thế là quân Văn Lang ùa tới chém thôi là chém đạp nhầu quân Ân như đạp bùn, đạp rác nát bấy như tương dẹp lép như con mắm mòi.

Đây nói về Ly Tử Càng bị hỏa công tiêu diệt chết binh lính hơn nữa, lại không có đội quân thiết giáp chống trả, bị tên bắn chết chật cả sông. Biết mình khó chống lại, liền bỏ ngựa bỏ giáp ẩn trốn vào loạn quân, dùng thuật Kinh Công thượng thừa bỏ binh lính chạy trốn mất tăm, binh lính như rắn mất đầu dẩm đạp lên nhau mà chết. Quân Văn Lang đang sôi sục căm thù hăng máu xông vào giặc như bão táp phong ba chém thôi là chém như mưa trút, như thát đổ xuống đầu quân giặc, ôi thôi còn gì.

Thơ rằng:

Văn Lang truyền thống anh hùng

Phải đâu cóc nhái ung dung đạp càn

Văn Lang dòng giống Tiên Rồng

Sấm rền chớp giật cuồng phong dậy trời

Quân Ân tan xác tàn đời

Thất kinh hồn vía hết thời huênh hoang

Nhìn xem quân giặc ra tương

Nghìn năm vang mãi tiếng quân Tiên Rồng.

Đây nói về chủ soái Mao Toại đang ung dung tự đắc, khi nghe chiến trận dù xảy ra lẩm bẩm:

   Quân Nam ẩn mình tài như thế quả nhiên hiếm thấy. Nhưng chúng sẽ làm gì được ta với 2 nghìn chiến thuyền, 20 vạn quân tinh nhuệ này, nếu lần này tấn công ta không phải loài ếch nhái cũng là loài dê, heo, gà, chó mà thôi.

Đến khi nhìn thấy lửa dậy khắp trời bè trôi lúc nhúc thì thất kinh hồn vía, loáng cái lửa dậy đỏ sông, lớp bè ở trên trôi xuống lúc nhúc ngọn lửa bốc cao cuồn cuộn lao vào thuyền giặc, thuyền dồn chạy mắc vào cọc trận ở 2 bên lòng sông, bè lửa vì thế đốt cháy thuyền giặc quá dễ dàng, bè lửa nhỏ hai bên lòng sông lúc nhúc chui ra ngắm quân thù mà xơi, thế là thuyền giặc dồn nhau kẹt cứng thi nhau bốc cháy. Quân Ân hoảng khiếp thi nhau nhảy xuống sông rừng Lạc Hồn Âm U vốn không một bóng người, nhưng giờ đây quân Văn Lang túa ra đông như kiến, đội quân thiện xạ lợi hại vô cùng, đội quân chắn tên tài tình hữu hiệu, lớp trước bắn rồi lùi lại, lớp sau tràn lên xạ thủ, lao tên cứ thế tuông ra như cuồng phong vũ bão, đội quân tiến thối biến  hóa vô cùng.

Mao Toại nhìn binh lính trúng tên, trúng lao chết la chết liệt, phần thì bè lửa mỗi lúc một nhiều, không còn con đường nào khác hơn là đi vào tử lộ tìm con đường sống. Bằng ra lệnh cho đội quân thiết giáp phá cọc trận xông vào tử chiến, làm giảm bớt áp lực, tên lao quân Nam trút xuống như mưa. Cho binh lính liều mạng lặn xuống sông kéo bè lửa ra xa thuyền, phá vòng vây hỏa công mở đường tẩu thoát.

Nói về đội quân thiết giáp phá vỡ cọc trận thuyền giặc và vào bờ xông lên tử chiến. Nhưng làm sao chống trả nỗi lòng căm thù giặc của binh lính Văn Lang, có cơ hội là trút xuống như cơn sấm sét, lớp giặc nào xông lên bờ thời lớp đó ngã xuống.

Nói về thuyền giặc một số chèo ngược dòng thoát ra khỏi trận hỏa công chạy thục mạng. Mao Toại bổng thấy thuyền quân Nam xuất hiện rượt đuổi theo vô cùng kinh hãi, liền hối thúc binh lính chèo bán sống bán chết thoát khỏi nanh vuốt tử thần đang gấp rút bám theo. Chừng không còn nghe chiêng trống dậy trời quân Nam đuổi theo nữa, thì thuyền giặc đã nhìn thấy eo Tử Thần. Mao Toại còn chưa hoàn hồn, thấy eo Tử Thần, rừng Âm U thời sợ hãi liền cho người phát tín hiệu màu xanh nơi eo Tử Thần cũng bắn pháo màu xanh đáp trả. Eo Tử Thần bắn lên hai quả pháo hiệu màu xanh báo hiệu nơi đây an toàn, để cho chắc ăn Mao Toại lại cho phát tín hiệu lần nữa, nơi eo Tử Thần cũng phát tín hiệu y như vậy. Đến lúc này Mao Toại cùng binh lính giặc Ân còn sống sót mới hoàn hồn trở lại, thấy người mệt lả quậy không nỗi ê ẩm đau nhứt cả mình nằm lăng ra mà thở.

Mao Toại liền điểm quân còn trên dưới 1 vạn 2 nghìn, chiến thuyền giờ đây chỉ còn hơn bảy mươi chiếc, thời than vắng thở dài:

   Trời hại ta rồi.

Nghĩ đến cảnh binh hùng tướng mạnh thuyền nối đuôi nhau trùng trùng điệp điệp giờ đây chỉ còn vạn quân vỏn vẹn hơn bảy mươi chiến thuyền thời âu sầu rụng rời tay chân. Mao Toại muốn tự tử đi cho rồi, nhưng nghỉ đến em gái đầy khôn ngoan. Mao Ly Hương sẽ che chở cho ông ta thoát chết trước nanh vuốt Vương Gia, càng nghĩ Mao Toại càng buồn chán, trước đây hùng hổ bao nhiêu, khoác lác bao nhiêu, thì giờ đây như bánh xe xì hơi xẹp lớp hết hăng hái, mặt xìu xuống bấy nhiêu.

Mao Toại nghĩ: Không ngờ Nam Văn Lang lại có người tài ba đến xuất quỷ nhập thần đến thế, phá được thủy la xà chiến của ta quả là khủng khiếp, nhưng xem ra cái tài đó chưa đạt đến tuyệt đỉnh, nếu không ta sẽ chết bỏ mạng nơi đây, tại eo Tử Thần này.

Để giảm bớt sự chèo chống của dòng nước đang chảy xiết giữa dòng sông, thuyền tấp vào hai lòng sông để đi, thuyền đi rất chậm vì binh lính còn sức đâu mà chống chèo cho nhanh được, phần thì đói bụng, phần thì rời rã tay chân, quân Ân chỉ muốn nằm lăng ra để nghỉ, nhưng nơi đây vẩn còn bất ổn, chừng nào qua khỏi eo Tử Thần mới thật sự an tâm. Thuyền vừa tới eo Tử Thần thời mặt trời sắp lặn xuống núi, sương mù bắt đầu phủ xuống âm u, vài con cú mèo kêu lên vừa rợn người, vừa rợn xương như báo hiệu điều không lành sắp xảy ra.

Mao Toại có cảm giác ớn lạnh rợn người và lảng vảng đâu đây hồn thiêng quân Nam đã bao vây chật kín, nhưng nhìn thấy 4 chiến thuyền quân Ân lờ mờ ở đó, pháo hiệu cờ xí đều là của mình nên lấy làm an tâm. Mao Toại nghĩ thủy âm cọc trận quân Nam đóng hai bên lòng sông, còn ở đây thì không có, có lẻ ta đã bị ám ảnh sanh ra nghi ngờ quá mà thôi và ung dung lội ngược dòng nước tiến mỗi lúc càng sâu vào eo Tử Thần, màn sương u minh dày đặc, ánh trăng đục bạc làm tăng thêm vẽ kỳ bí nơi đây. Thuyền chầm chậm tiến gần đến 4 chiếc thuyền neo đậu giữa sông.

Thuyền đang đi bỗng đụng phải cọc chạy không được nữa. Binh lính giặc la lên:

   Cọc cọc, cái gì cọc trận.

Binh lính giặc Ân hồn bay phách lạc, 4 chiếc thuyền neo đậu giữa sông bỗng bắn lên pháo hiệu tử chiến, tức thời quân reo dậy đất, ngựa hí vang trời.

Thơ rằng:

Quân Ân mệt lả cả người

Qua cơn thoát chết tưởng thời bình yên

Nào hay họa đến liên miên

Thoát ra miệng hổ, thời liền miệng beo

Sức đâu mà chống mà chèo

Ác gieo ác gặp bao điều xưa nay

Kinh hoàng thuyền vội ra khơi

Mắc vào cọc trận ôi thôi kinh hoàng

Mưa tên bão giáo ầm ầm

Giặc Ân lớp lớp gục nằm chật thây

Xâm lược kết quả là đây

Giáo gươm vùi dập tan thây chẳng còn

Hồn thiêng tử sĩ đăng đàng

Vùi chôn lũ giặc xuống đường âm ti

Tử Dương liệt sĩ mãi ghi

Vùi chôn quân giặc nỗi thi anh hùng.

**************

PHẦN 19

Nói về quân Ân phát hiện cọc trận thì hồn phi phách tán, thấy pháo hiệu tử chiến bắn lên từ thuyền thời khiếp hoảng, chưa kịp làm gì thì nghe quân reo dậy đất ngựa hí vang trời, tên lao xé gió ầm ầm trút xuống giữa lòng sông, cọc trận đã đóng thuyền qua lại không được, ra khơi không được đúng vào tầm của tên lao tuông ra trút xuống như cuồng phong vũ bão, quân Ân còn sức đâu nữa mà chống trả, thế là thây người ngã đổ như chuối bị chặt. Khúc sông Tử Dương vốn đã hẹp, thuyền giặc bị cọc trận chặn đứng không cho thuyền lui ra tránh giáo tránh tên, tiến vào bờ thì không nổi, chỉ còn cách chống trả được lúc nào hay lúc nấy. Thuyền bị mắc kẹt ở 2 bên tiếp ứng nhau không được lại vừa tầm bắn của giáo, lao, tên tuông ra, quân Ân chết thôi là chết, tiếng rú tử nạn ai nghe thấy cũng phải rởn óc kinh hoàng.

Mao Toại đã biết mình sa vào bẫy lưới của địch, trong lúc binh tàn lực kiệt thì khó mà chống đở nỗi liền dở thuật kinh công thượng thừa bay lên như con Đại Bàng, vượt qua làng tên mũi giáo nhắm hướng Bắc tẩu thoát, chân chưa chấm đất đã thấy người xuất hiện bao vây. Thì ra đó là năm vị đại cao thủ thuộc hàng nhất nhì nước Văn Lang. Chủ đích là năm đại cao thủ nầy luôn luôn theo dõi chủ soái của giặc để triệt hạ.

Bổng thấy Mai Đức Thọ phi ngựa tới thét lớn:

   Tướng giặc chạy đi đâu, để cái đầu lại đã.

Năm vị cao thủ Thấy Mao Toại đáp xuống tức thời đồng loạt ra chiêu. Năm đạo sắc quang chớp tới. Mao Toại chẳng nói chẳng rằng thanh Long Đao chém tới vang ra tiếng sấm sét kinh người. Năm người cao thủ đã có lệnh dặn trước khi đã ra tay thì hết sức bình sanh hạ thủ, vì Chủ Soái tướng giặc vô cùng lợi hại. Cơ trí hơn người võ công cái thế. Chỉ nghe ầm ầm đùng đùng đinh tai nhứt óc. Cuồng phong dậy trời các bay đá chạy. Năm cao thủ với những đòn quyết tử. Đao kiếm lao vào đối thủ nhanh như chớp.

Mao Toại liền dỡ tuyệt chiêu Ngũ Lôi Đoạt Mệnh với tất cả bình sanh công lực, ngũ lôi sấm nỗ sét rền xé mây. Ầm ầm trời đất rung rinh. Đinh tai nhức óc kinh thiên ầm ầm. Mao Toại máu mồm hộc ra từng ngụm. Năm người kia đã bị thương nặng lão đảo muốn ngã.

Mai Đức Thọ thất sắc:

   Quả lợi hại, quả lợi hại.

Mai Đức Thọ không để cho Mao Toại có thời gian hồi phục công lực. Liền ra lệnh cho đội kỵ sĩ thiết giáp tấn công. Còn binh lính bao vây lớp lớp. Được lệnh đội quân thiết giáp phi ngựa xông vào tấn công liên hoàn vô cùng lợi hại. Mao Toại liền vận luồng chân khí Kim Quang chống trả, nhưng được bao lâu, thương đâm, đao chém, tên bắn, giáo xuyên, người ngựa liên miên tấn công tới tấp, tên sắt, tên đồng bắn xuyên thủng giáp. Mao Toại bị thương trầm trọng khó bề chống cự được lâu.

Bỗng nghe tiếng ra lệnh của Mai Đức Thọ:

   Cuồng phong trận tấn công.

Thế là đội quân thiết giáp liền thay đổi chiến thuật, người ngựa đao kiếm xoáy tròn như cuồng phong vũ bão, núi đao kiếm thét gầm trút xuống đầu Mao Toại, thây Mao Toại bị băm bấy như tương.

Có bài thơ rằng:

Ôi thôi Mao Toại còn gì

Sa vào cuồng trận thân hình nát tương

Cuộc đời xâm lược ai thương

Phanh thây xẻ thịt nhớp nhơ cuộc đời

Hồn linh vùi mãi ngục tù

Đưa quân xâm lược để rồi vùi chôn

Xâm lược nào phải lanh khôn

Ác gian hung bạo cuồng ngông họa đầy

Ngựa người dẫm đạp tơi bời

Cuộc đời xâm lược, cuộc đời ra chi.

Nói về Mao Ly Hương cùng Vi Tử Khải má tựa vai kề ngày đêm vui với vẻ với nhau chờ tin thắng trận, chờ ngày xưng Bá xưng Vương làm Vua làm Chúa nước Văn Lang với ngón nghề khêu gợi đầy ma lực. Mao Ly Hương càng ngày càng làm cho Vi Tử Khải chết mê chết miệt, si mê, đến nỗi đến nỗi chỉ vắng bóng Mao Ly Hương vài giờ thời chịu không nỗi.

Vi Tử Khải nhìn Mao Ly Hương nói:

   Khi ta lên làm Hoàng Đế Nước Nam, thì nàng sẽ là Hoàng Hậu Thánh Cung, nàng cùng ta thi nhau hưởng lạc, trị vì thiên hạ mặc sức mà cởi gió đạp mây, làm mưa làm gió khi ấy nàng muốn gì mà chẳng được.

Mao Ly Hương nghe Vi Tử Khải nói hứa như vậy thời mừng thầm nghe sướng lỗ tai, mở cờ trong bụng, với điệu nghệ Hồ Ly, Mao Ly Hương vuốt ve Vi Tử Khải, làm Vi Tử Khải hồn bay lên chín tận tầng mây. Nhưng liền theo đó bị một gáo nước lạnh tạt vào mặt.

Mao Ly Hương nói:

   Chỉ có một nước Nam mà hai vua sao? Còn Vi Tử Điển không lẽ Vi Tử Điển không có ý xưng Vương nước Nam.

Vi Tử Khải nghe Mao Ly Hương nói thế thời ngớ người ra ngẩm nghĩ: Không lẽ một nước mà có hai Vua.

Mao Ly Hương thấy Vi Tử Khải ngớ người như vậy liền phì cười nói:

   Nếu được làm Vương nước Nam, thì cũng phải dưới quyền kiểm soát của ÂN THỌ VƯƠNG bệ hạ mà thôi, Vương Gia cũng chỉ là Nam Quốc chư hầu làm gì được mà xưng Vương xưng Đế. Muốn xưng Vương xưng Đế phải là con cáo già đầy móng vuốt sắc nhọn, đưa cái lợi đến cho người ta nhưng sau cái lợi đó thuộc về mình, để đạt được mục đích, không có con đường nào tốt hơn là con đường tính toán sắp xếp đâu vào đấy ngay từ lúc nầy.

Những lời nhắc nhở của Mao Ly Hương có nhiều hàm ý sâu xa. Vi Tử Khải nghĩ: Ngày trước sở dĩ ta không được chọn kế vị ngai vàng là vì ta ngu muội hơn Ân Thọ, không biết cách nào làm cho Phụ Vương chú ý, quan tướng nể phục, nên ta bị loại bỏ khỏi ngai vàng, nhưng hôm nay thì khác, ta phải giành lấy tất cả ưu thế thuộc về ta.

Nhìn ánh mắt của Vi Tử Khải sáng lên một cách kỳ lạ, Mao Ly Hương liền hiểu ý mừng thầm: Có lẽ ta đã nhìn đúng con người nầy, con người mà ta đã chờ đợi từ lâu, sẽ làm cho ta thỏa thích hoàn thành ước vọng của ta.

Với ngón nghề độc đáo, Mao Ly Hương ỏng ẹo gợi cảm, muôn tâu Quốc Vương bệ hạ:

   Thần thiếp mời bệ hạ vào bồng lai an nghỉ.

Vi Tử Khải nghe Mao Ly Hương xưng hô với mình là Quốc Vương bệ hạ, thời sung sướng không gì bằng nghe như mật rót vào tai, trúng phốc tim đen sướng cả người. Nhìn bộ dạng mảnh mai liễu yếu đào tơ, đường nét sắc sảo bút thần tạo hóa khéo vẽ không có chỗ để chê, trước sắc đẹp lộng lẫy thiên kiều bá mị của Mao Ly Hương. Vi Tử Khải như vừa uống phải mấy ly rượu làm choáng váng cả linh hồn, hai người nhìn nhau như muốn ăn nuốt lẫn nhau. Vi Tử Khải như cơn lốc ôm xốc Mao Ly Hương biến vào Vương Quốc bồng lai.

Đương phút chèo thuyền gấp rút, thời bỗng bên ngoài có người hớt hãi kêu lên, nói với mấy con hầu nữ:

   Hãy vào bẩm với Vương Gia có tin khẩn cấp, có tin khẩn cấp.

Mấy con hầu nữ bực mình nói:

   Vương Gia đang leo núi.

Tên lính ngơ ngác chẳng hiểu chi cả, thấy bộ mặt ngốc nghếch của tên lính, bọn hầu nữ bụm miệng nhìn nhau phì cười liền nói:

   Vương Gia đang ngủ, khi nào dậy ta sẽ bẩm báo ngươi ra kia ngồi chờ.

Tên lính báo tin la lớn:

   Các ngươi hãy vào báo khẩn cấp với Vương Gia là 20 vạn quân đi đời về chầu âm phủ hết rồi, Mao Toại chủ soái đã bị phanh thây xẻ thịt làm món đồ xơi cho quạ cho kiến.

Bọn hầu nữ nghe như sấm nổ bên tai hớt ha hớt hãi chạy đi báo tin cho Vương Gia, tới cửa phòng bọn hầu nữ ngập ngừng nhưng rồi cũng phải lên tiếng:

   Bẩm Vương Gia, bẩm Vương Gia, có tin khẩn cấp, có tin khẩn cấp.

Vi Tử Khải đang lúc say sưa chìm đắm trong mê hồn trận, đang ra sức chèo chống tốm vắc những chùm hoa đang nở rộ, bị người phá đám, nỗi cáu tính ra chém quách đi cho rồi, đến khi nghe tin Mao Toại tử nạn, 20 vạn quân đi đời thì tưởng mình nghe lầm, đến khi nghe lại lần nữa, thì kinh hãi bủn rủn tay chân ngồi dậy không nỗi. Nói về Mao Ly Hương đang cố gắng phun hương tỏa phấn nở những chùm hoa rực rỡ tạo nên sự hấp dẩn của mùa xuân, những con ong hảo ngọt, con bướm mê hương say đắm vào mê hồn trận, để những chùm hoa đầy gai nhọn có cơ hội châm chút hút hết tinh lực đối phương, những con ong, con bướm dại dột và đầy sự ngốc nghếch này. Đang lúc vui vẻ đầy sự khoái cảm liền nghe tin dữ Mao Toại bị quân Nam xẻ thịt thì giật mình khiếp hoảng, mặc áo quên cả cài phi phóng nhanh ra cửa hỏi tên lính vừa báo tin dữ.

Vừa gặp tên lính Mao Ly Hương quát tháo:

   Chuyện gì ngươi nói lại ta nghe.

Thì ra đây là 1 trong 10 tên lính thám báo do Vi Tử Khải  phái đi để nắm tin tức từng ngày từng giờ, không hiểu vì sao chỉ thấy một tên trở lại báo tin dữ còn những tên kia không rõ nơi đâu. Tên lính thấy Mao Ly Hương như quỷ dữ xuất hiện hung tợn đến rợn người như sắp ăn thịt xác con mồi, thời sợ hãi run lên cầm cập, miệng lắp bắp nói không ra tiếng. Mao Ly Hương đang lúc mất bình tỉnh, thấy bộ điệu ấp a ấp úm của tên thám báo liền nỗi xung thiên tống cho một chưởng tên lính vỡ đầu chết ngay tại chỗ.

Lúc ấy Vi Tử Khải có mặt như cản ngăn không kịp liền la lớn:

   Sao nàng lại giết con tin.

Mao Ly Hương lúc này mới hoàng hồn bình tỉnh, thấy việc làm của mình quá đáng liền quỳ xuống xin Vương Gia tha tội, Vi Tử Khải chỉ biết lắc đầu vì hiểu rõ Mao Ly bị cú sốc quá nặng mới làm ra nông nỗi nầy. Đang lúc gây cấn đầy sự nghi vấn nóng hổi chưa rõ đâu ra đâu, thời có chiếc thuyền con từ xa lao vụt tới, đó là thuyền thám tử do Vi Tử Khải phái đi nắm bắt thông tin tình hình chiến trận, thuyền vừa cập, quân dò thám đã đều bị thương nặng máu me đầy người.

Mao Ly Hương nhận ra người ấy chính là hầu cận số một của Mao Toại, liền hỏi Tào Chu:

   Việc gì xảy ra thế?

Tào Chu liền kể lại tất cả rồi nói:

   Quân Văn Lang vô cùng lợi hại, như quỷ như ma không thể nào đoán ra được.

Có lẽ Tào Chu bị thương quá nặng thì kể xong cũng trút hơi thở cuối cùng. Vi Tử Khải nghe xong khiếp hãi kinh hoàng sắc mặt không còn chút máu, giấc mộng Bá Vương đã vỡ, sững sờ rồi than vắng thở dài nói:

   Trời hại ta rồi, Trời hại ta rồi.

Mao Ly Hương thời nghiến răng trợn mắt nói:

   Ta phải trả thù, ta phải trả thù bằng mọi giá bằng tất cả.

Nói với Vi Tử Khải rằng:

   Bẩm Vương Gia, chúng ta còn 10 vạn quân, 5 vạn quân bộ binh, 5 vạn quân thủy binh hơn 300 chiến thuyền nhân tài vẩn còn nhiều, hơn nữa quân ta các mũi đã tiến vào đất Văn Lang chỗ này thất bại, nhưng chỗ khác tất thắng, thầy thiếp là chúa tể của loài yêu tinh, thần thông pháp thuật trùm Vũ Trụ. Nhưng muốn cầu thầy giúp sức, thời phải tìm cho ra 100 trẻ sơ sinh, 50 trai 50 gái để thầy luyện Âm Dương Yêu Thuật Thần Công thì mối hận nầy trả được, quân Nam xóa sổ đi đời.

Vi Tử Khải như người chết đuối vớ được cái phao liền hỏi:

   Nàng nói có thiệt không?

Mao Ly Hương làm mặt giận:

   Thiếp lừa dối Vương Gia để làm gì, đừng nói là quân Văn Lang, dù cho Phật, Thánh, Thần, Tiên cũng đi đời.

Thế là Vi Tử Khải giao toàn quyền cho Mao Ly Hương tự quyết định.

*************

PHẦN 20

Nói về ba anh em Tây Thục Vương, đánh cho quân Ân một trận nên thân, đi tiêu 5 tướng xong đời hơn vạn quân, ăn mừng chiến thắng đầy mình, trông trời mau sáng để mở thêm trang sử mới.

Đây nói về Hồ Ma Yêu, chính là con cáo ba đuôi tu luyện nghìn năm thành người, ban ngày là người ban đêm là quỷ, chuyên bắt đàn bà con gái vùi dập hoa liễu, chơi chán chê rồi hút máu ăn thịt luôn.

Sơ yếu tóm tắt lí lịch ngôi vương của Hồ Ma Yêu như sau: Nguyên quân Mũ Đỏ của vị Vương là Di Hung Nô, vị Vương nổi tiếng là tay tàn bạo ác độc, thường xuyên ăn thịt kẻ thù, thuộc hạ tướng lĩnh trên dưới đều khiếp sợ không ai dám hó hé chi cả. Một hôm Hồ Ma Yêu vô tình nhìn thấy một nàng con gái xinh đẹp, đang tắm ở hồ Hoa Đào, không những xinh đẹp mảnh mai, đường nét khiêu gào bốc lửa, đẩy đà có vẽ rắn chắc lắm, với cái tánh đệ nhất dâm ô háo sắc, thì đời nào bỏ qua liền manh tâm chiếm đoạt về mình, bằng hóa ra con bướm bám sát bay theo tìm hiểu nàng ở đâu. Mới hay nàng là vị hầu thiếp đắc ý nhất của Di Hung Nô, lại biết Di Hung Nô hôm nay đi săn ở thượng Dương Sơn. Hồ Ma Yêu liền đến đó hóa ra con nai thật đẹp, dụ Di Hung Nô đến đoạn hồn cốc, một cốc hố đầy bí ẩn sâu không thấy đáy. Di Hung Nô là tay xạ thủ cừ khôi, lại có sức mạnh tay không bắt cọp, xưa nay hể bắn là trúng, muốn trúng chổ nào là trúng chổ đó. Di Hung Nô nghe tiếng động nhìn thấy con nai tơ mập ù mập ú xuất hiện, liền dương cung bắn một phát, nhưng lạ thay mũi tên không trúng đích, con nai như có vẻ thách thức Di Hung Nô điên lên bắn liền ba phát lại trược sạch, nỗi xung điên phóng ngựa rượt theo bắn lia bắn lịa nhưng nào có trúng đâu, Di Hung Nô rượt theo quát tháo ầm ĩ không lẽ mày là con nai có phép, cuộc rượt đuổi cũng khá lâu cho đến khi con nai nhảy xuống hố mất dạng. Di Hung Nô còn đang bực tức, thì tiếng nói sau lưng vang lên lạnh buốt. Ngươi đã đến ngày tận số, Di Hung Nô quay người lại, thời kinh hãi người nầy giống mình như đúc, chưa kịp hoàng hồn thời một tia chớp lé lên, Di Hung Nô rú lên thê thảm sau đó là một cái rầm, Di Hung Nô đã bị chưởng lực đánh văn xuống đoạn hồn cốc, nở nụ cười đắc ý Hồ Ma Yêu đoạt vợ đoạt luôn những gì mà Di Hung Nô đã gầy dựng, đúng là một con cáo già không làm mà tận hưởng. Từ khi Ân Thọ lên ngôi Hoàng Đế, thì yêu tinh cùng khắp, ở cung, ở điện, ở hang, ở động lần lượt ra phò mở ra phong thần là giai đoạn hưng thịnh tột đỉnh của phong kiến Thần Giáo, chủ nghĩa độc tôn, độc trị thống trị thiên hạ, Hồ Ma Yêu là một trong số yêu tinh ra phò ÂN TRỤ. Nói đến xâm lược Văn Lang hay nói đến làm chủ Địa Long Vũ Trụ, thì yêu tinh cùng khắp đều thích thú mơ mộng, cuộc phát động xâm lược nước Văn Lang, ÂN TRỤ là cuộc phát động hợp sở thích của các loài yêu tinh có cơ hội trổ tài nanh vuốt ác đạo của mình. Hồ Ma Yêu chọn 3 tướng yêu tinh đắc ý nhất của mình, đã từng làm mưa làm gió khắp nơi, đó là 3 con quỷ tu luyện thành người.

1:  Là Mãng Xà Quỷ.

2:  Là Bò Cạp Quỷ.

3:  Là Trăn Quỷ

Vì tu luyện chưa đạt đỉnh nên mặt mày còn rất hung tợn, cùng 3 nghìn quân ra trận.

Trên thành cao Thục Mân, Thục Ren, Thục Cương ba vị phu nhân cùng 3 cha con An Lạc Sơn, thấy giặc Ân đến khiêu chiến phỏng độ hơn 3 nghìn quân thời kinh ngạc.

An Lạc Điền là người già kinh nghiệm sinh nghi nói:

   Quân Ân có diệu kế chi chăng, quân ít mà tướng thì nhiều.

Thục Cương có vẻ xem thường nói:

   Để em ra quét sạch lũ rác rưỡi nhơ nhớp đó cho rồi.

Thục Mân cản:

   Tướng giặc đang khiêu chiến kia chính là Hồ Ma Yêu, không những võ công kỳ bí, mà còn có thanh bảo kiếm chém đồng chém sắt như chém bùn. Thục Ren chút nữa là mất mạng dưới thanh bảo kiếm này.

Liền khuyên can:

   Chúng ta hãy tính cách đối phó khác, tránh đi những thiệt hại không đáng có.

Thục Cương tự ái nói:

   Hai anh xem thường em quá, đánh không lại là chạy có chi là khó.

Biết không thể ngăn cản cái tánh ương bướng hùng khí của Thục Cương. Thục Mân, Thục Ren không cản nữa. Thục Cương điểm 5 nghìn quân tinh nhuệ ra trận. Thục Mân, Thục Ren điều động 3 nghìn quân nữa lượt trận theo sau, khí thế áp đảo giặc Ân.

Thục Cương hăng hái cỡi ngựa xông lên chỉ Hồ Ma Yêu hét lớn:

   Lão Yêu Tinh cuồng ngông kia mau ra đây nạp mạng.

Lão Ma Yêu nỗi nóng quát tháo:

   Thằng nhãi ranh, ta không những giết ngươi mà còn bắt cả hồn ngươi nhốt vào Đoạn Hồn Cốc cho ngươi biết thế nào là hỗn láo đối với ta.

Lão Ma Yêu ra lệnh

   Cạp tướng quân nghe lệnh: Có thuộc hạ, tướng quân ra xơi thằng nhãi đó cho ta, tuân lệnh.

Cạp Tinh cỡi quái thú, mình ngựa đầu chó phi ra nhằm Thục Cương đánh tới, vũ khí Cạp Tinh vô cùng quái dị lúc thì Đao lúc thì Kiếm, lúc thì liên hoàng móc xích, biến hóa đâm chém móc giật lợi hại vô cùng. Thục Cương nhờ sức mạnh Trời ban, Thanh Long Đao như Rồng bay Phụng múa chém xuống đầu Cạp Tinh ầm ầm. Cạp Tinh nào chịu kém, nào chống đỡ, nào ra đoàn nhanh như chớp, véo véo đùng đùng, rét rét ầm ầm, rền trời rền đất đinh tai nhức óc, xáp vào lui ra liên miên dồn dập, ngựa hú rồm rộp gió bụi mịt mù, Đao xuống, gươm lên choảng nhau xoay vần gào thét, cuồng phong xoắn ốc cây cối đổ nghiêng nhìn thấy khiếp kinh, rợn người, rợn vía. 50 hiệp nhanh chóng trôi qua nhưng hai bên chưa ai giành được phần thắng.

Thục Cương hét lớn dở chiêu tuyệt kỹ cuối hầu lấy mạng Cạp Tinh, Thanh Long Đao liền hóa ra đạo hào quang chiếu tới Cạp Tinh. Cạp Tinh biến mất. Thục Cương kinh hãi liền nghe tiếng gió sau lưng chém tới. Thục Cương lách người né tránh, Thục Cương tránh không được đành trúng vào người như trời giáng. Nếu không nhờ sức mạnh Trời cho áo giáp dày chắc thời kể như toi mạng rồi. Thục Cương bị chấn thương hơi nặng, quày ngựa chạy thục mạng. Cạp Tinh nào chịu để con mồi chạy, rượt theo lấy mạng Thục Cương trước cảnh ngàn cân treo sợi tóc Thục Cương chỉ còn chờ chết.

Thời tiếng quát lanh lảnh nổi lên:

   Yêu Tinh hỗn láo xem đây.

Ầm ầm đinh tai nhức óc. Thái Nga bị dội ngược có lẽ đã bị chấn động nội thương miệng ra máu sắc mặt tái ngắt, quày ngựa bỏ chạy thì bị con Bò Cạp cắn phải, đau nhức không chịu nỗi, suýt chút nữa là té nhào xuống ngựa.

Cạp Tinh không cần rượt đuổi đắc ý nói:

   Người thường chết ngay tại chỗ, người có Thiên Tư đề kháng lớn võ công nội lực thâm hậu quá 3 ngày thì đem chôn.

Thục Mân, Thuc Ren kinh hãi xua quân tiếp ứng, Cạp Tinh nỗi nóng vỗ vào đầu quái thú đầu chó 3 cái, tức thời quái thú đầu chó phun ra một Đao hắc phong mù mịt làm xây xẩm mặt mày quân Văn Lang. Quân Ân lấn thế ào tới chém quân Văn Lang như chém chuối, 8 nghìn quân chỉ còn lại 3 nghìn thây phơi lớp lớp.

Vào thành rồi mà Thục Mân, Thục Ren lúc nào cũng than vắng thở dài:

   Không ngờ tướng giặc Ân lại lợi hại như vậy, liệu tính làm sao đây, khi Thái Nga đã vô phương cứu chữa, còn chống trả lũ giặc Ân thì không đủ sức, có lẽ phải cố thủ thành chờ quân cứu viện rồi mới mở hướng tiếp theo.

**************

PHẦN 21

Chiến trận rền vang suốt đêm ngày

Ngoại xâm rầm rập phá giang Tây

Nguy cơ từng phút, thành sắp mất

Quân Ân lớp lớp, tiến bao vây

Phép lạ còn trông, cơ tạo hóa

Hồn Thiên sông núi, chuyển vòng xoay

Con đường trung hiếu, luôn phía trước

Cố thủ chờ mong, đão ngược này.

Nói về quân Văn Lang thất bại thảm thê, Thái Nga bị Bò Cạp Tinh cắn nằm mê mang như chết, không biết ra đi lúc nào. Thục Cương nhìn vợ mặt mày thâm tím, lòng đau như ai xé, nước mắt nhỏ ròng ròng, ai nhìn thấy cảnh thương tâm ấy cũng đau lòng. Còn ngoài thành quân Ân mỗi lúc kéo đến mỗi đông, trùng trùng điệp điệp khác gì Thiên La Địa Kiếm công phá thành dữ dội. Quân Văn Lang cố thủ, dầu sôi lửa bỏng, tên, lao, cây, đá chống trả như mưa, quân Ân tổn thất nặng nề, hai ngày hai đêm vẫn chưa phá được thành, cuối cùng thu quân nghĩ kế khác. Quân Ân đặt mật thám đầy khắp bao vây kiểm soát ra vào động tịnh, thành Tây Giao Châu hết sức nghiêm ngặt.

Màn đêm buông xuống từ nơi đường hầm bí mật, cây cối um tùm, một bóng đen nhanh hơn con sóc luồn lách trong màn đêm u tối, phi thân vùn vụt nhắm hướng Tam Giang Tây Châu lướt đi lúc ẩn lúc hiện như một bóng ma. Mặt trời lố dạng, ánh bình minh trở lại hương quê, chim trống, mái vui hót tình thề. Một bóng người đã mệt lả hình như sắp quỵ xuống, nhưng con mắt bỗng sáng lên, kia rồi kia rồi Tam Giang Tây Châu kia rồi, người ấy không ai khác hơn là Thục Ren, những nhiệm vụ đặc biệt quan trong nầy, không Thục Mân thì Thục Ren, ngoài hai người nầy không ai là đảm trách được. Thục Ren nghỉ mệt xả hơi, uống nước dưỡng sức, thấy sức lực hồi phục hơn nữa liền dùng thuật Kinh Công thượng đỉnh lao đi, không bao lâu thì tới doanh trại Tam Giang Tây Châu.

Nói về Tây Thục Hầu Vương nhận lãnh thanh Kim Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm thống lãnh 30 vạn quân chia làm 3 ngã trấn giữ 3 thành.

1:  Tây Giang Châu

2:  Dương Giao Châu

3:  Kiến Giao Châu

Còn Tam Giang Tây Châu là bộ tổng tham mưu chỉ huy là địa phận chiến lược quan trọng, nối liền thông tin giữa các Châu các Bộ các Thành với nhau. Tây Thục Vương Gia cùng 1 vạn quân chủ lực đóng đô ở đây, tổng tham mưu điều hành cuộc chiến.

Đương lúc nghiên cứu tình hình chiến địa thời có quân vào báo:

   Bẩm Vương Gia có Thục Ren Tây Bát Tử ở thành Tây Giang Châu đến.

Ông hối hả cho Thục Ren vào, thấy con bơ phờ ông kinh hãi hỏi:

   Chuyện gì xảy ra thế?

Hỏi thì ông cứ hỏi nhưng ông cũng đoán biết việc không lành đã xảy ra đối với các con ông rồi. Thấy nỗi lo lắng người cha đối với các con. Thục Ren vô cùng cảm động, thấy mình luôn luôn được che chở trong những lúc khó khăn, tình phụ tử luôn là thế, tình cha con muôn đời trước muôn đời sau cũng thiêng liêng sâu đậm như nhau. Ông nghe Thục Ren kể đến đâu thời nước mắt ông rơi đến đó, trước tình thế vô cùng nguy ngập, ông tính tới nước cờ giải cứu cho thành Tây Giang Châu cùng 10 vạn đại binh ở đó.

Tây Thục Vương Gia đang ráo riết giải bài toán khó, thì có quân vào:

   Bẩm Vương Gia quân Ân đang xoay chuyển chiều hướng trăm mưu nghìn kế triệt hạ thành Tây Giang Châu.

Còn gì nữa không? Vương Gia hỏi. Dạ hết. Cho người lui. Thục Vương Gia có lẽ đã giải xong bài toán khó liền viết mật thư đưa cho Thục Ren nói:

   Con đem mật thư này nhanh chóng gởi cho Đích Tôn Vương Tử Diệp Lang đang đóng quân ẩn tại rừng Tiên Du, dưới chân Hùng Phong Sơn, thời có cách giải cứu lật ngược tình thế.

Thục Ren từ biệt cha, chọn lấy con ngựa tốt nhất phi nước đại không bao lâu thì tới rừng Tiên Du dưới chân Hùng Phong Sơn. Ngựa đang phi nước đại nhanh như gió cấp 9 cấp 10.

Bổng có tiếng quát:

   Đứng lại.

Ba người liền xuất hiện đeo mặt nạ lạnh như tiền, Thục Ren nhìn sắc phục không phải sắc phục của giặc Ân mà là sắc phục của quân Văn Lang hơn nữa đây là địa phận của rừng Tiên Du.

Liền xuống ngựa chấp tay thi lễ nói:

   Ba vị chớ hiểu lầm, ta là Thục Ren con của Thục Vương Tây Hầu Gia phái đến xin gặp Đích Tôn Vương Tử.

Nói xong lấy lệnh bài đưa ra cho ba người. Ba người kia nghe nói người nầy là Thục Ren tướng quân Tây Thục Hầu Gia có cả lệnh bài Tây Hầu Gia liền chấp tay thi lễ nói:

   Xin tướng công theo thuộc hạ.

Thế là hai người ở lại, một người dẩn Thục Ren đi. Đi được một hồi thời tới doanh trại quân Văn Lang, Thục Ren nhìn thấy một ngôi lều lớn hình như đang có chuyện gì. Cắt ngang dòng suy nghĩ.

Tên lính dẫn đường nói:

   Tướng Công đứng ở đây chờ đợi, thuộc hạ vào báo cho Đích Tôn Vương Tử rồi ra đón Tướng Quân vào.

Thục Ren thấy người đó vào trại thì ra liền, chấp tay thi lễ nói:

   Đức Tôn Vương Tử mời Tướng Quân vào.

Thục Ren bước vào liều trại quan tướng trên dưới 20 người vẻ mặt người nào người nấy uy nghi lạnh người, lại thấy một cỗ quan tài xinh đẹp chỉ dùng cho các bậc Vương Gia.

Thục Ren thầm nghĩ: Ai thế? Ai nằm trong đó thế? Vì sao mà chết?.

Thục Ren nhìn thấy Đích Tôn Vương vài lần rồi, nên nhìn thấy là biết ngay liền bước tới quỳ lạy nói:

   Hạ Thần xin ra mắt Đức Tôn.

Diệp Lang đỡ Thục Ren dậy hỏi:

   Tướng quân tìm ta có việc gì?

Thục Ren liền kể mọi sự, tình hình bất lợi cho Tây Giang Châu. Diệp Lang nói:

   Ta đã biết tình hình Tây Giang Châu đang gặp khó khăn nhưng ta chưa rõ lắm, may thay tướng quân đến đúng lúc.

Thục Ren liền lấy mật thư bằng da thú to lớn do cha họa tiết, biểu tượng, hình tượng, ẩn cảnh, hình cảnh và hàng loạt dấu hiệu ra ni, Diệp Lang trải ra bàn xem đi xem lại từng chi tiết triết lý sách lược của mật thư.

Ở thời kỳ nầy những tấm da thú được coi như là báu vật, tiện dụng nhất trong sinh hoạt, quần áo chống lạnh, chống nóng, chống muỗi mà còn là nền tản cho nền giao tiếp văn minh trên mọi lĩnh vực xã hội Văn Lang. Họa tiết văn thơ, chữ viết tồn cổ điển nhất tồn tại theo năm tháng của nhân loại con người thời bấy giờ. Chữ viết của nền văn minh Văn Lang gồm 3 phần cơ bản sau đây.

1:  Cảnh tượng

2:  Hình tượng

3:  Hình gạch

Được họa tiết khéo léo, diễn đạt ý tưởng bằng hình gạch, hình sóng, hình nổi, hình chìm v.v…một cách thông minh. Nói ra thì không bao giờ hết nhưng tốm tắt những mẫu gạch ra ni chính để nghiên cứu. Thể hiện ý qua diển đạt ra ni.

1:  Gạch nằm

2:  Gạch đứng

3:  Gạch nằm, gạch đứng chồng ngang lên nhau song song nhau

4:  Gạch đứng nghiêng trái

5:  Gạch đứng nghiêng phải

Từ ý đơn chuyển sang ý ghép.Từ ý ghép chuyển sang ý liên tưởng. Các gạch biến hóa tạo hình gạch nghiêng trái, nghiêng phải giao đầu nhau. Gạch đứng gạch nằm giao chân nhau. Gạch đứng gạch nằm giao đầu nhau, đối lập nhau.

6:  Gạch hình mống hay còn gọi là hình cung

7:  Gạch hình sóng nổi

8:  Gạch hình tròn nặng đặc chìm

9:  Gạch hình nữa nỗi nữa chìm

10: Gạch tròn của hai gạch cung ráp lại

Nói tóm lại Cảnh tượng gồm: Non sông Tổ Quốc cảnh, quê hương thôn dã thành châu cảnh, quân Ân xâm lược cảnh, văn hóa nghệ thuật cảnh, thông tin giao tiếp cảnh hình tượng, như nam, nữ, già trẻ, ốm mập, hung ác, lương thiện cho đến khí cụ dụng cụ cầm thú được họa tiết một cách khéo léo. Những cảnh tượng, hình tượng, gạch tượng, ý tượng, hoặc đơn, hoặc ghép, hoặc liên ghép, hoặc ngược, hoặc xuôi, nối gạch liền gạch, nối hình liền hình, nối ý thành ý tạo ra ý tưởng liên hoàng văn pháp, làm cho người giao tiếp qua mật thơ hiểu nhau và làm theo ý của nhau qua thơ từ.

Nói tóm lại: Cảnh tượng, hình tượng, gạch tượng, ý tượng, là nền văn minh giao tiếp của nước Văn Lang, lan truyền ra khắp cùng Thế Giới liên quan đến sự văn minh phát triển sau này. Nền văn minh giao tiếp nước Văn Lang phát nguồn sự giao tiếp ra ni của người tiền sử từ thời Hồng Hoang rồi đến Hồng Bàng, Hồng Đế hàng triệu năm về trước. Đây là những biểu tượng sơ khai ra ni Cội Nguồn là nguồn gốc phát sanh ra các loại chữ sau này cùng khắp Thế Giới. Biểu tượng ra ni của thời sơ khai thượng cổ.

Nói về Diệp Lang xem xong mật thơ liền hiểu ý của Tây Thục Vương Gia liền thi hành diệu kế tiêu diệt quân Ân. Đến lúc này Thục Ren mới nhìn thấy một người con gái đứng cạnh chiếc hòm, đẹp đến nỗi Thục Ren hoa cả mắt, dụi đi dụi lại 2 – 3 lần. Thục Ren nghĩ con gái nhà ai mà đẹp đến thế, trên đời ta đã nhìn thấy hai nàng con gái đẹp như Tiên giáng trần, một là con gái An Lạc Điền, Lạc Tiên Tiểu Thơ, ta cứ ngỡ An Lạc Tiên là người con gái đẹp nhất trần gian không ngờ ở đây lại có người con gái đẹp hơn Lạc Tiên Tiểu Thơ nữa.

Bỗng tiếng nói trầm hùng nổi lên cắt ngang dòng suy nghĩ Thục Ren. Diệp Lang nói:

   Thưa đại nhân cuộc chiến đang khẩn cấp tạm đưa Ngọc Linh Châu đến nơi an nghỉ tạm thời, cho người canh giữ cẩn thận, sau khi tiêu diệt lũ ngoại xâm thời đưa Ngọc Linh Châu về Phủ an táng theo nghi lễ cấp Vương Gia.

Ba cha con Trung Đại Nhân nghe Đích Tôn Vương Tử nói thế thì lấy làm an ủi quỳ lạy cảm ơn. Đến giờ này Thục Ren mới vỡ lẽ, thì ra đây là con gái của Trung Đại Nhân, còn người nằm trong hòm kia Ngọc Linh Châu chị của nàng, cuộc đụng độ tử chiến lừng lẫy với lũ giặc Ân vừa rồi. Thục Ren vô cùng khâm phục lòng dũng cảm hi sinh vì đại nghĩa ấy, liền bước tới chiếc hòm tỏ lòng sùng kính.

Thục Ren được Diệp Lang đưa vào phòng dặn bảo đưa mật thư, giao cho Thục Ren đem về giao cho Thục Mân cùng quan phủ Bố Chánh An Lạc Điền, hành sự theo kế sách trong thư đã dặn.

Thục Ren nhận vội phong thơ ra đi, mới vừa ra khỏi phòng thời Diệp Lang kêu lại. Thục Ren kinh ngạc:

   Đích Tôn có điều chi dạy bảo.

Diệp Lang nói:

   Bây giờ đang là lúc ban ngày, quân Ân đang để tai mắt khắp nơi, nhất là khu vực thành Tây Giao Châu.

Thục Ren giật mình tỉnh ngộ lấy làm hổ thẹn cho sự sai sót của mình, có lẽ vì ta quá lo lắng nên sinh ra mù quáng chăng. Chỉ cần sơ sót một việc nhỏ cũng đủ đi tiêu 10 vạn quân, liền chấp tay thi lễ nói:

   Thuộc hạ quả thật hồ đồ xin Vương Tôn tha tội.

Diệp Lang nói:

   Tướng quân không phải là người hồ đồ mà là vì quá nóng lòng trước cảnh bao vây công phá thành của lũ giặc Ân. Tướng quân ở lại đây chờ trời tối mới đi, để ta nghĩ cách chữa trị nọc độc Cạp Tinh cho Thái Nga Nương Nương.

Ngọc Thiên Hương như sực nhớ ra điều gì nói:

   Tôi có thuốc chữa trị bò Cạp Tinh cắn đây.

Liền lấy trong mình ra bình lọ nhỏ dốc ra một viên linh đơn của Vương Mẫu Nương Nương đưa cho. Đưa viên thuốc cho Thục Ren.

Ngọc Thiên Hương nói:

   Đây là linh đơn thuốc Tiên chửa trị hóa giải các loại độc.

Rồi dặn đi dặn lại cách cho uống.Thục Ren mừng quá, miệng nói:

   Cảm ơn tiểu thơ.

Ngọc Hương thấy điệu bộ cung kính lễ phép của Thục Ren có pha chút ngộ nghĩnh liền phì cười, nụ cười cô đẹp làm sao, nếu nói về vai vế, thì Ngọc Hương thuộc hàng Quan Phủ còn Thục Ren thuộc hàng Vương Phủ. Ông mặt trời làm việc cả ngày nắng gay nắng gắt có lẽ cũng thấm mệt, ông vội vã xuống núi ngủ một giấc ngon lành, màn đêm bao phủ khắp non sông quê hương Tổ Quốc.

Một bóng đen, không phải hình như là ba bóng âm thầm lặng lẽ như ba bóng ma chập chờn ẩn hiện trong đêm tối lao nhanh về thành Tây Giang Châu. Nói về thành Tây Giang Châu quân Ân tấn công cả ngày lẫn đêm không ngớt, hao quân tổn tướng nặng mà vẩn chưa phá được, đang chuyển hướng tấn công khác, sự nguy hiểm từng ngày đối với thành Tây Giang Châu. Thục Mân cùng nàng Nê Xi vợ của Thục Ren một ngày hai đêm cứ ngồi mãi bên miệng hầm, không ăn uống chi cả những nỗi lo quá lớn đã làm cho con người quên cả đói khát.

Nàng Nê Xi lẩm bẩm:

   Một ngày hai đêm rồi còn gì sao chưa thấy trở lại hay là…

Nàng không dám nghĩ nữa. Bỗng nơi miệng hầm có tiếng động hình như có người không phải một mà tới ba. Thục Mân đứng phất dậy lùi ra xa, rút kiếm sẵn sàng tư thế tiêu diệt địch, không phải chỉ có Thục Mân mà tất cả những ai chờ đợi ở đây đều sẵn sàng với tư thế chiến đấu. Từ miệng hầm một người đã xuất hiện, một tiếng ồ thiệt lớn, đó là tiếng ồ hợp âm mừng rở cảm xúc của nhiều người.

Thục Mân, Thục Ren, Thục Cương ôm nhau bao cảm xúc khó tả. Thục Ren nói em đã hoàn thành trở về cùng hai vị tướng hộ vệ mật thư, nhìn cặp mắt sáng quắc của hai người mới xuất hiện, có lẽ đây là hai đại cao thủ đệ nhất võ công đương thời.

Hai người chấp tay thi lễ nói:

   Hai tôi phụng mệnh Đức Tôn Vương Tử hộ trì mật thư và nhận thư hồi âm.

Thì ra đây là hai vị tướng quân võ công cái thế thân cận thuộc hạ bảo vệ Đích Tôn Vương Tử. Tức thời một cuộc họp khẩn cấp, Thục Ren liền lấy tấm da lớn chính là bức mật thơ Đức Tôn Vương gởi cho Thục Mân và An Lạc Sơn. Thục Mân xem xong liền đưa cho An Lạc Sơn, An Lạc Sơn thừa hành Thục Mân thảo mật thơ đáp lại. Thế là bao gánh nặng lo lắng đã được giải tỏa, người nào người nấy tâm hồn nhẹ nhổm như bay, chỉ riêng Thục Cương lòng buồn rười rượi.

Thục Ren bỗng la lớn:

   May tôi quên mất, có thuốc giải độc rồi, có thuốc giải độc rồi.

Liền lấy ra một viên linh đơn được gói kĩ, thế mà hương thơm vẫn tỏa ra ngào ngạt làm sảng khoái tâm hồn hết thảy mọi người. Thục Ren liền trao linh đơn cho Thục Cương với phương pháp cấp cứu. Thục Cương nhận viên thuốc linh đơn, cớ ngỡ mình nằm mơ, đờ người ra.

Đến khi nghe mọi người la lớn:

   Mau cứu người đi đứng đó làm gì.

Thục Cương như người sực tỉnh, ba chân bốn cẳng chạy nhanh như bay tới phòng Thái Nga. Thục Cương nhìn Thái Nga như người sắp chết đến nơi, hơi thở đứt quản chỉ còn thoi thốp, có lẽ chỉ hơn canh giờ nữa là xong đi về bên kia thế giới.

Thục Cương không cầm được nước mắt vạch miệng Thái Nga bỏ viên linh đơn vào, nhưng nàng không nuốt được, Thục Cương đành dùng hơi thở nội lực của mình tống viên linh đơn xuống bụng của nàng. Nhiệm mầu thay, thuốc vừa xuống bụng tức thời sắc mặt Thái Nga hồng hào trở lại, ít phút sau mở mắt ra ngồi dậy như người mạnh, chẳng thấy đau ốm hay trúng độc chi cả, chứng kiến cảnh thần kỳ có một không hai như vậy mọi người nghĩ: Thuốc Tiên chỉ có thuốc Tiên mới thần kỳ huyền diệu như vậy.

Thái Nga thử vươn vai thấy thần lực tăng lên gấp ba gấp bốn lần, mừng quá nhớ lại trong lúc mê mang có vị Tiên Cô đến dạy bảo khi nào thấy thần lực tăng lên gấp ba gấp bốn thời sử dụng thanh kiếm mà đã trao cho cô năm xưa, cô chạy bay ra ngoài lấy thanh kiếm nhỏ quăng lên không niệm chú, tức thời từ thanh kiếm nhỏ tỏa ra một đạo hào quang chóa mắt, nàng liền chỉ tay xuống tảng đá lớn như con voi, tức thì nghe một tiếng sét nổ làm đinh tai nhức óc mọi người, tảng đá voi đã bị chém đứt ra làm nhiều khúc, ai nhìn thấy cũng đều khiếp vía khiếp hồn kinh hãi.

Thái Nga thâu bảo bối lại oai phong như thần vệ nữ lại trẻ đẹp hơn xưa sáu bảy tuổi. Ai cũng trằm trồ khen ngợi:

   Đúng là thuốc Tiên.

Thái Nga chạy tới Thục Cương hỏi:

   Còn viên nào nữa không?

Thục Cương ngớ người nhìn Thục Ren. Thục Ren cũng ngớ người.

Nàng Nê Xi chạy tới nắm tay chồng hỏi:

   Còn không?

Thục Ren nói:

   Làm gì có, chỉ một viên thôi.

Nàng Ne Xi nói:

   Sao không xin thêm một viên nữa.

Bỗng mọi người cười vang:

   Đã là thuốc Tiên làm gì có nhiều mà xin.

**************

PHẦN 22

Nói về Triệu Tử Quân công phá thành hai ngày hai đêm hao binh tổn thương không có kết quả, liền nghỉ ra phương kế khác.

Triệu Tử Quân nói với các tướng lỉnh rằng:

   Quân Văn Lang đã khiếp sợ quân Ân chúng ta có lẽ chúng cố thủ thành chờ quân tiếp viện đến cứu, có lẽ chỉ chờ chết mà thôi quân Ân ta tấn công đều khắp tự mình chống trả không xong có đâu tiếp ứng chổ khác. Cũng như thành Tây Giang Châu, tự cứu mình còn chưa xong chỉ lo cố thủ chờ chết còn đâu cứu viện chổ khác. Nói thì ta nói thế, nhưng nghĩ cảnh đêm dài lắm mộng, thượng sách chủ động chớp lấy mọi thời cơ bao giờ cũng hay hơn là bị động, chúng ta chiếm thành Tây Giang Châu trước khi địch cứu viện tới.

Liền viết một mật thơ giao cho con là Triệu Tử Chân cấp tốc đến doanh trại Thống Soái và phó Thống Soái. Ngạc Sùng Cảnh, Ngạc Sùng Văn thỉnh thị ý kiến tấn công ý kiến tấn công chiếm lấy thành Tây Giang Châu. Cách sông Âu năm dặm về hướng Bắc thuộc địa phận huyện Hưng Tây, tổng tư lịnh giặc Ân hạ trại đóng đô ở đây với trên dưới 50 vạn quân, chia làm ba mũi chủ lực, mỗi mũi trên 12 vạn quân tấn công vào chỗ yếu huyệt trọng yếu của Bắc Tây Bắc Văn Lang. Hầu chia cắt đứt các Châu, Bộ, Quận, Huyện không cho liên kết với nhau, phong tỏa các trục lộ giao thông trọng yếu, nhất là những vùng có kinh tế lương thực dồi dào, chiếm lĩnh mọi ưu thế, quân sự, chính trị, kinh tế, giao thông nắm bắt mọi thời cơ làm chủ động trong mọi tình huống biến động xảy ra.

Ngạc Sùng Cảnh, Ngọc Sùng Văn luôn luôn cho đội quân thám báo, theo dõi nắm bắt tình hình thông tin chiến sự kịp thời, tính toán điều hành chiến trận. Được biết quân ta liên tục thắng trận ép quân Văn Lang vào thế cố thủ, thành Tây Giang Châu vô cùng kiên cố, khó phá nổi theo kiểu cách bình thường mà phá theo kiểu cách hiện đại hơn, hỏa pháo đánh trước, chủ lực quân binh theo sau. Có một điều quân Ân chưa được rõ là quân Văn Lang cố thủ trong thành là bao nhiêu chưa được rõ, sao mà cố thủ vững chắc như thế.

Ngạc Sùng Cảnh, Ngạc Sùng Văn bằng nghĩ ra một cách phá thành có hiệu quả, thì cũng vừa đúng lúc Triệu Tử Chân đem thơ đến thỉnh trị kế sách công phá thành. Tây Giang Châu là một trong những thành trọng yếu Tây Bắc Văn Lang, bằng mọi giá giặc phải chiếm cho bằng được thời các châu kia sẽ bị phong tỏa cô lập như Cương Châu, Di Châu, Hung Châu, Ngung Châu vì thế bằng mọi giá giặc quyết chiếm cho được thành Tây Giang Châu này.

Kế sách 1: Công phá thành được mô phỏng như sau: Lập lên nhiều đòn bẩy chịu lực trụ lực, liên hoàn trụ lực, treo nhiều cây gỗ lớn dài nối tiếp làm dùi ví cửa thành là mặt trống còn dùi trống là cây gỗ lớn dài đã được treo liên hoàng trụ lực. Dùng sức hàng 100 người sức ngựa kéo lùi gỗ lớn ra rồi dộng vào, với kế phá cổng thành này vô cùng hiệu quả, dù cho cổng thành kiên cố đến đâu cũng bị phá vỡ.

Kế sách 2: Là tạo ra nhiều hàng loạt cái cung cái ná khổng lồ, nhờ sức bật của nhiều thanh tre liên hoàn hợp lại ở gọng má gọng cung trụ lực dưới đất, bắn chất đốt, bắn những chum dầu lên thành, dầu được chế xuất từ các chất dầu có trong động thực vật, dưới nước trên khô, cộng với các chất dầu lấy từ củ, quả, thảo mộc, hổn hộp các chất lên men động thực vật, tạo ra các chất khí có nồng độ bộc phát cao bốc lửa cháy lớn như vi sinh cháy, như phân dơi và còn vô số các chất cháy khác nữa. Mượn lực của chiếc ná, chiếc cung khổng lồ bắn chất đốt như củi rác, bắn các chum dầu lên thành rồi rớt xuống thấm vào nhau, hàng loạt tên lửa bắn lên thành gây bốc cháy tạo ra một trận hỏa công thiêu đốt quân Văn Lang, kế đến mới dùng thang dây hàng loạt bắt lên thành xông lên tiêu diệt địch, với lối tấn công này quân Văn Lang cũng khó mà chống đỡ nổi.

Triệu Tử Chân nhận công lệnh cấp tốc trở về doanh trại giao mật thơ cho cha. Triệu Tử Quân xem xong liền theo kế sách trong công văn mà thi hành.

Nói về anh em Ngạc Sùng Cảnh, Ngạc Sùng Văn đã nghĩ ra kế sách công phá thành cho là có hiệu quả nhất từ trước đến nay, liền đốc thúc quân chuẩn bị đầy đủ vật liệu càng nhanh càng tốt. Người trực tiếp chỉ huy thôn tính thành Tây Giang Châu không ai khác chính là Ngạc Sùng Văn.

Ngạc Sùng Văn nói với Ngạc Sùng Cảnh:

   Có thá gì cái thành cỏn con ấy.

Ngạc Sùng Cảnh nói:

   Phía trước còn nhiều khó khăn, để bảo tồn lực lượng chúng ta phải thật linh hoạt khôn khéo hơn, muốn thành công lớn không cho phép chúng ta tính sai một nước cờ nào.

Ngạc Sùng Văn nói:

   Anh hãy yên tâm.

Có lẽ Ngạc Sùng Văn cũng nóng lòng chiếm thành Tây Giang Châu làm căn cứ quân sự, chưa đầy bảy ngày sau đã vội vả điểm 2 vạn quân tức tốc lên đường vận chuyển phương tiện, dụng cụ để công phá thành.

Nói về Đức Tôn Vương Tử Diệp Lang với tư chất thông minh xuất chúng, hiểu địch, hiểu ta, nghiền ngẫm kế sách trong mật thơ của Tây Thục Vương cộng với thám báo mật báo cập nhật hàng giờ, nơi chiến trận của giặc của ta, dự đoán đi trước một nước cờ, bất ngờ cho giặc. Cũng vừa lúc hai người phái đi bảo vệ mật thư đã về, báo cáo lại tình hình ở bên đó với cơ trí nhạy bén hơn người, Diệp Lang liền đi đến một quyết định mau lẹ táo bạo đầy bất ngờ đối với lũ giặc Ân.

Diệp Lang triệu tập cuộc họp khẩn cấp tuyên bố:

   Giờ quyết tử đã đến, chúng ta hãy chuẩn bị tinh thần cao độ khôn khéo anh dũng tiến lên tiêu diệt lũ ngoại xâm.

Diệp Lang liền ra lệnh:

   Mường Thái nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 2 vạn quân tới đoạn sông Mạc Sầu kết hợp với quân Tây Thục, Tướng Lô Gô tại thung lũng Lau Sậy Hổ Mang phục kích khéo léo, chờ quân Ân vận chuyển hàng nghìn hàng vạn thùng dầu qua đây, khỏi khúc sông Mạc Sầu đi vào thung lũng Lau Sậy thì tấn công tiêu diệt chúng, cho người bắn pháo hiệu lên không ra hiệu là quân ta đã xáp chiến.

Diệp Lang nói nhỏ dặn thêm gì đó, chỉ nghe Mường Thái nói xin tuân lệnh.

   Đinh Hoàng nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân cùng Nê Diêng tướng quân điểm 2 vạn quân, mỗi tướng 1 vạn quân từ hướng Đông bọc lên đánh lên doanh trại của giặc, khi nhìn thấy trên thành Tây Giang bắn pháo lệnh đỏ. Tuân lệnh.

   Tùng Quang nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân cùng Khơ Nia tướng quân điểm 2 vạn quân mỗi người 1 vạn, từ hướng Tây bọc đánh xuống doanh trại của giặc khi nhìn thấy bên trong thành Tây Giang bắn pháo lệnh đỏ. Tuân lệnh.

   Hoàng Độ nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân cùng Hoàng Cao mỗi người chỉ huy 1 đội kỵ binh thiết giáp, mỗi đội 200 kỵ binh chủ lực xáp chiến với đội quân thiết giáp chủ lực của giặc. Tuân lệnh.

   Còn ta cùng 3 cha con Trung Đại Nhân thống lãnh 4 vạn quân tấn công vào chánh diện doanh trại của giặc.

Được phân công nhiệm vụ 3 cha con Trung Đại Nhân vô cùng phấn khởi, mỗi người mỗi vạn quân xung trận tiêu diệt kẻ thù. Ba cha con Trung Đại Nhân nghĩ: Trong đại họa không chết, thì thường hay gặp đại phúc còn gì sung sướng hơn là kề vai sát cánh chiến đấu quân thù với Đích Tôn Vương Tử, là vị Quốc Vương tương lai, Hùng Quốc Vương đời thứ 4 chúa tể của nước Văn Lang. Nhất là Ngọc Thiên Hương nàng sung sướng vô cùng.

Nói về Ngạc Sùng Văn phó thống soái của giặc Ân với 2 vạn quân, hàng nghìn xe nặng nề chậm chạp, nhắm hướng Tây Giang Châu xuất phát, càng lúc càng đi sâu vào lãnh địa Văn Lang, dọc theo khúc sông Mạc Sầu, chạm chân lên thung lũng Lau Sậy và cứ thế mỗi lúc tiến sâu thêm, gần hết khu thung lũng Lau Sậy đầy con rắn độc vừa đụng khu rừng mây, khúc giữa khúc đuôi con rắn độc đều nằm gọn trong thung lũng Lau Sậy rừng Hổ Mang. Bổng có một tiếng động, rồi im bặt, đoàn xe vẩn cót két cọt kẹt nặng nề lăn bánh. Tiếng động lần hai lại xuất hiện, không phải tiếng động thường mà là tiếng động của pháo lệnh tấn công:

Thế là:

Mỗi hòn sỏi đá mỗi gốc cây

Đều có quân Nam ẩn núp đầy

Có lẽ căm thù quân xâm lược

Oán thù lên tới vạn tầng mây

Truyền thống anh linh thời dựng nước

Rền vang kim cổ rạng Đông Tây

Giặc Ân một lũ ngông cuồng quá

Lau Sậy vùi chôn xác giặc đầy.

Ngạc Sùng Văn nghe thấy tiếng động lạ ở rừng Lau Sậy đã sinh nghi, có cảm giác như có quân binh mai phục, nhưng nghĩ lại quân ta đã đi qua khu thung lũng này rồi lên tới 12 vạn quân cũng không phát hiện được gì, hơn nữa quân ta tiến sâu vào đất Văn Lang cả trăm dặm, nơi đây đang thuộc quyền kiểm soát của quân ta nên không chú ý tới tiếng động lạ ấy nữa mà chỉ chăm chú vận chuyển hàng hóa phương tiện công phá thành đến nơi đến chốn mà thôi.

Tiếng động thứ hai xuất hiện hàng loạt pháo lệnh tử chiến đã nổi lên, quân Ân kinh hoàng ngơ ngác. Mưa tên, bão giáo xé gió vang động cả một vùng lao tới xơi đẹp lũ giặc Ân, tiếng ngựa hí, tiếng hò reo tử chiến cọng thêm gươm đao giáo mác chạm nhau đinh tai nhức óc, quân Ân bất ngờ bị động trúng tên, trúng lao, trúng đao, trúng kiếm chết la chết liệt. Quân Văn Lang phục kích đông như kiến lại nắm phần chủ động chiếm mọi ưu thế quân Ân không thể nào chống trả nỗi trước sự bao vây lớp lớp.

Hai vị tướng bảo vệ Ngạc Sùng Văn nói:

   Phó thống soái hãy chạy mau.

Tức thời ngựa đạp lên quân mở đường cho Ngạc Sùng Văn chạy thoát, vòng vây cánh Tây Bắc liền phá vỡ quân Ân ào ào chạy thục mạng. Vừa thoát khỏi vòng vây hơn 2 dặm, quay đầu nhìn lại, có lẽ 10 vạn quân phá vòng vây đã chụm hết bảy, chỉ còn lại 3 nghìn. Hai vị tướng quân giặc Ân ngăn cản không cho quân Văn Lang đuổi theo, đã ngã gục tại sa trường.

Ngạc Sùng Văn không còn nghĩ ngợi gì thêm nữa giục ngựa phi như bay, nhắm hướng Tây Bắc chạy thục mạng. Cho đến khi không còn nghe tiếng reo hò của quân Nam nữa, thời mới hay mình đã lạc vào nơi hiểm địa của dãy núi Hùng Phong Sơn, liền kinh hãi chỉ một con đường độc đạo duy nhất, hai bên là vách núi cao sừng sững vắng vẽ im liềm mới an tâm phần nào liền xuống ngựa ngồi nghỉ lấy lại sức lực.

Không bao lâu thời 3 nghìn quân sống sót cũng đã theo tới, Ngạc Sùng Văn bây giờ mới tỉnh hồn trở lại than vắng thở dài:

   Trời hại ta rồi. Trời hại ta rồi, ta sẽ ăn nói làm sao đây.

Càng nghĩ càng buồn không tả. Nhìn cảnh binh lính tơi bời xơ xác, kẻ nằm dưới đất, người dựa gốc cây, vũ khí rời thân, mặt mày hốc hác. Thầm nghĩ: nếu gặp phải đàn bà phái yếu cũng không đủ sức để chống trả, huống chi gặp quân mai phục ở đây thì kể như là hết đời.

**************

PHẦN 23

Nói về Đích Tôn Vương Diệp Lang cùng ba cha con Trung Đại Nhân thống lãnh 4 vạn quân chủ lực đánh thẳng vào trung tâm đầu não của giặc. Khi đoàn quân xuất phát đã hơn sáu dặm thời tới đồi Sằm, Chà Là. Đứng trên đồi cao nhìn về hướng Đông Bắc chợt có luồng gió mát thổi đến, làm cho 4 người cảm thấy dễ chịu tinh thần tỉnh táo minh mẩn lạ thường. Nhìn cách đóng quân của giặc Ân, theo hình chữ thập tứ vương hơn bốn dặm, mới nhìn thì nghĩ tầm thường, nhưng xét đi xét lại đây là âm dương tứ tượng ngũ hành trận vô cùng lợi hại. Chỉ cần chạm trán một trong bốn đầu của chúng là chúng tỏa ra bao vây tóm gọn không còn một tên, một con quái vật vừa bốn chân vừa bốn tay, trung tâm đầu não ở giữa, vừa chỉ huy, vừa tiếp ứng, co dũi như ý khi xác định con mồi.

Ngọc Thiên Hương khen:

   Cách đóng quân của giặc quả nhiên lợi hại.

Trung Đại Nhân nói:

   Dù thế trận lợi hại đến đâu cũng có cách phá.

Ngọc Thiên Hương nói:

   Muốn phá được nó khó mà nói trước được vì còn coi cái tài của người điều khiển bình thường hay xuất chúng, nhìn thấy được chỗ sơ hở hoặc đưa quân thọc thẳng vào yếu huyệt triệt phá hạ gục chúng.

Nghe Ngọc Thiên Hương bình luận phân tích thế trận đóng quân của giặc, nắm bắt cho được cốt lõi, từ người chỉ huy tài trí và cách biến hóa điều động binh lính của chúng, hoạch định ra cách đối phó mới nắm chắc thành công. Diệp Lang không khỏi thầm phục người con gái tài sắc vẹn toàn này, nên càng yêu quí Thiên Hương hơn.

Diệp Lang nói:

   Thiên Hương phân tích chí lý. Những ở đời, thông thường chiến trận hiểu người hiểu ta, dồn địch vào chổ chết là việc khá nguy hiểm, đôi khi còn thất bại nữa là khác, trừ khi chúng ta cao tay ấn hơn địch nhiều, hiểu rõ mọi ý định của chúng giành lấy mọi chủ động, thậm chí chúng ta cần phải đi trước một hai nước cờ, xảo kế cùng thủ đoạn, biến giả thành chân, biến hư thành thực, luôn luôn tạo bất ngờ đối với địch, vào yếu tố thành công là những thủ đoạn đầy nanh vuốt sắc bén.

Thơ rằng:

Đánh giặc ngoại xâm chớ nhơn từ

Muôn nghìn thủ đoạn, vẫn không dư

Một lũ yêu tinh, đầy hung ác

Giết người cướp của, tội hà như

Hiếu trung đâu thể, ngồi chờ chết

Ngoại xâm tội ác, vạn Thiên thư

Giáo Đao cung Kiếm, muôn vạn lớp

Tiến lên nghiền nát, chớ nhơn từ.

Trong lúc Diệp Lang đang bàn luận binh pháp thì một luồn linh cảm đã báo hiệu trận chiến nơi thung lũng Lâu Sậy đã xảy ra, Diệp Lang dõi mắt về nơi xa xăm đó. Một lúc lâu pháo đỏ trên thành Tây Giang Châu đã phóng lên. Có thế chứ lẽ nào ta đã tính sai, Thiên Hương định hỏi, nhưng cha nàng ra hiệu bảo im, đây là lúc quyết định một còn một mất với giặc Ân.

Đây nói về Triệu Tử Quân nhận được mật thơ chỉ đạo của Ngạc Sùng Văn tạm thời rút quân về doanh trại, chuẩn bị chất đốt dụng cụ phá thành, để lại 3 nghìn quân theo dõi tình hình động tịnh trong ngoài thành, kiểm soát chặt chẽ, phát hiện có người là bắt ngay, dù cho đó là con gà con chó con mèo hoặc là chim trên không cũng bắn hạ gục. Trong lúc chờ đợi quân tiếp viện đến mới ra tay hành động theo lệnh phó thống soái Ngạc Sùng Văn.

Trong lúc chờ đợi quân tiếp viện đến Triệu Tử Quân luôn kiêu căng tự đắc khoác lác nói:

   Thành Tây Giang Châu không còn đến tới ngày mốt, chúng ta tha hồ mà ăn mà uống, thưởng thức món ngon vật lạ, sơn hào hải vị, rượu ngon gái đẹp đất phương Nam. Nhưng đó mới là sự khởi đầu còn về sau thì hì hì tha hồ mà hưởng.

Thấy các tướng có vẻ sốt ruột muốn nghe cho hết câu, liền chậm rãi nói:

   Chúng ta tha hồ mà vơ mà vét mà hưởng khoái lạc, dân Văn Lang chỉ là dân đen nô lệ, làm tôi làm tớ hầu hạ chúng ta mà thôi. Chúng ta vơ vét cho hết tài nguyên non sông đất nước Văn Lang, đất sạch, biển sạch, núi còi, nhân tài giết đi người ngu để lại mà xài, làm chó săn cho chúng ta.

Các tướng nghe chủ soái nói sướng cả mình, thi nhau đấm bóp nịnh hót Chủ Soái, thế là bọn chúng thi nhau cười lên khoái trá, ai nấy cũng ghê tởm phát ớn.

Bổng tiếng pháo, tiếng pháo của ai nhìn nhau ngơ ngác, một bóng người hớt ha hớt hãi mặt không còn chút máu, chưa tới nơi đã vội lên tiếng:

   Bẩm chủ soái, bẩm chủ soái.

Triệu Tử Quân quát lớn:

   Có việc gì? Có việc gi?

Tên lính thám báo lấy lại bình tỉnh:

   Bẩm chủ soái quân tiếp viện đã bị quân Văn Lang bao vây tấn công rồi.

Cái gì? Cái gì? Triệu Tử Quân té ngữa, chưa kịp ngồi dậy lại có quân thám báo vào báo:

   Bẩm chủ soái quân Văn Lang không hiểu từ đâu đến, mọc ra như nấm, lúc nhúc bò ra đông như kiến, tấn công như vũ bão Ngạc Phó Thống Soái bỏ chạy thục mạng sống chết chưa biết ra làm sao, 2 vạn quân tiếp viện đi đời, tất cả đều chầu âm phủ.

Triệu Tử Quân ngơ ngơ ngác ngác lồm khồm ngồi dậy, lại có quân thám báo vào báo:

   Bẩm chủ soái, quân Tây Giang đã và ra khỏi thành tấn công ta rồi, thế mạnh như Cọp vồ mồi, như mèo chụp chuột, như nước vỡ đê cuồn cuộn ập tới.

Cái gì? Cái gì? Ngươi nói cái gì? Tử Quân té ngồi xuống đất, chưa kịp ngồi dậy lại có quân thám báo vào báo:

   Ba anh em nhà Tây Thục đã tấn công doanh trại chúng ta, 3 nghìn quân bao vây thành Tây Giang đã bị quân Nam xẻ thịt rồi.

Triệu Tử Quân thét lớn:

   Tử chiến, tử chiến.

Các tướng lĩnh tuân lệnh điều quân xung trận.

Hồ Ma Yêu nói:

   Bẩm Chủ Soái ba anh em nhà Tây Thục có chi đáng sợ. Để thuộc hạ sai Cạp Tinh Tướng quân cùng Trăn Tinh Tướng quân lấy đầu bọn chúng cho rồi.

Lúc bây giờ Triệu Tử Quân đã bình tỉnh trở lại. Liền lên đài quan sát phất cờ bắn pháo điều khiển hiệu lệnh. Thế là trận âm dương, tứ tượng, ngũ hành, chuyển động sát khí trùng trùng ngựa người lớp lớp. Âm dương, tứ tượng ngũ hành, liên kết biến hóa. Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ tương sanh tương khắc hổ trợ cho nhau. Quân Văn Lang đều bị đánh bật trở ra không tiến vào doanh trại giặc Ân được.

Nói về thành Tây Giang quân binh tuôn ra như nước lũ, tiêu diệt 3 nghìn quân Ân như giết cào cào châu chấu, và đang xông tới đánh thẳng vào cánh quân phía Bắc doanh trại của giặc. Tức thời Diệp Lang cho bắn pháo hiệu tấn công toàn cục. Đồng loạt bốn phương tám hướng ngựa người chuyển động ầm ầm đánh thẳng vào doanh trại của giặc.

Nhắc lại: Nói về Triệu Tử Quân trên đài cao thấy Quân Văn Lang đông như kiến bốn phương tám hướng ồ ạc tấn công doanh trại. Liền phất cờ bắn pháo hiệu lệnh tức thời âm dương, tứ tượng, ngũ hành tương sanh tương khắc biến hóa. Chuyển động ão diệu vô cùng. Đánh bật quân Văn Lang ra khỏi vành đai doanh trại.

Thì ngạo khí nổi lên:

   Ta sẽ cho chúng mầy biết thế nào là lợi hại của âm dương, tứ tượng, ngũ hành trận pháp. Dù cho có 90 vạn quân cũng chỉ đút đầu vào lửa mà thôi.

Cuộc đọ sức giữa con nhện 4 chân âm dương tứ chi, tứ tượng, ngũ hành trận, cùng con bạch tuột 8 chân bốn phương tám hướng tấn công, lúc thời như cuồng phong vũ bão, lúc thời như thiên lôi địa chấn, lúc thời như sấm sét, lúc thời như thát đổ triều dân, giáo gươm, người, ngựa trùng trùng điệp điệp, tên lao cuồn cuộn xối xả như mưa trút. Bỗng thấy quân Nam xông ra một tướng đầu đội kim khôi, mình mang giáp sắt, mặt mày khôi ngô tuấn tú, cỡi con ngựa Hắc Long Câu oai phong lẩm lẩm, khai pháo dẩn 1 nghìn quân đột phá xung trận, người đó không ai khác chính là Trung Hoài Nghĩa anh Ngọc Thiên Hương con Trung Đại Nhân.

Bên kia giặc Ân không kém từ trong cung thổ trung ương doanh trại của giặc, xuất hiện một tướng lĩnh đầu đội kim khôi, mình mang giáp đồng, cỡi con ngựa Xích Long Câu oai phong lẩm lẩm không kém gì Trung Hoài Nghĩa. Đây là tướng Chu Hạo Thiên cháu của Chu Công nước Chu dẫn 1 nghìn quân đối đầu xáp chiến.

Hạo Thiên hung hăng hét lớn:

   Nhóc con nạp mạng đây.

Tức thời người ngựa xông tới chém xuống đầu Trung Hoài Nghĩa.

Trung Hoài Nghĩa hét lớn:

   Chết nầy ác tặc ngoại xâm.

Long Đao xé gió gào thét chém xuống đầu giặc ầm ầm. Tướng giặc hồi thương chống trả đùng đùng ầm ầm, dội vang không ngớt, đinh tai nhức óc. Đao thương chơm chớp thi nhau tóe lửa 20 hiệp nhanh chóng trôi qua. Trung Hoài Nghĩa càng đánh càng hăng, càng đánh càng lấn thế, vó ngựa thi nhau rồm rộp cát bụi mịt mù. Thấy tướng giặc có bề yếu thế. Trung Hoài Nghĩa liền dùng tuyệt chiêu, chiêu bí hiểm nhất trong 72 chiêu Đao pháp. Đó là chiêu Quỷ Ảnh Ma Đao tuyệt chiêu, chiêu này rất tổn sức nhưng hiệu quả vô cùng, chỉ thấy Trung Hoài Nghĩa cả người lẩn Đao bay lên không, tức thời ánh Đao chập chờn như Ma Quỷ, chỉ nghe ầm ầm phựt phựt, cái đầu của tướng giặc bay đi lông lốc. Quân Nam lấn thế ào tới xông lên chém quân Ân như chém chuối.

Triệu Tử Quân thấy Hạo Thiên tử nạn thời kinh hãi. Điều động đội quân thiết giáp bao vây 1 nghìn quân Văn Lang cùng Trung Hoài Nghĩa, đội quân thiết giáp của giặc Ân vô cùng lợi hại, 1 nghìn quân Văn Lang nháy mắt bị chúng chém sạch, Trung Hoài Nghĩa lâm nguy ngàn cân treo sợi tóc.

Ngọc Thiên Hương kinh hãi thét lớn, nhanh như tia chớp cả người lẩn ngựa như vệt khói mờ. Diệp Lang còn nhanh hơn nữa như luồng gió thoảng hai vệt trắng như hai tia sáng bay vào trận giặc. Đội quân thiết giáp đang cuồn cuộn siết chặt vòng vây, chuẩn bị nhả cung tên lao vào Hoài Nghĩa xối xả, sanh mạng Hoài Nghĩa như cá nằm trên thớt chờ con dao băm xuống nữa là xong.

Trung Đại Nhân hốt hoảng thời sự việc xảy ra làm ông bàng hoàng sửng sốt. Hoài Nghĩa đã được cứu ra khỏi vòng vây thiết giáp của giặc, nói ra thời chậm còn sự việc xảy ra mau lẹ nhanh vô kể. Hoài Nghĩa biết mình khó thoát chết, chuẩn bị cho tử chiến lần cuối cùng, sự việc kết thúc chỉ còn tính bằng giây nữa thôi. Cánh tay Trung Hoài Nghĩa chuẩn bị vung lên lần cuối, tấn công vào đội quân thiết giáp, thời thấy hai vệt trắng bay vào nhanh như chớp Hoài Nghĩa biết đó là hai con ngựa thần đã cứu mình ở Hàm Tử, liền nương theo kình lực của hai người bay lên không, nắm lấy đuôi Thần Mã bay ra khỏi trận địa. Đúng lúc đúng thời ăn khớp nhau kì lạ, tên giặc bắn ra không trúng đích lại trúng nhầm nhau la chí chóc.

Trên đài cao Triệu Tử Quân còn đang sửng sờ diễn biến đầy bất ngờ kỳ ảo đến ngơ ngác, chừng thấy vuột mất con mồi tức quá hét lên như sấm. Sanh mạng của Trung Hoài Nghĩa lần nữa đã được Diệp Lang cứu sống, ơn như trời biển, cha con Trung Đại Nhân chỉ còn biết lạy tạ ơn cứu tử mà thôi.

Diệp Lang nói:

   Chúng ta ra sức bảo vệ non sông Tổ quốc, giữ vững chủ quyền độc lập thà hi sinh tất cả nhất quyết không làm nô lệ, tôn thờ Hiến pháp Văn Lang, làm theo Hiến pháp Văn Lang, trung hiếu tiến lên tiêu diệt quân thù bảo vệ quê hương Tổ Quốc, bảo vệ nòi giống Tiên Rồng, con đường chánh nghĩa mà ông cha ta đã dày công hàng nghìn nghìn năm xây dựng. Lời dạy bảo ấy dù trải qua mấy nghìn năm cũng không phai mờ.

Từ Thuở Hồng Hoang mở đất trời

Rồng Tiên nẩy nở mãi sinh sôi

Nhân loại anh em, cùng một mẹ

Yêu thương đùm bọc, sống trên đời

Đoàn kết diệt trừ, quân xâm lược

Giữ gìn tất cả, nước non ôi

Hiếu trung trung hiếu, vào trận chiến

Kể chi sống chết, của cuộc đời

Con cháu Tiên Rồng, luôn ghi nhớ

Hào khí Nam Thiên, mãi chóa ngời

Truyền thống anh linh, luôn tỏa sáng

Trổ trung trổ hiếu, trổ bề tôi

Tiến tới xông lên, tiêu diệt giặc

Giữ non giữ nước, mãi vạn đời.

**************

PHẦN 24

Nói về Đinh Hoàng tướng quân cùng Nê Diêng tướng quân, theo lệnh của Diệp Lang chia làm hai đội quân, từ hướng Đông đánh bọc lên doanh trại của giặc. Nê Diêng tướng quân là nữ tướng tài ba thuộc hạng nhất nhì phái nữ đương thời, theo nữ tướng còn có hai nữ tướng nữa đó là Cham Pha và Ba Na, mỗi tướng chỉ huy 3 nghìn quân đánh thẳng vào phía Đông Nam doanh trại của giặc. Hai nữ tướng cậy mình võ công cái thế lại có ma thuật cao siêu, nhìn thấy pháo lệnh trên thành Tây Giang Châu bắn lên, tức thời xua quân tấn công vào doanh trại của giặc khí thế dậy trời, dậy đất. Trong năm hành, hành mộc là hành nghi binh nhiều nhất, chân giả khó lường. Hai nữ tướng thấy doanh trại giặc Ân bố trí binh lính thưa thớt, nhưng thật ra đông vô cùng với cái phép hư thực, thực hư, ít mà nhiều, nhiều mà ít, thấy yếu mà mạnh, thấy mạnh mà yếu, chân giả, giả chân khó mà lường.

Quân Văn Lang tràn vô doanh trại tấn công như thác đổ, tưởng là phá được âm dương tứ tượng, ngũ hành trận của giặc. Nào hay vị tướng chỉ huy cánh đông doanh trại của giặc Ân, bình tỉnh như chẳng có chuyện gì xảy ra. Phong Thùy tướng giặc là vị tướng có nhiều bản lĩnh, điều khiển binh pháp rất giỏi là con trai lớn của Phong Vương nước Phong. Trước sự tấn công ồ ạc vũ bão của quân Văn Lang, thời hiệu lệnh từ trung ương hành thổ doanh trại của giặc phát động, tức thời Mộc chuyển thành Hỏa, Hỏa chuyển thành Thổ, từ Âm Dương trận chuyển sang Ngũ Hành trận làm cho quân Văn Lang bối rối. Từ Cung Càn phía Nam hành Thổ, đội quân thiết giáp xuất hiện chuyển động theo hướng Đông Nam Tràn tới tấn công thẳng vào quân Văn Lang. Từ hành Mộc chuyển sang hành Hỏa, đội quân thiện xạ, tên độc tên lửa xuất hiện lao vào tấn công quân Văn Lang như vũ bão, quân Văn Lang không cách gì chống đỡ nổi rơi vào thế bị động hỗn loạn.

Từ hành Hỏa thế trận giặc chuyển sang hành Kim, chẻ đội quân Văn Lang một nữa bị đánh bật ra khỏi vòng đai doanh trại của giặc, một nữa bị bao vây trong vòng vây của giặc.

Thơ rằng:

Ngũ hành trận pháp quá cao sâu

Quân Nam khó thắng, cảnh trận đầu

Sa vào ảo trận không lối thoát

Nhị Hùng tử nạn, thảm thương đau

Kìa quân cứu viện, đã xáp chiến

Nước cờ đã bí, giặc tốm thâu

Ngũ hành biến hóa, nào lường trước

Quân Nam đành phải cảnh rơi đầu.

Nói về Nê Diêng tướng quân thấy quân Văn Lang bị đánh bật ra khỏi vòng đai doanh trại của giặc, một nữa bị bao vây rút lui không được thời kinh hoàng. Nê Diêng thúc 4 nghìn quân nhập cuộc phá vòng vây, nhưng trận pháp âm dương tứ tượng, ngũ hành của giặc biến hóa ảo diệu vô cùng. Nhìn thấy quân Ân trùng trùng điệp điệp lớp lớp mênh mông như biển cả Đại Dương, những đợt sóng khổng lồ cuồn cuộn ập tới liên miên đánh bật quân tiếp viện ra khỏi vành đai doanh trại của giặc lớp chết lớp bị thương vô cùng thê thảm.

Hoàng tướng quân cũng chẳng khá hơn là mấy, ra lệnh cho hai vị tướng quân Thạch Lam và Vũ Hòa mỗi tướng 3 nghìn quân tấn công Đông Bắc thọc sâu vào doanh trại giặc như sấm sét.

Quân Ân chống trả rồi rút lui bỏ chạy, quân Văn Lang thọc sâu vào doanh trại giặc Ân thêm nữa, không ngờ thế trận chuyển đổi, thế rút lui bỏ chạy thành thế bao vây, đội quân Ân đang thế yếu chuyển thành thế mạnh, cắt đứt hơn nữa quân Văn Lang lọt vào vòng vây, còn bao nhiêu liền bị đánh bật ra khỏi vành đai doanh trại của giặc.

Nói về Thạch Lam và Vũ Hòa cùng hơn 5 nghìn quân, bị quân Ân dồn ép sâu vào doanh trại của chúng. Càng lúc chúng càng siết chặt vòng vây dồn ép quân Văn Lang vào con đường chết, Hoàng Tướng Quân thất kinh thúc 4 nghìn quân xáp chiến phá vòng vây giải cứu, nhưng nào có được, 4 nghìn quân bị đánh bật ra ngoài thiệt hại nặng nề. Hoàng Tướng Quân cùng Nê Diêng tướng quân nhìn binh lính hơn phân nữa vùi thây trong trận địa, những giọt nước mắt đau thương trở thành những giọt nước mắt căm thù quân xâm lược, sát khí bốc lên ngùn ngụt tận mây xanh.

**************

PHẦN 25

Cánh quân phía Tây do Trùng Quang trướng quân cùng Khơ Nia tướng quân tấn công vào doanh trại của giặc, cũng không khá gì hơn đồng chung số phận thất bại thê thảm. Nhận được tin khẩn cấp quân ta thiệt hại lớn Diệp Lang sững sốt, mắt đổ hào quang liền ra lệnh ở thế bao vây không tấn công nữa. Triệu tập cuộc họp khẩn cấp bàn kế sách phá trận, các quan tướng nắm trọng trách chủ chốt chủ lực, quân Văn Lang bí mật tới chỗ Đích Tôn Vương Tử Diệp Lang.

Nói về nàng An Lạc Tiên xưa nay nỗi tiếng là Quốc Sắc Thiên Hương, khó có người nào hơn được, nay nghe nói có người đẹp hơn mình thời anh ách không tin, hằng mơ ước thấy mặt cho bằng được lại nghe nói Đích Tôn Vương Tử khôi ngô tuấn tú oai phong lắm, thì lòng hiếu kỳ luôn luôn nỗi dậy. Đây là cơ hội để nàng thỏa ước mơ. Thấy cha cùng Thục Mân tướng quân sắp đi đến nơi hội họp bí mật vô cùng trọng đại.

Nàng không được đi, nàng biết thế, nhưng vì cầm lòng không được đành phải lên tiếng:

   Thưa cha, cha cho con theo với.

Ông ngớ người như liền chợt hiểu. Quả đúng đây là cơ hội Lạc Tiên, bỏ mất cơ hội này thì không còn cơ hội nào nữa, để tiếp cận vị Vua Hùng tương lai của nước Văn Lang, nhưng ông còn ngại Thục Mân. Thục Mân hầu như cũng hiểu ý người con gái đẹp như Tiên này, tài sắc vẹn toàn liền gật đầu đồng ý cho đi. An Lạc Tiên mừng quá sít tí nữa thời là lên vì sung sướng. Dưới gốc cây Đại Thụ cành lá sum xuê. Đích Tôn Vương Tử Diệp Lang tuy còn rất trẻ nhưng già dặn khác thường, oai nghi lẩm lẩm ai nhìn thấy cũng sanh lòng kính nễ, đang ngồi ở ghế cao liền xuống ghế thấp ngang bằng với các tướng xem các tướng như anh em một nhà.

Các tướng thấy thế sợ hãi liền quỳ xuống thưa:

   Xin Vương Tôn không nên làm thế chúng thần sẽ có tội.

Diệp Lang nói:

   Tuy ta thân phận là Đức Tôn Vương, nhưng xét cho cùng trăm họ nghìn họ Đồng Bào Thiên Hạ cũng từ bọc trứng Âu Cơ mà ra, từ xưa cho tới nay các Vua Hùng thay nhau trị quốc. Điều lấy Hiến Pháp, Luật Pháp làm vua, tất cả mọi họ tộc, dân tộc đều bình đẳng. Nước Văn Lang ta. Hiến pháp mới thật sự là Vua, còn các Vua Hùng là người đại diện cho dân tộc, người tối cao ra phò chánh giáo Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng duy trì công Đạo xã hội. Giờ này là cái giờ mà tất cả con cháu Tiên Rồng chung lưng đoàn kết, đánh đuổi ngoại xâm giữ vững chủ quyền Độc Lập, quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc mà Đức Cha Trời đã ban cho mọi người. Mà ông cha ta đã thừa kế dày công xây dựng vun đắp hàng nghìn hàng triệu năm và con cháu chúng ta tiếp tục giữ gìn và phát huy nó. Sự thừa kế Văn Hóa Cội Nguồn luôn đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, chung nhau một lòng gánh vác trọng trách của non sông mà Đồng Bào nhân dân luôn tin tưởng ở chúng ta. Với công lao to lớn, bao lớp lớp ông cha đã dày công xây dựng lên non sông Tổ Quốc không phải chỉ có mồ hôi và nước mắt mà còn có cả xương máu. Các anh em con cháu Tiên Rồng chúng ta cũng thế, trước giờ sống chết chúng ta chỉ biết có anh em, đoàn kết muôn người như một quét sạch lũ ngoại xâm.

Giọt nước mắt ôi giọt nước mắt, họ đã khóc, khóc không phải vì sợ kẻ thù xâm lược mà khóc vì được nghe những lời chân lý ấy.

Đích Tôn Vương Tử nói:

   Từ thuở Tổ Tiên Khai Hóa lập lên vũ trụ, Thiên Địa tuần hoàn, con người ra đời, từ thuở Hồng Hoang ông cha ta vẽ lên vũ trụ Thiên Địa Càn Khôn. Hư Không, Vô Cực, Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Ngũ Hành, Bát Quái, Can, Chi, Hào, Quẻ. Tới thời Quốc Tổ thì Vũ Trụ, Thiên Địa Càn Khôn được giải thích một cách rõ ràng, khai thác áp dụng vào hiện thực khoa học đời sống phục vụ con người, nhờ đó mà đời sống con người mỗi ngày một nâng cao. Nhưng đến hôm nay thời khoa học Thiên Địa Càn Khôn Vũ Trụ đã thất truyền, hơn nữa Triệu Tử Quân đã biết khai thác âm dương tứ tượng, ngũ hành làm lợi khí tiêu diệt chúng ta nên chúng ta không có cách phá giải thời khó mà thắng được chúng.

Diệp Lang liền cho quân lính lập đài phá trận đài quan sát để chỉ huy, những hiệu lệnh được ban hành khẩn cấp, các quan tướng nhất nhất ghi nhớ thuộc lòng khi thấy hiệu lệnh. Hiệu lệnh thì nhiều nhưng đại khái những ý chính sau. Trên đài quan sát có cờ âm dương, cờ tứ tượng, cờ bát quái.

Ta phất cờ màu đen, pháo bắn màu đen thời Bắc tấn công. Ta phất cờ đỏ, bắn pháo đỏ thì Nam tấn công. Ta phất cờ xanh, bắn pháo xanh thì đông tấn công. Ta phất cờ trắng, bắn pháo trắng thì Tây tấn công.

Nếu ta phất cờ đen, trắng cùng một lúc thời cánh quân Tây Bắc tấn công. Thấy ta phất cờ xanh, đỏ bắn pháo xanh, đỏ cùng một lúc thời cánh quân Đông Nam tấn công. Thấy ta phất cờ trắng, đỏ, bắn pháo trắng, đỏ thì cánh Tây Nam tấn công. Còn đội quân thiết giáp, đội quân chủ lực phải theo hiệu lệnh màu vàng, pháo vàng kết hợp với màu nào thời di chuyển quân tấn công sang hướng đó.

Từ đầu cuộc họp cho đến kết thúc cuộc họp nàng An Lạc Tiên có nghe thấy gì đâu, hết nhìn Thiên Hương rồi nhìn Diệp Lang lòng buồn rười rượi. Thấy An Lạc Tiên xuất hiện thời Ngọc Thiên Hương liền có ý theo dõi nhất cử nhất động của An Lạc Tiên. Thấy An Lạc Tiên hết nhìn mình rồi nhìn sang Diệp Lang lâu lâu buôn tiếng thở dài thì hiểu tất cả, Lạc Tiên làm sao qua mắt được Ngọc Thiên Hương. Thiên Hương nghĩ Lạc Tiên hoa dung, nguyệt thẹn, cá lặn, nhạn sa, khuynh thành, khuynh quốc. Thời đời nào chịu sánh đôi với người thường tục, anh hùng hào kiệt chưa hẳn đã lọt vào mắt xanh, huống chi là người kém tài kém đức. Đã là trang nhi nữ anh hùng tuyệt đại mỹ nhân thì người nào người nấy thường có ý nghĩ, khuynh hướng giống nhau. Tìm ra đối tượng vừa ý nhưng lại bị đối phương đi trước một bước hớp mất, mà kẻ đi trước ấy còn đẹp hơn mình, một nỗi buồn vô bờ bến, một sự nối tiếc cứ nổi lên lăn lõi vào tâm hồn, có lúc nghèn nghẹn làm sao.

Ngọc Thiên Hương nghĩ ta nào khác chi Lạc Tiên một đóa hoa mong chờ có chủ sự chờ đợi ấy từng giờ từng phút. Ngọc Thiên Hương là người con gái hiền lành tấm lòng bao dung rộng mở, hơn nữa Diệp Lang chưa là gì của nàng, Diệp Lang có quyền lựa chọn Hoàng Hậu, Hoàng Phi trong tương lai, mà vị Hoàng Hậu đó phải có nhiều ưu điểm hơn người, ít ra cũng đủ ba yếu tố Tài, Sắc, Đức. Tài, Sắc vốn đã hiếm quí nhưng Đạo Đức lại còn hiếm quí hơn. Ngay từ bước đầu Ngọc Thiên Hương nhìn thấy Lạc Tiên đã sanh lòng cảm mến ngay, nhìn thấy Lạc Tiên buồn rười rượi thì càng thương mến liền chủ động bước đến chào hỏi làm quen. Người hỏi qua kẻ đáp lại mỗi lúc mỗi hợp ý tâm đầu, giống như hai chị em lâu ngày gặp nhau, nói chuyện không biết ớn càng nói chuyện càng thương nhau hơn. Thế là hai nàng coi nhau như hai chị em ruột Ngọc Thiên Hương lớn hơn một tuổi làm chị, Lạc Tiên nhỏ hơn một tuổi làm em, các tướng ai nấy cũng lấy làm lạ nhưng đây là chuyện của đàn bà ai mà hiểu.

Thấy con muốn ở lại, An Lạc Điền nói:

   Thôi thì con ở lại đây theo cánh quân Ngọc Cô Nương chiến đấu vậy.

Được cha cho phép ở lại Lạc Tiên vô cùng sung sướng nở nụ cười tươi như hoa, nụ cười làm xao động lòng người, tuy không đẹp bằng Ngọc Thiên Hương nhưng cũng là bậc Quốc Thiên Hương đương đại.

Trời sanh hai bậc Thiên Hương

Đức hoa, sắc cánh lại thêm tam tài

Mùa xuân gồm hết trong hai

Xuân trời, xuân đất, xuân hoa, xuân người

Thiên Hương hé nở nụ cười

Non ngây nước ngất rực trời sắc hoa

Nguyệt mờ cá lặn nhạn sa

Trời sanh báu vật để ca luận bình.

Nói về các tướng lĩnh xong cuộc họp ai về vị nấy chuẩn bị cho trận đánh sanh tử, tiêu diệt quân xâm lược. Thục Mân liền mở phong thơ Diệp Lang giao cho theo đó mà làm, xem xét một hồi lâu rồi ra lệnh:

   An Lạc Điền nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 5 nghìn quân hợp với quân Hoàng Tướng Quân chịu trách nhiệm tấn công hướng đông Bắc khi có lệnh ở đài quan sát.

   An Lạc Sơn nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 5 nghìn quân hợp với quân Trùng Quang tướng quân chịu trách nhiệm tấn công hướng Tây.

**************

PHẦN 26

Nói về Ngạc Sùng Văn là vị tướng đầy tài ba đã từng theo Ngạc Sùng Võ, Ngạc Sùng Cảnh làm mưa làm gió ở đất Bắc, nhiều năm chinh chiến phần nhiều là thắng lớn nhờ ở kế hay mưu xảo tuy cũng có thua nhưng chưa có trận nào thê thảm chạy thục mạng như thế này. Hai vạn quân đi tiêu giờ đây chỉ còn hơn 2 nghìn quân có lúc muốn tự tử cho rồi, nhưng nghỉ lại thắng thua nơi chiến trận là chuyện bình thường của con nhà võ, còn nước còn tát, còn binh là còn tiếp tục đánh, thua kèo này ta gầy kèo khác. Tức thời tinh thần phấn chấn trở lại, chuẩn bị tìm lối ra nhìn quanh nhìn quất thấy vách núi hai bên dựng đứng cheo leo cây cối um tùm chỉ có một lối đi duy nhất, con đường độc đạo chạy dài theo hai vách núi mà thôi, cũng không rõ là đường độc đạo này chạy dài đến đâu là chấm dứt.

Ngạc Sùng Văn nghĩ: Con đường này đúng là con đường chết, dù có thiên binh vạn mã khi đã rơi vào con đường này gặp ổ mai phục thời coi như đi đời. Ngạc Sùng Văn xem xét một hồi, ngữa mặt lên trời cười ha hả.

Binh lính lấy làm lạ thầm nghĩ: Thất trận thê thảm mà vẫn còn cười được ư, phó thống soái hóa điên rồi chắc.

Ngạc Sùng Văn lẩm bẩm: Ta thất bại là tại ta hơi chủ quan xem thường đối thủ mà ra, nếu ta cẩn thận một chút thời có lẽ phần thắng đã thuộc về ta, ta thất bại là do cơ may của chúng. Quả thật Văn Lang có người tài an bang tái thế diệu tính xuất quỷ nhập thần thời ta phải bỏ mạng tại nơi đây.

Nghĩ xong nghĩ lại cười lên ha hả, lên ngựa quay đầu tìm lối ra. Có một điều ở đây mà Ngạc Sùng Văn quên nghỉ là tại sao quân Văn Lang bố trí vòng vây thưa thớt ở cánh Tây Bắc, đó chẳng qua là một chiến thuật không ép giặc vào đường cùng tử chiến, mở lối cho giặc tẩu thoát lùa giặc Ân vào hiểm địa để tiêu diệt. Mở lối thoát cho giặc Ân là giảm bớt sức chiến đấu khi bị dồn ép vào đường cùng, đưa chúng vào cảnh giới bị động cũng vì có lối biến hóa như thế nên quân ta thắng lớn ít hao quân tổn thương quân Ân mắc vào kế bẩy liên miên nhưng nào hay biết gì. Có lẽ quân Văn Lang chưa ra tay vội là chờ xem có con mồi nào lọt lưới nữa không.

Nhìn thấy Ngạc Sùng Văn lên ngựa tìm lối ra tức thời pháo lệnh tử chiến đã bắn lên không, quân Ân sợ hãi la hoảng, pháo pháo không ra tiếng có người sợ quá chết luôn. Ngạc Sùng Văn ngơ ngác hồn bay phách lạc tiếng hò reo tử chiến dậy trời dậy đất, mưa tên bão giáo lao xuống ầm ầm. Quân Ân giờ này sức tàn lực kiệt hoảng khiếp dẩm đạp lên nhau cũng đủ chết nói gì đến tên lao trút xuống ầm ầm ra tương ra cám.

Ngạc Sùng Văn cắm đầu cắm cổ bỏ chạy nhưng chẳng hiểu là mình chạy đi đâu. Đến khi nghe tiếng quát to như sấm:

   Tướng giặc chạy đâu cho thoát nạp mạng đây.

Theo tiếng quát là một luồng kinh lực ập tới làm cho Ngạc Sùng Văn cả người lẩn ngựa bị dội ngược trở lại. Người quát to như sấm ấy không ai khác hơn là Văn Quang tướng quân cùng một số quan tướng giăng hàng ngang chận đầu. Ngạc Sùng Văn biết mình khó sống bằng có ý nghĩ hai bên cùng chết. Quan tướng quân là người rất nhậy bén hiểu rõ ý định của tướng giặc: Ngọn lửa sắp tắt cũng phực lên rồi mớt tắt, chó đã bị dồn đường cùng thì quay lại cắn vô cùng lợi hại, không thể lường trước những điều bất ngờ có thể xảy ra.

Liền ra lệnh đội quân xạ tiễn làm thịt vị phó thống soái giặc Ân cho rồi, tức thời hàng trăm mũi tên xé giáo lao ra cùng một lúc, cùng mục tiêu thi nhau cắm vào người Ngạc Sùng Văn, thế là xong đời một tướng giặc đã từng một thời ngang dọc ở đất Bắc.

Thơ rằng:

Trời sanh nhân loại có tâm

Gian tham đánh mất lương tri làm người

Ngoại xâm ngược ý cha trời

Phạm vào thiên luật, để rồi tiêu tan

Đến khi thịt nát xương tan

Mới hay âm phủ rền vang gông xiềng

Chết đời xâm lược chết điên

Chết đầy chết đọa liên miên ngục tù.

Tiêu diệt xong tên phó thống soái giặc Ân. Văn Quang tướng quân mở phong thơ mới nhận được cách đây vài ngày Diệp Lang gởi cho nội dung thơ ngắn gọn như sau: Tiêu diệt xong tên phó thống soái của giặc tức tốc dẫn quân đến thung lũng Lau Sậy rừng Hổ Mang hiệp với quân Mường Thái, quân Lô Gô, tới huyện Hà Lâm địa phận Hồ Châu tại dốc Tu Hú phục kích. Chờ lệnh chỉ đạo tiếp theo.

**************

PHẦN 27

Nói về Đích Tôn Vương Tử Diệp Lang ra quân đã bị âm dương, tứ tượng, ngũ hành trận đánh cho thê thảm, chụm hơn vạn quân đi đời 6 tướng bằng dốc chí tìm cách phá trận cho bằng được, liền cho quân lập đài quan sát đối diện với doanh trại của giặc.

Khi đài quan sát đã lập xong Diệp Lang nói với các tướng lĩnh:

   Âm dương, tứ tượng, ngũ hành trận vô cùng lợi hại, nhưng chúng ta biết cách đối phó cũng chẳng khó chi, chỉ cần theo hiệu lệnh sức mạnh của Bát Quái trận phát huy sức mạnh tác dụng của nó, khống chế âm dương, tứ tượng, ngũ hành thì coi như sức mạnh quân Ân tan vỡ.

   Đại Lực tướng quân nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 5 nghìn quân tinh nhuệ đánh thẳng vào cánh phải doanh trại giặc khi có hiệu lệnh. Tuân lệnh.

Đại Lực tướng quân sức mạnh hơn người, với cặp song chùy nặng hơn tạ có thể nói xông pha chiến trận như đi vào chổ không người.

   Cái Thế Trần Quân nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 5 nghìn quân đánh vào cánh trái doanh trại của giặc khi có hiệu lệnh. Tuân lệnh.

Với thanh Đại Long Đao nặng hơn tạ có thể nói Cái Thế Trần Quân xông vào quân thù như cọp xông vào đàn dê mặc sức mà tung hoành mà xơi mà chém.

   Trung Đại Nhân, Trung Hoài Nghĩa nghe lệnh. Có thuộc hạ, nhị vị tướng quân điểm mỗi người 1 vạn quân đánh thẳng vào trực diện chính giữa trung đạo khi có hiệu lệnh. Tuân lệnh.

   Nhị vị tiểu thơ nghe lệnh. Có thuộc hạ, nhị vị tiểu thơ điểm mỗi người 5 nghìn quân theo sau hậu thuẩn cả ba cánh quân khi xảy ra biến cố. Tuân lệnh.

   Đội quân thiết giáp tả hữu nghe lệnh. Có thuộc ha, nhị vị tướng quân có nhiệm vụ khống chế đội quân thiết giáp của địch xuất hiện xung trận. Tuân lệnh.

Phân bố lực lượng xong đâu vào đấy Diệp Lang lên đài quan sát, nhìn về phía doanh trại của giặc hai con mắt tỏa hào quang sắc mặt hiện lên đầy vẻ tự tin kiên quyết.

Nói về Triệu Tử Quân điều khiển âm dương tứ tượng, ngũ hành trận, nướng hơn 1 vạn quân Văn Lang nhưng không dám kêu căng tự đắc nữa mà càng cẩn thận tỉnh táo sáng suốt hơn. Nhìn thấy quân Văn Lang mỗi lúc một đông, không hiểu ở đâu ra bốn phương tám hướng người người lớp lớp ngựa ngựa trùng trùng bao vây điệp điệp thời xửng tóc gáy.

Hồ Ma Yêu nói:

   Xin chủ soái yên tâm theo con mắt sáng của thuộc hạ, thì quân Văn Lang chỉ ỷ vào số đông mà thôi, điều này không có gì đáng lo, đó chẳng qua là rác rưởi gặp cuồng phong thời cuốn sạch.

Nhìn thấy quân Văn Lang thiết lập đài quan sát Tử Quân hơi lo, nghe lời nói đầy tự tin của Hồ Ma Yêu. Triệu Tử Quân đem hết tài năng điều khiển trận. Trận pháp càng lúc càng lợi hại. Còn Hồ Ma Yêu luôn luôn tin tưởng tài năng của ba vị tướng quân như Cạp Tinh, Mãng Xà Tinh, Trăn Tinh còn lão thì hì hì khỏi nói thần thông quản đại trùm thiên hạ.

Tiếng tù đã hú lên từ đài quan sát của Diệp Lang hồi thứ nhất, hồi thứ nhì. Triệu Tử Quân ở trên đài cao của giặc thét lớn:

   Hãy chuẩn bị tinh thần chiến đấu quân Văn Lang sắp tấn công, sắp tấn công.

Hồi tù thứ ba đã nỗi lên pháo lệnh tử chiến đã nổ, trên đài cao chi phía Nam, Diệp Lang ra lệnh phất cờ trung Đạo bắn pháo đỏ. Tức thời cha con Trung Đại Nhân rút kiếm chỉ thẳng về doanh trại của giặc thét lớn tấn công, tức thời 2 vạn quân xông lên cuồn cuộn, quân reo dậy đất ngựa hí vang trời, gươm, đao, giáo, mác chơm chớp ầm ầm, tên thét tên gầm mù mịt tiến lên, phải chăng đây là sức mạnh của lòng căm thù giặc xâm lược tàn phá quê hương Tổ Quốc nước Văn Lang, quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh trào dân ngùn ngụt, chết sống nào có kể chi.

Thơ rằng:

Một bên là lính Kiến Càng

Một bên là lính Kiến toàn màu đen

Kiến Càng cuồn cuộn xông lên

Ầm ầm gươm giáo cung tên ầm ầm

Kiến đen gãy cổ rụng đầu

Thây nằm la liệt còn đâu cuộc đời

Kia kìa tướng giặc ngã rồi

Kiến Càng tràng tới đạp nhầu Kiến đen.

Trên đài cao Triệu Tử Quân thấy quân Nam từ trung lộ ào ào xông vào như nước vở bờ tấn công vào doanh trại quân Ân như vũ bão, quân Ân chống trả không nỗi vở vành đai quân Văn Lang liền thọc sâu vào doanh trại của giặc.

Triệu Tử Quân tức tốc phất cờ hiệu lệnh điều khiển đội quân chủ lực, từ trung ương hành thổ tuông ra xáp chiến chống đở, dẩn đầu là một tướng mặt mày hung dữ tên là Tô La Ác Đao, nỗi tiếng là hung ác thuộc hàng bậc nhất của đất Bắc, y giục ngựa xông ra lao tới chém một Đao như trời giáng xuống đầu Trung Đại Nhân. Trung Đại Nhân hồi thương lên đở choảng một tiếng đinh ai nhức óc, tuy lớn tuổi nhưng trường thương nặng 50 cân như Rồng bay Phụng múa đánh đở đâm lịa lịa. Tướng Tô La Ác Đao nào có chịu thua kém, càng đánh càng hăng loáng cái đã 30 hiệp, sức già khó hơn sức trẻ chống đỡ mỗi lúc một yếu dần, nguy hiểm sắp tới nơi. Cuộc xáp chiến tướng đánh tướng, quân đánh quân, gươm, đao, giáo, mác rền trời rên đất.

Trung Hoài Nghĩa đang thúc quân tử chiến thấy cha mình càng lúc càng rơi vào thế hiểm nguy, liền thét lớn phi ngựa tới chém một Đao nộ khí xung thiên đưa Đao lên đở ầm một tiếng kinh thiên động địa. Trung Đại Nhân lùi lại chỉ huy binh lính tấn công, kiểu đánh xa luân phiên hết cha rồi tới con đánh tới tấp, dồn dập làm cho Tô La Ác Đao xính xáng sắp đi đời.

Bổng nghe một tiếng quát như sấm:

   Đồ nhái con nạp mạng đây.

Đó là tiếng quát của Trăn Tinh. Nói về Hồ Ma Yêu đứng ngoài lượt trận thấy lối đánh của hai cha con Trung Đại Nhân kỳ quái như thế lấy làm tức giận. Thấy Tô La Ác Đao sắp mất mạng liền sai Trăn Tinh xung trận tiêu diệt hai cha con Trung Đại Nhân, quét sạch 2 vạn quân Nam đang hăng máu bất kể sống chết xông lên chém giết quân Ân như vũ bão.

Vũ khí Trăn Tinh vô cùng quái dị vừa Đao vừa Thương vừa Kiếm một khi đã vung lên liền phát ra âm thanh quái dị làm người nghe xây xẩm mặt mày, nhắm đầu Trung Hoài Nghĩa xả xuống xé gió kêu u u đến rượn người, âm thanh quái dị phát ra muốn thủng màng nhỉ. Trung Hoài Nghĩa kinh hoảng. Trung Đại Nhân xây xẩm mặt mày, tình thế đảo ngược cha con Trung Đại Nhân sắp mất mạng tới nơi.

Thời nghe tiếng quát lanh lảnh nỗi lên:

   Yêu Tinh hỗn láo.

Tức thời một luồng kình lực như di sơn đảo hải, như tường đồng vách sắt ngăn chặn không cho Trăn Tinh lao tới. Trung Hoài Nghĩa thấy Thiên Hương ngăn chặn địch thủ, tinh thần phấn chấn với đường Đao tuyệt kỹ, ánh Đao chơm chớp nỗi lên chỉ nghe ầm ầm. Tên tướng giặc Tô La Ác Đao đã bị chặt làm đôi, quân Văn Lang thắng thế binh lính ào ào xông lên đâm chém xối xả vào quân Ân như mưa trút chết la chết liệt.

Nói về Trăn Tinh nghĩ rằng lấy mạng cha con Trung Đại Nhân dễ như lấy đồ trong túi, không ngờ bị luồng kình lực ngăn chặn đẩy lùi trở lại lấy làm kinh hãi. Đến khi thấy người phóng ra kình lực ngăn mình lại chỉ là một tiểu thơ mảnh mai trẻ tuổi liền nỗi cơn thịnh nộ há mồm trợn mắt thổi ra hai luồng kình phong, một luồng vào quân Văn Lang đang hăng máu tấn công quân Ân như vũ bão. Tức thời trời đất u ám cuồng phong nỗi dậy ù ù quân Văn Lang ngã nghiêng ngã ngửa có người bị cuốn bay lên không tơi bời thê thảm. Ngọc Thiên Hương chưa kinh nghiệm chiến đấu bị cuồng phong thổi vào người nếu không nhờ áo giáp Tiên che chở thời kể như toi mạng. Bạch Long Thần Mã hí vang trời thổi ra một luồng kình phong chống trả. Ngọc Thiên Hương lấy lại bình tỉnh rút kiếm Tiên ra chỉ lên không niệm chú.

Nói về quân Văn Lang đang hăng máu tấn công, bổng thấy trời đất tối mù tối mịt, cuồng phong nỗi dạy ù ù cát bay đá chạy, binh lính lăn chiên, ngã nghiêng, ngã ngửa kinh hồn khiếp vía hổn loạn tơi bời không hiểu chuyện gì xảy ra. Bổng thấy Ngọc Thiên Hương lâm râm niệm chú chỉ tay lên không, tức thời sấm sét nỗi lên ầm ầm đánh xuống luồng quái phong do Trăn Tinh thổi ra đang hoành hành dữ dội làm cho quân Văn Lang hổn loạn đại bại đến nơi, luồng quái phong bị sét đánh tan biến đâu mất. Trăn Tinh tức quá bị Ngọc Thiên Hương phá phép nỗi giận bốc lên phóng tới chém Ngọc Thiên Hương, với sức mạnh di sơn đảo hải, kình lực tuông ra cát bụi mịt mù. Ngọc Thiên Hương rút kiếm Tiên chống trả múa lên hào quang chói mắt, thanh kiếm Tiên mong manh rất nhỏ. Nhưng đến khi Ngọc Thiên Hương cả người lẩn ngựa bay lên không chém xuống thanh kiếm nhỏ bé vừa rời khỏi tay Thiên Hương liền biến thành thanh kiếm khổng lồ dài chín, mười mét hào quang chói lòa lóa cả mắt, mang theo cả sấm sét đánh chém xuống Trăn Tinh. Trăn Tinh thất kinh đưa vũ khí lên chống đỡ chỉ nghe thấy ầm ầm ầm liên hồi kinh thiên động địa, Trăn Tinh thua phép chống đỡ không nỗi bị kiếm Tiên chặt đứt ra làm nhiều khúc chết ngay tại chổ hiên nguyên hình con Trăn to như con bò mộng dài vài chục mét, đứt từng khúc, từng khúc máu tuông lai láng thấy mà kinh người.

Quân Văn Lang thắng thế 2 vạn quân xông vào phá trận tới tấp tiêu diệt quân Ân như thác đổ. Triệu Tử Quân kinh hoảng điều động đội quân thiết giáp ra chống đở, phất cờ hiệu lệnh ngũ hành trận biến thành bát quái trận. Tức thời đội quân chủ lực từ hai bên cánh gà hành Thổ. Tả, Hữu tỏa ra bao vây, 2 vạn quân Văn Lang đang ồ ạt xông lên phá trận tiêu diệt quân thù do cha con Trung Đại Nhân điều khiển.

Trên đài quan sát nơi trung ương, Diệp Lang cho cờ vàng cánh hữu, cánh tả phát động, tức thời đội quân thiết giáp cảnh hửu cánh tả quân Văn Lang chuyển động ầm ầm xông vào xáp chiến chân đứng hai đội quân thiết giáp của địch từ hai cánh gà ồ ạt tuông ra, cuộc tử chiến giữa hai đội quân thiết giáp vô cùng khốc liệt.

Triệu Tử Quân khiếp vía, phất cờ trung Đạo tả hữu điều động trận pháp, tức thời 2 vạn quân Ân quân chủ lực, kỵ binh thiện xạ, kỵ binh gươm, đao, giáo, mác, bộ binh thiện xạ, bộ binh gươm, đao, giáo, mác từ trung ương túa ra tả hửu đánh phủ đầu bao vây 2 vạn quân Văn Lang do cha con Trung Đại Nhân điều khiển hăng máu xông lên bất kể sống chết chém quân thù xối xả.

Trên đài quan sát Diệp Lang thấy Triệu Tử Quân ra chiêu sát thủ, điều động đội quân chủ lực tiêu diệt hai mũi tiên phong lợi hại của ta liền điều khiển trận địa. Cờ hiệu lệnh phát động, nơi đài quan sát chi phía Nam, cờ tả hửu đã phất, tức thời đội quân chủ lực phát động. Đại Lực Tướng Quân cánh hửu, Cái Thế Thần Quân cánh tả cuộn cuồn lao tới rầm trời rầm đất, chặn đánh hai cánh quân chủ lực giặc Ân, đang tuông từ trung tâm đầu não tẻ ra hai bên cánh hữu, cánh tả quyết tử một còn một mất. Quân Văn Lang mạnh như đàn voi, đàn hổ xé xác quân Ân tơi bời. Tiếng gào thét xung phong tiến lên, tiến lên.

Thế là trận đánh kinh thiên

Đao gầm kiếm thét liên miên ầm ầm

Ngựa người lao tới ầm ầm

Cuộn cuồn lớp lớp đạp càn lên nhau

Tên lao xối xả trút mưa

Thây người ngã rạp nào thua lở đồi

Cờ vàng đã phất lên rồi

Đội quân thiết giáp ào ào tấn công

Chiến trường nỗi gió nỗi giông

Rền vang Đao Kiếm chảo rang khó bì

Đỉnh đài cờ phất liền khi

Hết đen tới trắng phất lên vù vù

Phía Bắc lịnh tấn công rồi

Trùng trùng người ngựa xông vào xáp xông

Xung phong gầm thét chuyển rung

Long trời lở đất khiếp kinh giặc thù

Cạp tinh hóa phép ù ù

Cản đường ập tới mịt mù quân Nam

Tưởng đâu dẹp được quân muôn

Nào hay nữ tướng chỉ gươm sấm rền

Cạp Tinh nỗi trận lôi đình

Vỗ đầu quái thú, chuyển mình tối tăm

Vạn nghìn bò cạp hiện lên

Xông vào quân lính kể chi ngựa người

Đụng đâu cắn đó dậy trời

Cạp Tinh khoái chí, miệng thời hét vang

Quân Nam chuẩn bị tiêu tan

Nào hay một Đao, Kiếm Tiên rợp trời

Thái Nga Kiếm Đạo phóng rồi

Hào quang chiếu xuống cạp thời tiêu vong

Cạp Tinh mất phép hãi kinh

Thái Nga niệm chú, Kiếm Tiên chém nhầu

Cạp Tinh ngươi chạy đi đâu

Kiếm Tiên chém xuống rụng đầu đứt thây

Cạp Tinh hồn vía tiêu bay

Hiện hình bò Cạp ôi này năm đuôi

Đứt làm nhiều khúc khắp nơi

Máu tuông lai láng ôi thôi đỏ lầy

Xà Tinh khiếp vía rụng rời

Tìm đường chốn chạy, ẩn mình trong mây

Thái Nga nào chịu bỏ qua

Kiếm Tiên một Đao tuông ra diệt trừ

Xà tinh tan xác cuộc đời

Nghìn năm tu luyện thôi rồi nghìn năm

Trên đài cờ lệnh phất mau

Vàng, xanh, đỏ, trắng thi nhau ban hành

Bốn phương tám hướng chuyển mình

Nhìn cờ hiệu lệnh tung hoành tiến lui

Đất trời chuyển động rung rinh

Quân Ân 10 vạn đi tiêu chẳng còn

Tử Quân khiếp vía kinh hồn

Ngũ hành bát trận tan thành khói mây

Giặc Ân phơi xác đó đây

Làm phân cho đất, cho cây xứ người

Đáng đời lũ giặc đáng đời

Bài học xâm lược để rồi nhuốc nhơ

Thánh Thần nào thể làn ngơ

Trước bầy Cáo, Sói vét vơ hại người.

Nói về Hồ Ma Yêu là tay háo sắc, thấy Ngọc Thiên Hương xinh đẹp lóa cả mắt, thì mê mẩn cả tâm hồn quên mất tình hình quân Ân đang lâm vào thế chết, bỏ mặt cho cuộc chiến dùng phép tàn hình đến bắt Ngọc Thiên Hương là sung sướng lắm rồi, ôi người chi mà đẹp quá. Lão Ma Yêu tới sát Thiên Hương mà Thiên Hương không hay biết chi cả. Không ngờ một Đao hào quang chiếu tới, Hồ Ma Yêu thét lên đau đớn vô cùng liền lộ rõ nguyên hình chỉ còn cách Ngọc Thiên Hương hơn bước. Ngọc Thiên Hương tức giận chém liền một nhát, Hồ Ma Yêu tránh không kịp trúng liền một Kiếm chút nữa là toi mạng đi đời khiếp kinh hồn vía hóa thành luồng gió bay trốn mất. Ngọc Thiên Hương nhìn người vừa cứu mình không ai khác hơn chính là An Lạc Tiên người vừa mới kết nghĩa chị em với mình, Ngọc Thiên Hương nhìn An Lạc Tiên với cái nhìn biết ơn.

Nói về An Lạc Tiên từ lúc ra trận đến giờ lúc nào cũng theo sát hộ vệ Ngọc Thiên Hương nhất là chú ý đến lão quái vật Hồ Ma Yêu vô cùng lợi hại. Kính chiếu yêu luôn luôn nắm sẵn trong tay, thấy Hồ Ma Yêu chăm chú nhìn Ngọc Thiên Hương, Lạc Tiên sanh nghi thấy Hồ Ma Yêu tự nhiên biến mất tức thời Lạc Tiên vận công lực, thần lực, khí lực vào kính chiếu yêu phóng ra Đạo hào quang chiếu đến xung quanh Ngọc Thiên Hương trúng vào Lão Ma Yêu làm lão đau nhói thét lên lộ rõ nguyên hình. Ngọc Thiên Hương thấy lão Yêu Tinh sắp hại mình liền chém lão một kiếm chí tử, lão tránh không kịp trúng ngay một nhát bị thương khá nặng, hóa ngọn gió bay trốn mất. Ngọc Thiên Hương nhìn Lạc Tiên với cái nhìn biết ơn đầy thân thiện. Lạc Tiên cảm thấy mùa xuân đang nở rộ, ánh sáng tương lai đã xuất hiện cô vốn đẹp giờ đây lại càng xinh đẹp hơn.

Trên đài quan sát Triệu Tử Quân thấy âm dương, tứ tượng, ngũ hành trận bị khống chế hoàn toàn, quân tướng lần lượt thi nhau bỏ mạng thì như kẻ mất hồn. Nhìn ngọn lửa đã bốc cháy dưới chân đài quan sát mỗi lúc mỗi bốc cao thiêu sống lão. Thế là xong đời một tên cầm đầu xâm lược, chủ soái giặc Ân.

Thơ rằng:

Cuộc đời xâm lược có ra chi

Được đời nguyền rủa chẳng được gì

Làm tướng ngoại xâm gieo tội ác

Chết thê chết thảm quá lâm li

Hồn làm Ma đói còn khá khá

Còn hơn tục ngục mãi âm ti

Đạo Trời nào đãi quân ăn cướp

Bỏ mạng quê người ác mãi ghi.

*         *         *

Cha Trời đã dạy nhân sanh

Theo đường Thánh Đạo để lên thiên đàng

Cội Nguồn văn hóa Tiên Rồng

Huyền Cơ mở hội đạo tràng chuyển xây

Long Hoa Đại Cáo Đông Tây

Đại Đồng thế giới đắp xây hòa bình

Đồng Bào thiên hạ đăng trình

Đồng lên Phật, Chúa, Thánh, Thần, Thiên Tiên.

**************

PHẦN 28

Đây nói về Ngạc Sùng Cảnh thống lãnh hơn 50 vạn quân 20 trấn chư hần lớn nhỏ Mân, Chu, Cảo, Phong, Ngân, Lâm, Hàn, Ngụy. Rầm rầm rộ rộ tiến qua đất Văn Lang có nhiệm vụ thôn tính Tây Văn Lang từ Bắc vào Nam đánh thẳng vào những châu, quận, huyện trọng yếu còn các châu, quận, huyện khác không đánh cũng tự đầu hàng. Bước đầu tiên là đánh thẳng vào Tây Giang Châu, Kiến Giao Châu thời coi như đã nuốt trọn Tây Giao Chỉ, Ran Châu, Ren Châu, Tam Giang Châu, Cương Châu, Di Châu, Hồ Châu, Hung Châu, Liêu Châu, Phù Châu, Ngung Châu, Lổ Châu, Nô Châu, đây là giai đoạn một phần Tây Bắc Văn Lang.

Để tiến sâu hơn nữa vào địa phận Tây trung Văn Lang, giặc Ân phải mở chiến dịch hai, giai đoạn hai. Giai đoạn hai là chiếm cho được Hồng Châu, Tiên Châu và Lô Châu thời coi như đã chiếm được Hồng Thượng Châu, Hồng Đông Châu, Lô Thượng Châu, Du Châu, Thạch Châu, Môn Châu, Điền Châu, Trung Trung Tây Châu thời coi như nuốt được hai phần ba Tây Văn Lang. Giai đoạn ba là giai đoạn cuối cùng chiếm cho được Lao Tây Châu, Lao Đông Châu, Thượng Đà Châu, Âu Tây Châu, Âu Trung Châu, Mường Lai Châu, Mã Điện Châu, Khơ Me Châu, Mã Thượng Châu. Chỉ cần thọc sâu vào Tây Nam chiếm lĩnh Sầm Sơn Lao Châu thì coi như nuốt trọn Tây Văn Lang thời đó.

Có lẻ giặc Ân đã lầm, theo lời di giáo của Quốc Tổ, con cháu Văn Lang sở hữu Chủ Quyền Địa Long vũ trụ hình chữ S từ Nam sông Trường Giang cho tới mũi Cà Mau, bao gồm hai giai đoạn Xích Quỷ và Văn Lang. Với mưu đồ xâm lược đã dự tính trước những bước cụ thể, ba giai đoạn, bước một, bước hai, bước ba.  Ở bước một thọc sâu vào nước Văn Lang, Tây Bắc Văn Lang đó là đánh chiếm ba thành. Triệu Tử Quân đánh Tây Giang Châu. Chu Công đánh Tây Dương Châu. Chu Công Tiển đánh Kiến Giao Châu. Cánh quân của Triệu Tử Quân đã thất bại, đi tiêu hơn 12 vạn quân tướng tá chẳng còn một mạng, ba Đạo quân bị xóa sổ hết một Đạo quân. Còn hai Đạo quân nữa chúng ta hãy tiếp tục theo dõi cuộc đọ sức giữa giặc Ân ngoại xâm cùng con cháu Tiên Rồng con dân Văn Lang ai thắng, giữa phi nghĩa và chính nghĩa giữa trung hiếu và dã tâm tham vọng, cướp lấy non sông Tổ quốc các dân tộc anh em, Tổ quốc mà Tổ Tiên cha Trời đã ban cho mỗi dân tộc, công lao dựng nước chủ quyền Độc Lập hơn mấy nghìn năm giữ nước.

Đây nói về Chu Công Minh thống lãnh hơn 10 vạn quân kết hợp với trấn chư hầu Lâm, Hồ, Hàn tiến đánh thành Dương Giao Châu với khí thế dời non lấp bể. Con Mãng Xà xâm lược khổng lồ dài 8 – 9 dặm uốn lượn lao đi, nơi nào đi qua là cây cỏ nhà cửa ngã rạp, quận, huyện, xã bị nó chém sạch, của cải vật chất, trâu, bò, heo, ngựa, gà, vịt chẳng còn một con. Mỗi đoạn con Mãng Xà dừng lại đều để lại quân mai phục, ở những nơi địa thế hung hiểm cải trang ẩn núp khéo léo bắt những con nai, con hổ ngu đần mò đến, bộ máy thông tin được cài đặc khắp nơi.

Nói về thành Tây Dương Châu ba anh em nhà Tây Thục, Thục Chăm, Thục Liêu, Thục Châu theo lệnh của cha thống lãnh 10 vạn quân trấn thủ thành Tây Dương Châu. Thành Tây Dương Châu có vị quan phủ tên Hữu Tài có năm người con trai đáng lý làm nên nghiệp lớn, đằng này chỉ là đồ vô dụng ăn chơi lêu lỏng, làm mích lòng dân chúng đánh đập dã man, người dân địa phương luôn cầu trời đừng gặp ngũ quỷ, nhất là đàn bà con gái có nhan sắc đều sợ hết hồn. Còn binh lính thì phè phởn chẳng tập luyện gì cả, thành trì không tu bổ, sửa sang tiền ấy không hiểu đi đâu nữa có lẻ quan phủ lấy nguồn kinh phí ấy sử dụng vào mục đích riêng tư của mình.

Khi nghe quân Ân xâm lược với quy mô chưa từng có trong lịch sử chiến tranh xâm lược của chúng thời khiếp sợ vô cùng, có ý bỏ thành chạy trốn nhưng phần tiếc của, phần sợ chém đầu nên chưa nghĩ ra cách nào có lợi cả, nhất là năm đứa con trai của lão quan phủ là những tay tham sống sợ chết, miễn là có lợi cho mình còn non sông Tổ Quốc giặc chiếm lấy cũng không sao, lúc nào cũng khoác lác tài hay học rộng thường ví mình như các bậc tài nhân Đức Độ thời xưa, những lời khoác lác ấy làm cho người nghe nôn mữa. Được tin 10 vạn quân binh đến trấn thủ thành Dương Châu thời làm ra vẻ sành điệu tài năng quán chúng. 10 vạn quân kéo đến sáu cha con lão quan phủ ra đón vẻ sành điệu, ăn mặc diêm Chúa lòe loẹt đến nực cười, khoác lác khua môi múa mỏ nhưng làm sao qua mắt được sáu anh em nhà Tây Thục.

Cha con Hữu Tài nhìn thấy ba cặp mắt của anh em Tây Thục nhìn cha con lão đầy vẻ xem thường. Lão bực tức vì trước mặt lão xưa nay ai cũng sợ cúi mặt ca ngợi cha con lão như Thần Thánh, lão càng nghĩ càng tức nhưng cố nhịn cho qua truông. Lúc ấy độ năm giờ chiều quan phủ Hữu Tài đích thân mời ba anh em Tây Thục ở nha phủ, tới nhà riêng để tiếp đãi. Ba anh em Tây Thục hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, nhìn kiểu nhà tân thời vừa cổ điển có lẽ còn sang trọng hơn cả cung Vua, căn phòng rộng lớn toàn gỗ quí đánh bóng loáng soi mặt được, hoa văn cầu kỳ điêu khắc chạm trổ tinh xảo, nền lát gạch nung, bàn ghế tròn vuông, biểu tượng trời đất đen kịt chạm Rồng trổ phụng, Xuân Hạ Thu Đông bốn mùa. Có nhiều pho tượng trần mang vóc dáng nàng Tiên lõa thể, những bức tranh trần truồng các nàng Tiên tắm suối dưới ánh trăng huyền ảo lung linh, nếu tinh thần không định tỉnh thì choáng ngợp trước cảnh giới này. Nhìn chén bàn sành sứ sang trọng, đang bốc mùi sơn hào hải vị, nem Rồng chả Phụng món ngon vật lạ chẳng thiếu chi. Người phục vụ là những ả Đào tơ phơi phới xuân xanh, thướt tha, uốn éo, khoe của, căn phòng sang trọng, văn hóa, hoa văn lãng mạn khiêu gợi hết cỡ. Rượu ngon gái đẹp, sơn hào hải vị, đèn màu huyền ảo, nhạc trổi du dương. Có lẻ ba anh em nhà Tây Thục đã lạc vào yêu động thế giới hoan lạc của Yêu Tinh mà cha con Hữu Tài gọi đây là thế giới Thiên Đàng Cực Lạc, thế giới của những người sa đọa không làm chủ được linh hồn cũng như làm chủ bản thân, lặng hụp trong dục vọng điên cuồng.

Ba anh em nhà Tây Thục cũng phải lắc đầu cho kiểu cách ăn chơi của quan phủ. Một đàn chó dữ cứ gầm gừ hết nhìn người nầy người nọ đến người kia, như nói rằng: Các ngươi đã bước vào đây như đã bước vào thứ dữ, ăn miếng cám trả miếng vàng huống chi ăn miếng vàng thì phải trả bằng sanh mạng của các người. Cứ trông tác phong nhân cách, tư cách quan phủ, cảnh quan bố cục trong nhà ngoài sân, người phục vụ, phòng tiếp khách, cả đàn chó dữ cũng đoán được tất cả. Ông quan phủ này vừa giàu tài ăn chơi vừa giàu tài mánh khóe thủ đoạn độc ác, buôn gian bán lận vơ vét của dân thuộc hàng bực khá. Người ta cũng nghỉ đến cái cảnh cha nào con nấy, rau nào sâu nấy. Nhưng thời giờ không cho phép tìm hiểu sâu về lão vì trước mặt quân Ân sắp kéo đến nơi, cấp tốc trở lại Nha Phủ họp quan tướng lo bàn kế sách chống giặc.

Thục Chăm nói:

   Khi chúng ta chưa nắm được tình hình của giặc thì chúng ta khó quyết đoán được, trong sự chinh chiến đối đầu với giặc tuyệt đối không trông chờ vào sự may mắn mà phải tự tin ở mình không được chủ quan, luôn luôn đề cao cảnh giác, đề phòng trước khi nó xảy ra với chúng ta. Những kẻ liều chết không đúng lúc, đúng thời, đúng tình thế thì cần, thường thường thiếu suy nghĩ khó mà nắm lấy phần thắng. Còn tham sống sợ chết lại càng nguy hiểm hơn, trước sau gì cũng bị địch giết mà thôi, bất luận cuộc chiến nào xảy ra bao giờ cũng đầy rẫy mưu mô thủ đoạn đến tàn khốc. Nếu chúng ta không hiểu việc đó thì chúng ta coi như là miếng mồi ngon cho sói, cọp, sự cố chấp bảo thủ không chịu đón nhận những điều hay đã được đúc kết qua hàng nghìn năm thì kết cuộc bao giờ cũng nhận lấy thất bại đầy chua cay, hận nhất gặp phải tình huống xấu không thể giao tranh ngang ngửa với giặc, thì chúng ta phải rút lui hoặc cố thủ thành hoặc tìm địa hình khu vực có lợi cho ta, phía trước là rừng rậm hoặc sông lớn có nhiều kinh rạch chằng chịt hoặc là trước mặt dựa vào độc đạo, núi cao hiểm trở chờ địch tới dùng hỏa công, dùng cọc trận lợi dụng địa hình hiểm trở tiêu diệt chúng. Mười vạn quân suốt ngày ra sức củng cố lại thành trì, cho thấy đây là dấu hiệu khởi đầu không tốt, quân sĩ mỏi mệt, nhuệ khí tinh thần giảm sút.

Thục Chăm sau cuộc họp gọi hai anh em đến bàn kín binh cơ bí mật: Chúng ta chia làm hai một nửa thủ thành một nửa phục kích ngoài thành, một cánh hướng Đông, một cánh hướng Nam cách thành 6 – 7 dặm chờ địch công thành mỏi mệt, bất ngờ trong thành đánh ra, ngoài thành đánh vô khi có hiệu lệnh pháo hiệu bắn lên không kẹp quân Ân vào giữa tiêu diệt.

Thế là Thục Liêu, Thục Châu mỗi người 2 vạn 5 nghìn quân theo hai hướng Đông Nam phục kích, khi nào pháo hiệu bắn lên thời hai cánh quân Đông Nam kéo đến bao vây ngoài tấn công vào trong thành tấn công ra, quân giặc bất ngờ bị kẹt vào giữa, quân ta dốc toàn lực tiêu diệt giặc.

Màn đêm buông xuống nơi nhà riêng của vị quan phủ Hửu Tài một bóng đen bí mật xuất hiện, đây là tay đầu đảng đâm thuê chém mướn sống ngoài vòng pháp luật, phục vụ đắc lực cho lão, gã vội vả xô cửa bước vào thì thấy lão quan phủ đã ngồi chờ đợi sẵn.

Tên đầu đảng xã hội đen giang hồ nói:

   Bẩm Phủ Gia theo tin thuộc hạ khắp nơi báo về, quân Ân trên dưới 200 vạn quân đang ồ ạc tiến qua.

Lão quan phủ nghe 200 vạn quân giặc thì khiếp đảm hỏi lại:

   Ngươi nói cái gì?

Bẩm Quan Phủ:

   Quân Ân xâm lược với sức mạnh quy mô hiện đại chưa từng có trong lịch sử, trên dưới 200 vạn quân, có lẽ quân Ân hạ quyết tâm nuốt trọn nước Văn Lang với lối tấn công hiện đại quy mô mạnh như vũ bão, quân Văn Lang không thể nào ngăn cản chống trả nỗi. Các Châu, Quận, Huyện chúng nuốt như nuốt con mối, con kiến và nghe nói thành Tây Giang Châu sắp mất ba anh em Tây Thục không rõ sống chết ra sao và các Châu Thành khác cũng lâm vào tình thế bi đát như vậy, có lẽ các Châu Thành lần lượt rơi vào tay giặc Ân không sớm thì muộn mà thôi. Bắc Giao Chỉ ba cha con Bố Dĩ An toi mạng rồi, ba cha con Trung Đại Nhân cũng thế tất cả hơn 7 nghìn quân không còn một mạng, nghe đâu người con gái xinh đẹp nỗi tiếng tài sắc Ngọc Linh Châu chết thê, chết thảm vô cùng. Quân Văn Lang các Châu Quận Huyện ra ngăn cản lớp nào là giặc làm thịt lớp nấy, cứ theo cái đà này không bao lâu nữa là giặc Ân sẽ nuốt chửng nước Văn Lang, trước hết là Nam Kinh Xích Quỷ, những quan phủ đầu hàng chúng cho làm quan trở lại bằng không chúng sẽ giết sạch con gà, con chó cũng không còn.

Nghe xong Hữu Tài kinh hoảng:

   Vậy ta phải làm sao?

Tên trùm xã hội đen nói:

   Còn làm sao nữa, chỉ còn đường duy nhất là theo giặc phản bội lại non sông Tổ Quốc mà thôi kẻ thức thời là người khôn.

Lão Hữu Tài nghe đến hai tiếng làm phản thời rụng rời cả tay chân. Lão nói:

   Làm thế thời nguy hiểm lắm.

Tên trùm nói:

   Thật ra chúng ta đã làm phản lâu rồi, chúng ta tôn thờ văn hóa ngoại bang xưa nay, chúng ta chỉ đội lớp quan, đội lớp Con Rồng Cháu Tiên, chúng ta đi theo con đường tà đạo bất trung bất hiếu, sống theo lối sống của kẻ phản Quốc, tham quan mà thôi. Nếu Quốc Đạo phát hiện được thì chúng ta cũng khó mà thoát tội trừng trị, đôi khi mất mạng nữa là khác, đây cũng là dịp may của chúng ta, chúng ta không thể để lỡ cơ hội hiếm có này. Cũng cố thêm sự giàu có, ăn chơi, cửa quyền, bóc lột tha hồ mà vơ vét tài nguyên quí hiếm của quốc gia, làm mưa làm gió hết đời cha, đời con, đời cháu, đời chắt. Thoát khỏi Chánh Nghĩa của nền Quốc Đạo, Hiến pháp, Luật pháp của nhà nước Văn Lang.

Lão quan phủ Hữu Tài nghe tên trùm bợm chuyên sống ngoài vòng pháp luật, với những kiến thức đi ngược lại Đạo Đức truyền thống dân tộc, thế mà lão Hữu Tài lại nghe say nghe sưa, càng nghe càng luận điệu của tên trùm tay sai đắc lực. Lão thấy có lý vì hiện giờ tình hình đã đổi khác. Lão liền cho mời năm người con của lão đến để tính kế đối phó với cuộc diện mỗi lúc mỗi căng thẳng chậm trể thì không còn kịp. Không bao lâu thì năm người con lão đến, nhìn năm bộ mặt kênh điệu lúc nào cũng hiện rõ sự ngu đần gian xảo ác độc gian manh. Trong bộ máy chính quyền nhà nước mà có những vị quan phủ như Hữu Tài thì nhà nước đó khó mà độc lập trụ vững được lâu. Những vị quan như thế cũng chẳng có gì đáng luyến tiếc hay thương hại.

Năm người con của lão khác chi lão càng nghe tên trùm luận điệu cách thức theo giặc gật đầu lia lịa rồi đưa đến quyết định:

   Theo giặc là con đường đúng, quan phủ ta xưa nay đâu sống theo Hiến pháp, luật pháp của nước Văn Lang mà chỉ sống theo lối hối lộ, tham ô, móc ngoặc đầu quan đuôi cướp đội lớp Quan Phủ mà thôi. Lại nữa cái chức Quan Phủ nhà ta không phải do chân tài thực học mà có mà từ gia đình buôn lậu lên gia đình Quan Huyện từ gia đình Quan Huyện lên gia đình Quan Phủ. Một Quan Phủ giàu có hơn các Quan Phủ khác lại được sự che chở, ưu ái của các bậc Vương Gia nên quyền lực cũng trội hơn hẳn các Phủ Gia ở vùng Tây Bắc này.

Người con lớn nói:

   Thức thời đi trước là người khôn, cha hãy viết thư đầu hàng giặc trước đi nếu giặc thắng thì ta khỏi chết lại được phục hồi chức cũ, tha hồ mà vơ mà vét đút lót lên quan trên, như việc làm của nhà ta xưa nay.

Thằng con thứ hai nói:

   Biết quan tâm cấp trên của giặc một chút không chừng còn lên chức Vương nữa là khác.

Thằng con thứ ba nói:

   Còn nếu giặc thua thì chúng sẽ chết hết, còn đâu chứng cứ mà sợ, đâu lại vào đấy, chức Quan Phủ vẫn là của chúng ta.

Người con thứ tư, thứ năm nói:

   Đúng thế, đúng thế.

Người áo đen nói:

   Không phải dễ như thế đâu, nếu đầu hàng phải đi đôi với lập công thời kết quả trọng dụng của giặc đối với ta mới cao, bằng ngược lại giặc không tin. Đầu hàng giặc trong lúc chưa phải là con đường cùng cũng có nghĩa là phản lại non sông Tổ Quốc thế là chúng ta khó mà sống sót, đã phóng lao thì phải theo lao, đường nào chúng ta cũng chết. Một là chúng ta theo giặc để sống vì giặc sẽ thắng, nhà nước Văn Lang trở thành nhà nước nô lệ hoặc thuận theo giặc thì sống còn chống lại giặc thì chết, đất Văn Lang trở thành đất An Nam dưới quyền cai trị của giặc. Nếu ta lập công với giặc thì ta còn tất cả cả danh, cả lợi, địa vị chức Quan Phủ không mất, nhà cao cửa rộng vẩn còn, món ngon vật lạ, rượu ngon gái đẹp một sức mà xài.

Cha con lão Hữu Tài nghe mùi lỗ tai, thế là lão viết một phong thư đầu hàng giặc với những âm mưu kế hoạch phản lại quân Văn Lang và sẳn sàng làm bất cứ điều gì mà giặc yêu cầu. Tên trùm nhận thư theo lối bí mật ra khỏi thành Tây Dương Châu. Tin giặc sắp đến tấn công thành chậm nhất là ngày mai, thế là cuộc tiếp đãi các quan tướng có thể nói là bữa thiết đãi đầy đủ sơn hào hải vị, món ngon vật lạ hiếm quí đắc tiền.

Quan phủ Hửu Tài cùng năm người con nâng ly mời quan tướng nói:

   Chúng ta thề quyết sống chết cùng lũ giặc ở ngày mai.

Các tướng đồng phụ họa theo:

   Chúng ta thề quyết tử với bọn chúng, thế là tiếng quyết tử đồng vang lên vô cùng mạnh mẽ.

Năm cha con Hửu Tài sợ hãi xanh mặt. Ai ngờ đây là một cuộc thiết đãi âm mưu, nối giáo cho giặc hạ độc quan tướng bằng chất độc không mùi vị chậm phát tán, một ngày đêm mới phát sinh tác dụng của độc.

**************

PHẦN 29

Hừng đông trổi dậy những giọt sương đêm còn nằm trên mái lá, thưởng thức sự yên bình của quê hương non sông Tổ Quốc. Như chợt nhìn ra tia nắng, giọt sương la lên: Kìa tia nắng sớm đã trở về trái đất, chúng ta hãy về trời thôi thế là các giọt sương lần lần biến mất làm chiếc lá ngơ ngác như vừa trải qua một giấc mơ ánh bình minh đã tràng về đầy ắp khắp xóm làng, núi non, sông, hồ, biển cả. Một màu vàng hồng rực rỡ xa xa vang rền vó ngựa.

Trên thành cao Thục Chăm cùng các quan tướng nhìn về hướng Tây Bắc khói bụi mịt mờ, lờ đờ một con Mãng Xà lúc ẩn lúc hiện, ngoằn ngoèo uốn lượn mỗi lúc một gần, mỗi lúc một hiện rõ, thì ra đây là giặc Ân đông như kiến kéo dài uống khúc hơn 10 dặm người ngựa xe cộ mịt mù, rầm rầm rộ rộ lao thẳng về thành Tây Dương Châu.

Đến lúc này Thục Chăm mới thở phào nhẹ nhổm:

   Quân Ân cũng không đông hơn quân ta là mấy có lẻ 11 – 12 vạn quân là cùng, chúng ta cứ thủ thành xem giặc làm gì được ta.

Thế là Thục Chăm ra lịnh binh tướng sẳn sàng chiến đấu một còn một mất với giặc.

Khí thiên ung đúc chí dân ta

Truyền thống anh linh Đạo một tòa

Con Hồng Cháu Lạc nào chùn bước

Dù cho thế giặc mạnh càn qua

Gươm báu Tiên Rồng còn bén ngót

Bừng lên khí phách tiến xông pha

Sấm dậy trời Nam rền đất Bắc

Quét sạch ngoại xâm khỏi Sơn Hà.

Đây nói về Chu Công Minh theo lệnh của thống soái Ngạc Sùng Cảnh lãnh đạo, thống lãnh hơn 10 vạn quân tiến đánh thành Tây Dương Châu, trên đường đi bí mật để lại quân binh mai phục ở những nơi hiểm yếu, bảo vệ đường dây liên lạc thông tin cũng như sự an toàn khi rút lui, chỉ còn 9 hay 10 dặm nữa là tới thành Tây Dương Châu thời trời sắp tối. Chu Công Minh liền cho quân dừng nghỉ, bàn kế sách đánh thành Tây Dương Châu. Thì có một tên quân thám báo trở về dẩn theo một tên mặc đồ đen, tức thời hàng chục con mắt sáng quắc của các quan tướng giặc nhìn chòng chọc vào người mặc đồ đen. Thấy những cái nhìn như muốn ăn tươi nuốt sống, người áo đen không khỏi sởn ốc nổi da gà.

Tên thám báo quỳ gối theo nghi lễ nhà binh trước Chu Công Minh nói:

   Bẩm chủ soái trong lúc thuộc hạ đi thi hành nhiệm vụ bám sát theo dõi sự động tỉnh của thành Tây Dương Châu thì thấy tên này từ lối bí mật thành Tây Dương Châu lao ra, thuộc hạ theo sau định ra tay nhưng thấy tên này cứ nhắm mắt hướng Tây Bắc lao đi hình như muốn gặp chúng ta thì phải, thuộc hạ liền ra mặt gạn hỏi thì đúng như vậy. Tên nầy nói có điều cơ mật muốn gặp Chủ Soái.

Chu Công Minh hỏi:

   Ngươi tìm ta có chuyện gì?

Người áo đen liền lấy phong thơ mà Hữu Tài gởi cho Chủ Soái tướng giặc. Nội dung thơ như sau: Hữu Tài tôi xưa nay thường qua lại buôn bán với quý Quốc, Tần, Sở, Hồ, Hàn là chổ thân quen. Kẻ thức thời cũng xu theo thời cuộc chim khôn tìm cây mà đậu, người khôn tìm chúa để thờ, vận đen nước Văn Lang đã đến, cơ nghiệp hàng nghìn năm thịnh trị Văn Lang đã hết đâu đó cũng là quy luật vật đổi sao dời, suy thịnh, thịnh suy khó mà thoát khỏi. Cơ nghiệp Văn Lang sắp mất, trở thành cơ nghiệp nhà Ân. Tìm chủ mới để thờ dâng lên chút công nói rõ cơ mật tình thế ở đây. Ba anh em nhà Tây Thục chỉ có Thục Chăm là lợi hại còn hai người kia cũng thường. Thục Chăm là người đa mưu túc trí không bao giờ cho biết quân số, đã phân chia lực lượng nhiều ngã trong thành, ngoài thành nơi đâu thì tôi chưa rõ. Để hại được Thục Chăm không phải dễ nhưng sự đời Đao Kiếm dễ tránh, ám khí khó phòng, nội giặc lại càng khó phòng hơn huống chi quan tướng có ý làm phản, thì nguy hiểm khó lường, nhất định người bị hại khó mà lọt lưới. Để có kết quả như ý nên tôi sắp xếp thiết đãi các quan tướng, đầu độc chúng tóm luôn một mẻ chẳng sót một người. Để tránh khỏi sự hồ nghi nên khi chất độc vào người một ngày đêm mới phát tác, làm tê liệt thân người sau đó xây xẩm mặt mày, ọi ra máu rồi chết, để tránh khỏi những sự cố xảy ra bất trắc ngoài ý muốn. Chủ Soái cho một số cao thủ theo chân Mầm Họa theo lối bí mật vào trong thành giả làm quân lính quan phủ tiếp cận hạ thủ Thục Chăm khi Thục Chăm phát độc. Quân Văn Lang như rắn mất đầu tha hồ Chủ Soái muốn làm gì mà chẳng được với công lao ấy ngài định thế nào, tôi đang chờ đợi sự hồi âm của ngài cho tôi được an lòng Hữu Tài.

Xem xong Chu Công Minh không nói gì chỉ đưa cho quan tướng cấp cao đọc. Ôn Gia Hầu là con người phải nói là đại thâm hiểm nhưng đọc qua nội dung lá thư cũng phải lắc đầu nói rằng:

   Bổn tướng thuộc hạ thua kém con người nầy xa.

Chu Công Minh nghĩ: Lúc này cần chó để săn, thì cho ăn những món ăn béo bở, hết mồi để săn thì thịt.

Liền viết nội dung phong thơ béo bở nhưng không nhiều, để cho con chó khỏi nghi ngờ nội dung hồi âm thơ như sau: Chủ trương của Chúa Công là đánh người chạy đi, không đánh người chạy lại, không phân biệt địch hay ta, dân Nam hay dân Bắc hể lập công với nhà Ân đều trọng thưởng, công lớn thưởng lớn, công nhỏ thưởng nhỏ. Các quan phủ qui hàng thời chức nào giữ theo chức nấy có lên chứ không xuống.

Chu Công Minh nói với người áo đen:

   Tại sao tên người là mầm họa?

Tên áo đen nghe Chu Công Minh hỏi sợ hãi xanh mặt nhưng cũng trả lời:

   Thuộc hạ vốn họ Mầm, họ nầy rất ít, nghe đâu khi sinh ra thuộc hạ cả nhà bị dịch mà chết, chỉ còn lại bà vú nuôi, nên đặt tên cho thuộc hạ là Họa và từ đấy thuộc hạ có tên là Mầm Họa.

Chu Công Minh nói:

   À ra thế, nếu việc nầy thành công ngươi và chủ ngươi sẽ được trọng dụng khen thưởng sung sướng cả đời.

Người áo đen vâng dạ lia lịa sau đó cùng mấy mươi tên lính giặc Ân có võ công cao cường biến mất trong đêm tối. Nói về quân Ân rầm rầm rộ rộ kéo đến thành Tây Dương Châu, bao vây lớp trong lớp ngoài trùng trùng điệp điệp nhưng chưa vội tấn công mà chỉ hò reo la hét chửi rủa thách thức mà thôi. Thục Chăm có vẻ ngạc nhiên khả nghi có điểm khác lạ này. Trời càng lúc càng trưa mà chỉ thấy giặc Ân bày binh bố trận thị oai khiêu khích chọc tức. Bỗng thấy quân Ân biến động hình như là sắp tấn công. Ồ không phải giặc đang làm gì thế, hình như là đang điều động quân binh.

Chu Công Minh nhìn mặt trời rồi ra lệnh:

   Ôn Gia Hầu nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 1 vạn quân trấn thủ phía Nam hể thấy quân Nam kéo đến là xông ra tấn công. Tuân lệnh.

   Lâm Phát Nhì nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 1 vạn quân trấn thủ hướng Đông hể thấy quân Nam kéo đến là xông ra tấn công. Tuân lệnh.

   Hồ Thế Gia nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 5 vạn quân chuẩn bị thang giây các dụng cụ phương tiện leo tường, đội quân thiên xạ yểm trợ. Tuân lệnh.

   Lâm Phát Nhất nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 3 vạn quân tấn công vào cổng chính. Tuân lệnh.

   Còn các tướng lĩnh khác chỉ huy 2 vạn quân tiếp ứng bổ sung khi cần thiết.

Sự căng thẳng từng giờ từng phút, chờ giặc Ân tấn công là quân Văn Lang đi vào tử chiến. Quân Ân la hét:

   Chúng ta xông lên làm thịt những con bò, con dê đầy ngu ngốc này tiến lên, tiến lên.

Các quan tướng quân Văn Lang tức khí đâm trào làm chất độc mau phát tác. Mới sang giờ Mùi các quan tướng đang ra sức chỉ huy, bổng mặt mày xây xẩm.

Có người đã ọc máu ra độc, có độc các tướng la lớn. Thục Chăm thất kinh hỏi:

   Độc, độc ở đâu?

Các quan tướng cố gượng đứng dậy:

   Chúng ta đã bị đầu độc.

Thục Chăm nói:

   Cái gì?

Các tướng nói:

   Lão Hữu Tài đã làm phản, đầu độc chúng ta.

Thục Chăm như chợt hiểu thét lớn:

   Giết, ta phải giết Lão đồ cầm thú.

Vì tức giận quá mức làm cho chất độc phát tác mau lẹ, Thục Chăm xây xẩm mặt mày cố gượng cho khỏi ngã.

Khi ấy thằng con lớn của Hữu Tài xuất hiện cùng với mười mấy tên cao thủ giặc Ân. Thục Chăm trợn mắt rút Kiếm lao tới chém liền một nhác xuống đầu thằng con lớn của lão, rồi hét lớn:

   Quân lính đâu giết hết những tên phản phúc này cho ta.

Chỉ nghe choang một tiếng Thục Chăm dội ngược té ngữa, người áo đen cười ha hả nói:

   Đồ con lợn hãy về chầu Diêm Chúa đi.

Liền bước tới kết liễu mạng sống của Thục Chăm:

   Khoan đã ngươi nghĩ đi, để ta kết liễu tên ngu ngốc này cho.

Thì ra thằng con lớn, tên Hai Nháo đây là biệt hiệu riêng người đời đặc tên cho gã. Nhưng lúc nầy không Nháo chút nào vì sợ tên áo đen Mầm Họa lập đại công là tiêu diệt được Chủ Soái nên ra lệnh cho Mầm Họa dừng tay, để gã giết Thục Chăm khi Thục Chăm đã nằm gục dưới đất không còn sức để chống trả, chỉ cần xuống tay một cái là gã nuốt trọn công lao nầy, với bộ mặt đáng ghét, trán khỉ, mặt rổ, tai chuột, lỗ mũi tẹp lép rộng hoát hứng mưa, cặp mắt lương ti hí, nhớn nha nhớn nháo, tay cầm Kiếm uốn éo như con rắn đi tới chổ Thục Chăm ngã quỵ đứng dậy không nổi. Gã cười đắc ý dang tay lấy sức chém xuống cổ Thục Chăm.

Không ngờ Thục Chăm thân hình chuyển động nhanh như tia chớp ánh Kiếm đã chớp lên, một cái đầu bay đi lông lốc, cái đầu ấy không phải của Thục Chăm mà là cái đầu của Hai Nháo tên phản Quốc. Tên áo đen kinh hoảng nghĩ Hai Nháo đã chết thay cho gã.

Tên áo đen chỉ Thục Chăm ra lệnh:

   Hãy giết tên đầu đảng ấy cho ta.

Tức thời mười mấy tên cao thủ giả làm quân Văn Lang xông tới bằm Thục Chăm. Thục Chăm đứng dậy chỉ Kiếm về những tên giặc giả quân Văn Lang:

   Quân đâu tiến lên giết hết những tên phản nước cho ta.

Thục Chăm đã ra lệnh rồi nhưng quân lính Văn Lang không hiểu địch ở đâu nên chưa thể tấn công được, lần nầy thì khác quân Văn Lang đã nhận ra địch liền ào ào xông tới tấn công, tấn công như vũ bão, tức thời mấy chục tên giặc Ân nửa ra mặt, cuộc chiến vì thế mà khốc liệt, mấy mươi tên cao thủ giặc Ân chống đở không nỗi lần lượt ngã gục. Đang lúc tình thế lộn xộn nhanh hơn con sóc có một người cõng Thục Chăm trốn mất.

Nói về Chu Công Minh nhẫn nại chờ đợi đến khi nhìn thấy binh lính trên thành lộn xộn thời biết thời cơ đã đến liền ra lệnh tấn công, thế là quân reo dậy đất, gươm giáo dậy trời, cổng thành đã mở giặc Ân tràn vô như nước lũ, thang dây đã bắt quân Ân leo lên như Kiến. Nhưng quân Văn Lang không vì thế mà sợ hãi, tuy rắn mất đầu nhưng vẩn quyết tử xông lên, mỗi người là mỗi vị tướng xông trận, đó là truyền thống của nền Quốc Đạo dân tộc về điểm này quân Ân không bao giờ ngờ tới vì thế mà giặc Ân phải trả cái giá đắc đỏ trước khi thắng trận.

Kìa chiến trận rền vang không đứt

Tiếng xung phong gầm thét trời Nam

Hỡi hiếu trung hỡi cháu con

Quyết cùng lũ giặc mất còn tại đây

Kìa lũ giặc phơi thây lớp lớp

Hơi vẫn còn tiến tới xông lên

Xả thân vì nước vì non

Giáo cuồn Kiếm cuộn thét vang đầu thù

Kìa chiến trận đến hồi kết thúc

Hãy xông lên vùi xác giặc Ân

Đời chết chỉ chết một lần

Chết cho Tổ quốc sống còn về sau

Hỡi Tiên Rồng cùng nhau tử chiến

Vì nước non cống hiến cuộc đời

Cho non cho nước sáng ngời

Cho nền Quốc Đạo muôn đời nở hoa

Nào ta hát bài ca bất khuất

Nào xông lên vùi lấp ngoại xâm

Hiếu trung tỏa rạng Dương Quang

Danh rền Đức dội rền vang muôn đời

Ở đời ai mãi sống đời

Chết cho Tổ Quốc muôn ngời sáng lên

Quê hương đầy ắp mùa xuân

Chủ quyền Độc Lập lẩy lừng năm châu

Hồn tử sĩ về chầu Quốc Tổ

Công vì nguồn, muôn thuở tươi xanh

Trả ơn Tổ quốc đẹp lành

Trả ơn dưỡng dục, sanh thành tiến lên

Giặc Ân ngã xuống một tên

Chiến trường nở rộ một thiên sử vàng

Kìa nguồn Cội Đạo Tràng đã mở

Nào anh em quyết tử tiến lên

Xông vào tiêu diệt ngoại xâm

Xông vào tiêu diệt giặc Ân quân thù

Hỡi Đồng Bào hỡi Đồng Bào

Tay gươm tay giáo ta nào xông lên

Ta nào xông lên, ta nào xông lên.

**************

PHẦN 30

Đây nói về hai anh em nhà Thục Vương, Thục Liêu, Thục Châu. Theo lệnh của Thục Chăm mỗi người 2 vạn 5 nghìn quân phục kích cách thành Tây Dương 6 – 7 dặm ở hướng Đông và hướng Nam. Khi có lịnh pháo bắn lên thời xua quân tấn công, trong thành đánh ra, ngoài thành đánh vô, kẹp quân Ân vào giữa để thủ tiêu. Thục Liêu, Thục Châu đang từng phút, từng giây chờ đợi giặc Ân đến, chờ đợi loạt pháo trên thành bắn lên, nhưng chờ hoài không thấy, khi cuộc chiến xảy ra mấy canh giờ vang động núi rừng. Thục Liêu, Thục Châu hồi hộp lo lắng, thì nghe tiếng vó ngựa rồm rộp từ xa vọng lại, thì ra tên thám báo vội vã trở về. Nhìn bộ mặt hớt hãi của tên thám báo thời Thục Liêu cũng như Thục Châu đã linh cảm một điều tồi tệ xảy ra rồi.

Nhìn bộ mặt hớt hãi của tên thám báo cánh Đông, cánh Nam tuy có trước sau nhưng đồng trả lời như nhau:

   Bẩm tướng soái quân Ân đã chiếm thành Tây Dương Châu rồi.

Thục Liêu, Thục Châu thất kinh thét lớn:

   Tất cả chuẩn bị chiến đấu.

Nói về Thục Liêu, Thục Châu nghe tiếng quân reo dậy đất, Đao Kiếm dật trời, chờ mãi chờ mãi không thấy pháo hiệu bắn lên, hết giờ mùi đến giờ thân liền cho thám tử dọ thám thời ôi thôi thành Tây Dương Châu đã bị giặc chiếm gần hết, tiếng gươm Đao giáo mác cũng giảm dần. Thục Liêu. Thục Châu tức tốc kéo quân tới tiếp viện khi còn cách thành nữa dặm, quân Ân giăng hàng ngang trùng trùng lớp lớp chận đánh hai cánh quân cứu viện từ Đông Nam kéo tới. Nhìn thấy thành Tây Dương Châu, cờ xí quân Ân tung bay phất phới, không nói cũng hiểu là 5 vạn quân thủ thành Tây Dương Châu đã bị quân Ân nướng sạch rồi. Thục Chăm không biết sống chết ra sao hay đã cùng chung số phận với anh em binh lính. Thục Liêu, Thục Châu nước mắt tuôn trào. Lòng căm thù giặc sùng sục sôi lên liền chỉ gươm vào giặc gầm thét xông lên tấn công, tức thời quân Văn Lang hò hét ào ào xông tới xáp trận ầm ầm. Nhưng quân Ân đã lường trước trận pháp ăn nhịp tiến thối biến hóa vô cùng, quân Văn Lang khó mà làm chi được, càng đánh càng tổn thất nặng nề. Thục Liêu ức khí giục ngựa xông tới chém quân Ân như chém chuối.

Bỗng tiếng quát như sấm:

   Nam tặc xem Đao pháp của ta đây.

Loáng một cái tướng giặc đã chặn đầu Thục Liêu với đường Đao hung hiểm lạ thường chém xuống đầu Thục Liêu như thát đổ. Thục Liêu đã quyết liều mạng nên sống chết chẳng coi ra gì, dốc sức bình sanh ra đở, chỉ thấy thương Đao chạm nhau tóe lửa đùng đùng ầm ầm đinh tai nhức óc. Thục Liêu càng đánh càng hăng càng lúc càng dữ dội, đến khi nghe quân reo dậy đất, ngựa hí vang trời làm chấn động cả chiến trường, thì ra quân Ân từ thành Tây Dương túa ra đông như kiến bao vây quân Văn Lang, tình thế vô cùng nguy hiểm.

Bỗng có vị tướng la lớn:

   Tướng quân chạy mau.

Thục Liêu chợt tỉnh cơn hăng máu chém bừa một thương quay ngựa chạy dài miệng hô:

   Rút.

Quân tướng thi nhau chạy thục mạng, quân Ân rượt đuổi chém thôi là chém.

Nói về tướng quân Thục Châu cũng chẳng có gì khá hơn, đang chiến đấu hăng say, thấy quân Ân từ trong thành kéo ra mỗi lúc mỗi đông thời hiểu ngay nguy cơ ập đến, liền đánh tới tấp làm tướng giặc lính xính, bất thình lình quày ngựa bỏ chạy miệng hô:

   Rút.

Nhắm hướng Đông Nam chạy thục mạng. Đến khi chạy không được nữa mới hay mình đã lạc vào rừng, không hiểu là mình đang ở đâu, phần thì trời sắp tối, tiếng hổ gầm, sói hụ nghe mà rợn người, cũng may là quân Ân không rượt theo, chém giết 4 – 5 dặm rồi thu quân trở lại thành Tây Dương Châu.

Nói về Chu Công Minh ra quân thắng liền hai trận, chiếm được thành Tây Dương Châu thì còn gì sung sướng hơn, liền cho người điểm lại hao bao nhiêu binh lính.

Không bao lâu thời có vị tướng vào báo:

   Bẩm chủ soái quân ta đã tổn thất hơn 3 vạn chỉ còn chín vạn.

Nghe con số tử vong như thế, Chu Công Minh thở dài nói:

   Thường xưa nay nơi chiến trận tướng chết rắn mất đầu binh lính liền tan rã, có số đầu hàng không còn sức để chống trả. Không ngờ quân Văn Lang lợi hại như vậy, kiên cường anh dũng đến thế, chỉ còn hơi thở là chiến đấu, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, nếu chỉ huy kém cỏi thì tổn thất còn nặng hơn nữa có khi một chọi một cũng chừng. Không hiểu tinh thần chiến đấu ấy từ đâu ra, không thấy một tên nào đầu hàng cả, không lẻ quân Văn Lang đã đạt đến trình độ Thánh Chiến.

Hồ Thế Gia nói:

   Bẩm Chủ Soái đúng vậy, đúng vậy. Chủ Soái quên rồi sao, đó là sự lợi hại của nền Quốc Đạo Tiên Rồng, một thứ văn hóa Truyền Thống chỉ nghe đến đã thấy ngán.

Chu Công Minh nói:

   Nếu chúng ta giành lấy được nước Văn Lang thì phải xóa sổ nền Quốc Đạo Tiên Rồng dân tộc này, một nền Quốc Đạo vô cùng nguy hiểm cho chúng ta, nơi nào có ngọn lửa Tiên Rồng thì nơi đó phải dập tắc ngay.

Hồ Thế Gia nói:

   Chủ Soái nói phải muốn cho dân Nam ngu dốt ta phải dập tắc ánh sáng chân lý, ngọn lửa Tiên Rồng thì coi như dân Nam đã lạc vào cảnh tối tăm, thì ta nói gì mà chẳng nghe, ta sẻ cho dân Nam cảnh nồi da nấu thịt. Anh em, dòng tộc, Đồng Bào con cháu Tiên Rồng tàn sát chém giết lẫn nhau. Ta làm ngư ông đắc lợi, tiêu diệt Văn Hóa Cội Nguồn, Quốc Đạo Tiên Rồng nền Hiến Pháp Văn Lang phải nói là việc làm thường xuyên, đào tận gốc rễ của chúng. Nước Văn Lang Độc Lập gần hai nghìn năm phần lớn là do nền Quốc Đạo lợi hại này, nghe đâu chỉ truyền xuống Vua Quan không truyền xuống dân mà còn lợi hại như vậy một thứ truyền thống quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh.

Lúc bấy giờ nơi nhà riêng của lão quan phủ Hữu Tài, yến tiệc đã bày sẳn, món ngon vật lạ, sơn hào hải vị chẳng thiếu chi, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt, nếu hít phải thời ruột gan cồn cào khó chịu. Lão Hữu Tài đãi ai mà đồ ăn thức uống vừa sang trọng vừa hiếm quí nhiều đến thế, còn phải hỏi. Lão thiết đãi các quan tướng cấp cao của giặc Ân, một cuộc thiết đãi vừa mang tính cách nịnh bợ, lấy lòng và cũng tỏ ra là mình sành điệu đối với cấp trên. Các quan tướng giặc đang hội họp cũng sắp đến hồi kết thúc, thì xuất hiện một người phụ nữ còn rất trẻ độ 20 – 21 tuổi, thân hình ỏng ẹo, ẻo lả đến bốc lửa, quần áo bó sát với điệu nghệ khoe của đường nét hoa mỹ khêu gợi, ẩn hiện làng da trắng nuốt tỏa ra xung quanh mùi nước hoa đắc tiền, làm ngạt thở những đàn ông chinh chiến đã xa gia đình lâu ngày, những tay háo sắc tim gan cháy bổng đến phát điên.

Ả ỏng ẹo đến trước Chủ Soái giặc Ân làm người ta liên tưởng đến vũ khúc khỏa thân của các Mụ Yêu tinh chọc phá thầy tu, nở nụ cười mời mọc lên tiếng:

   Bẩm Chủ Soái yến tiệc đã dọn xong mời Chủ Soái cùng các quan tướng sang bên nhà riêng Lão Gia để dự tiệc.

Lời mời diệu ngọt pha chút lã lơi làm cho các quan tướng mê mẩm, chăm chăm nhìn vào bộ ngực, nhìn vào cặp mông đánh qua ẹo lại mỗi lúc một xa dần.

Chu Công Minh như kẻ mất hồn hỏi:

Ả là ai thế?

Đến lúc này người ta mới nhìn thấy người áo đen Mầm Họa đang ngồi trong xó xỉnh, nhìn bộ điệu khúm núm như người hầu tớ đã khiếp sợ mụ Phù Thủy chủ nhà, như thằng tù nhìn thấy cai ngục.

Cái kiểu nịnh hót kiểu mới cố làm ra vẻ sành điệu, giã lắp bắp:

   Bẩm Chủ Soái đó là hầu thiếp thứ tám của Lão Phủ Gia, bà nào bà nấy cũng bốc lửa như vậy, mỗi người mỗi vẻ không thể chê vào đâu được.

Hí hí con mắt tên áo đen nói thêm:

   Các con dâu của lão đường nét còn hoa mỹ đồ sộ lộng lẫy đẹp hơn nhiều, thuộc hàng nhất nhì đất Tây Bắc này.

Chu Công Minh nhìn cặp mắt lương của gã mơ mơ màng màng lúc này gã giống như một con chó nhìn thấy nhiều cục mỡ thèm đến chảy nước dãi.

Bổng con chó gào lên:

   Bẩm Chủ Soái nếu Chủ Soái muốn có chi là không được,.

Thấy con chó gãi trúng chỗ ngứa Chu Công Minh cùng các tướng cười lên khoái trá, nghỉ con chó này cũng biết đánh hơi chỗ sở thích của mình.

Chu Công Minh nói:

   Sau vụ này ta sẽ thưởng cho xứng đáng, ngươi khá lắm.

Nghe có thưởng xứng đáng gã liền nghĩ ngay đến thay thế địa vị của lão Hữu Tài, tống cỗ Lão vào đại lao, xung quanh gã có bầy Hồ Ly Tiên Nữ suốt ngày vuốt ve đấm bóp gã mà gã đã mơ ước thèm khát bấy lâu nay. Chu Công Minh nhìn vẽ mặt đầy nham hiểm, hai con mắt láo lư, đảo qua đảo lại như quạ bẻ bắp cũng đoán ra được phần nào lòng dạ của gã chưởi thầm trong bụng: Đồ cáo con còn hôi sữa mà cũng đòi qua mặt cáo già như ta đây đã già nanh già vuốt, sau này ta sẽ thưởng cho ngươi một đường Kiếm để ngươi sớm đầu thai làm con chó ghẻ nhà nghèo ra mắt hàng xóm. Hắn nở nụ cười bí hiểm.

Chu Công Minh ra lệnh quan tướng tới nhà riêng Hữu Tài để dự tiệc. Nhìn đồ ăn la liệt đã bày sẳn trên chiếc bàn hình chữ nhật được nối dài ba bốn cái, mặt bàn được phủ một chất liệu vãi dệt bằng tơ tằm trắng nuốt làm tăng thêm vẻ lịch sự sang trọng, mùi rượu ủ lâu năm thượng hạng. Tuy chưa rót ra nhưng đã cảm tưởng nghe bốc mùi, làm cho những con sâu rượu ngô ngấy không yên, hơi nóng bốc lên từ các món đồ ăn sơn hào hải vị, nem Rồng chả Phụng làm cho người nhẹ bổng bay lên chín tận tầng mây. Các quan tướng giặc Ân kiềm lòng hết nổi, nhưng vì Chủ Soái chưa động chén động đũa nên chỉ biết liếm môi liếm mép mà nhìn. Chu Công Minh như bị thôi miên bởi sự giàu có của lão Hữu Tài, có nhiều điểm sang trọng tân thời nổi bật hơn cả cung vua cung chúa quên cả ăn uống. Lời đồn quả không sai, nước Văn Lang giàu có vô cùng, thảo nào các đời vua chúa đất Bắc mơ tưởng chiếm cho được nước Văn Lang. Ngoài trời mưa lấm tấm mỗi lúc một nặng hạt, trời trở gió xe xe lạnh lạnh làm tăng thêm sự quyến rũ hơi nóng bốc lên từ sơn hào hải vị.

Đã có vị quan tướng chịu hết nỗi nói:

   Bẩm Chủ Soái mời Chủ Soái dùng bữa.

Như người sực tỉnh liền thưởng thức món ăn, nhìn cách ăn uống của tướng giặc, nuốt chửng thức ăn quên cả nhai, rượu hết vò này tới vò khác, hết hủ nọ tới hủ kia. Người ta liên tưởng đến những gã ăn mày cả đời mới gặp được bữa cỗ, như người sắp chết đói lâu ngày nhìn thấy cục thịt nhừ là ngấu nghiến sợ người ta đến giành mất của mình. Lão Hữu Tài có lẽ muốn lấy lòng Chủ Soái, quan tướng giặc Ân nên lão đã bỏ ra bao công sức thêm những món ăn đặc sản mới lạ, cái lối nịnh hót khéo của Lão pha cổ pha kim giả tạo này, nhiều khi nó còn phản ngược lại sự mưu mô mong đợi của mình.

Ở đời dẫn sói về nhà, dẫn trộm cướp đến tham quan sự giàu sang, vợ đẹp, của ngon vật lạ thời khác chi tự mình lấy dao đâm vào cổ. Nhưng cha con lão Hửu Tài không bao giờ nghỉ như thế mà nghỉ mình trọng sói, trọng cướp là họ trọng mình. Nhìn thân hình chẳng mấy đẹp đẻ mập ú mất cân đối, được che đậy bởi trang phục vằn vệnh hoa văn ngộ nghỉnh, màu sắc lòe lọt, bật thầy của sự Diêm Chúa, cổ không ra cổ, kim không ra kim nhưng cha con lão lại cho đây là kiểu mô đênh tân thời đời mới. Mấy bà vợ cũng không chịu lép vế với cha con lão, ra chào khách với bộ quần áo nữa kín nữa hở bó sát tân thời, đường nét lộ liễu khêu gợi vô cùng, con mồi đã xuất hiện, bày sói dữ thích thú suồng sả nắm tay sờ mó lung tung. Ái chà đó là tiếng kêu thích thú khoái cảm của bà Tám. Hữu Tài bật ngửa hình như đã hiểu ra chuyện gì liền quát mắng mấy mụ vợ lui, nhưng nào có được.

Chu Công Minh nói:

   Không sao, không sao các phu nhân tiếp khách tốt lắm, đây là bữa tiệc phục chức làm quan như cũ, hi sinh thiệt hại một chút cũng chẳng sao, nghe nói các con dâu Quan Phủ khá lắm sao không ra mắt luôn thể để ta khen thưởng luôn cho.

Lão Hữu Tài cực chẳng đã mới cho người gọi dâu lớn, dâu nhỏ ra mắt các quan tướng giặc Ân. Đã phóng lao thì phải theo lao, tới đâu hay tới đó nhưng lão đã linh cảm một sự việc không lành xảy ra với lão. Vừa nhìn thấy dâu lớn, dâu nhỏ của lão các quan tướng giặc Ân như nhìn thấy các nàng Tiên xuống thế, rượu ngon gái đẹp thời còn gì sung sướng hơn nữa, gươm kề cổ cũng không từ huống chi cha con lão Hữu Tài chỉ là con chó săn, hết săn được thì thịt. Cha con lão Hữu Tài vừa choáng váng vừa sợ, vừa tức, vừa hận, nhìn lũ sói ngoại xâm ôm lấy vợ mình dồn dập tới tấp bốc hốt làm các ả Hồ Ly mê tít.

Cha con Lão phát điên quát tháo:

   Các quan tướng không được làm thế.

Cha con Lão cứ gào lên mãi, nhưng gào để ai nghe, cha con lão nhìn những cục vàng bọc kín bằng tơ lụa bị những con sói xé bỏ cha con lão che mắt tuyệt vọng gào thét dữ dội. Những con sói dữ đang dò dọc con mồi đến hồi quyết liệt gây cấn, bị người ta phá đám.

Tức giận quát tháo ầm ỉ:

   Ta làm thế thì sao nào? Ông cha ta thường nói, nóng giận mất khôn.

Cha con Lão Hữu Tài mất cả lí trí quát to:

   Ta bảo các ngươi dừng tay.

Với cái lối xưa nay bề trên ra lệnh bề dưới, cha con Lão quên mất trước mặt mình là ai, thế là tai họa ập tới. Cha con Hữu Tài nhìn thấy người áo đen thuộc hạ trung thành nhất của Lão nói to, nói nhỏ với Chu Công Minh tưởng là cứu gia đình lão.

Nào hay đâu Chu Công Minh quát to:

   Hãy bắt cha con lão Hữu Tài giam vào ngục. Cái ngục mà xưa nay cha con lão cho là đặc biệt.

Nghe đến cái ngục đặc biệt thì cha con Lão đã hiểu tất cả. Lão chỉ mặt tên áo đen thét lớn:

   Đồ chó má, đồ phản chủ, ta đã quên mất ngươi là Mầm Họa nên mới có cảnh ngày hôm nay, đồ chó má rồi sẽ đến lượt ngươi.

Lão cứ gào, gào để cha con Lão nghe. Cha con Lão nhìn sang các mụ vợ, các con dâu như cầu cứu, như vang lạy. Nhưng các bà vợ, các con dâu nào có đếm xỉa gì tới cha con lão, nhìn cha con lão với cái nhìn xa lạ, chỉ thả hồn theo bàn tay ve vuốt của loài cáo, sói. Chiếm lĩnh thọc sâu vào vùng cấm địa mà cha con lão đã tận tụy, tốn công tốn của chăm sóc, xây thành đắp lũy cho thêm đồ sộ, cái tình tiết của nợ đời đã làm cho cha con Lão đau khổ vô cùng tức trào máu họng.

Cha con Lão nói:

   Thế là hết, thế là hết.

Các ả con dâu, mụ vợ nhìn cha con Lão bị bắt, lôi đi xềnh xệch như nhìn con chó ghẻ sọt rác đã bốc mùi hôi thúi, càng xa càng tốt. Mụ vợ thứ tám yêu quí của Lão, hối thúc đưa cha con lão đi mau, để khỏi bị kỳ đà cản mũi khi chiến trường đang nổ ra giòn giả, dồn dập, tới tấp, liên miên. Thấy các con dâu, mụ vợ làm ngơ trước sự cầu cứu của cha con Lão. Cha con Lão nghĩ: Không lẽ ta không bằng con chó, khi mất chó người ta còn tiết hậm hụi kia mà. Xưa nay cha con Lão thường cho người ta ăn món ăn gông cùm bị lôi đi xềnh xệch. Nay cha con Lão mới ném thử, thấy sao mà chua chát quá, tủi nhục quá, đau đớn hết chỗ nói.

Lão nhìn người áo đen gào lên:

   Tên trời đánh, đồ phản bội, ngươi trả ơn ta bằng cách này sao? Ác lai ác báo.

Trả lời lão là những cú đạp như trời giáng liên tiếp của gã áo đen, làm cha con lão lộn trọc, té lăng chiên đứng dậy hết nổi

Cha con lão nghe tiếng sét như sấm nỗ bên tai:

   Đồ con lợn đứng dậy mau không ta cho một Đao chết tốt.

Cái tánh tham sống sợ chết thúc dục cha con lão đứng dậy răm rắp nghe theo lời nộ nạt của tên áo đen. Tiếng cửa ngục đã mở, chân của Lão cứng đờ, các con Lão cũng thế. Người áo đen ra lệnh cho đám thuộc hạ lôi cha con lão đi. Sầm một cái cha con lão giật cả mình, nhìn cái cửa tù đã đóng lại gã áo đen dần dần mất hút. Nhìn những song sắt to đùng, bốc hơi lạnh mùi tanh hen rỉ của sự ẩm mốc, ánh sáng le lói vừa đủ cho cha con lão nhìn thấy cảnh quan trong ngục tù. Những bộ xương người rãi rác chồng chất lên nhau, những chiếc đầu lâu trắng hếu làm tăng thêm vẻ rùng rợn mà cha con lão tích lũy tính ra hơn mười mấy năm, mùi chết chóc của thế giới oan hồn đã hiện ra, những con ma đói khát nhìn cha con lão với cái nhìn ăn tươi nuốt sống.

Tiếng động, tiếng động, những con ma biến mất thay vào đó là tiếng phì phèo mỗi lúc một nhiều, mỗi lúc một gần. Cha con lão kinh hoàng vì cha con lão hiểu rõ tiếng động ấy, tiếng động của loài rắn ăn thịt người mà cha con Lão đã nuôi nó từ lâu. Kìa một con đã bò ra, rồi hai con ba con thế là lúc nhúc cả đàn, rắn ông rắn bà, rắn cha, rắn con, rắn cháu, rắn chắt, rắn chít, họ mười mấy đời, cho đến vài chục đời nhà rắn, nhìn cha con Hữu Tài thè cái lưỡi tỏ vẻ thèm thuồng lắm. Chúng nhìn miếng mồi béo mập, bốc mùi mỡ trên thân hình cha con lão, đàn rắn bò tới bò lui, miệng phì phèo, có lẽ chúng đang hát bài dân ca tên công lý, gieo ác gặt ác nhất là thịt của những người phản Quốc lại thơm ngon lắm. Hàng trăm con mắt rắn chăm chăm nhìn cha con Lão như cảm ơn Thiên Công đã ban tặng gia đình rắn một bữa ăn no nê. Lão Hữu Tài sợ quá, nhìn sang những người con, hầu tìm đồng minh trấn áp nỗi sợ hãi, nhưng ôi không những cái xác không hồn, có lẽ các con Lão sợ quá đã tắc thở tự bao giờ. Giờ đây chỉ còn lại một mình Lão, một nỗi sợ hãi pha lẫn sự cô đơn mà Lão nghỉ không bao giờ xảy ra với Lão, nhất là chứng kiến rắn ăn thịt người, ăn ngay trên thi thể xác thịt cha con lão mà trước đây lão cho là thú vị nhất.

Lão nhìn đàn rắn sợ quá la ré, đàn rắn thích thú, ngúc nguê cúi đầu tán thưởng bài ca ác lai ác báo, gieo ác gặt ác, Lão nhận đủ cả vốn cả lãi lẩn lời. Lũ rắn nghe chán nghe chê liền lao tới hút máu ăn thịt cha con Lão, không bao lâu chỉ còn lại năm bộ xương khô, theo kiểu úp mặt xuống đất của loài bò sát do lưng lên trời. Nhìn cái kiểu nằm Trời phạt của cha con Lão, khi mãn tù nơi địa ngục âm phủ, may mắn cũng chỉ đầu thai vào loài cầm thú mà thôi.

Thơ rằng:

Đã sanh được kiếp làm người

Thân hình đứng thẳng đội trời đẹp thay

Tiên Rồng Nguồn Cội tung bay

Thiên đàng rộng mở đắp xây an lành

Hữu Tài gian ác tột cùng

Sâu dân mọt nước lấp vùi hiếu trung

Tôn thờ lũ giặc ngoại xâm

Tưởng đâu cuộc sống lên hương sáng ngời

Nào hay tai họa gián đầy

Làm mồi cho rắn, hồn thời đọa sa

Luật trời nào phải đâu xa

Gieo gì gặt nấy xưa nay chẳng lầm

Gieo ác thời ác đến tâm

Gieo thiện thời thiện âm thầm tới luôn

Tai trời nghe thấu trong tâm

Mắt trời thấy cả lỗi lầm trong đêm

Tưởng đâu Trời Đất mông mênh

Nào hay Trời Đất sát bên hồn người

Hữu Tài tội ác tày trời

Khó mong trở lại làm người kiếp sau

Thú Cầm luân chuyển xiết bao

Rồng Tiên đánh mất, ôi nào tiếc thay

Ác gian họa đến tai xây

Thiên đàng đánh mất hồn bay ngục tù

Gương trời soi sáng thiên thu

Cho người trần thế soi chung giữ mình.

Nhìn mười mấy hòm rương. Chu Công Minh hỏi người áo đen:

   Đã lục soát hết chưa?

Với bộ dạng khúm núm gã thưa:

   Bẩm Chủ Soái đã lục hết rồi ạ.

Chu Công Minh nói:

   Ngươi hãy mở ra xem những chiếc hòm rương đựng gì trong đó.

Thế là một chiếc hòm rương bật nắp, gã ồ lên một tiếng, nhìn ngọc ngà, vàng bạc, châu báu sáng lóa làm gã sửng sốt, gã tiếp tục mở chiếc hòm còn lại rồi tới chiếc hòm cuối cùng. Gã áo đen nghĩ: Sao mình ngu ngốc đến thế, sao không dấu đi một nửa, lòng tham bộc phát dữ dội, đáng lý tất cả là của ta.

Nói về Chu Công Minh như từ trên trời rớt xuống, nhìn những chiếc hòm rương đựng đầy ắp ngọc ngà châu báu. Tưởng là mình đang nằm mơ ý tưởng độc chiếm nỗi lên: Tất cả là của ta, không cho một ai biết đến.

Tên Mầm Họa người áo đen nào hay biết gì, con chó săn khi hết còn lợi dụng, thì để làm chi nhiều khi nó còn làm hại ông chủ. Chu Công Minh nghĩ: Thịt đi là vừa. Nhìn người áo đen đang khúm núm.

Chu Công Minh nói:

   Ngươi lại đây ta thưởng cho ngươi những gì ngươi muốn, công lao ngươi rất lớn ngươi cứ nói.

Tên áo đen Mầm Họa mừng quá bước tới khúm núm chờ những khúc xương mà ông chủ quen ra. Bất ngờ ánh Kiếm chớp lên, tên áo đen hốt hoảng nhưng đã muộn rồi cái đầu đã lìa khỏi cổ bay đi lông lốc, đúng như Hữu Tài chửi ác lai ác báo rồi sẽ đến lượt ngươi.

Quân lính đâu? Chu Công Minh gọi:

   Đem cái xác con chó ngu đần này quăng ra gò cho quạ mổ, kiến xơi, chồn tha, cáo nuốt. Tuân lệnh.

Nơi gò hoang không những cái xác không đầu của tên áo đen đã bốc mùi hôi thối mà còn có những cái xác trần truồng đầy máu me, đây không phải là xác binh lính mà là những cái xác phụ nữ, có xác còn rất trẻ, thì ra đây là xác của vợ lớn, vợ nhỏ, dâu lớn, dâu nhỏ của cha con Hữu Tài. Sau những cuộc mây mưa chê chán liền đã hất ra cho binh lính xài, chỉ có mười mấy bông hoa mà cả đàn ong lũ bướm tranh nhau giành giật, hết con này tới con kia, hết con nọ tới con khác cấu xé vùi dập tơi bời, tả tơi xơ xác rồi đêm ném xác ra gò cho kiến xơi quạ mổ. Nhìn hai con mắt đầy oán hận, pha lẩn nổi sợ hãi kinh hoàng, thế là những mánh khóe Hồ Ly bạc tình bạc nghĩa cuối cùng cũng nhận lấy hậu quả, cái giá phải trả cũng đắc. Thế mới biết gieo nhân bất chính nên kết quả gặt hái những thảm khốc, đó là quy luật của Hóa Công mà từ xưa nay không có chi là đổi khác. Gieo nhân bất chính nên kết quả cũng khó mà gặt lành, đó là quy luật chung không dành riêng cho ai.

**************

PHẦN 31

Đây nói về Chiêm Chiêm Vương là vị vương trấn thủ Nam Văn Lang, không có công văn thông báo triệu tập của Hùng Tiên Lang sanh lòng buồn bực nghĩ: Từ xưa tới nay những cuộc họp quan trọng đều có Chiêm Chiêm Vương ta nay nước nhà giặc Ân xâm lấn, các vị Vương ở Tây Văn Lang, Đông Văn Lang, Bắc Văn Lang đều đưa quân lên đường chống giặc. Còn ta cũng là Vương Gia trấn thủ Nam Văn Lang sao Vua Hùng lại bỏ quên, thế là sao hử, càng nghĩ càng tức. Chống giặc ngoại xâm nào phải của riêng ai, toàn dân kháng chiến có lẽ nào các bộ tộc Nam Văn Lang lại thua kém các bộ tộc Tây Văn Lang, Đông Văn Lang, Bắc Văn Lang. Bằng họp các tướng lại Quảng Hồ Thành trên địa phận Quảng Hà Châu, khi các quan tướng từ Bộ, Châu, Huyện về họp đông đủ.

Chiêm Chiêm Vương nói:

   Từ khi dựng nước giữ nước đến nay gần hai nghìn năm Độc Lập, đất Phương Nam luôn luôn khai hoang mở rộng theo di giáo lời dạy của Quốc Tổ Vua Hùng là khai hoang mở rộng vào Nam cho đến khi nào gặp chín con Rồng thông ra biển thời chân lý Tiên Rồng sẻ sáng tỏ năm châu Địa Long Vũ Trụ sẽ cất cánh bay về Trời. Nay nước nhà bị giặc Ân phương Bắc xâm lược mà Vua Hùng xem chúng ta như người ngoài là có ý gì đây? Hung hay Kiết các quan tướng bàn tính đón xem, để có kế sách đối phó.

Các quan tướng nghe qua tình hình, có người tức giận, có người lo sợ, có người hoang mang không biết chuyện gì sắp xảy ra. Bổng có quân vào báo:

   Bẩm vương gia có người cần gặp.

Chiêm Chiêm Vương ra lệnh:

   Cho người ấy vào.

Tuân lệnh. không bao lâu người ấy được đưa vào ra mắt Chiêm Chiêm Vương. Chiêm Chiêm hỏi:

   Ngươi ở đâu? Gặp ta có chuyện gì?

Người ấy thưa:

   Hạ dân quê ở Hồng Châu, huyện Hồng Hải, xã Ninh Quan lúc vào rừng đi săn gặp một người bị thương rất nặng hỏi ra mới biết người ấy bị cọp vồ, cuối cùng người ấy cũng hạ được con cọp, một con cọp to lớn, người ấy nói với tôi thời bất tỉnh không biết gì nữa, hạ dân đưa người ấy về nhà thuốc thang chữa trị, hơn 10 ngày mà vẫn bất tỉnh, có lẽ vì quá nặng sau năm hôm nữa thì qua đời. Trước khi tẩm liệm hạ dân phát hiện có một bức phong thư nhưng vì hạ dân ngu dốt không biết đọc, sau khi chôn cất xong người xấu số hạ dân mới tìm người đọc dùm mới hay là khâm sai của triều đình, đem thơ đến cho Vương Gia.

Người ấy nói xong liền dâng thơ lên. Chiêm Chiêm Vương nhận thơ rồi đọc, nội dung thơ như sau: Chiêm Vương Gia nhận được thư này thời cấp tốc về Kinh Đô Văn Lang để họp, bàn những vấn đề cần thiết liên quan đến vấn đề hung hiểm của Tổ quốc non sông.

Chiêm Chiêm Vương linh cảm như có điềm chẳng lành sắp xảy ra, nghĩ: Không lẽ đây là ý Trời. Không dám nghĩ sâu thêm nữa. Chiêm Chiêm Vương tập trung lực lượng các châu, phủ hơn 5 vạn quân chuẩn bị ngày mai lên đường tiến về phương Bắc chung tay góp sức tiêu diệt giặc Ân.

Không ngờ em họ của Chiêm Chiêm Vương là Hồ Chiêm Quân làm phản, giết Chiêm Chiêm Vương lên nắm quyền sanh sát trong tay ai theo thì sống, ai chống thì chết. Hồ Chiêm Quân giết anh họ của mình tạo ra cái cảnh nồi da nấu thịt, xưng Đế vương biệt lập. Tức thời một cuộc nội chiến xảy ra, tàn sát đẩm máu chưa từng có trong lịch sử Nam Văn Lang, cái cảnh củi đậu nấu hạt đậu mà Hồ Chiêm Quân cho là chính nghĩa vì đó là lời dạy của các Đấng Thần Linh, nghe theo Thần Linh thì sống, chống lại Thần Linh thì chết.

Hồ Chiêm Vương tự dựng lên thuyết Thần Linh những vị Thần không có thật, do Hồ Chiêm Vương tưởng tượng đặc ra, lừa bịp dối gạt dân chúng vì lúc ấy trình độ dân trí còn quá lạc hậu nên đại đa số đã bỏ Cội Nguồn chạy theo cuồn tín ma thuật dị đoan, đi vào con đường tàn sát lẩn nhau dẩn tới bao tai họa sau này.

Phải chăng cải lại Cha Trời

Họa tuông máu đổ đầu rơi khắp cùng

Chẳng tin lời dạy Vua Hùng

Anh em tàn sát họ hàng máu tuông

Nồi da nấu thịt sớm hôm

Từ đây Bộ Lạc Chiêm Vương khổ sầu

Chia đàng rẻ nghé tan bầu

Lệ dân khốn khổ biết đâu Cội Nguồn

Tiên Rồng văn hóa con đường

Đại Đồng bình đẳng náo nương về trời

Thánh Thần phật chúa do người

Do tâm mê ngộ tạo thời mà nên

Ác thời thành quỹ thành yêu

Thiện thời thành phật thành tiên thánh thần

Hồ Chiêm lạc lối đã đành

Kéo theo vô số dân lành thảm thây

Đầu rơi máu đổ tai bay họa cùng

Khi nào lời dạy Vua Hùng

Tái sanh trần thế Đại Đồng nở hoa

Văn Lang sống dậy lời ca

Thái Bình Độc Lập nở hoa thái bình

Chiêm Vương trở lại hồi sinh

Hồ Chiêm phải chịu cực hình trước dân

Trước muôn vạn ức Thánh Thần

Trị trừng cái tội phản trời xưa nay

Trời Nam Phụng hội Rồng bay

Địa Long vũ trụ Đông Tây hội về

Hư Không vũ trụ ra đề

Thánh Thần Tiên Phật bộn bề lo chung.

**************

PHẦN 32

Đây nói về Tây Thục Vương ở Tam Giang Tây Châu cách Kiến Giao Châu không xa, chỉ một vạn quân đóng tại đây nhưng hùng mạnh vô cùng vì có 200 kỵ binh thiết giáp, đội quân chủ lực của quân Văn Lang. Mạng lưới thông tin đặt khắp nơi cập nhật từng giờ, nhất là tình hình Tây Dương Châu, Tây Giang Châu, Kiến Giao Châu. Biết được quân Ân tấn công ba thành chỉ trước sau có vài ngày thôi. Giờ nầy ba thành đều đang giao tranh quyết liệt. Thành Tây Giang Châu đã có 10 vạn quân của Diệp Lang Đích Tôn Vương Tử tiếp viện xung trận lại có Địa Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm thì không còn lo chi nữa, chỉ lo là con dâu út Thái Nga của Thục Cương sống chết chưa rõ, đang lúc lo lắng cho con.

Thời có quân thám báo vào báo:

   Bẩm vương gia thành Tây Dương Châu thất thủ rồi.

Thục Vương tưởng mình nghe lầm, hỏi lại:

   Ngươi nói cái gì?

Thám tử thưa:

   Bẩm Vương Gia thành Tây Dương đã bị giặc Ân xóa sổ.

Tây Thục Vương kinh hãi quát lớn:

   Ngươi nói cái gì?

Tên thám báo sợ quá nính thinh, lấy lại bình tỉnh Tây Thục Vương hỏi:

   Còn gì nữa không?

Thám tử thưa tiếp:

   Bẩm Vương Gia quân ta đang thất lạc khắp nơi.

Thục Vương nói:

   Hãy tung mạng lưới thám báo cùng khắp thu thập thông tin.

Tuân lệnh. Tên thám báo nầy vừa ra thời tên lính thám báo khác lại vào, tên nầy có vẻ bình tỉnh hơn:

   Bẩm Vương Gia, Kiến Giao Châu quân Ân đang tấn công dữ dội, giao chiến đã ba lần rồi, quân ta có vẻ lấn thế nên quân Ân chưa làm gì được.

Thục Vương hỏi:

   Còn gì nữa không?

Dạ hết. Tên lính thám báo đáp xong thời lui ra tên thám báo khác tiếp tục thông báo tình hình chiến địa:

   Bẩm Vương Gia tình hình Tây Giang Châu đã đảo ngược, quân ta đã xóa sổ trên 12 vạn quân Ân. Chủ Soái Triệu Tử Quân, phó thống soái Ngạc Sùng Văn đã tử nạn. Giờ các quan tướng đang họp bàn tại thành Tây Giang Châu, Thái Nga quận nương cũng đã khỏi bệnh. Nghe nói Thái Nga quận nương lợi hại vô cùng, giết được Cạp Tinh, Xà Tinh uy danh lừng lẫy.

Tây Thục Vương mừng rở cảm ơn trời đất, vuốt chồm râu nói: Có thế chứ, nhưng niềm vui liền chợt tắc vì thành Tây Dương Châu thất thủ, Thục Chăm, Thục Liêu, Thục Châu không hiểu sống chết ra làm sao, liền viết vội một phong thơ gởi cho ba anh em Thục Mân, Thục Ren, Thục Cương nội dung thơ viết như sau: Nhận được thư này các con hãy trình lên xin ý kiến chỉ đạo của Đích Tôn Vương Tử. Tình thế vô cùng khẩn cấp, thành Tây Dương thất thủ, Thục Chăm, Thục Liêu, Thục Châu các anh con sống chết chưa rõ, binh lính chạy tản loạn khắp nơi, còn thành Kiến Giao Châu chiến trận giao tranh quyết liệt. Hồi âm thư cho cha <Tây Thục Vương>.

Nói về Diệp Lang phá được trậm Âm Dương tứ tượng ngũ hành, tiêu diệt hơn 10 vạn quân Ân tướng sĩ đi đời hồn chầu Địa phủ, liền cho người điểm lại quân binh hao tổn bao nhiêu.

Không bao lâu Đại Lực Tướng Quân vào báo:

   Bẩm Vương Tử quân ta còn hơn 8 vạn.

Nghe con số tổn thất như vậy Diệp Lang buông tiếng thở dài:

   Tại ta tất cả quá chủ quan dẩn đến sơ sót. Bài học kinh nghiệm đã được rút ra, tự tin là điều tốt, lòng tự tin phải đi đôi với sáng suốt dựa trên cơ sở thực tiễn căn cứ rõ ràng một cách khoa học thì kết quả ra quân mới đạt thắng lợi cao. Hiện giờ trên khắp đất Bắc giặc Ân đang ráo riết xâm lăng chiếm lần chiếm lần đất đai sâu vào nước Văn Lang, cảnh dầu sôi lửa bỏng, dân chúng lầm than cơ cực, tình hình khẩn cấp khó thể ngồi yên trong lúc này.

Diệp Lang liền ra lệnh:

   Các tướng nghe lệnh hãy thu dọn chiến lợi phẩm rút lui về rừng Tiên Du tạm thời đóng quân tại đó khao thưởng binh lính, đợi lệnh.

Các tướng đồng loạt nói:

   Rõ.

Diệp Lang tiếp tục ra lệnh:

   Còn Trung Đại Nhân, Trung Hoài Nghĩa, Ngọc Thiên Hương, Lạc Tiên Tiểu Thơ theo bổn Vương vào thành Tây Giang Châu hội họp.

Xin tuân lệnh.

Sau khi phá trận xóa sổ hơn 10 vạn quân Ân, ba anh em nhà Tây Thục liền cho người điểm lại quân lính thì chỉ còn hơn 6 vạn cộng thêm hai cách quân phục kích tại rừng Hổ Mang lau sậy cùng cánh quân phục kích tại đường Độc Đạo, thì chỉ còn hơn 7 vạn quân là cùng không khỏi thở dài.

Nơi quan phủ tại nhà riêng An Lạc Điền lúc nào cũng rực rỡ, không phải nhà cao cửa rộng, vàng bạc châu báu lụa là gấm vóc mà là những nàng Tiên lạc bước xuống trần, họ là ai thế thì ai vào đó nữa, ba vị phu nhân của ba anh em nhà Tây Thục cộng thêm hai vị con cưng của hai nhà quan phủ thế là năm.

Xê Đang:   như cánh Hoa Đào.

Xê Ni     :   như cánh Hoa Lan.

Thái Nga:   như cánh Hoa Mai.

An Lạc Tiên, Ngọc Thiên Hương:  như mùa xuân rực rở muôn hoa.

Tiếng nói cười như oanh hót, sơn ca. Năm nàng tiên lúc nào cũng tươi cười rực rỡ, làm cho người ta quên mất những trận chiến sanh tử khốc liệt vừa qua. Nhất là Thái Nga nàng lúc nào cũng tươi cười sung sướng, tưởng mình đã chết nào hay được phước to, nhờ gặp được linh đơn cứu mạng, không những cứu mạng mà còn làm cho Thái Nga trẻ lại 5-7 tuổi, xinh đẹp hẳn lên, nội lực tăng lên gấp đôi. Thấy người cứu mạng mình là 1 người con gái còn rất trẻ, xinh đẹp vô cùng, đẹp đến nỗi nàng không tin ở mắt mình, nhưng đây là sự thật một con người bằng xương bằng thịt, lúc nào nàng cũng theo sát Ngọc Thiên Hương cung kính thân thiện.

Bữa tiệc thiết đãi của quan phủ An Lạc Điền không cầu kỳ cho lắm, chỉ toàn là đặc sản của địa phương. Với tài nghệ chế biến nấu nướng của An Lạc Tiên, biến đặc sản của địa phương thành cao lương mỹ vị, nhiều món khác lạ mà ngay cả cung đình cũng chẳng có. Có thể nói những món ăn ở đây không thua kém ở hoàng cung, không hiểu cái tài chế biến nấu nướng nàng học ở đâu cha nàng cũng không rõ. Những món ăn còn nóng hổi bốc hơi thơm ngào ngạt được bưng lên bởi những bàn tay ngọc ngà, tuy chưa thưởng thức món ăn nhưng đã thấy ngon làm bụng đói cồn cào. Thế là không còn khách sáo tất cả đều nâng ly vào tiệc, bữa tiệc tuy đơn sơ nhưng lại đầy ý nghĩa của sự đoàn kết, tình đồng loại nghĩa Đồng Bào mang tính Đạo Đức thành tâm hơn là phô trương sự sành điệu của mình. An Lạc Điền là người thông minh, trước mặt Đích Tôn Vương Tử, không nên phô trương khoe khoang, ăn chơi sự sành điệu của mình mà nên giữ đúng nghĩa vị quan tiết kiệm thanh liêm thì hay hơn phô trương sự giàu có, mà thể hiện vì quan phủ lúc nào cũng lo cho nước, cho dân.

Diệp Lang vừa thưởng thức món ăn vừa quan sát cảnh quan nơi quan phủ luôn luôn gật đầu khen ngợi. Trung Đại Nhân là người tinh tế nhạy bén về tình hình này, lão nghỉ có lẽ An Lạc Điền đã cao tay ấn hơn lão một bậc, đây là bài học khôn khéo mà lão mới thấy lần đầu. Thấy Diệp Lang vừa thưởng thức món ăn vừa nhìn quanh cảnh xung quanh mãi gật đầu. An Lạc Điền nghỉ ngay đến ngôi vị làm cha vợ vị Vua Hùng đời thứ bốn thời hậu Hùng Vương.

Nào phải chỉ An Lạc Điền nghỉ thế đâu mà ngay cả Trung Đại Nhân cũng có ý nghĩ này, hai người lâu lâu nhìn nhau như có vẻ hiểu nhau. An Lạc Điền, Trung Đại Nhân đều là bậc anh hùng quân tử trong hàng quan phủ đương đại, không có ý nghĩ hẹp hòi ganh ghét, giật giành lẫn nhau mà lúc nào cũng ôn hòa thân thiện kính trọng lẫn nhau.

Diệp Lang là người khó tính trong việc chọn ý trung nhân, thế mà từ khi gặp gỡ hai nàng con gái Thiên Hương và Lạc Tiên thì quả tim đã rung động nhưng chưa vội vã nói ra vì còn quá sớm lại thêm chiến trường dồn dập những trận tử chiến, sống chết chưa thể tính trước. Hơn nữa tình yêu phải để cho nó chín mùi, không khéo sẽ gây thêm sự rắc rối.

Vừa mới gặp nhau, nở nghiệp duyên

Có phải ngày xưa, đã thề nguyền

Gặp nhau trong lúc, đầy binh lửa

Sống chết kề vai, kết quả Tiên

Gươm giáo còn vang, rền sông núi

Tình yêu đợi chín, trốn trận tuyền

Binh lửa tàn rồi, nên đôi lứa

Chim, cánh từ đây mãi nên duyên.

An Lạc Điền mở tiệc đãi bao hàm nhiều ý nghĩa ít ai có thể nhìn ra, khi tiệc cũng sắp đến hồi mỹ mãn thì có quân vào báo:

   Có quân thám báo do Tây Thục Vương phái đến.

Diệp Lang mời vào, không bao lâu tên thám báo vào hành lễ, dân thư của Tây Thục Vương gởi cho. Thục Mân nhận thư không xem mà dâng lên Diệp Lang. Diệp Lang nhận thư đọc, Thục Mân xúm lại xem, thấy nội dung trong thơ vô cùng kinh hãi liền trao qua cho hai vị quan phủ xem.

Xem xong hai vị quan phủ mặt liền biến sắc nói:

   Tình hình vô cùng phức tạp có thể nói là nguy hiểm phải nhanh chóng giải quyết.

Thế là cuộc thảo luận sôi nổi cuối cùng cũng đưa đến kết luận, thống nhất chung. Diệp Lang liền viết một mật thư hồi âm, giao cho tên thám báo, để cho chắc ăn phái một số cao thủ theo hộ giá mật thư, nội dung mật thu như sau: Vương Gia lo tiếp viện Kiến Giao Châu còn Tây Dương Châu giao cho Diệp Lang tôi đảm nhiệm, cùng tìm kiếm binh lính đang bị thất lạc, tình hình khẩn cấp Vương Gia định liệu Diệp Lang ấn bút.

Để cứu vãn xoay chuyển tình thế, Diệp Lang triển khai ngay lực lượng. Diệp Lang ra lệnh:

   Thục Ren, An Lạc Điền, An Lạc Sơn nghe lệnh. Có thuộc hạ, ba vị tướng quân ở lại giữ thành nghi binh cờ xí chiêng trống rầm trời. Tuân lệnh.

   Thục Mân, Thục Cương nghe lệnh. Có thuộc hạ, nhị vị tướng quân, mỗi người điểm 2 vạn quân tức tốc đến huyện Hà Giang, rừng Hà Lâm hợp với 4 vạn quân ở đây, Mường Thái tướng quân, Lô Gô tướng quân. Văn Quang tướng quân tất cả đều phải nghe theo sự chỉ huy của Thục Mân.

Diệp Lang liền lấy gươm lệnh trao cho Thục Mân nói:

   Tướng quân hãy tạm thời nhận lấy thanh gươm lệnh này, điều khiển 3 vạn quân tướng sỉ tức tốc dẩn đại quân vây hảm thành Tây Dương Châu. Tuân lệnh.

Diệp Lang tiếp tục nói:

   Trung Đại Nhân, Trung Hoài Nghĩa, Ngọc Tiểu Thơ theo bổn vương về doanh trại, thống lãnh đại quân tiến đánh thành Tây Dương Châu. Tuân lệnh.

Nhìn thấy bộ mặt tươi như hoa mới nở An Lạc Tiên giờ đây trở nên héo xèo, trông cô thật tội nghiệp. An Lạc Điền là người thông minh hiểu rõ tâm trạng của con gái mình, liền nói Ngọc Cô Nương:

   Hãy cho Lạc Tiên con lão theo tiểu thơ học hỏi xung trận.

Diệp Lang nghĩ nếu trận chiến vừa rồi không có Lạc Tiên, thì Ngọc Thiên Hương đã bị Hồ Ma Yêu làm hại rồi liền nói:

   Có Lạc Tiên tiểu thơ theo cô xung trận thời tôi mới an tâm.

Nghe câu nói đầy lo lắng của Diệp Lang đối với mình, Ngọc Thiên Hương nghe lòng mình ấm áp đến kỳ lạ còn Lạc Tiên chỉ cần lúc nào cũng đi theo Diệp Lang là sung sướng lắm rồi.

Tình yêu là cái chi chi

Khiến người lo lắng sầu bi sớm chiều

Sự đời có biết bao nhiêu

Hận yêu, yêu hận lắm điều chua cay

Tình yêu càng đắm càng say

Càng nhiều ngọt đắng, càng hay buồn sầu

Nợ duyên, duyên nợ cõi đời

Như cơn gió thoảng đến rồi lại đi

Lắm khi mà cũng nhiều khi

Nên trang giai đoạn tình yêu châu vàng

Tình yêu trổi dậy ngập tràng

Như Trời và Đất rộn ràng mùa xuân.

**************

PHẦN 33

Ruộng vườn sai quả sai hoa

Bổng đâu cầm thú bay qua dẩm càng

Lê dân khốn khổ tột cùng

Giặc Ân cướp bóc, xóm làng xác xơ

Yêu nước nào thể làm ngơ

Triệu người như một đứng lên diệt thù

Dẫu cho thân xác chẳng còn

Cũng vào trận đánh giữ gìn nước non.

Đây nói về Triệu Công Tiễn, theo lịnh của Ngạc Sùng Cảnh thống lảnh trên 12 vạn quân cùng các trấn chư hầu, Mân, Ngân, Ngụy tiến đánh thành Kiến Giao Châu. Triệu Công Tiễn không những là tay đa mưu, túc trí, võ nghệ cao cường lại có học thuật phép Tiên là vị tướng giặc lợi hại vô cùng. Nhìn cái cách hành quân thần tốc ai thấy cũng phải lắc đầu le lưỡi, dọc đường luôn luôn để lại quân thám báo. Đội quân thám báo của Triệu Công Tiễn vô cùng lợi hại, tất cả thông tin đều cập nhật hằng giờ. Đại quân chưa đến Kiến Giao Châu nhưng mật thám của Triệu Công Tiễn đã đến đó ba bốn ngày rồi, luôn luôn nắm bắt tình hình chính xác.

Thành Kiến Giao Châu là một trong những thành ở Kinh Bắc, kiên cố còn hơn Tây Giang Châu. Trấn giữ thành này là vị quan phủ Ngô Thời Đại, hết mực thương dân, có ba người con trai, con lớn theo nghiệp võ, hai người em kế theo nghiệp văn, đều là trang anh hùng hào kiệt, giàu lòng yêu nước đối với non sông Tổ Quốc. Nghe giặc Ân xâm chiếm nước nhà, thời hùng khí Tiên Rồng nổi lên, háo hức tham chiến tiêu diệt giặc Ân, nhận được thông báo Vua Hùng ra lệnh. Châu, phủ, quận, huyện khẩn cấp di tản lánh nạn giặc Ân. Người con lớn lo tập họp lực lượng binh lính ở các quận, huyện, còn hai người em thì hướng dẫn dân chúng di tản sâu vào các châu, quận, huyện phía Nam.

Không bao lâu 10 vạn đại quân kéo đến, quan phủ Ngô Thời Đại cùng các con ra đón đại quân hơn dặm, nhìn thấy ba anh em nhà Tây Thục như sư tử, hổ, voi nơi đại ngàn thì nghĩ lời đồn quả không sai. Tây Thục Vương có chín người con làm chúa trấn thủ chín vùng, người nào người nấy anh dũng hơn người. 10 vạn đại quân vào thành an vị đâu vào đó, Ngô Thời Đại sai con lớn là Ngô Thạch Hản mời ba vị đại tướng quân cùng các vị quan tướng đến nhà riêng để thiết đãi. Nhìn cung cách thiết đãi cũng đủ thấy vị quan phủ nầy rất kính trọng ba anh em nhà Tây Thục, rượu được vài tuần, để thử tài ba anh em nhà Tây Thục thực hư ra làm sao, cũng là để cho ba người con của lão mở rộng tầm hiểu biết.

Vị quan Ngô Thời Đại nói:

   Trước tình hình này, nghe nói giặc Ân quyết biến nước Văn Lang thành thuộc địa của chúng, với quy mô xâm lược chưa từng có lên đến 200 vạn quân. Trước tình hình này thì chúng ta phải làm sao khi địch mạnh hơn ta gấp đôi gấp ba?

Thục Lao đáp:

   Thưa Phủ Gia từ cổ chí kim, phi nghĩa khó thắng chính nghĩa, sức mạnh của chính nghĩa là sức mạnh vô địch không có một sức mạnh phi nghĩa nào hơn được. Ngọn lửa yêu nước là ngọn lửa bất tử, không có một thế lực nào dập tắt được. Lòng căm thù rộng lớn như biển cả Đại Dương, luôn luôn tạo ra những con sóng dữ, nhấn chìm lần những con thuyền hiện đại đi sâu vào giông tố của lòng quật khởi yêu nước. Nền Quốc Đạo Dân Tộc là lũy cao, hào sâu dù cho thiên binh vạn mã cũng khó mà vượt qua, một nền Văn Hiến lâu đời đã có hơn hàng nghìn năm chủ quyền Độc Lập, có gươm Thiên trấn quốc Văn Hóa Cội Nguồn. Vì thế dù cho giặc có 500 vạn quân, thậm chí 1000 vạn quân thì kết cuộc cũng thất bại mà thôi, chuyện chống ngoại xâm là chuyện thường xuyên, như ăn cơm bữa, trường kỳ kháng chiến, chúng ta thắng giặc bằng ý chí và sự quyết tử nhưng không phải vì thế mà nôn nóng đưa quân vào tử lộ, xem mạng anh em binh lính như cỏ rác, không có mục đích kết quả. Đó không phải là yêu nước mà nhiều khi ngược lại làm phản khí thế. Tuy nhiên nếu kẻ thù ngoan cố xâm lược tàn sát dân ta, thì chúng ta phải xông lên tiêu diệt chúng dù cho thịt nát xương tan, lúc này là lúc chúng ta dùng trí hơn là dùng bạo lực để hạ chúng. Đã vào trận chiến thì có lúc thua, thua rồi để thắng, thì cái thua ấy hữu dụng ý nghĩa vô cùng. Sức mạnh chiến đấu phải được phát huy từ lòng yêu nước, từ nền Quốc Đạo Dân Tộc và lòng quả cảm của mỗi con người. Chúng ta có một thứ vũ khí tối tân, hiện đại vô địch đó là Hiến Pháp Văn Lang, nền Quốc Đạo Tiên Rồng. Đất nước Văn Lang chúng ta từ ngàn xưa tới nay đều lấy đạo nghĩa trị Quốc, lấy truyền thống hưng binh, mang dòng máu Tiên Rồng sẳn sàng vì tự do Độc Lập mà hi sinh. Nói tóm lại giặc Ân dù cho nhiều đến đâu, hùng mạnh đến đâu nhất định thất bại, thất bại nhục nhã, thất bại thê thảm. Vì giặc đã bước vào đất chết thì không còn mạng sống để mà trở về.

Bốn cha con Ngô Thời Đại nghe Thục Lao thuyết trình một cách hào hùng như vậy càng thêm khâm phục. Trên thành cao nhìn về hướng Tây Bắc khói bụi mịt mù, thời biết là quân Ân sắp kéo đến. Thục Lao, Thục Nam, Thục Di trầm tỉnh xem xét tình hình của giặc. Tiếng quân reo ngựa hí xe cộ rầm rầm rộ rộ mỗi lúc một gần, đoàn quân di chuyển nhanh khôn tả, mới đó mà đã đến trước cổng thành đông như kiến. Chỉ loáng qua một cái quân Ân đã bày binh bố trận, quân binh đâu vào đấy, tuy giặc Ân cách thành hơn hai dặm nhưng nhờ ở trên thành nên nhìn thấy rõ ràng.

Quan phủ Ngô Thời Đại nhìn thấy giặc Ân di chuyển nhanh chóng, bày binh bố trận mau lẹ thời kinh hãi nghĩ: Tên Chủ Soái giặc Ân nầy không dễ đối phó, cơ trí hơn người. Nếu không cẩn thân thời không biết đâu mà lường có lẽ phần thất bại sẽ thuộc về mình.

Bổng từ trong trận giặc dựng lên một đài quan sát mau chóng sau đó thời xuất hiện một tướng, đầu đội kim cô, mình mang giáp sắt, cỡi con ngựa Hắc Long Câu với thanh Đại Đao nặng hơn 60 cân oai phong lẩm lẩm, dẩn 3 nghìn quân tới sát cổng thành khiêu chiến, hét lớn mau mở cửa thành đầu hàng thì sống, chống lại thì chết chửi bới ôm sồm.

Trên thành cao Thục Di nói:

   Thằng giặc này hỗn láo, để em ra thịt nó cho rồi.

Thục Lao nghĩ Thục Di là tay võ nghệ cao cường, mở màn trận chiến phải thắng lợi để khích tướng ba quân tướng sỉ liền bằng lòng cho Thục Di ra trận. Thục Di là người con thứ ba của Tây Thục Vương, sức mạnh tay không quật ngã một con hổ lớn, thập bát môn binh khí đều tinh thông nhưng sở trường vẫn là thanh Long Đao nặng hơn 60 cân, nhất là nghề bắn cung trăm phát trăm trúng, người đời còn gọi Thục Di là thần xạ tiễn đã bắn là trúng. Mẹ Thục Di là Di rất giỏi dùng độc hấp thụ chân truyền của mẹ, kẻ đối mặt với Thục Di không chết về Đao Kiếm cũng chết về độc.

Cổng thành Kiến Giao Châu đã mở, 3 nghìn quân Văn Lang xông ra. Thục Di đầu đội Kim Khôi, mình mang giáp sắt, cỡi con Xích Thố, tay cầm Long Đao nặng hơn 60 cân oai phong lẩm lẩm.

Thục Di cỡi ngựa xông tới quát to như sấm nổ:

   Đồ cẩu tặc khôn hồn cút về đất Bắc sống với vợ con, bằng không ta sẽ cho ngươi đầu lìa khỏi cổ.

Tướng giặc thét lớn:

   Đồ con lợn mà cũng lên mặt sao.

Nói xong giục ngựa lao tới chém một nhát như trời giáng xuống đầu Thục Di. Thục Di nào có chịu thua đưa Đao lên đở, phản công như tia chớp hét lớn xem này, tức thời thanh Đao chơm chớp vu vu hớp hồn kẻ thù. Tướng giặc cũng không kém hoàn Đao chống trả đùng đùng ầm ầm đinh tai nhức óc, kẻ đánh người đở, chém lia chém lịa, người ngựa tới lui, xáp vô dội ra, xoay vòng như chong chóng, ánh Đao chơm chớp gió bụi mịt mù kỳ phùng địch thủ, hai bên càng đánh càng hăng. Thục Di giả thua quay ngựa chạy dài, tướng giặc đuổi theo, Thục Di quay ngựa tạc ngang, dương cung bắn một phát, tướng ngựa bất ngờ trúng tên Thục Di lao tới chém bay đầu. Quân Văn Lang thắng thế ào ào xông tới chém giặc Ân xối xả, chết la chết liệt nằm như rạ.

Bổng nghe tiếng quát như sấm từ trong binh lính giặc Ân xông ra một tướng mặt mày hung dữ hét lớn:

   Nạp mạng đây.

Tức thời cặp song chùy nặng hơn tạ đầy gai nhọn nhắm đầu Thục Di nện xuống như sấm, Thục Di chống đở ê cả tay thất kinh chỉ lo né tránh, song chùy tướng giặc liên tục biến hóa nện xuống Thục Di ầm ầm như thát đổ.

Ở trên thành cao ba anh em nhà Ngô kinh hoảng nói:

   Không xong rồi.

Nhìn sang anh em nhà Tây Thục vẫn thấy họ bình tỉnh xem trận đấu, trong khi yếu thế đã nghiêng về phía Thục Di.

Nói về Thục Di thấy tướng giặc mạnh quá, song chùy tuông ra như thác đổ phủ xuống đầu liên miên bất tận đở hết nỗi ê cả tay, liền dùng đến tuyệt chiêu Rồng Dậy Biển Khơi sóng nỗi ầm ầm cuồn cuộn phủ xuống đầu tướng giặc. Tướng giặc thấy Đao pháp vô cùng lợi hại lóa cả mắt, biết là không đở được liền thi triển tuyệt chiêu Ma Ảnh Thân Pháp biến mất, nghe tiếng gió sau lưng đánh tới, Thục Di kinh hoảng hồi Đao chống trả đùng đùng ầm ầm. Biết mình không phải đối thủ của tướng giặc, càng kéo dài trận chiến càng bất lợi, đôi khi còn mất mạng liền thi triển độc chiêu ấn vào chui Đao một cái tức thời làm khí độc vô hình tuôn ra, tướng giặc nào hay biết gì đang hăng say hạ gục Thục Di hít nhằm khí độc xây xẩm mặt mày, song chùy chậm lại. Thục Di nào bỏ lở cơ hội liền thi triển tuyệt chiêu Vòi Rồng Hút Nước. Tức thời một cơn lốc xoáy nỗi lên. Đạo pháp như tia chớp chém bay đầu tướng giặc bay đi lông lốc.

Ngô Thời Đại cùng các con lão sửng sốt kinh hải đến sững người. Nhất là Ngô Gia Đông con lớn Quan phủ xưa nay vẫn cho mình là con người tài giỏi. Nay mới biết mình chỉ là ếch ngồi đáy giếng. Võ học và kỉ xảo mênh mông như trời biển. Cao nhơn tất hữu cao nhơn trị. Mình giỏi còn có người khác giỏi hơn mình. Thắng liền hai trận tiêu diệt hơn hai nghìn giặc Ân. Thục Di liền thu quân trở lại thành.

Nói về Triệu Công Tiễn, mới ra trận đầu chết liền hai tướng hao tổn hơn hai nghìn quân Thì không dám coi thường địch thủ nữa. Triệu Công Tiễn nhìn cách đánh của Thục Di, thì hiểu rõ Thục Di có nhiều tà thuật. Thì nghĩ ngay đến Nam Tông học trò đắc ý nhất của sư phụ mình. Ở núi La Bảo Động ác xà, liền án binh bất động không khiêu chiến nửa.

Thơ rằng:

Giặc rằng sức mạnh vạn nghìn voi

Nào có sá chi chú lợn còi

Hay đâu voi ngả hàng lớp lớp

Nụ hề đả nở Thánh Thần coi.

*         *         *

Công Tiễn khiếp kinh đành dừng bước

Nam Tông xuống núi dấy binh qua

Thục Di tuy có nhiều pháp thuật

Nhưng không hơn được phép yêu tà.

Mặt trời buông xuống màn đêm lại trở về khắp nẻo non sông. Vẫn không thấy quân Ân động tỉnh gì, một sự yên tỉnh kỳ lạ.

Thục Man nghi ngờ nói:

   Không hiểu giặc Ân đang giở quẻ gì nửa đây.

Ngô Gia Đông nói:

   Có lẻ quân giặc đã khiếp sợ quân ta. Hoặc không có tướng tài đối thủ, đang cầu viện binh chăng?

Không ai trả lời được câu hỏi đó. Nên chỉ biết làm thinh. Mổi người tự tìm cho mình một câu giải đáp. Nhìn lên trời cao muôn vì sao lấp lánh. Thục Man bổng nhìn thấy một vì sao chợt sáng lóe lên vụt qua không gian rồi biến mất. Thục Man thấy lòng mình nổi lên một nổi buồn vô hạn, cái buồn thật xa xăm.

Thục Man lẩm bẩm: Cuộc đời con người cũng thế, thấy đó rồi mất đó. Thế mà con người không lo tận hưởng hạnh phúc sẳn có. Mà cứ chạy theo ảo tưởng dục vọng đâu đâu. Bỏ mạng nơi chốn quê người như lũ giặc Ân kia.

Một ý niệm giác ngộ về cuộc sống Thục Man nhìn về phía giặc Ân, phát hiện như có một cái gì khác lạ phát lên từ phía trại giặc không ai nhìn thấy được, chỉ một mình Thục Man thôi. Thục Man nhìn ánh sáng ấy đến xuất thần, quên cả cái lạnh của sương đêm đang len lõi vào người.

Thục Lao nhìn thấy Thục Man như có một cái gì hơi lạ, nhưng không hỏi chỉ im lặng nhìn Thục Man thôi. Thục Man cứ lẩm bẩm một mình chăm chú nhìn về phía doanh trại của giặc. Thục Lao nhìn theo nhưng không hiểu gì cả. Thục Man chăm chú nhìn thứ ánh sáng kỳ lạ ấy bay lên không trung, nhắm hướng Tây Bắc bay đi rồi mất hút.

Đây nói về La Bảo Động ác xà, có con Rắn chúa xà Rồng tu luyện hàng nghìn nghìn năm, chúa tể của 36 loài bò sát, thần thông pháp thuật vô cùng lợi hại, thường sánh mình như các vị Tiên trên trời. Thu nhận ba đồ đệ.

1:  Là Man Công đại tử đệ.

2:  Là Vũ Tử Như nhị tử đệ.

3:  Là Triệu Công Tiễn tam đệ tử.

Vũ Tử Như xuống núi cùng lúc với Triệu Công Tiễn, hiện đang là tướng soái phục vụ cánh quân ở Vi Tử Điển. Lão Chúa Tinh của loài bò sát, đang tu thiền luyện khí trên tòa xà Rồng, bổng thấy Kim Xà bay đến đậu lên vai lão và lão đã nhận ra con Kim Thiền của Triệu Công Tiễn, liền co tay bấm quẻ nhập định thấy Triệu Công Tiễn đang lập bàn hương an khấn vái Lão, lời vái như vầy: Con là Triệu Công Tiễn phò Ân, diệt nước Văn Lang, không ngờ thành Kiến Giao Châu lại có tướng quái dị, có tài dùng độc thuộc hàng tôn sư khó có ai hơn.

Lão nghe tới đây liền quát:

   Cái gì mà tôn sư, nào là không có ai hơn. Là con kiến thì có.

Lão nghe tiếp. Xin thầy cho sư huynh là Man Công xuống núi may ra mới địch lại. Lão nghe tới đó liền quát tháo ầm ĩ:

   Cái gì mà may với không may, đề cao thằng nhái ranh nào đó quá.

Trong lúc lão đang quát tháo, thì lão thấy một con mãng xà to lớn đến trước lão khóc lóc:

   Xin Chúa Tinh hồi phục chân khí cho thuộc hạ, thuộc hạ chết oan do quân Nam sát hại, thuộc hạ muốn trả thù nhưng không tới gần được vì có hào quang chánh khí bao bọc lấy thân của ả, con muốn đầu thai làm Rắn tu luyện trở lại, nhưng vì hận thù thiêu đốt đầu thai chưa được.

Nói xong hồn mãng xà tinh khóc thê khóc thảm. Chúa Tinh nói:

   Ta sẽ hồi phục chân khí cho ngươi, để ngươi trả thù.

Nói xong Chúa Tinh truyền sang thần lực, khí lực, hồn mãng xà tinh liền hiện rõ nguyên hình, mắt thường người thường đều có thể nhìn thấy được, xà tinh mừng quá lạy tạ Chúa Tinh rồi biến mất.

Lão lại thấy hồn một con trăn to lớn xuất hiện khóc lóc thê thảm:

   Xin Chúa Tinh cứu vớt linh hồn thuộc hạ, thuộc hạ bị chết oan, ngọn lửa hận thù thiêu đốt đầu thai không được, thuộc hạ khổ lắm.

Nói xong thì khóc thảm thiết. Chúa Tinh nói:

   Ta sẽ hồi phục chân khí cho ngươi để ngươi trả thù.

Nói xong Chúa Tinh phất tay truyền sang thần lực, khí lực, hồn trăn tinh liền hiện rõ nguyên hình. Trăn Tinh mừng quá lạy tạ Chúa Tinh rồi biến mất.

Một con bò cạp to xuất hiện, khóc lóc thê thảm:

   Xin Chúa Tinh cứu vớt linh hồn.

Chúa Tinh nói:

   Ta với ngươi khác loài khác giống, khó mà hồi phục thần lực, khí lực cho ngươi được.

Chúa Tinh nỗi cơn thịnh nộ nói:

   Con dân Văn Lang xưa nay ỷ tài cậy thế con cháu nhà trời, tàn sát Yêu Tinh, Quỷ Quái nhà ta, nay phước đức Văn Lang giảm sút, khí thiên sông núi không còn hưng thịnh như ngày xưa, Hồng Quang nền Quốc Đạo mờ nhạt đây là thời cơ Yêu Tinh, Quỷ Quái trả thù. Cách đây gần 2 nghìn năm Tam Tinh Chúa Tổ tu luyện đến chỗ hư vô tạo hóa xoay chuyển Càn Khôn Thiên Địa.

1:  Là Chúa Tổ Mộc Tinh.

2:  Là Chúa Tổ Ngư Tinh.

3:  Là Chúa Tổ Hồ Tinh.

   Đã bị Lão con Trời sát hại, nay Lão về Trời trốn trên đó, thì con cháu của Lão phải nhận hậu quả, nay ta cho Man Công xuống núi giúp Chúa Tổ Hồ Tinh, đã đầu thai làm người, đang dốc toàn lực tiêu diệt nước Văn Lang cùng Chúa Tinh Tổ Nữ. Ta và ngươi tuy khác giống nhưng ta sẽ giúp cho linh hồn ngươi giảm bớt đi áp lực Vũ Trụ để linh hồn ngươi bớt khổ chờ có cơ hội đầu thai làm người để trả thù.

Nói xong Chúa Tinh phất tay một cái, linh hồn bọ cạp không còn đau nhức nữa, áp lực Vũ Trụ đã giảm, hồn bọ cạp mừng quá lạy tạ Chúa Tinh rồi biến mất.

**************

PHẦN 34

Ở vào thời nhà Hạ, nơi huyện Cao Mai có một thiếu niên. Thờ con vật nữa thú, nữa cầm thì ra Chồn, Cáo có cánh chín đuôi, hể người nào dân cúng gà sống, trẻ con sống thời cầu chi được nấy linh nghiệm vô cùng. Thời ấy có vị quan nỗi tiếng nhơn đức liêm khiết mà còn hết mực thương dân, ông ghét kẻ dua nịnh nhất là tà ma ngoại đạo chuyên làm hại con người.

Ông nghe nói huyện Cao Mai có miếu linh thờ con Chồn, Cáo có cánh chuyên thu nhận đồ cúng tà quái, làm thiệt hại không biết bao nhiêu là trẻ con, ông nỗi trận lôi đình dẩn theo binh lính tới đập phá, đập con Chồn, Cáo có cánh tan nát nát tành. Con quái nửa cầm nửa thú giận đến phát cuồng nhưng không làm gì được ông Khiết, vì có hào quang chính khí lúc nào cũng bao bọc lấy ông. Từ đó con quái thú ẩn hồn trong các sơn động chờ cơ hội trả thù và chờ mãi cho đến khi đời Thái Ất cũng chưa trả thù được. Cho đến đời thứ 27 cháu nhiều đời của Thái Ất tức là Đế Ất hiệp với con số Chín (9). Con quái thú liền đầu thai làm con thứ 3 của Đế Ất, phá tan cơ nghiệp nhà Thương tàn sát con cháu nhà Thương, giết hại Trung Lương là những người quân binh thời ông Khiết, đập phá miếu thù con quái thú Chồn, Cáo chín đuôi ở thời Nghiêu, Thuấn nhà Hạ. ÂN THỌ là con thứ ba của Đế Ất, hung bạo xảo trá vô cùng, có 10 điều bật nhất.

1:  Ác nhất.

2:  Mạnh nhất.

3:  Dâm nhất.

4:  Cuồng ngông tàn bạo nhất.

5:  Thủ đoạn nhất.

6:  Ăn chơi xa xỉ nhất.

7:  Tà đạo nhất.

8:  Tham lam ngạo mạn nhất.

9:  Sát phạt chém giết nhất.

10:  Giả nhân giả nghĩa nhất.

ÂN THỌ quét sạch trung thần nhà Thương, thu nạp Yêu, Tinh, Quỷ Quái làm chấn động địa cầu thời đó. ÂN THỌ cùng các loại yêu tinh dốc tâm phá tan cơ nghiệp Vua Hùng, gồm thâu thiên hạ về một mối, làm được công việc đó hay không còn xem cơ vận của tạo hóa.

Chiến trận còn vang khắp nước non

Chống giặc ngoại xâm, mất một còn

Quân reo ngựa hí, rền sông núi

Giữ gìn Tổ Quốc, phận cháu con

Một người ngã xuống, muôn người đứng

Xả thân vì nước, chết vinh quang

Hồn về thiên giới, chầu Tiên Tổ

Hiếu trung, trung hiếu tấm lòng son.

Nói về Thục Mân, Thục Cương, theo lịnh của Diệp Lang dẫn 4 vạn quân tới huyện Hà Giang, rừng Hà Lâm, hiệp với 4 vạn quân ở đây, không bao lâu thời tới nơi, đã cho quân thám báo báo trước, nên ba vị tướng quân ra đón Thục Mân, Thục Cương vào doanh trại vừa an vị xong tuần trà. Thục Mân liền ra lệnh tiến quân bao vây thành Tây Dương Châu.

Thì có một tướng phản đối:

   Tôi không phải là quân của tướng quân.

Thục Mân tỏ vẻ bất bình tức giận, nhưng sực nhớ ra điều gì liền xin lỗi:

   Tôi xin lỗi Mường Thái tướng quân vì tình hình quá khẩn cấp tôi đã quên một việc rất quan trọng.

Liền lấy kiếm lệnh ra, vừa thấy kiếm lệnh bốn tướng đều quỳ xuống cung kính thưa:

   Chúng tôi xin nghe lệnh của tướng quân.

Thục Mân ra lệnh:

   Các tướng nghe lệnh. Có thuộc hạ, các tướng cấp tốc, tướng nào dẩn quân nấy, phân chia lực lượng, năm mũi giáp công bao vây thành Tây Dương Châu nội trong đêm nay trước khi trời sáng. Tuân lệnh.

Thục Cương được sắp xếp tới thành muộn hơn vì dọc đường còn tiêu diệt các ổ quân do Chu Công Minh cài lại các nơi chủ chốt yếu điểm, việc làm tưởng như dễ, nhưng thật ra rất khó, cái khó ở đây là tiêu diệt gọn sạch các ổ nhóm không để cho một tên nào chạy thoát. Thục Cương tuyển lựa ra một đội quân thần tốc, võ nghệ cao cường do mình trực tiếp chỉ huy dọn sạch đội quân thám báo của giặc không còn một tên trốn thoát, nếu còn tên nào còn sót, thì bị 2 vạn quân thần tốc càn quét do Thái Nga chỉ huy ở sau.

Đây nói về Thục Châu chạy thục mạng binh lính cũng chạy theo, quân Ân rượt đuổi chém giết xối xả đến khi không chạy được nữa vì trước mặt cây cối chằng chịt mới hay đã lạc vào rừng, nhưng Thục Châu nào có biết đây là rừng gì, địa phận nào cũng không rõ, cây cối rậm rạp không biết lối ra. Lại nghe tiếng cọp gầm, sói hụ, nghe thấy mà rợn người, phần thì trời tối, mỗi lúc một đen thui đen thủi, cây cối rậm rạp che khuất ánh sao càng thêm tối mù tối mịt. Không còn con đường nào tốt hơn là cột ngựa vào gốc cây rồi leo lên cây mà nghỉ, vì quá mệt nên Thục Châu ngủ thiếp đi hồi nào không hay, đến khi tỉnh giấc thì mặt trời đã lên cao, chim ca vượn hú vang động khu rừng. Thấy bụng đói vội vả hái tạm quả rừng lót bụng, Thục Châu nghĩ đây là đâu nhỉ, liền dắt ngựa tìm đường ra, đi cho tới trưa mà chưa ra được khu rừng. Bổng nghe tiếng lào xào, hình như là có người, đông nữa là khác, liền dừng ngựa rút kiếm cầm tay nghe ngóng.

Có người nói:

   Ta thấy tướng quân chạy vào rừng.

Người khác nói:

   Đã nữa ngày sao không thấy tướng quân ra hay là…

Một tên khác quát:

   Nói bậy.

Nghe giọng nói quen quen Thục Châu vô cùng mừng rở, thì ra đây là quân lính tướng tá của mình, đó là đội kỵ binh hơn 1 ngàn người chạy theo sau Thục Châu, tới đây thì không thấy tướng quân Thục Châu đâu nữa vì trời sắp tối nên không dám xông vào rừng chỉ ở ngoài canh phòng.

Thục Châu nhận ra binh sĩ của mình mừng quá la lớn:

   Ta đây này, ta đây này.

Thế là đội quân kỵ binh ùa vào thấy tướng quân Thục Châu đang dắt ngựa đi ra. Thục Châu nhìn đội quân kỵ sĩ còn nguyên thời rơi nước mắt.

Thục Châu than thở:

   2 vạn 5 nghìn quân không biết sống chết ra sao?

Thục Châu ra lệnh:

   Chúng ta mau đi tìm anh em thất lạc.

Khi tìm tới khu rừng Còi thời nghe tiếng quát to như sấm:

   Bắn.

Thục Châu nghe tiếng quát thời nhận ra tiếng A PHA, tướng đội quân xạ tiễn. A PHA nghe tiếng tướng soái Thục Châu liền hô:

   Dừng tay.

Thế là đội quân xạ tiển chủ lực ùa ra hơn 5 nghìn quân. Thục Châu mừng quá không cầm được nước mắt liền vái tạ Trời Đất. Thục Châu chia lực lượng binh lính tìm những anh em còn thất lạc, tìm cho đến tối thì chỉ tìm được 1 vạn 5 nghìn quân, còn 1 vạn quân nữa Thục Châu nghĩ đã chết dưới tay giặc, thì không khỏi bùi ngùi xúc động, để tìm hiểu nơi đây là đâu, liền cho người dọ hỏi, thì được biết địa phận khu vực này thuộc huyện Sầm Hưng, còn khu rừng rộng lớn trước mặt là rừng Sầm Dương thuộc địa phận Tam Giang Tây Châu.

Thục Châu hỏi:

   Từ đây đến Trúc Giang bao xa?

A PHA thưa:

   Bẩm tướng quân thuộc hạ hỏi rồi chỉ hơn 18 dặm.

Thục Châu nghĩ: Không còn con đường nào khác hơn là rút quân về Tam Giang Tây Châu tìm phương kế khác chống giặc. Đi được hơn bảy dặm, thời thấy một đội quân bề thế tả tơi. Thục Châu nhận ra đó là đội quân của anh mình Thục Liêu. Thục Liêu cũng nhận ra cánh quân của Thục Châu liền giục ngựa đến mừng mừng tủi tủi, khi hỏi nhau về quân số tổn thất.

Thục Liêu, Thục Châu cùng thở dài nói:

   5 vạn quân giờ chỉ còn 3 vạn. Có thể nói một sự tổn thất nặng nề, phương tiện chiến tranh, lương thực, vũ trang dự bị đều hết sạch, 10 vạn quân giờ chỉ còn có 3 vạn, thê thảm, thất bại thê thảm.

Nói về Tây Thục Vương đóng quân tại Tam Giang Tây Châu, Trúc Giang, một trong những Châu không có thành, Tây Giao Chỉ, Tây Bắc Văn Lang. Tây Thục Vương lo lắng ngày đêm đến nỗi ăn không ngon ngủ không yên, từ khi biết thành Tây Dương Châu thất thủ, ba đứa con sống chết ra sao chưa rõ, đang cho quân dọ thám thu nhập tin tức từng phút từng giờ.

Đang lúc lo lắng đến cực điểm, thời có quân vào báo:

   Bẩm Vương Gia, bẩm Vương Gia tướng quân Thục Liêu, Thục Châu đang kéo quân trở về cách đây hơn năm dặm.

Tây Thục Vương mừng quá cùng các quan tướng ra đón Thục Liêu, Thục Châu cách doanh trại hơn hai dặm. Nhìn thấy quân binh xơ xác thì ông đã hiểu, cha con gặp nhau nước mắt tuôn trào. Nhìn căn trại to lớn thời ai cũng hiểu đó là căn trại hội họp các quan tướng, mà đúng vậy các quan tướng hầu như có mặt đầy đủ, ai nấy yên lặng, cái yên lặng hồi hộp chờ đợi lắng nghe anh em nhà Tây Thục kể lại sự vụ thất thủ thành Tây Dương Châu mau chóng đến thế. Thục Liêu, Thục Châu kể lại tất cả không bỏ sót một chi tiết nhỏ nào.

Tây Thục Vương nghe xong thở dài:

   Chuyện này có nhiều ẩn khúc.

Các quan nói:

   Nếu cuộc chiến giao tranh xảy ra, quân Ân cũng khó mà lấy thành ngay được, ít ra cũng phải vài ngày, đó là nói quân Ân đông hơn ta gấp bảy gấp tám lần, lại pháo trên thành không bắn lên, chuyện này còn ẩn khúc mờ ám chưa thể kết luận được.

Các quan tướng có vắt óc suy nghỉ nhưng tìm mãi không ra lý do xác đáng chứng minh dẩn đến sự thất thủ thành Tây Dương Châu, đi tiêu 7 vạn quân, thiệt hại về người về của to lớn vô cùng. Trong lúc các quan tướng ai nấy cố suy nghĩ. Thời có quân thám báo từ thành Tây Giang Châu trở về dân lên bức mật thư của Diệp Lang gởi cho.

Tây Thục Vương đọc xong mật thư, sắc mặt sát khí đến rợn người nói:

   Quân Ân ỷ mạnh hiếp người, xâm lược tàn sát dân ta, thì chúng sẽ không còn một tên sống sót trở về.

Tây Thục Vương nhìn Thục Liêu, Thục Châu nói:

   Hai con xác nhập vào cánh quân của cha làm tả hữu tiên phong. Có lẽ theo kế sách mà hai cha con chưa thực hiện được đã thất bại là trong đánh ra ngoài đánh vô, kẹp quân Ân vào giữa, phương pháp này sẽ áp dụng thực hiện tại chiến trường Kiến  Giao Châu, quét sạch lũ ngoại xâm, trả thù rửa hận cho dân tộc, cho những người đã bị chúng sát hại.

Đây nói về hai cao thủ võ nghệ cao cường, kinh công thuộc hàng thượng đẳng, thuộc đội cận vệ bảo vệ Diệp Lang, phái đi theo tên thám báo bảo vệ bức mật thư Diệp Lang gởi cho Tây Thục Vương. Khi tên thám báo đã vào doanh trại Tam Giang Tây Châu, thì coi như hai tên bảo vệ mật thư đã hoàn thành, liền quay trở về đội cận vệ báo cáo tình hình. Trên đường trở về trong lúc thi tuyển kinh công lao đi vù vù lúc ẩn lúc hiện như Ma Quỷ, bổng phát hiện một bóng người lén lút cõng một người, đi một đoạn thời quỳ xuống, hình như tên cõng đã kiệt sức. Hai người như hai bóng ma theo sát, chừng phát hiện hai người lén lút kia mặc đồ giặc Ân.

Người lớn con hơn nói:

   Thì ra là chúng mày.

Người nhỏ con hơn nói:

   Giết chúng đi, thời giờ đâu mà theo dõi bọn chúng.

Người lớn con hơn nói:

   Hình như tên cõng kia đang kể lể khóc, để xem tên đó nói cái gì rồi sẽ giết.

Tên cõng đứng lại nghĩ, sờ lỗ mũi người nằm bất động trên lưng khóc thê thảm:

   Con lạy Mẹ Âu Cơ, xin Mẹ cứu tướng quân con, tướng quân cố lên chỉ còn hơn buổi nữa là sẽ đến Tam Giang Tây Châu.

Nói rồi khóc, khóc rồi nói. Hai thám tử như sực nhớ ra điều gì:

   Có lẽ hai người kia là quân Văn Lang thất lạc rồi, họ là ai thế? Sao gọi người nằm kia là tướng quân.

Hai người liền xuất hiện, thấy có người xuất hiện đột ngột, tên khóc kia thất sắc, liền rút kiếm bảo vệ, để người sắp chết kia xuống đất, sẳn sàng chiến đấu, không kể gì đến sinh mạng của mình. Thì cũng đoán được người nằm bất động kia địa vị rất quan trọng.

Người nhỏ con hỏi:

   Ngươi là ai? Người nằm kia là ai? Sao lại mặc y phục quân Ân?

Tên lính nghe hỏi nhưng vẫn làm thinh, hai người hỏi đi hỏi lại mấy lần nhưng tên ấy vẩn yên lặng. Biết không thể hỏi gì được, còn kéo dài thời mất thời gian, với thủ pháp mau lẹ điểm huyệt tên lính mỗi người bế cõng một người dùng thuật kinh công thượng thừa lao đi như bay. Tuy bị điểm huyệt nhưng tên lính trung thành kia vô cùng tỉnh táo, thấy rõ hành động của hai người xa lạ không có ý hại mình nhưng họ đưa mình đi đâu chưa rõ. Đến lúc thấy đại quân đang di chuyển chầm chậm không có gì là vội vả và đã nhận ra đây là quân Văn Lang, thì mừng rỡ tướng quân ta thoát nạn rồi nhưng không hiểu là cánh quân nào đây, như người sắp chết đuối vớ được cái phao, cảm xúc ứa nước mắt.

Tới rồi Đức Vương Tôn kia rồi họ liền để hai người xuống, đi thẳng tới người cỡi con ngựa trắng hành lễ:

   Bẩm Vương Tôn thuộc hạ đã hoàn thành nhiệm vụ trở về.

Diệp Lang hỏi:

   Hai người kia là ai?

Hai tên cận vệ liền kể lại đầu đuôi sự tự, thuộc hạ nghĩ hai người nầy một người có địa vị rất quan trọng, có lẽ là quân Tây Dương Châu thất lạc.

Diệp Lang nghe nói thế xuống ngựa tới xem mặt thấy hơi quen, liền hỏi tên lính, thấy tên lính nằm yên đứng dậy không được, như hiểu ra điều gì Diệp Lang liền giải huyệt cho Y.

Y đứng dậy tới trước Diệp Lang quỳ xuống khóc lóc nói:

   Xin Đức Tôn Vương cứu mạng Chủ Soái tướng quân thuộc hạ.

Diệp Lang kinh ngạc hỏi:

   Chủ Soái? Ngươi nói người nằm kia là Chủ Soái sao?

Tên lính thưa:

   Bẩm Tôn Vương đúng vậy, Chủ Soái tướng quân thuộc hạ tên là Thục Chăm.

Diệp Lang la lên một tiếng, liền tới bắt mạch lắc đầu nói:

   Hết cứu được rồi.

Tên lính nghe thế khóc thảm thiết rồi ngã lăng ra bất tỉnh, lát sau thời tỉnh dậy ôm lấy Thục Chăm mà khóc. Nhìn tên lính bơ phờ xơ xác, có vẻ vì kiệt sức, vì đói khát, vì thương tâm nên xơ xác tiều tụy đến thê thảm.

Diệp Lang cảm động hỏi:

   Ngươi tên là gì?

Tên lính thưa:

   Bẩm Đức Tôn Vương thuộc hạ tên là A Lưới.

Diệp Lang nói:

   Thôi ngươi đừng khóc nữa, để ta nghĩ cách cứu cho.

Tên lính lạy tạ Diệp Lang rồi ngồi bên cạnh cái xác bất động của Thục Chăm, ai nhìn thấy cũng cảm động, tấm lòng vì chủ trung thành của A Lưới. Diệp Lang nghĩ loại độc này cũng dễ chữa nhưng vì quá lâu, độc đã ngấm tới tận xương tủy chỉ có thuốc tiên mới cứu được, à phải rồi liền nhớ ngay đến Ngọc Thiên Hương.

Diệp Lang ra lệnh:

   Chí Vĩ. Có thuộc hạ, ngươi mau mời Thiên Hương tướng quân cùng Lạc Tiên tướng quân đến đây bàn chút việc. Tuân lệnh.

Không bao lâu thời Thiên Hương, Lạc Tiên đến. Ngọc Thiên Hương nói:

   Đích Tôn gọi thuộc hạ đến có điều chi dạy bảo.

Diệp Lang chỉ cái xác bất động nói:

   Ngọc tướng quân xem thử có cứu được người nầy không?

Ngọc Thiên Hương bước tới nhìn cái xác một hồi, rồi cầm tay bắt mạch lắc đầu nói:

   Người nầy sắp chết đến nơi, các kinh mạch bị đứt hết rồi.

Diệp Lang thở dài nói:

   Người nầy chính là Chủ Soái thống lãnh đại quân ở thành Tây Dương Châu, Thục Chăm con thứ tư của Tây Thục Vương, không hiểu vì sao ra nông nổi nầy.

Ngọc Thiên Hương thất kinh nói:

   Có phải người nầy nổi tiếng là Thần trí huệ đó không?

Diệp Lang nói:

   Phải, chính là người nầy, nếu là người nào khác thời ta không dám làm phiền đến nàng vì ta nghĩ chỉ có thuốc tiên mới cứu được Thục Chăm mà thôi.

Nghe Diệp Lang nhắc đến thuốc tiên. Ngọc Thiên Hương liền lấy trong mình ra một lọ hồ lô nhỏ dốc ra một viên linh đơn giải độc, đưa cho Diệp Lang cứu Thục Chăm. Diệp Lang nhận viên linh đơn bước tới xác Thục Chăm, dùng thần công đẩy viên thuốc xuống bụng, mầu nhiệm thay chưa đầy một tuần trà, Thục Chăm đã khỏi hẳn ngồi dậy như người khỏe mạnh, chẳng trúng độc gì cả, ai nấy cũng lấy làm kinh ngạc, đúng là thuốc Tiên.

Thục Chăm như vừa trải qua một cơn ác mộng đứng dậy hỏi:

   Đây là đâu?

A Lưới mừng quá la lên:

   Chủ Soái khỏi chết rồi, khỏi chết rồi.

Thục Chăm nhận ra A Lưới nói:

   Ngươi đó sao?

A Lưới thưa:

   Bẩm Chủ Soái chính là thuộc hạ.

A Lưới giới thiệu:

   Đây là Đích Tôn Vương Tử người vừa cứu mạng Chủ Soái.

Thục Chăm nghe ba chữ Đức Tôn Vương thì kinh hãi, lại thêm cứu mạng. Thục Chăm lạy tạ nói:

   Bẩm Tôn Vương thuộc hạ may nhờ Tôn Vương cứu mạng, cũng như cha mẹ sinh ra lần nữa.

Diệp Lang nói:

   Người cứu tướng quân không phải là ta, mà là A Lưới cùng hai vị tướng quân kia cũng như Ngọc Thiên Hương tướng quân đây.

Thục Chăm cảm ơn thi lễ lạy tạ.

Diệp Lang nói:

   Chúng ta là con dân Văn Lang, con cháu Tiên Rồng, hết lòng vì non sông xã tắc, hết lòng vì nền Quốc Đạo dân tộc ra sức chống giặc ngoại xâm là việc làm cao cả Trời, Đất, Thần, Thánh, Tiên, Phật đều cảm động nên Chủ Soái mới có những điều may mắn như vậy.

Thục Chăm được phục vụ ăn uống no nê cùng A Lưới, tắm rửa sạch sẽ thay quần áo mới, tinh thần sản khoái vô cùng, liền vận thử công lực vô cùng kinh ngạc, thấy thần lực của mình tăng lên gấp bội, thời nhớ lại câu chuyện Thần Thánh ở thời xa xưa do cha mẹ kể lại: Nếu uống được một viên linh đơn thuốc Tiên, thì bách độc không xâm hại được, thần lực tăng gấp đôi, tuổi thọ tăng lên chín mười tuổi.

Thục Chăm nói:

   Quả là đúng thuốc Tiên rồi.

A Lưới kinh ngạc:

   Sao Chủ Soái biết.

Thục Chăm làm thinh không nói, hồi tưởng lại những gì đã xảy ra, thì có người đến nói:

   Mời tướng quân cùng A Lưới theo tôi.

Thục Chăm, A Lưới được dẩn đến một chổ đông người, hầu như các vị tướng lĩnh đều ở đây. Thục Chăm chào hỏi xong an vị chỗ ngồi.

Diệp Lang nói:

   Thục tướng quân hãy kể hết đầu đuôi sự vụ tai nạn xảy ra tại thành Tây Dương Châu, không bỏ sót một chi tiết nhỏ nào.

Thục Chăm kể lại tất cả, kể tới đâu các quan tướng đều phẩn nộ tới đó. Có người đã lên tiếng chửi rủa cha con Hữu Tài: Đáng tội chết muôn lần đồ phản nước hại dân. Kể tới đây nhớ lại các tướng trào máu họng mà chết, trong khi quân Ân ồ ạt xông vào như nước vỡ bờ, 5 vạn quân đi đời chết thê thảm.

Thục Chăm không cầm nỗi giọt nước mắt nói:

   Còn sau đó thì thuộc hạ không hiểu gì hết, thuộc hạ nhớ trước khi bất tỉnh, thuộc hạ đã giết được thằng con trai lớn của lão Hữu Tài tên là Hai Nháo.

A Lưới kể tiếp:

   Khi Chủ Soái bất tỉnh thời trên 30 tên giặc Ân giả dạng quân ta, ùa tới sát thủ chủ tướng, nhưng binh lính của ta đã xông lên thét lớn, đồ phản phúc giết giết thế là trận chiến trong nội thành lôn xộn xảy ra, nhân lúc lộn xộn liền cõng chủ tướng núp vào một xó, nghe gươm Đao giáo mác dậy trời, dậy đất thì ra quân Ân đã tràn vào thành đông như kiến, lớp leo tường, lớp từ cổng chính ùa vào, quân ta tuy rắn mất đầu, các tướng đã trúng độc chết hết nhưng vẫn chiến đấu anh dũng gào thét tiến lên tiêu diệt quân thù, lớp này ngã xuống, lớp khác xông lên còn hơi thở là còn chiến đấu tiến lên, tiến lên.

Sôi sùng sục, chỉ quân thù thét lớn

Nào tiến lên, quyết chiến lũ giặc Ân

Nào tiến lên, nào gào thét xung phong

Còn hơi thở, ta vẩn còn chiến đấu

Còn lũ giặc, ta vẫn còn quyết chiến

Theo Vua Hùng, nối chí của cha ông

Vùi quân thù, xuống tận đáy âm cung

Hãy xông lên, một niềm tin chiến thắng

Tiến xung phong, nhắm quân thù mà bắn

Vùi quân thù, xuống tận đáy âm cung.

   Quân ta tử chiến anh dũng, giặc Ân lớp lớp ngã nhào, trận chiến càng lúc càng khốc liệt. Thuộc hạ bò ra kéo xác quân Ân, lột lấy áo quần của chúng, thay đổi y phục giã làm quân Ân, cõng chủ tướng trốn thoát. Quân Ân nhìn thấy nhưng chúng ngở là quân của chúng bị thương cõng chữa trị, vừa ra khỏi cổng thành ẩn vào xó giả chết vì lúc đó quân Ân đông như kiến, gươm giáo dậy trời chận đánh hai cánh quân Thục Liêu, Thục Châu tướng quân. Cuộc chiến giao tranh xảy ra vô cùng khốc liệt và hình như quân chiến thắng rượt đuổi quân ta thê thảm, trong quân binh hổn loạn hướng Đông, Nam, tôi cõng chủ tướng theo hướng Tây để tránh giặc, sau đó nhắm hướng Đông Nam cõng chủ tướng đi vì đã không ăn ba ngày, ba đêm, thuộc hạ đã kiệt sức cõng Chủ Soái đi không nỗi nữa ngã lên ngã xuống, phần sợ giặc phát hiện nên thuộc hạ lén lén lút lút, ráng cõng chủ tướng một khúc là quỵ ngã.

Nghe A Lưới kể ai cũng rơi nước mắt, cảm động trước tấm lòng trung thành hết lòng vì chủ của gã.

Diệp Lang nghe A Lưới kể xong liền khen:

   Ngươi quả là trang anh hùng cứu chủ, thuộc hạ bậc nhất từ xưa đến nay, đáng được thưởng vàng ròng lụa gấm, nhưng nơi chiến trường không có những thứ đó, ta có viên trân châu tặng ngươi, ngươi đáng được tôn vinh ca ngợi.

Các quan tướng ai nấy cũng cảm thấy A Lưới được xứng đáng nhận vinh dự nầy, một phần thưởng vô cùng cao quí mà ai cũng mơ ước để có. A Lưới sửng sờ rơi nước mắt trước phần thưởng cao quí nầy, không những nỗi danh mà còn cả lợi. Nhận lãnh phần thưởng cao quí, bước tới quì lạy nhận lãnh viên trân châu to lớn đáng giá nghìn lượng vàng.

Diệp Lang hỏi:

   Thục tướng quân đã khỏe mạnh, tướng quân định thế nào?

Thục Chăm thưa:

   Bẩm Tôn Vương cho thuộc hạ theo đại binh đánh thành Tây Dương trả mối hận cho 5 vạn quân binh.

Diệp Lang nhận lời. Thục Chăm lễ lạy lui ra, viết vội phong thư kể rõ thất bại thành Tây Dương Châu giao cho A Lưới đem đi.

**************

PHẦN 35

Đây nói về Triệu Công Tiễn, thấy sư huynh Man Công xuất hiện mừng khôn tả. Nịnh bợ nói:

   Đã có sư huynh đến đây, thì coi như thành Kiến Giao Châu coi như đã thuộc về mình.

Liền cho người dâng món ngon vật lạ thiết đãi sư huynh. Không dâng gái đẹp vi hiểu rõ Man Công không thích phụ nữ, mà chỉ thích ăn uống món ngon vật lạ mà thôi. Triệu Công Tiễn là người khôn ngoan, đa mưu túc trí, dụng người dụng binh khôn khéo khó mà lường trước được. Tuy bước đầu ra quân thất bại, đi tiêu hai tướng bỏ mạng hơn 2 nghìn quân, nhưng Triệu Công Tiễn không cho đó là thất bại mà cho đó là con mồi làm cho đối thủ xem thường, đối thủ càng xem thường thì sự thành công càng lớn, để con cá nhỏ lọt lưới bắt con cá lớn mà thôi.

Trời đã khuya, sương rơi rỉ rả bay lọt vào phòng, lăng lõi vào người truyền hơi lạnh đến thớ thịt làn da. Thục Man ngẫm nghĩ: Ánh sáng kia là gì nhỉ? Nó bay về hướng Tây Bắc để làm gì? Bên đèn dầu lạc Thục Man đã chìm sâu trong hồi tưởng quên cả khí lạnh đang dồn vào phòng mỗi lúc một tăng. Nghe tiếng gà gáy kêu gọi ông mặt trời, có lẽ giờ này đã là canh tư, hai con mắt nặng trĩu đi vào giấc ngủ lúc nào không hay. Một giấc ngủ toàn là cơn ác mộng, thấy mình bị một con rắn nhỏ xíu cắn phải, trong vòng vây trùng trùng của giặc, bị tướng giặc chém trúng một Đao.

Thục Man thét lên một tiếng kinh hoàng làm giật mình những người xung quanh, Thục Man tỉnh giấc nghĩ: Thì ra đây là một cơn ác mộng. Ánh bình minh thức dậy, ánh vàng hồng đã rừng rựng phương đông. Thục Man cảm thấy mệt mỏi vì một đêm ít ngủ lại toàn là chiêm bao ác mộng, nhìn bầu trời âm u. Thục Man nghĩ mới hôm qua trời nắng chang chang, nhưng hôm nay đã khác đất trời u ám, Trời Đất mà còn thế huống chi là cuộc đời con người, họa phúc luôn rình rập kề bên, nhân duyên tan hợp như mây như khói. Một cơn gió nhẹ đánh tan suy tưởng của Thục Man, Thục Man tỉnh táo khỏe khoắn hẳn lên thở phào nhẹ nhổm.

Thục Man nhìn về phía doanh trại của giặc vẫn im lặng, một sự im lặng đến kỳ quái. Bổng nghe tiếng chiêng trống vang rền từ nơi trại giặc xông ra một tướng, cỡi con ngựa hồng cực đẹp, tướng giặc đầu đội Kim Khôi, mình mang giáp đồng tay cầm Đại Đao, oai phong lẩm lẩm dẩn 3 nghìn quân, kéo đến trước cổng thành la hét chưởi quân Nam thậm tệ.

Thục Di nỗi trận lôi đình:

   Để em ra trận giết thằng giặc hỗn láo đó cho rồi.

Thục Man nói:

   Để thằng giặc đó cho anh, em đã ra quân thắng liền hai trận nghỉ để dưỡng sức, anh ra lấy đầu thằng giặc này làm khiếp đảm bọn chúng.

Thục Lao dặn:

   Em ra trận hết sức cẩn thận, nghe nói Triệu Công Tiễn là tay không vừa gì đâu, lắm mưu nhiều kế.

Thục Man gật đầu:

   Anh yên tâm.

Cổng thành đã mở, quân Nam rùng rùng kéo ra, đi đầu là Thục Man, đầu đội Kim Khôi, mình mang giáp đồng, cỡi con ngựa ô to lớn khỏe mạnh, tay cầm trường thương nặng hơn 60 cân, oai phong lẩm lẩm cùng năm nghìn quân ồ ạc xông ra lao thẳng về phía giặc Ân. Tướng giặc cũng không kém, điều khiển binh lính xông lên, thế là quân đánh với quân tướng đánh với tướng.

Long Hổ đấu nhau thật kinh thiên

Gió dậy sấm tuông chốn trận tiền

Quân gào Kiếm thét rền sông núi

Đầu rơi máu đổ, khắp triền miên

Ba quân tướng sỉ, kìa xông tới

Long tranh Hổ đấu dậy bình nguyên

Chiến trận ầm vang, rền gươm giáo

Quân Nam lấn thế giặc ngữa nghiêng.

Thục Man giục ngựa xông tới thét lớn:

   Lũ ác ôn nạp mạng đây.

Trường thương múa lên vù vù hòa theo vó ngựa rồm rộp cát bụi tung bay mịt mù. Tướng giặc không kém ra đòn chơm chớp chống đở tấn công tới tấp, hai bên càng đánh càng hăng, bất thình lình tướng giặc chém một Đao chí tử rồi quay đầu bỏ chạy thục mạng, binh lính giặc Ân thấy thế cũng chạy theo. Quân Văn Lang thắng thế xông lên rượt chém quân Ân xối xả. Thục Man hăng máu rượt đuổi chém liền mấy nhát, tướng giặc hình như đã lường trước nên né tránh không mấy khó khăn. Bổng nghe ngựa hí vang trời quân reo dậy đất, đội quân thiết giáp của giặc phục kích từ hai bên cánh gà tỏa ra nhanh chóng bao vây chận đứng đường rút lui quân Nam, cũng như phong tỏa thành Kiến Giao Châu có đội quân thiết kỵ binh chủ lực yểm trợ. Quân Ân nhanh như chớp túa ra bao vây 5 nghìn quân Văn Lang cùng Thục Man vào giữa, mỗi lúc mỗi siết chặt vòng vây, quân Văn Lang ra sức chống cự, nhưng mỗi lúc một yếu thế.

Thục Lao, Thục Di đứng trên thành nhìn thấy cảnh đó thời thất kinh hồn vía. Thục Lao cùng Thục Di kéo quân ra tiếp ứng giải vây, có lẽ Triệu Công Tiễn đã lường trước sự việc nên đã đưa đội quân chủ lực hùng mạnh, phong tỏa lối ra vào cổng thành. Trước sức mạnh của đội quân chủ lực cùng đội quân thiết giáp của giặc, tuy quân Văn Lang ùa ra đông như kiến nhưng đều bị đánh bật trở lại tổn thất khá nặng nề. Tình thế nguy cấp, Thục Di sốt ruột giải vây cho Thục Man cùng 5 nghìn quân chủ lực thiện chiến xông lên, với đường Đao biến ảo xé gió ù ù cuồn cuộn chém xối xả vào đội quân thiết giáp. Những tiếng ầm ầm liên miên nỗi lên, đội quân thiết giáp của giặc không những không bị đánh bật mà còn tạo thế liên hoàng tấn công, 5 nghìn quân chủ lực Văn Lang tiến lên không nỗi. Thục Di ức khí xông lên thét lớn, bấm nút vào chuôi Đao xông vào đội quân thiết giáp của giặc tấn công như vũ bão, hơi độc túa ra cùng khắp làm cho đội quân thiết giáp của giặc choáng váng.

Thục Di thét lớn:

   Tiến lên giết chúng cho ta.

Tức thời quân Văn Lang ào ào xông tới làm thịt đội quân thiết giáp của giặc. Thình lình một tiếng quát to như sấm nổ làm người nghe như muốn thủng màn nhỉ:

   Lũ nhái con hỗn láo xem này.

Man Công xòe bàn tay ra tức thời hơi độc tuông ra mù nịt vừa giải độc cho đội quân thiết giáp vừa công độc làm cho quân Văn Lang xây xẩm mặt mày.

Thục Di choáng váng liền thét lớn:

   Rút lui.

Hơn 500 quân trúng độc ngã lăng ra chết, quân Ân rượt đuổi chém thôi là chém.

Nói về Man Công là tay vô cùng lợi hại, học trò lớn của Xà Rồng Chúa Tinh, đã luyện được cực độc thành công đạt đến cảnh giới vô hình tối cao, thừa lệnh của Xà Rồng Chúa Tinh đến giúp cho Triệu Công Tiễn tiêu diệt quân Văn Lang chia sẽ quyền lực thống trị. Thục Di làm sao chống đở nỗi cực độc thần công, may tí nữa là mất mạng.

Nói về Thục Man thấy 5 nghìn quân cùng mình bị bao vây lớp lớp liền giục ngựa thét lớn:

   Đánh thẳng về hướng cổng thành.

Thục Man đang ra sức phá vòng vây thời thấy một vệt sáng bay tới cắn sau cổ một phát. Thục Man quờ tay ra sau núm được nó lại cắn thêm một cái vào tay nữa. Thục Man tức giận đến cùng cực, thì ra là mày liền đưa lên miệng cắn một cái với tất cả bình sanh nghỉ là sẽ đứt đôi con rắn nhỏ xíu, nào hay đâu bị gãy mất mấy cái răng, con rắn nhỏ không hề hấn gì cả vuột khỏi bàn tay bay mất, chất độc bộc phát làm Thục Man choáng váng cả mặt mày.

Nói về Triệu Công Tiễn, đứng ở ngoài chỉ huy trận đấu, thấy Thục Man ở tình thế bị bao vây nguy cập đến nơi mà còn đủ bình tỉnh nhận định phương hướng phá vòng vây nếu không giết sớm thì hỏng mất, thả cọp về rừng, liền thả con Kim thiền sát hại, thường thường bị Kim thiền cắn phải thời ngã lăn ra đất bất tỉnh, đằng này Thục Man vẫn trơ trơ còn túm bắt con Kim thiền đưa lên miệng cắn một cái. Triệu Công Tiển trợn mắt kinh ngạc.

Thục Man choáng váng như muốn té nhào xuống ngựa, không thể bỏ lở cơ hội, Triệu Công Tiễn phi ngựa vào trận chém Thục Man một Đao hồn lìa khỏi xác. Quân Ân siết chặt vòng vây quân Văn Lang chống trả không lại, 5 nghìn quân Văn Lang nháy con mắt tất cả đi đời, quân Ân thắng trận vẻ vang nổi trống thu quân.

Thục Lao, Thục Di xây xẩm mặt mày trước cái chết của Thục Man đi tiêu hơn 1 vạn quân, cổng thành luôn luôn đóng kín, cố thủ vì chưa tìm ra giải pháp xoay chuyển tình hình.

Nói về quân Ân thắng lớn mà vẩn án binh bất động, không khiêu chiến chẳng thấy động tỉnh chi cả, không hiểu Triệu Công Tiễn có âm mưu gì. Triệu Công Tiễn là tay chuyên dùng mưu thắng địch, hơn là dùng sức mạnh đối đầu với địch. Lúc này Triệu Công Tiễn cần đội quân thám báo tài tình hơn là khiêu chiến đánh với địch, Triệu Công Tiễn tính tới nước cờ thành Kiến Giao Châu sẽ cho người bí mật cầu viện binh và sẽ cầu viện với Tam Giang Tây Châu, mạng lưới thám báo được tung ra dày đặc, mai phục các ngã đường dẩn tới Tam Giang Tây Châu.

Quả như dự đoán của Triệu Công Tiễn, trong đêm dưới ánh sao mờ, một bóng người lặng lẽ lao đi, nhanh như chớp quân Ân phóng thuốc mê tóm gọn, thì ra đây là tên hầu cận của Thục Man, được nhận nhiệm vụ đưa mật thư đến Tam Giang Tây Châu trao cho Tây Thục Vương với tình hình đang gặp khó khăn, quân giặc quá mạnh, không thể đối địch được chỉ cố thủ thành mà thôi.

Thục Man tử nạn, thành Kiến Giao Châu trong vòng vây phong tỏa của giặc, tình thế bất lợi với những họa tiết các dấu ra ni. Triệu Công Tiển xem xong là hiểu tất cả.

Câu chuyện là thế này: Nói về tên hầu cận thân tín nhất của Thục Man, theo lối bí mật ra khỏi thành Kiến Giao Châu, trong đêm tối nhằm hướng Đông Nam, dùng thuật kinh công lao đi, bổng có mùi lạ thời bất tỉnh nhân sự, đến khi tỉnh dậy thời mơ mơ hồ hồ tưởng là mình đã gặp Tây Thục Vương.

Bổng Thục Vương hỏi:

   Ngươi tên là gì?

Nùng Phao nói:

   Vương Gia quên con rồi sao, con là Nùng Phao hầu cận Nhị Công Tử đây mà.

Man Công nói:

   Ta nhớ ra rồi.

Man Công hỏi:

   Đại Công Tử, Tam Công Tử là ai?

Nao Phùng thưa:

   Vương Gia làm sao thế Đại Công Tử là Thục Lao tướng quân, Tam Công Tử là Thục Di tướng quân.

Man Công hỏi:

   Trong thành Kiến Giao Châu còn mấy vạn quân.

Nùng Phao không nói, Man Công liền tăng yêu thuật, Nùng Phao ú ớ một hồi rồi nói:

   Còn hơn 8 vạn quân.

Triệu Công Tiễn giật cả mình, biết mục đích của mình đã đạt, để lại phong thư vào người Nùng Phao, liền đem Nùng Phao để lại chổ cũ giải mê cho gã. Nùng Phao tỉnh mê dụi dụi hai con mắt, hoảng hốt thò tay vào người thấy mật thơ vẩn còn nguyên thời an tâm nghĩ: Chuyện gì xảy ra thế này? Dòm quanh dòm quất cảnh vật im phăng phắc chẳng có gì khả nghi liền vội vả đứng lên nhắm hướng Đông Nam phi thân đi tiếp.

Nói về Tây Thục Vương đang nóng lòng chờ đợi thông tin từ thành Kiến Giao Châu để phối hợp kế sách tiêu diệt địch, thời có quân vào báo:

   Có mật thư từ thành Kiến Giao Châu đến.

Thục Vương cho mời vào. Nùng Phao nhìn thấy Thục Vương liền khóc lóc thảm thiết, kể lể lại tất cả sự việc. Thục Vương nghe xong nước mắt tuôn rơi đầm đìa, ông nghĩ: Thục Chăm không rõ chết sống ra sao, có lẽ đã chết rồi, nay lại thêm Thục Man nữa, lòng căm thù ngoại xâm lên đến cực điểm.

Nùng Phao lấy phong thư do Thục Lao viết dâng lên cho Thục Vương, Thục Vương xem xong liền nghĩ ra một kế sách táo bạo là đánh thẳng vào doanh trại giặc tiêu diệt chúng, liền viết mật thư đưa cho Nùng Phao đem về đưa cho Thục Lao, Thục Di phối hợp ăn khớp xóa sổ hơn 10 vạn quân Ân trả thù rửa hận cho Đồng Bào con cháu Văn Lang.

Nùng Phao vừa ra khỏi doanh trại Tam Giang Tây Châu thì có một bóng người theo dõi, người đó là ai chúng ta sẽ theo dõi sau.

Nghỉ đến giặc Ân có nhiều tà thuật yêu thuật, làm hại Thục Man, thì nhớ đến thanh Kim Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm là vật chí linh, báo vật trấn quốc, chỉ nghe nói không bao giờ được thấy, nói chi đến chuyện sờ cầm.

Tây Thục Vương nghĩ: Thất Linh Tiên Thiên Bảo Kiếm là do Vua Hùng Quốc Tổ kết hợp tinh hoa của Trời Đất, ÂM DƯƠNG vũ trụ luyện bảy báu kết tinh, luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, kết cấu thành linh vật. Dùng tâm linh phối hợp với linh vật, luyện thành bảy thanh Kiếm.

Công thức như sau:

Giai đoạn 1: Quốc Tổ lấy bảy cái là Vàng, Ngọc, Trân Châu, Kim Cương, Pha Lê, Hổ Phách, Xà Cừ dùng lửa tam muội, nấu chảy ra nước cho bảy báu kết thành tinh.

Giai đoạn 2:  Dùng lửa tam muội cực mạnh, nấu cho tinh bảy báu trở lại thành nước rồi từ nước bốc thành hơi khí rồi từ khí chuyển sang thần lực. Quốc Tổ dùng pháp thân tóm thâu Tiên Thiên, ÂM DƯƠNG Tinh Hoa vũ trụ kết hợp với khí hóa bảy báu đang chuyển sang qua giai đoạn thần lực, kết tụ thành linh vật.

Giai đoạn 3:  Quốc Tổ dùng tâm linh ý chí Thần thức luyện linh vật vũ trụ, tạo ra bảy thanh Tiên Thiên Bảo Kiếm linh quang vũ trụ, uy lực vô cùng, theo ý niệm của con người mà biến hóa, tàn sát đối thủ hay bảo vệ lấy mình, bảy thanh Tiên Thiên Bảo Kiếm không ai là hiểu hết công dụng của nó, trừ khi là Quốc Tổ.

Nghe nói Tiên Thiên Bảo Kiếm tự nó biết thu hút Thần lực vũ trụ, Tinh lực vũ trụ, Khí lực vũ trụ làm cho đất trời chuyển động theo, chỉ cần năm bảo Kiếm, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ kết hợp với nhau, thì Thần, Thánh, Phật, Tiên cũng khó thoát đại họa, huống chi là Yêu, Ma, Quỷ Quái chỉ cần một quang Kiếm cũng đi đời. Càng nghĩ Thục Vương càng tò mò thực hư ra làm sao, thuận tay rút Kiếm ra khỏi vỏ, tức thời sấm sét nỗi lên ầm ầm hào quang chói loại làm ba quân tướng sĩ hoảng kinh. Tây Thục cũng khiếp vía liền đút Kiếm vào vỏ tức thời sấm sét hào quang liền biến mất.

Tây Thục Vương vô cùng mừng rỡ nghĩ: Quả nhiên lợi hại, lời truyền quả không sai đúng là vật chí bảo trấn Quốc, phen này giặc Ân khó toàn mạng trở về.

Đây nói về A Lưới, theo lệnh của Thục Chăm mang thơ đến Tam Giang Tây Châu đưa cho Tây Thục Vương. A Lưới phi ngựa gần tới Tam Giang Tây Châu, bổng hào quang tua tủa sấm sét nỗi lên ầm ầm thời kinh hoảng không hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Bổng có người quát:

   Đứng lại.

A Lưới nhìn thấy người quát đó liền cười nói:

   Ngươi không nhận ra ta sao.

Người quát nhìn kỷ liền la lớn:

   Anh A Lưới đây mà.

Liền cho người vào thông báo với Vương Gia, lúc sau có người ra mời A Lưới vào. A Lưới mới vừa bước vào.

Thục Vương Gia liền hỏi:

   Thục Chăm ra sao rồi?

A Lưới thưa:

   Bẩm Vương Gia, Chủ Soái vẩn mạnh khỏe.

Thục Vương Gia nghe thế liền thở phào nhẹ nhổm, A Lưới vội dâng mật thư Thục Chăm gởi cho Vương Gia, trong thơ tóm tắc kể rõ đầu đuôi sự vụ thất bại thành Tây Dương ra làm sao. Ông đọc tới đâu quát tháo tới đó, đến đoạn cha con Hữu Tài đầu độc quan tướng chết thê chết thảm, Thục Vương tức quá vổ mặt bàn cái rầm làm mặt bàn nát vụn.

Thục Vương hét lớn:

   Khốn kiếp thay cho cha con Hữu Tài, hưởng phước lộc ông cha mà làm phản thờ quỷ, thờ ma giặc thù, tội đáng phân thay xẻ thịt.

Ông lại nghe A Lưới kể 5 vạn quân chết thê chết thảm ông lại hét lớn:

   Đồ chó má cha con Hữu Tài.

Ông quát tháo đinh tai nhức óc.

Nói về Thục Liêu, Thục Châu nổi buồn kia chưa hết, nổi buồn nọ lại kéo đến, Thục Man tử nạn, bổng nghe sấm sét nỗi lên thì kinh khiếp nhưng sau đó nghe cha thử quang Kiếm mà ra, giờ lại nghe cha quát tháo ầm ĩ không hiểu là chuyện gì liền chạy tới thời thấy A Lưới.

Thục Liêu, Thục Chăm sửng sốt:

   Ngươi còn sống sao? Làm sao ngươi thoát thân được? Thục Chăm đâu?

Hỏi dồn hỏi dập làm A Lưới lúng túng. Thục Vương Gia đưa mật thư do Thục Chăm viết gởi đến cho Thục Liêu, Thục Châu xem, khi ấy các quan tướng cũng đến đủ mặt, qua lá thư qua lời kể của A Lưới, thời tất cả nghi vấn đã được giải đáp.

Thục Liêu nói:

   Thì ra là thế, không ngờ Hữu Tài đã làm tới chức quan phủ, trấn giữ một vùng rộng lớn thế mà lại sanh tâm làm phản.

Thục Vương nói:

   Một con người chỉ biết ăn chơi trụy lạc, lặng hụp trong dục vọng tà tâm đánh mất lòng trung hiếu. Thấy giặc mạnh liền ngã theo ngay, phản bội lại non sông Tổ Quốc làm hại anh em binh lính, những thứ ấy phải nhổ tận gốc rễ nếu không nó sẽ mọc lên làm hại non sông Tổ Quốc.

Đây nói về Nùng Phao ra khỏi doanh trại Tam Giang Tây Châu thì trời cũng vừa xẩm tối, cứ theo đường cũ phi thân lao đi dưới ánh sao mờ vì ban ngày sợ quân Ân phát hiện, đi hơn hai phần đường, Nùng Phao yên trí tới đây thời coi như đã an toàn, không còn lo lắng chi nữa cứ lao đi vùn vụt. Bổng nghe mùi lạ liền lăn ra bất tỉnh, cùng lúc ấy hai bóng người xuất hiện đó là Triệu Công Tiễn cùng Man Công lão yêu, thì ra bóng người theo dõi Nùng Phao vừa mới ra khỏi doanh trại Tam Giang Tây Châu chính là hai người nầy.

Triệu Công Tiễn cùng Man Công lão yêu để cho Nùng Phao đi hơn hai phần đường mới ra tay hạ độc thủ. Triệu Công Tiển lục soát trong mình Nùng Phao lấy ra một mật thư của Thục Vương Gia gỡi cho hai anh em Thục Lao, Thục Di.

Nội dung thơ như sau: Tối mai cha đem quân bọc qua rừng Sầm Dương tiến quân đánh thẳng vào phía Nam doanh trại của giặc, khi thấy pháo hiệu bắn lên quân reo dậy đất thời con mở cổng thành dốc toàn lực đánh thẳng vào hướng Đông Bắc doanh trại của giặc, quét sạch bọn chúng, chẳng để chúng sót một tên.

Triệu Công Tiển đọc xong mật thư liền nở nụ cười bí hiểm, sắc mặt sát khí âm hiểm vô cùng, đưa mật thư cho Man Công coi.

Man Công coi xong nói:

   Chúng ta hãy tương kế tựu kế tiêu diệt chúng.

Triệu Công Tiễn nói:

   Không những thành Kiến Giao Châu mà ngay cả doanh trại hậu thuẩn quân lực, lương thực Tam Giang Tây Châu cũng bị thiêu rụi, đốt sạch phương tiện tác chiến cùng nguồn dự trữ, cung cấp cho ba cánh quân Tây Giang Châu, Tây Dương Châu, Kiến Giao Châu. Đưa cha con Thục Vương vào con đường chết, nhổ bớt mớ gai mọc ra cản đường chúng ta đi.

Đã thu được thông tin quan trọng, liền giải thuốc mê cho Nùng Phao, hai người chớp mắt đã biến dạng. Nùng Phao ngơ ngác: Sao ta lại thế nầy? Mò vào mình mật thơ vẫn còn nguyên, xung quanh yên tỉnh như chẳng có gì xảy ra, Nùng Phao lại tiếp tục phi thân lao đi đầu óc suy nghỉ mãi vẫn không hiểu đã xảy ra chuyện gì.

*************

PHẦN 36

Đây nói về hai anh em nhà Tây Thục cùng ba cha con quan phủ Ngô Thời Đại là Ngô Gia Đông, Ngô Gia Hải, Ngô Gia Luận, hồi hộp từng giờ từng phút, chờ thông tin chỉ đạo từ Tam Giang Tây Châu. Sự chờ đợi đó rồi cũng đến, Nùng Phao theo lối bí mật trở về, các quan tướng ai nấy cũng đều mừng rỡ, Nùng Phao liền lấy mật thư của Thục Vương Gia gởi cho Thục Lao, Thục Di đọc xong mật thư, Thục Lao nói chúng ta cứ y theo kế sách trong mật thư mà thi hành.

Thục Lao hỏi:

   Nùng Phao trên đường đi ngươi có phát hiện gì lạ không? Có điểm nào khả nghi không?

Nùng Phao nghỉ đến hai chuyện lạ liền ấm ớ bẩm chủ tướng thuộc hạ chẳng phát hiện được gì, từ lúc Nùng Phao đưa mật thư cho Thục Lao đến giờ, lúc nào vẻ mặt như có điều suy nghĩ. Quan phủ Ngô Thời Đại là người tinh tế dày dặn kinh nghiệm, nhìn thấy vẻ mặt khác lạ của Nùng Phao liền sinh nghi, nghe Thục Lao hỏi, ông nhận thấy Nùng Phao trả lời có vẻ không được dứt khoát cho lắm, hình như có gì đó nói ra không được.

Quan phủ Ngô Thời Đại nói:

   Việc binh cơ chỉ cần tính sai một li, thời đi tiêu muôn vạn quân. Nùng Phao hầu chủ cứ từ lúc ra khỏi thành cho đến lúc trở về thành dù là một chi tiết nhỏ cũng không được bỏ sót, nhất là lúc trên đường đi.

Thục Lao cũng thấy Nùng Phao có nhiều điểm khác lạ nói:

   Ngươi nhớ lại thử xem có bỏ sót nghi vấn nào không?

Nùng Phao nghe Thục Lao nói thế liền kể:

   Có một chuyện rất lạ xưa nay tôi vốn không có chứng bệnh ấy, nhưng từ khi ra khỏi thành đến khi trở về thành tôi bị ngất xỉu mê man đến hai lần, tôi nghĩ mãi không sao hiểu nổi.

Nghe Nùng Phao nói thế ai nấy cũng giật mình kinh hãi. Thục Lao lại càng kinh hãi hơn nói:

   Ngươi hãy kể lại tỉ mỉ cho ta nghe.

Nùng Phao kể rằng:

   Khi thuộc hạ theo lối bí mật ra khỏi thành đi được nữa đoạn đường bổng nghe có mùi lạ liền không biết gì nữa. Đến khi tỉnh dậy thời không phát hiện được gì, xung quanh vẩn yên lặng không một bóng người, rờ thử vào người mật thư vẩn còn y nguyên như không có chuyện gì xảy ra. Cho đến lúc thuộc hạ từ Tam Giang Tây Châu trở về hơn hai phần đường, thì lại bị bất tỉnh thêm lần nữa, đến khi tỉnh dậy cũng y như lần trước, cảnh vật không có gì khả nghi mật thư vẫn còn, ngoài hai nghi vấn trên thời không còn chi tiết nào để kể nữa.

Thục Lao hỏi:

   Ngươi hầu giờ có chứng bịnh này không?

Nùng Phao thưa:

   Bẩm chủ tướng dạ không, đây là lần đầu tiên thuộc hạ bị.

Ngô Gia Luận tuy là người không hiểu võ công, nhưng học cao hiểu rộng biết nhiều, nghe Nùng Phao kể như vậy liền giật mình nói:

   Triệu Công Tiễn quả là tay vô cùng lợi hại, may mắn thay không thì chúng ta đã sa vào kế bẩy của chúng, đưa chúng ta vào con đường chết. Nói tóm lại giặc đã đọc kỷ hai bức mật thư gởi đi lẩn gởi về, giặc tương kế tựu kế nắm rõ đường đi nước bước của chúng ta, chúng giăng cái bẩy cho chúng ta sa lưới, đánh chúng ta vào chỗ mà chúng ta không ngờ tới.

– Một là: Giặc sẽ đốt sạch nguồn lương thực dự trử tại doanh trại Tam Giang Tây Châu, làm cho chúng ta khốn đốn ở hai mặt: một là lương thực, hai là mất điểm trú quân hiểm yếu, rơi vào tình thế bị động, làm giao động tinh thần hoang man tướng sỉ.

– Hai là: Giặc dồn ta vào thế bất ngờ giặc hiểu ta, còn ta không hiểu giặc, cũng vì thế giặc lấy ít mà thắng nhiều lấy nhỏ để thắng lớn, giặc luôn luôn chủ động giành lấy mọi ưu thế, đưa ta vào cạm bẩy. Chẳng hạn như chúng phục kích đâu đó chờ quân trong thành kéo hết ra tấn công chúng, thì chúng ùa vào chiếm lấy thành bằng cách:

Một:  Chúng chuẩn bị đội quân leo tường bằng thang dây, kinh công võ nghệ giỏi, đột nhập mở cổng thành, đại quân của giặc ùa vô.

Hai:  Quân ta vừa kéo ra, thời quân giặc ập tới vì trời tối nên lầm tưởng quân ta, mở cổng thành thế là giặc Ân ùa vô như nước lỡ.

Ba:  Khi chúng ta dốc toàn lực lượng tiêu diệt con hổ, nhưng đó chỉ là cái bóng con hổ, còn con hổ thật thì nuốt dần những nơi trọng yếu của ta. Chẳng hạn như Tam Giang Tây Châu, như thành Kiến Giao Châu đây chẳng hạn, không những chúng chiếm lấy nguồn lương thực dự trử mà còn khống chế, cắt đứt mọi huyết mạch lưu thông, thế là Tây Bắc Văn Lang, Tây Giao Chỉ lần lượt bị chúng khống chế.

   Đã đạt được mục đích, giờ đây chúng cần theo dõi ta gắt gao hơn nữa, theo dõi cho đến khi chúng đạt được mục đích. Vì thế chúng ta cần thay đổi kế sách gấp thông báo cho Thục Vương. Để đánh lừa được chúng, lần này không cần theo lối bí mật, đi bằng cổng chính, khi ra khỏi cổng thành thời phi ngựa về hướng Bắc độ 6 – 7 dặm, thời phi ngựa về hướng Đông độ 27 – 28 dặm, thời phi ngựa về hướng Nam, nhắm hướng Tam Giang Tây Châu phi tới, lúc trở về cũng theo lối ấy mà đi. Và người thi hành mật vụ tối quan trọng này phải là người có võ công cao, cơ trí hơn người như Thục Di tướng quân chẳng hạn, đề phòng bất trắc xảy ra.

Không còn chần chờ gì thêm nữa, Thục Lao liền viết mật thư, kể rõ thông tin đã bị bại lộ, chuyển sang mục tiêu hai. Mục tiêu một coi như hủy bỏ, theo phương án hai, nương theo kế giặc, triệt phá giặc những chổ mà giặc không thể ngờ đến. Tương kế tựu kế đưa giặc vào bẩy. Việc này quá gấp rút không được chậm trể hoàn thành mật vụ trước khi trời sáng. Thục Di nhận nhiệm vụ ra khỏi cổng thành, cỡi con Hắc Long Câu có sức chạy như bay nhắm hướng Bắc phi đi vùn vụt. Hình như có người phát hiện bám sát theo sau hơn hai nghìn dặm thời không bám theo nữa, có lẽ ngựa theo về hướng Bắc không đúng mục tiêu của sự theo dõi nên kẻ ấy đã dừng lại, trở về vị trí cũ tiếp tục theo dõi, kẻ ấy là ai, không nói chúng ta cũng hiểu đó là quân thám báo của giặc Ân, một tay có thuật kinh công thượng đẳng. Bầu trời vẫn còn trong màn đêm u tối, bóng Hắc Long Câu từ hướng Bắc phi vùn vụt về hướng Nam và cuối cùng cũng trở về thành Kiến Giao Châu, cùng lúc một bóng người ẩn núp cách thành Kiến Giao không xa lẩm bẩm sao mai đã mọc thôi ta về báo lại cho Chủ Soái, y lặng lẽ phi thân về hướng Tây mất dạng.

*************

PHẦN 37

Đây nói về nơi đồng hoang gò vắng, những cái xác trần truồng đã sình lên bốc mùi hôi thối, không phải là xác của binh lính tử nạn mà là những xác đàn bà phụ nữ. Đó là vợ lớn, vợ nhỏ, dâu lớn, dâu nhỏ của cha con Hữu Tài, gieo cái mầm bất chính, để rồi gặt hái cái quả tàn bạo của quân xâm lược. Chúng xài chán xài chê, rồi ném ra cho binh lính hãm hiếp cuối cùng là vứt xác nơi gò vắng gò hoang cho kiến xơi quạ mổ.

Chu Công Minh nhìn thấy cảnh quan tướng thưởng thức món ngon, xài gái đẹp vô cùng thích thú. Mơ tưởng đến ngày làm chủ nước Nam tha hồ mà hưởng món ngon vật lạ, nhất là những nàng con gái phơi phới xuân xanh, như thành Tây Dương Châu đây của ngon vật lạ, đồ cỗ, vàng bạc châu báu nhiều vô số kể.

Các quan tướng giặc Ân chiếm được thành Tây Dương như mèo gặp mâm cổ, như chuột sa hủ nếp, một sức mà ăn mà xài mà vơ mà vét. Nhưng người được nhiều nhất chính là Chủ Soái Chu Công Minh cả kho những chiếc hồm rương đựng đầy ắp ngọc ngà châu báu, vàng ròng, bạc nén, trân châu, kim cương. Chúng vơ vét thỏa thê, ăn uống no say canh gác có vẽ lơ đểnh, chúng nghĩ quân Văn Lang thua thê thảm, thiệt mạng ước lượng hơn 7 vạn quân lấy đâu ra lực lượng nhanh chóng đối đầu với chúng, khi chiến trường đang nổ ra đều khắp từ Tây cho đến Đông.

Ánh bình minh ửng hồng ló dạng chiếu lấp lánh trên những vòm cây ngọn cỏ khắp nẻo quê hương. Không biết từ bao giờ quân Văn Lang đã bao vây thành Tây Dương Châu đông như kiến, gươm, đao, giáo, mác trùng trùng điệp điệp. Binh lính giặc Ân như không tin ở đôi mắt mình cố lấy tay dụi dụi vào đôi mắt, nhưng đây là sự thật. Quân reo dậy đất chiêng trống dậy Trời không hiểu quân Văn Lang ở đâu mà chui ra nhanh thế.

Nói về Chu Công Minh từ khi nhìn thấy vàng bạc châu báu đến hoa cả mắt, thời ngủ không được, mơ đến cảnh thống trị dân Nam sướng cả người.

Chừng nghe quân Văn Lang kéo đến chiêng trống nỗi dậy ầm ầm, thời kinh hoảng hỏi:

   Chuyện gì thế? Chuyện gì thế?.

Binh lính thưa:

   Bẩm Chủ Soái, quân Nam bao vây thành Tây Dương và sắp tấn công chúng ta.

Chu Công Minh nói:

   Cái gì? Cái gì?

Chu Công Minh với bộ dạng, quần đùi áo lót, đầu tóc rối tung lao nhanh lên thành. Nhìn thấy quân Nam trùng trùng điệp điệp như sắp tấn công vào thành, thời thét lớn:

   Tất cả vào vị trí chiến đấu.

Binh lính có tên ngơ ngác, không hiểu người ra lệnh đó là ai, có thằng chửi không hiểu thằng đầu trộm đuôi cướp nào mà lớn lối như thế. Đến khi phát hiện ra Chủ Soái thì sợ lưng cả mật, sợ thì sợ nhưng cũng phải bụm miệng cười, nếu không Chủ Soái phát hiện được thì không còn cái đầu để mà ăn cơm.

Lấy lại bình tỉnh Chu Công Minh vội vả về phòng nai nịt giáp mảo gọn gàng, gươm giáo chỉnh tề lên thành quan sát địch thủ, ước lượng hơn 7 vạn quân, thời cười ha hả:

   Tưởng đâu là ghê gớm lắm, chẳng qua cũng là lũ ếch nhái đông thêm mà thôi, vừa rồi ta chỉ cần một mẹo nhỏ cũng đủ đưa chúng vào cõi chết hơn 7 nghìn quân. Không hiểu đây là cánh quân nào mà tới nhanh như thế.

Hồ Thế Gia nói:

   Bẩm Chủ Soái chúng ta cần viện binh thêm 5 vạn quân, chờ cho chúng công thành mệt mỏi, trong đánh ra ngoài đánh vô mà làm thịt chúng, hơn nữa chúng ta chiếm được thành Tây Dương Châu cũng đã mất hơn 3 vạn.

Chu Công Minh nghe cũng phải liền viết mật thư chờ trời tối cho người đến huyện Phù Thát dâng lên cho Ngạc Sùng Cảnh.

Quân Văn Lang không những phong tỏa cung thành mà còn phong tỏa cả thông tin liên lạc của chúng, càng lúc càng siết chặt vòng vây.

Chu Công Minh họp các tướng lại nói:

   Thành Tây Dương Châu tuy thấp, lại không được kiên cố, nhưng nhờ quân ta đã rèn luyện nhiều năm công thành giữ thành, tạm thời quân địch chẳng làm gì ta được. Xét về một thắng một thua ta có năm cái lợi.

1:  Là lương thực dồi dào dùng cho nữa năm cũng chưa hết.

2:  Là ta có thành trì một chọi ba vẫn còn thừa sức.

3:  Tướng lĩnh đủ tài để đối phó.

4:  Là ta vẫn còn 9 vạn quân.

5:  Là về mặt hậu thuẫn quân ta còn rất mạnh.

Nếu địch hơn ta gấp 5 lần, thời ta cố thủ thành chờ quân tiếp viện hoặc tùy cơ ứng biến.

Nói về Thục Mân, Thục Cương làm theo kế sách chỉ đạo của Diệp Lang, dẫn 4 vạn quân tới huyện Hà Giang, rừng Hà Lâm kết hợp với quân Mường Thái, quân Lô Gô, quân Văn Quang tổng cọng hơn 7 vạn quân, tức tốc trong đêm đến bao vây thành Tây Dương Châu, đến khi gần sáng thì đánh trống, dộng chiêng ầm ĩ uy hiếp tinh thần quân giặc. Chờ đợi lệnh tiếp theo của Diệp Lang, Thục Mân đang thúc quân vây chặt phong tỏa thành Tây Dương Châu mỗi lúc một thêm kiên cố. Thì có người đem mật thơ đến, người ấy không ai khác hơn là Thục Chăm mà ai cũng nghĩ là mất mạng trong thành Tây Dương Châu rồi.

Thục Mân vừa thấy Thục Chăm tưởng mình hoa mắt, nhưng sau đó thời mừng rở reo lên:

   Anh Thục Chăm đây mà, em cứ tưởng là anh đã chết.

Thục Mân, Thục Cương, Thục Chăm ba anh em rơi nước mắt. Thục Chăm kể lại đầu đuôi sự việc thất thủ thành Tây Dương Châu cho các quan tướng cùng nghe, ai nấy cũng căm hận cha con Hữu Tài, vì tình hình khẩn cấp không cho phép nói chuyện tư riêng thêm nữa.

Thục Chăm liền lấy bức mật thư do Diệp Lang gởi cho Thục Mân, nội dung mật thơ như sau: Quân giặc thấy ta bao vây thành Tây Dương Châu, quân số không đông hơn chúng vì thế chúng sẽ thực hiện âm mưu táo bạo tiêu diệt chúng ta, vì thế chúng sẽ cho người về doanh trại tổng tư lệnh đóng tại Phù Thát cầu viện binh lên Ngạc Sùng Cảnh, âm thầm dẩn quân phục kích cách thành Tây Dương Châu không xa. Chúng chờ cho quân ta công thành mệt mỏi, bất ngờ kéo đến tấn công, kết hợp trong đánh ra ngoài đánh vô, kẹp quân ta vào giữa để tiêu diệt vì thế chúng ta cần nới vành đai kiểm soát để cho chúng thực hiện âm mưu, theo dõi phát hiện nhưng không biết. Ta dùng phương pháp khiêu chiến, khích tướng gây sự làm cho đối phương phải ra đánh tiêu diệt lần chúng.

Thục Mân tướng quân trao kiếm lệnh lại cho Thục Chăm tướng quân:

   Tất cả theo lệnh Thục Chăm tướng quân.

Nhận Kiếm lệnh xong Thục Chăm nói:

   Chu Công Minh không có gì đáng ngại nhưng Hồ Thế Gia lại khác, là con cáo già lắm mưu nhiều kế tùy theo tình hình diển biến mà kế sách cũng được thay đổi. Nếu giặc thực hiện đúng kế sách âm mưu của giặc thời trong thành đánh ra, ngoài thành đánh vô kẹp quân ta vào giữa mà tiêu diệt, quân trong thành không bao giờ xuất hết ra mà chỉ xuất hơn nửa quân là cùng. Có thể 5 vạn quân xuất trận, 4 vạn quân thủ thành, khi nào chúng để cho chúng ta chiếm lấy, công và thủ của chúng đều kín mít. Vì thế chúng ta chỉ làm theo sự chỉ đạo của Đức Tôn Vương mà làm.

Thục Chăm nói:

   Giặc cứ nghĩ chúng ta kéo đến là để công phá thành tiêu diệt chúng bảo vệ yếu huyệt Tây Bắc Văn Lang, dù phải hi sinh bao nhiêu chúng ta vẫn cứ làm. Vì thế chúng sẽ giăng bẫy tiêu diệt chúng ta, khi chúng ta đi đúng con đường chúng nghĩ. Trong binh pháp việc công thành là hạ sách tốn kém rất nhiều, hao binh tổn tướng, giặc một ta ba cũng khó mà thắng chúng, huống chi quân ta ít khi tập công thành thì thiệt hại càng lớn lao hơn nữa. Vì vậy tiêu diệt địch chỉ còn cách là khiêu chiến với chúng, một kế sách mà chúng ít nghĩ tới.

Thục Chăm hỏi:

   Có tướng nào ra trận đầu không?

Có một tướng nhanh chóng đứng dậy nói:

   Bẩm Chủ Soái thuộc hạ xin đánh trận đầu.

Thục Chăm dặn:

   Không thắng mà giả thua. Tuân lệnh.

Vị ấy không ai khác hơn là Lô Gô tướng quân, Lô Gô tướng quân dẩn 3 nghìn binh áp sát cổng thành khiêu chiến chửi rủa ầm ĩ:

   Chu Công Minh nhờ Hữu Tài làm phản mới chiếm được thành chớ tài cán chi, Chu Công Minh chỉ là phường chuột rút luôn lẩn trốn trong hang là con heo ngu đần, con bò đần độn, nhờ may mắn chứ tài cán chi. Ra gặp ông thì coi như về chầu âm phủ, có giỏi thì ra đây đấu với ta mới rõ mặt anh hùng hảo hán, đồ loài hèn nhát, loài hèn nhát.

Nói về Chu Công Minh, thấy quân Văn Lang không tấn công thành mà chuyển sang khiêu chiến thời thấy làm lạ nghĩ

   Quân Nam có mưu đồ gì chăng? Hồ tướng quân nghỉ xem có gì ẩn kế bên trong?

Hồ Thế Gia nói:

   Không có chi là lạ cả vì chúng hiểu ta có hơn 9 vạn quân thủ thành dù cho chúng có 20 vạn quân cũng không làm chi nỗi, huống hồ chi quân Văn Lang ước lượng trên dưới 7 vạn quân là cùng. Thời chọn con đường khiêu chiến là giải pháp thích hợp nhất, có lẽ chúng xem thường nhân tài của ta, không có người đối địch lại chúng, khiêu chiến là giải pháp tốt nhất chúng cho là tiêu diệt được chúng ta.

Lâm Phát Nhì nỗi nóng quát tháo:

   Mẹ kiếp đồ chó má mà vuốt râu hùm, sao ta không xông ra tiêu diệt sạch chúng đi cho rồi, cần chi phải đợi đến khiêu chiến hay viện binh.

Quân Văn Lang chửi rủa mỗi lúc một khó chịu. Lâm Phát Nhì chịu hết nỗi xin ra trận:

   Bẩm Chủ Soái đường nào chúng ta cũng tiêu diệt chúng, để thuộc hạ ra giết chúng cho rồi.

Chu Công Minh cũng nghĩ như vậy liền để cho Lâm Phát Nhì ra trận. Lâm Phát Nhất, Lâm Phát Nhì là người thô lỗ nóng nảy, Lâm Phát Nhì được lệnh mở cổng thành dẩn 3 nghìn quân, đầu đội Kim Khôi, mình mang giáp sắt, cỡi con ngựa Hoàng Long cao to vàng sậm, tay cầm đại Đao nặng tới 60 cân, vẻ mặt hầm hầm như muốn ăn tươi nuốt sống địch thủ. Vừa chạm mặt Lâm Phát Nhì.

Lô Gô nói:

   Có thế chứ, có đâu như con rùa rụt cổ.

Thơ rằng:

Lũ giặc các ngươi chớ hung hăng

Gặp ta đầu rụng, chết ngã lăng

Ta đã hỏi rồi, Đao ta nói

Thèm thịt giặc Ân, nuốt vạn thằng

Này tên xâm lược, mau quỳ xuống

Ta cho còn xác, chết có ăn

Bằng không ta chém, làm muôn mảnh

Hồn người chết khiếp, ngục hằng hằng

Lâm Phát Nhì tức muốn trào máu họng thét lớn giục ngựa xông lên chém nhầu Lô Gô. Lô Gô nào chịu kém múa Đao chống trả, binh khí chạm nhau đinh tai nhức óc, Đao gào Đao thét nghe mà nổi da gà rởn da ốc, người ngựa đảo lộn xoay tròn như chong chóng, chớp mắt đã có hơn 50 hiệp. Lô Gô giả bại thua chạy. Lâm Phát Nhì sợ xổng mất con mồi béo bở rượt đuổi tới tấp, không ngờ Lô Gô thình lình đảo ngược trường Đao nhanh như tia chớp chém đối thủ một Đao sấm sét, tướng giặc đở không kịp liền trúng một Đao chết tốt.

Quân Nam thắng thế xông lên như cọp xơi dê, tha hồ mà đâm mà chém. Lâm Phát Nhất đưa 3 nghìn quân tiếp ứng mà không được vì Văn Quang tướng quân đưa quân ngăn cản chận đầu. Thấy Lâm Phát Nhì tử nạn. Lâm Phát Nhất như con thú cuồng điên lao ngựa xông vào chém Văn Quang xối xả, thế là hai con hổ vồ nhau chí tử. Quân Văn Lang dũng mãnh như đàng sư tử quật ngã đàng dê, quân Ân bật ngửa ngã đổ chổng kềnh, quân Nam thắng thế xông lên đạp càn, chém thôi là chém, Đao Kiếm xối xả trút xuống như mưa.

Chu Công Minh tức quá dẫn binh hùng tướng mạnh ra nghinh chiến. Văn Quang thấy quân Ân túa ra đông như kiến, thì có ý rút lui liền dồn sức vào cánh tay đánh liền mấy thương như sấm sét Lâm Phát Nhất xính xáng Văn Quang bồi thêm một thương nữa, quày ngựa chạy dài miệng hô rút. Lâm Phát Nhất không dám rượt theo sợ mắc mưu kẻ địch liền thu quân trở lại.

Thục Chăm thấy Chu Công Minh điều binh khiển tướng ra trận, nào chịu kém đối thủ liền điều binh khiển tướng đối mặt với quân thù.

Chu Công Minh hỏi:

   Các tướng có biết tướng cầm đầu của quân Nam là ai không?

Ôn Gia Hầu nói:

   Cần gì biết chúng là ai cứ đưa chúng về âm phủ, cần gì biết đến tên họ cho mệt.

Thục Chăm nhìn thấy bộ sọ đầu não quân thù, nghỉ đến 7 vạn quân vùi chôn dưới bàn tay của chúng, thời lòng căm thù sôi lên sùng sục hỏi:

   Có tướng nào ra trận không?

Mường Thái tướng quân nói:

   Bẩm chủ tướng để tôi ra trận khiêu chiến với chúng.

Thục Chăm nói:

   Tướng quân hết sức cẩn thận. Tuận lệnh.

Mường Thái tướng quân liền dẩn 3 nghìn quân ra trận đối mặt với quân thù hét lớn:

   Lũ chó săn giặc Ân mau ra đây lạy ông cố tổ lũ mày may ra ta còn để cho cái mạng toàn thây, bằng không ta băm lũ ngươi như băm thịt cá.

Bởi lời nói xốc xược hổn láo vô lễ kêu căng ngạo mạn, Ôn Gia Hầu tức quá chịu không nỗi liền nói:

   Bẩm Chủ Soái để thằng nhãi này cho tôi, chiến này tôi phải lấy đầu cho bằng được cái thằng hổn láo nầy. Làm giảm bớt nhuệ khí phách lối hung hăng của chúng, chúng biết thế nào là lợi hại của quân ta.

Ôn Gia Hầu cỡi con ngựa Xích Long Câu cao to. Chỉ cần nghe tiếng hí của nó cũng đủ làm khiếp đảm mọi người. Ôn Gia Hầu đầu đội kim khôi, mình mang giáp đồng, tay cầm đại đao to lớn nặng hơn 80 cân. Có sức mạnh kinh người ít người địch nổi, dẩn 3 nghìn quân phi ngựa rồm rộp hùng hùng hổ hổ tiến ra.

Chỉ tướng quân Mường Thái, thét như sấm nổ:

   Nay là ngày giỗ của ngươi xem đây.

Tức thời người ngựa lao tới chém một đao, với chiêu Đại Bàng Xé Mây Bắt Hổ cuồng phong nổi dậy ù ù, cát bay đá chạy cây cối ngã nghiêng. Mường Thái tướng quân biết mình đở không nổi bình tỉnh né qua một bên.

Ôn Gia Hầu chém hụt tức giận thét lớn:

   Chết nầy.

Tức thời một chiêu ác đao nữa được tung ra, với chiêu Xuyên Sơn Phá Thạch. Đao Pháp gầm thét đến kinh người. Mường Thái tướng quân chỉ còn chờ chết.

Bổng có tiếng quát như sấm nổi lên:

   Xem đao của ta đây.

Ầm ầm đinh tai nhức óc. Thục Cương dội ngược, còn Ôn Gia Hầu ê cả tay.

Nói về Thục Cương nhìn thấy Ôn Gia Hầu Thần dũng như vậy, biết Mường Thái tướng quân không phải là đối thủ, e sợ chết ngay chiêu đầu vừa rồi, liền phi ngựa ra tiếp ứng. Không ngờ đường đao của Ôn Gia Hầu uy lực khũng khiếp hất Thục Cương cả người lẩn ngựa dội ngược ra sau ba bốn bước. Thục Cương kinh hoảng.

Ôn Gia Hầu tức quá gầm thét đến rợn người:

   Ta chấp cả hai.

Thục Cương nghĩ không thi triển tuyệt chiêu tất cả bình sanh, thời khó mà hạ gục được đối phương liền vận công tối đa thi tiển bốn chiêu tuyệt kỷ Vân – Lôi – Phong – Vũ.

Thục Cương thét lớn:

   Nạp mạng đây.

Ánh đao tuôn ra thành luồng như những đám mây phủ xuống đầu Ôn Gia Hầu.

Nói về Mường Thái tướng quân cũng không bỏ lỡ cơ hội, nghĩ: Nếu không xử dụng đến tuyệt chiêu thời khó mà hạ gục được đối thủ. Liền thi triển tuyệt chiêu Cầm Long Sát Thủ, Ngũ Long Đoạt Mệnh rất tiếc với chiêu pháp này nếu người luyện được khí công Tam Hoa Tụ Đỉnh, Ngũ Khí Triều Nguyên chắc chắc là Ôn Gia Hầu toi mạng, với chiêu này trường thương của Mường Thái tướng quân biến thành năm con Đao Long Sát Thủ, nhắm Ôn Gia Hầu sát mạng.

Ôn Gia Hầu kinh hoảng không ngờ tướng Nam lại tài đến thế. Ôn Gia Hầu vận hết 12 thần công lực đở đòn với chiêu Thiên Ảnh Đao, tức thời Đao pháp trùng trùng điệp điệp tuôn ra như dòng thát lớn chận đứng chiêu Vân Đao cùng chiêu Ngũ Long Đoạt Mệnh tức thời tiếng đùng đùng ầm ầm nỗi lên không ngớt, không để cho Ôn Gia Hầu có dịp phản công, chiêu Sấm Lôi chơm chớp phủ xuống, chiêu Cầm Long Sát Thủ tiếp tục tung ra. Ôn Gia Hầu tức điên người bay lên không với chiêu Lăng Không Bộ Pháp vô cùng đẹp mắt, từ trên không lao xuống với chiêu Đại Bàng Bắt Rắn đường Đao chém xuống mạnh như di sơn đảo hải cộng thêm Ngũ Long Đoạt Mệnh Trảo. Thục Cương thi triển chiêu Phong Vũ chống trả ầm ầm cả người lẩn ngựa muốn ngã quỵ. Chiêu Ngũ Long Đoạt Mệnh Trảo xé gió ầm ầm trút xuống đầu Mường Thái tướng quân, Mường Thái tướng quân tránh không kịp trúng liền ba trảo toi mạng hồn lìa khỏi xác bay về trời.

Mường Thái tướng quân chết hùng anh

Chết vì Non Nước, chết hồi sanh

Về chầu Tiên Tổ, hồn hiển Thánh

Hi sinh Đại Nghĩa, đẹp càng xanh

Theo bước Cha Ông, nền Chánh Giáo

Con đường truyền thống, sáng long lanh

Con cháu Tiên Rồng, mang chí lớn

Vì danh vì nước, chí thiên thanh.

Hạ thủ xong Mường Thái tướng quân. Ôn Gia Hầu phấn chấn hò hét đinh tai nhức óc trở nên dũng mãnh phi thường, múa Đao vùn vụt kình lực tuôn ra ù ù đá chạy cát bay, ánh Đao chơm chớp chém tới ầm ầm ai nhìn thấy phải khiếp hồn khiếp vía. Lo sợ cho Thục Cương, Thục Cương tuy sức yếu hơn nhưng vì võ nghệ cao cường khôn ngoan nhanh nhẹn vô cùng Thanh Long Đao như con Rồng vùng vẩy giữa không trung, nương theo sức mạnh của địch để hạ địch.

Đúng là:

Long Hổ vồ nhau, dậy đùng đùng

Ầm ầm trận địa, đất trời rung

Ngựa người vùn vụt, Đao chơm chớp

Gió bụi tung bay, phủ mịt mùng

Dồn dập liên miên, rền Đao pháp

Heo hút trời mây, gió bão tuôn

Đường tơ kẻ tóc, con đường chết

Dư âm cuồn cuộn dội chiến trường.

50 hiệp trôi qua mà chưa hạ gục được Thục Cương. Ôn Gia Hầu tức quá hét lớn:

   Chết nầy.

Tức thời chiêu Quỷ Ảnh Ma Đao chém tới Thục Cương, đường Đao như ma quỷ biến ảo khôn lường. Thục Cương khó mà chống đỡ nỗi, mạng sống nguy cập tới nơi.

Bổng thấy hào quang chóa mắt kèm theo tiếng quát lanh lảnh vang động cả chiến trường:

   Hảy xem bảo bối của ta đây.

Ôn Gia Hầu bị hào quang làm lóa cả mắt, nhìn lên thấy một thanh niên khổng lồ, đang thu hút nội lực Vũ Trụ chém xuống, không còn con đường nào khác hơn là chuyển chiêu Quỷ Ảnh Ma Đao lên chống đở ầm ầm long trời lở đất. Ôn Gia Hầu cả người lẩn ngựa như muốn quỵ xuống đứng dậy hết nỗi.

Thái Nga thâu Kiếm lên không chém xuống một chiêu nữa. Thục Cương nào bỏ lở cơ hội thi triển ngay chiêu Đoạt Mệnh Đao lấy mạng Ôn Gia Hầu. Nói về Ôn Gia Hầu bị kiếm Tiên bảo bối chém xuống một nhát sít toi mạng, sức lực giảm bớt bảy phần mười khiếp hãi vô cùng. Thấy ánh Đao như sấm sét chớp đến biết là nguy hiểm tới nơi nhưng cũng ráng sức chống đở ầm ầm, Ôn Gia Hầu ngã quỵ xuống ngựa. Thục Cương nhanh như tia chớp vớt thêm một Đao nữa, Ôn Gia Hầu đầu lìa khỏi cổ bay đi lông lốc.

Chu Công Minh nhìn thấy cảnh ấy kinh hồn bạc vía, chưa biết phải làm sao. Quân Nam thắng thế hò hét xông lên đâm chém quân Ân xối xả, chết la chết liệt nằm phơi như rạ.

Chu Công Minh khiếp quá hỏi:

   Nữ tướng kia là ai thế? Học ở đâu mà có pháp thuật lợi hại như vậy?

Nhưng nào có ai biết vì tất cả đều mù tịt, Chu Công Minh thấy khó mà hạ gục được quân Nam, định thu quân vào thành chuyển sang chiến thuật khác.

Bổng nghe tiếng quát như sấm:

   Chu Công Minh âm phủ đòi hồn, ngươi khó sống đến ngày mai.

Thục Chăm quát lớn:

   Ngươi chỉ là con rùa rụt cổ, chỉ là loài rắn nước tài cán chi, ngươi chỉ nhờ cha con Hữu Tài làm nội phản nên mới thắng được ta.

Chu Công Minh kinh ngạc hỏi:

   Ngươi là ai?

Thục Chăm quát:

   Ngươi bình tỉnh nghe ta xưng tên đây nếu không ngươi sẽ vở mật mà chết.

Chu Công Minh quát:

   Quân hổn láo, ngươi cứ xưng tên xem ta có sao không.

Thục Chăm nói:

   Ta là Thục Chăm từ địa phủ trở về lấy mạng ngươi.

Chu Công Minh nghe Thục Chăm xưng tên sít chút nữa thời té ngửa, lấy lại bình tỉnh nói:

   Té ra là ngươi, ta để sẩy mất con hổ về rừng.

Thục Chăm nói:

   Ngươi chỉ là con chó của nhà Ân mà hại được ta sao.

Chu Công Minh quát tháo:

   Ngươi là cái thá gì mà ta giết ngươi không được, dù cho đó là Vua Hùng ta vẫn coi như cỏ rác, có cơ hội là ta chém ra thành trăm mảnh.

Thục Chăm nghe Chu Công Minh hổn xược xúc phạm đến Vua Hùng liền phi ngựa đến chỉ mặt hét lớn:

   Loài sâu bọ ra đây đấu với ta.

Chu Công Minh tức giận không kém sát khí ngùn ngụt định giục ngựa xông ra giết quách địch thủ cho hả cơn giận.

Bổng có người nói:

   Giết gà cần gì phải dùng đến Đao, để thuộc hạ ra làm thịt thằng nhãi đó cho rồi.

Người nói đó không ai khác hơn chính là Hồ Thế Gia, một con cáo già đầy mưu mẹo võ công cao cường xưa nay ít người địch lại.

Chu Công Minh dặn:

   Hồ tướng quân ra trận phải để tâm đề phòng đến con quỷ cái hung dữ kia.

Lão chỉ Thái Nga, Hồ Thế Gia nói:

   Thứ ma thuật trẻ con ấy làm gì được thuộc hạ.

Nói xong liền điểm 5 nghìn quân ra trận. Thục Chăm nhìn thấy tướng giặc ra trận không phải là Chu Công Minh, nhìn vẻ tự tin vai mang nhiều thứ vũ khí thời cũng đoán được là tay vô cùng lợi hại.

Liền kêu Thục Cương, Thái Nga đến nói:

   Hai anh em tìm cách trừ khử thằng giặc đó cho rồi. Tuân lệnh.

Thục Chăm dặn xong liền điểm quân ra trận, thời có người lên tiếng:

   Anh Tư để thằng giặc đó cho em.

Người nói ấy không ai khác hơn là Thục Mân. Thục Chăm nói:

   Chú Bảy cẩn thận, tướng giặc này có nhiều điểm bí ẩn cần phải đề phòng cảnh giác cao.

Thục Mân oai phong lẩm lẩm dẩn 5 nghìn quân ra trận chiêng trống dậy trời. Hồ Thế Gia nhìn thấy quân Nam hùng hùng hổ hổ ra trận tử chiến không đầu hàng, cụ thể là chiến trận thành Tây Dương đã qua không khỏi nổi da gà.

Nước Văn Lang quả là nơi Thánh Địa ung đúc lên anh hùng mọc lên như tre như trúc không phải nước nào cũng có. Không phải vì thế mà Hồ Thế Gia khiếp sợ mà có dã tâm lớn muốn nuốt nước Văn Lang, tiêu diệt khí thiên sông núi, Hồn Thiên dân tộc hầu cùng ÂN THỌ VƯƠNG làm chủ Địa Long Vũ Trụ. Hồ Thế Gia là tay cáo già học nhiều hiểu rộng, nỗi tiếng đất Bắc là tay khó chơi, thấy Thục Mân ra trận.

Hồ Thế Gia có vẻ xem thường nói:

   Thấy Tướng Gia sao không chịu xuống ngựa quy hàn thì may ra còn mạng sống để mà phục dịch nô lệ.

Thục Mân nghe lời nói xấc xược của Hồ Thế Gia tức quá thét lớn:

   Đạo tặc loài ăn cướp xâm lược lũ các ngươi, đã dẩm chân lên đất Văn Lang thì không còn thân xác để mà trở về, hồn ma lũ các ngươi muôn đời vạn kiếp làm ma nô lệ cho dân ta, ác tặc nạp mạng đây.

Thục Mân giục ngựa xông tới, trường thương vun vút tấn công Hồ Thế Gia với những thế võ kinh người. Hồ Thế Gia cười nhạt, với loại binh khí quái dị vừa thương vừa đao vừa xà mâu bí hiểm lợi hại vô cùng, nhanh như tia chớp Hồ Thế Gia tung ra nhiều chiêu thức hết sức quái dị vừa đón đở chống trả tấn công, giật lấy binh khí đối thủ, làm Thục Mân xính xáng, sít chút nữa bị đối thủ giật mất vũ khí.

Kinh hãi Thục Mân biết gặp tay đối thủ khó chơi, tập trung tinh thần cao độ, thi triển tuyệt chiêu chống trả, hai bên giao đấu quần nhau như chong chóng, phi tới phi lui vùn vụt, 50 hiệp trôi qua bất phân thắng bại.

Thục Mân bổng phát hiện ra có mùi lạ liền xây xẩm mặt mày. Hồ Thế Gia nào bỏ lỡ cơ hội, liền xử dụng tiệt chiêu U Linh Quỷ Chiêu một chiêu pháp vô cùng lợi hại lấy mạng Thục Mân.

Bổng nghe tiếng thét lớn:

   Tướng công lùi mau.

Nhanh như tia chớp Thục Mân lao ra khỏi vòng chiến thoát chết trong đường tơ kẻ tóc ầm ầm. Hồ Thế Gia ngựa người dội ngược, còn người kia không những dội ngược còn thêm liểng xiểng cố gượng lại. Hồ Thế Gia kinh ngạc lại là một nữ tướng xinh đẹp, không những đở nổi U Linh Quỷ Chiêu, không bị mê hồn độc hương làm hại, thì ra người đở nỗi U Linh Quỷ Chiêu cứu Thục Mân thoát chết, không ai xa lạ chính là Xê Đang vợ của Thục Mân.

Xê Đang luôn luôn theo sát trận chiến giữa chồng mình cùng tướng giặc, thấy chồng mình xính xáng thời biết có vấn đề liền giục ngựa lao nhanh vào trận chiến đón đở chiêu U Linh Quỷ Chiêu cứu thoát mạng chồng.

Xê Đang kinh khiếp trước sức mạnh chiêu pháp lợi hại của tướng giặc gượng đứng lại thét lớn:

   Mê hồn độc hương làm gì được ta.

Liền giục ngựa xông vào tấn công tới tấp vào địch thủ, Hồ Thế Gia tức giận đùng đùng lập kế giết hại Xê Đang đánh được vài hiệp lão già đó yếu sức thua bỏ chạy. Xê Đang rượt đuổi theo liền trúng kế của lão. Bất thình lình Hồ Thế Gia xoay ngựa như chong chóng, quật ngược một chiêu hết sức bất ngờ lấy mạng Xê Đang ai nấy cũng điều kinh khiếp, nhưng kỳ diệu thay Xê Đang đã tránh thoát. Hồ Thế Gia chém hụt, lão gầm thét inh ỏi nào để con mồi trốn thoát, Lão liền ném một vật lên không hô biến tức thời hiện ra một con chim ưng to lớn, nhắm đầu Xê Đang mổ xuống, gió dậy ù ù. Sanh mạng Xê Đang đang lúc ngàn cân treo sợi tóc, cùng lúc ấy một Đạo hào quang bay đến chém xuống chim ưng chỉ nghe ầm ầm long trời lở đất, chim ưng bị bảo bối Kiếm Tiên chém đứt làm hai khúc, hiện thành cái móng chim đứt làm đôi rơi xuống đất.

Hồ Thế Gia thất kinh, mất bảo vật vừa sợ vừa tiếc, nhưng làm gì được khi Kiếm Tiên đang chuyển động ù ù chém xuống quân Ân. Hồ Thế Gia thét lớn rút, tức thời quân Ân như bị ma đuổi, quỷ rược chạy thục mạng. Quân Văn Lang thắng thế tướng sĩ xông lên đánh cho quân Ân một trận tơi bời. Hồ Thế Gia khiếp đảm đi tiêu hơn vạn quân mất tiêu ba tướng liền kéo quân vào thành cố thủ, chờ quân tiếp viện tới.

Thục Chăm nghĩ: Quân Ân đã khiếp sợ sẽ không bao giờ ra giao chiến nữa, chỉ cố giữ thành mà thôi, việc công phá thành là việc làm không dễ khi giặc Ân còn gần 8 vạn quân, giặc phòng thủ chặt chẽ, không thể nói đánh là đánh được, cần phải có thời gian trù tính kế hoạch, phương tiện dụng cụ tấn công, còn có cả chiến thuật tấn công phá thành nữa, quân Ân có mộng xâm lược từ lâu, nên đã chuẩn bị phương tiện dụng cụ công phá thành hữu hiệu, tướng sĩ luyện tập công phá thành thường xuyên. Nay lại cố thủ thành thời vững chắc, chặt chẽ vô cùng, nếu thừa thắng xông lên công phá thành, nhất định sẽ bị tổn thất nặng nề, dù cho phá được thành tiêu diệt quân địch cũng phải trả giá quá đắc, thiệt hại về mình là rất lớn, việc tấn công thành trì bao giờ cũng coi là hạ sách trong chiến tranh. Chỉ trường hợp chiếm lấy thành trì là điều cần thiết lớn như chiếm lấy trung đầu não hoặc khống chế các trục lộ giao thông phong tỏa cắt đứt mọi huyết mạch liên kết của địch, thời tốn kém mất mát bao nhiêu cũng phải làm nếu đó là tình thế buộc phải chiếm cho kỳ được, với kế sách không đánh thì vây.

Thục Chăm ra lệnh bao vây thành Tây Dương Châu mỗi lúc một nghiêm ngặt. Chu Công Minh cùng các tướng giặc Ân đứng trên thành, thấy quân Văn Lang tiếp tục bao vây mỗi lúc một nghiêm ngặt hơn thời trong lòng thầm kinh hãi, chỉ còn cách là chờ quân viện binh đến.

**************

PHẦN 38

Đây nói về Tây Thục Vương đọc xong mật thơ của Thục Lao gởi cho vừa ngậm ngùi rơi lệ, vừa căm hận cha con Hửu Tài vừa căm thù quân xâm lược, không những chúng cướp bóc tàn sát muôn dân thê thảm, nghỉ đến cái chết của Thục Man do Triệu Công Tiễn sát hại bêu đầu nơi chiến trường, thì nộ khí xung thiên thét lớn, lũ ngoại xâm khốn kiếp chúng bây sẽ đền tội cho muôn dân.

Tây Thục Vương liền đưa ra kế sách táo bạo là kết hợp với quân Kiến Giao Châu cùng lúc tiến quân bao vây đánh thẳng vào doanh trại của giặc một mất một còn với chúng. Tam Giang Tây Châu lúc này lên tới 5 vạn quân, Tây Thục Vương định dốc toàn lực lượng chỉ để lại một ít quân phòng thủ Tam Giang Tây Châu mà thôi, còn bao nhiêu là dồn vào trận đánh sanh tử cùng Triệu Công Tiễn. Theo kế sách là tối mai thống lảnh 3 vạn quân tướng sỉ, bọc theo rừng Sầm Dương tiến quân đánh thẳng về phía Đông Nam doanh trại của giặc còn Thục Lao, Thục Di dốc toàn lực lượng ở thành Kiến Giao Châu đánh thẳng vào hướng Đông Bắc doanh trại của giặc, liền viết mật thơ giao cho Nùng Phao. Nùng Phao vừa đi khỏi Tam Giang Tây Châu, Tây Thục Vương liền đi vào cuộc họp khẩn cấp, bàn thảo kế hoạch, phân công lực lượng tiêu diệt tận ổ kẻ địch dù biết rằng quân ta, quân địch không chênh lệch mấy.

Cuộc họp đã đi đến giai đoạn kết thúc, thời có quân vào báo:

   Có Thục Di tướng quân đến xin gặp vương gia.

Tây Thục Vương vô cùng kinh ngạc, cùng các quan tướng ra đón Thục Di vào.

Vừa thấy Thục Di. Thục vương gia hỏi:

   Có chuyện gì thế?

Thục Di nói:

   Vào doanh trại rồi con sẽ thưa.

Thục Di liền kể lại đầu đuôi sự việc rồi nói kế sách tấn công giặc đã bị bại lộ. Tây Thục Vương cùng các quan tướng lấy làm kinh hãi, nói:

   May thay, may thay. Nếu không nhờ vào sự linh thiêng của Cha Trời, Địa Mẫu hai Đấng Tiên Rồng cùng Hồn Thiêng sông núi gia hộ thời đại họa đã giáng xuống chúng ta rồi, tất cả chúng ta đều rơi vào miệng sói, càng nghĩ ai nấy cũng đều kinh hãi.

Ông cùng các quan tướng vái lạy lên hư không cảm ơn Cha Trời Địa Mẫu, Cha Trời Lạc Long Quân, Địa Mẫu Âu Cơ cùng Hồn Thiên sông núi anh linh tướng sĩ che chở.

Mục tiêu một coi như bỏ, chuyển sang mục tiêu hai, theo phương án tương kế tựu kế tiêu diệt địch của Thục Lao đề bạc. Lần triển khai này Tây Thục Vương vô cùng cẩn mật vì đã hiểu Triệu Công Tiễn là tay vô cùng lợi hại không dễ gì đối phó, chỉ cần sơ hở một chút thời đại họa không biết đâu mà lường việc điều binh khiển tướng thiếu ăn khớp, kết hợp chặt chẽ thời khó mà thu được kết quả, muốn thắng được giặc Ân phải phối hợp ăn khớp toàn lực lượng quân Văn Lang cánh Tây Bắc vì vậy phải có Diệp Lang điều động binh mã khi cần thiết hoặc bố trí lực lượng tiêu diệt địch.

Tây Thục Vương cùng Thục Di phi ngựa vùn vụt theo hướng Tây Bắc, theo lời chỉ dẩn của A Lưới, chẳn mấy chốc đến nơi đại quân của Diệp Lang đang dừng chân cách thành Tây Dương Châu hơn mười mấy dặm về hướng Tây.

Đây nói về Đích Tôn Vương Tử Diệp Lang linh cảm Chu Công Minh sẽ cho người cầu viện binh lên Ngạc Sùng Cảnh liền nghĩ ra một kế bắt người đưa thư của giặc.

Thiên Hương nói:

   Địa bàn rộng lớn biết bắt họ ở đâu?

Diệp Lang nói:

   Hai nàng cứ theo ta.

Thế là hai con Thần Mã nhắm hướng Tây Bắc bay đi, lúc ấy trời xâm xâm tối hai con ngựa hạ xuống cách doanh trại của Ngạc Sùng Cảnh về hướng Đông Nam không xa. Diệp Lang phi thân lên hai ngọn cây cao phán đoán con đường mật thám đi vào doanh trại mà tên thám báo đó nhất định sẽ đi qua. Diệp Lang nhảy xuống đất ẩn dấu hai con ngựa rồi cùng hai nàng âm thầm lặng lẽ đến sát doanh trại ẩn mình chờ đợi.

Diệp Lang nói:

   Phải đến đầu canh tư chúng ta mới tóm được chúng.

Lạc Tiên không tin nhưng cũng ráng chờ, bổng nàng phát hiện một bóng người từ xa thấp thoáng, nàng nói:

   Tên ấy tới rồi.

Ngọc Thiên Hương cũng phát hiện ra có người có lẽ là một tên thám báo. Diệp Lang ngáp dài:

   Không phải tên đó đâu.

Diệp Lang tiếp tục nhắm mắt ngủ. Thiên Hương nhìn thấy Diệp Lang như vậy nói:

   Thiệt là…

Rồi im luôn. Đầu canh ba lại xuất hiện một người nữa, Thiên Hương đánh khẽ Diệp Lang:

   Dậy mau dậy mau tên ấy đã đến rồi.

Diệp Lang ngáp dài nói:

   Không phải đâu.

Diệp Lang tiếp tục ngủ khì, bổng Diệp Lang ngồi dậy mở mắt ra nói:

   Kinh công người nầy nhanh ghê gớm gã sắp đến rồi.

Lạc Tiên, Thiên Hương không phát hiện được gì cả. Thì ra Diệp Lang đang tập trung xử dụng tuyệt học thiên lý nhĩ một môn tuyệt học đã thất truyền từ lâu, nghe xa đến 6 – 7 dặm.

Diệp Lang nói:

   Hai nàng ở đây để ta bắt chúng vì người nầy kinh công rất cao tới sát mới bắt được.

Vì có sự nói trước nên Lạc Tiên, Thiên Hương chú tâm hết cốt vận công nghe ngóng, không bao lâu hai nàng cũng phát hiện tiếng chân kinh công từ xa vọng lại, sau đó là một bóng người như mũi tên lao đi, hai nàng đã thấy rõ tên thám báo, không mặc đồ giặc Ân mà mặc đồ quân lính Văn Lang, có lẽ vì quân Văn Lang đã bao vây thành Tây Dương Châu, nên tên thám báo nầy giã làm quân Văn Lang theo lối bí mật ra khỏi thành trà trộn vào binh lính thoát khỏi vòng vây quân Văn Lang. Hai nàng nhìn thấy tên thám báo bổng dừng chân lại rồi ngã lăng ra đất, một bóng người nhanh như chớp, cắp cái xác bay đi đến chỗ hai nàng thì ra người cắp cái xác đó chính là Diệp Lang.

Diệp Lang để cái xác ấy xuống lục lạo trong người y có một mật thơ, Diệp Lang mở ra xem. Tuy dưới ánh sao mờ nhưng Diệp Lang vẫn đọc được rỏ ràng là nhờ nội công thâm hậu, nội dung mật thơ như sau: Thuộc hạ vâng lệnh thống soái chiếm lấy thành Tây Dương Châu, tuy thành đã chiếm được nhưng tử nạn hết một tướng hao hơn 3 vạn quân còn về phía Nam hơn 10 vạn, hơn 7 vạn đi đời, 3 vạn tẩu thoát quân ta rượt đuổi chém giết tơi bời, chúng chạy đến Tam Giang Tây Châu cầu viện binh. Trở lại bao vây thành Tây Dương Châu thuộc hạ nghĩ với kế sách trong thành đánh ra ngoài thành đánh vô kẹp quân Văn Lang vào giữa tiêu diệt gọn thì coi như thành công ở bước một. Nên thuộc hạ chỉ cần 5 vạn quân kết hợp ngoài đánh vô trong đánh ra quét sạch bọn chúng, sau đó kết hợp quân ba thành tiêu diệt trọn ổ Tam Giang Tây Châu, thuộc hạ Chu Công Minh đang trông chờ sự chỉ đạo của Thống Soái.

Diệp Lang cùng hai nàng đọc xong mật thơ liền để mật thơ về chổ cũ trong người tên mật thám rồi đem xác để lại nơi gã đã ngất xỉu bất tỉnh giải huyệt đạo giải thuốc mê cho Y, ba người trở về chổ cũ ẩn núp theo dõi. Tên thám báo tỉnh dậy nhìn xung quanh thấy doanh trại Thống Soái ở ngay trước mắt chỉ vài mươi bước thời giáp quân canh lính gác vô cùng nghiêm ngặt, Y nghĩ làm gì có địch ở đây. Y mò vào trong mình mật thư vẫn còn y nguyên, Y lại nhìn xung quanh một lần nữa cảnh vật vẫn yên tịnh, Y liền phi thân vào doanh trại.

Bổng nghe tiếng quát:

   Dừng lại.

Y liền nói mật hiệu, sau đó không còn nghe tiếng quát nữa.

Diệp Lang đã coi như thu lượm được kết quả như ý liền trở về nơi đại quân đang tạm dừng chân. Một ngày mau chóng sắp qua, ánh nắng đã chuyển sang vàng hồng dìu dịu như nhắc nhở đàng chim hãy gọi nhau tìm nơi an nghỉ vì màn đêm sắp trở lại với non sông. Từ nơi đại quân một bóng trắng bay lên không nhắm hướng Bắc bay đi như một vệt mờ hạ xuống cách doanh trại giặc Ân về hướng Đông, Đông Nam chừng 5 – 6 dặm, một người từ lưng ngựa nhảy xuống đất. Là ai thế? Còn ai nữa, chính là Diệp Lang lần này Diệp Lang đi có một mình vì đi nhiều dễ bị lộ. Diệp Lang tính toán, có lẽ giờ này tên thám báo sắp rời khỏi doanh trại trở về thành Tây Dương Châu. Và đúng như vậy từ nơi doanh trại giặc một bóng người lao ra, nhắm hướng thành Tây Dương Châu lao đi vùn vụt, Diệp Lang bám sát theo sau, chỉ còn độ 3 – 4 dặm thời tới thành Tây Dương Châu, Y dừng lại không đi nữa biết rằng mặt trời đã xuống núi bóng đêm bao trùm lấy non sông, có lẽ Y chờ cuối giờ Dậu giữa giờ Tuất mới trà trộn vào quân Văn Lang theo lối bí mật vào thành. Có lẽ Y đang bận tính gì đó quên tập trung vào nhĩ lực, Diệp Lang đã đến gần mà Y không hề hay biết. Diệp Lang dùng thần công phóng mê hồn hương loại không mùi vị, khác với loại mê hồn hương lần trước, theo chiều gió bay đến Y hít phải liền bất tỉnh nhân sự. Diệp Lang như một bóng ma với môn kinh công tuyệt thế Lăng Không Thân Pháp như làng gió thoảng lướt tới chổ Y cách không xa điểm huyệt gã. Diệp Lang lục vào mình Y lấy ra một mật thư do Ngạc Sùng Cảnh gởi, nội dung mật thư như sau: Năm vạn quân do Hung Nô Sát Nhân thống lảnh chỉ huy, khi tấn công, quân ta bắn pháo xanh 1 – 3 – 5 làm ám hiệu, thì mở cổng thành và quân ra tấn công việc tấn công không định trước ngày giờ, có lẽ canh tư gần sáng là thích hợp hơn, việc tấn công chỉ trong vòng 7 ngày trở lại, tùy cơ ứng biến. Diệp Lang xem xong nội dung của mật thư liền để mật thư vào chỗ cũ trong người tên mật thám, giải thuốc mê, giải huyệt đạo cho Y rồi phi thân vào màn đêm mất dạng. Nói về tên thám báo giặc Ân, tỉnh dậy ngơ ngác tự hỏi: Chuyện gì đã xảy ra? Không lẽ ta đã bị trúng độc, Y liền vận thử thấy kinh mạch thông suốt, Y vận công lấy tai nghe ngóng không phát hiện được gì. Biết thời cơ trà trộn vào quân Văn Lang đã đến Y thi triển kinh công đến xuất quỷ nhập thần trà trộn tài tình quân Văn Lang không phát giác nỗi. Y lẳng vào nơi bí mật rồi mất hút. Có lẽ nơi đây có lối bí mật thông vào nội thành, một bóng người ẩn hiện như ma, quỷ lướt tới xem xét nói thì ra là thế có lẽ tên đó đã lọt vào nội thành, ta trở về chỗ đại quân thôi, chỉ cần một cái nhích chân người đó đã biến mất trong đêm tối.

************

PHẦN 39

Nói về Trung Đại Nhân cùng các quan tướng chờ đợi Diệp Lang trở về, nhưng đã hết canh ba sang canh tư, có người lo lắng nói:

   Sao lâu thế.

Thời có quân vào báo:

   Có cha con Tây Thục Vương cần gặp Đích Tôn Vương Tử.

Thấy ai nấy cũng làm thinh. Ngọc Thiên Hương lên tiếng mời Vương Gia vào. Trung Hoài Nghĩa nói:

   Sao hiền muội lại nói thế.

Thiên Hương chỉ biết làm thinh. Lúc sau cha con Vương Thục Gia vào các quan tướng đứng dậy chào cha con Vương Thục Gia.

Thục Vương Gia thấy vắng mặt Diệp Lang hỏi:

   Tôn Vương sao không thấy ở đây?

Trung Đại Nhân thưa:

   Bẩm Vương Gia Tôn Vương có chuyện đi vắng chưa trở về.

Tây Thục Vương nghe Trung Đại Nhân nói thế thở dài lo lắng đi tới đi lui. Cũng may là Diệp Lang cũng vừa về tới. Diệp Lang thấy Tây Thục ở đây vô cùng kinh ngạc, vì thời gian cấp bách Tây Thục đi luôn vào vấn đề, kể lại tất cả tình hình cho Diệp Lang nghe rồi nói:

   Triệu Công Tiễn là tay vô cùng lợi hại.

Diệp Lang nghe xong liền nghĩ giải pháp tiêu diệt địch, ý nghỉ hai người giống hệt nhau, rồi đưa đến một kết luận thống nhất. Tây Thục Vương viết vội mật thư đưa cho Thục Di trở lại thành Kiến Giao trước khi trời sáng. Để phối hợp binh cơ thêm một số vấn đề, Tây Thục Vương mới từ biệt Diệp Lang cỡi Long Câu phi vùn vụt trở lại Tam Giang Tây Châu thời trời đã sáng tỏ ánh bình minh đã trở về đem lại sự ấm áp cho quê hương. Nói về Diệp Lang tiễn Tây Thục Vương xong trở vào hội họp cùng các quan tướng.

Diệp Lang hỏi:

   Hung Nô Sát Nhân là người thế nào?

Thấy ai cũng lặng thinh, Lạc Tiên nói:

   Hung Nô Sát Nhân là chúa tể của quân Hung Nô là tay khắc tiếng hung ác, có sức mạnh hơn người, pháp thuật Phù Thủy vô cùng lợi hại. Không hiểu vì sao giặc Ân thu phục được chúng.

Cuộc họp kết thúc ai về chổ nấy vì suốt đêm không ngủ có người cũng đã thấm mệt.

Nói về doạnh trại của giặc Ân, cách thành Kiến Giao Châu không xa, im lìm một cách kỳ lạ, sự im lìm có chủ ý, cũng giống như con hổ báo nhẹ nhàng yên lặng trước khi chụp bắt con mồi.

Triệu Công Tiễn ra lệnh:

   Lưu Tây nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm một vạn quân trời vừa xâm tối mai phục ở phía Nam rừng Sầm Dương cứ để cho quân Văn Lang đi qua một cách an toàn, chận đánh lúc trở về hậu cứ Tam Giang Tây Châu. Tuân lệnh.

Lưu Tây là Vương Quan đất Mân dòng dõi Công Lưu là vị Vương Quan có võ nghệ cao cường điều binh khiển tướng tài tình nỗi tiếng ở đất Bắc.

   Hạ Hạo nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 5 vạn quân phục kích ở phía Tây Bắc sát thành Kiến Giao khi màn đêm đã buông xuống, chờ quân Văn Lang ra khỏi thành tấn công vào doanh trại của chúng ta, thời xua quân một nữa đánh bọc sau quân Văn Lang đánh tới làm cho quân Văn Lang rối loạn, một nửa xông vào chiếm lấy thành Kiến Giao Châu bắn pháo hiệu lệnh, tức thời rút hết 5 vạn quân vào thành. Tuân lệnh.

Hạ Hạo là vương quan đất Ngụy thuộc dòng dõi con nhà tướng, có tài điều binh khiển tướng xuất thần nhập quỷ, với cặp song chùy nặng 120 cân xưa nay đã từng làm khiếp đảm đối thủ.

   Địch Thi nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 4 vạn quân phục kích cách doanh trại về hướng Đông Nam, chờ cho quân Tam Giang Tây Châu tấn công vào doanh trại của ta một hồi, thì quân ta tiến ra xé đôi lực lượng của chúng, một nửa từ sau lưng chúng đánh bật tới, một nửa dồn ép quân Văn Lang thối lui chạy về rừng Sầm Dương. Tuân lệnh.

Địch Thi là vị tướng ở đất Ngân phía tây sông Hoàng Hà, có sức mạnh kinh người, sử dụng thanh Đại Đao nặng hơn trăm cân, vào trận địa như vào chỗ không người, một vị tướng vô cùng lợi hại.

   Ngụy Tôn nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân thống lảnh một vạn quân cố thủ doanh trại, khi thấy quân Văn Lang tấn công từ hướng Đông Bắc, Đông Nam quá mạnh, thời bỏ doanh trại rút lui về hướng Tây chờ lệnh. Để cho quân Văn Lang cánh Đông Nam, cánh Đông Bắc đánh lầm nhau, chúng ta đứng ngoài ngư ông đắc lợi. Tuân lệnh.

Ngụy Tôn là con lớn của Ngụy Vương nước Ngụy, có tài xạ thủ bắn 1 lần ba bốn tên điều trúng đích, nỗi danh là Thần Tiễn ai nghe đến cũng đều kinh sợ.

   Triệu Công Vương nghe lệnh. Có thuộc hạ, con điểm 5 nghìn quân tinh nhuệ, 50 kỵ binh thiết giáp tấn công vào doanh trại Tam Giang Tây Châu, đốt sạch, quét sạch kho lương thực, kho binh khí, kho dụng cụ phương tiện hậu thuẩn cho ba cánh quân Tây Giang Châu, Tây Dương Châu, Kiến Giao Châu. Rồi đến kết hợp với quân Lưu Tây tại rừng Sầm Dương, chặn đường rút lui của chúng tiêu diệt sạch không cho một tên nào chạy thoát. Tuân lệnh.

Triệu Công Vương là con lớn của Triệu Công Tiễn, Triệu Công Tiễn luôn luôn đặc kỳ vọng ở con người nầy, sau thay thế ông làm nên nghiệp lớn.

Điều binh khiển tướng đâu vào đấy xong thở phào nhẹ nhỏm cùng sư huynh là Man Công, 5 nghìn quân rút êm về hướng Tây Bắc cách doanh trại hơn hai dặm nằm im chờ đợi kết quả. Thế là một thế cờ ảo diệu, một mẻ lưới tung ra hốt sạch quân Văn Lang.

Sự thành công hay thất bại còn phải chờ xem đấu trí của hai nhà quân sư gia. Và những gì chờ đợi rồi nó cũng sẽ đến, một ngày trôi qua nhanh chóng, ông mặt trời sắp lặng xuống núi, những con mảnh hổ đang mài vuốt, những con sói, cáo đang mài răng chờ đêm đến là lao vào xé xác con mồi. Mây trắng bồng bềnh lang thang trôi mãi, cũng không ai đoán được mây sẽ trôi về đâu. Còn dưới đất thì sao, một cuộc tranh hùng sắp xảy ra một mất một còn. Ông mặt trời vội vã xuống núi, quê hương chìm lần trong màn đêm u tối, tiếng vó ngựa hình như đang vội vã họ đi về đâu nhỉ, ánh sao đêm nói còn đi về đâu nữa, đi đến nơi mà con người cần đến. Nơi doanh trại giặc Ân hơn 12 vạn quân mới đây vẫn còn đông đúc, thế mà chớp mắt doanh trại giờ đây chỉ còn thưa thớt hơn 1 vạn quân.

Họ đi đâu nhỉ? Gió nói ngươi không thấy ư, mây nói thấy rồi thấy rồi họ đang giăng  bẫy bắt mồi, những con mồi béo bở. Các vì sao cố gắng tỏa sáng hơn để nhìn rõ lòng mưu mô thủ đoạn tham lam tàn bạo, hầu mong chiếm đoạt non sông Tổ Quốc của người, ôi quả thật là ghê gớm. Tiếng côn trùng rỉ rả thâu đêm có lẻ chúng không màng gì đến danh lợi. Tổ Tiên Khai Hóa hiện thân Đức Cha Trời truyền dạy: Cuộc đấu tranh nào cũng thế, kết cuộc Chánh Nghĩa bao giờ cũng thắng Phi Nghĩa, Tà phải diệt vong còn Thánh thì hưng thịnh và gió lại thở dài nói với mây, nếu con người cứ u mê chạy theo dục vọng xấu xa thời bao giờ mới thấy được thiên đàng Cực Lạc, làm chủ Vũ Trụ, giang sơn mà Tổ Tiên đã tạo lập nên, để lại cho nhân loại con người, những con người biết nghe lời Tổ Tiên Cha Trời dạy bảo. Những kẻ tranh giành chiếm đoạt kết quả thời chẳng được những gì, gieo gió gặt bão, ác lai ác báo, kết cuộc mang tiếng ác linh hồn đọa lạc ngàn đời. Lòng Trời không bao giờ nghiêng về phía ác, hể làm ác thì nghịch lại lòng Trời. Nên kinh giáo đã dạy, làm thiện Trời giáng trăm điều phước, làm ác Trời giáng trăm điều họa mà tội ác xâm lược là thứ tội ác mà cán cân công lý Vũ Trụ không bao giờ tha thứ, giặc Ân sẽ bị nghiền nát như tương.

*************

PHẦN 40

Đây nói về quân Ân phục kích ở phía Nam rừng Sầm Dương, nghe tiếng quân binh duy chuyển rầm rộ, thì hiểu đó là quân Văn Lang ở Tam Giang Tây Châu đã xuất quân, bọc theo phía Nam rừng Sầm Dương phải nói đến gần nửa đêm đoàn quân mới đi qua hết. Tức thời nơi rừng Sầm Dương một bóng ngựa nhắm hướng Tây Tây Bắc lao vút đi như bay, đó là tên thám báo tài năng do Triệu Công Tiễn phái đi nắm bắt tình hình thu nhập tin tức của địch. Triệu Công Tiễn cùng Man Công nóng lòng chờ đợi tin tức ở người nầy.

Bổng tiếng ngựa vang lên rồm rộp từ xa mỗi lúc một gần và rồi tên thám báo cũng đến:

   Bẩm Chủ Soái quân Tam Giang Tây Châu đã đi qua rừng Sầm Dương rồi đông lắm, có lẽ giờ nầy cách doanh trại ta hơn 10 dặm cuối giờ sửu sẽ tới.

Triệu Công Tiễn nở nụ cười sảng khoái:

   Đông gì mà đông, chỉ trên dưới 5 vạn quân mà thôi, thế là địch tàn đời Tam Giang Tây Châu chỉ còn mấy tên ở lại canh giữ, lát nữa đây Tam Giang Tây Châu chỉ là cụm khói đống tro tàn thế là xong đời một lũ ngốc.

Không bao lâu tên thám báo thứ hai từ thành Kiến Giao Châu đến báo:

   Bẩm Chủ Soái cổng thành Kiến Giao Châu đả mở toan, quân Văn Lang ùa ra đông như kiến, đang tiến về doanh trại của chúng ta nhưng chưa tấn công.

Triệu Công Tiễn nói:

   Chúng chờ cánh Đông Nam quân Tam Giang Tây Châu tấn công trước.

Tên thám báo kinh ngạc nghĩ: Chủ Soái tiên đoán không sai một chút nào.

Tên thám báo thứ ba ở phía Đông Nam doanh trại báo cáo khẩn cấp:

   Bẩm Chủ Soái quân Tam Giang đến rồi sắp tấn công.

Triệu Công Tiễn vừa nghe xong thời pháo lịnh tử chiến màu đỏ, quân Văn Lang cánh Đông Nam đã bắn lên. Tức thời quân reo dậy đất ngựa hí vang trời, chiêng trống vang rền kinh thiên động địa. Quân Văn Lang tấn công vào doanh trại giặc Đông Nam, Đông Bắc như vũ bão. Quân Ân cố thủ chống trả quyết liệt một lúc sau rồi rút êm, đèn đuốc tối ôm.

Ngụy Tôn rút quân xong tới gặp Triệu Công Tiễn nói:

   Quân ta đã rút hết ra khỏi doanh trại.

Triệu Công Tiễn khen:

   Khá lắm.

Triệu Công Tiễn nhìn về doanh trại nghe gươm đao giáo mác mỗi lúc một thêm dữ dội đèn đuốc tối ôm, khoái chí cười nói:

   Khi chúng nhận ra nhau thời đã sưng đầu bể trán, trận nầy ông cho lũ ngươi đi chầu Địa phủ.

Nơi doanh trại giặc trận chiến vẫn xảy ra rầm trời rầm đất nhưng chẳng thấy tên lính nào bị thương hay tử nạn. Bổng thấy Thục Lao, Thục Liêu xuất hiện nơi doanh trại giặc.

Thục Lao nói nhỏ với Thục Liêu:

   Chúng ta đóng tuồng hay lắm, hãy chuyển sang phương án ba.

Thì ra quân Văn Lang đóng kịch làm như đang chiến đấu dữ dội, đánh lừa quân Ân mà thôi, phương án ba là từ chiến đấu chuyển sang phương án phục kích, làm chủ động mọi tình thế.

Nói về Hạ Hạo nghe quân reo ngựa hí gươm Đao giáo mác dậy trời, thì biết thời cơ đã đến, một nữa tấn công chiếm lấy thành, một nửa đánh bọc đằng sau đánh tới tiêu diệt quân Văn Lang. Không ngờ quân Ân rơi vào ổ phục kích quá bất ngờ trở tay không kịp bị quân Văn Lang vồ như mèo vồ chuột, quân Ân rối loạn chống trả không lại chết thôi là chết.

Câu chuyện là thế nầy, một nữa tấn công thành do Hạ Hạo trực tiếp chỉ huy khi 2 vạn 5 nghìn quân nhanh như cơn lốc kéo đến cổng thành, thì ôi thôi cổng thành đã đóng kín mít, quân Ân rơi vào ổ phục kích, tên lao phóng bắn như mưa, quân Ân bất ngờ chống trả không lại rơi vào thế hoang mang bị động trúng tên trúng lao chết thôi là chết.

Nói về 2 vạn 5 nghìn quân do phó tướng chỉ huy đánh bọc phía sau quân Văn Lang đánh tới nhưng không thấy quân Văn Lang đâu cả chỉ nghe Đao Kiếm xảy ra nơi doanh trại mỗi lúc một ít dần. Tưởng là quân Văn Lang đã sụp bẩy tổn thất la liệt, gậy ông đập lưng ông và nghĩ đây là cơ hội tấn công vào doanh trại ăn thịt những con mãnh hổ đã bị thương dưới bầu trời mờ ảo khói lửa đêm đen. Không ngờ giặc Ân đã lọt vào ổ phục kích trong trại ngoài trại, tên, lao phóng bắn xối xã quân Ân bất ngờ chẳng kịp trở tay, phó tướng giặc Ân bị tên lao hạ gục tại chỗ, quân Ân rối loạn lại thêm rắn mất đầu đạp lên nhau chạy tháo lui trở lại.

Cánh quân Hạ Hạo khác gì đạp lên nhau chạy tháo lui, tình thế quân Ân vô cùng hổn loạn, pháo đỏ trên thành Kiến Giao Châu bắn lên báo hiệu tử chiến, cổng thành liền mở toan, quân Văn Lang ùa ra như nước vỡ bờ, kết hợp cùng quân phục ở ngoài xông lên tiêu diệt quân Ân như sấm sét. Thục Lao thấy pháo lệnh liền xua quân từ ngoài đánh ập vô. Thục Di từ trong thành đánh thốc ra, kẹp quân Ân vào giữa, tình thế vô cùng nguy khốn quân Ân chết phơi như rạ.

Tướng giặc Hạ Hạo biết mình đã trúng kế tình thế nguy cấp đến nơi, ức khí xung thiên múa song chùy vùn vụt như giông bão nện xuống quân Văn Lang như thác đổ, quân Văn Lang như đàn sói đấu với hổ dữ, người nầy ngã xuống người khác xông lên, quân Văn Lang chết la chết liệt.

Bổng nghe tiếng quát như sấm một người phi ngựa xông ra chận đứng Hạ Hạo lại. Hạ Hạo như người điên cuồng, xông tới song chùy nện ầm ầm hét lớn nạp mạng đây. Người cản đường Hạ Hạo không ai khác hơn chính là Thục Di, thấy tướng giặc dũng mãnh như vậy, không dám chống đở song chùy, phi ngựa sang một bên ra lệnh xạ tiển, tức thời hàng trăm mũi tên xé gió lao vào khắp người Hạ Hạo, áo giáp sắt Hạ Hạo quá dày nên chưa hạ gục Hạ Hạo được.

Cuối cùng Hạ Hạo cũng bị tên xuyên trúng vào vai, kinh hoảng xua quân mở đường mau tẩu thoát theo hướng Tây chạy thục mạng 5 vạn quân giờ chỉ còn lại hơn nghìn người thê thảm vô cùng thê thảm.

Đúng là:

Cọp đà sa lưới có ra chi

Nanh vuốt còn nguyên, chẳng được gì

Ba chân bốn cẳng, chuồng tẩu thoát

Kinh hồn bạc vía, phi tẩu phi

Điểm lại ba quân, liền té ngữa

Năm vạn đi đời, lệ sầu bi

Trời Nam nào dễ xơi dễ nuốt

Gặp phải Tiên Rồng, hết ngõ đi

Đây nói về Địch Thi tướng giặc dẩn 4 vạn quân phục kích cách doanh trại về hướng Đông Nam hơn hai dặm, chờ quân Tam Giang Tây Châu tấn công vào doanh trại, thời đưa quân tấn công vào khúc giữa xé đôi lực lượng quân Tam Giang ra, một nửa quân đánh bọc sau lưng quân Tam Giang đánh tới làm cho quân Tam Giang không biết đâu mà chống đở quân Ân dễ bề tiêu diệt.

Một nữa dồn ép quân Tam Giang thối lui chạy về rừng Sầm Dương rơi vào họng sói. Địch Thi nghe chiến trận xảy ra rền trời rền đất nơi doanh trại, biết là thời cơ đã đến liền ra lệnh tấn công, lạ thay quân Tam Giang khi thấy quân Ân từ nơi phục kích tuông ra tấn công, không chống trả tự động tách đôi, một nửa dồn nhanh về doanh trại của giặc, một nữa rút lui chạy ngược lại về hướng Sầm Dương.

Nói về quân Ân từ nơi phục kích xông ra chưa đánh mà quân Tam Giang đã bỏ chạy, một nửa chạy ngược trở lại hướng Sầm Dương, phó tướng giặc thấy thế xua quân rượt đuổi chém giết quân Tam Giang hơn hai dặm thời không thấy quân Tam Giang đâu nữa vô cùng kinh ngạc. Không hiểu vì sao lại như thế, thì nghe quân reo ngựa hí vang trời pháo lịnh tử chiến đã bắn lên không, tức thời tên lao hai bên đường bắn phóng vào giặc Ân như vũ bão. Biết trúng kế sa vào bẫy địch, phó tướng giặc ra lệnh rút nhưng quân Ân đã bị bao vây bốn phương tám hướng, mặt trước mặt sau chỗ nào cũng có quân Tam Giang Tây Châu đánh tới, quân lính tuy ngang ngửa nhau nhưng quân Ân rơi vào tình thế bất lợi bị động hổn loạn, hoang mang, tiến lui mất phương hướng. Quân Tam Giang làm chủ thế trận, tiến lui có quy củ, nên quân Ân không chống trả nỗi, càng lúc càng bị diệt vong, phó tướng giặc Ân tử nạn, quân Ân như rắn mất đầu cố vùng vẩy một hồi rồi tất cả về chầu âm phủ.

Nói về Địch Thi thấy quân Tam Giang Tây Châu bỏ chạy thấy hơi lạ, nhưng lại nghĩ chúng đã chạy vào con đường chết liền thúc quân rượt theo tới doanh trại nhưng kỳ lạ thay quân Tam Giang biến đi đâu mất. Địch Thi còn đang ngơ ngác thì pháo lệnh tử chiến đã bắn lên. Tức thời quân reo dậy đất ngựa hí vang trời, chiêng trống ầm ầm, tên lao hai bên phóng bắn xối xã như mưa.

Biết là trúng kế sa vào bẫy địch, Địch Thi ra lệnh rút lui nhưng quân Ân lúng túng rối loạn, trước tình thế dồn ép tấn công xối xả của quân Tam Giang, tiến không được lui không được. Lọt vào họng giáo tên chết la chết liệt. Địch Thi như người điên cuồng hét la như sấm phi ngựa xông vào quân Tam Giang chém xuống ầm ầm, ra lệnh cho đội quân thiết giáp tấn công mở đường rút lui.

Tây Thục Vương ra lệnh cho đội quân thiết giáp xông ra chận đứng đội quân thiết giáp của giặc. Địch Thi phi ngựa vụt qua đầu người tấn công đội quân thiết giáp của Tam Giang Tây Châu, chỉ nghe ầm ầm đùng đùng đinh tai nhức óc, đội quân thiết giáp chịu không nỗi sức nặng của thanh Đại Đao hơn trăm cân chém tới người nào trúng phải không chết thì cũng trọng thương, áo giáp đồng tên lao khó mà xuyên thủng, thế là đội quân thiết giáp của giặc xông lên phá vỡ vòng vây, trận chiến vô cùng khốc liệt.

Thục Liêu thấy giặc Ân sắp phá vỡ vòng vây liền xua quân chặn lại nhưng đội quân thiết giáp của giặc quá mạnh, quân Tam Giang thiệt hại vô cùng, đội quân thiết giáp Tam Giang bị Địch Thi điên cuồng đánh cho tan tác. Tình thế đảo ngược bất lợi cho quân Tam Giang.

Tây Thục Vương không còn cách nào hơn, phi ngựa ra hét lớn:

   Lũ giặc Ân các ngươi phải chết.

Địch Thi thấy Tây Thục Vương xuất đầu lộ diện liền nghĩ muốn cứu nguy tình thế phải giết tên cầm đầu nầy, liền bỏ đội quân thiết giáp phi ngựa tới giết Tây Thục Vương.

Tây Thục Vương liền rút Kiếm Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm ra, tức thời hào quang chóa mắt sấm sét ầm ầm, Kiếm khí tuôn ra mù mịt. Địch Thi hoảng sợ giục ngựa tìm đường tháo chạy. Nào để con mồi chạy thoát, Tây Thục Vương vung kiếm lên không, chém tới Địch Thi, thời khủng khiếp thay Kiếm khí cuồn cuộn tuôn ra mang theo cả sấm sét chém xuống Địch Thi cả người lẩn ngựa nát như tương. Tây Thục Vương chỉ kiếm sang giặc Ân, tức thời sấm sét đánh chết không kịp ngáp gần 2 vạn quân nháy mắt chết sạch. Tây Thục Vương bàn hoàng ngơ ngác sửng sốt trước sự tàn sát đến khủng khiếp của Tiên Thiên Bảo Kiếm.

Tây Thục Vương quên đút Kiếm vào vỏ, sấm sét mỗi lúc một to làm cho quân Văn Lang muốn vỡ mạch máu mà chết. Tây Thục Vương như sực tỉnh đút Kim Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm vào vỏ, tức thời hào quang sấm sét biến mất, chiến trường lũ giặc tan thây nát thịt.

Nhìn bãi chiến trường Thục Liêu lắc đầu lẩm bẩm nói:

   Đây là lần đầu tiên ta nhìn thấy sự tàn khốc của Tiên Thiên Bảo Kiếm Trấn Quốc do Hùng Quốc Tổ truyền lại.

Quốc Tổ Vua Hùng Đức Chí Linh

Thần thông trí huệ, thật khiếp kinh

Bảy thanh bảo Kiếm, trùm hoàn vũ

Trấn Quốc Trời Nam, Đạo quang minh

Báu vật trao tay, truyền hậu thế

Ngoại xâm khiếp vía, thất hồn kinh

Sấm dậy trời Nam, nền chân lý

Huệ gươm truyền xuống diệt yêu tinh.

Nói về Triệu Công Tiễn cùng 5 nghìn quân rời khỏi doanh trại về hướng Tây hơn dặm ở đấy theo dõi cuộc chiến. Nghe nơi doanh trại Đao Kiếm rền vang thời khoái chí nói với Man Công:

   Trận nầy thắng lớn là nhờ cái tài khai thác của Man Huynh.

Man Công đắc ý cười ha hả:

   Chỉ chút nhỏ mọn có chi là công.

Man Công lo lắng nói:

   Sao chưa thấy pháo hiệu của ta bắn lên mà chỉ thấy pháo hiệu của địch bắn không.

Triệu Công Tiển tự tin nói:

   Pháo hiệu của chúng là pháo hiệu tử chiến mở màn, còn pháo hiệu của ta là pháo hiệu chiến thắng, có lẽ quân ta đang bận ăn thịt những con dê cuối cùng.

Triệu Công Tiển nói xong thời cảm khoái vô cùng. Bổng thấy hào quang từ nơi chiến trận ở phía Đông Nam tua tủa phóng lên kèm theo cả sấm sét ầm ầm đùng đùng đinh tai nhức óc.

Man Công tự nhiên hoảng sợ hỏi:

   Chuyện gì thế? Chuyện gì thế?

Triệu Công Tiễn bây giờ mới thật sự kinh hãi tự hỏi: Chuyện gì đã xảy ra? Không lẽ, không lẽ… Triệu Công Tiển mặt mày tái xanh tái ngắt, không lẽ bảy thanh Bảo Kiếm Trấn Quốc là có thật.

Triệu Công Tiễn như kẻ mất hồn thời có quân thám báo mình đầy thương tích hớt ha hớt hãi miệng nói không ra lời:

   Bẩm Chủ Soái, quân ta chết sạch rồi.

Triệu Công Tiển hốt hoảng ngươi nói:

   Sao?

Tên thám báo thều thào lặp lại:

   Sấm sét đánh chết hết rồi.

Y nói xong thời hồn lìa khỏi xác trút hơi thở cuối cùng. Triệu Công Tiển chết điếng, thì có quân thám báo về báo:

   Bẩm Chủ Soái, 5 vạn quân chiếm thành không được rơi vào ổ phục kích, bị quân Kiến Giao xơi tới tấp, quân ta khó mà sống sót.

Triệu Công Tiễn đứng lên không nổi ngồi bệch xuống đất. Man Công nói:

   Sợ cái gì? Là bảy thanh Bảo Kiếm Trấn Quốc, sao chưa nghe sư phụ nói.

Triệu Công Tiễn còn đang ngơ ngác bởi cú xốc hãi hùng, thời nghe tiếng quân chạy toán loạn, thấy một người binh giáp tả tơi phóng ngựa đến la lên:

   Chủ Soái chạy mau, quân Văn Lang sắp đuổi tới nơi.

Triệu Công Tiển hốt hoảng ra lệnh rút, tức thời 1 vạn 5 nghìn quân nhắm hướng Bắc Tây Bắc lao đi. Đi hơn 7 – 8 dặm thời cho quân dừng nghĩ vì lúc ấy trời đã sáng tỏ, Triệu Công Tiễn cho người điểm lại quân binh, thời chỉ còn 2 vạn 5 tướng thì rả rời cả tay chân, than vắng thở dài buồn rầu khôn xiết: Trời hại ta rồi. Nghỉ đến con lớn của mình là Triệu Công Vương giờ nầy không biết ra làm sao.

**************

PHẦN 41

Đây nói về Triệu Công Vương theo lịnh của cha là Triệu Công Tiễn điểm 5 nghìn quân chủ lực cùng 50 kỵ binh thiết giáp đến phục kích gần doanh trại Tam Giang Tây Châu 5-6 dặm, chờ cho quân Tam Giang ra khỏi trại, độ chừng qua khỏi rừng Sầm Dương thì đột nhập tấn công vào doanh trại giết sạch, đốt sạch, phá sạch. Rồi kéo quân đến rừng Sầm Dương hiệp với quân Lưu Tây, chận đường rút lui quân Văn Lang còn sống sót tiêu diệt.

Làm chủ chiến địa Tây Bắc Văn Lang, Triệu Công Vương cho quân phục kích ẩn núp đâu vào đó, liền cho quân thám báo bám sát theo dõi động tịnh quân Tam Giang Tây Châu, thời thấy quân Tam Giang Tây Châu đã kéo ra lần lượt tiến về hướng rừng Sầm Dương cho đến tận trời tối mới hết ước lượng hơn 4 vạn quân.

Triệu Công Vương nghĩ: Nghe cha nói quân Tam Giang chỉ trên dưới 5 vạn mà thôi, ta đến hơi muộn vì giặc đã xuất quân rồi nếu không ta sẽ ước lượng được số quân còn lại trong trại là bao nhiêu. Đúng là cha nào con nấy đều là cáo già mưu mẹo giang xảo đầy người, Triệu Công Vương ước lượng quân Tam Giang đã đi khá xa từ đầu hôm tất cả đều ra khỏi trại, giờ nầy là nửa đêm có lẽ thời cơ đã đến. Để chắc ăn hơn Triệu Công Vương cho quân thám báo mò gần doanh trại nghe ngóng động tỉnh.

Quân thám báo trở ra nói:

   Bẩm tướng quân có lẽ doanh trại không còn bao nhiêu quân, chỉ thấy vài tên lảng vảng mà thôi, có lẽ quân Văn Lang nghỉ không bao giờ ta sẽ tới đây nên không có một chút phòng bị.

Triệu Công Vương nghĩ: Cha đã tính thì đời nào sai, liền ra lệnh tấn công 5 nghìn quân cùng kỵ binh thiết giáp ùa vào doanh trại nhanh như cơn lốc.

Triệu Công Vương giật mình toàn doanh trại chỉ là trống không, không một bóng người, không thấy kho binh khí, kho lương thực đâu cả, không lẽ cha đã tính sai liền cho quân lục lạo tìm kiếm một hồi, cũng chỉ là doanh trại trống không.

Triệu Công Vương còn đang ngơ ngác, thời bốn phương tám hướng quân reo dậy đất, tên lửa bắn vô doanh trại đỏ cả trời, gặp lúc nhiều ngày trời oi bức, không mưa, doanh trại bốc cháy dữ dội, thui nướng giặc Ân như nướng heo, nướng chó, những con còn sống nhảy ra con nào thì tên, lao, Đao, Kiếm xơi con nấy.

Kỵ binh thiết giáp giặc Ân mở đường giải vây cho Triệu Công Vương trốn thoát. Nhưng nào có dễ như vậy, đã sa vào hang cọp chỉ còn cách là chui vào bao tử cọp cho xong, quả đúng vậy kỵ binh thiết giáp Văn Lang túa ra xơi đẹp, đội kỵ binh thiết giáp của giặc ngã gục chẳng còn một tên. Năm nghìn quân giờ chỉ còn phân nửa cùng Triệu Công Vương cố phá vòng vây tẩu thoát nhưng làm sao thoát nỗi vì những con mãnh hổ đang đói thèm lũ giặc Ân.

Thục Châu điều động quân binh siết chặt vòng vây, đội quân xạ tiển phát động ra tay hàng nghìn mũi tên xé gió nhắm Triệu Công Vương lao tới ôi thôi còn gì vì cuồng ngông xâm lược đành bỏ mạng tại đây, năm nghìn quân chẳng còn một mạng, hồn sa địa phủ.

Đất Nam nào phải để xơi

Tan thây nát thịt, đầu rơi chiến trường

Văn Lang Rồng thét Cọp gầm

Xơi quân xâm lược mấy tần giặc qua

Xâm lược tội ác khó tha

Thay Trời hành Đạo, giặc sa đường cùng

Trời Nam con cháu Tiên Rồng

Ra tay trừng trị giặc thù ngoại xâm

Giữ gìn non nước cha ông

Chủ quyền Độc Lập muôn năm đời đời

Nước non non nước sáng ngời

Văn Lang đẹp mãi, muôn đời Văn Lang

Giặc Ân thây chất như non

Ra đi xâm lược, hết mong ngày về

Giặc Ân chết thảm chết thê

Chết vì ô nhục, chết hề chết điên

Ác danh truyền tụng triền miên

Cho đời nguyền rủa ác danh đời đời.

Đây nói về Lưu Tây tướng giặc theo lệnh của Triệu Công Tiễn dẩn 1 vạn quân mai phục ở rừng Sầm Dương chờ nuốt những con nai thoát chết, nhưng chờ mãi không thấy quân Văn Lang thua chạy, trời đã chuyển hừng đông chim chóc phát hiện có người bay loạn xạ kêu réo inh ỏi. Lưu Tây linh cảm như có điều chẳng lành sắp xảy ra.

Và đúng vậy, có quân vào báo, vẻ mặt có vẻ sợ hãi:

   Bẩm tướng quân, quân Văn Lang bao vây rừng Sầm Dương rồi.

Lưu Tây nghe thế nhìn lên trời than thở: Thế là hết, quân ta đã thất bại. Lưu Tây ở trong rừng cố thủ chờ đợi một phép màu nào đó xoay chuyển tình thế. Mặt trời càng lúc càng lên cao, càng nắng gay gắt, kỳ lạ hơn là có ngọn gió Tây Nam thổi mạnh, cộng thêm cái nóng gay gắt.

Tây Thục Vương, Thục Lao, Thục Liêu, Thục Châu đã xác định được vị trí nơi giặc phục kích ở hướng Tây Nam của khu rừng, nhờ qua chim chóc bay toán loạn. Đối với giặc ngoại xâm thì người nào người nấy đều đáng tội chết cả, có thể nói dư tội chết nữa là khác.

Tây Thục Vương ra lệnh tấn công, tức thời tên lửa bắn vào rừng Sầm Dương đỏ trời, 10 vạn quân Văn Lang bao vây trùng trùng lớp lớp, con kiếm cũng khó mà lọt huống chi là con người. Một trận hỏa công khủng khiếp, rừng Sầm Dương lửa dậy ầm ầm, ngọn lửa bốc cao vài chục mét hơi nóng khủng khiếp, ai nhìn thấy cũng phải ghê sợ, gió lửa thi nhau tàn sát quân giặc.

Nói về giặc Ân thấy lửa đạp lên nhau tìm đường tẩu thoát, la ré vang động cả khu rừng, những con chuột giặc phóng ra liền bị vòng vây đàn Linh Miêu xơi đẹp.

Đang lúc ấy có nhà tiên tri thông thái đằng vân bay về Đông Hải, nhìn thấy cảnh ấy lắc đầu thở dài nói:

   Những trận đánh thế nầy con cháu Văn Lang về sau không sao tránh khỏi đại họa, giặc chết đã đành, kéo theo côn trùng thảo mộc muôn loài cầm thú cũng bị thiêu rụi, đâu cũng là cơ trời, giặc chết nơi nào thì loạn li phản quốc sinh ra nơi đó, nói xong đằng vân bay mất.

Có bài thơ rằng:

Tưởng đâu xâm lược đất trời Nam

Vơ vét báu châu, lắm bạc vàng

Nào hay hỏa ngục, bày trước mắt

Lửa thù lửa hận, đốt ra thang

Bốc mùi hôi thúi xông đất Bắc

Báo tin hung dữ mất chồng con

Trời Nam sừng sững nền Quốc giáo

Dễ đâu Chồn Cáo lấn quân sang.

*         *         *

Lưu Tây nhớ hỡi Lưu Tây

Hồn về hỏi tội chủ nhân nhà người

Xâm lược tội lớn bằng trời

Chủ quyền còn đó sao người chẳng tuân

Xâm lược còn tội nào hơn

Thay trời trừng trị, có chi lạ lùng

Ở đời phải hiểu luật đời

Nếu còn xâm lược ắt thời tiêu vong.

**************

PHẦN 42

Đã quân xâm lược nước Nam

Khó mong thoát chết nát tan phen nầy

Rồng Tiên quân tướng bủa vây

Trùng trùng điệp điệp, khắp nơi trùng trùng

Văn Lang con cháu Tiên Rồng

Đồng Bào ruột thịt chung cùng ra tay

Đánh tan lũ giặc ngoại xâm

Hiếu trung tỏ rạng thiên thu đời đời.

Đây nói về Triệu Công Tiễn bại trận, chạy trốn thục mạng nghỉ là mình đã thoát khỏi tầm tay truy sát của quân Văn Lang nên cho quân tạm nghỉ. Triệu Công Tiễn nổi tiếng là tay cáo già đầy mưu mẹo, đã tính cái gì thời khó mà sai, không hiểu vì sao lần nầy dẫn đến thất bại thê thảm ê chề, ngồi u sầu ủ rủ bơ phờ than thở mãi.

Man Công thấy thế an ủi nói:

   Thua kèo nầy gầy kèo khác.

Nói thì nói nhưng nghĩ đến hào quang sấm sét thời kinh hoàng. Bổng nghe quân reo dậy đất, ngựa hí vang trời, chiêng trống ầm ầm, Triệu Công Tiễn thất kinh hồn vía, quân Văn Lang như quỷ như ma chỗ nào cũng có cứ theo bám sát lão.

Triệu Công Tiễn ức khí xung thiên, không còn gì nữa để mà sợ hãi, thét lớn:

   Có giỏi thời ra đây đấu với ta cho đáng mặt anh hùng.

Có đây tức thời một tướng trẻ uy phong lẩm lẩm xuất hiện. Triệu Công Tiễn định lao ra một còn một mất với chúng.

Thời có người nói:

   Để thuộc hạ, chúng ta không còn con đường để mà thoát, quyết tử tại đây.

Người nói ấy không ai khác hơn là Hạ Hạo, với cặp song chùy nặng 120 cân, sát khí đằng đằng.

Ngọc Thiên Hương thét lớn:

   Không xong rồi.

Định phi ngựa ra, bổng có người nói:

   Để thằng giặc đó cho tôi.

Tức thời phi ngựa phóng vút ra, nhưng có người lại lên tiếng:

   Tướng quân Hoài Nghĩa để tôi đánh trận đầu cho, tướng quân đứng ở ngoài lượt trận.

Người nói ấy không ai khác hơn là Đại Lực tướng quân, với cặp song chùy nặng hơn trăm cân, đúng là kỳ phùng địch thủ, Long tranh Hổ đấu.

Nói về Đích Tôn Vương Tử Diệp Lang sau khi tiễn Tây Thục Vương xong trở về căng lều, suốt đêm không ngủ tính toán quyết định một nước cờ, không ai được quấy rầy cho đến trưa hôm sau, thời tập trung quan tướng phân bổ lực lượng như sau:

   Trung Đại Nhân, Trung Hoài Nghĩa, Đại Lực tướng quân, An Lạc Tiên, Ngọc Thiên Hương thống lãnh 3 vạn quân tức tốc đến phục kích tại huyện Kiến An, cách thành Kiến Giao về hướng Bắc Tây Bắc 8 – 9 dặm phục kích ở đó, tạm thời do Đại Lực tướng quân thống lảnh chỉ huy. Tuân lệnh.

Diệp Lang kêu tên mật thám đến nói:

   Ngươi tức tốc đem thư đến gần rừng Sầm Dương chờ đợi ở đó, khi nào quân ta kéo đến bao vây rừng Sầm Dương thời đưa phong thư nầy cho Thục Vương Gia. Tuân lệnh.

Diệp Lang tiếp tục phân bổ lực lượng:

   Cái Thế Thần Quân nghe lệnh. có thuộc hạ, tướng quân dẩn 4 vạn quân tức tốc tới huyện Hà Giang cách rừng Hà Lâm về hướng Đông Đông Nam 5 – 6 dặm phục kích ở đó chờ đợi lệnh. Tuân lệnh.

Phân bổ lực lượng xong Diệp Lang liền phi ngựa đến thành Tây Dương Châu gặp Thục Chăm, Thục Mân, Thục Cương cùng các tướng lĩnh khác.

Nói về Đại Lực tướng quân theo lịnh của Diệp Lang thống lãnh ba quân tướng sỉ tức tốc lên đường đến huyện Kiến An phục kích chờ đợi giặc thua chạy ngang qua đây tấn công tiêu diệt. Cuối canh ba nghe sấm sét vang trời, không hiểu là chuyện gì xảy ra, cho đến gần sáng cũng không thấy quân Ân thua chạy đến, hay là chúng ta đã phục kích sai.

Mặt trời ló dạng quân thám báo phi ngựa về báo:

   Quân Ân đã thua chạy gần tới nơi.

Đại Lực tướng quân liền ra lệnh:

   Tất cả vào vị trí chuẩn bị chiến đấu.

Nói về Triệu Công Tiễn cùng 2 vạn quân chạy thục mạng về hướng Bắc Tây Bắc hơn 7 – 8 dặm nghỉ là đã an toàn, nào hay quân Văn Lang như ma quỷ chỗ nào cũng có như Thiên la địa võng khó mà thoát thân, không còn con đường nào khác là tử chiến, thế là cuộc đụng độ giao chiến một còn một mất tiếp tục xảy ra.

Nhìn Long Hổ giao tranh, cát bụi đá chạy cuồng phong nỗi dậy ù ù. Đại Lực tướng quân hét lớn:

   Nạp mạng đây

Tức thời cặp song chùy như tia chớp nện xuống đầu Hạ Hạo tướng giặc. Hạ Hạo cũng thét lớn:

   Cho ngươi chết.

Cặp song chùy như cơn lốc tung lên đón đở đùng đùng ầm ầm, thiên lôi địa chấn. Hạ Hạo vì chiến đấu suốt đêm nên sức lực giảm sút, thế mà vẫn đánh ngang ngửa với Đại Lực tướng quân. Với chiêu Kim Kê Sát Thủ, cặp song chùy biến hóa kỳ diệu tung về địch thủ như sấm sét.

Đại Lực tướng quân hét:

   Chết nầy.

Hạ Hạo bay lên không né đòn, dùng chiêu Đại Bàng Sát Thủ cặp song chùy vồ xuống đầu Đại Lực tướng quân như trời giáng. Đại Lực tướng quân phi ngựa né qua một bên, ầm ầm cát bụi mù mịt dưới đất bị song chùy nện xuống thành một hố sâu.

Đến bây giờ Trung Hoài Nghĩa mới thật sự kinh hoàng, biết mình không phải là đối thủ của Hạ Hạo, có lẽ giờ nầy mình đã tan xương nát thịt rồi.

Triệu Công Tiễn đứng ngoài lượt trận thấy Hạ Hạo chưa hạ gục tướng địch, nghĩ đến cảnh nhục nhã thua trận đi tiêu hơn 10 vạn quân, tức thời hai con mắt tóe lửa, thổi ra một đạo khí phong định giết chết Đại Lực tướng quân.

Lạc Tiên thấy thế hét lớn:

   Yêu tặc hổn láo.

Tức thời vận lực vào Nhật Quang Bảo Chiếu, chiếu đến đón đở luồng khí phong sắc bén như gươm định hạ sát Đại Lực tướng quân, ầm ầm kinh thiên động địa Triệu Công Tiển lảo đảo hình như lão đã bị thương.

Trung Hoài Nghĩa tức giận phi ngựa vào chém Triệu Công Tiển hét lớn:

   Con cáo già đê tiện, ngày tận số của ngươi.

Triệu Công Tiễn cũng hét lớn:

   Cho ngươi chết.

Lại thêm một cặp Long Hổ tranh hùng. Thanh Long Đao của Tiệu Công Tiễn vô cùng lợi hại, biến hóa như ma quỷ làm cho Trung Hoài Nghĩa phải lúng túng. Ức khí xung thiên nghỉ đến cái chết của chị mình Ngọc Linh Châu, thì máu hận tuôn lên ngùn ngụt. Thanh đại đao tức thời như con Rồng nổi gió, với chiêu Quỷ Ảnh Ma Đao chơm chớp giáng xuống đầu Triệu Công Tiển. Triệu Công Tiển nào chiệu kém tức tốc thổi ra một luồng kình phong chống trả. Kết hợp với chiêu U Hồn Đoạt Mạng Đao, rét rét, đùng đùng, ầm ầm. Hai bên chấn động nội thương đều ọc ra máu.

Triệu Công Tiển quyết hạ gục đối thủ liền niệm chú thả con Kiêm Thiền ra. Tức thời ánh sáng lạ bay lên không. Ngọc Thiên Hương thấy thế kinh hoảng, phi thần Mã bay ra phóng năm Đạo chỉ quang vào ánh sáng ấy. Ánh sáng ấy không những chẳng sao, còn lao vào tấn công Ngọc Thiên Hương. Ngọc Thiên Hương kinh hoảng phi ngựa bay tạc sang bên né tránh. Nhưng ánh sáng vẩn bám sát tấn công Ngọc Thiên Hương. Ngọc Thiên Hương chưa hiểu đó vật gì mà kỳ bí như vậy. Thời trúng liền ba mũi tên, từ dưới đất bắn lên. Thiên Hương thét lên, Lạc Tiên Trung Đại Nhân vô cùng kinh hãi.

Đây nói về Ngụy Tôn là tay xạ tiển số một của tướng lĩnh giặc Ân. Một lúc có thể bắn ra ba bốn mũi tên cùng một lúc hạ gục ba bốn con chim đang bay trên bầu trời. Ngụy Tôn đứng ngoài theo dõi trận đấu. Thấy nữ tướng quân Nam cỡi ngựa bay ra thời kinh ngạc. Lại không mang áo giáp, bận lo chống trả với con Kiêm Thiền. Liền buông cung hạ thủ Thiên Hương, ba mũi bắn lên đều trúng đích. Trúng ngực, trúng bụng, trúng tim.

Nói về cuộc chiến mỗi lúc mỗi thêm sôi động từng cặp, từng cặp đấu với nhau long trời lở đất. Đại Lực tướng quân càng đánh càng hăng. Phi ngựa tới, phi ngựa lui múa song chùy vùn vụt thần tốc kinh người nện xuống ầm ầm, nhìn thấy mà khiếp vía. Hạ Hạo như con Chó đã bị dồn ép vào đường cùng. Thì những đòn chí tử tung ra để liều mạng với đối thủ, không cần biết đến tánh mạng của mình, ầm ầm, đùng đùng liên miên bất tận.

Chiến trường Long Hổ tranh nhau

Chùy qua chùy lại xiết bao kinh hồn

Ầm ầm trận địa dập dồn

Các bay đá chạy mịt mù dậy non

Đại Lực thi tiển tuyệt chiêu

Cuồn phong nỗi gió tuôn ra bão gầm

Hạ Hạo bị ép đường cùng

Ra đòn chống trả ầm ầm cứu nguy

Đại Lực nào có sợ chi

Chưởng gầm Chùy thét lấy đi đầu thù

Hạ Hạo bỏ mạng đi đời

Đại Lực uy dũng sáng ngời tài ba.

Bên kia Triệu Công Tiển còn gì nữa để mà sợ chết. Tung ra những đòn chí tử chém tới ào ào như thát tuông sấm nổ. Hoài Nghĩa đã lường trước, dốc hết sức bình sanh thi tiển tuyệt chiêu Vô Ảnh Ma Đao đến cảnh xuất thần nhập hóa cả Đao lẩn người biến mất, chỉ thấy một luồng Đao phong cuộn tới. Triệu Công Tiển đâu cần gì đến mạng sống liền thi tiển chiêu U Hồn Ma Đao chiêu cuối cùng. Tức thời ánh Đao chơm chớp lóa cả mắt biến thành luồn khói đen chống trả lại luồng đao phong cuộn tới ầm ầm, ầm ầm đinh tai nhứt óc hai người lảo đảo ngả quỵ miệng ọc ra máu. Có lẽ Triệu Công Tiển nặng hơn vì đã lớn tuổi.

Ánh Đao chơm chớp dậy núi non

Long tranh Hổ đấu, mất một còn

Ầm ầm trận địa, rền Đao Pháp

Sống chết kề bên, tất tất gan

Vì nước quên thân, trừ giặc ác

Kể chi sống chết, cứu lầm than

Hai bên gục ngả trào ọc máu

Cứu chủ chiêng rền trống nổ rang

Hai bên binh lính ào xông tới

Cứu chủ xông vào kiếm cung vang.

Nói về Ngọc Thiên Hương trúng liền ba mủi tên thét lớn, ai cũng nghĩ nàng rơi xuống đất mà chết. Nhưng sự việc xảy ra hết sức bất ngờ. Tiếng thét Thiên Hương không phải vì đau đớn mà vì tức giận kẻ bắn lén mình. Không những không té nhào xuống ngựa nhanh như chớp rút ba mủi tên ra bất ngờ phất tay một cái miệng thét lớn chết nầy. Ba mủi tên nhanh không thể tưởng nhắm Ngụy Tôn lao tới, bất ngờ trúng tên té nhào xuống ngựa chết tốt. Ngọc Thiên Hương rút Kiếm Tiên niệm chú ném vào vật sáng lạ sấm sét nổi lên ầm ầm hào quang tua tủa. Con Kiêm Thiền bị kiếm Tiên chém đứt làm nhiều khúc. Bảo kiếm của Ngọc Thiên Hương là báu vật của cung Vương Mẫu. Tuy Kiêm Thiền là vật Đao, kiếm, Dầu, lửa, đốt nấu, chặt chém không chết nhưng đó chỉ là kiếm thường Đao thường. Đã gặp báu vật Vương Cung thì xong đời.

Man Công nhìn thấy cảnh ấy thời kinh hoàng, kinh hoàng vì Kiếm Tiên. Kinh hoàng vì nữ Tướng mình đồng da sắt tên bắn không thủng. Cỡi con ngựa Thần biết bay. Đúng là Thiên Linh Nữ Tướng hạ trần hóa thành cơn lốc bay trốn mất. Đại Lực Tướng Quân thấy thời cơ đã đến ra lệnh tấn công. Tức thời quân Văn Lang ập tới siết chặt vòng vây tấn công như vũ bão.

Pháo lịnh đã bắn lên rồi

Nhất tề đồng loạt, nhất thời xông lên

Gươm Đao, giáo mác, cung tên

Đã vào trận chiến đất rung trời sầu

Giặc Ân tơi tả rụng đầu

Ngựa người ngả rạp còn đâu xát hồn

Khiếp thay con cháu Tiên Rồng

Cỡi mây đạp gió anh hùng tài ba

Ngựa người vùn vụt xông pha

Quân reo ngựa hí bài ca anh hùng

Giặc Ân lớp lớp đi đời

Thây phơi chật đất máu thời loáng loang

Trời Nam non nước Cha Ông

Dể gì nuốt được mà sang giựt giành

Đồng bào chung một lòng thành

Chung tay gìn giữ đất trời Văn Lang

Gái trai cũng quyết thi gan

Giữ gìn tất đất nước non biển trời

Đánh cho lũ giặc tơi bời

Thanh danh vùi dập cuộc đời vùi chôn

Ngoại xâm bè lũ ác ôn

Chạy đâu cho thoát giáo tuôn kiếm gầm

Đã là con cháu Tiên Rồng

Nối vòng tay lớn gánh gồng tiến lên

Cho đời cho Đạo bình yên

Cho non cho nước đẹp xinh sang giàu

Tự do đập lập muôn đời

Văn Lang đẹp mãi đất trời Văn Lang

Tiến quân tử chiến rền vang

Vùi chôn quân giặc nát tan xát hồn.

Với lòng căm thù quân xâm lược. Quân Văn Lang vì nước quên thân vì dân chiến đấu vì độc lập vì tự do. Tấn công quân Ân như vũ bão. Quân Ân chống trả không lại lần lượt ngả gục. 2 vạn quân bỏ mạng sa trường. Triệu Công Tiển tự vẫn. Thế là trên 12 vạn quân trong vòng một ngày đêm, biến mất ở cõi đời, bỏ vợ con nheo nhóc bên kia bờ đất Bắc.

**************

PHẦN 43

Đây nói về Ngạc Sùng Cảnh từ khi nhận lệnh Chúa Công ÂN THỌ VƯƠNG đưa quân xâm lược nước Văn Lang. Mọi sự thuận lợi liên tiếp, lần lượt thâu tóm các Châu, Quận, Huyện quá dể dàng, thu về nguồn lợi không nhỏ.  Nào là bạc vàng, châu báu, nào là ngà voi, sừng tê giác, hưu đen, chim trĩ, món ngon vật lạ, sơn hào hải vị nhiều không xuể chẳng thiếu chi. Nào là gái tơ, gia cầm, gia súc, trân châu, hổ phách xà cừ, ngọc trai, tổ yến. Ngạc Sùng Cảnh ngớ cả người lời đồn quả không sai Văn Lang giàu có. Mơ tới cảnh nuốt trọn nước Văn Lang tha hồ mà vơ mà vét. Ba cánh quân phơi phới báo tin lập nhiều chiến công hiển hách. Nào là bao vây phong tỏa thành Tây Giang Châu. Nào là tiêu diệt gần 10 vạn quân Văn Lang chiếm lấy thành Tây Dương Châu. Nào là quân Kiến Giao Châu khiếp vía. Thục Man bỏ mạng. Quân Kiến Giao Châu khiếp sợ thủ thành không giám thò đầu ra nữa. Ngạc Sùng Cảnh càng nghĩ càng khoái chí, vừa rung đùi vừa thưởng thức rượu ngon, món lạ, Gái đẹp. Nhìn những chiếc hòm rương đựng châu báu, mỗi ngày mỗi gỡi đến càng nhiều Lảo thấy sướng cả người.

Lão nhìn thấy các cô gái Văn Lang đã được các nơi đưa về. Cô nào cô nấy trắng trẻo dể thương. Lưng ong thắt đáy, ngực nở nhô cao. Vườn đào rực chín, xuân thắm dâng trào, Lão bước tới bước bước lui, nâng càm cô nầy, vuốt má cô kia nói:

   Con cháu Vua Hùng coi cũng được.

Dục vọng nổi lên như con thú điên Lão suồng sả quẹt mông cô nầy vuốt ngực cô kia. Trong số các cô bị sỉ nhục ấy, có cô bạo gan chửi vào mặt Lão xối xả như trút nước:

   Đồ loài cầm thú, đồ rát rưởi. Lũ chó hôi hám ngày đền tội các ngươi không còn xa đâu.

Lão tức giận đến tái mặt rút gươm chém một nhát, thảm thương thay đầu cô gái bay đi lông lốc. Cặp mắt của cô trừng trừng nhìn Lão.

Lão rùng mình ớn lạnh nói:

   Quân đâu mau vứt cái đầu cùng cái xác xuống sông.

Lão nhìn những cô gái còn lại, không còn hứng thú nữa. Liền ra lệnh cho quân lính vùi dập mua vui. Những cô gái quê gào thét vùng vẫy dữ dội kêu trời khóc đất nhưng nào lũ sói cứ tha hồ vùi dập có tha, hồn linh các cô uất nghẹn bay lên không trung gào thét thê thảm, làm kinh động đến Thần Linh.

Cao Sơn Thần Núi nói với Giang Công Thần Sông:

   Lũ giặc Ân vô Đạo tàn hại những người dân vô tội nhất là phụ nữ và trẻ em. Hoang dâm, háo sát, tàn hại con dân Vua Hùng, con cháu Tiên Rồng thời đại họa ập tới không còn xa, e rằng không còn thân xác để mà trở về nói chi đến việc chiếm nước Văn Lang, Thất Linh Thiên Kiếm uy chấn Vũ Trụ.

Nói về Ngạc Sùng Cảnh ngày đêm tức giận bị một con gái quê, chẳng sợ uy phong của Lão, mắng chửi xối xả, hạ nhục lão, coi lão chỉ là con chó ghẻ, càng nghĩ lão càng sôi gan hậm hực vì thế mà lão mấy đêm liền không ngủ được liền đi dạo quanh trại.

Lão nghe có tiếng nói qua nói lại, Lão chú tâm nghe thử chuyện gì: Tướng quân hãy đợi đến sáng hãy gặp thống soái, người ấy nói cũng được, rồi tất cả chìm trong im lặng. Ánh bình minh ló dạng nhưng hơi lạnh vẫn chưa tan nhưng nơi doanh trại giặc Ân đã nhốm màu rộn riệp. Một bóng người xuất hiện trước lều trại của thống soái Ngạc Sùng Cảnh. Người đó là ai thế, chính là tên tướng lĩnh thám báo từ thành Tây Dương Châu đem mật thơ đến. Lần nầy tên gác cửa không cản lại nữa mà mời vào.

Ngạc Sùng Cảnh thấy tên thám báo mặc đồ quân Văn Lang thời kinh ngạc:

   Ngươi gặp ta có chuyện gì?

Tên tướng thám báo liền lấy trong mình ra bức mật thư do Chu Công Minh gởi dâng lên Ngạc Sùng Cảnh. Ngạc Sùng Cảnh xem xong liền bảo tên thám báo lui ra chờ đợi. Cho đến cuối giờ mùi đầu giờ thân thời gọi đến trao cho bức mật thư trở về thành Tây Dương Châu trao cho Chu Công Minh. Tên thám báo vừa đi ra Lão lẩm bẩm: Chúng kéo đến càng đông càng tốt chớ sao ta khỏi phải mất công tìm chúng. Qua ba ngày sau từ nơi doanh trại 5 vạn quân âm thầm lặng lẽ nhắm hướng thành Tây Dương Châu tiến tới không có gì là vội vả. Sau mấy ngày đoàn quân lặng lẽ ra đi lão linh cảm như có điều chi bất ổn.

Lão hỏi:

   Mấy ngày nay có ai báo cáo gì không?

Bẩm chủ soái dạ không, Lão nghỉ có chuyện gì đã xảy ra, đội quân thám báo sao không thấy tên nào trở lại. Bổng có quân vào báo:

   Bẩm Thống Soái có Chung Tu tướng quân cần gặp, cho vào, tuân lệnh.

Chung Tu người nước Cảo tuy thoát chết tại thung lũng Lau Sậy nhưng bị thương khá nặng, ráng giục ngựa chạy theo Ngạc Sùng Văn phó thống soái, không may lọt xuống hố sâu cả người lẩn ngựa, may nhờ mang theo thuốc trị thương sau sáu bảy ngày chữa trị tạm ổn, ráng trèo leo ra khỏi hố sâu về báo cáo lại tình hình.

Chung Tu thưa:

   Bẩm Thống Soái, quân tiếp viện vận chuyển hàng trăm hàng nghìn thùng dầu do phó thống soái chỉ huy đã bị thất bại tại thung lũng Lau Sậy, rừng Hổ Mang rồi. Phó thống soái tuy thoát khỏi nhưng lại rơi vào ổ mai phục kích khác, tử trận tại con đường độc Đạo nằm trong dãy Hùng Phong Sơn rồi. Cái chết vô cùng thê thảm.

Cái gì Ngạc Sùng Cảnh đang ngồi trên ghế té ngồi xuống đất:

   Tướng quân nói gì?

Chung Tu thưa:

   Bẩm thống soái, phó thống soái đã bị quân Nam phanh thây rồi.

Ngạc Sùng Cảnh thét lớn thổ ra búm máu té ngửa ngồi dậy hết nổi. Lại có quân vào báo:

   Có Hồ Lão Yêu cần gặp.

Sao Lão Yêu lại đến báo cáo trễ như vậy vì Lão Yêu bị Ngọc Thiên Hương chém một nhát bị thương khá nặng, hóa ngọn gió bay đến một nơi yên tịnh trị vết thương. Lão căm hận quân Văn Lang đến thấu xương, thấy vết thương đã khỏi Lão Yêu, Ma Hồ Yêu liền bay đến đây báo cáo lại tình hình, tìm thủ đoạn âm mưu khác bắt cho được Ngọc Thiên Hương cùng Lạc Tiên.

Nghe Hồ Ma Yêu cần gặp, Ngạc Sùng Cảnh thều thào nói:

   Cho Lão vào.

Thấy Hồ Ma Yêu vào Ngạc Sùng Cảnh ráng gượng ngồi dậy. Hồ Ma Yêu nói:

   Bẩm chủ Thống Soái, hơn 12 vạn quân tướng sĩ sang bên kia thế giới chầu âm phủ cả rồi.

Cái gì Ngạc Sùng Cảnh thét lớn:

   Lão tướng quân nói sao?

Hồ Ma Yêu thưa:

   Bẩm Thống Soái, Triệu Tử Quân cùng tất cả tướng sĩ đã tử nạn, chỉ còn lại một mình thuộc hạ vì chữa trị vết thương nên đến báo cáo trễ.

Dồn dập nghe tin dữ Ngạc Sùng Cảnh như tê liệt cả thân người, không còn đứng dậy nỗi nữa. Nhưng Ngạc Sùng Cảnh vẫn còn hi vọng hai cánh quân Chu Công Minh và Triệu Công Tiển, lão nào có hay cánh quân Triệu Công Tiển cũng đã đi đời. Chu Công minh thua liển xiển chỉ còn trông chờ vào quân tiếp viện đến giải vây. Lúc nầy nếu có người đến báo như thế, có lẽ Lão cũng bỏ trần thế đi theo binh lính của Lão xuống âm phủ mà rầu mà rỉ, nhưng nhờ khuyên giải của các tướng Ngạc Sùng Cảnh lấy lại bình tỉnh chờ tin tốt lành từ Kiến Giao Châu, Tây Dương Châu.

Nói về Diệp Lang sau khi phân bố lực lượng xong liền phi ngựa đến Tây Dương Châu. Thần Mã bay đến doanh trại quân Văn Lang gặp Thục Chăm, Thục Mân, Thục Cương cùng các vị tướng khác, cuộc họp vô cùng khẩn cấp.

Diệp Lang nói:

   Đêm nay quân ta sẽ tấn công vào doanh trại của Chu Công Minh, nếu thành công ngày mốt Tây Thục Vương sẽ đến đây bàn chuyện tấn công thành Tây Dương Châu. Có một nhiệm vụ quan trọng là vợ chồng Thục Cương cho quân phục kích nơi đường bí mật bắt Chu Công Minh.

Dặn dò đâu vào đó xong liền đưa một phong thư giao cho Thục Chăm:

   Khi nào Tây Thục Vương đến thì dở ra cùng xem bàn tính kế sách công phá thành. Tuân lệnh.

Sắp xếp quân cơ đâu vào đó liền phi ngựa lên không biến mất trên nền trời xanh thẳm.

Đây nói về Thục Chăm theo lệnh Diệp Lang tới thành Dương Giao Châu khiêu khích giặc, cố tình làm cho giặc tức giận không chịu nỗi ra quân mà tiêu diệt bớt lực lượng của chúng Thục Chăm thắng liền mấy trận, tiêu diệt mất tướng đi đời hơn vạn quân làm cho Chu Công Minh khiếp sợ, rút hết quân vào thành cố thủ chờ quân tiếp viện đến giải vây, việc tấn công thành là việc hệ trọng nếu chiếm được thành cũng phải trả cái giá quá đắc, chỉ còn biết đợi cha cùng Đại Lực tướng quân đến.

Và đúng như lời Diệp Lang nói qua ngày mốt đến giờ thìn thời Tây Thục Vương cùng Đại Lực tướng quân tới. Thục Chăm mời Cha và Đại Lực tướng quân vào lều trại. Thục Chăm báo cáo lại tình hình ở đây, ước lượng quân Ân ở trong thành còn hơn 8 vạn quân.

Thục Chăm hỏi:

   Đại quân còn có đến không?

Tây Thục Vương nói:

   Bốn vạn quân đang trên đường đi sẽ tới sau.

Tây Thục Vương hỏi:

   Hiện thời ở đây ta có mấy vạn quân.

Thưa cha:

   Hơn 7 vạn.

Tây Thục Vương nói:

   Như vậy ta có 20 vạn quân con số không nhỏ nhưng tấn công thành chưa chắc nắm phần thắng. Phải có kế sách nào đó mới thực hiện được.

Thục Chăm liền dở mật thư ra cho tất cả quan tướng cùng xem, xem xong ai nấy cũng đều mừng rở. Thục Chăm nói:

   Chu Công Minh, Hồ Thế Gia là những tay cáo già, tuy giải pháp của chúng là ngoài đánh vô, trong thành đánh ra kẹp quân ta vào giữa để tiêu diệt, chúng chỉ cần 5 vạn quân ở ngoài đánh vô làm cho quân ta lâm vào tình thế rối loạn, chỉ cần 3 vạn quân trong thành đánh ra thì ta cũng đã lâm vào thế chết, 5 vạn quân chúng giăng bẫy thủ thành, nếu quân ta liều lĩnh xông vào cướp thành chúng sẽ ra tay làm thịt, còn chúng ta không liều lĩnh xông vào cướp thành thì chúng cũng chẳng sao. Chúng chỉ nghĩ ta hơn 7 vạn quân, đây là điều không ngờ của chúng, dựa trên cơ bản thực tế chúng hiểu về ta, để ta có kế sách tạo bất ngờ đối với chúng và đêm nay vào lúc cuối canh ba đầu canh tư tấn công.

Sự thảo luận kéo dài suốt mấy tiến đồng hồ, có nghĩa là đến đầu giờ mùi mới kết thúc, quyền chỉ huy được trao cho Tây Thục Vương, Tây Thục Vương ra lệnh:

   Thục Chăm nghe lệnh. có thuộc hạ, đầu giờ Sửu tối nay tướng quân cho tạo ra trận chiến giả, bắt đầu từ xa rồi từ từ đến gần phải làm sao cho quân reo ngựa hí, gươm Đao giáo mác chiêng trống dậy trời, sau đó thời bắn pháo lệnh mật hiệu xanh, bắt đầu từ 1 quả rồi đến 3 quả cuối cùng là 5 quả, chiến đấu giả độ gần nữa canh giờ thời bắn pháo hiệu gần hơn cũng theo mật hiệu 1 – 3 – 5 trận chiến giả càng thêm quyết liệt. Pháo hiệu lần hai quân Ân từ trong thành túa ra chúng sẽ đánh bọc úp sau lưng chúng ta kẹp quân ta vào giữa để tiêu diệt, do đó chúng ta cho 1 vạn quân phục kích, 2 vạn quân chiến đấu vừa rút lui, giống như chúng ta đang bị dồn ép, chúng tưởng chúng ta đang rơi vào gọng kiềm của chúng. Khi nào có hiệu lệnh mật pháo bắn lên thì chúng ta phản công trở lại, kết hợp với quân phục kích tiêu diệt chúng. Tuân lệnh. Lại nữa còn 4 vạn quân ngoài trận chiến giả ra còn một nhiệm vụ khác, dựa trên chiến lợi phẩm thu được của giặc như móc neo, thang dây nói chung là những dụng cụ công thành mà giặc đã tốn nhiều công sức để tạo ra, khi pháo hiệu lần 3, pháo 5 đã bắn lên thời tấn công vào thành. Thành Tây Dương Châu tường thành đã thấp lại thiếu đi sự kiêm cố, đó là điều thuận lợi cho chúng ta vượt qua tường thành tấn công chúng. Tuân lệnh.

   Đại Lực tướng quân nghe lệnh. có thuộc hạ, khi thấy pháo lịnh lần thứ 3 pháo 5 đã bắn lên, thời kéo quân chận đứng đường rút lui, khi chúng phát hiện ra đã lọt vào quỷ kế cũng như ổ mai phục của chúng ta, đánh bọc từ sau lưng chúng đánh bọc tới, kẹp chúng vào giữa tiêu diệt. Tuân lệnh.

   Còn ta từ hướng Đông đánh bọc lên, một nữa leo tường tấn công vào thành, một nữa ùa vào cổng chính tiêu diệt chúng khi pháo hiệu lần 3 pháo 5 đã bắn.

Sau cuộc họp người nào người nấy vẻ mặt đầy sự quyết tâm, bừng bừng sát khí đến rợn người, Thục Chăm không quên lời dạy của Diệp Lang sắp xếp vợ chồng Thục Cương cùng một số cao thủ phục kích nơi cửa mật Đạo tiêu diệt Chu Công Minh lúc chạy trốn.

Trên thành Tây Dương Châu, Chu Công Minh, Hồ Thế Gia nhìn thấy cảnh quân Văn Lang có vẻ mệt mỏi, không còn hung hăn như lúc ban đầu. Thời gật gật cái đầu nói:

   Chúng đã bao vây thành hơn 10 ngày rồi còn gì, phần thì thiếu thốn, phần thì dầm nắng, dầm sương, dầm mưa có lẽ chúng đã mệt mỏi lúc nầy mà ta tấn công thời hiệu quả vô cùng.

Chu Công Minh lấy mật thư của Ngạc Sùng Cảnh gởi cho nói:

   Nay là ngày thứ 7 rồi còn gì.

Chu Công Minh tức tốc đi vào cuộc họp phân bổ lực lượng chuẩn bị cho trận chiến đấu một còn một mất sắp xảy ra trong đêm nay. Chu Công Minh phân bổ lực lượng như sau:

Khi trận chiến nổ ra từ xa chúng ta vẩn án binh bất động, khi pháo lịnh màu xanh hồi một bắn lên, một rồi đến pháo 3 rồi đến pháo 5 chúng ta vẩn án binh bất động.

Các quan tướng nghỉ sao lạ thế. Chỉ riêng Hồ Thế Gia nghĩ: Phải đến hồi pháo thứ 2 bắn lên cũng 1 – 3 – 5 thời niềm tin mới được cũng cố và đúng như vậy.

Chu Công Minh nói:

   Phải đến hồi pháo thứ 2 pháo 5 bắn lên thì chúng ta mới xuất quân.

   Hồ Thế Gia nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân thống lảnh 3 vạn quân mở cửa thành xông ra bọc sau lưng chúng đánh tới, khi cần viện trợ thời bắn pháo lệnh vàng lên. Tuân lệnh.

   Lâm Phát Nhất nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân chuẩn bị 1 vạn quân chờ sẳn khi có pháo lệnh thời ùa ra tiếp ứng. Tuân lệnh.

   Còn 4 vạn quân chia nhau trấn giữ thành đề phòng quân đột nhập gây rối chiếm lấy thành chúng ta.

Các tướng lĩnh được lệnh trấn giữ thành nghĩ: Đúng là chủ soái quá lo xa, quân Văn Lang chỉ có hơn 7 vạn còn không dám tấn công vào thành, huống chi đã bị quân ta trong đánh ra ngoài đánh vô mạng sống giữ còn không được nói chi đến việc tấn công, nên các tướng lĩnh thủ thành chỉ làm cho qua loa. Nhiều vị nghĩ thành Tây Dương sẽ được giải tỏa, có vị cảm khoái ăn uống no say nghĩ tiếc đêm nay không được ra trận.

Chu Công Minh nhìn về hướng Bắc Tây Bắc xa xa, viễn tưởng một đội quân hùng mạnh đang kéo đến mỗi lúc một gần, như đàn hổ xông vào đàn dê mà nhai mà nuốt. Chu Công Minh nở nụ cười khoai khoái: Không bao lâu nữa nước Văn Lang là của chúng ta.

Hồ Thế Gia thấy nụ cười cùng sắc mặt của Chủ Soái Chu Công Minh thì cũng hiểu được phần nào, thở dài nghĩ: Có lẽ ÂN THỌ VƯƠNG Chúa Công đánh giá thấp về thực lực nước Văn Lang. Cứ nghĩ nước Văn Lang không chiến tranh, Độc Lập gần hai nghìn năm, Đao Kiếm đã lục, ý chí đã mòn, lòng người nhúc nhát sợ chết, sợ gian khổ, sợ chiến tranh. Nào hay nền Quốc Đạo Tiên Rồng quá lợi hại, là cổ máy sinh sản anh hùng dân tộc, Kiếm huệ sắc bắn vô cùng, truyền thống yêu nước trở thành truyền thống kim cang bất hoại, vì nước quên thân, vì dân phục vụ, thấy quân thù như thấy con mồi béo bở tranh nhau mà tiêu diệt, coi cái chết như cuộc đổi đời, từ phàm lên Thánh, bỏ trần gian lên thiên đàng Cực Lạc, đối mặt với quân Văn Lang có nghĩa là đối mặt với cái chết. Hồ Thế Gia càng nghĩ càng thêm ngán ngẩm, thôn tính nước Văn Lang chỉ là ảo mộng viễn tưởng xa vời và đêm nay cũng thế quân Văn Lang không phải quân ếch nhái mà là quân Rồng Tiên quân nhà Trời.

*************

PHẦN 44

Nói về Diệp Lang cỡi Thần Mã bay lên nền trời xanh thẳm nhìn xuống quân Ân còn 7 – 8 dặm nữa là tới rừng Hà Lâm liền hạ ngựa bay xuống đất. Cái Thế Thần Quân cùng các tướng ra đón Diệp Lang vào doanh trại căn lều dành riêng cho Đức Tôn Vương vì thời gian quá gấp Diệp Lang liền điều binh khiển tướng phân bổ lực lượng như sau:

   Cái Thế Thần Quân, Đinh Hoàng tướng quân, Nê Diêng tướng quân thống lãnh 2 vạn quân phục kích ở đây chờ cho quân giặc khúc đầu khúc giữa đi qua liền tấn công vào khúc đuôi đánh bọc tới. Tuân lệnh.

   Tùng Quang tướng quân, Hoàng Độ tướng quân, Khơ Nia tướng quân nghe lệnh. Có thuộc hạ, 3 tướng quân tức tốc điểm 2 vạn binh mã di chuyển theo hướng đi của giặc về hướng Đông Đông Nam cách đây 6 – 7 dặm phục kích ở đó, khi thấy pháo lệnh tử chiến ở cánh quân phục kích ở đây bắn lên, thì tức tốc xua quân ra đánh phủ đầu. Tuân lệnh.

Đây nói về Hung Nô Sát Nhân thừa lệnh làm theo chỉ thị của Ngạc Sùng Cảnh thống lãnh 5 vạn quân đến Tây Dương Châu phối hợp với Chu Công Minh phá vỡ vòng vây của quân Văn Lang, theo kế mật hiệu liên kế đã được thông báo cho nhau trước, ngoài đánh vào trong đánh ra làm cho quân Văn Lang trở tay chẳng kịp rối loạn đi vào chỗ chết.

Hung Nô Sát Nhân cho quân đi rất chậm bảo tồn sức lực, tính toán đến Tây Dương Châu vào khoảng nữa đêm, bất ngờ tấn công vào quân Văn Lang từ hướng Tây Bắc đánh rọc xuống Đông Nam, còn quân trong thành túa ra từ hướng Đông Nam đánh rọc theo hướng Bắc Tây Bắc kẹp quân Văn Lang vào giữa để tiêu diệt. Khi quân còn cách rừng Hà Lâm ba bốn dặm, thì có quân đến dọ thám, quân dọ thám tiến sâu vào rừng Hà Lâm không phát hiện được gì, trở lại báo cáo rằng;

   Bẩm tướng quân rừng Hà Lâm không có quân phục kích.

Thế là đoàn quân lại tiếp tục lên đường vượt qua rừng Hà Lâm một cách an toàn và từ đây đến Tây Dương Châu đường bình ít rừng núi chẳng qua một vài gò đồi mà thôi, không còn chỗ nào hiểm địa nguy hiểm nữa, cũng vì nắm rõ lộ trình như vậy nên tướng Hung Nô giảm đi sự đề phòng cảnh giác cao.

Khi quân Hung Nô đã bỏ xa rừng Hà Lâm hơn 10 dặm, bổng nghe thấy pháo lệnh đỏ bắn lên, tức thời 2 vạn quân Văn Lang từ xốm làng túa ra đánh thẳng vào khúc đuôi quân Hung Nô, tướng chỉ huy quân Hung Nô là Lạc A Nhỉ điều khiển binh lính chống trả quyết liệt dậy trời dậy đất.

Kìa non nước đã vang lên trận chiến

Tiếng reo hò ngựa hí, dậy núi non

Rền gươm giáo, ba quân ào xông tới

Diệt quân thù hùng khí dậy nước Nam.

Nói về Lạc A Nhỉ, thấy quân Nam mạnh như vũ bão, xông vào chém giết quân Ân như nước vỡ bờ, hạ gục quân Ân như hạ chuối, liền ra lệnh cho Thiết Mộc Tăng xông ra ngăn cảng chống trả. Lạc A Nhỉ lại nhìn thấy một nữ tướng như con chim Điểu xông vào đàn gà mà nuốt mà xơi liền ra lệnh cho Hốt Ma xông ra chặn đánh.

Quân Văn Lang dũng mãnh như đàng Sư Tử xông vào đàn dê mà nhai mà nuốt mà xơi. Khúc đuôi bị tấn công ngặt thở. Lạc A Nhỉ tức điên cả người, phi ngựa xông vào quân Văn Lang mà chém mà giết.

Bổng một tiếng quát như sấm nổ:

   Hổn láo xem đây.

Tức thời thanh Đại Đao như chong chóng tuôn xối xả xuống đầu Lạc A Nhỉ. Lạc A Nhỉ hồi Đao chống trả ầm ầm, ầm ầm gặp đối thủ có sức mạnh võ nghệ cao hơn hẳn Lạc A Nhỉ ê cả tay kinh hãi. Cái Thế Thần Quân nào để cho tướng giặc có cơ hội hồi Đao chống trả. Liên tiếp tấn công, cuồng phong nổi dậy ù ù, Đao phong chơm chớp dáng xuống đầu Lạc A Nhỉ ầm ầm, Lạc A Nhỉ liều mạng chống trả rắt rắt, đùng đùng, ầm ầm. Lạc A Nhỉ muốn ngã nhào xuống ngựa, ọc ra máu mồm máu họng.

Nói về Thiết Mộc Tăng, được lệnh của Lạc A Nhỉ phi ngựa ra chặn đầu tướng địch. Đinh Hoàng tướng quân cùng quân Văn Lang hăng say xông lên tiêu diệt quân thù, bổng thấy tướng giặc xuất hiện chận đánh, tức thời hùng khí nỗi lên, Đinh Hoàng tướng quân múa thương vù vù như cuồng phong vũ bão tấn công tướng giặc, tướng giặc ra sức chống trả nhưng không lại bị Đinh Hoàng tướng quân đánh cho bở vía hụt hơi.

Thơ rằng:

Đinh Hoàng lợi hại biết bao

Tây đâm Đông chém ào khiếp thay

Thiên la Địa võng thương vây

Bốn phương tám hướng Đông Tây mịt mù

Mộc Trăng khiếp vía kinh hồn

Trúng liền mấy kích ngã nhào còn chi

Hồn đã xuống cõi âm ti

Vẫn còn khiếp vía u y kinh hồn.

Nói về Nê Diêng Nữ Tướng xua quân tấn công như thác đổ vào quân Ân đang hăng máu đánh quân thù như mèo xơi chuột, bổng thấy có tướng giặc xông ra ngăn cản, liền nỗi cơn thịnh nộ, hét lớn xem đây.

Tức thời người ngựa xông lên

Thanh Đao vùn vụt gọi tên kẻ thù

Lũ ngươi đã tới số rồi

Về chầu âm phủ hết đời xâm lăng

Nê Diêng đao pháp chớp giăng

Đùng đùng chém xuống đứt phăng đầu thù

Hốt Ma bỏ mạng sa trường

Khiếp hồn khiếp vía về chầu âm ti

Bên kia nào có khác chi

Thần Quân uy dũng lấy đi đầu thù

Quân Nam xông tới mịt mù

Lạc Ma bỏ mạng ôi rồi Lạc Ma

Quân Nam ào tới xông pha

Kiếm cung xối xả giặc sa đường cùng

Quân Ân ngã rạp đi đời

Chiến trường van dội thét gào xung phong.

Đây nói về Tùng Quan tướng quân, Hoàng Độ tướng quân, Khơ Nia tướng quân thấy pháo lệnh tử chiến đã bắn lên, tức thời đồng loạt 2 vạn quân ào ra tấn công đánh phủ đầu, khúc đầu của quân Hung Nô.

Thơ rằng:

Gió trung nổi dậy Nam Thiên

Gió  thù gió hận trút lên đầu thù

Tên lao cuồn cuộn mịt mù

Quân reo ngựa hí xông vào tiến xông

Giáo gươm dậy núi dậy non

Ầm ầm quét sạch giặc Ân phen nầy

Long gầm Hổ thét Đao bay

Quân Ân ngã rạp còn chi là còn.

Nói về Hung Nô Sát Nhân biết mình đã lọt vào ổ phục kích của địch nhưng ỷ mình có pháp thuật cao cường, bình tỉnh chỉ huy chống trả quyết liệt, nhưng quân Nam mạnh quá như đàng mãnh hổ xông vào đàn dê, chém giặc Ân như chém chuối. Tướng Hung Nô Sát Nhân tức giận đùng đùng chỉ tay một cái. Hô biến.

Tức thời trời đất âm u

Yêu Tinh xuất hiện ôi thôi khắp cùng

Xông vào chém giết giặc Nam

Tùng Quang khiếp vía hoang mang sững sờ

Hoàng Độ tay chân rụng rời

Khơ Nia hốt hoảng ngựa người tối tăm

Quân Ân thừa thắng xông lên

Quân Nam chống trả nhưng không được gì

Chí nguy khủng hoảng chí nguy

Diệp Lang gắn sức ngựa phi ào ào

Quân Ân quỹ thét yêu gào

Diệp Lang đành phải sa vào hiểm hung

Hung Nô cuồng ngạo thét vang

Phen nầy cho biết hết mong còn đời

Miệng liền phun lửa đỏ trời

Đốt cho tan xác hết đời quân Nam

Diệp Lang ngửa cổ kêu than

Tức thời nhớ đến Kiếm Thiên bên người

Báu vật trấn quốc vạn đời

Địa Quang Thiên Kiếm tức thời cứu nguy

Diệp Lang rút Kiếm chỉ lên

Sấm rền quang chiếu khí tuôn ầm ầm

Âm u tan biến chẳng còn

Yêu Tinh sắt đánh tan tành khói mây

Ầm ầm trời đất chuyển rung

Ào ào Kiếm khí tuốn tuôn mịt mù

Quân Ân sét đánh tơi bời

Ngựa người ngã gục thây thời tan thây

Hung Nô tức giận lắm thay

Dốc bầu nước phép biến ra biển cùng

Quân Nam khiếp hãi lạ lùng

Đất bằng biến mất chỉ còn biển thôi

Sấu Kình lao đến nuốt xơi

Kinh hồn bạc vía ôi thôi kinh hồn

Diệp Lang than thở kêu trời

Cha Trời Địa Mẫu cứu thời ba quân

Cao Sơn thần núi hiện ra

Tâu rằng Linh Kiếm diệt ma trảm thù

Vương Tôn ý niệm nghĩ gì

Kiếm Linh chuyển hóa có chi chẳng thành

Diệp Lang ý niệm nghĩ rằng

Biển kia biến mất núi thời hiện ra

Ầm ầm sấm chớp mưa sa

Sấu, Kình, biển cả, yêu ma chẳng còn

Núi non trùng điệp núi non

Hổ vay Voi xé nát tan quân thù

Hung Nô khiếp đảm kinh hoàng

Hóa ra ngọn gió tàn hình trốn đi

Diệp Lang nhanh trí lanh tay

Chỉ vào ngọn gió lấy đi đầu thù

Kiếm phong bủa khắp ù ù

Hung Nô đành phải rụng đầu chết tươi

Quân Ân thân xác khắp nơi

Tan thây nát thịt ôi thôi còn gì

Diệp Lang thâu Kiếm vào bì

Núi non biến mất cảnh thì như xưa

Giặc Ân vùi xác đó đây

Cuộc đời xâm lược khói mây cuộc đời

Địa Quang Thiên Kiếm Đạo Trời

Chuyển xây tình thế tuyệt vời chuyển xây.

Đây nói về Chu Công Minh ra quân thua liền mấy trận càng nghĩ càng khiếp sợ, không dám xem thường quân Văn Lang nữa vì thế cuộc đọ sức sinh tử lần nầy Chu Công Minh tính toán hết sức chu đáo, phân bổ lực lượng hợp tình hợp lý, biết rằng chủ động tấn công thuộc về mình.

Chu Công Minh nhìn những chiếc hồm rương đựng đầy châu báu nghĩ rằng: Đêm nay sẽ là đêm quyết định, một là sẽ vĩnh viễn thuộc về mình, hai là sẽ thuộc về người khác, khi ta ngã xuống hoặc thua trong trận chiến nầy. Chu Công Minh bổng nhiên thấm thía câu nói của người xưa: Của cải vật chất, tài nguyên Vũ Trụ không thuộc của người nào. Trời tạo ra Trời cai quản, Trời ban cho ai thì người ấy hưởng, giành giật cho lắm Trời không cho thời cũng trắng tay, tuy ta không tin lắm nhưng trước mắt khó mà sai được. Mới ngày nào là của cha con Hữu Tài, rồi thành của ta, cuộc chiến đêm nay số châu báu nầy tiếp tục là của ta hay là của người khác chưa thể nói trước được nhưng ta tin là của ta vỉnh viển. Đã giành lấy được không dễ gì để cho người ta trừ khi ta chết, đã đưa quân xâm lược gây ra nhiều tội ác thì khó có kết quả lành từ phía địch, đã cỡi cọp thời khó mà leo xuống được nữa, nổ lực chiến đấu bảo vệ thành quả chiến đấu, còn tới đâu hay tới đó.

Mặt trời chưa tắt hẳn mà quân Ân gươm giáo chỉnh tề tất cả sẳn sàng cho tư thế tấn công, tiêu diệt quân Văn Lang. Màn đêm buông xuống bầu trời đen thẳm, những vì sao lấp lánh tận chốn trời xa thành những chuổi nhân duyên nối liền vô tận, trời trở gió mây đen kéo đến, hơi lạnh bắt đầu len lõi xuất hiện những hạt mưa lấm tấm rải rác Tây Dương Châu.

Quân Ân chợt rùng mình ớn lạnh cảm tưởng như không còn sống đến ngày mai liền nhớ đến vợ con, cha già, mẹ yếu, cánh đồng, bến nước, xốm làng quê hương, tiếng côn trùng rỉ rả như tiếng đờn ma, một thoáng cô đơn lũ giặc cảm thấy nhớ nhà. Giữa đêm khuya trời bắt đầu nặng hạt, đất Dương Châu chìm trong mưa gió, che khuất tầm nhìn những con mảnh hổ ăn đêm, giờ sửu đã qua giờ dần đã đến, mưa đã tạnh trong màn đêm yên tỉnh. Bổng pháo lệnh giặc đã bắn lên, kìa pháo 1 tỏa rực bầu trời cách thành Tây Dương Châu hơn hai dặm về hướng Tây Bắc, tức thời quân reo ngựa hí, chiêng trống dậy trời, Kiếm Đao chan chát rền núi dậy non, kìa pháo lệnh 3 đã bắn lên chiến trường gào thét rung rinh đất trời, kìa pháo 5 đã bắn lên rồi, ầm ầm trận chiến đứng ngồi sao yên.

Lâm Phát Nhất nói:

   Pháo lịnh 1 – 3 – 5 đã bắn lên rồi thưa Chủ Soái.

Chu Công Minh nói:

   Chờ tí nữa.

Kìa pháo lệnh 1 lần 2 đã bắn. Lâm Phát Nhất lại nói:

   Bẩm Chủ Soái pháo lịnh lần 2 đã bắn.

Cũng cái câu chờ tí nữa, kìa pháo lệnh mật 3 đã bắn, thấy Chu Công Minh, Hồ Thế Gia chưa động chuyển, nóng lòng nói:

   Pháo lệnh đã bắn.

Chu Công Minh nói:

   Biết rồi nôn nóng cái gì trước sau gì không đánh.

Lúc ấy có tên thám báo nói:

   Bẩm Chủ Soái quân Nam dồn hết về hướng Tây Bắc, có lẽ đang chống trả lại quân ta.

Đến lúc nầy Chu Công Minh mới ra lệnh chuẩn bị tinh thần chiến đấu, kìa pháo mật lệnh lần 2, pháo 5 đã bắn sáng trời. Chu Công Minh ra lệnh tấn công. Hồ Thế Gia ra lệnh mở cổng thành, tức thời 3 vạn quân ào ào xông ra như nước lũ tiến về hướng Tây Bắc tấn công sau lưng địch tấn công tới.

Đây nói về Thục Chăm thấy quân Ân trong thành kéo ra như nước lũ, di chuyển thần tốc tấn công từ phía sau quân Văn Lang, từ Đông Nam đánh bọc lên hướng Bắc Tây Bắc, quân Văn Lang giả đò khiếp hoảng la chí ché. Hồ Thế Gia thúc quân dồn ép quân Văn Lang dồn về hướng Bắc Tây Bắc. Hồ Thế Gia vô cùng kinh ngạc thấy quân Văn Lang tuy bị dồn ép về hướng Bắc Tây Bắc nhưng không hề rối loạn, trong lòng đã sanh nghi tuy rằng phía trước trận chiến đang xảy ra dữ dội.

Mật hiệu pháo ba lần ba đã bắn lên, quân Văn Lang đang ở thế yếu, bổng hóa thành đàn sư tử dũng mãnh kinh người, phản công tấn công dữ dội, trận chiến vô cùng khốc liệt dậy trời dậy đất.

Đây nói về Văn Quang tướng quân, thống lãnh 1 vạn quân phục kích, thấy quân Ân đã lọt vào ổ mai phục thời ra lệnh tấn công, tức thời gươm Đao giáo mác tên lao xối xả tuôn ra, nhắm quân thù mà đâm mà bắn mà chém, quân Ân bất ngờ chỗ nào cũng thấy quân Văn Lang tấn công, hốt hoảng rối loạn đội hình. Hồ Thế Gia kinh hãi biết mình đã trúng kế của địch, sa vào trận thế tiến không được lui không được, miệng hô bắn bắn ý nói đội quân thiết giáp thiện xạ tấn công giải vây rút lui vào thành, không ngờ đội mật pháo hiểu lầm bắn pháo lệnh cứu viện, tức thời pháo vàng viện binh bắn lên vàng trời, Hồ Thế Gia lại càng khiếp hoảng thét lớn hỏng rồi hỏng rồi, trúng kế địch nữa rồi, quân Văn Lang sẽ tấn công vào thành.

Lâm Phát Nhất là người nóng nảy, thấy pháo vàng cứu viện, viện binh đã bắn lên, thì tức tốc cho mở rộng thêm cửa thành, binh lính kéo ra cho mau.

Đây nói về Đại Lực tướng quân, thống lãnh 4 vạn quân có nhiệm vụ khai pháo cuối cùng, cũng là pháo lệnh tấn công toàn cục diện chiến trường, còn một nhiệm vụ nữa là đánh bọc sau lưng giặc đánh tới dồn ép giặc vào ổ phục kích, chặn đứng đường rút lui, quân Đại Lực là đội quân rất mạnh có cả đội quân thiết giáp, xông ra cắt đứt khúc đuôi đội quân của Lâm Phát Nhất chưa ra khỏi thành, khúc giữa, khúc đầu của đội quân Lâm Phát Nhất bị đội quân của Trung Đại Nhân, Trung Hoài Nghĩa, Ngọc Thiên Hương, Lạc Tiên đánh phủ đầu.

Đây nói về Tây Thục Vương, thống lãnh 9 vạn quân trong màn đêm u tối tiến sát tới thành Tây Dương Châu một cách thuận lợi nhờ trời mưa làm tăng thêm sự bí mật của quân binh. Chín vạn quân được chia làm hai mũi tấn công, mũi một tấn công vượt tường thành hướng Đông, hướng Nam xông vào tiêu diệt quân thù, một mũi tấn công bất ngờ vào cổng, có đột quân thiết giáp yểm trợ. Đội quân tấn công vượt tường thành hướng Đông Nam do Thục Liêu, Thục Châu trực tiếp chỉ huy, đội quân tấn công bất ngờ vào cổng chính do Tây Thục Vương, Thục Lao chỉ huy.

Nói về Thục Lao bí mật tới sát cổng thành theo dõi chuyển động của quân Ân. Thục Lao hồi hộp từng giờ từng phút chăm chú nhìn về cổng thành Tây Dương Châu, không hiểu kế sách của ta có chỗ nào sơ hở bại lộ không hoặc tính toán có sai nhầm không nghĩ thì nghĩ vậy nhưng Thục Lao tin tưởng ở tài trí của Đích Tôn Diệp Lang cũng như tài trí của cha mình.

Tiếng pháo khai chiến đã bắn lên ở hướng Bắc Tây Bắc pháo 1 rồi đến pháo 3 kế đến là pháo 5 mà cổng thành vẫn đóng kín, quân Ân vẫn bất động. Đợt pháo lần 2 đã bắn lên, pháo 1 rồi đến pháo 3 kế đến là pháo 5 cổng thành vẫn đóng kín, quân Ân vẫn bất động. Thục Lao kinh hãi không lẽ kế sách đã bị bại lộ. Nhưng kìa cổng thành Tây Dương Châu đã mở toan quân Ân ùa ra như nước lũ.

Thục Lao phấn khởi trở ra nói:

   Thưa cha quân Ân đã ùa ra đông như kiến.

Tây Thục Vương nói:

   Chờ thêm tí nữa.

Kìa pháo 1 lần 3 đã bắn, thưa cha pháo 3 đã nổ, Tây Thục Vương lại nói:

   Chờ thêm tí nữa.

Bất ngờ pháo vàng bắn lên Tây Thục Vương lấy làm lạ nhưng sau đó liền hiểu nói:

   Các ngươi tới số rồi.

Thục Lao thấy hơi lâu vẫn chưa thấy cha ra lệnh, kìa pháo 5 đã bắn lên từ chỗ cũ mà là cách thành không bao xa, Tây Thục Vương liền ra lệnh tấn công, tức thời 5 vạn quân nhanh như cơn lốc tấn công sấm sét vào quân Ân ngay cổng thành. Lúc ấy quân Ân do Lâm Phát Nhất chỉ huy kéo ra chưa hết còn trong thành gần 2 nghìn quân. Quân Ân ào ra cửa, quân Văn Lang ào vô cửa tình thế vô cùng hổn loạn, cổng thành không cách nào đóng lại được nữa, quân Văn Lang đông như kiến, quân Ân chống trả không lại đành ngã rạp đi đời. Pháo 5 lần thứ 3 là là pháo lịnh tấn công toàn cục, 20 vạn quân ở các mũi đồng loạt tấn công, quân Văn Lang như đàn Linh Miêu ào tới quật ngã những con chuột cố sức chống trả, khắp thành Tây Dương Châu thang dây đồng loạt bắt lên, đàn Linh Miêu ùa lên đông như kiến, 4 vạn con chuột lơ là trở tay không kịp đàn Linh Miêu xơi sạch.

Chu Công Minh kinh hồn bạc vía, bỏ binh lính hốt mớ châu báu trốn chạy mang đi theo đường hầm bí mật. Nói về Thục Chăm thấy quân Ân đã sa vào ổ phục kích liền ra lịnh phản kích tấn công. Hồ Thế Gia khiếp vía than rằng thế là hết, nhìn quân Văn Lang trùng trùng điệp điệp, như đàn sư tử bao vây lớp lớp, quân Ân ngã rạp chống đỡ không nỗi lần lượt bỏ mạng tại sa trường. Hồ Thế Gia tự sát.

Mới đây khí thế tựa hùm beo

Giờ phải bó tay chết hiểm nghèo

Ba quân tướng sỉ thành tro bụi

Giặc Ân tan xác tiến quân reo

Đất Nam nào phải người hoang vắng

Con Cháu Tiên Rồng nỗi sấm kêu

Giặc Ân khiếp vía hồn phách tán

Quân reo ngựa hí lũ giặc tiêu.

Nói về Lâm Phát Nhất đưa quân ra tiếp viện đến khi phát hiện là mắc mưu kẻ địch, quay đầu rút quân vào thành thời không còn kịp nữa tất cả đều đã muộn, quân Văn Lang như đàn sư tử xông vô nhai ngấu nghiến. Đội quân thiết giáp mạnh như đàn voi đạp nhầu quân Ân tan xương nát thịt, Lâm Phát Nhất chết trong loạn tên trúng xối xả vào người ngã gục chung cùng số phận cùng binh lính.

Ôi thôi một kiếp làm người

Sai đường lạc lối để rồi vùi chôn

Đời đời mang tiếng ác ôn

Đời đời nguyền rủa vùi chôn đời đời

Cướp non cướp nước của người

Tránh sao cho khỏi Kiếm hồi giáo đâm

Tan thây nát thịt tan xương

Cuộc đời xâm lược nêu gương ác đời.

Bầu trời đen thẩm, hơi lạnh thấu xương, một bóng đen âm thầm lặng lẽ ẩn hiện như một bóng ma từ đường hầm bí mật thoát ra. Bóng ma nói ta mau thoát khỏi nơi nầy kẻo trời sáng, trên vai mang một cái bao lớn có lẽ cũng khá nặng nên kinh công của Y vì thế kém đi phần linh hoạt, nơi đây chỉ là gò hoang đồng vắng vì lúc nầy quân Văn Lang đã ùa ra hết tấn công vào thành, làm gì có người quanh quẩn ở đây. Bóng Ma không nhìn thấy ai thở phào nhẹ nhỏm, màn đêm có dấu hiệu hừng hừng đông, tiếng gươm Đao giáo mác vẫn còn đinh tai nhức óc từ thành Tây Dương Châu. Y nhắm hướng Bắc dở thuật kinh công lao đi.

Bổng tiếng quát to như sấm:

   Đứng lại.

Hai bóng người xuất hiện một nam một nữ:

   Chu Công Minh ngươi chạy đâu cho thoát lưới trời.

Bóng Ma thấy hai người gọi đúng tên mình thời kinh hãi, Y ném cái bao xuống đất, giỡ thuật kinh công thượng thừa phóng đi.

Nhưng có tiếng quát lanh lảnh:

   Trốn ư.

Ánh Đao chớp lên lạnh cả người, Chu Công Minh rút Kiếm chống trả ầm ầm, kình lực đối thủ quá mạnh làm Chu Công Minh dội ngược ra sau, Y thất kinh hồn vía. Thái Nga sợ Y chạy trốn liền vận lực phóng Kiếm lên không hô biến, tức thời một Đao hào quang chém xuống ầm ầm. Chu Công Minh kinh khiếp, đưa Kiếm lên chống đở nhưng ôi thôi một tiếng ầm long trời lỡ đất Chu Công Minh bị bảo bối Kiếm Tiên chặt đức làm đôi.

Thơ rằng:

Lưới trời lồng lộng khắp mọi nơi

Nào dễ lọt qua mạn lưới trời

Gió gieo Bão gặt đời là thế

Hại người người hại có xa xôi

Trốn đâu cho thoát đường quả báo

Phơi xác gò hoang kiến tha xơi

Công Minh ngươi hởi hồn nên nhớ

Xâm lược mà chi hại cuộc đời.

*      *      *

Thuở Trời Đất sanh ra nhân loại

Có dặn rằng tôn trọng lẩn nhau

Giặc Ân nầy hỡi giặc Ân

Cớ sao mi lại lấn xâm nước người

*      *      *

Quân Văn Lang thay Trời hành Đạo

Diệt xâm lăng đại cáo Đông Tây

Chủ quyền Độc Lập đắp xây

Văn Lang mãi mãi cờ bay Tiên Rồng.

*      *      *

Một Nguồn Cội Đại Đồng nhân loại

Năm màu da sáng chói anh em

Nhân quyền bình đẳng tự do

Thái bình Độc Lập ấm no đời đời.

*      *      *

Cớ chi mà phạm luật trời

Đưa quân xâm lược để rồi mạng vong

Vinh quan gì hỡi giặc Ân

Chết nhơ chết nhuốc, ác mang đời đời.

Đây nói về Ngạc Sùng Cảnh lúc nào cũng thấy trong người ớn lạnh, tuy ngoài trời những đợt nắng nóng cuối cùng muộn hơn mấy năm cũng không làm ấm người ấm lòng Ngạc Sùng Cảnh được, cái lạnh không phải là cái lạnh của thời tiết mà là cái lạnh của nỗi sợ hãi mỗi lúc một thêm nhiều. Ngạc Sùng Cảnh luôn luôn đi đi lại lại ở trong, niềm hi vọng le lói ở hai cánh quân mong tin chiến thắng.

Thời có quân vào báo:

   Bẩm thống soái có Đạo Sĩ tự xưng là Man Công ở cánh quân Triệu Công Tiển cần gặp.

Ngạc Sùng Cảnh nói:

   Mời Lão vào, tuân lệnh.

Một lát sau thời Man Công vào, Ngạc Sùng Cảnh thấy Man Công mặt xanh như tàu lá toát ra yêu khí kinh người, thì biết đây là một lão quái vật nên có phần kiêng nể, hỏi:

   Đạo Sĩ gặp Bổn Vương có chuyện gì?

Đạo Sĩ nói:

   Bẩm Thống Soái, Triệu Công Tiển tử nạn, hơn 12 vạn quân chết sạch.

Trời Ngạc Sùng Cảnh nghe xong té ngữa kêu trời miệng ọc ra máu, chưa ngồi dậy được thời có quân vào báo:

   Có tướng thám báo ở thành Tây Dương Châu cần gặp.

Ngạc Sùng Cảnh nói hết nổi dơ tay làm hiệu cho vào thì ra người thám báo muốn gặp Ngạc Sùng Cảnh chính là tên thám báo trước.

Ngạc Sùng Cảnh hỏi:

   Tây Dương sao rồi?

Y vừa run vừa nói:

   Bẩm Thống Soái xong hết rồi.

Ngạc Sùng Cảnh mừng rở nói:

   Tốt quá, tốt quá ta sẽ bẩm báo lên Chúa Công xin viện binh.

Thấy Thống Soái hiểu lầm câu nói:

   Bẩm Thống Soái.

Ngạc Sùng Cảnh phất tay nói:

   Ta nghe rồi.

Tên thám báo cứ ấp a ấp úng nói không ra lời. Lão hỏi:

   Ngươi còn gì muốn tâu?

Thám báo thưa:

   Bẩm Thống Soái thành Tây Dương Châu thất thủ rồi. Chu Công Minh chạy trốn bị địch chém đứt làm đôi.

Ngạc Sùng Cảnh choáng váng:

   Cái gì?

Thám báo thưa:

   Bẩm Thống Soái 5 vạn quân cứu viện đã bị hạ gục hết rồi, tướng Hung Nô Sát Nhân đã bị Đao Kiếm băm nát như tương.

Ngạc Sùng Cảnh nghe xong xây xẩm mặt mày, tình thế không còn cứu vãn được nữa, dồn dập nghe tin dữ, Ngạc Sùng Cảnh hết cú sốc nầy tới cú xốc khác, sau đó thì nằm liệt giường liệt chiếu, không còn ăn uống gì nỗi nữa.

Hồ Ma Yêu cùng Man Công nghĩ rằng: Nếu không cứu Lão thời mối nhục nhã nầy biết bao giờ mới trả. Hồ Ma Yêu lấy viên thuốc ra rồi lại bỏ vào túi.

Man Công nói:

   Lão còn tiếc của ư.

Hồ Ma Yêu nói:

   Tiếc gì mà tiếc.

Liền cho Ngạc Sùng Cảnh uống, đúng là thuốc quí Ngạc Sùng Cảnh uống xong một lúc thời sức lực hồi phục trở lại, Ngạc Sùng Cảnh chẳng chút vui mừng nói:

   Uổn viên thuốc của lão tướng quân rồi.

Hồ Ma Yêu nói:

   Bẩm Thống Soái ra chiến trận thắng thua là chuyện bình thường, còn nước còn tác, quân ta còn hơn 10 vạn quân chỉ cần người tài ba pháp thuật kinh thiên là đảo ngược tình thế, tôi có hai người bạn quen thân thần thông quảng đại, nếu cầu được hai người nầy giúp thời quân Nam dù có 50 vạn cũng không sợ.

Man Công nói:

   Bẩm Thống Soái nếu cầu được thầy tôi xuống giúp, thời dù có 100 vạn quân cũng không sợ nói chi 50 vạn quân.

Ngạc Sùng Cảnh đang chết đuối liền vớ được cái phao, như cây sắp chết héo gặp trận mưa rào, một tia sáng đã hiện ra Ngạc Sùng Cảnh mừng rở nói:

   Làm cách nào mời được những con người tài ba nầy.

Man Công nói:

   Thống Soái phải lập đàng cầu khẩn thì mới cầu được.

Ngạc Sùng Cảnh nói:

   Nhờ hai vị lão tướng gia chỉ đường cho.

*************

PHẦN 45

Đây nói về Cao Lạc Hầu Vương nhận lãnh Thủy Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm tinh thần phấn chấn vô cùng. Cao Lạc Hầu Vương là một trong bốn vị vương đương triều. Đông Vương Lạc Hầu là nhà quân sư chính trị lỗi lạc đương thời, theo lệnh Hùng Tiên Lang, Hùng Vương đương thời thứ ba hậu Hùng Vương đời thứ 26 Thượng hậu Hùng Vương.

Thống lãnh 20 vạn quân trấn thủ địa phận Đông Bắc nước Văn Lang, phía Đông giao chỉ các Bộ, Châu, Quận, Huyện giáp Đông Hải. Đông Hầu Vương thống lãnh 20 vạn quân tiến thẳng tới Trúc Giang. Thuộc địa phận Lạc Trung Châu đóng quân hạ trại ở đó.

Trong khi ấy ở bên kia bờ Bắc, Bắc sông Trường Giang, quân Ân ồ ạt tiến qua đông như kiến có hơn 50 vạn quân, tiến đánh các Châu, Huyện chủ chốt từ biên giới sâu vào đất liền thuộc địa phận Đông Bắc Văn Lang, cắt đứt các trục lộ giao thông, đường bộ, đường thủy, đường rừng núi làm tê liệt các huyết mạch giao thương địa phận Đông Bắc hầu chia cắt khống chế các Bộ các Châu không cho liên kết với nhau.

Thế lực của giặc và ta về quân số chênh lệch quá lớn, giặc hơn 50 vạn còn ta chỉ 20 vạn vì thế không thể đối đầu trực diện với giặc mà phải tìm giải pháp hợp lý, có lợi cho ta hơn. Chiến thuật đánh trực diện, sự thương vong sẽ rất cao gây bất lợi cho ta, khi ta chỉ bằng một phần ba của giặc, chiến thuật đánh xoay vần đưa giặc vào bẫy, phân tán lực lượng của giặc, dốc toàn lực ra đánh thời hiệu quả mới cao. Và kế sách dụ địch vào bẫy đã gặt hái kết quả thuận lợi, mở màn Khai Đao chống xâm lăng. Tại thành Đông Giao Giang Châu là một chứng minh cụ thể, quân Ân sa vào kế bẫy của ta, bị hào bẫy, hầm bẫy kết hợp hỏa công, chủ động phục kích, tên độc, chông độc tiêu diệt hơn 10 vạn quân Ân. Tướng, Sở, Yên, Tề xóa sổ.

Đây nói về Khương Hoàng Nhân theo lệnh của Ân Thọ Vương Vua Trụ, thống lãnh đại binh kết hợp với 20 chấn trư hầu lớn nhỏ, Yên, Sở, Triệu, Tề, Tần, Tấn lên tới 50 vạn quân, tiến hành ba bước, ba giai đoạn xâm lược nước Văn Lang.

A- Bước một:  Đường bộ, Đường sông tiến quân chiếm lấy các Châu Thành chủ chốt như Đông Giang Giao Châu, Quế Giang Giao Châu, Liễu Giang Giao Châu, Lạc Trung Châu, Hạt Linh Châu bọc lên tấn công Nam Kinh Xích Quỷ. Đường biển:  tiến quân chiếm lấy các Châu, Huyện chủ chốt, cảng cửa như Dạ Loan Hải Châu, Đông Hải Châu, Phúc Hải Châu thì coi như đã hoàn thành giai đoạn một khống chế toàn bộ Đông Bắc Văn Lang Giao Châu.

Địa phận Đông Bắc Văn Lang gồm những Châu chính sau đây.

1:  Thất Khê Châu.

2:  Đình Hải Châu.

3:  Cái Hải Châu.

4:  Hải Hải Châu.

5:  Dạ Loan Châu.

6:  Phúc Hải Châu.

7:  Đông Giang Giao Châu.

8:  Hạ Giang Giao Châu.

9:  Quế Giang Giao Châu.

10:  Liễu Giang Giao Châu.

11:  Lạc Trung Giao Châu.

12:  Hạt Linh Giao Châu.

B- Bước hai giai đoạn hai:  là tiến đánh chiếm lấy các Châu chủ chốt như: Quang Hải Châu, Môn Hải Châu, Tiền Hải Châu, Ninh Hải Châu, Dạ Trung Châu thời khống chế được một số Bộ, Châu nhiều Quận, Huyện khác nữa.

C- Bước ba giai đoạn ba: là tiếp tục tiến đánh chiếm các Châu thành chủ chốt trọng yếu như:  Nam Hải Châu, Hưng Hưng Châu, Sơn Hải Châu thì coi như khống chế toàn bộ các Châu khác như Uông Châu, Khê Đông Châu, Phả Hải Châu, Vịnh Hạ Châu, rồi đánh bọc lên Long Biên, Phong Châu chiếm lấy thành Kinh Đô Văn Lang. Hạ gục thời đại Hùng Vương, thay vào đó thời đại nhà Ân thống lãnh toàn bộ hầu như gần hết Châu Á thời đó.

Còn Nam Văn Lang các Bộ, Châu, Quận, Huyện thời giặc chưa tính đến, cuộc tấn công phủ đầu, Khương Hoàng Nhân chia làm hai cánh quân, đường biển và đường bộ, đường biển do Triều Chấn Lôi chỉ huy, đường bộ do Tử Điển Phi chỉ huy.

Cánh quân do Tử Điền Phi trực tiếp chỉ huy đã thất bại thê thảm, tiêu hao hơn 10 vạn quân. Khương Hoàng Nhân vô cùng tức giận, cho rằng:

   Tử Điển Phi kém tài dẫn đến hậu quả thất bại thê thảm, dù cho quân Văn Lang có ba đầu sáu tay, cũng không thể thắng nhanh như thế. Nghĩ đến kế sách chiến lược của ta, cùng một lúc tấn công đều khắp, kéo dãn phân tán lực lượng quân Văn Lang ra. Cớ sao quân Văn Lang lại dễ dàng đánh bại 15 vạn quân nhanh chóng như vậy.

Càng nghĩ Khương Hoàng Nhân càng tức giận ra lệnh đem Tử Điền Phi ra chém quách đi cho rồi. Các quan tướng khuyên can mãi Tử Điền Phi mới thoát khỏi tội chết, lạy tạ Khương Hoàng Nhân xin lập công chuộc tội. Khương Hoàng Nhân đang suy tính tìm người thay thế Tử Điền Phi thống lãnh ba quân tướng sĩ tiến quân tiếp tục thôn tính các Châu thành trọng yếu theo sách lược đã đề ra, bước một giai đoạn một.

Thì có một quan tướng đứng lên thưa:

   Bẩm Thống Soái, thuộc hạ xin đề cử một người có đủ thao lược tài ba, trả mối hận cho ba quân tướng sỉ, hoàn thành trọng trách theo ý định của Nhân Vương, vị tướng quân ấy là Lý Hạo Thiên, người nước Triệu, nỗi tiến học rộng hiểu nhiều võ công cái thế, có yêu thuật sái đậu thành binh, họa hình thành tướng, đã từng làm khiếp đảm nơi đất Bắc.

Khương Hoàng Nhân đã nghe tiếng nhiều về con người nầy, lấy làm vừa lòng, nhìn qua tướng mạo của Lý Hạo Thiên oai phong lẩm lẩm, ai nhìn thấy cũng phải kính nể thời hài lòng lắm liền phong Chủ Soái thống lãnh 20 vạn quân, Tử Điền Phi làm phó soái ồ ồ ạt ạt tiến quân sâu vào nước Văn Lang.

Đây nói về các tướng lĩnh quân Văn Lang theo lệnh của Cao Lạc Vương dẩn quân phục kích các trục lộ hiểm trở của các Châu, Quận, Huyện. Con đường mà giặc sẽ đi qua hoặc thua trận rút lui phải hành sự táo bạo, phán đoán chính xác, tấn công bất ngờ ngoài sự dự đoán của giặc. Cao Lạc Đông Hầu Vương có đội quân mật thám báo vô cùng khôn khéo đầy gan dạ, luôn luôn bám sát giặc, có khi còn trà trộn ẩn trong quân giặc nắm bắt tin tức, phán đoán chính xác cơ mật của giặc, nhờ đội quân thám báo mật báo tài tình nên Cao Lạc Vương luôn luôn đưa ra kế sách táo bạo, làm cho giặc bất ngờ trở tay không kịp. Được biết quân Ân tách quân chia làm hai mũi thời đoán biết ý đồ của giặc, tấn công đường biển và đường bộ. Cao Lạc Vương liền chia quân ra làm hai mũi chủ lực, một mũi do Cao Lạc Hải làm tổng chỉ huy, một mũi do Cao Lạc Vương trực tiếp chỉ huy.

Đây nói về quân Ân do Lý Hạo Thiên cầm đầu 20 vạn quân vượt qua Đông Giang Giao Châu tiến qua sông Hạ Lạc mà không gặp khó khăn trở lực nào cả.

Lý Hạo Thiên cao ngạo nói:

   Ta cũng muốn xem có con hổ, báo nào xông ra nhưng chúng ta đã trải qua một đoạn đường dài qua nhiều địa phận nguy hiểm mà vẫn không thấy con hổ, báo nào cả.

Lý Vũ Địa nói:

   Hay là chúng khiếp sợ binh hùng tướng mạnh của chúng ta.

Tử Điền Phi chỉ biết làm thinh không dám phê phán hay nghĩ ngợi gì cả.

Lý Hạo Thiên hỏi:

   Chúng ta tiến đánh Quế Giang Giao Châu phải đi qua những địa phận nguy hiểm nào?

Tử Điền Phi nói:

   Đó là phía Tây rừng U Minh Hạ, phía Đông rừng U Minh Thượng, Núi Thượng, Núi Ngũ Chân, Đồi Lâm Giao Huyện Lâm Giao.

Với bộ óc tinh ma, Lý Hạo Thiên cho quân thám thính những nơi nguy hiểm rồi mới đi qua và chúng cũng không phát hiện được gì. Hai mươi vạn quân cả người lẩn ngựa đông như kiến, cờ xí xe cộ rợp trời rợp đất kéo dài hơn 12 – 13 dặm cuồn cuộn lao đi khói bụi mịt mù, tiến thẳng về Quế Giang Giao Châu những nơi giặc càng qua thời thôn xã Quận Huyện đó chẳng còn gì cả huống chi là con người khi còn cách thành Quế Giang Giao Châu chừng sáu dặm thời dừng quân, bàn kế sách tấn công thành, cho người kéo quân đến cổng thành khiêu chiến thăm dò thực lực của địch.

Tử Điển Phi nói:

   Mở màn khiêu chiến nầy để tôi.

Lý Hạo Thiên nói:

   Phó chủ cẩn thận đây chỉ là trận mở màn thăm dò, thắng thua không quan trọng. Tuân lệnh.

Đây nói về Trần Nhân Luân, điểm 2 vạn quân trấn thủ thành Quế Giang Giao Châu khi thấy giặc tới, thì cho quân đứng dày mặt thành quân reo ngựa hí đánh trống dộng chiêng ầm ỷ làm ra vẻ quân đông như kiến đánh lừa giặc. Đứng trên thành nhìn thấy quân Ân kéo đến khiêu chiến ước lượng chỉ trên dưới 2 vạn quân mà thôi, thời hiểu ngay chỉ là bước đầu dùng đoàn khiêu chiến thăm dò thực lực đối phương, sau đó mới tấn công thành.

Nói về Tử Điển Phi như con chim đã bị ná, thoát chết nên hết sức cẩn thận, nhìn lên cung thành thấy quân Văn Lang đông như kiến, chiêng trống rền trời thời nghĩ: Quân Văn Lang đã dồn hết vào thành, bảo vệ cung thành hay chỉ là trá hình đóng tuồng lừa đảo qua mặt chúng ít mà làm ra vẻ nhiều.

Nhưng lại nghĩ: Nếu là ở phương Bắc của ta đây chỉ là kế nghi binh làm ra vẻ nhiều quân chính là ít quân, làm ra vẻ ít quân chính là nhiều quân, nhưng đây là nước Nam Văn Lang thì khó mà đoán được. Để hiểu rõ đánh giá nhân tài thực lực của đối thủ. Tử Điền Phi cho người dẩn quân tiến tới sát cổng thành khiêu chiến:

   Võ Công Công nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 3 nghìn quân khiêu chiến. Tuân lệnh.

Võ Công Công người nước Tần võ công cái thế xưa nay chưa từng gặp đối thủ. Cởi con ngựa Hoàng Long cao to khỏe mạnh bộ lông óng mướt, thời cũng nhận ra đây là con quí ngựa chiến có hạng. Võ Công Công đầu đội kim khôi mình mang giáp đồng. Tay cầm trường thương nặng hơn 80 cân có biệt tài thét to như sấm nổ. Kẻ yếu tim ngả ngựa mà chết. Thành Quế Giang Giao Châu là một trong những thành kiên cố huyết mạch giao thương chủ lực khắp địa phận Đông Bắc Giao Chỉ, vị quan phủ trấn giữ thành nầy là em của Cao Lạc Vương Hầu Gia. Cao Lạc Hổ võ công cái thế vừa mới luyện được chiêu Ngũ Lôi Tuyệt Thế thần công.

Đứng trên thành Cao Lạc Hổ nghĩ ta mới luyện được Ngũ Lôi Đao Pháp thần công đã đến cảnh giới xuất thần nhập hóa, Đốt Kinh, Nhâm Kinh đã được khai thông, có nghĩa là Tiền Đình, Bách Hội, Trường Cùng, Hội Âm Hội Dương thông suốt, Ngũ Khí Triều Nguyên lợi hại vô cùng, nhìn tướng giặc thấy có vẻ tài năng lắm, có lẽ đây là cơ hội cho ta lập công thử Đao luôn thể.

Liền nói với Trần Nhân Luân tướng quân:

   Để thằng giặc nầy cho tôi.

Trần Nhân Luân nói:

   Cao Phủ Gia cẩn thận.

Cao Lạc Hổ nói:

   Tướng quân yên tâm tôi biết tiến thối đúng lúc.

Cao Lạc Hổ là Vương Phủ Vương Gia, nhưng khi yên, giáp vũ khí chỉnh tề thời oai phong lẩm lẩm không kém tướng giặc là mấy, chiêng trống nổi lên cổng thành Quế Giang đã mở 3 nghìn quân cùng phủ gia Cao Lạc Hổ xuất hiện.

Đàn Hổ ra oai, khiếp Cáo Chồn

Rền vang trận địa giặc vùi chôn

Đại Linh nhân kiệt, cùng cùng khắp

Trai Hùng gái Dũng rạng danh thơm

Ba quân tướng sỉ uy linh

Xem đi xét lại khác chi quân trời

Trời Nam khéo nở nhân tài

Rồng Tiên sanh nở, Tiên Rồng lạ chi.

Cao Lạc Hổ đầu đội kim khôi, mình mang giáp sắt, tay cầm Long Đao nặng hơn 80 cân cỡi con ngựa Huyết Hản ngày đi nghìn dặm uy phong lẩm lẩm, phi ngựa tới chỉ tướng giặc thét như sấm:

   Lũ các ngươi đã qua đây thì không có ngày về.

Liền múa Đao chém tới ào ào. Võ Công Công nào chịu kém, thét như sấm nổ:

   Đã gặp ta coi như ngươi đã hết số, nạp mạng đây.

Trường thương như cơn lốc cuồn cuộn phủ tới.

Thế là lưỡng Hổ phân tranh

Thương qua Đao lại chớp nhanh lạ lùng

Rền vang trận chiến đùng đùng

Cát bay đá chạy mịt mù kinh thiên

Ầm ầm vang dội liên miên

Tám mươi hiệp đã có dư còn thừa

Bổng nghe Lạc Hổ Đao khua

Ngựa người biến mất, ngũ lôi sấm rền

Võ công khiếp đảm hồn kinh

Kiếm thương vun vút cuộn lên ù ù

Ầm ầm lở đất sụp đồi

Ngũ Lôi chơm chớp đất trời ngã nghiêng

Đao Thần xuyên suốt vào tim

Hồn lìa khỏi xác Võ Công đi đời

Quân Nam Đao Kiếm dậy trời

Xông lên quét sạch lũ thời ngoại xâm

Điền Phi khiếp vía hoảng kinh

Xua quân chống trả đến khi cuộc tàn

Quân Nam thắng trận vẻ vang

Điền Phi than thở, thở than rụng rời

Văn Lang con cháu nhà trời

Khó mà xâm lược ôi thời khó mong

Trừ khi nước chảy ngược lên

Mới mong xâm lược làm nên cuộc cờ

Nhưng nay nước vẩn y tờ

Xuôi theo dòng nước vẫn còn xuôi theo.

**************

PHẦN 46

Nói về Lý Hạo Thiên hạ trại dừng quân cách thành Quế Giang Giao Châu chừng 6 dặm, nghe văng vẳng chiến trận nổ ra nóng lòng chờ kết quả, thì có quân vào báo:

   Báo bẩm Chủ Soái quân ta mở màn khai chiến đã thất trận, Võ Công Công toi mạng, 3 nghìn quân chụm hết 2 nghìn.

Lý Hạo Thiên thất kinh nói:

   Cái gì Tần Võ Công Công tử nạn rồi ư.

Thám báo thưa:

   Bẩm Chủ Soái đã chầu Địa Phủ.

Lý Hạo Thiên liền lên ngựa tới chiến trường xem thực hư thời thấy xác binh lính đây đó ngổn ngan thây phơi đầy đất, còn Tử Điền Phi ngồi chống càm rầu rĩ thấy Lý Hạo Thiên tới thì đứng lên thi lễ nhưng sắc mặt bơ phờ xơ xác.

Lý Hạo Thiên an ủi:

   Ra trận thắng bại là sự bình thường, hơn nữa chỉ là trận mở màn đánh giá thực lực của địch.

Tử Điền Phi liền báo cáo lại tất cả tình hình nghe thấy cũng như suy đoán cho Lý Hạo Thiên nghe rồi đưa đến kết luận:

   Có lẽ quân Văn Lang dồn hết lực lượng nhân tài vào thành cố thủ rồi, có thể lên trên dưới 10 vạn quân, chúng ta công phá thành không dễ đâu.

Lý Hạo Thiên cười ha hả nói:

   Như vậy càng tốt cho ta chớ sao, chúng đã dồn tất cả lực lượng nhân tài nằm hết trong thành, thời ta khỏi mất công tìm kiếm chúng, chúng càng dồn lực lượng vào thành để cố thủ thì chúng càng chết, còn ta thì dễ dàng hoạt động, khỏi sợ chúng phục kích tấn công bất ngờ.

Lý Hạo Thiên khoái chí lên tay xuống ngón:

   Chúng ta chỉ cần bao vây chặt chẽ, theo chiều gió phóng chất độc vào thành làm cho môi trường sống càng ngày càng thêm trầm trọng chết dần chết mòn, chờ thời cơ thuận lợi là xua quân tấn công nhưng ta cần chi làm thế sẽ làm thịt chúng trong vài ngày nữa thôi, cái thành cỏn con nầy làm sao ngăn chặn bước tiến của ta.

Bằng ra lệnh cho Tử Điền Phi tăng thêm 3 vạn quân cùng đội quân thiết giáp phong tỏa cổng thành bao vây mỗi lúc một thêm kiên cố.

Lý Hạo Thiên nói:

   Để cho chúng nếm mùi sự lợi hại của quân âm binh, sau đó mới tấn công chiếm lấy thành.

Tử Điền Phi như nhớ ra điều gì quan trọng mừng rở nói:

   Bẩm Chủ Soái chừng nào cho âm binh tấn công thành.

Lý Hạo Thiên làm ra vẽ bí mật:

   Chừng nào tấn công thì cho tướng quân biết.

Đây nói về Cao Lạc Hầu Vương sau khi phân bố lực lượng phục kích, cũng như kế sách đưa giặc vào bẫy tiêu diệt, không bao lâu nhận được tin chiến thắng tại thành Đông Giang Giao Châu, tiêu diệt hơn 10 vạn quân Ân. Tử Điền Phi tả tơi la lết cùng đường, không lấy làm mừng mà hiểu rõ tình thế càng về sau càng quyết liệt, tướng tài giặc càng về sau càng xuất hiện thứ dữ. Nhận được thông tin mật báo, Khương Hoàng Nhân phong Lý Hạo Thiên làm Chủ Soái thống lãnh 20 vạn quân thay cho Tử Điền Phi, ồ ạt tiến quân vượt Đông Giang Giao Châu, sắp vượt qua khúc sông Hạ Lạc, chỉ còn 20 dặm nữa là tới đồi Lâm Giao huyện Lâm Giao. Thì lệnh hỏa tốc cho các lực lượng các chi nhánh khẩn cấp mai phục các vị trí chuẩn bị tấn công khi có lệnh, khẩn cấp tra xét lý lịch Lý Hạo Thiên.

Lý Hạo Thiên là người nước Triệu, học nhiều hiểu rộng, đa mưu quỷ kế, võ công xuất chúng, tà thuật kinh người, nhất là môn sái đậu thành binh, vẽ hình thành tướng vô cùng lợi hại đã từng làm khiếp đảm đất Bắc, thì hiểu ngay nguy cơ đã đến, nhất là thành Quế Giang sẽ sớm rơi vào tay giặc.

Như sực nhớ ra điều gì: Phải rồi gươm Thiên trấn Quốc liền lấy thanh Thủy Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm mang sau lưng xuống, ngắm ngía một hồi rồi rút ra khỏi võ, tức thời muôn đạo hào quang tuông ra chóa mặt, cuồng phong nỗi dậy ầm ầm mưa to gió lớn, sấm chớp rền trời rền đất, ba quân tướng sĩ khiếp đảm kinh hoàng không hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Cao Lạc Hầu Vương thấy Thủy Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm lợi hại như vậy cũng đâm hoảng liền đút Kiếm vào võ, tức thời hào quang sấm chớp mưa to gió lớn biến mất, Cao Lạc Hầu Vương trong tay chỉ có 20 vạn quân, đây là bài toán khó. Không thể đánh trực diện với giặc vì giặc nhiều ta ít, khó mà đương đầu nổi, chỉ còn cách đánh theo phương pháp mưu mẹo không cho địch hiểu về mình, còn mình thì hiểu rõ về địch đánh bất ngờ cắt đứt giặc ra từng mảnh nổ lực tiêu diệt địch.

Chứng kiến Thủy Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm vô cùng lợi hại, Cao Lạc Hầu Vương liền nghĩ ra một cách đánh táo bạo, nhiều mũi tấn công cùng một lúc, làm cho con mãng xà tinh toàn thân tê liệt, cắt đứt ra làm nhiều khúc xơi cho đã, với 20 vạn quân, khí thế hùng mạnh quân Ân di chuyển như một con xà tinh khổng lồ những thế lực nào ra cản nó liền bị nó nuốt với bộ óc thông minh thiên phú, ứng biến mau lẹ.

Cao Lạc Hầu Vương liền ra lệnh cho 2 vạn quân còn lại tức tốc lên đường đến phục kích tại xã An Giao cách thành Quế Giang Giao Châu 6 dặm về hướng Tây, phục kích vừa xong thời quân Ân cũng đã kéo đến mười mấy dặm. Đuôi con mãng xà vừa qua khỏi rừng U Minh Hạ chưa qua khỏi rừng U Minh Thượng, con mãng xà vừa dừng chân là tấn công ngay, bao vây phong tỏa thành Quế Giang gay gắt. Nắm bắt được thông tin nầy thời Cao Lạc Hầu Vương  đã hiểu rỏ ý đồ của giặc nên ra lệnh tấn công trước, ý đồ của giặc tấn công ta liền tức tốc thông báo cho các cánh quân phục kích khi thấy ám hiệu núi Ngũ Chân, núi Thượng thì tấn công.

Nói về Lý Hạo Thiên cùng Tử Điền Phi sơ sót để lọt thông tin bàn tính mưu sự đến tai ba quân tướng sĩ, là quân Văn Lang đã dồn hết lực lượng vào thành Quế Giang đã bị quân ta phong tỏa không cho con chó con mèo nào thoát lọt ra ngoài, cũng như bịt miệng hang chồn không cho chạy thoát ra ngoài, từ từ xông khói vào mà tiêu diệt trọn ổ. Quân Ân khoái chí ăn uống no say ít phòng bị, cảnh giác canh gác qua loa, có lẽ vì hơn 10 ngày lúc nào cũng cảnh giác đề phòng cao lại thêm di chuyển hàng 100 dặm có phần mỏi mệt cộng thêm thông tin quân Văn Lang đã dồn hết vào thành, nên đại đa số không theo khẩu lệnh ít ngủ cảnh giác cao mà ngược lại chủ quan đại đa số ngủ ngon lành.

Nói về 3 vạn quân của Nguyên Chấn Lạc phục kích dưới chân núi Ngũ Chân, phát hiện ra quân dọ thám của Lý Hạo Thiên và đã đánh lừa được chúng, chúng không phát giác được gì, khi chúng biến đi thì 3 vạn quân mới di chuyển đến nơi phục kích đã dự định, không bao lâu quân Ân kéo đến đông như kiến, lần lượt vượt qua địa phận Ngũ Chân, từng khúc từng khúc nối đuôi nhau như gon tàu xe lửa, đầu tàu xa lắc mà gon tàu mới khúc giữa nằm trong địa phận Ngũ Chân. Bổng con mãng xà dừng lại, khúc giữa con mãng xà cách quân Văn Lang phục kích không xa, chỉ hơn hai dặm là cùng. Điều kỳ lạ đêm nay khác với mọi đêm là trời đất âm u nhưng không mưa, có lẽ Hồn Thiên Sông Núi che chở cho quân Văn Lang ẩn náu phục kích thuận lợi, bám sát quân giặc chờ có lệnh bất ngờ ra tay.

Màn đêm yên tỉnh đã chuyển sang canh ba, ánh lửa trên núi Ngũ Chân bổng sáng lên le lói như báo hiệu giờ tấn công đã tới, nhìn thấy ánh lửa le lói trên núi Ngũ Chân, Nguyên Chấn Lạc liền ra lệnh cho 3 vạn quân đã chia làm ba mũi, âm thầm lặng lẽ áp sát giặc, làm chủ động mọi tình thế, nhất là đội quân cảm tử len lỏi vào quân giặc, khôn khéo mưu dũng khi có lịnh là ra tay.

Đây nói về Cao Hùng Phi cùng 3 vạn quân phục kích phía Đông Bắc cách thành Quế Giang chừng hơn ba dặm, phát hiện thấy ánh lửa le lói trên núi Ngũ Chân liền ra lệnh cho 3 vạn quân ba mũi tiến quân âm thầm lặng lẽ trong đêm tối kéo đến áp sát đầu cổ con mãng xà, chờ khúc giữa con mãng xà bị tấn công cắt đứt làm đôi thời ra lịnh tấn công.

Nói về núi Thượng quân thám báo nhìn thấy ánh lửa yếu ớt, phát ra từ núi Ngũ Chân, nếu không được báo trước thời khó mà phát hiện ra, nhận được tín hiệu từ núi Ngũ Chân tức thời núi Thượng phát tín hiệu tiếp theo.

Nói về Huỳnh Trung Hải cùng 1 vạn quân đang phục kích cách rừng U Minh Thượng không xa để tránh quân dọ thám của giặc. Huỳnh Trung Hải một mình đến U Minh Thượng ẩn mình kín đáo theo dõi giặc vì đã dự đoán biết trước, quân giặc sẽ cho người thám thính trước khi đại quân đi qua và thật vậy Huỳnh Trung Hải ẩn mình không bao lâu thời nghe vó ngựa nếu không chú tâm tới thời không bao giờ nghe được, sau đó có bóng người thoáng qua lao nhanh về rừng U Minh Thượng có lẽ chúng không phát hiện được gì, chúng trở ra sau đó biến mất, khoảng mấy giờ sau thời quân Ân ùn ùn kéo đến đông như kiến, như con mãng xà dài mười mấy dặm, có lẽ đây là khúc đuôi của con mãng xà kéo theo nhiều xe cộ và hình như con mãng xà không di chuyển nữa. Huỳnh Trung Hải âm thầm rời khỏi vị trí tránh xa tầm kiểm soát của giặc theo dõi cái đuôi mãng xà dài bao xa và thấy đã qua khỏi rừng U Minh Hạ chừng 5 dặm. Đêm đã về tiếng cuốc kêu, vượn hú những loài chuyên ăn đêm chúng thi nhau lùng sục khắp nơi, nhìn thấy ánh lủa núi Thượng le lói sáng lên tức thời 1 vạn quân của Huỳnh Trung Hải rời khỏi vị trí âm thầm lặng lẽ tiến quân áp sát quân giặc, vị trí dừng quân của giặc gần rừng U Minh Thượng nên giặc đề phòng cảnh giác cao. Chúng nhìn thấy núi Thượng bổng dưng có ánh lửa, chúng liền sinh nghi, nhưng màn đêm âm u tỉnh mịch chúng chẳng phát hiện được gì, thỉnh thoảng có luồn gió lạnh xuyên làm cho bọn giặc cảm thấy rùng mình sởn óc.

Đây nói về Nguyễn Sinh Kỳ sau khi thắng trận đại phá quân Ân tại thành Đông Giang Châu tiêu diệt hơn 10 vạn quân giặc, rút quân bí mật tới rừng U Minh Hạ phía Đông Nam phục kích ở đó cho quân thám theo dõi. Khi nào quân Ân qua khỏi rừng U Minh Hạ thì cho quân đào hào, đào hầm cắm chông độc chặn đường rút lui tiêu diệt chúng.

Nghỉ rằng Châu Chấu đá xe

Tưởng đâu Chấu ngã ai dè xe nghiêng

Tuy rằng chỉ một vạn quân

Đánh tan mười vạn trở nên anh tài

Con chuột quật ngã voi trời

Cũng nhờ kế bẫy ôi thời lạ chi

Mạnh thời dùng sức mà thi

Yếu thời dùng trí diệt đi kẻ thù

Huệ gươm mới thật tuyệt vời

Đánh tan xâm lược biển trời bình yên

Gươm huệ mới thật gươm thiên

Giặc Ân khiếp vía hồn kinh phen nầy

Huệ gươm cuộc thế chuyển xây

Nước non Độc Lập cờ bay Tiên Rồng

Cháu con theo gót Vua Hùng

Vì dân vì nước một lòng vì dân

Giặc Ân nầy hỡi giặc Ân

Trận nầy còn sống mới mong kỳ tài

Nếu không hồn xuống diêm dài

Sống trong Địa Ngục hết đời ngoại xâm.

**************

PHẦN 47

Gần hết canh ba, quân Ân phần nhiều đang an giấc, bổng nghe quân reo ngựa hí vang trời giật mình kinh hãi, chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra thì quân Văn Lang như quỷ như ma ập tới tấn công, phặp phặp gươm, Đao, giáo, mác đâm chém tơi bời, tên lao xối xả như mưa trút. Tướng giặc là Tấn Hầu Vương bị trúng tên lao khắp người ngã gục chết tốt, quân Ân rối loạn càng rơi vào tình thế bất lợi, quân Văn Lang làm chủ thế trận hạ gục quân Ân chết thôi là chết, quân Văn Lang thắng thế chém thôi là chém đến nổi cùn Đao lụt Kiếm, khúc giữa bụng con mãng xà bị banh xé tơi bời xác phơi la liệt.

Lý Hạo Thiên xích xáng vì đòn tấn công bất ngờ nầy, không hiểu quân Văn Lang từ hướng nào đến, có bao nhiêu quân mà dám tấn công vào đại quân ta hay chỉ là một nhốm quân liều mạng nào đó.

Đang lúc suy nghĩ thời có quân cấp báo:

   Bẩm Chủ Soái quân địch tấn công ta ở khúc giữa, quân địch đông như kiến như đàn hổ dữ xông vào đàn cừu, dê mà xơi mà nuốt.

Lý Hạo Thiên quát tháo:

   Nói bậy.

Tên lính sợ quá run lập cập, lại có tên khác tới báo:

   Bẩm Chủ Soái Tấn Hầu Vương tử nạn, Tần Hầu Vương ngã gục, ba quân tướng sĩ hồn chầu âm phủ, năm vạn quân khúc giữa tình thế nguy cấp, các tướng lần lượt bỏ mạng, tình thế nguy ngập.

Lý Hạo Thiên thét lớn:

   Cái gì?

Tức tốc cùng một số tướng lĩnh đến hiện trường trực tiếp chỉ huy cứu vãn tình thế, Lý Hạo Thiên đi chưa đến nơi thời phía sau lưng đầu, cổ con mãng xà đã bị tấn công, quân reo dậy đất Đao, Kiếm vang trời thì ra quân Văn Lang từ hướng Đông ào tới tấn công vào đầu, vào cổ con mãng xà. Lý Hạo Thiên đi chưa tới nơi còn hơn hai dặm nữa mới tới nơi trận chiến, thời nghe phía sau quân reo dậy đất, Đao Kiếm vang trời thì ra quân Văn Lang từ phía Đông tấn công thẳng vào trung tâm đầu não, đầu, cổ con mãng xà, tình thế càng thêm nguy ngập.

Lý Hạo Thiên đành phải quay trở lại đầu con mãng xà trực tiếp chỉ huy chống trả. Lý Hạo Thiên về chưa tới nơi còn hơn một dặm thời bất ngờ quân Văn Lang từ phía Tây đánh xuống như sấm sét vào cổ con mãng xà, quân Ân chỉ lo chống trả phía Đông bất ngờ tấn công phía Tây làm cho quân Ân lúng túng hoang mang rối loạn đội hình, chết la chết liệt.

Lý Hạo Thiên la hét chỉ huy nhưng quân Ân bị tấn công nghẹt thở, mạnh ai nấy chống trả không theo lệnh của Chủ Soái nữa. Lý Hạo Thiên tức quá la hét dậy trời dậy đất khan cả tiếng, quân Văn Lang tấn công mỗi lúc một thêm dữ dội, quân Ân càng lúc càng rối loạn dẩn đến đánh lầm lẩn nhau. Đến lúc nầy Lý Hạo Thiên mới hiểu rỏ sự lợi hại của quân Văn Lang liền điều động quân chủ lực, kỵ binh thiết giáp đến, tấn công vào đội quân chủ lực quân Văn Lang, đội quân chủ lực quân Văn Lang như đàn mảnh hổ hạ gục đàn sói thây phơi chật đất. Bất ngờ bị đội quân thiết giáp chủ lực của giặc tấn công, tình thế liền đổi thay, quân Văn Lang bị đội quân thiết giáp của giặc giáng xuống những đòn chí tử, quân Văn Lang chống trả không lại bị đội quân thiết giáp của giặc phay như chuối, tình thế đảo ngược, quân Văn Lang binh giáp tả tơi, thì ra đội quân cánh Tây tấn công vào cổ con mãng xà do Cao Lạc Hầu Vương trực tiếp chỉ huy. Thấy đội quân thiết giáp của giặc vô cùng lợi hại, tình thế chiến trận đảo ngược có thể nói là nguy cấp liền thổi tù huy động đội quân thiết giáp đến xung trận chống trả lại đội quân thiết giáp của giặc, thế trận lại tiếp tục nghiêng về phía quân Văn Lang.

Đây nói về Trần Nhân Luân theo lệnh của Cao Lạc Hầu Vương, thống lãnh 2 vạn quân kết hợp với quân quan phủ Cao Lạc Hổ. Thành Quế Giang Giao Châu lên tới 2 vạn rưỡi, phát hiện núi Ngũ Chân có ánh lửa thì chuẩn bị mở cổng thành ùa ra tấn công quân giặc, đêm cuối canh ba thời nghe trận chiến xảy ra rền trời rền đất thì chờ thêm một lúc nữa.

Nói về Tử Điền Phi tuần tra thúc dục quân binh phong tỏa thành Quế Giang nghiêm ngặt, tinh thần phấn chấn, nghỉ qua đêm mai chúng bay sẽ nếm mùi lợi hại của quân âm binh công phá thành, ngày tận số của chúng bây đã đến, càng nghĩ quân Văn Lang sắp bị xẻ thịt, ngứa ngáy cả tay chân. Bổng nghe quân reo ngựa hí vang trời gươm Đao dậy non dậy núi, kinh hãi nói:

   Chuyện gì thế? Chuyện gì thế? Không lẽ địch tấn công.

Trận chiến mỗi lúc một thêm dữ dội, Tử Điền Phi còn đang ngơ ngác, thì có quân đến báo:

   Bẩm phó chủ soái quân địch đã tấn công quân ta cùng khắp, đầu đuôi thủ dỉ khúc giữa chổ nào cũng có, quân ta bất ngờ lúng túng dẩn đến thiệt hại lớn, phải nói là tình thế nguy ngập đến nơi, chí nguy chí nguy khó mà cứu vãn.

Tử Điền Phi kinh hoảng:

   Cái gì?

Quân báo thưa:

   Bẩm phó chủ soái tình thế nguy cấp, quân ta sắp đại bại đến nơi, Lý Chủ Soái đang cố sức chống trả nhưng quân địch mỗi lúc một thêm đông, quân ta chống trả không xuể, nếu không có quân cứu viện.

Tử Điền Phi liền huy động 3 vạn quân đang vây thành đến cứu còn lại 2 vạn quân tiếp tục phong tỏa cổng thành. Trần Nhân Luân nhìn thấy giặc đã rút bớt biết là tình thế đang bất lợi cho giặc liền theo đường bí mật thống lãnh hơn vạn quân ra khỏi thành, bọc sau lưng giặc đánh ập tới.

Nói về hai vạn quân giặc đang phong tỏa cổng thành chặn đứng không cho quân Văn Lang ùa ra, bất ngờ quân Văn Lang sau lưng đánh ập tới, trở tay không kịp, bị quân Văn Lang ập tới chém xối chém xả, dồn quân Văn Lang về phía cổng thành bất thình lình cổng thành mở toan hơn vạn quân do Cao Lạc Hổ chỉ huy ùa ra như nước lũ, như đàn hổ dữ xông vào quân giặc mà xơi ngấu nghiến, trong bất ngờ đánh ra, ngoài bất ngờ đánh vô kẹp 2 vạn quân Ân vào giữa quân Ân khiếp hãi, nháy mắt tiêu vong chết sạch, thừa thắng xông lên, Trần Nhân Luân, Cao Lạc Hổ kéo quân tới yểm trợ cho cánh quân Cao Hùng Phi, Cao Lạc Hầu Vương.

Đây nói về Cao Hùng Phi thấy khúc giữa của con mãng xà cuộc giao tranh càng lúc càng dữ dội, biết phút tấn công đã đến tức thời ra lệnh cho 3 vạn quân ba mũi đồng loạt tấn công, 2 vạn quân tấn công vào đầu, 1 vạn quân tấn công vào cổ, quân Ân bất ngờ bị đánh ngã nghiên ngã ngữa.

Tướng giặc Ân là Lý Vũ Địa, lấy lại bình tỉnh huy động đội quân thiết giáp chống trả, những con mảnh hổ đang thèm chồn, cáo, sói giặc nào kể gì sống chết, xông tới xáp la cà xé xác đội quân thiết giáp của giặc tơi bời, lớp nầy ngã xuống lớp khác xông lên, đội quân thiết giáp của giặc chỉ có trăm tên, chống không lại đội quân cảm tử lăng xả vào chặt chân ngựa, chúng ào ào xông tới xẻ thịt. Lý Vũ Địa ỷ tài ỷ sắc gào thét xông lên lao vào quân Văn Lang mà chém mà giết. Bổng tiếng tù nỗi lên, đội quân thiết giáp Văn Lang xuất hiện, nhanh chóng bao vây Lý Vũ Địa, có lẽ Cao Hùng Phi ẩn nhẫn chờ đợi tướng soái của giặc xuất hiện mới ra tay, đánh rắn đánh đầu, đánh giặc hạ Tướng đội quân thiết giáp xiết chặt vòng vây nhanh chóng hạ gục Lý Vũ Địa.

Quân Ân như rắn mất đầu nhưng ra sức chống trả quyết liệt, cuộc chiến càng lúc càng sôi nỗi, lúc nầy trời đã hừng sáng quân Ân ỷ đông xông tới lấy thịt đè người. Phó tướng giặc là Sầm Côn thúc quân Ân xông lên lao vào cuộc chiến như vũ bão. Quân Văn Lang nào chịu lép vế xông lên lao vào như thác đổ, thế mạnh như chẻ tre thế trận luôn luôn biến hóa, đội quân gươm, đao, giáo, mác, tên, lao thay nhau ào lên như những con sóng khổng lồ ập vào quân Ân xối xả. Tiếng tù lại nỗi lên đôi quân thiết giáp như đàn voi dữ, xông vào quân Ân càng quét dẩm lên quân thù như dẩm lên cỏ rác chém thôi là chém, chém xối chém xả xuống đầu xuống người quân Ân, xác giặc chồng chất lên nhau thành gò thành đống.

Đây nói về cuộc chiến đầy gay go căng thẳng quyết liệt, một bên là Cao Lạc Hầu Vương trí dũng, một bên là Lý Hạo Thiên kỳ tài, càng lúc càng gây cấn hấp dẫn, trận thế đang nghiêng về quân Văn Lang. Lý Hạo Thiên chưa biết phải làm sao thì thấy Tử Điền Phi kéo 3 vạn quân đến cứu viện nhập cuộc, mừng thì có mừng nhưng cũng biết đã bị trúng kế địch, có lẽ giờ nầy số quân ở lại bao vây cổng thành đã bị quân Văn Lang nuốt hết rồi nhưng tình thế bắt buộc không thể làm gì khác hơn. Lý Hạo Thiên nghĩ còn nước còn tác cố sức xoay chuyển tình thế, liền ra lệnh cho 3 vạn quân vào cuộc cùng đội quân thiết giáp mới đến tấn công quét sạch đội quân tử chiến Văn Lang.

Quân Văn Lang thật ra chỉ có hơn 2 vạn quân nhờ thế chủ động lợi dụng màn đêm, táo bạo tấn công bất ngờ làm cho quân giặc trở tay không kịp hạ gục chúng, nhưng giờ đây quân Ân vào cuộc tăng thêm 3 vạn, có cả đội quân thiết giáp khi bầu trời mỗi lúc một hừng sáng. Cao Lạc Hầu Vương đâm lo vì trời mỗi lúc một hừng đông, giặc sẽ thấy quân ta ít hơn chúng, chúng sẽ nhanh chóng tiêu diệt chúng ta, quân Ân được lịnh ập tới xông vào như nước lũ, quân Văn Lang cố sức chống trả nhưng mỗi lúc một yếu thế, nguy cơ đến nơi. Bổng nghe quân reo ngựa hí vang trời quân Văn Lang từ đầu mãng xà đánh rọc xuống cổ thế mạnh như chẻ tre, bọc sau lưng 3 vạn quân Ân đánh tới khiến quân Ân lúng túng, bổng từ phía Đông quân Văn Lang dồn tới ép quân Ân nghẹt thở, cuộc chiến dồn dập Đao Kiếm rền trời đinh tai nhức óc.

Lý Hạo Thiên cùng Tử Điền Phi ra sức gào thét Đông đánh Tây xông, Nam đâm Bắc chém. Lý Hạo Thiên đang lúc hăng say chỉ huy chống trả lại quân Văn Lang như đàn hổ dữ ào ào xông vô như nước vỡ bờ.

Bổng nghe một tướng máu me đầy người phi ngựa đến vừa gặp Lý Hạo Thiên thét lớn:

   Chủ Soái hãy chạy đi kẻo không kịp.

Nói xong nhào xuống ngựa mà chết, người ấy không ai khác hơn là phó tướng Sầm Côn.

Lý Hạo Thiên tức đến nỗi muốn nổ tung lồng ngực liền cỡi cái bao lớn thường mang sau lưng ra, miệng lâm râm đọc chú, dốc cái bao liền hai cái, cái thứ nhất hàng vạn vạn hạt đậu tuông ra, cái thứ hai hàng trăm hình tướng quái dị tuông ra. Lý Hạo Thiên hô biến tức thời cuồng phong nỗi dậy hơi lạnh thấu xương trời đất âm u tối mù tối mịt, quỷ gào ma thét xông tới tiêu diệt quân Văn Lang.

Thơ rằng:

Trời vừa chạn vạn rạng đông

Bổng nhiên mù mịt cuồng phong dậy trời

Hơi lạnh xuyên thấu tim người

Quỷ ma gào thét ôi thời quỷ ma

Xông vào ăn thịt người ta

Vặn đầu bẻ cổ lột da con người

Quân Nam gục ngã tơi bời

Khó mong thoát chết phen nầy khó mong

Lạc Hầu nhớ đến gươm binh

Tức thời rút Kiếm chỉ lên bầu trời

Hết hồi rồi lại sang hồi

Chờ xem trận chiến ai thời hơn ai.

Đây nói về Huỳnh Trung Hải, theo lệnh của Cao Lạc Hầu Vương, thống lãnh 1 vạn quân phục kích cách rừng U Minh Thượng về hướng Tây hơn dặm. Huỳnh Trung Hải một mình tới rừng U Minh Thượng phục kích, thấy quân Ân đi qua lâu lắc, thời tới khúc quân nhiều xe cộ, có lẽ đây là khúc đuôi kéo dài hàng 6 – 7 dặm, hàng nghìn chiếc xe nặng nề nối đuôi hàng ba, hàng bốn có đội quân thiết giáp hộ vệ. Khúc đuôi con mãng xà cách rừng U Minh Thượng hơn nữa dặm về hướng Đông, con mãng xà tinh, đầu cổ, giữa và đuôi mỗi khúc cách nhau hơn nữa dặm. Nói về khúc đuôi tuy chỉ có 3 vạn quân nhưng kéo dài đến 6 – 7 dặm, xe cộ người ngựa rộn riệp vô cùng, khói bụi mịt mù.

Mặt trời buông xuống, ban ngày dần dần biến mất thay vào đó là ban đêm trổi dậy mỗi lúc một tối dần, ánh sao chen lẫn nhau mỗi lúc mỗi nhiều nơi chốn trời xa, hơi lạnh nhen nhúm lăn lõi vào người, quân Ân lúc nào cũng hồi hộp vì càng lúc càng đi sâu vào đất chết.

Huỳnh Trung Hải phát hiện núi Tượng có ánh lửa tức thời ra lệnh cho 1 vạn quân âm thầm lặng lẽ áp sát tiến về phía giặc, còn cách giặc vài chục mét thời dừng lại đợi lệnh tấn công. Có lẽ Huỳnh Trung Hải chờ khúc giữa quân giặc bị đánh trước và sự chờ đợi đó không lâu thì nghe chiến trận nổ ra mỗi lúc một dữ dội, Ba vạn quân Ân khúc đuôi nghe chiến trận nổ ra chúng đã sẵn sàng cho chiến đấu, nhất là chúng chú ý rừng U Minh Thượng.

Huỳnh Trung Hải là người đầy gan dạ cũng như mưu mẹo, tấn công đúng lúc thì mới đạt hiệu quả cao. Huỳnh Trung Hải chờ khúc giữa bị đánh tan tác làm cho khúc đuôi láo nháo khiếp hoảng thì mới ra lệnh tấn công và sự chờ đợi đó cũng đến. Khúc giữa con mãng xà khổng lồ bị đánh bật dồn về khúc đuôi làm náo loạn cả lên, không còn chần chừ gì nữa, lệnh tấn công đã nổi dậy, tiếng xung phong dậy trời dậy đất, trong màn đêm u tối quân Văn Lang chủ động tình thế ào vô tấn công như thác đổ, tên lao thi nhau gầm thét, thây giặc thi nhau ngã đổ.

Quân Văn Lang tinh thần quyết tử lại làm chủ mọi tình huống, quân Văn Lang ẩn trong bóng tối, còn quân Ân ở chổ đèn đuốc sáng vì thế mục tiêu tấn công vô cùng hiệu quả quân Ân chết thôi là chết. Với khí thế tấn công như vũ bão làm quân Ân khiếp hãi, nghỉ rằng quân Văn Lang đông như kiến đành cho quân thối lui trở lại, tướng giặc vừa cho quân thối lui vừa chống trả, quân Văn Lang đang hăng máu ào ào xông vô đâm chém ầm ầm.

Tướng giặc là Ô Tất Liệt điều động đội quân thiết giáp chống trả, thấy đội quân thiết giáp xông ra ngăn cản, quân Văn Lang lớp nầy ngã xuống lớp khác xông lên. Huỳnh Trung Hải thấy đội quân thiết giáp của giặc vừa lợi hại vừa hung hản liền thúc ngựa giục xông vào với thanh Đại Đao nặng hơn 120 cân, phan ngang bửa dọc, quân thiết giáp giặc trúng phải bay bổng lên không như banh lông, Ô Tất Liệt kinh hồn bạc vía, đội quân thiết giáp bị đánh tơi bời.

Ô Tất Liệt thấy Huỳnh Trung Hải tới gần mình mãi lo hạ gục đội quân thiết giáp, liền dương cung bắn một phát vì quá gần lại quá bất ngờ đành trúng mũi tên cực độc nhưng Huỳnh Trung Hải không ngã gục múa Đao nhắm Ô Tất Liệt chém tới miệng thét tiến lên tiến lên quét sạch quân thù, quân Văn Lang ào ào xông tới tiêu diệt đội quân thiết giáp chẳng còn một tên, quân Ân chết la chết liệt. Ô Tất Liệt khiếp quá hô rút lui rút lui, quân Ân bỏ xe bỏ cộ đạp lên nhau bỏ chạy, quân Văn Lang rượt hơn ba dặm thời không rượt đuổi nữa.

Nói về Huỳnh Trung Hải trúng mũi tên cực độc đáng lý là ngã xuống ngựa chết liền nhưng Huỳnh Trung Hải không chết liền lại xông vào chém quân Ân như chém chuối làm cho tướng giặc khiếp kinh bỏ chạy. Huỳnh Trung Hải trời phú cho sức mạnh hơn người, có thể đề kháng độc cao nên không thể chết liền, thúc giục ba quân tướng sĩ ào tới xông lên tiêu diệt giặc. Thấy giặc bỏ chạy thì cười vang một hồi sau đó gục người xuống ngựa hồn lìa khỏi xác hồn bay lên Thiên Đàng cùng với linh hồn anh em tử sĩ.

Dù có chết, chết vì dân cũng đáng

Đời hi sinh, cho truyền thống Rồng Tiên

Đường Chính Nghĩa, đường tươi sáng vô biên

Niềm kiêu hãnh, một anh linh bất tử

Vào trận chiến, đầy oai phong hùng dũng

Vì nước non, vào trận kể chi thân

Một cuộc sống, chỉ vì nước vì dân

Hãy tiến lên giữ gìn non nước

Đánh cho Kình – Ngạc vùi chôn

Đánh cho lũ giặc ngoại xâm tàn đời

Đánh cho lũ giặc tơi bời

Đánh cho lũ giặc khiếp thời hồn kinh

Nào chiến sĩ xông lên càng quét

Đạp quân thù như rác như rơm

Nào chiến sĩ nhất tề xông tới

Tên cùng lao, gươm giáo tấn công

Ầm ầm sụp núi lấp sông

Vùi chôn quân giặc hết mong tàn đời

Tiến lên chiến sĩ Đồng Bào

Tiến lên cả nước ta nào tiến lên.

*************

PHẦN 48

Giữa thu trời đất vẩn còn xanh

Đông Hải mênh mông biển an lành

Ơ kìa thuyền chạy hàng lớp lớp

Hướng về Nam Hải chạy nhanh nhanh

Kia rồi eo biển sâu vào đất

Dạ Loan Môn Hải vắng vắng tanh

Hơn nữa tháng trời, thuyền vắng bóng

Bạch Đèn cọc trận đóng quanh quanh

Bủa giăng khắp nơi, chờ kình đến

Thủy triều lên xuống, diệt quân Ân

Hung tin vạn dặm rền đất Bắc

Giặc Ân bỏ mạng xác đầy sông

Eo biển Dạ Loan rền sông núi

Quân thù khiếp vía trận hỏa công

Quân Ân một mạng, không còn sống

Văn Lang từ đấy rạng cha ông

Con Cháu Tiên Rồng đâu có khác

Rạng danh Trung Hiếu, rạng non sông.

Đây nói về Cao Lạc Hải theo lệnh của Cao Lạc Hầu Vương thống lãnh 8 vạn quân đến Dạ Loan Châu, eo Hải Môn, khúc sông Bạch Đằng lợi dụng nước thủy triều lên xuống dùng cọc trận dùng hỏa công tiêu diệt chúng. Cao Lạc Hải tuân lệnh, điểm 8 vạn quân phần lớn giỏi về thủy chiến cấp tốc lên đường đến Dạ Loan Châu.

Đây nói về quân Ân ỷ mạnh xua quân sang bằng nước Nam với một thời gian ngắn. Khương Hoàng Nhân chia làm hai mũi tấn công vào cánh Đông Bắc Văn Lang, đường biển và đường bộ, đường biển do Tử Điền Phi làm Chủ Soái, đường bộ do Triều Chấn Lôi làm Chủ Soái. Triều Chấn Lôi thống lãnh đại quân xuôi theo sông Trường Giang tiến về Đông Hải, phần lớn là thủy quân lục chiến có nhiệm vụ chiếm lấy các Bộ, Châu, Quận, Huyện dọc theo bờ biển thuộc miền Diên Hải.

Triều Chấn Lôi thống lãnh 15 vạn quân, 1500 chiến thuyền lớn nhỏ, đánh chiếm các Châu trọng yếu Đông Bắc Hải Văn Lang như Dạ Loan, Hải Châu, Đông Hải Châu, Phúc Hải Châu thì coi như đã chiếm được Thất Khê Châu, Đình Hải Châu, Hải Hải Châu. Khi đoàn thuyền tiến ra biển khơi thời dừng lại cũng cố đội hình, thuyền lớn ở giữa, thuyền nhỏ bao bọc bên ngoài, ở xa nhìn tới như một con tàu khổng lồ đang di chuyển chầm chậm dọc theo bờ biển tiến sâu vào hải phận Văn Lang. Con tàu khổng lồ cách bờ biển độ chừng ba hải lý, 6 – 7 cây số, không bao lâu đoàn tàu khổng lồ đã vượt qua nhiều hải phận như Thất Khê Châu, Đình Hải Châu, Hải Hải Châu, Phúc Hải Châu, rồi tiến sâu vào hải phận Dạ Loan Châu có eo lớn sâu vào đất liền.

Trên một chiến thuyền to lớn có đề cờ chủ soái Triều Chấn Lôi, Triều Chấn Lôi là vị chủ soái văn võ song toàn, cơ trí hơn người, thống lãnh 15 vạn quân, bảy trấn chư hầu gồm Triệu, Tần, Tấn v.v..Triều Chấn Lôi nhìn thấy eo biển lớn sâu vào đất liền, liền cho đoàn thuyền dừng lại lật bản đồ ra xem, thì đã biết tới eo Dạ Loan Châu là nơi đổ bộ vào đất liền, thọc sâu và chiếm lỉnh các Châu, Bộ trọng yếu, cắt đứt giao thương, trục lộ giao thông, khống chế một vùng Đông Bắc rộng lớn đất liền cũng như hải phận đường biển.

Để tiến hành xâm lược thuận lợi đạt kết quả như ý muốn thì phải họp bàn kế sách tiến quân chu đáo và cuộc họp bàn ấy vô cùng sôi nổi nhưng rồi cũng đưa đến kết luận chung, những giải pháp cho là hợp lý nhất. Từ chiến thuyền lớn, thả xuống 20 chiếc thuyền nhỏ mỗi chiếc 10 người, đó toàn là những tay cao thủ, được tu luyện, rèn luyện trở thành những nhà thám tử, thám báo chuyên nghiệp dò la tin tức, theo dõi tình hình quân địch, những con chó săn nầy, đánh hơi tài tình, những tay trộm cắp thông tin lão luyện, moi móc tin tức khéo léo những con cáo thành tinh đầy biến hóa, trá hình luồn lách trong lòng địch, trong đêm tối phát hiện con mồi, để rồi kéo cả đàn cả lũ đến xơi.

Màn đêm buông xuống, eo Dạ Loan Châu tiếng sóng vỗ vẫn như ngày nào, ngọn gió Đông Nam vẫn mát lạnh, đêm hơi ẩm vào đất liền làm giảm cái nóng oi bức của ban ngày còn sót lại. Những ngọn phi lao vẫn hướng về bầu trời xa thẩm, điệu nhạc du hương, theo làn gió đưa đi phát ra từ lùm cây kẻ lá, ánh sao đêm nhớ ánh nắng chiều mờ màn tỏa sáng, mặc nước lung linh lấp lánh như nói với các vì sao rằng hãy cố gắng tỏa sáng hơn lên, đem ánh sáng về cho trần gian cho non sông nở cảnh bạc vàng nở cảnh giàu sang no cơm ấm áo. Kìa sao thế những đám mây đen xuất hiện, trăn sao u mờ, một cõi u buồn trổi dậy khắp quê hương.

Những chiếc thuyền con của giặc như những con quỷ ẩn hiện mang theo hơi lạnh len lõi vào hồn người những con quỷ âm thầm lặng lẽ chẳng khác nào loài chồn, cáo rình rập ăn đêm. Bổng tiếng quẩy làm nước tung tóe, thuyền giặc giật mình, có người liên tưởng đến cảnh cá sẽ ăn thịt chúng, chúng nghe trong xương tủy lành lạnh, nổi da gà, da ốc, có tên mật kém nổi lên sợ hãi, tay chân mất đi sự linh hoạt, chúng nghỉ đất Phương Nam đã huyền bí, con người Phương Nam còn lắm điều huyền bí hơn nữa.

Nơi thuyền con của giặc nhiều tiếng thì thào:

   Lạ quá, lạ quá, sao yên lặng thế nầy, không lẽ địch đã biết ta đến nơi nầy, nên đã có chuẩn bị trước.

Chúng luồn lách theo bóng cây cụm đá có một số phi thân lên bờ như bóng ma sâu vào đất liền và chúng đã phát hiện đèn thật là nhiều đèn, có lẽ dân chài lưới đêm về tụ tập nơi đây, chúng chui rúc như loài chuột, hết chỗ nầy đến chỗ khác âm thầm lặng lẽ rình mò như những tên ăn trộm, tiến sát đến chổ mà chúng cho là có cửa kín hoặc khám phá ra những bí mật.

Và chúng vô cùng kinh ngạc:

   Hình như dân chài nơi đây không hay biết một chút gì về tình hình chiến tranh, họ vẫn tự nhiên như không có chuyện gì xảy ra, cha con chồng vợ vẫn quây quần bên mái ấm, chợ đêm vẫn nhóm, kẻ mua người bán tấp nập.

Chúng dần dần lộ liễu bạo dạn tới sát chợ đêm, chúng đi sâu vào làng xóm, chúng nhìn những dân chài mộc mạc với bàn tay khéo léo khâu vá những mảnh lưới đã bị rách, chuẩn bị cho chuyến đánh bắt ngày mai. Những con chuột thám báo giặc Ân bạo dạn hơn, chúng lục lạo tìm ra cái mà chúng đang cần.

Có tên còn lên tiếng:

   Sao không thấy quân Văn Lang lãng vãng. Hay là chúng phục kích ẩn sau trong lòng chài.

Thế là chúng tản ra mất hút trong đêm tối. Hết canh ba 20 chiến thuyền giặc đã lao nhanh ra khỏi cửa biển. Chúng xầm xì với nhau:

   Mầy phát hiện được gì không?

Người nọ lắc đầu hỏi lại:

   Còn mầy thì sao? Ta đã đi suốt mấy canh giờ sâu vào làng chài, sâu vào thôn xóm nào có phát hiện ra quân Văn Lang. Đâu đâu cũng thấy một cảnh quan như không có chuyện gì xảy ra.

Người kia nói:

   Tao cũng thế lạ quá nhỉ.

Trong khi ấy trên gành đá biển. Một người không phải, là ba người mới đúng. Ba người đồng nói đủ rồi. Thì ra ba người đang để hết tâm ra đếm. Ba người đều quan sát đếm thuyền giặc ra vào đều ăn khớp trùng hợp nhau, nói xong ba người phi thân mất hút. Hết canh ba sang canh tư độ gần nữa giờ 20 chiến thuyền trinh thám của giặc đã về đến chiếc thuyền lớn.

Đội thứ nhất báo cáo:

   Chúng thuộc hạ gồm bảy mươi người. đi sâu vào làng chài nghe ngóng dọ thám. Thấy nơi đâu cũng yên tỉnh như không có chuyện gì xảy ra, không có sự chuẩn bị nào cả. Sinh sống bình thường như không hay biết chuẩn bị có chiến tranh. Không phát hiện ra một khả nghi nào cả. Nói tóm lại không tìm đâu ra chứng cớ cho chuẩn bị chiến tranh. Cũng như quân Văn Lang chẳng thấy một tên.

Đội thứ hai báo cáo:

   Bẩm Chủ Soái. Chúng thuộc hạ gồm 70 người. Thuyền ta len lõi vào các thuyền neo đậu của dân. Cũng không phát hiện được gì ngoài gia đình chung bửa tối. Rồi làm những chuyện thường ngày thường thấy ở dân chài, như vá lưới, móc chì, cột phao, móc câu. Không hề hay biết chiến tranh sắp xảy ra.

Đội thứ ba báo cáo:

   Bẩm Chủ Soái. Chúng thuộc hạ gồm 70 người đã khảo sát các thuyền đánh cá lớn, nhỏ có hơn nghìn chiếc, thuyền đều trống rổng chẳng thấy một tên lính quân Văn Lang nào cả và các chủ thuyền chỉ lo công việc chài lưới mà thôi không phát hiện những khả nghi.

Nghe ba đội thám báo, báo cáo qua tình hình cảng cửa eo Dạ Loan Châu thì lấy làm ngạc nhiên như không tin ở lỗ tai mình, nhưng đây là sự thật một sự thật ngoài sức tưởng tượng của một người xưa nay vẩn nỗi tiếng là diệu đoán như Thần.

Triều Chấn Lôi triệu tập cuộc họp khẩn cấp, phổ biến tình hình dọ thám cho các tướng nghe rồi đưa đến kết luận:

   Có lẽ quân Văn Lang dồn hết lực lượng đối đầu chống trả nhiều mũi tấn công của ta qua đất liền với khí thế dời non lấp biển lo chống trả còn không kịp, không ngờ quân ta tấn công đường biển nên mới không có sự chửng bị như vậy, đây cũng là cơ hội cho chúng ta tấn công bất ngờ giành lấy mọi thắng lợi, làm cho quân Văn Lang trở tay không kịp, chúng ta thọc sâu vào đất liền đổ bộ lên các Châu, Quận, Huyện nội trong ngày nay tất cả chuẩn bị nghe lệnh.

**************

PHẦN 49

Một người chỉ huy tốt, trí huệ đầy đủ chỉ cần chiếm lĩnh trận địa trước, mặc sức bố trí giăng bẫy chủ động mọi tình thế đưa địch vào cạm bẫy của mình, địch giặc tới sau liền bị đánh lừa, đánh giá sai về tình hình thực tại bày ra trước mắt để rồi dẫn đến sự thất bại, thất bại thê thảm. Giặc tới sau, còn ta thì tới trước chủ động trận địa, tất nhiên ta sẽ có ưu thế về mọi mặt, chủ động mọi tình thế, còn giặc rơi vào tình thế hoang mang dẫn đến thiệt hại lớn không sao tránh khỏi.

Đã nắm thế chủ động, thì hành động phải đúng lúc đúng thời, đúng nhược điểm yếu huyệt của giặc mới có kết quả cao, nếu không như thế, ra tay không đúng lúc, manh động thiếu suy nghĩ, thì ngược lại phần thắng sẽ không hẳn nghiêng về ta có thể gây ra tổn thất lớn lao, chính mình hại lấy mình, chỉ cho giặc lạy ông tôi ở bụi nầy dẫn đến thất bại nữa là khác.

Phàm muốn dụ địch lọt vào kế bẫy của mình cách tốt nhất là để địch phán đoán nhận định sai về mình, có thể nói một cách dể hiểu, ta hiểu về địch quá rõ còn địch hiểu về ta quá ít, luôn luôn nhận định đánh giá sai lầm, có thể nói ta là con Rồng, địch nghỉ là rắn, ta là cọp địch nghĩ là dê, heo. Nơi trận địa ta giăng lưới, giăng bẫy cùng khắp mà chúng nghĩ là không, cái phép nghi binh biến quân tướng thành dân chài lưới, biến thiệt thành giả, biến giả thành thiệt, đánh lừa giặc đưa giặc vào chổ nguy hiểm không lối thoát.

Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc là cuộc chiến tranh vĩ đại, đầy chính nghĩa tinh thần luôn luôn ở thế mạnh, sẵn sàng hi sinh vì Tổ Quốc, còn ngoại xâm bao giờ cũng ở thế gian ác tà Đạo, phi Nghĩa, ở thế bất lợi đối với nhân loại tiến bộ khắp thế giới mà còn liên kết chống trả mạnh mẽ, những con người lòng lang dạ thú sống theo lối sống tàn bạo, chuyên làm hại nhân loại con người bạn bè láng giềng anh em. Khả dĩ ta thắng được ngoại xâm là vì ta có truyền thống Chính Nghĩa, truyền thống chống ngoại xâm lại có nền Văn Hóa Cội Nguồn, Hiến Pháp dựng nước và giữ nước, Văn Hóa Cội Nguồn đã cho ta trí tuệ, một thứ vũ khí vô cùng lợi hại, nghiền nát quân thù.

Kế sách chống ngoại xâm là kế sách lâu dài hiểu rõ ý đồ xâm lược của giặc, luôn luôn đánh vào chỗ giặc không ngờ tới, hết bất ngờ nầy đến bất ngờ khác, luôn rơi vào thế bị động, khiến giặc mờ mịt đối phó khó khăn không thể tấn công ta hay xâm lược theo ý đồ của giặc được. Cách đánh biến hóa như sau, nêu ra một phần nhỏ, ví dụ một sợi lông trong con người, có thể nói một cách dễ hiểu, binh pháp chống ngoại xâm nhiều như lông, tóc, râu mọc trên thân thể con người, nhưng nêu ra đây chỉ một sợi lông làm ví dụ mà thôi mà cha ông ta đã từng sử dụng trong công cuộc bảo vệ Tổ Quốc, bảo vệ Độc Lập dân tộc.

Ví dụ:  giặc Ân tấn công vào mục tiêu A nhưng mục tiêu A trống rỗng không có gì, làm cho giặc lạc phương hướng, tối tăm mù mịt rơi vào thế khủng hoảng bị động. Từ mục tiêu B mục tiêu mà giặc đánh giá là không có gì, bất ngờ tung ra đòn chí tử giặc trở tay không kịp dẫn đến thất bại lớn. Lúc nầy giặc đã thấy rõ mục tiêu B liền chủ động tấn công mục tiêu B, mục tiêu B giả thua bỏ chạy dụ giặc vào cạm bẫy C, mục tiêu C bất ngờ tấn công làm cho giặc hoang mang không biết đâu mà chống trả vì chống trả sẽ rơi vào cạm bẫy tiếp theo. Mục tiêu B từ thế giả thua bỏ chạy biến thành mục tiêu D thành thế bao vây, đồng loạt các mục tiêu tấn công, xé giặc ra từng mảnh nhỏ, khúc nhỏ, không liên kết sức mạnh được, từ một con mãng xà tinh khổng lồ thành nhiều con rắn nhỏ, chỉ cần một con bìm bịp cũng nuốt được nhưng đây chỉ là một đầu lông binh pháp trong vạn vạn đầu lông binh pháp mà ông cha ta đã áp dụng bảo vệ nền Độc Lập dân tộc thời Hùng Vương kéo dài 2.622 năm giữ nước, cộng thêm 79 năm dựng nước thời Quốc Tổ 2.701 năm ở thời Thượng Hùng Vương và Hạ Hùng Vương.

Trên phương diện cầm quân, sách lược, chiến lược, chiến thuật, đoán trước ý đồ của giặc, tương kế tựu kế, mưu mẹo, thủ đoạn, mượn lực, nương lực thủy, hỏa, phong, kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, kết hợp thiên nhiên để chiếm lĩnh thượng phong, giành lấy chủ động trong mọi thời cơ gây ra tiếng vang lớn mà Văn Hóa Cội Nguồn vẫn là nòng cốt của mọi sự thành công. Vũ khí tâm lý là thứ vũ khí dù ở thời nào cũng có giá trị cao nhưng không phải ai cũng sử dụng được nó mà phải có tiến trình độ biện chứng cao, cả tinh thần lẩn vật chất. Đánh đòn tâm lý làm hoang mang tinh thần của giặc, đưa giặc đến chổ giảm sút tinh thần chiến đấu, mất niềm tin đi đến chổ nghi ngờ, phàm nhiều nghi ngờ thì gươm Huệ không còn sắc bén nữa, không làm chủ được tình hình dẫn đến liên tục phán đoán sai lầm đưa giặc vào thế diệt vong.

Xét về cục diện quân ta ít hơn quân địch, thế mà quân địch luôn luôn rơi vào thế bao vây của ta, cũng với cái câu mạnh dùng sức, yếu dùng chước, mượn lực, nương lực mà thôi, cũng như mượn gió hạ cây, dùng ròng rọc, đòn bẩy để nâng vật nặng, cũng như to lớn gấp chục lần ta. Thật ra hai bên giao chiến đâu cứ phải quân số gấp nhau mười lần mới tiến hành bao vây tiêu diệt địch, chúng ta chỉ cần áp dụng kế sách xé nhỏ lực lượng bằng những đòn đánh có chủ ý, làm cho giặc phân tán lực lượng bất ngờ bao vây tiêu diệt địch.

Nói về Cao Lạc Hải là người đa mưu lắm trí, hiểu rõ quân giặc gấp đôi quân mình nên luôn luôn dùng cơ trí đối đầu với giặc, vận dụng nước thủy triều lên xuống làm lợi thế để đánh giặc, dùng cọc trận bao vây thuyền địch dùng hỏa công tiêu diệt chúng. Muốn làm được thế, chúng ta phải phán đoán đường đi nước bước ý đồ xâm lược của giặc giăng bẫy chờ chúng đến lừa chúng lọt vào thế trận bao vây tiêu diệt. Ván cờ ít nhất cũng phải tính ba bốn nước, sự kết hợp đúng lúc, đúng thời, đúng kế sách, đúng tầm phản công ăn khớp với thủy triều lên xuống mới có kết quả cao.

Cao Lạc Hải bằng ra lệnh:

   Mai Xuân Lành nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 3 vạn quân, trưng dụng hơn 1 nghìn chiếc thuyền lớn, nhỏ đánh cá của ngư dân vận chuyển cọc, chờ cho thủy triều xuống thì đóng cọc dày xuống lòng sông kéo dài 8 – 9 dặm ở khúc sông Bạch Đằng Giang, nội trong năm ngày cho xong trước khi giặc đến.

Cao Lạc Hải còn dặn thêm bao điều bí mật, chỉ thấy Mại Xuân Lành gật đầu lia lịa nói thuộc hạ tuân lệnh.

   Thi Đại An nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 3 vạn quân nhanh chóng đóng 6 nghìn bè lửa lớn tẩm dầu khi có lệnh, phân ra làm hai, khi nước thủy triều lên ta đánh hỏa công từ cửa biển vào theo nước lên, khi nước thủy triều xuống ta đánh hỏa công theo nước rút từ đất liền ra cửa biển.

Cao Lạc Hải còn dặn thêm bao điều bí mật nữa chỉ thấy Thi Đại An tướng quân gật đầu lia lịa nói thuộc hạ xin tuân lệnh rồi điểm quân khẩn cấp thi hành nhiệm vụ.

   Lê Công Minh nghe lệnh. Có thuộc hạ, tướng quân điểm 2 vạn quân đóng 4 nghìn bè lửa tẩm dầu khi có lệnh, ẩn dấu khéo léo trong làng chài, khi có lệnh tấn công thì lao ra đốt thuyền giặc.

Cao Lạc Hải cũng dặn thêm bao điều bí mật chỉ thấy Lê Công Minh nói thuộc hạ xin tuân lệnh rồi điểm quân ra đi. Thế là 8 vạn quân mười mấy tướng ai nấy đều nỗ lực hoàng thành sứ mệnh đã giao.

Nói về eo Dạ Loan Châu, khúc sông Bạch Đằng Giang là vịnh cửa lớn nhất thời bấy giờ, một trong nhiều cửa vịnh Đông Bắc Văn Lang, thuyền bè tấp nập ra vào đông đúc, thuyền đánh cá thuyền buôn lên tới hàng nghìn nghìn chiếc, giao thương với các Bộ, Châu, Quận, Huyện dọc theo bờ biển cùng các đảo biển xa gần lớn nhỏ, hơn một nghìn thuyền lớn nhỏ thuộc của dân được trưng dụng vào trận đánh nầy, cộng thêm 500 chiến thuyền chủ lực quân, thủy quân lục chiến, quân Văn Lang phải nói thuyền đối thuyền ta còn kém giặc xa, nhờ vận dụng thuyền dân nên kế hoạch đã hoàn thành mau chóng trước khi giặc đến.

Nhờ thời gian thoải mái nên mọi kế hoạch giăng bẫy càng thêm chu đáo, đóng tuồng như thật phải nói là tinh vi không chút sơ hở qua mặt thám thính của giặc. Với mạng lưới thám báo xuất sắc của quân Văn Lang mỗi sự động tịnh của giặc đều không qua được sự giám sát của ta, thông tin cập nhập liên tục và đã phát hiện theo dõi thuyền giặc cách xa hàng chục hải lí. Nhờ cơ trí hơn người Cao Lạc Hải đón được ý đồ của giặc, tương kế tựu kế lập ra nhiều kế bẫy, đánh lừa sự khôn ngoan của giặc nhất là đánh lừa quân dọ thám của giặc, thật ra dân chúng ở Dạ Loan Châu đã được lệnh di tản từ lâu nhất là eo Dạ Loan dân cư ở hai bên sông Bạch Đằng. Cuộc sống bình thường của dân chài chẳng qua là đóng tuồng của quân Văn Lang mà thôi, những dựng cảnh đóng tuồng như cha con chồng vợ quây quần ăn cơm tối, như chợ đêm bán mua nhộn nhịp, cảnh đang lưới, vá chài, móc chì, cột phao đều là đóng tuồng dựng cảnh giả như thật, đánh lừa mật thám của giặc mà thôi.

Cọp có móng, thời Rồng có vuốt

Độc sanh ra, thời có Độc diệt đi

Rắn trổ tài, gặp Đại Bàng đang thi

Mây gặp gió, thời lấy chi trụ vững

Gỗ mục nát, mà đòi chơi với lửa

Cốt tà gian, đâu thể thắng chánh chân

Đường kết cuộc, tan nát hết công danh

Loài cáo sói, cũng chỉ là cáo sói

Kiếp bùn nhơ, chỉ bay mùi hôi hám

Kiếp ngoại xâm, nào rạng chí thiên thanh

Kiếp ngoại xâm, nào rạng chí hùng anh.

Đây nói về Chủ Soái giặc Ân Triều Chấn Lôi nghe quân thám báo, báo cáo tình hình eo Hải Môn, Dạ Loan Châu, khúc sông Bạch Đằng Giang hầu như không có quân Văn Lang mai phục, hơi lấy làm lạ nhưng sau đó nghĩ: Có lẽ nhà nước Văn Lang bận lo chống trả nhiều mũi tấn công của ta qua đất liền, không ngờ quân ta tấn công cả đường biển khiến cho quân Văn Lang trở tay chẳng kịp hoặc không hiểu là ta sẽ đổ bộ vào eo biển địa phận nào hoặc có chuẩn bị nhưng không đúng chỗ hoặc nước Văn Lang độc lập quá lâu bất ngờ quân ta tấn công làm cho nhà nước Văn Lang trở tay không kịp, tập trung lực lượng còn mỏng, chủ yếu bảo vệ những nơi trọng yếu trước sức mạnh tấn công của ta.

Càng nghĩ Triều Chấn Lôi càng đắc ý, ra lệnh đổ bộ tấn công vào đất liền như sau:

   Tấn Hầu Công nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 4 vạn quân, 4 trăm chiếc thuyền giăng hàng ngang, hàng dọc tiên phong. Tràng vô đầy cửa chật sông. Làm cho dân chúng nơi đây khiếp đảm trước uy lực khí thế của quân ta. Khi thọc sâu vào đất liền, qua khỏi khúc sông Bạch Đằng. Đổ bộ lên đất liền, tiến quân đánh chiếm Đông Hải Châu. Tuân lệnh.

   Tề Yên Công nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 4 vạn quân, 4 trăm chiếc thuyền kế theo sau. Qua khỏi khúc sông Bạch Đằng đổ bộ lên đất liền. Tiến đánh Phúc Hải Châu. Tuân lệnh.

Tề Yên Công là em thúc bá Tề Hầu Công. Là người có tài quân sự, là tay lợi hại vô cùng.

   Tần Công Hầu nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 4 vạn quân, 4 trăm chiến thuyền. Cập bờ đổ bộ lên hai bên sông Bạch Đằng chiếm lĩnh làm chủ toàn bộ địa phận Dạ Loan Châu. Tuân lệnh.

   Ôn Trọng Hầu nghe lệnh. Có thuộc hạ. Còn lại 3 vạn quân, 300 chiếc thuyền. Tướng quân phân bổ lực lượng. Kiểm soát đường biển, đường sông, cửa ra vào eo Hải Môn Dạ Loan Châu hết sức nghiêm ngặt. Theo dõi phát hiện những điểm khả nghi. Tuân lệnh.

Thế là cuộc tấn công đổ bộ vào đất liền ồ ạt quy mô chưa từng có. Khi thuyền giặc tiến tới gần eo cửa Đại. Thì thuyền đánh cá của dân phát hiện liền đánh mõ, khua trống, dộng chiêng báo động inh ỏi. Tức thời thuyền dân túa ra đông nghịt la hét. Đánh trống, đánh mõ, dộng chiên rầm trời rầm đất, làm giặc hoang mang không rõ thực hư thế nào. Tinh thần Dân Văn Lang là thế nầy sao? Thấy khí thế quân chủ lực của giặc ào đến không bỏ chạy, mà còn kéo ra gây chiến không sợ sệt. Đây là lần đầu tiên mà giặc đã thấy, liền có chút nghi ngờ. Thuyền đánh trống, dộng chiêng không phải là thuyền dân. Nhưng không phải là thuyền dân là thuyền gì? Không lẽ thuyền quân Văn Lang lại tầm thường. Thuyền kia chỉ dùng cho đánh cá, còn dùng cho chiến trận chỉ đem đến thiệt mạng mà thôi.

Tấn Hầu Công vượt thuyền lên trên khảo sát tình hình, xem xét một hồi rồi trở về thuyền lớn, báo cáo lại tình hình:

   Bẩm Chủ Soái. Theo khảo sát của thuộc hạ thì không phát hiện ra chiến thuyền quân Văn Lang. Mà chỉ toàn là thuyền Ngư phủ đánh cá nhỏ bé thô sơ tầm thường, thuyền ấy mà đụng thuyền ta thời tan xương nát thịt cần chi mà đánh, lại nữa không thấy quân chủ lực nếu có cũng chẳng qua là quân địa phương mà thôi.

Triều Chấn Lôi là tay cẩn thận liền xuống thuyền con chạy tới đó quan sát một hồi. Lúc bấy giờ nước thủy triều đang lên mạnh làm ngập hết cọc trận, Triều Chấn Lôi lướt thuyền lên phía trước xem xét đánh giá tình hình, nhìn thấy toàn là thuyền dân, nhìn thấy cửa Đại eo Hải Môn rộng lớn sâu vào đất liền vài dặm mới tới khúc sông Bạch Đằng, ước lượng thuyền dân khua mỏ dộng chiêng khoảng độ 7 hoặc 8 trăm chiếc.

Theo lời quân thám báo thời tình hình nầy là đúng sự thật liền nhìn lên trời khoan khoái nói:

   Trời giúp ta rồi, trời giúp ta rồi.

Liền ra lệnh tấn công vào thuyền của dân. Tức thời 1.500 chiến thuyền của giặc khoáy động ầm ầm lao theo nước thủy triều tấn công vào thuyền dân, biết mình chống trả không lại gần 800 chiến thuyền dân hè nhau bỏ chạy thục mạng, quân Ân khoái chí ráo riết đuổi theo nhưng đuổi mãi vẫn không kịp, có người đã sanh nghi ngờ, nhìn cách sợ hãi chèo chống bỏ chạy thục mạng của người dân, thì không có điểm nào khả nghi nhưng đuổi hoài vẫn không túm được chiếc thuyền nào thời lấy làm lạ. Cứ theo đà rượt đuổi, thuyền giặc cứ thế nhanh chóng tiến sâu vào đất liền hơn nữa khúc sông Bạch Đằng Giang chỉ còn hơn hai dặm nữa thời coi như thuyền giặc đã nằm gọn trong ổ phục kích cũng như lọt vào cọc trận.

Tấn Lỗ Mưu là con lớn của Tấn Hầu Công, học nhiều hiểu rộng thấy có nhiều điểm khả nghi, thuyền dân sự mà sao lại khôn lanh như thế hình như có ý dụ ta sâu vào bẫy chúng liền thưa với Tấn Hầu Công:

   Thưa Cha cho thuyền dừng lại, đừng rượt đuổi nữa có nhiều chỗ nghi vấn.

Tấn Hầu Công nói:

   Nghi vấn chỗ nào, mặt nước mênh mông nào thấy quân mai phục, con không thấy chúng đang đuối sức kia sao, có thằng đã ngã lăng ra chống chèo hết nổi, con không thấy sao chiêng, trống im bặc, đánh gì nỗi nữa mà đánh, chúng chạy đâu cho thoát.

Bằng ra lệnh đuổi theo thật gấp, mồm la lớn:

   Đầu hàng thì sống chống lại thời chết.

Chúng gào thét dậy trời dậy đất uy hiếp tinh thần ngư dân. Cuộc rượt đuổi ấy cũng đã đến hồi kết thúc vì thuyền giặc đã sâu vào đất liền hơn 3 – 4 dặm nữa, tới khúc sông có nhiều chi nhánh tẻ ngang, tẻ dọc. Từ những khúc sông chi nhánh nầy, bất ngờ lao ra đông nghịt những chiến thuyền chủ lực, trang bị hiện đại, chống tên chống lao hữu hiệu xông ra xáp lá cà tấn công xối xã vào quân giặc, sức mạnh của những con kình ngạc đầy sung sức, lao vào quật ngã những con kình ngạc đã yếu sức vì cuộc rượt đuổi kéo dài khá lâu.

Nói về thuyền giặc đang ra sức rượt đuổi, tay chân mệt mõi, sức lực giảm sút hơn nữa bất ngờ bị đánh trở tay chẳng kịp, khủng hoảng rối loạn tinh thần chiến đấu, đao, thương, tên, lao ập tới xối xã như mưa trút, chết chóc thương vong vô số kể, cuộc giao chiến vô cùng khốc liệt, quân Ân càng đấu càng thiệt hại.

Nói về Chủ Soái Triều Chấn Lôi đang huênh hoang khoác lác, bổng có quân vào báo:

   Bẩm Chủ Soái quân ta đã bị tấn công.

Lộ vẽ hốt hoảng Triều Chấn Lôi hỏi:

   Cái gì? Tấn công ở đâu?

Quân lính thưa:

   Bẩm Chủ Soái tấn công ở khúc đầu chúng ta.

Triều Chấn Lôi nói:

   Có thiệt hại gì không?

Quân binh thưa:

   Bẩm Chủ Soái quân ta thiệt hại vô số kể.

Triều Chấn Lôi quát:

Cái gì? Ngươi nói cái gì?

Triều Chấn Lôi đứng hết nỗi té ngồi xuống ghế la hét inh õi:

   Địch từ đâu kéo đến?

Ai biết mà trả lời tên lính sợ quá chuồng mất tích, la hét để ai nghe, thay vào câu trả lời là hàng loạt tiếng còi đã hụ, Triều Chấn Lôi ngơ ngác:

   Không lẽ đó là tiếng tù hiệu lệnh tấn công, không lẽ, không lẽ.

Để trả lời câu hỏi ngơ ngác ấy là hàng loạt pháo hiệu tử chiến đã bắn lên trời, như báo hiệu ngày tận số của chúng, 15 vạn quân sẽ vùi xác tại đây. Đến lúc nầy toàn bộ quân Ân đã hiểu, chúng đã rơi vào thế trận mai phục tình thế vô cùng nguy cập. Quân Văn Lang từ đất liền chui lên, từ nhà dân chui ra, từ lùm cây ngỏ hẻm xuất hiện dọc theo hai bên bờ sông đông như kiến, quân reo ngựa hí vang trời.

Tiếng tù hù hụ Bạch Đằng Giang

Giặc Ân khiếp vía, hãi kinh hoàng

Đùng đùng pháo lệnh rền trời đất

Quân reo ngựa hí, khắp Dạ Loan

Trùng trùng lớp lớp quân vây kín

Gươm giáo lao tên dậy réo vang

Giặc Ân thua chí, đành sa lưới

Tháo chạy sao xong, lửa ngập tràng.

Triều Chấn Lôi biết mình đã lọt vào thế trận phục kích khó mà chống đỡ liền ra lệnh rút lui ra biển nhưng ôi thôi không biết từ lúc nào hàng nghìn bè lửa từ cửa biển trôi ra lúc nhúc mỗi lúc một nhiều, xen lẫn bè lửa là cả 200 chiến thuyền quân Văn Lang điều khiển bè lửa, chẳng khác nào như người lùa đàn vịt mỗi lúc mỗi tiếng tới gần thuyền giặc, tuy còn cách xa khoản 6 – 7 trăm mét nhưng mùi dầu đã nghe nồng nặc theo gió bay tới. Quân Ân vô cùng khiếp đảm, tính tấp vào bờ tử chiến, thì ôi thôi hàng nghìn bè lửa từ hai bờ lũ lượt lao ra mùi dầu càng thêm nồng nặc làm giặc khiếp hãi la hoảng: Hỏa công, hỏa công. Giặc Ân co cụm thuyền ra giữa dòng sông, giống như chiếc thuyền to lớn khổng lồ dài hàng mấy dặm.

Đây nói về hàng nghìn bè lửa từ cửa ùa vào tấn công trước, chỉ còn 300 mét nửa là tới thuyền giặc. Triều Chấn Lôi đang khiếp hoảng định ra lệnh cho thuyền xông vào vẹt bè lửa mở đường máu thoát ra biển. Nhưng bè lửa lúc nầy trôi đi rất chậm và hình như đứng lại hẳn. Như chợt nhớ ra điều gì. Triều Chấn Lôi nhìn xuống nước thời hiểu ra tất cả. Nước thủy triều đã rút. Đáng lý hàng nghìn bè lửa phải trôi giạt ra biển. Nhưng do gió Đông Nam thổi mạnh nên bè lửa chưa trôi theo dòng nước được. Như người sắp chết đang vớ được cái phao.

Triều Chấn Lôi hét lớn:

   Có lối thoát rồi. Chúng ta không những thoát, mà còn đánh cho quân Nam một trận nên thân. Trước sự ngu đần của chúng.

Bên cạnh Triều Chấn Lôi, Có một vị tướng luôn luôn bình tỉnh trước nguy hiểm. Chính là Tề Mạnh Thâu. Thấy tình thế đã thay đổi.

Tề Mạnh Thâu nói:

   Sao chúng ta không dùng hỏa công để tiêu diệt chúng. Khi tất cả thuận lợi đều thuộc về ta. Nước thủy triều rút mạnh, ngọn gió Đông Nam không còn tác dụng đẩy bè về phía chúng ta. Mà trôi ngược về phía chúng. Đây là cơ hội cho ta phóng hỏa, tiêu diệt chúng mở đường thoát ra biển.

Triều Chấn Lôi khen:

   Tướng quân quả là người cơ trí lanh lẹ, chờ thủy xuống mạnh là tấn công.

Liền ra lệnh cho binh lính chuẩn bị tên lửa, gậy ông đập lưng ông. Đốt giặc không xong trở lại đốt mình.

Nói về 200 chiến thuyền ra sức lùa hàng nghìn chiếc bè chất đốt tẩm dầu về phía thuyền giặc. Bất ngờ không trôi được nửa. Chuyển hướng chầm chậm trôi ngược ra biển. Quân Văn Lang kinh hoảng phát hiện nước thủy triều đạt đỉnh đang xuống mạnh. Ngọn gió Đông Nam quá yếu không đủ sức đẩy bè về phía giặc. Ngược lại trôi về phía ta. 2 vạn quân cùng 200 chiến thuyền đang rơi vào tình thế nguy hiểm. Không còn con đường nào tốt hơn là hy sinh cho Tổ Quốc sống còn, giăng hàng ngang cản bè không cho bè trôi ra cửa. Chặn đứng đường rút quân thù. Triều Chấn Lôi thấy quân Văn Lang liều mạng như vậy rởn da gà nổi da ốc khiếp đảm cho tinh thần quyết tử của quân Văn Lang sanh ra từ đất mẹ.

Lớn lên từ Tổ Quốc non sông

Lớn lên từ Quốc Đạo cha ông

Nay quê hương bị ngoại xâm dày xéo

Ơn Tổ Quốc đã đến giờ đền đáp

Biến thân hình thành lửa đốt giặc Ân

Nầy chiến sĩ hởi con cháu Rồng Tiên

Hãy tiến lên, gào thét tiến xung phong

Hãy tiến lên, vùi dập lũ ngoại xâm

Hãy tiến lên, làm rạng rở non sông.

**************

PHẦN 50

Đây nói về Đảo Đài Châu. Hay còn gọi là Đảo Thần Tiên. Chim muôn vạn thú, kỳ hoa dị thảo. Cây quả sum xuê. Là nơi lý tưởng cho người tu thiền luyện khí. Rời xa thế tục tu thiền đắc Đạo làm việc cho Trời. Trong số thế ngoại Cao Nhân ấy, phần nhiều là các bậc Tu sĩ nước Văn Lang. Nơi Am Vân Tự Động Hoàng Vũ, có vị Thánh Nữ Quang Âm Tu Tiên Đắc Đạo. Thấu hiểu huyền cơ Tạo Hóa. Đang lúc nhập thiền nhìn thấy tia sáng, từ hạ Thiên Vũ Trụ bay xuống Dạ Loan Châu.

Thánh Nữ Quang Âm liền tức tốc đằng vân bay lên đó, thời nghe tiếng trẻ sơ sinh khóc, à thì ra đây Tiên Nữ phụng mệnh Vương Mẫu đầu thai xuống trần, giúp quân Văn Lang đánh giặc Ân, bảo vệ chủ quyền Độc Lập Địa Long Vũ Trụ. Thánh Nữ Quang Âm liền vào nhà xem qua tướng mạo bé gái, thấy có nhiều tướng tốt nhất là cặp mắt sáng long lanh, Thánh Nữ gật đầu ưng bụng, đặc tên cho bé là Hạ Tiên, nói xong Thánh Nữ biến mất. Hạ Tiên càng lớn càng xinh đẹp lại thông minh hơn người, năm cô lên 12 tuổi Thánh Nữ năm xưa lại xuất hiện, ông bà họ Hạ liền mời Thánh Nữ vào nhà.

Thánh Nữ nói:

   Hạ Tiên là người ở Cung Vương Mẫu mà Vương Mẫu là trưởng nữ của Địa Mẫu Âu Cơ thế Thiên hành đạo theo di chí của Cha Trời, Long Hoa Cửu Huyền, Lạc Long Quân và Địa Mẫu Mẹ Trời Âu Cơ. Hạ Tiên đầu thai xuống trần làm rạng danh nhà họ Hạ, giúp nước đánh đuổi giặc Ân có cơ duyên với Lạc Tinh Quân, sinh con đẻ cháu phong Vương phong tước vinh hiển nhiều đời, tất cả đều nhờ hồng phúc ba đời họ Hạ, thờ Đức Cha Trời, Long Hoa Cửu Huyền, Lạc Long Quân cùng Địa Mẫu Mẹ Trời Âu Cơ. Ông bà chín đời họ Hạ đã siêu sanh về trời hết thảy rồi.

Ông bà Hạ Phúc Thịnh nghe Thánh Mẫu nói thế lấy làm vui mừng vô hạn, lạy tạ Thánh Mẫu cho biết điều nầy.

Thánh Mẫu nói:

   Ta đến đây đưa Hạ Tiên về Đảo học Đạo tu Tiên sau ra giúp nước lập công trong Thiên Đạo Cội Nguồn, Văn Hóa Tiên Rồng, Hiến Pháp Đại Đồng, Pháp Tạng, Luật Tạng Vũ Trụ.

Ông bà Hạ Phúc Thịnh vui vẻ nhận lời để cho Hạ Tiên theo Thánh Mẫu tu Tiên học Đạo thế là Thánh Mẫu đưa Hạ Tiên đi về am Vân Tự, động Hoàng Vũ, đảo Đài Châu, ngày đêm ôn văn luyện võ, tu thiền luyện khí thời gian cứ thế trôi qua.

Cho đến một hôm nơi am Vân Tự, động Hoàng Vũ cảnh non xanh nước biếc, mây lượng sường đồi, cây buông tàng lọng, hoa thắm sắc khoe, ong bướm lom khom say sưa mật ngọt, chim ca chim hót, mây ôm ngọn núi, nước tuông rốc rách, trời cao chót vót, lung linh giọt nước, quả ngọt triểu cành, biển kia vẫn một màu xanh, bồng lai Tiên cảnh nở nhành hoa xuân.

Trên tảng đá bằng lớn một vừng hào quang kỳ lạ mới đầu nhỏ sau to lên một cách lạ thường, gió dậy ầm ầm, đá bay cát chạy ai nhìn thấy cũng kinh hồn khiếp vía, sấm chớp dậy trời dậy đất, đinh tai nhức óc khiếp hoảng hồn kinh.

Bổng có tiếng khen:

   Con đã luyện được Thiên Quang Lôi Âm Sấm Kiếm rồi, một thứ kiếm pháp khó luyện, vô cùng lợi hại.

Thì ra người khen đó không ai khác hơn là Thánh Nữ Quang Âm thầy của Hạ Tiên. Hạ Tiên thâu kiếm lại chạy tới nắm lấy tay sư phụ nũng nịu nói:

   Sư phụ chọc con hoài.

Thánh Nữ Quang Âm nói:

   Năm nay con đã 20 tuổi còn nhỏ gì nữa, như trẻ con, con mau vào động tắm gội sạch sẽ, niệm danh hiệu Đức Cha Trời, Đức Địa Mẫu, Long Hoa Cửu Huyền ấn Quang Tối Thắng Như Lai, Tiên Cơ Địa Mẫu Dưỡng Sanh Như Lai mỗi vị 108 lần rồi lên Am Vân Tự gặp sư phụ.

Hạ Tiên vâng dạ rồi đi ngay.

Đây nói về Triều Chấn Lôi đang chờ đợi nước thủy triều xuống mạnh là tấn công vào quân Văn Lang mở đường tẩu thoát ra biển. Bổng trên không xuất hiện một cụm mây đen trên đầu thuyền giặc, người ta nhìn thấy hình như một con mãng xà to lớn, mỗi lần há miệng là một lần nỗi gió tuông về quân Văn Lang càng lúc càng dữ dội làm cho quân Văn Lang xây xẩm cả mặt mày, thất kinh hồn vía. Quân Ân thấy có Thần Linh tới giúp phấn chấn hò hét dậy trời dậy đất.

Cao Lạc Hải nghe trong tâm như có ai mách bảo hãy niệm danh hiệu Đức Cha Trời cùng Địa Mẫu Âu Cơ. Cao Lạc Hải như người sực tỉnh liền ra lệnh cho ba quân tướng sĩ niệm Đức Cha Trời Lạc Long Quân cùng Đức Mẹ Âu Cơ tức thời ba quân tướng sỉ thi nhau mà niệm, âm thanh vang dậy đất trời, kỳ diệu thay cuồng phong càng lúc càng lớn thế mà ba quân tướng sĩ vẫn bình yên vô sự. Xà Tinh nỗi giận phùng mang gào thét gió dậy ầm ầm cát bay đá chạy cây cối ngã nghiêng, quân Nam có người sợ quá quên mất niệm Đức Cha Trời cuồng phong quét trúng lăng quay bất tỉnh.

Bổng nơi đám mây đen phát ra tiếng nói:

   Quân Ân không tấn công còn chờ đợi gì nữa.

Triều Chấn Lôi như sực tỉnh ra lệnh cho đội quân tên lửa tấn công, tức thời thuyền địch xông lên tên lửa bắn ra đỏ trời đỏ đất. 200 chiến thuyền lúc nầy bị bè lửa vây phủ đang trôi dạt lần ra cửa biển, tên lửa giặc bắn đi xối xả nhằm bè chất đốt của giặc lao tới, giặc Ân khoái chí la lớn cháy rồi, cháy rồi hai bè, mười bè, trăm bè, ngọn lửa bốc cao ngùn ngụt thế là 2 vạn quân Văn Lang sắp đi đời tình thế đảo ngược.

Trong lúc 2 vạn quân Văn Lang sắp bị xóa sổ, nghìn cân treo sợi tóc, cá nằm trên thớt dao kề đến cổ sắp đi đời. Bổng nghe trên không tiếng Hạc kêu, một vừng hào quang tỏa sáng bao trùm đám mây đen, sấm sét rền trời rền đất, Xà Tinh bị Kiếm phép chém thành muôn nghìn mảnh rơi xuống nước thành loại lăng quăng hiện thành muỗi theo đòi nợ máu.

Hạ Tiên từ trên lưng Hạt nhảy xuống mũi thuyền quân Văn Lang chỉ Kiếm về phía thuyền giặc hét lớn:

   Đi.

Tức thời cuồng phong nỗi dậy ù ù đẩy hàng nghìn bè lửa, bè đang cháy cũng như bè chưa cháy lao nhanh về thuyền giặc.

Đây nói về Triều Chấn Lôi từ thế tử chuyền sang thế sinh, từ thế bị động chuyển sang thế chủ động, lại gặp cơ may có yêu tinh đến giúp, khoan khoái nhẹ nhỏm cả tâm hồn, thấy quân Văn Lang bị lửa nướng tới nơi, hét lớn:

   Có thế chứ, có thế chứ. Khí số phương Nam đã hết phải làm nô lệ cho phương Bắc nhà Ân của ta.

Múa tay múa chân hí hửng lắm nói:

   Trời đã giúp ta rồi.

Loài gian ác mà cũng có trời che chở giúp đỡ sao, tình thế tức thời đảo ngược, Triều Chấn Lôi nghe tiếng Hạc kêu, sau đó thời sấm sét nỗi lên ầm ầm hào quang chóa lọa, đám mây đen cùng cuồng phong gió bão biến đâu mất. Triều Chấn Lôi không hiểu chuyện gì đã xảy ra, còn đang ngơ ngác thời thấy hàng nghìn bè lửa bất chấp nước thủy triều đang xuống mạnh, hè nhau lao đến thuyền giặc, ngọn lủa bốc cao hàng chục mét hơi nóng tỏa ra khủng khiếp. Triều Chấn Lôi hồn phi phách tán thả thuyền con xuống chạy tránh lửa.

Chỉ còn hơn nữa giờ nữa là ló cọc, nước thủy triều rút mạnh nước chảy ào ào, pháo lịnh hỏa công bắn lên tức thời hàng nghìn bè chất đốt lao ra chật cả sông Bạch Đằng, theo nước rút hàng nghìn bè lửa bám vào thuyền giặc. Quân Ân khiếp hoảng la ré kinh hoàng. Triều Chấn Lôi lấy lại bình tỉnh ra lệnh cho thuyền tấp vào bờ tử chiến, tìm cái sống trong cái chết, bổng thuyền nặng nề di chuyển khó khăn.

Quân Ân phát hiện ra sự lạ đó la hoảng thét lên:

   Cọc, cọc.

Có thuyền đã bị cọc trận đâm thủng. Tiếng tù hiệu lệnh tên lửa tấn công tức thời hàng nghìn hàng vạn tên lửa hai bên bờ Bạch Đằng bắn ra đỏ trời đỏ đất.

Ôi lửa đỏ dậy trời dậy đất

Sông Bạch Đằng vùi xác giặc Ân

Đất trời Nam muôn đời huyền bí

Đã xông vào hết lối rút lui

Sấm nổ vang Bạch Đằng tử chiến

Trận hỏa công khiếp vía cháy thui

Dạ Loan Châu Bạch Đằng tỏa sáng

Mấy nghìn năm hùng tráng muôn thu

Gươm trấn Quốc rền vang còn đó

Mãi oai linh khiếp đảm quân thù.

Nói về hàng nghìn nghìn bè chất đốt tẩm dầu bốc cháy thời kinh khủng đến mức độ nào, Đông Tây Nam Bắc khúc sông Bạch Đằng chỗ nào cũng thấy ngọn lửa bốc cao, khúc sông lửa 15 vạn quân Ân những người còn sống sót, người ngựa thi nhau nhảy xuống nước lao vào chiến đấu tìm đường sống. Trận chiến nổ ra thật kinh người, tiếng gào thét kinh hãi của giặc Ân, phần thì lửa đốt, phần thì nước ghiềm, phần thì trúng tên lao xối xả thấy mà sởn tóc gáy, nổi da gà da ốc làm kinh động đến các vị Thần Tiên ở Hạ Thiên Vũ Trụ, ai nấy cũng lắc đầu ngán ngẩm cho cảnh chém giết nơi chốn trần gian.

Có người nói:

   Nhà mình không lo giữ, kiến thiết xây dựng cho dân giàu nước mạnh lại sanh tâm tà vong xâm lược nhà người ta. Chọc đến Con Rồng Cháu Tiên thì tránh sao khỏi những cái chết thê thảm, làm mồi cho lửa cho tôm cho cá, hồn sa Địa Phủ họa can qua.

Thơ rằng:

Giặc Ân tham vọng dấy binh qua

Tưởng đâu thâu tốm được Nam Hà

Phen nầy chắc được lên ông lớn

Béo người, béo cả ghế ông ta

Nào hay bỏ mạng nơi quang vắng

Dưới sông, đồng nội, bãi thả ma

Chết thê chết thảm, không toàn xác

Làm mồi cho Quạ, đất người ta

Đã là xâm lược, quân gian ác

Thay trời trừng trị, dễ gì tha

Hỏa Công Cọc Trận, vào đoạn kết

Giặc Ân vùi xác, kể hà sa

Bạch Đằng sấm dậy, rền đất Bắc

Nếu còn xâm lược, tấm gương soi

Con Cháu Tiên Rồng nào dễ hiếp

Bạch Đằng tái diễn để đời coi.

Nghe tin quân ta thắng trận, dân chúng di tản lũ lượt trở về, eo Dạ Loan Châu khúc sông Bạch Đằng Giang chứng kiến cảnh quân Ân vùi xác đầy sông làm mồi cho tôm cho cá, ca ngợi ăn mừng vui hơn ngày hội, dân chúng đem gia cầm gia súc, bò, heo, gà, vịt, dê, ngổng khao thưởng binh lính. Ca ngợi tài năng, ca ngợi công lao bảo vệ quê hương, non sông Tổ Quốc, bảo vệ Đồng Bào dân tộc, ca ngợi lòng dũng cảm anh hùng. Con chuột mà quật ngã con voi tài tình quá, tài tình vui hơn ngày hội, cái vui không có gì sánh nỗi, cái vui của lòng tự hào dân tộc hạ gục ngoại xâm.

Thôn Dạ Quang có một gia đình không mấy giàu có nhưng nỗi tiếng là hiền lành ai ai cũng kính nễ mến thương, sanh con hiếm muộn, một cô con gái năm 12 tuổi nghe nói cô theo thầy học Đạo, từ đó đến nay không nghe ai nhắc đến nữa, đó là gia đình ông bà họ Hạ.

Ông bà họ Hạ nghe tin giặc đến vừa sợ hãi vừa căm hận nói:

   Ai tới phá nhà nó mà nó sang qua phá nhà mình, quả đúng là một lũ cướp ác ôn, cầu nguyện cho quân Văn Lang ghiềm chết chúng.

Ông bà họ Hạ theo dân chúng lánh nạn hay tin quân ta chiến thắng vùi xác quân thù xuống sông Bạch Đằng đầy đất chật sông, ông bà không đến coi là vì ông bà vốn có cái tính thương người nên không muốn nhìn cái cảnh thê thảm ấy biết rằng đó là những kẻ đáng chết. Vừa về đến nhà ông bà nhìn thấy người con gái trẻ đẹp như Tiên, lom khom quét sân, ông bà hết sức ngạc nhiên nhưng sau đó nhìn ra Hạ Tiên. Ông bà vui mừng khôn xiết ôm Hạ Tiên khóc ròng nhất là mẹ Hạ Tiên càng sụt sùi hơn nữa.

Hạ bà nói:

   Để mẹ nhìn nào, con lớn quá xinh đẹp quá, chút nữa thời cha mẹ nhìn không ra.

Bà nhìn thấy con mình đẹp như Tiên Nữ giáng trần lòng vui mừng vô hạn.

Bà như nhớ ra điều gì nói:

   Con mới về không biết đâu, quân ta tài quá một trận hỏa công vùi chôn 15 vạn quân xâm lược.

Ông Phúc Thịnh nói:

   Nghe đâu quân ta như con chuột mà hạ gục con voi tài tình làm sao.

Hạ Tiên nói:

   Con cháu Rồng Tiên đâu dễ xơi, lũ giặc đi đời là phải.

Ông Phúc Thịnh nói:

   Đành là vậy nhưng cơ bản là quân ta có tướng tài nghĩ ra kế để tiêu diệt quân thù, nghe đâu Cao Lạc Hải làm Chủ Soái, không những tài cao học rộng, mưu trí hơn người, còn rất trẻ nghe 21 – 22 tuổi gì thôi lại là con của Tể Tướng Cao Lạc Hầu Vương Gia, khôi ngô tuấn tú lắm.

Ông bà Phúc Thịnh bổng nhớ lại lời Thánh Nữ năm xưa. Hạ Tiên sau nầy có chồng lớn lắm con đàng cháu đống đều làm quan cả, vinh hiển mấy đời.

Ông bà bổng nói:

   Không lẽ…

Nhưng rồi nhìn nhau lắc đầu, buông tiếng thở dài:

   Tiếc thật, tiếc thật. Duyên nợ do Trời.

Hạ Tiên thấy cử chỉ cũng như lời nói không đâu vào đâu của cha mẹ liền hỏi:

   Cha mẹ nói gì con không hiểu?

ông bà nở nụ cười tươi nói:

   Chuyện không đâu đấy mà.

Bổng nghe tiếng cười nói dòn dã của nhiều người, à thời ra đây là những người hàng xốm. Hạ Tiên đều biết họ, họ ùa vào sân có người đã lên tiếng:

   Ông bà bận việc gì mà chẳng đi xem, ôi vui lắm sung sướng lắm đáng đời lũ giặc chẳng còn một tên sống sót.

Người khác nói:

   Nghe đâu quân ta thắng vẻ vang là nhờ có Tiên Nữ cỡi Hạc xuất hiện cứu mạng 2 vạn quân lật ngược tình thế, nghe binh lính kể người Tiên Nữ cỡi Hạc ấy thần thông quảng đại, đánh với Yêu Tinh hào quang sấm sét nỗi lên dậy trời dậy đất. Yêu Tinh thua phép tan thây nát thịt, ba quân tướng sĩ còn kể Tiên Nữ từ lưng Hạc nhảy xuống mũi thuyền quân Văn Lang chỉ gươm về phía giặc tức thời cuồng phong nỗi dậy ù ù đẩy hàng nghìn bè lửa đốt tan quân giặc.

Ông bà Phúc Thịnh chạy ra hỏi:

   Có chuyện đó sao?

Có người nói:

   Binh lính ai cũng kể mà giả làm sao được, có người còn kể Tiên Nữ ấy chạy trên mặt nước vào bờ rồi biến mất, có người còn nói Tiên Nữ còn ở Dạ Loan Châu chưa về Trời.

Ông bà Phúc Thịnh mời bà con vào nhà, ai nấy đều trố mắt ra nhìn vì trước mắt họ một nàng Tiên xuất hiện. Hạ Tiên lễ phép:

   Con chào các cô các bác.

Có người nhớ ra:

   Con là Hạ Tiên đây sao?

Hạ Tiên gật đầu, ai nấy cũng vui mừng vô kể nắm tay Hạ Tiên vô cùng thân thiện:

   Cô Giáng Tiên đây mà, lối xóm thường gọi cô là Giáng Tiên có nghĩa là người Tiên giáng trần.

Sự ăn khớp trùng hợp ba quân tướng sĩ kể cùng câu chuyện học Đạo Hạ Tiên trở về, thấy thanh Kiếm cô treo lủng lẳng trong nhà và họ cũng đón được điều gì. Liền cung kính chúc mừng ông bà Phúc Thịnh, ông bà Phúc Thịnh như chợt hiểu ra, ông nhìn Hạ Tiên như một lời xác nhận, ông thấy Hạ Tiên làm thinh không phản đối, bà con ca ngợi xầm xì, thế là đã rỏ, ba quân tướng sĩ đang ca tụng con.

Ông bà Phúc Thịnh nắm tay con gái hỏi:

   Tiên Nữ cỡi Hạc là con đó sao?

Hạ Tiên gật đầu, bà như nằm mơ không tin đây là sự thật, một sự thật mà chỉ có trong mơ.

Bà hỏi:

   Con chim Hạc đâu?

Hạ Tiên nói:

   Thưa mẹ con chim Hạc bay về đảo rồi.

Bà con lối xóm chỉ nghi ngờ nhưng bây giờ là sự thật, một Hạ Tiên uy danh lừng lẫy làm khiếp đảm quân thù.

Đây nói về Cao Lạc Hải thống lãnh 3 vạn quân tướng sĩ tử chiến, thấy tình thế không theo ý muốn của mình, diễn biến vô cùng phức tạp, mây đen kéo đến, Yêu Tinh xuất hiện, tình thế đảo ngược bất lợi về mình phải nói là nguy cập đến nơi. Bổng nghe tiếng Hạc kêu, Cao Lạc Hải nhìn lên không trung thấy một vừng hào quang rộng lớn trùm xuống đám mây đen sấm chớp dậy trời đám mây đen biến mất, trên lưng Hạc một nàng Tiên Nữ xinh đẹp nhảy xuống thuyền cứu thoát 2 vạn quân Văn Lang, hóa trận cuồng phong đẩy hàng nghìn bè lửa về phía giặc, tình thế liền đảo ngược, quân Ân rơi vào con đường chết.

Cao Lạc Hải như người mất hồn, hình ảnh Tiên Nữ ấy cứ hiện lên, nhớ lại cách đây vài hôm đang lúc thiu thiu ngủ, có người đến mách bảo:

   Người con gái đến giúp ngươi tiêu diệt ngoại xâm là Hạ Tiên ở thôn Dạ Quang, ông bà Phúc Thịnh, ngươi tới đó cầu Hạ Tiên ra giúp nước.

**************

PHẦN 51

Đây nói về trận chiến một bên là Cao Lạc Hầu Vương, một bên là Lý Hạo Thiên càng lúc càng gay go đấu trí hấp dẩn, thế trận đang nghiên về phía quân Văn Lang. Con mãng xà tinh khổng lồ dài mười mấy dặm đã bị tấn công dữ dội, khúc đầu, khúc đuôi, khúc giữa bị tấn công rầm rộ. Lý Hạo Thiên quá bất ngờ lâm vào cảnh bị động mờ mịt tức đến muốn nổ tung lòng ngực. Liền cỡi cái bao lớn thường mang sau lưng xuống, miệng lâm râm đọc chú, dốc cái bao liền hai cái, cái thứ nhất hàng vạn vạn hạt đậu tuông ra, cái thứ hai hàng trăm hình vẽ tướng người nào người nấy vô cùng quái dị tuông ra. Lý Hạo Thiên phất cái bao hô biến, tức thời trời đất tối mù tối mịt hơi lạnh thấu xương, cuồng phong nỗi dậy ù ù, biết rằng lúc nầy trời đã hừng sáng, sáng mờ mờ sắp đi vào rạng đông, thế mà tất cả đều biến mất tối mù tối mịt, đen trời đen đất, quỷ ma gào thét kinh người xông tới tiêu diệt quân Văn Lang, đâm chúng ngã xuống rồi lại đứng lên, chặt đứt đầu liền mọc ra đầu khác, quân Văn Lang đánh sao lại, thi nhau ngã rạp chết thê chết thảm.

Lý Hạo Thiên thét lớn:

   Địa La Quỷ Yêu quét sạch chúng đi.

Thơ rằng:

Tiếng gào thét Quỷ Yêu, kinh khiếp

Dậy cuồng phong lớp lớp hiện ra

Ào xông tới nhe nanh múa vuốt

Xáp lao vào quật tới như mưa

Lý Hạo Thiên chỉ trời gào thét

Quỷ yêu Ma tàn sát mau lên

Ào ào trời đất rung rinh

Quỷ gào yêu thét xông lên mịt mù

Quân Nam ngã rạp tơi bời

Nếu không cứu kịp đi đời ba quân.

Cao Lạc Hầu Vương thấy Lý Hạo Thiên lợi hại như vậy cũng kinh hoàng liền rút Bảo Kiếm Trấn Quốc ra. Thủy Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm liền hút lấy thần lực Vũ Trụ, hào quang tua tủa phóng ra hóa thành Kiếm khí tức thời sấm chớp nỗi lên ầm ầm. Kiếm phong chém vào màn đêm u tối, Địa La Quỷ Yêu tan tành theo cát bụi, sau đó thời mưa to gió lớn càng quét quân Ân. Kiếm phong càng quét kinh người. Lý Hạo Thiên đành tử nạn bị sấm sét đánh cháy ra than. Quân Văn Lang không hề hấn gì nhưng nhìn thấy Kiếm phong cũng phải hốt hoảng.

Cao Lạc Vương thấy Lý Hạo Thiên đã chết liền thâu Kiếm vào vỏ, tức thời sấm sét biến tan đâu mất, mưa to gió lớn cũng dừng.

Cao Lạc Vương chỉ Kiếm vào quân thù hét lớn:

   Ba quân tướng sĩ con cháu Tiên Rồng tiến lên, tiến lên quét sạch lũ ngoại xâm, tiến lên, tiến lên.

Thơ rằng:

Thế là người ngựa xông lên

Gươm, Đao, Giáo, Mác, cung tên, gậy dùi

Cuồn cuộn như nước vỡ bờ

Trả thù rửa hận cho người chết oan

Kìa quân xâm lược hại dân

Nát tan thân xác hết mong sống còn

Quân reo dậy núi dậy non

Đánh cho lũ giặc nát tan linh hồn

Tưởng đâu Nam Quốc yếu hèn

Nào hay Nam Quốc Rồng nằm Hổ bay

Gươm Thiên trấn Quốc chuyển xây

Giặc Ân bỏ mạng ở ngay chiến trường

Văn Lang Rồng hội Phụng chầu

Muôn năm Độc Lập xua vào xuân ca

Phương Nam còn giặc can qua

Gươm Thiên còn đó chẳng tha mạng nào.

Con mãng xà 20 vạn quân giặc Ân, khúc đầu, khúc giữa đã bị Đại Bàng quân Văn Lang nuốt sạch, chỉ còn khúc đuôi bị quân Văn Lang đánh rát quá, tấn công ráo riết chống cự không lại thi nhau tháo chạy ngược trở lại nhưng chạy đâu cho thoát, vừa tới khúc giữa rừng U Minh Hạ thì gặp quân Văn Lang từ rừng ùa ra đánh, giặc Ân khiếp hoảng bỏ chạy toán loạn, bị sụp hào sụp hầm, bị cọc chông tẩm độc đâm chết vô số, người sống sót thì đạp lên nhau mà chạy trước, mưa tên bão giáo giặc Ân chết la chết liệt.

Nguyễn Sinh Kỳ thét lớn:

   Hãy quét sạch chúng đi tiến lên, tiến lên.

Thơ rằng:

Lòng căm thù bừng lên dữ dội

Giáo, Thương, Đao ồ ạt dậy non

Xông vào tiêu diệt ngoại xâm

Xông vào vùi xác giặc Ân xông vào

Kìa ngựa hí vang trời dậy đất

Tiếng xung phong gào thét xung phong

Đao, Thương sả xuống giặc Ân

Tàn đời lũ giặc hết mong tàn đời

Chạy đâu cho thoát quân trời

Chạy đâu cho thoát lưới người bủa giăng.

Giặc Ân chạy thoát trận càn quét phục kích tấn công như vũ bão của quân Văn Lang vài trăm tên chạy thục mạng khỏi rừng U Minh, nghỉ là mình đã sống cố sức vượt qua đồi Lâm Giao, bất ngờ pháo lệnh tử chiến bắn lên.

Đúng là:

Thoát Ma gặp Quỷ thất hồn kinh

Lưng mật còn thêm, gặp sấu kình

Tránh gươm gặp giáo người mệt lã

Lại nghe tiếng pháo lấp vùi chôn

Quân reo ngựa hí rền non biển

Tên Lao cuồn cuộn thét gào lên

Giặc Ân ngã quỵ, đời đi phổng

Xác người chồng chất, gọi kênh kênh.

Thế là 20 vạn quân Ân do Lý Hạo Thiên thống lãnh chỉ huy ồ ồ ạt ạt, rầm rầm rộ rộ xâm lược nước Nam đã tan theo mây khói bỏ mạng nơi sa trường vùi chôn ô nhục.

Đây nói về Cao Lạc Hải theo lời báo mộng của Thần Linh cách đây mấy hôm trước chiến trận xảy ra, Cao Lạc Hải sắm sửa lễ vật đến nhà ra mắt ân nhân, tỏ lòng thành kính tạ ơn cứu mạng ba quân tướng sĩ. Thôn Dạ Quang cách sông Bạch Đằng không xa, ông bà Phúc Thịnh từ khi biết con mình đại phá quân Ân trong lòng vui vô hạn nghỉ không sớm thì chầy cũng có quan tướng đến nhà nên ông bà càng vui hơn nữa, ngày đêm bận rộn lau bàn ghế, dọn dẹp nhà cửa, sân hè gọn gàng sạch sẽ. Tin đồn nhanh chóng, Hạ Tiên giúp quân Văn Lang đại phá quân Ân, ha gục 15 vạn quân, 1.500 chiến thuyền khiếp đảm quân thù danh vang như sấm. Nhà Hạ Tiên lúc nào cũng đông khách kẻ ra người vào như nhà lúc nào cũng yến tiệc, lời ca chúc tụng không ngớt.

Nghe tiếng ngựa hí vang thấp thoáng xa xa mấy chục người và hình như họ tìm nhà ông bà Phúc Thịnh: Họ là ai thế? Còn ai nữa toàn là quan tướng cao cấp mang theo phẩm vật tìm nhà ông bà Phúc Thịnh. Ông bà Phúc Thịnh không ngờ quan tướng đến sớm như thế vì đã đón biết trước nên không có gì là vẽ lúng túng, ông bà Phúc Thịnh ra tận ngõ đón các quan tướng Văn Lang, ông bà choáng ngợp trước vẽ uy nghi, người nào người nấy áo mão chỉnh tể oai phong lẩm lẩm. Trong số quan tướng ấy, có một người nổi bật hơn cả, như con Phụng Hoàng trước đàn gà, đầu đội kim khôi, mình mang giáp đồng, cỡi con ngựa ô to cao khỏe, tay cầm Long Đao khôi ngô tuấn tú oai phong lẩm lẩm: là ai thế? Còn ai nữa, đó là Cao Lạc Hải Chủ Soái thống lãnh ba quân tướng sĩ, tuổi còn rất trẻ nhưng văn võ tài trí hơn người.

Cao Lạc Hải thấy có người ra đón thì nghĩ đó là cha mẹ của Hạ Tiên liền xuống ngựa thi lễ nói:

   Vãn bối mạo phạm làm kinh động đến nhị vị lão bá xin thứ lỗi, xin thứ lỗi.

Ông bà Phúc Thịnh thấy Cao Lạc Hải ăn nói mô phạm kính trọng lễ phép với người lớn tuổi thời lấy làm vừa lòng lắm.

Ông bà Phúc Thịnh đáp lễ nói:

   Không có chi.

Rồi mời các quan tướng vào nhà vì nhà ông bà Phúc Thịnh không lớn lắm, nên có số quan tướng ở ngoài sân.

Cao Lạc Hải vào nhà khá lâu nhìn quanh nhìn quất không thấy Hạ Tiên đâu. Sanh nghi ngờ, hay là ta đã đến lầm nhà trong lòng bồn chồn không yên định lên tiếng hỏi, Ở thôn Dạ Quang có mấy nhà ông bà Phúc Thịnh. Ông bà Phúc Thịnh thấy Cao Lạc Hải tỏ vẻ sốt ruộc. Thời hiểu ý cười thầm trong bụng, ông bà nghĩ xứng đôi vừa lứa lắm.

Biết đã đến lúc gọi Hạ Tiên ra chào khách ông nói nhỏ với bà Phúc Thịnh vào gọi Hạ Tiên ra. Tức thời một bông Hồng rực rỡ, một vầng Trăng dìu dịu hiện ra.

Giọng nói như chim hót sơn ca:

   Tiểu nữ xin chào Quan tướng quá bước đến đây.

Cao Lạc Hải như lạc vào cung quảng bồng lai, nhìn sững Hạ Tiên không chớp mắt.

Người đâu đẹp lạ đẹp lùng

Cho ta ngây ngất cho hồn ngất ngây

Hồn ta bay chín tần mây

Lạc vào cung quảng bồng Lai xuân tình

Hoa khua ngọc thốt ngọt ngào

Xuân tình nở rộ bay vào cửa yêu

Vườn Hồng Hoa nở Bướm xiêu

Ai gieo duyên nợ, ai chiều nợ duyên.

Cao Lạc Hải thấy mình nhìn lâu Hạ Tiên như thế cũng hơi mất lịch sự. Liền chấp tay thi lễ nói:

   Tại Hạ là Cao Lạc Hải cùng các quan tướng đến đây tạ ơn cứu mạng.

Cao Lạc Hải cho người mang phẩm vật vào dâng lên ông bà Phúc Thịnh nói:

   Đây là tấm lòng thành của ba quân tướng sĩ tỏ ơn cứu mạng của Hạ Tiên tiểu thơ.

Hạ Tiên đáp nói:

   Chống ngoại xâm là bổn phận, là trách nhiệm của mỗi người dân Văn Lang. Giặc tới nhà thời trẻ già điều góp sức góp công tiêu diệt chúng. Không kể là trai hay gái đều có bổn phận như nhau. Đầu quân đánh giặc, quét sạch xâm lăng ra khỏi bờ cõi Văn Lang. Tiểu Nữ vâng lời sư phụ ra phò Vua Hùng quét sạch ngoại xâm.

Cao Lạc Hải cùng các quan tướng nghe lời vàng ngọc đó sinh tâm kính phục vô cùng. Lại chứng kiến tài năng rồi, quả ít người địch lại, Thần thông Pháp thuật vô biên.

Cao Lạc Hải nói:

   Ba quân tướng sĩ còn thiếu ngôi phó chủ soái. Mời Hạ Tiên đảm nhiệm cho.

Hạ Tiên nhận Lời. Cao Lạc Hải truyền lệnh quan tướng làm lễ ra mắt Hạ Tiên, theo nghi Lễ nhà binh.

Ông bà Phúc Thịnh nhìn thấy cảnh ấy mà rơi nước mắt.

Cao Lạc Hải nói:

   Trong số ngựa chiến, có một con ngựa khó mà hàn phục. Huyết Hản Long Câu, ngày đi nghìn dặm, hiếm quí vô cùng. Do một người đem đến tặng cách đây không lâu nói rằng nó tự tìm chủ của nó. Không biết phó chủ soái có hàng phục được không.

Liền cho người về doanh trại đem giáp mão dắt ngựa đến. Hạ Tiên nhìn con ngựa thời ưng ý liền vổ vổ đầu con ngựa nói:

   Ngươi cùng ta đánh giặc nhé.

Con ngựa hình như hiểu lời nói của Hạ Tiên hí lên đinh tai nhức óc. Hạ Tiên phóng lên lưng ngựa. Con ngựa Huyết Hản Long Câu thoáng cái là mất dạng, ai nấy đều trằm trồ khen ngợi. Lác sau Hạ Tiên trở về. Các quan tướng ai nấy cũng chúc mừng trùng hợp ăn khớp nhân duyên kỳ lạ. Có lẽ do Trời sắp xếp. Bổng có tiếng ngựa giòn giã rồm rộp phi tới đó là quân thám báo. Đem mật thư do Cao Lạc Hầu Vương gởi tới.

Nội dung thư như sau: Em khá lắm, Bạch Đằng vang dội chiến công. Thừa thắng xông lên. Tận dụng thêm một số thuyền lớn của dân dọc theo đường biển. Bọc lên Thượng Hải Châu, đánh bọc lên Vũ Giang Châu, bọc lên Bắc sông Trường Giang bao vây tóm gọn tên Chúa trùm xâm lược.

Cao Lạc Hải đưa mật thư cho Hạ Tiên xem, Hạ Tiên xem xong nói:

   Ta mau cấp tốc lên đường, không cho giặc có thời gian trở tay.

Ông bà Phúc Thịnh nghe Hạ Tiên nói thế, một nỗi buồn không sao nói được. Làm cha mẹ ai cũng thế, mới gặp con giờ lại xa con. Nhưng ở đời, ly hợp hợp ly cứ mãi xảy ra.

Hạ Tiên thấy cha mẹ buồn nói:

   Đánh tan quân xâm lược, con lại trở về hầu cha mẹ.

Ông bà Phúc Thịnh gật đầu. Hạ Tiên yên giáp, đao thương chỉnh tề lên ngựa. Oai phong lẩm liệt cùng các quan tướng trở về doanh trại. Ông bà Phúc Thịnh cùng họ hàng bà con lối xóm đưa tiễn nhìn theo cho đến khi mất hút gạt nước mắt trở về.

Có người nói:

   Ông bà Phúc Thịnh có phước quá. Âu cũng là nhờ ba đời Tu Nhân Tích Đức thờ Cha Trời Địa Mẫu.

**************

PHẦN 52

Đây nói về Hùng Cao Vương. Nhận thanh Hỏa Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm. Thống lãnh 30 vạn quân trấn thủ Trung Bắc Văn Lang. Chống lại 60 vạn quân Ân do Vi Tử Điển, Vi Tử Khải, thống lãnh ba vạn quân tướng sĩ ồ ạt tiến quân sâu vào nước Văn Lang chia làm ba giai đoạn.

Giai đoạn 1:  Là giai đoạn mở đầu thọc sâu vào nước Văn Lang. Tấn công vào những thành trì chủ chốt trọng yếu, còn các Châu, Quận, Huyện không đánh cũng tự đầu hàng. Bước đầu tiên là đánh thẳng vào Bắc Giang Giao Châu, Lạc Giang Giao Châu, Quý Linh Giao Châu, Kinh Giang Giao Châu. Chiếm lĩnh Nam Kinh Xích Quỷ. Thì coi như đã khống chế một số các Châu khác như. Động Đình Châu, Diêm Hồ Châu, Ninh Giao Châu, Hợp Giao Châu. Thì coi như đã hoàn thành giai đoạn một.

Giai đoạn 2:  Là chiếm cho được các Châu trọng yếu thọc sâu vào Trung Trung Văn Lang như Vân Giao Châu, Bạch Lang Châu, Phúc Giao Châu, Diên Giao Châu, Tây Giang Châu, Hạ Giang Châu, Hồng Định Châu, Lô Hồng Châu. Rồi tiến quân đánh thẳng vào Hợp Phố Châu Văn Lang. Chiếm lĩnh Nam Kinh, Kinh đô Văn Lang.

Giai đoạn 3:  Thì coi như khống chế hầu hết Trung Trung Văn Lang. Châu Văn Lang như:  Vân Giao Châu, Vũ Giao Châu, Phúc Giao Châu, Bạch Lang Châu, Lũng Trung Châu, Diên Giao Châu, Tây Tây Giang Châu, Hạ Giang Châu, Hồng Định Châu, Hà Hạ Châu, Lô Hồng Châu, Hồng Hạ Châu. Văn Lang Hợp Châu. Phong Châu, Vỉnh Châu, Hà Châu, Yên Châu, Tuyên Châu, Sơn Châu, Mộc Châu, Quan Châu, Phú Châu, Thái Đức Châu, Cao Châu, Túc Châu, Đường Châu, Nghĩa Châu, Hưng Châu, Lý Châu, Đông Châu, Việt Lang Châu. Còn các Châu thuộc phía Nam Văn Lang thời giặc chưa tính tới (Hoài Hoan, Cửu Đức, Nhật Nam). Như Linh Hải Châu, Hà Châu, Bình Châu, Hải Đông Châu, Tây Nam Ai Châu, Tam Diệp Châu, Thạch Hải Châu, Hòa Tây Châu, Hồng Lĩnh Châu, Kỳ Hải Châu, Quảng Hà Châu, Tuyên Hóa Châu, Thiên Trị Châu, Nam Hồ Châu v.v.. Và còn nhiều Châu Khác nữa.

Với khí thế hùng mạnh giặc Ân tấn công nước Văn Lang bằng một sách lược chưa từng có. Tây Văn Lang, Trung Văn Lang, Đông Văn Lang. Hùng Cao Vương phải đem hết tài năng để chống trả. Khi giặc tấn công cả đường thủy lẩn đường bộ. Quân giặc mỗi lúc một tiến sâu vào nước Văn Lang, và nuốt lần, nuốt hồi từng Châu từng Quận từng Huyện. Phải nói là người dân Văn Lang coi Tổ Quốc hơn mạng sống của mình. Lao vào cuộc tử chiến, biết rằng những trận đánh không cân sức nhưng vẫn cứ làm. Để chống trả cùng lúc hai mũi tấn công đường thủy cũng như đường bộ, phân bổ lực lượng bày ra những trận pháp bất ngờ tiêu diệt chúng.

Đây nói về Hùng Cao Vương bố trí lực lượng tấn công tiêu diệt giặc Ân xâm lược, theo đường bộ do Vi Tử Điển trực tiếp chỉ huy.

   Bùi Xuân Mẹo nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 3 vạn quân tới Huyện Lỗ An. Xã Tử Địa gò Mộ Ma. Lợi dụng địa hình phức tạp nơi đây, toàn là rừng còi đầy gai gốc, lại có nhiều gò đồi liên kết. Thuận lợi cho ta phục kích tiêu diệt chúng.  Đây là con đường bình địa thuận lợi duy nhất vượt qua Kinh Giao Châu, tiến đánh Xích Linh Giao Châu. Chọn cỡ 3 nghìn quân, cho binh lính đào hào, đào hầm ngụy trang, ẩn mình dưới đất để cho quân giặc đi qua không ngăn chặng chi cả. Giặc sẽ để lại một ít quân, canh giữ nơi hiểm địa nầy. Chờ trời tối kéo quân bao vây ở vòng ngoài không cho một tên nào chạy thoát. Còn vòng trong quân ta từ dưới đất chui lên. Chọn những người võ công cao cường ra tay thần tốc mau lẹ. Bất ngờ phất thuốc mê vào bọn chúng. Còn số khác thì nhanh như tia chớp tiêu diệt gọn sạch. Bảo vệ tuyệt đối bí mật của chúng ta, Và chính nơi đây sẽ là mồ chôn cuối cùng 30 vạn quân của chúng.

   Cao Đình Luân nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân điểm 10 vạn quân mai phục tại rừng Lâm Nguy, giáp ranh giữa Kinh Giao Châu và Xích Linh Giao Châu. Nơi đây có ba khu rừng như kiền ba chân: Rừng Ông Cọp, rừng Ma và rừng Quỷ. Tại đây sẽ xảy ra trận chiến giữa ta và chúng có thể nói là một mất một còn. Nếu giặc qua khỏi địa phận Lâm Nguy nầy thời giặc tiến đánh Xích Linh Giao Châu khá thuận lợi không có gì là trở ngại địa hình nữa, có thể nói giặc nuốt Nam Kinh Xích Quỷ nhanh chóng. Kinh Đô Giao Chỉ, Kinh Đô Cổ Kinh Dương Vương muốn nuốt Nam Kinh Xích Quỷ thời phải chiếm Xích Linh Giao Châu trước mà con đường thần tốc thời không có con đường nào tốt hơn là thông qua khu rừng Lâm Nguy nầy, để tránh hỏa công giặc sẽ đi qua khu rừng nhất là sau cơn mưa hoặc dừng chân thám thính nếu phát hiện có quân mai phục chúng sẽ tỏa ra bao vây sau đó dùng hỏa công thiêu rụi chúng ta. Hiểu được dụng ý của giặc thì ta mới thắng được giặc, vì vậy đề ra một chiến thuật hợp lý phương án hữu hiệu giặc không thể nào ngờ tới thì phần thắng về ta mới có hiệu quả cao.

Phương án A:  khi giặc đến còn cách khu rừng Lâm Nguy chừng 6 – 7 dặm thì cho quân dừng lại, vì vậy ta phải tính toán phục kích theo hướng dừng của giặc và cho quân phục kích ở hai bên, ngay đầu cổ con mãng xà mỗi bên 5 vạn quân kéo dài 5 – 6 dặm để giữ bí mật không cho giặc phát hiện, theo kế sách sau đây.

1:  Cho quân ẩn mình dưới đất, bộ binh gần sát chân địch, có thể nói một cuộc ẩn mình đầy nguy hiểm, đầy gan dạ cẩn mật ngụy trang khéo léo, với chiêu pháp nầy thì hiệu quả tiêu diệt rất cao nhưng nguy hiểm cũng rất cao, đội quân cảm tử.

2:  Là quân kỵ binh ẩn nấp phục kích cách xa địch, đừng để địch phát hiện.

3:  Là tấn công trước dự định âm mưu của giặc tấn công ta làm cho chúng bất ngờ trở tay không kịp, từ khu rừng tấn công ra gián xuống một đòn cực mạnh vào đầu cổ con mãng xà. Kế theo là hai bên tả hữu phục kích bất ngờ dưới đất chui lên như Ma, từ lùm cây xó bụi chui ra như Quỷ tấn công vào chúng sau đó là kỵ binh xông tới tấn công.

B:  Chúng ta dồn hết lực lượng tấn công vào đầu cổ con mãng xà ra sức tiêu diệt chúng, đánh bật chúng chạy tháo lui trở lại.

Con chuột mà đấu con voi

Phải nhờ mưu trí phải soi mưu Thần

Thắng giặc đòn bẫy nên cần

Nương vào thế lực lựa lần trí khôn

Phá rừng nào phải khó khăn

Chỉ cần mồi lửa cũng phen đi đời

Giặc Ân dù mạnh tới trời

Cũng không thắng được con người hiếu trung

Hết lòng vì nước vì dân

Hết lòng bảo vệ non sông hết lòng.

Đây nói về Vi Tử Điển là anh của Ân Thọ không được chọn lên ngôi Hoàng Đế, vì vậy luôn luôn mơ mộng đến thế giới riêng cho mình, thấy Ân Thọ muốn nuốt nước Văn Lang giàu có, cho đây là cơ hội nên nóng lòng biến nước Văn Lang thành thuộc địa nhà Ân, thống lãnh 30 vạn quân ồ ạt lao thẳng về thành Bắc Giang Giao Châu. Các Châu, Quận, Huyện lần lượt bị chúng nuốt vào bụng như nuốt con kiến, con giun, con dế, sự thắng lợi quá dễ dàng ấy đã làm cho quân lính giặc Ân coi thường quân Văn Lang như cỏ rác, càng lúc chúng càng kêu căng ngạo mạn.

Chúng nuốt thành Bắc Giang Giao Châu như nuốt con dế, phá thành Bắc Giang Giao Châu như phá ụ gò mối, càng ngày Vi Tử Điển hết chiến thắng nầy tới chiến thắng khác, luôn luôn gặt hái bao điều thuận lợi, không coi quân Văn Lang vào đâu cả và chúng bắt đầu trả giá cho sự ngông cuồng đó ở huyện Hàm Giang.

Theo kế sách của Vi Tử Điển chỉ cần dọn sạch con đường tiến, bảo vệ con đường lui, chiếm lĩnh các Châu, Phủ trọng yếu là thượng sách và cứ thế tiến sâu vào đất Văn Lang, vì thế giặc bỏ qua Kinh Giao Châu tiến đánh Xích Linh Giao Châu. Giặc muốn thôn tính thành Xích Linh Giao Châu một cách thuận lợi phải đi theo đường tắc, chỉ cần qua khỏi đồi gò Mộ Ma và rừng Lâm Nguy thì coi như tám mươi phần trăm thuận lợi.

Đây nói về Bùi Xuân Mẹo dẫn 3 vạn quân tới huyện Lỗ An, xã Tử Địa ẩn mình phục kích phán đoán giặc sẽ đi qua con đường nào, bố trí cho 3 nghìn quân đào hầm bí mật phục kích dưới đất, nơi gần nhất chúng đi qua trong các lùm cây bụi rậm gai gốc, còn 2 vạn 7 nghìn quân thời ẩn mình cách xa khu vực gò Mộ Ma một cách kín đáo, Bùi Xuân Mẹo cùng một số tướng lĩnh tới gần các đồi Mộ Ma phục kích, chỉ huy trận địa.

Nhìn về hướng Bắc xa xa, khói bụi mịt mù, không bao lâu thì nghe tiếng vó ngựa phi nước đại, có lẽ là đội quân thám báo dò đường cũng như thám thính tình hình những nơi hiểm địa như gò đồi Mộ Ma nầy. Thoáng chốc chúng đã đến, ước phỏng 50 tên, chúng tỏa ra quan sát khu vực Mộ Ma một cách cẩn thận, hầu phát hiện mai phục quân Văn Lang chúng sùng lục khắp nơi không phát hiện được gì liền cho ba người phi ngựa trở lại, có lẽ là chúng báo cáo tình hình, còn những tên còn lại tiếp tục theo dõi kiểm soát quan sát. Không bao lâu đại binh kéo đến như nước lũ tràn qua khu rừng còi Tử Địa Mộ Ma đông như kiến.

Bùi Xuân Mẹo cùng các tướng lĩnh vô cùng hồi hộp, hơn hai canh giờ gần hết một buổi đại quân giặc Ân mới đi qua hết khu Tử Địa, nếu không phải bật anh hùng nhìn thấy quân giặc đông đến thế thì khiếp đảm rụng rời tay chân. Đến lúc nầy Bùi Xuân Mẹo cùng các tướng mới thở phào nhẹ nhỏm, trút đi tảng đá nặng đè lên ngực, tiếp tục theo dõi quan sát diễn biến tình hình, quả không ngoài dự đoán của chúng ta, quân Ân ở lại trấn giữ đồi gò Mộ Ma nơi hiểm yếu nầy khoảng độ 2 nghìn quân, trời xuôi đất khiến may sao chúng đã lọt vào ổ phục kích của chúng ta.

Ông mặt trời sắp đi ngủ, nhìn khu Tử Địa tăng thêm vẻ huyền bí làm cho con người cảm giác sợ hãi như ẩn hiện đầy bóng Ma. Lũ giặc Ân cũng có cảm giác như vậy.

Có tên nói:

   Ta cảm giác ớn lạnh khi phải ở nơi đây.

Một tên chửi:

   Đồ nhát gan nơi đây chỉ là đồi hoang gò vắng toàn là gai gốc bụi rậm có gì mà sợ.

Nhìn những gò ụ liên sở bụi cây cụm lá khác biệt nơi khác, giống như Thế Giới của Ma.

Có tên khoác lác nói:

   Sợ cái gì? Địch đến ta còn không sợ, sợ gì Ma Quỷ. Ta có gươm, đao, giáo, mác lại có 2 nghìn binh không có con Ma nào dám tới đâu.

Đêm đã về khu Tử Địa càng thêm u tịch, lạnh lẻo thỉnh thoảng vài con vật chuyên ăn đêm hòa lẫn côn trùng rỉ rả mỗi lúc một thêm nhiều, trên bầu trời các vì sao cũng thi nhau xuất hiện, một cơn gió lạnh thoáng qua làm cho những tên lính giặc Ân cảm thấy rùng mình sởn óc, chúng nhìn nơi đâu cũng một màu đen ẩn hiện bóng Ma.

Có tên nói:

   Không phải là Ma đâu, đó chỉ là ảo giác mà thôi, yên tâm nghỉ đi, quân ta mới đi khỏi đây chưa xa không có con Ma nào đâu, làm gì có địch có Ma.

Đó là lời nói của tên cầm đầu, có tên phụ họa thêm:

   Nơi đây toàn là gai gốc, gò ụ ban ngày còn khó đi huống chi là ban đêm.

Ai nấy cũng nghe có lý sự đề cao cảnh giác đã giảm sút, vì mệt mỏi nhiều ngày chúng cho người canh giữ gác qua loa, đại đa số vừa nhắm mắt là đi vào giấc ngủ ngon lành. Đầu canh tư bỗng có tiếng động khẽ, rồi hai tiếng, ba tiếng, giặc Ân những tên vừa thiu thiu chúng nghe, chúng nghĩ đó chẳng qua là những con vật chuyên ăn đêm như chồn, cheo, chuột, rắn v.v.. Vì thế chúng không quan tâm đến mấy, những tên lính gác phát hiện có người tấn công thời không kịp la lên vì đầu chúng đã lìa khỏi cổ, quân Văn Lang từ dưới đất chui lên như Ma như Quỷ lanh hơn con sóc lượm đẹp những tên canh gác rồi ập vào tấn công những tên say ngủ, có một số chạy thoát để báo tin nhưng chúng làm sao thoát được khi mạng lưới người phục kích bao vây dày đặc lớp trong lớp ngoài, thế là không một tên nào thoát lọt tất cả đã bị tốm sạch.

Còn một số tên bị thuốc mê với tài khai thác thông tin, dụ dỗ khéo léo cuối cùng chúng cũng khai. Chúng nói:

   Chúng tôi có nhiệm vụ canh giữ nơi đây, phát hiện có địch thời cho người báo cáo ngay hoặc bị tấn công thời bắn pháo hiệu xanh đỏ cho các trạm bí mật khác biết. Nếu có quân ta kéo đến phải bắn pháo hiệu xanh 3 lần, nếu không bắn pháo hiệu lệnh hoặc bắn sai thời phải bắn pháo hiệu xanh đỏ cấp báo, nếu bắn pháo hiệu đúng là quân ta thời trạm ở đây cũng bắn pháo trả lại y vậy, nếu bắn sai đó là địch thời tức tốc tỏa quân bao vây tiêu diệt.

Đã nắm gọn thông tin ít nhất là ba người khai giống nhau mới có cơ sở để tin, liền cho 2 nghìn quân đóng giả làm quân Ân còn lại đào hào trận, hố trận cắm chông độc, trong vòng hai ngày một đêm cho xong, thì đàn cáo, sói thua chạy đến đây tấn công, chúng lọt lưới hào trận xơi chúng.

**************

PHẦN 53

Nói về Đề Cốt Ma là tướng tài được Vi Tử Điển coi trọng là vị tướng tiên phong võ công cái thế, trùm sò của ngành Yêu Thuật. Học trò của Lão Ma Tôn thống lảnh 10 vạn quân tiên phong. Nếu nói về tướng tài thời phải kể đến Vũ Tử Như là học trò của Lão Chúa Tôn của 36 loài bò sát Xà Tôn Chúa Yêu làm quân sư cho Vi Tử Điển tài năng không kém gì Triệu Công Tiển có khi còn hơn Triệu Công Tiển nữa là khác, cũng có một con Kim Thiền vô cùng lợi hại.

30 vạn quân do Vi Tử Điển thống lảnh không chia làm nhiều mủi tấn công. Nên tấn công vào điểm nào đó. Thời sức mạnh dời non lấp bể, đi tới đâu là tỏa ra quét sạch tới đó không có một thế lực nào chống đở nổi. Chúng như đàn Sói dữ, gặp Hổ xơi Hổ, gặp Voi xơi Voi. Thế mạnh như nước vở bờ. Chúng tin rằng không bao lâu, sẻ nuốt Nam Kinh Xích Quỷ. Và thật vậy chúng chỉ cần vượt qua khu rừng Lâm Nguy. Thời coi như Xích Linh Giao Châu đã nằm gọn trong tay chúng. Xích Linh Giao Châu mất, thời Nam Kinh Xích Quỷ chẳng mấy chốc sẻ rơi vào tay chúng.

Khi quân Ân còn cách khu rừng Lâm Nguy chừng 6 – 7 dặm, thời cho quân dừng lại với ba lý do.

1:  Trời đã về chiều.

2:  Chín mười ngày trời không mưa.

3:  Khu rừng Lâm Nguy địa hình phức tạp.

Có tới ba khu rừng, Thế như kiền ba chân bao trùm một vùng rộng lớn. Đồi dốc khó lường. Thế lực của giặc hùng mạnh. Nhưng Hùm sa lưới cũng khó mà thoát chết. Cẩn thận và dè dặc vẩn là thượng sách.

Vi Tử Điển ra lệnh cho Đề Cốt Ma cho quân thám thính. Rồi mới bàn kế sách tiến qua ba khu rừng nầy. Thế là Đề Cốt Ma cho 300 kỵ binh như 300 mủi tên lao thẳng về ba khu rừng. Với khí thế đó dù cho một con Nai cũng khó mà trốn thoát. Huống chi là quân mai phục thời lộ tẩy liền. Ba trăm kỵ binh sùng lục khắp nơi không phát hiện ra quân mai phục mà chỉ thấy thú rừng nhiều vô số kể. Hình như ba khu rừng nầy ít người lui tới thì phải. Có lẻ cũng không ít người bỏ mạng tại đây. Nên mới gọi là rừng Lâm Nguy, rừng Cọp, rừng Ma và rừng Quỷ. Ba trăm kỵ binh sùng lục hơn canh giờ vẩn không tìm đâu ra một bóng người. Mặt trời sắp lặng mới quay trở lại báo cáo.

Đội trưởng đội thứ nhất báo cáo:

   Bẩm chủ soái. 100 thuộc hạ đi, về đủ mặt. Sùng lục hầu hết rừng ông Cọp không phát hiện được gì, chỉ thấy vài con Cọp hoảng sợ bỏ chạy mà thôi. Hết.

Đội trưởng đội thứ hai báo cáo:

   Bẩm chủ soái. 100 thuộc hạ đi, về đủ mặt. Dẩm nát khu rừng Ma cũng không phát hiện có người chỉ thấy rắn nhiều vô số. Hết.

Đội trưởng đội thứ ba báo cáo:

   Bẩm chủ soái. 100 thuộc hạ đi, về đủ mặt. Sùng lục nghe ngóng dù chỉ là một con Thỏ cũng không phát hiện được. Không có quân Văn Lang phục kích, chỉ thấy cầm thú, chim chóc rừng Quỷ nhiều vô kể. Hết.

Đề Cốt Ma tức tốc báo cáo lên cấp trên Vi Tử Diển Vương gia:

   Bẩm Vương gia 300 kỵ binh đã sùng lục ba khu rừng, nhưng không phát hiện ra quân phục kích. Dù chỉ là một bóng người cũng không có. Dù chỉ là một điểm nhỏ khả nghi cũng không thấy.

Vi Tử Điển nghe báo cáo như thế lấy làm lạ hỏi:

   Sao lạ thế? Hay là quân Văn Lang chưa đến phục kích. Không lẻ nào không đoán được đường tiến quân của ta.

Tạ Hầu Công nói:

   Địch đón được đường tiến quân của ta. Nhưng còn phải cân đối lực lượng, hoặc địch hiểu ta rất chú trọng những nơi hiểm địa nhất là nơi hiểm địa quang trọng nầy, có cách đối phó tiêu diệt chúng.

Đề Cốt Ma nói:

   Có lý, có lý. Chúng làm sao phục kích qua mặt được ta. Chỉ cần có người là ta phát hiện. Cũng may cho chúng nếu có mai phục thời ta tỏa quân bao vây. Một mặt dùng hỏa công, chúng chạy đâu cho thoát. Xét ra chúng cũng có người tài đấy.

Vi Tử Điển nói:

   Tuy biết rằng hiểm địa không có quân mai phục, nhưng trời tối rồi không thể tiến quân qua được, việc gì cũng có thể xảy ra. Tiến chắc, đánh chắc, thắng chắc vẩn hay hơn.

Vũ Tử Như nói:

   Không những chúng hiểu rõ đường đi nước tiến của chúng ta và còn hiểu rõ nơi hiểm địa nầy rất quan trọng đối với chúng. Nếu chúng ta qua được một cách an toàn. Thời chúng làm sao giữ nỗi thành Xích Linh Giao Châu. Không bao giờ chúng bỏ qua nơi hiểm địa nầy đâu, mà đi bảo vệ chổ khác. Trừ khi chúng ít quân quá không làm gì được chúng ta. Hoặc chúng phục kích đâu đó chờ cho quân ta đi qua lọt vô khu rừng nào thời chúng xuất hiện dùng hỏa công tiêu diệt chúng ta. Nếu không tiêu diệt được chúng ta, thời chúng ta cũng bị một đoàn chí tử. Hao binh tổn tướng nặng nề. Không còn đủ sức tấn công chiếm lỉnh Xích Linh Giao Châu. Có lẻ chúng phục kích gần ba khu rừng chờ cơ hội tấn công ta. Không ngoài khả năng gần đây cũng có. Vì thế đối phó với chúng, ngay lúc nầy canh gác đề phòng cẩn thận. Chỉ cần qua khỏi đêm nay, thời ngày mai là ngày tử lộ của chúng. Chúng ta sẽ cho quân đốt ba khu rừng biến thành biển lửa nhanh chóng. Nếu chúng phục kích thời chúng sẻ thành than. Cháy nhà ra mặt chuột, kế hoạch của chúng sẽ bị phá hỏng làm kinh động đến các ổ phục kích. Khi chúng ta phát hiện thời tỏa quân bao vây, tiêu diệt trọn ổ. Khi ba khu rừng cháy sạch đã mở ra con đường thông thoáng tiến quân qua nơi hiểm địa một cách an toàn, dọn sạch gai gốc con đường tiến lui của chúng ta, để lại ít quân bảo vệ chỗ nầy như bao chỗ hiểm địa khác.

Vi Tử Điển nghe Vũ Tử Như nói hợp tình hợp lý, phân tích lợi hại minh bạch liền làm theo kế sách đó, ra lệnh cho toàn bộ quân Ân kéo dài đến 15 – 16 dặm, đề cao cảnh giác đốt đuốc canh gác cẩn thận, phát hiện khả nghi bắn pháo hiệu thông báo ngay.

Có lẽ Cao Hùng Vương cũng đã lường trước được điều nầy nên hai vạn quân khi di chuyển gần tới ba khu rừng liền cho quân dừng lại. Hùng Cao Vương cùng một số tướng lỉnh âm thầm lặng lẽ tiến đến gần ba khu rừng ẩn núp bí mật theo dõi động tịnh ý đồ của giặc, quả đúng như dự đoán chúng không cần bí mật cho người lặng lẽ âm thầm khám phá khu rừng mà là trận khám phá tàn quét lục lạo tìm kiếm quân phục kích nếu chúng phát hiện ra liền bắn pháo hiệu ngay. Quân Ân chia ra làm nhiều mũi bao vây tấn công tức khắc và trận hỏa công chúng tạo ra vô cùng kinh khiếp, khi thấy chúng bỏ đi lúc nầy trời đã xâm xâm tối. Hùng Cao Vương liền ra lệnh cho ba quân tướng sĩ âm thầm lặng lẽ vượt qua ba khu rừng tiến về gần quân giặc, nhẹ nhàng như mèo rình chuột.

Hùng Cao Vương nói:

   Chúng ta phải ra tay trước, khi chúng ra tay đánh ta. Nếu đêm nay không đánh, chúng sẽ giáng những đoàn bất ngờ chí tử. Qua khỏi đêm nay thời khó mà tiêu diệt được chúng, không những Xích Linh Giao Châu dẫn đến thất thủ mà ngay cả Nam Kinh Xích Quỷ cũng khó mà trụ vững.

Đây nói về Cao Đình Luân tính toán đường tiến quân của giặc, táo bạo đào hầm bí mật phục kích ngụy trang khéo léo là một việc làm đầy táo bạo, nếu giặc phát hiện thời đi tiêu chết sạch nhưng không táo bạo như thế thời khó mà tiêu diệt được giặc, khi giặc đông hơn ta gấp ba lần. Cao Đình Luân cũng hiểu: Vì sao ta không tấn công toàn diện con mãng xà mà chỉ tấn công ở khúc đầu, đó là một chiến thuật mang tính cách đột phá. Quân ta 12 vạn đánh thẳng vào khúc đầu quân giặc chỉ có 10 vạn mà thôi, giặc lại bị tấn công bất ngờ, ngoài sự chuẩn bị của chúng vì thế khúc đầu quân giặc sẽ bị đánh tả tơi, khúc giữa, khúc đuôi bị động hoang mang chỉ lo phòng thủ, nên khúc đầu con mãng xà sẽ bị đánh tan nhanh chóng, trở lại tấn công khúc giữa dồn khúc giữa thối lui trở lại, chúng sẽ lần lượt lọt vào ổ mai phục của chúng ta.

Cao Đình Luân hiểu rỏ ý đồ chiến thuật của Cao Lạc Vương Gia, đêm nay là đêm quyết định thắng hay bại chỉ một trận nầy, chết hay sống cũng chỉ một trận nầy.

Giặc Ân được lệnh ngừng nghỉ thời trời đã xẩm tối, màn đêm buông xuống vội vã, mới đó đã tối đen, che đậy những ổ mai phục càng thêm an toàn, ở đời có nhiều cái may mà cũng có nhiều cái rủi, tất cả đều do ý trời che chở hay gián họa, cái may ở đây quân ta phục kích như ý, giặc lọt vào ổ phục kích mà không hay, thuận lợi cho ta ra tay vô cùng.

Giặc Ân đèn đuốc sáng choang, canh gác cẩn thận, canh một rồi đến canh hai thời gian chầm chậm trôi qua, hết canh ba sang canh tư tất cả đều bình yên vắng lặng, quân Ân thở phào nhẹ nhổm chỉ cần qua một canh giờ nữa thời coi như một đêm dừng quân gần nơi hiểm địa an toàn.

Con mãng xà nầy khác hơn các con mãng xà khác, là bộ chỉ huy không ở đầu mà ở ngay quả tim của nó, đèn đuốc nơi đây sáng hơn chổ khác, đó là cuộc họp đến giờ nầy mới đi vào kết thúc, các quan tướng cấp cao của giặc bàn bạc những gì mà lâu đến thế? Còn bàn bạc gì nữa đó là bàn bạc về mưu mô chiến thuật vượt qua khu hiểm địa, tấn công chiếm lỉnh Xích Linh Giao Châu.

Bổng bầu trời mây đen kéo đến che khuất những vì sao sâu thẳm xa xa, gió Bắc thổi mạnh mang theo hơi lạnh như sắp đổ cơn mưa, đèn đuốc tắc ngúm, quân Ân la hét đốt đèn đốt đuốc lên. Kìa pháo lệnh tử chiến đã bắn lên, pháo lệnh của ai thế, còn pháo lệnh của ai nữa đó là pháo lệnh tử chiến của quân Văn Lang và thật vậy pháo lệnh vừa bắn lên thời nghe quân reo dậy đất ngựa hí vang trời. Quân Văn Lang phục kích gần đó ào ào xông tới tấn công gươm, đao, giáo mác trút xuống đầu giặc Ân như vũ bão.

Phó Soái giặc Ân là Đà Lữ Tôn xua quân chống trả không ngờ gặp đội quân thiết giáp mở đầu tấn công quân Văn Lang. Mở màn trận đầu Đà Lữ Tôn không phải là đối thủ xứng tầm với Cao Vương. Hùng Cao Vương đưa xe tấn công còn Đà Lữ Tôn thời đưa hàng tốt ra chống đở liền bị đội quân xe thiết giáp chém sạch, mã không giao chân, pháo không yểm pháo thế trận hổn loạn rời rạc. Quân Văn Lang xe, pháo, mã, tốt liên kết thành thế trận tấn công như cơn bão lốc, như nước vỡ bờ càn quét chém thôi là chém. Đà Lư Tôn đành bỏ mạng ngay trận chiến mở màn, quân Văn Lang thừa thắng xông lên hạ gục giặc Ân chết thôi là chết.

Nói về quân Văn Lang phục kích dưới đất, thấy thời cơ đã chín mùi bất ngờ từ dưới đất chui lên xáp chiến, hàng vạn quân binh tấn công vào quân Ân như ma như quỷ, quân Ân rối loạn mờ mịt không phân biệt được đâu là quân địch quân ta, còn quân Văn Lang thời khác hẳn, chủ động mọi tình thế, phân biệt rỏ quân giặc quân ta, như đàn mảnh Hổ xông vào đàn Cừu ngơ ngác xóa sổ hàng vạn tên, phay chúng như phay chuối, quân Văn Lang tả hửu xông vào kẹp cổ con mãng xà nghẹt thở để cho cánh quân Tây Nam nện xuống cái nào cái nấy như trời giáng, thế là đầu cổ con mãng xà đã bị đánh dẹp lép nát nhừ ra tương, 10 vạn quân âm hồn chầu địa phủ.

Đây nói về nơi quả tim con mãng xà các quan tướng cấp cao sắp sửa tan cuộc họp, bổng nghe pháo nổ tử chiến nổi lên, kinh hoảng hỏi:

   Chuyện gì thế? Chuyện gì thế?

Quân binh thưa:

   Bẩm Vương Gia địch đã tấn công ta.

Vi Tử Điển hốt hoảng ra lệnh:

   Quân ở đâu nằm yên ở đó không được di chuyển lộn xộn.

Đề Cốt Ma nghe trận chiến nơi đầu cổ con mãng xà xảy ra rầm trời rầm đất, phóng lên lưng ngựa trở về đầu con mãng xà để chỉ huy, lúc nầy bầu trời trong sáng trở lại. Đề Cốt Ma ngựa phi tới cổ con mãng xà thời thấy đội kỵ binh xạ tiển, đội kỵ binh thiết giáp, đội quân âm phủ đang càn quét quân Ân dữ dội có lẽ 10 vạn quân chẳng còn bao nhiêu.

Đề Cốt Ma râu tóc dựng ngược thét lên như sấm phi ngựa xông lên càn quét quân Văn Lang nhưng nào có dễ, đội quân thiết giáp bao vây chống trả. Nan Hổ địch Quần Hồ làm sao lại. Bị đánh tối tăm mặt mày.

Lúc nầy Vũ Tử Như đã xuất hiện, ra lệnh cho 5 vạn quân đầu khúc giữa cũng chính là đội quân chủ lực bảo vệ quả tim xông lên chiến đấu. Đội quân thiết giáp, đội quân xạ tiển, đội quân gươm, đao, giáo, mác xông lên tử chiến.

Thế là trận chiến kinh Thiên

Thế là trận chiến rung rinh đất trời

Quân reo ngựa hí dậy trời

Kiếm Đao gầm thét núi đồi ngã nghiêng

Mưa tên bão giáo liên miên

Thây người ngã đổ khiếp kinh thây người

Long tranh hổ đấu kể gì

Rền vang trận chiến kể chi sống còn

Quân Nam bảo vệ nước non

Kể gì mạng sống, tấn công dậy trời

Giặc Ân ỷ mạnh chém xơi

Quân Nam gan mật bằng trời tiến lên.

*         *         *

Kìa trận chiến bão tên mưa giáo

Kìa gươm Đao, tuông xối ào lên

Nước non ơi hỡi nước non

Thây người ngã xuống để cho hòa bình

Đánh cho lũ giặc hồn kinh

Ngông cuồng xâm lược bỏ mình tại đây.

**************

PHẦN 54

Vũ Tử Như xuất hiện điều binh khiển tướng làm cho trận chiến trở nên long trời lở đất, quân Văn Lang mỗi lúc một đông xáp chiến mỗi lúc mỗi thêm dữ dội, tấn công như cơn bão lốc quân Ân ngóc đầu lên không nỗi.

Đề Cốt Ma tức giận thét:

   Cho lũ mày chết.

Tức thời thổi ra một trận cuồng phong bão tố ầm ầm, quân Văn Lang ngã rạp đứng dậy không nỗi. Phó tướng quân Văn Lang là Đinh Thuận kìm ngựa trụ vững chống lại cuồng phong bão tố. Vũ Tử Như cũng phải kinh khiếp cho vị tướng Nam oai dũng phi thường nầy.

Vũ Tử Như nghỉ: Phải hạ sát tên nầy. Bằng lâm râm niệm chú, tức thời một vệt ánh sáng trong mình Vũ Tử Như bay lên không rồi nhắm đầu Đinh Thuận lao xuống, chỉ nghe Đinh Thuận thét lên một tiếng ngã nhào xuống ngựa khắp mình ra máu rồi chết tốt. Quân Ân thắng thế ào ào xông lên chém giết quân Văn Lang như chém chuối.

Nói về Hùng Cao Vương thấy cuồng phong nỗi dậy một cách kỳ lạ, biết là có yêu thuật xuất hiện liền phi ngựa đến nơi ấy thấy Cao Đình Luân đang phi ngựa xông vào trận cuồng phong chống trả lại quân Ân, cướp lấy xác của Đinh Thuận trước bầy sói, Đao Kiếm rợp trời.

Hùng Cao Vương thấy vệt ánh sáng bay lượn trên không, nhắm đầu Cao Đình Luân lao xuống. Cao Đình Luân cái chết chỉ còn trong gan tất. Hùng Cao Vương nhanh như chớp rút Bảo Kiếm Trấn Quốc ra, Hỏa Quang Tiên Thiên Bảo Kiếm chỉ vào vệt sáng lao xuống đầu Cao Đình Luân, chỉ nghe một tiếng nổ long trời lỡ đất, con Kim Thiền tan xác thành tro bụi. Vũ Tử Như kinh hãi đến sửng người.

Hùng Cao Vương chỉ Kiếm vào người Đề Cốt Ma. Kiếm khí tuông ra ào ào mang theo cả sấm sét phủ xuống đầu Đề Cốt Ma. Đề Cốt Ma hoảng quá tàn hình độn thổ biến mất, Hùng Cao Vương chỉ Kiếm xuống đất thét chui lên.

Đây nói về quân Ân đang ra sức chém giết quân Văn Lang, bổng trận cuồng phong tan biến mất, quân Văn Lang đang ngã rạp bật đứng dậy như Lau Sậy ào ào xông tới tiêu diệt giặc Ân.

Nói về Đề Cốt Ma sợ Kiếm Khí tàng hình trốn dưới đất, bổng thấy mình mẩy đau nhức như hàng vạn mũi kim châm liền trồi lên mặt đất ném ra một vật hô biến, tức thời rừng núi hiện ra trùng trùng điệp. Hùng Cao Vương kinh hoảng thấy quân Văn Lang đang lạc vào núi cao rừng thẳm ngơ ngác, Kiếm Khí tuông ra mù mịt sấm sét ầm ầm nhưng núi rừng vẫn không tan.

Vũ Tử Như nói với Đề Cốt Ma:

   Giết tên đầu sỏ ấy đi.

Đề Cốt Ma nói:

   Kiếm Khí quá lợi hại không thể tới gần được.

   Còn quân Văn Lang không tiêu diệt chúng được sao? Vũ Tử Như hỏi.

Đề Cốt Ma nói:

   Chỉ còn cách là biến ra loài mảnh hổ ẩn tàng theo pháp thuật tiêu diệt chúng mà thôi nhưng làm thế thời nguy hiểm lắm.

Vũ Tử Như nói:

   Nhưng ở vào thế cỡi cọp, leo xuống thời cọp cũng sẽ ăn, tìm con đường tử có lẽ thấy con đường sinh.

Đề Cốt Ma nghe nói cũng phải liền nuốt vội ba viên yêu thuật rùng mình hô biến, tức thời hiện ra ba con mảnh hổ to lớn phóng vào cảnh núi rừng yêu thuật biến mất.

Đây nói về quân Văn Lang còn đang ngơ ngác trước cảnh núi rừng trùng trùng điệp điệp không thấy quân Ân đâu nữa, đang lúc ngơ ngác thời thấy một đàn hổ dữ hiện ra dưới sự điều khiển của ba con hổ lớn tấn công vào quân Văn Lang. Quân Văn Lang chống trả quyết liệt nhưng chém bay đầu thời nó mọc ra đầu khác, chém gãy chân thời nó mọc ra chân khác, quân Văn Lang hốt hoảng rối loạn, bị cọp vồ chết lớp lớp, tình thế vô cùng nguy ngập. Hùng Cao Vương bổng nhớ linh Kiếm theo ý con người. Cao Vương thét to:

   Linh Kiếm hãy đánh tan rừng núi yêu thuật của chúng đi.

Thơ rằng:

Khiếp thay Linh Kiếm trời Nam

Lửa Thiên đỏ rực, hào quang chóa loài

Ầm ầm lửa cháy rực trời

Đốt tan núi phép rừng đồi còn chi

Sấm tuông sét đánh kiếm phi

Ầm ầm bão tố còn chi quân thù

Cuồng phong càn quét kinh người

Tan thây Hổ dữ rồi đời Yêu tinh

Đất trời nghiêng ngữa rung rinh

Quân Ân năm vạn khiếp kinh đi đời

Cốt Ma tan xác nát nhừ

Cháy thành tro bụi ôi thời còn chi

Tử Như khiếp vía hồn kinh

Lui quân chạy trốn mới mong sống còn

Điển Vương khiếp vía kinh hoàng

Ba quân tướng sĩ đạp càn tẩu dông

Quân Nam rượt đuổi hò reo

Rượt thôi là rượt xiết bao oai hùng

Quân Ân khiếp vía kinh hoàng

Chạy thôi là chạy bò càng bò lăng

Đạp nhầu bỏ mạng giáo quăn

Chết vài ba vạn còn chi vía hồn

Ôi gò Mộ Địa kia rồi

Điển Vương thở dốc cuộc đời thảm thê

Xâm lăng kết quả là đây

Chạy đâu cho thoát lưới vây trùng trùng

Chờ xem họa phúc kiết hung

Tới rồi đoạn kết ung dung đợi chờ.

Đây nói về quân Văn Lang bị đàn hổ dữ yêu quái tấn công nguy cập đến nơi, bổng thấy lửa dậy đỏ trời, hào quang chơm chớp, sấm sét ầm ầm, kinh thiên động địa núi rừng biến mất, hổ dữ chẳng còn. Kiếm Khí trùng trùng càn quét quân Ân dữ dội chết la chết liệt. Quân Văn Lang lấy lại khí thế ào ào xông lên. Đao, thương trút xuống giặc Ân như thác đổ.

Nói về Vũ Tử Như nhìn thấy Kiếm Khí mờ mịt, sấm sét ầm ầm, lửa dậy đỏ trời thời hồn phi phách lạc, nhớ lại lời truyền khẩu nói về Bảo Kiếm Trấn Quốc: Như vậy là có thật rồi không phải lời đồn suông.

Vũ Tử Như sợ hãi đến nỗi muốn vỡ mật miệng: Hô rút, rồi phóng ngựa chạy dài.

Nói về Vi Tử Điển đứng ngồi không yên lo lắng vô cùng, thấy lửa đỏ trời sấm sét ầm ầm, cuồng phong gào thét mỗi lúc càng dữ dội thời khiếp đảm:

   Chuyện gì? Chuyện gì đã xảy ra?

Thoáng nhìn thấy một con ngựa phi tới thời ra đó là Vũ Tử Như mặt không còn chút máu, nói không ra lời hình như cái gì đó chận nơi cổ họng. Vũ Tử Như như muốn nghẹt thở liền oại ra một cục máu, có lẽ đã bị hào quang sấm sét đánh trúng.

Vũ Tử Như lấy lại bình tỉnh nói:

   Bẩm Vương Gia rút quân chạy thôi, chạy mau kẻo không kịp, 20 vạn quân tướng tá chết sạch rồi, quân ta đã bị Linh Kiếm trấn Quốc sát hại, chạy mau, chạy mau.

Vi Tử Điển như nhớ ra điều gì, mặt mày cắt không còn chút máu ra lịnh rút. Quân Ân vô cùng hổn loạn thi nhau mà chạy đạp càn lên nhau chết vô số kể, quân Văn Lang rượt đuổi tới tấp chém thôi là chém.

Đây nói về Vũ Tử Như cùng Vi Tử Điển bỏ chạy thục mạng, chạy hơn nữa ngày trời mới dừng chân để nghỉ, thời nhìn thấy gò đồi Mộ Ma không xa ở ngay trước mắt. Vi Tử Điển định phóng ngựa tới đó.

Vũ Tử Như ngăn cản:

   Bẩm Vương Gia khoan tới đó đã vì không có pháo lệnh mật hiệu bắn lên, ta thoát chết quân Văn Lang, không khéo lại chết về tay quân mình mới khổ?

Vũ Tử Như nói:

   Chờ quân ta đến đông đủ hãy hay.

Hai người cùng một số kỵ binh chờ đợi không bao lâu, thì bộ binh cũng đã chạy tới mỗi lúc một đông. Vũ Tử Như, Vi Tử Điển lúc nầy đã lấy lại bình tỉnh, chờ đợi quân binh tướng sĩ đến đông đủ, cho người kiểm lại chỉ còn 12 vạn quân. Vi Tử Điển xây xẩm cả mặt mày, than trời trách đất bức đầu bức cổ, lúc nầy mặt trời gần xuống núi sắp lặng về Tây.

Vi Tử Điển cứ than dài thở ngắn mãi:

   Trời hại ta rồi, trời hại ta rồi.

Vũ Tử Như an ủi:

   Không phải ta thua chúng, mà tại chúng có báu vật trong tay, không ngờ lời đồn ấy là sự thật, không phải chỉ có một cây Linh Kiếm đâu mà có tới bảy cây, Thiên Thiên Kiếm, Hậu Thiên Kiếm, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Kiếm. Quyền biến vô cùng vô tận, có lẽ thanh Kiếm vừa triệt phá quân ta là Hỏa Linh Tiên Thiên Bảo Kiếm.

Vi Tử Điển nói:

   Chỉ có một Hỏa Linh Tiên Thiên Bảo Kiếm mà lợi hại đến thế sao?

Vũ Tử Như thở dài nói:

   Dù cho có 100 vạn quân cũng chết hết. Quỷ, Thần cũng khó mà toàn mạng.

Vi Tử Điển nói:

   Bảy thanh Bảo Kiếm Trấn Quốc Vua Hùng truyền lại, lời đồn ấy quả là khó tin, nghĩ rằng chỉ là câu chuyện bịa ra để hù các nước lân cận, bảo vệ nền Độc Lập của mình vì ngay cả các quan tướng cấp cao của nước Văn Lang cũng chưa bao giờ nhìn thấy thời ai mà tin là có thật. Nhưng hôm nay tai nghe mắt thấy Kiếm Linh xuất hiện, lửa dậy đỏ trời, sấm sét đùng đùng, Kiếm Khí tuông ra mù trời mịt đất, cuồng phong gào thét càn quét khủng khiếp làm cho binh lính, 18 vạn quân tướng tá đi tiêu, hơn 10 tướng giỏi đi đời.

Càng nghĩ Vi Tử Điển càng khiếp hoảng nói:

   Có lẽ các cánh quân khác cũng gặp hoàn cảnh như ta, chúng dụ quân ta sâu vào địa phận của chúng, chúng mới phản công ra tay tiêu diệt sa vào sách lược kế bẩy của chúng, chúng ta mau rút quân ra khỏi những nơi nguy hiểm nầy không thể ở lâu được nữa, mau rút quân bảo toàn tánh mạng, có lẽ đêm nay hoặc sáng mai chúng sẽ tấn công chúng ta.

Vũ Tử Như nói:

   Vương Gia nói phải.

Liền ra lệnh cho đội quân mật hiệu, bắn pháo mật hiệu lên tức thời pháo xanh mật hiệu bắn lên không, một lát sau nơi khu tử địa gò Mộ Ma pháo xanh bắn lên đáp trả lại.

Vi Tử Điển nói:

   Đúng là loại pháo xanh của ta chế ra không nghi ngờ gì nữa.

Vũ Tử Như truyền bắn mật hiệu tiếp theo, tức thời 2 quả pháo xanh được bắn lên không trung lần nữa, bên kia khu Tử Địa cũng bắn trả lên như vậy.

Vũ Tử Như, Vi Tử Điển thở phào nhẹ nhổm:

   Đúng là quân ta rồi.

Để chắc ăn trăm phần trăm liền ra lệnh cho đội bắn pháo hiệu lần ba, bên kia cũng đáp trả lại như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, cho binh lính nghỉ xả hơi rồi chậm rãi cho binh lính tiến về khu Mộ Địa, lúc nầy mặt trời đã xuống núi. Khu Mộ Địa gò Mộ Ma lại hiện ra cảnh ảo ảnh làm cho người ta tưởng chừng như đi vào Thế Giới Ma, nhìn cảnh quân Ân uể oải như người bịnh nặng lê lết bước đi, càng lúc càng sâu vào khu Mộ Địa nhưng quân Ân nào hay đây sẽ là mồ chôn của chúng vì hào trận đã giăng khắp nơi.

Vi Tử Điển ước lượng mình đi sâu vào khu Mộ Địa khá xa, ít ra cũng 3 – 4 dặm bực mình nói:

   Sao không thấy quân binh đón rước ra đón chi cả.

Vũ Tử Như cũng lấy làm lạ chửi:

   Đúng là một lũ ngu đần đáng chết.

Quân Ân lại đi thêm chừng hơn hai dặm nữa cũng không thấy đèn đuốc quân binh ở đâu. Vũ Tử Như sanh nghi: Canh giữ nơi đây tới 2 nghìn quân kia mà, sao không thấy một quân binh nào hết vậy. Nghỉ đến đây tự nhiên ớn lạnh nỗi da gà, liền ra lệnh cho quân binh mau mau qua khỏi khu Mộ Địa nầy, 12 vạn quân như linh cảm có điều chi bất ổn, hò hét: Nhanh lên, nhanh lên.

Có lẽ quân Văn Lang chờ quân Ân lọt hết vào ổ phục kích mới ra tay, trong màn đêm u tối được soi sáng bởi ánh trăng dìu dịu cũng đủ cho tầm nhìn thấy rõ hàng chục mét. Bổng hàng loạt tiếng pháo nổ nhiều vệt đỏ bắn lên trời, có người la hoảng:

   Đó là pháo lịnh tử chiến của quân Văn Lang, chạy mau chạy mau quân ta lọt vào bẩy phục kích rồi.

Nhưng chạy đi đâu, nơi nào cũng nghe quân reo dậy đất, tên, lao lớp lớp bắn phóng xối xả vào quân Ân như mưa sa bão táp, quân Ân hoảng hốt chạy loạn xạ lao vào gai gốc, sụp hầm sụp hố chết thôi là chết, quân Ân lớp trước ngã xuống lớp sau đạp lên xác anh em đồng đội chạy thục mạng.

Quân Ân lưng mật sợ Kiếm Linh

Tháo chạy thoát thân tưởng yên bình

Nào hay Mộ Địa con đường chết

Hào trận vùi chôn giặc muôn binh

Mưa tên bão giáo rền trời đất

Quân Ân vùi xác chất chồng lên

Tám vạn đi tiêu trong chốc lác

Diêm Vương âm phủ gọi từng tên.

**************

PHẦN 55

Nói về Vi Tử Điển, Vũ Tử Như biết mình đã rơi vào ổ phục kích của địch, chỉ còn đường là ra lịnh cho quân ào lên mở đương máu tẩu thoát, lớp nầy ngã xuống lớp khác đạp lên nhau để chạy nhưng mưa tên bão giáo lao vào quân giặc xối xả, quân Ân chết thôi là chết.

Vũ Tử Như hộ vệ Vi Tử Điển chạy thục mạng cho tới sáng, thì trước mặt có con sông lớn ngang qua, phải có thuyền thời đi qua mới được.

Vi Tử Điển hỏi:

   Con sông trước mặt ta có phải là Hàm Giang không?

Vũ Tử Như nói:

   Bẩm Vương Gia đúng vậy trước ta là Hàm Giang bến Hàm Tử, chúng ta đã cho quân canh giữ nơi nầy, có 300 thuyền lớn ở đây phục vụ cho quân ta khi cần thiết.

Vi Tử Điển nghĩ đến cái tài xuất quỷ nhập thần của quân Văn Lang giả làm quân ta khéo léo tài tình, đưa ta vào bẫy để tiêu diệt.

Nghỉ đến cảnh ấy Vi Tử Điển nổi da gà nói:

   Chúng ta không thể không đề phòng.

Vũ Tử Như nói:

   Con chim bị ná, con cá bị lưới, con hổ bị bẫy mấy lần may thoát chết, không tin vào đâu được, chỉ tin ở mình.

Vi Tử Điển nói:

   Giết lầm còn hơn, địch ta khó lường.

Chờ đợi quân còn sống sót đến những con cá lọt lưới thoát khỏi hiểm địa nơi đồi gò Mộ Ma, ước lượng chỉ còn hơn 5 vạn quân, tả tơi còn hơn những con chim sống sót vùi dập sau cơn bão.

Vi Tử Điển hỏi:

   Ở đây thuộc địa phận nào?

Vũ Tử Như nói:

   Còn địa phận Kinh Giang Giao Châu.

Vi Tử Điển kinh hãi nói:

   Ta chạy suốt đêm mà chưa qua khỏi địa phận Kinh Giao Châu sao?

Vũ Tử Như nói:

   Bẩm vương gia qua khỏi sông Hàm Giang là chúng ta qua khỏi địa phận Kinh Giang Giao Châu.

Vũ Tử Như hỏi:

   Bẩm Vương Gia chúng ta cần bắn pháo mật hiệu lên không?

Vi Tử Điển nói:

   Tùy quân sư định liệu, những trạm chủ chốt nằm sâu trong đất Văn Lang không còn đáng tin nữa như khu Mộ Ma là một cụ thể.

Vũ Tử Như hiểu rõ ý của Vương Gia Vi Tử Điển. Dù chưa hiểu rõ quân binh canh giữ nơi sông Hàm Giang bến Hàm Tử kia là ta hay địch, vẫn cho bắn pháo hiệu lên không, tức thời nơi sông Hàm Giang bắn pháo hiệu trả lại y như vậy, ba lần bắn lên, ba lần bắn đáp trả không sai mật hiệu.

Vũ Tử Như nói:

   Nơi gò Mộ Ma cũng bắn pháo hiệu đáp trả không sai mật hiệu nhưng đó không phải là quân ta mà là quân Văn Lang.

Vũ Tử Như nhớ lại: Nơi đây đã xãy ra trận kịch chiến, quân Kinh Giao Châu chết sạch, chỉ còn hai người, Thần Linh kịp thời đến giải cứu. Ngọc Linh Châu con của Trung Đại Nhân tử nạn tại nơi đây.

Càng nghĩ Vũ Tử Như càng nghi ngờ: Quân canh giữ tại đây chết cả rồi, quân Văn Lang đóng giả làm quân Ân mà thôi. Thà giết lầm hơn là lọt vào kế bẫy của chúng.

Vũ Tử Như chọn 500 tên có võ công cao truyền mật lịnh cho họ, phải làm thế nầy, phải làm thế nầy, chỉ thấy 500 tên lính sát thủ gật đầu lia lịa.

Hôm nay là một ngày kỳ lạ, sương mù càng lúc càng mù mịt, chẳng chịu tan, có phải đây là anh Linh chiến sĩ Hồn Thiêng dân tộc, duy trì khí thiên sông núi tạo ra sương mù dày dặc bảo vệ quân Văn Lang tiêu diệt kẻ thù, chỉ có Thần Thánh là hiểu rõ.

Lần nầy khác hơn lần ở đồi Mộ Ma, trạm Hàm Tử cho người đến đón khoảng 50 người, 50 người ung dung rời khỏi bến Hàm Tử tiến về chỗ quân Ân mới đến không phòng bị gì cả, sương mù dày dặc che khuất tầm nhìn, khoảng 20 mét là không nhìn thấy nhau, bất ngờ bị tấn công 50 người chẳng kịp la lên thì chết sạch, những quân binh bảo vệ nơi đây thấy người đi tới tưởng là quân của mình không phòng bị chi cả bất ngờ bị tấn công chết sạch không còn một tên.

Giữ nhà cho sói có yên đâu

Nanh vuốt còn kia sói vặn đầu

Có kiện thời cùng nhau đi kiện

May ra hồn thoát kiếp khổ đau.

Tên đội trưởng đội sát thủ quay lại báo cáo:

   Bẩm quân sư chẳng còn sót một tên, tất cả đều chết sạch.

Vũ Tử Như khen:

   Ngươi làm tốt lắm, ngươi có phát hiện ra điều gì khả nghi không?

Đội trưởng sát thủ:

   Dạ không.

Vũ Tử Như ngẩm nghĩ: Thế là giết lầm quân ta mấy trăm mạng rồi, đã là sói dù có ăn thịt đồng loại cũng không có gì là hối hận.

Thế là Vi Tử Điển, Vũ Tử Như tiến ra sông Hàm Giang bến Hàm Tử. Quân binh đang vội vã hối thúc nhau xuống thuyền, khoảng độ hơn trăm chiếc chưa kịp qua sông còn ở nơi vạch xuất phát.

Bất ngờ pháo lịnh tử chiến nổi lên, Vi Tử Điển thất kinh, quân Ân khiếp vía, Vũ Tử Như hối quân chèo chống cho mau đưa Vi Tử Điển qua sông còn Vũ Tử Như ở lại huy động ba quân chống trả.

Đây nói về Huỳnh Trung Phong, đại phá quân Ân tại khúc sông Lạc, Rừng Lạc Hồn Âm U tiêu diệt hơn 2 nghìn chiến thuyền 20 vạn quân tướng tá chết sạch không còn một mạng. Nhưng đã hi sinh người con trai lớn là Huỳnh Trung Thông. Huỳnh Trung Phong nhìn người con yêu quí nhắm mắt lìa đời về cõi vỉnh hằng mà lòng căm thù lũ giặc, không bút mực nào tả nỗi lòng căm thù đó, quyết tâm quét sạch quân thù không còn một móng.

Thì nhận được mật báo từ Hùng Cao Vương, nội dung mật thư như sau: Đại phá quân Ân khúc sông Lạc Cội, rừng Lạc Hồn là chiến công lừng lẫy vang dội non sông, ta đã báo cáo công trình lên Hùng Quốc Vương rồi. Tướng quân nhanh chóng chọn 3 vạn tinh binh tướng tài giỏi, cấp tốc đến Hàm Tử nội trong một ngày một đêm phải tới nơi phục kích trước khi giặc đến.

Huỳnh Trung Phong gác lại thương đau lo cho đại sự, liền ra lệnh cho Phan Anh Tuấn, Nguyên Gia Thành khẩn cấp thống lĩnh 3 vạn quân tinh nhuệ, huy động tất cả thiết kỵ binh nhanh chóng lên đường đến sông Hàm Giang bến Hàm Tử phục kích trước khi giặc đến. Với sự quyết tâm của quân binh di chuyển thần tốc không biết mệt mỏi tới bến Hàm Tử phục kích trước nữa đêm, cũng là lúc sương mù phủ xuống càng lúc càng nhiều, hình như có Hồn Thiên anh linh chiến sĩ xuất hiện, luôn luôn che chở bảo bọc quân Văn Lang, sương mù mỗi lúc một dày không nhìn thấy chi cả, nhờ đó mà 3 vạn quân Văn Lang đến phục kích cách bến Hàm Tử hơn nữa dặm, quân Ân canh gác nơi đây không phát hiện được gì cả.

Phan Anh Tuấn, Nguyên Gia Thành lợi dụng sương mù mò sát tới bến Hàm Tử theo dõi cuộc diện, nhìn thấy pháo mật hiệu bắn lên cách đó không xa chừng hơn nữa dặm thời biết quân Ân thua chạy kéo đến, không hiểu là chúng còn lại bao nhiêu quân qua mấy lần phục kích truy sát của quân ta. Tiếng pháo bắn lên đáp trả từ quân Ân canh giữ nơi đây, hai bên cứ bắn qua bắn lại như vậy cho tới ba lần, pháo 1 rồi pháo 2, pháo 3 có lẽ đã ăn khớp tín hiệu nhau.

Phan Anh Tuấn, Nguyên Gia Thành nhìn thấy 50 tên lính rời khỏi bến Hàm Tử đi về phía quân Ân kéo đến, có lẽ chúng đi tiếp đón quân binh nhưng sau đó là hình như có tiếng đánh nhau thoáng cái là im lặng như cũ.

Phan Anh Tuấn, Nguyên Gia Thành giật mình: Chuyện gì đã xảy ra, sau đó thời ước lượng 50 người đi về bến Hàm Tử và cuộc tàn sát xảy ra nhanh chóng và cũng kết thúc nhanh chóng. Hai người không hiểu chuyện gì đã xảy ra, hai người tiếp tục theo dõi. Chừng nhìn thấy quân Ân ùa tới đông như kiến thời chợt nghĩ ra thà giết lầm còn hơn lo sợ, bọn nầy ác độc thật, chúng dọn đường sạch sẽ để đi.

Phan Anh Tuấn, Nguyên Gia Thành nhanh chóng rời khỏi nơi ẩn núp, trở lại chỗ quân binh truyền lệnh bắn pháo hiệu tấn công, tức thời quân Văn Lang ào ào phi ngựa xông tới càn quét tấn công như cuồng phong bão tố, ngựa hí quân reo dậy trời dậy đất. Quân Ân bao lần thoát chết, sức tàn lực kiệt chống làm sao lại trước đàng Sư Tử, mảnh Hổ đang thèm thịt loài Cáo, Sói xông tới xơi thôi là xơi.

Lúc ấy quân Ân đã xuống thuyền hơn trăm chiếc, có hơn vạn quân vội vã chèo chống ra khơi vượt qua sông, còn 180 chiếc quân Ân chưa kịp xuống thì bị quân Văn Lang ào tới tấn công như sấm sét.

Vũ Tử Như hò hét quân binh chống trả, ngăn chặn không cho quân Văn Lang cướp thuyền rượt đuổi truy sát Vi Tử Điền. Vũ Tử Như chống trả không lại trước đàn mảnh Hổ, Sư Tử cuối cùng chết theo 5 vạn quân Ân.

Quân Văn Lang xuống thuyền qua sông rượt đuổi truy sát Vi Tử Điển một đoạn thật xa thời có lệnh thu quân không rượt đuổi nữa.

Đây nói về Ân Trụ Vương đi đến đâu thì các loại Yêu Tinh, Quỷ Dữ ra phò đến đó, có thể nói đây là một điều khác lạ trong lịch sử Vua, Chúa từ xưa đến nay, sự khác thường đó cũng nói lên Ân Trụ Vương có nhân duyên với các loài Yêu Tinh, Quỷ Dữ.

Nhìn nhân duyên Ân Trụ Vương hiện tại theo luật nhân duyên, thời tiền thân kiếp trước chưa đầu thai làm người thời Ân Trụ Vương là Chúa Tể của các loài Yêu Tinh và Quỷ Dữ.

Nếu đã là Chúa Tể của các loài Yêu Tinh và Quỷ Dữ ra đời thời Đại Họa nhân loại sẽ không sao tránh khỏi, xã hội suy tàn Đạo Đức sẽ ra đời, thậm chí ngay cả anh em, vợ chồng, cha con cũng tàn sát nhau nói gì đến Họ Hàng dân tộc thì sự chém giết nhau vì danh lợi còn ghê gớm hơn nữa vào thời kỳ ấy, những nhơn thiện, trung thần thi nhau nhận lãnh Đại Họa. Với đường lối chính sách giả nhân, giả nghĩa che đậy sự nhơ bẩn của mình, nói thiện mà làm ác, các Trung Thần Nhân Thiện khuyên can hoặc tố giác những hành vi đi ngược lại Đạo Đức liền bị xử tử ngay. Sự chết oan chết ức của các bậc nhân hiền là do Hôn Quân vô Đạo cùng một số gian Thần Nịnh Thần tạo ra với bản lĩnh độc ác, độc trị, độc quyền, hiến pháp, luật pháp không phải là chân lý, cán cân công lý gì cả mà chỉ là một thứ công cụ bảo vệ cho hôn Quân vô Đạo mà thôi.

Với bản lĩnh đi ngược lại con đường chính nghĩa, dẫn đến Đạo Đức con người xuống cấp dẫn đến chiến tranh thảm khốc nhất là những nước lân cận, sát bên tay ác Đạo háo chiến nầy, sự xâm lược của tay Hôn quân háo chiến đối với các nước lân cận chỉ là một sớm một chiều mà thôi và nước Văn Lang là một trong những nước bị nhà ÂN xâm lược. Với bề thế uy nghi tột đỉnh. Ân Trụ Vương đi đến đâu các quan tướng đều phò tá đông đủ đến đó, ít ai dám vắng mặt, lúc nào cũng có 5 nghìn kỵ binh hung hãn ai nhìn thấy cũng phải khiếp sợ, xa giá đến đâu thì dân chúng thắp hương vọng bái đến đó, thậm chí chỉ nghe tên Ân Trụ Vương thì dân chúng cũng đã lưng mật rồi.

Ân Trụ Vương ở bên kia bờ Bắc, nam sông Trường Giang, ngay ranh giới Nam phương và Bắc phương. Ân Trụ Vương nhìn về phương Nam nước Văn Lang thấy cảnh non xanh, nước biếc, núi non uốn khúc, sông lạch lượn quanh, cánh đồng mênh mông, rừng đồi nhấp nhô sau lũy tre làng, cánh cò trắng lả từng đàn, từng đàn bay lượn dưới những đám mây lành, từng bực thang nối nhịp tận trời xa.

Ân Trụ Vương say mê nhìn mãi không biết chán, nghĩ ta phải chiếm cho bằng được non sông Tổ Quốc nầy. Ngay lúc ấy bổng một cơn lốc lạ nổi lên làm bay mão quan binh, cũng như làm bay mão của Ân Trụ Vương, ai nấy cũng đều kinh hãi, chuyện lạ từ xưa tới nay chưa từng có.

Lời xưa thường nói, hiện tượng không lành xảy ra thì tai họa sẽ ập tới không sớm thì muộn. Ân Trụ Vương vốn không tin vào nhân quả, không tin vào điềm ứng báo xảy ra mà chỉ tin vào quyền lực của mình.

Ân Trụ Vương thường nói: Ta muốn là Trời muốn ai ngăn cản chống đối ta là chết. Các quan tướng nghe lời nói ấy thời ớn lạnh nỗi da gà. Nơi Ân Trụ Vương ngự lúc nào cũng có ba luồng hắc Đạo xông lên tới tận mây xanh, đó là Hắc Đạo của Ân Trụ Vương, Hắc Đạo của Vưu Hồn, Bí Trọng.

Ân Trụ Vương lúc nào cũng đắc ý bởi tin tức thắng trận dồn dập từ các mũi tấn công báo về. Ân Trụ Vương nhớ lại lời Thương Dung, Triệu Khải, Mai Bá đề cao nước Văn Lang liền hỏi:

   Các Thừa Tướng. Có nghe thấy quân ta thắng trận không?

Thương Dung, Triệu Khải, Mai Bá nghe vua Trụ hỏi thì giật mình.

Thương Dung nghĩ: Đúng là tên Hôn quân lòng dạ tiểu nhân, cố ý chỉ trách ta đây mà, không khéo thì mất mạng như chơi.

Thương Dung bằng thưa:

   Muôn tâu bệ hạ, thần đều nghe thấy rõ quân ta đã gặt hái nhiều chiến công oanh liệt, đã tiến sâu vào đất Văn Lang, thế mạnh như vũ bão, như chẻ tre, chiến thắng liên miên hết thành nầy đến thành nọ, hết châu nầy đến châu kia, đó là nhờ hồng phúc uy linh của Chúa Công Bệ Hạ, quân Văn Lang chỉ có tiếng mà không có miếng, tệ mạc như vậy thời quân ta chiếm lĩnh nước Văn Lang nhanh chóng thôi.

Ân Trụ Vương có vẽ không hài lòng câu trả lời của Thương Dung nhưng thôi không hỏi nữa.

Ân Trụ Vương nói:

   Các khanh giúp trẫm thống nhất Nam phương, Bắc phương thống nhất một nhà mà các đời trước không làm được với công lao nầy trẫm sẽ phong thưởng xứng đáng.

Triệu Khải, Mai Bá nghĩ: Sao quân Văn Lang lại yếu như thế? Hay có âm mưu gì chăng? Không lẽ là lời đồn hư ảo, thầy đã từng kể nước Nam có truyền thống Tiên Rồng, đã đánh thì đó là Thánh Chiến lợi hại vô cùng, khó có thế lực nào đương đầu lại, lợi hại hơn nữa là bảy thanh Bảo Kiếm Trấn Quốc, một khi đã rút ra khỏi vỏ thì đối thủ kể như đã đến giờ tận số hay là. Triệu Khải, Mai Bá rùng mình không còn dám nghỉ tiếp nữa.

Tin chiến thắng dồn dập, Ân Trụ Vương lúc nào cũng mở cờ trong bụng, liền cho mở tiệc đãi đằng các quan tướng rượu.

Được vài tuần Vưu Hồn, Bí Trọng tâu:

   Muôn tâu Bệ Hạ, nghe nói các cô gái phương Nam xinh đẹp lắm, sao Bệ Hạ không truyền cho lũ ấy đến mua vui, dâng đồ ăn thức uống cho chúng ta.

Ân Trụ Vương thích thú ra lệnh đưa các cô gái phương Nam mới bắt đưa về đến phục vụ. Ân Trụ Vương nhìn tới nhìn lui những cô gái quê không có gì là xuất sắc lắm nên không lấy hào hứng chút nào nói:

   Các ngươi phục vụ tốt thì sống, còn phục vụ không tốt thì ta quăn các người cho cá sấu nuốt, cho rắn ăn.

Trong lúc tiệc tùng Vua tôi vui vẻ thời có Quan phụng ngự vào tâu:

   Bẩm Chúa Công Bệ Hạ, quân ta đại bại ở thành Đông Giang Châu, đi tiêu hơn 10 vạn quân bỏ mạng hơn 10 tướng lĩnh.

Cái gì? Ân Trụ Vương quát:

   Tướng nào chỉ huy đánh thành Đông Giang Giao Châu?

Quang phụng ngự tâu:

   Bẩm Chúa Công. Chủ Soái Tử Điền Phi.

Ân Trụ Vương hỏi:

   Quân ta có bao nhiêu vạn quân?

Quan phụng ngự tâu:

   Bẩm Chúa Công quân ta có 15 vạn, chỉ còn 5 vạn lê lết cùng đường.

Ân Trụ Vương lại hỏi:

   Khương Hoàng Nhân xử thế nào?

Quang Phụng ngự tâu:

   Bẩm Chúa Công, Khương Hoàng Nhân xử Tử Điền Phi nhưng các tướng khuyên can mãi xin tội cho Tử Điền Phi mới khỏi tội chết, Tử Điền Phi hứa lấy công chuộc tội.

Ân Trụ Vương quát:

   Đồ con chuột mà dám ăn thịt con voi.

Sùng Hầu Hổ nói:

   Quét sạch chúng đi dám đụng đến gan Trời.

Ân Trụ Vương quát:

   Truyền lệnh ta, quét sạch, giết sạch, đốt sạch, phá sạch, vét sạch.

Ân Trụ Vương giận cá chém thớt quát tháo:

   Đêm mấy con mọi Nam quăn cho rắn cho cá ăn.

Thế là những cô gái quê vô tội làm mồi cho cá sấu cho mãng xà chết thê chết thảm.

Đây nói về Mai Thúc là người hiểu lý lẽ vô tình nói ra một câu:

   Việc xâm lược nước người đã sai rồi, nay lại tàn sát những người vô tội, Chúa Công cũng hơi quá đáng.

Không ngờ lời nói nầy lọt đến tai Ân Trụ Vương liền cho người bắt Mai Thúc đem ra phanh thây xẻ thịt vô cùng thê thảm. Ân Trụ Vương là tay độc ác thuộc hàng bậc nhất, khét tiếng tàn bạo, ai xúc phạm đến uy danh phản đối phê bình thì bị xử tử ngay không cần biết đến nhân quả, đúng sai chi cả, thấy việc làm tàn độc của Ân Trụ Vương các Trung Thần không khỏi nhìn mặt nhau mà than thở.

**************

PHẦN 56

Lúc bấy giờ ở Nam Kinh Xích Quỷ, Hùng Tiên Lang Quốc Vương đang cầu nguyện Đức Cha Trời, Long Hoa Cửu Huyền, Lạc Long Quân cùng Hồn Thiên dân tộc hộ trì chính nghĩa giúp quân Văn Lang đánh đuổi ngoại xâm ra khỏi đất nước, bảo vệ chủ quyền Độc Lập, Thiên Hạ thái bình an lạc như các thời Vua Hùng Tiên Đế trước đây.

Bổng có quan giám sát vào báo:

   Bẩm Quốc Vương quân ta đại thắng tại thành Đông Giang Giao Châu, tiêu diệt hơn 10 vạn quân Ân, tướng lĩnh đi tiêu hơn chục mạng, 5 vạn quân còn lại tả tơi lê lết cùng đường trông thê thảm quá.

Hùng Tiên Lang Quốc Vương khen nói:

   Quân ta khá lắm.

Liền cho quan Ngự Sử ghi vào sổ công đức, công lao cứu Quốc.

Đây nói về Quốc Sư Cao Hầu Vương xem thiên văn, thấy khí số phương Nam nước Văn Lang còn kéo dài gần nghìn năm nữa mới chuyển sang giai đoạn âm u, tuy lúc nầy ánh sáng Hồng phúc phương Nam mờ đi rất nhiều nhưng không hiểu vì sao lại như thế. Nhìn về hướng Bắc thấy yêu khí cuồn cuộn bốc lên tận mây xanh liền co tay bấm độn nhập thiền, thời biết Ân Trụ Vương đang thảm sát những cô gái vô tội lại phán truyền những lời độc ác đối với con cháu Văn Lang.

Thời than rằng: Quả là một Chúa Tinh ác độc, tiếp tục nhập thiền xem xét khí số nhà Ân thời còn hưng thịnh 32 năm nữa mới mất, ôi mệnh trời khó cải, khó mà giết tên hôn Quân vô Đạo nầy.

Hùng Tiên Lang Quốc Vương cho mời Cao Hầu Vương đến nói:

   Quốc Sư hãy bấm độn xem quân ta hiền hung ra sao trước một thế lực hơn ta gấp ba lần.

Thấy Quốc Vương lúc nào cũng lo lắng cho quân binh. Lo lắng cho non sông Tổ Quốc cho muôn dân xã tắc. Long thể giảm sút, liền tâu rằng:

   Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ. Nếu chúng ta không có Bảo Kiếm Trấn Quốc. Thì cũng khó mà chống trả trước sức mạnh của giặc hơn ta gấp ba lần. Nhờ có Bảo Kiếm Trấn Quốc quân Ân sẻ bị đánh tan tành, khó còn mạng mà trở về. Quốc Vương Bệ Hạ cứ yên tâm. Chờ tin chiến thắng khắp nơi báo về.

Hùng Tiên Lang nói:

   Ta cũng mong như thế.

Và quả đúng như vậy. Mấy ngày sau tin chiến thắng dập dồn đổ về thành Xích Quỷ vang dội liên miên, Hết chiến thắng nầy, đến chiến thắng khác.

Nào là quân Ân đại bại, ở khúc sông Lạc Cội, rừng Lạc Hồn Lạc Giao Châu. Đi tiêu 20 vạn quân, thiêu rụi hơn 2 nghìn chiến thuyền, xác giặc đầy sông chật bãi, làm mồi cho quạ cho cá cho tôm.

Nào là quân Ân thất thủ tại rừng Hổ Mang Lau Sậy, đi tiêu 2 vạn quân, Ngạc Sùng Văn phó thống soái bỏ mạng.

Nào là Tây Giang Châu quân Ân bật gọng chôn vùi hơn 12 vạn quân, tương tá quan binh hồn chầu địa phủ.

Nào là Dương Giao Châu, Kiến Giao Châu, Rừng Hà Lâm. Đã bị quân ta hạ gục xóa sổ gần 30 vạn quân, không một người sống sót.

Nào là eo Dạ Loan Châu khúc sông Bạch Đằng Giang, đi tiêu 15 vạn quân Ân, 1500 chiến thuyền, tướng tá quân binh đi chầu âm phủ, không còn một mạng sống sót.

Nào là đại phá quân Ân, tại Quế Giang Giao Châu. Địa phận núi Ngũ Chân, Núi Tượng, U Minh Hạ 20 vạn quân Ân không còn một tên chạy thoát.

Nào là Đại phá quân Ân, nơi rừng Lâm Nguy, địa phận Xích Linh Giao Châu, chấn động Nam Bắc, quét sạch gần 30 vạn quân. Vi Tử Điển chạy thục mạng qua ba lần thoát chết và còn nhiều trận vẻ vang khác nửa.

Hùng Tiên Lang Quốc Vương. Hết ngày nầy, sang ngày khác, tin vui dồn dập. Có thể nói bội thu tin chiến thắng, không còn gì vui sướng hơn. Quân Ân khiếp đảm co cụm về một chổ, không còn đủ sức để tấn công nữa.

Hùng Quốc Vương hỏi:

   Theo ý Quốc Sư thời ta phải làm sao? Ở vào tình thế nầy.

Cao Hầu Vương nói:

   Thừa thắng xông lên tiêu diệt tận ổ của chúng. Chúng ta dốc toàn lực lượng đánh cho chúng một trận nên thân. Tiêu diệt tất cả các cánh quân giặc. Đã dẩm chân lên đất nước Văn Lang.

Hùng Quốc Vương hỏi:

   Chúng ta sẽ tấn công vào ngày nào.

Cao Hầu nói:

   Vào ngày 23 tháng 9 (Tức là cách đây 3141 năm. Năm Mậu Thân). Ngày nầy là ngày kinh hồn khiếp vía của chúng. Trừng trị cái tội xâm lăng ngông cuồng tàn bạo. Không còn dồm ngó đến phương Nam chúng ta nửa. Tình thế đã nghiêng phần thắng về mình. Vì vậy chúng ta không cần phí 10 vạn quân bảo vệ Nam Kinh Xích Quỷ nửa, dồn hết lực lượng cho cuộc tấn công phản kích quan trọng nầy. Có thể đưa quân chinh phạt đất Bắc. Trừ đi mối hậu họa về sau.

Hùng Tiên Lang nói:

   Làm theo ý của Quốc Sư vậy.

Thế là một cuộc triệu tập khẩn cấp hầu hết các thủ lĩnh, tướng Vương của các cánh quân, cấp tốc về Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ để họp.

Hùng Tiên Lang Quốc Vương dậy sớm hơn mọi khi. Có lẻ suốt đêm không ngủ, vì sáng mai có cuộc họp quan trọng. Cuộc họp đi vào lịch sử của dân tộc, suốt hơn 1800 năm Dựng Nước và Giữ Nước. Cuộc họp trọng đại ấy, mở ra vào ngày 14 tháng 9 năm Mậu Thân tức là vào năm 1133 Trước công nguyên tại Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ. (Tức là cách đây 3141 năm trước và sau công nguyên).

Bình minh ló dạng, tiếng chim ríu rít, rộn rã trên cành. Ngọn gió ngọt ngào làm rung rinh cành cây kẻ lá. Non xanh nước biếc ngâm mình trong nắng ấm ban mai. Những đám mây vội vã kéo đi, làm lộ rõ bầu trời thăm thẳm tận đâu đâu. Dưới đất trên nẻo đường quê hương, những con ngựa chiến, vùn vụt lướt nhanh trên đường dài, nhắm Kinh Đô Xích Quỷ lao tới. Họ là ai? Còn ai nữa, đó là những thủ lĩnh Tướng Vương, của các cánh quân vội vã về Nam Kinh Xích Quỷ để họp.

Thấy các Tướng Vương có mặt đông đủ. Hùng Tiên Lang Quốc Vương đi ngay vào vấn đề chính:

   Thời cơ đã đến. Quân Ân đã bị chúng ta chặt đứt cả tay lẫn chân, co cụm cựa quậy hết nổi. Vì thế chúng ta thừa thắng xông lên, đâm thẳng vào tim xâm lược của chúng. Kết thúc trận chiến, đưa bầy sói dữ sang bên kia Thế Giới Địa Ngục. Bảo vệ chủ quyến Độc Lập, thái bình an lạc muôn năm. Chúng ta đồng loạt tấn công vào các doang trại của giặc đóng quân trên đất nước chúng ta. Vào ngày 23 tháng 9 ngày tận số của quân xâm lược. Đã bước chân lên đất nước chúng ta. Thì không còn mạng để trở về.

Cuộc họp ấy kéo dài hơn nửa ngày mới kết thúc. Các Thủ Lĩnh vội vã trở về nơi ba quân tướng sĩ. Chuẩn bị chu đáo cho cuộc phản công quét sạch quân thù.

Hùng Tiên Lang Quốc Vương cho gọi người con lớn là Điền Điền Lang. Cha của Diệp Lang đến dạy bảo:

   Theo cuộc họp sáng nay con đã biết. Tình thế thay đổi, con mau chóng thống lĩnh 10 vạn quân. Rời khỏi Hợp Giao Châu, đến Lạc Giao Châu, hiệp với quân Huỳnh Trung Phong, theo kế sách cuộc họp mà tiến hành. Tuân lệnh.

Đây nói về Vi Tử Khải, thất bại ê chề ở Lạc Giao Châu. Khúc sông Lạc Cội, rừng Lạc Hồn, đi tiêu 20 vạn quân, 2000 chiến thuyền. Lúc nào cũng rầu rĩ, chỉ còn biết nghe theo làm theo lời của Mao Ly Hương. Mao Ly Hương là tay dâm ác. Độc địa vô cùng, không có việc gì là không dám làm. Lúc nào cũng mơ mộng làm chủ nước Văn Lang. Vi Tử Khải thất bại nặng nề. Làm vỡ mộng của Mao Ly Hương. Lại thêm Mao Toại bị quân Văn Lang phanh thây xẻ thịt. Mao Ly Hương tức muốn vỡ tung lồng ngực. Lòng căm thù ăn tươi nuốt sống quân Văn Lang. Quyết trả thù cho bằng được, bất kể đó là thủ đoạn gì. Bằng cho người lùng sục trong dân. Cướp lấy 20 trẻ sơ sinh 10 trai 10 gái giao nạp cho thầy là Ác Độc Yêu Bà.

Ở núi Âm Trì, Động Âm Hồn, chưa có ai tới đây mà còn sống sót trở về. Trừ một người duy nhất đó là Mao Ly Hương. Đệ tử ruột của Ác Độc Yêu Bà.

Đây nói về núi Âm Trì nằm xen lẫn với bao ngọn núi khác. Sương mù quanh năm, có nhiều sơn hào quí hiếm. Nhưng ai tới đây thì không còn trở về nữa. Tiếng đồn núi dữ nên ít ai dám mò tới. Thế mà hôm nay có người mò đến cỡi con ngựa phi nước đại lao đi vùn vụt về núi Âm Trì, Động Âm Hồn. Hình như chở hai cái giỏ lớn ở hai bên lưng ngựa. Không ai ngờ được người ngồi trên lưng ngựa kia, là một cô gái tuổi khoảng độ 23 – 24 xinh đẹp khiêu gợi vô cùng. Nhìn thân hình tròn chắc mông đầy, lưng ong, ngực nở. Làng da trắng nuốt, gợi cảm đến bốc lửa.

Nhất là những tay háo sắc thời phải chết mê chết miệt. Sẻ bị cô Ả hốt hồn. Cô đến đây để làm gì? Cô tìm ai. Qua bao sường dốc heo hút cheo leo và cuối cùng cô cũng đến một phong cảnh hết sức huyền bí. Không những hoang vắng lạnh lẽo. Mà nơi đây xương người, sọ người chất đống khắp nơi, ai nhìn thấy cũng phải ớn lạnh rờn rợn trong người. Sương mù dày đặc, tiếng ngựa lộc cộc mỗi lúc một sâu vào Âm Hồn Cốc. Cuối cùng cô đã đến một hang động. Đó là Động Âm Hồn.

Bổng cô lên tiếng gọi:

   Sư phụ, Sư phụ. Con là Mao Ly Hương về thăm Sư phụ đây.

Tức thời một luồng âm phong lạnh lẽo đen nghịt xuất hiện, làm các bay đá chạy con ngựa khiếp sợ run rẫy. Luồng âm phong tan biến, xuất hiện một Lão Bà xấu xí. Như mụ Phù Thủy ác Quỷ, gớm giết vô cùng. Ác Bà nguyên là con Hồ Tinh bảy đuôi. Tu luyện thành người. Nhưng vì luyện công bất cẩn tẩu hỏa nhập Ma. Kinh mạch biến dạng. Từ một con Yêu Nữ xinh đẹp, biến thành Bà Cụ già xấu xí. Không những thế gặp ánh sáng mặt trời, thân mụ Yêu Tinh đau đớn vô cùng.

Nếu Bà tìm được 20 trẻ sơ sanh. 10 trai 10 gái. Bà không những luyện được ÂM DƯƠNG Yêu Thuật Thần Thông vô cùng lợi hại. Mà còn trẻ đẹp lại hơn xưa. Khiêu gợi còn hơn cả Mao Ly Hương.

Mao Ly Hương thấy Sư phụ hiện ra, liền chạy đến ôm Bà khóc lóc. Kể lể hết chuyện nầy sang chuyện khác:

   Quân Văn Lang hiếp con quá, chúng giết Sư huynh con, còn chà đạp lên danh dự của Sư phụ.

Ác Bà quát:

   Chúng nói gì?

Mao Ly Hương nói:

   Chúng nói con mụ Hồ Tinh bảy đuôi mà đến gặp chúng, thì chúng lột da cho chó nuốt.

Ác Quỷ Yêu Bà nghe xong tức đến nổi miệng gầm gừ liên tục. Hai con mắt tóe lửa, phát ra ánh sáng xanh lè, thấy mà rợn người.

Ác Bà hằn học tức tối kể:

   Ta là con cháu nhiều đời của Cửu Tinh Hồ Tổ. Hồ Tổ bị quân Văn Lang con cháu Tiên Rồng sát hại tại hang Âm Trì Núi Đá, đầu Địa Long Vũ Trụ. Cách đây gần 2 nghìn năm. Họ hàng nhà Chồn, Cáo chết thê chết thảm hàng vạn mạng. Cầm đầu 100 bộ Lạc. Chiếm lấy Địa Long Vũ Trụ. Mộc Tổ, Ngư Tổ, Hồ Tổ bị con cháu Tiên Rồng quét sạch. Cũng vì ta nóng lòng trả thù. Dẩn đến luyện công đảo ngược, suýt nửa thời mất mạng khí huyết chạy ngược đau đớn vô cùng biến ra hình dạng thế nầy. Kỵ ánh sáng nên ta mới ở mãi trong Động Âm Hồn cả nghìn năm. Theo lời Chúa Tinh Tổ Tổ. Muốn trả thù cho các loài Yêu Tinh. Chỉ còn cách là đầu thai vào loài người, ngự trị loài người, sát hại chúng. Làm cho máu chảy thành sông, thây chất thành núi. Chúng ta trở thành Yêu Người, Quỷ Người làm chủ Vũ Trụ. Và ta đã thấy lời dạy của Chúa Tinh Tổ Tổ hiệu quả vô cùng. Hiện giờ hàng vạn vạn Yêu Tinh đã đầu thai làm người đang ra sức phò Chúa Tổ và con là một trong số Yêu Tinh đó. Cái Lão Hùng Vương Con Trời đã về trời từ lâu nhưng nền Quốc Đạo của Lão vẫn còn hùng mạnh nơi chốn nhân gian, làm cho muôn loài Yêu Tinh khốn khổ, ta nhìn về phương Nam thấy ánh sáng Văn Hóa Tiên Rồng đã lu mờ, đây là cơ hội cho ta tiêu diệt chúng nhưng ta đã hết cách đễ tiêu diệt chúng vì ta kị ánh sáng mặt trời, nếu ta kiếm được…

Ác Bà bổng im lặng và bà đánh hơi có mùi trẻ sơ sinh. Mao Ly Hương biết sư phụ đã phát giác ra trẻ sơ sinh liền thưa:

   Con đã tìm thấy mà cái sư phụ cần rồi.

Ánh mắt bà sáng lên, bà hỏi:

   Ở đâu?

Mao Ly Hương chỉ hai giỏ xách lớn:

   Ở hai bên hông ngựa kia kìa.

Ác Bà phất tay một cái, tức thời hai các giỏ lớn rời khỏi lưng ngựa bay đến trước mặt Bà, hai con mắt Yêu Tinh chòng chọc nhìn vào hai cái giỏ lớn, cười lên the thé như quỷ hú ma tru, rờn rợn nổi da gà, có lẽ mụ Yêu Tinh thích thú quá liền hiện nguyên hình là con Hồ Tinh cái bảy đuôi, to lớn như Bò Mộng, nanh vuốt sắc nhọn dài thòng thấy mà phát khiếp.

Mao Ly Hương nhìn con Chồn cái bảy đuôi không hề khiếp hoảng mà cô còn thấy thích thú trước sự xuất hiện nầy, cô nhìn con Hồ Tinh bảy đuôi như nhìn người thân lâu đời lâu kiếp, mỗi lần Hồ Tinh quật đuôi là mỗi lần gió nỗi ầm ầm, Hồ Tinh vồ tới hai cái giỏ lớn biến mất.

Mao Ly Hương từng sống ở đây với một thời gian khá lâu nên cảnh ăn thịt người không lạ lùng gì đối với cô cả, nhìn những bộ xương người chồng chất những chiếc đầu lâu trắng hếu rãi rác khắp đó đây, không những cô không sợ hãi mà còn đá tới đá lui một cách thích thú, đúng là thầy nào trò nấy tàn sát con người chính là thú vui.

Thầy nào trò nấy có khác chi

Yêu Tinh ác Quỷ, Đức Thiện gì

Có lợi cho mình cha cũng giết

Thỏa cơn thèm khát nuốt con đi

Trẻ thơ con nít là món nhấm

Uống máu ăn người chuyện bình thường

Vốn loài yêu Quỷ tàn bạo ác

Hại người cứ hại thiện cần chi.

Qua mấy ngày sau nơi Động Âm Hồn những tiếng động ầm ầm liên tiếp xảy ra, bổng từ Động Âm Hồn, âm phong một đen một trắng tỏa ra mù mịt bao phủ một vùng rộng lớn, nổ lốp bốp như lúa rang vô cùng quái lạ, đó chính là sự thành tựu của Âm Dương yêu thuật thần công, nơi nào có hai luồng quái phong phủ đến thời nơi đó không còn con vật nào sống sót kể cả cây cỏ.

Mao Ly Hương chứng kiến cảnh tàn phá khủng khiếp của yêu thuật Thần Công thời kinh hãi khiếp sợ đến ngơ ngẩn cả người. Hai luồng yêu thuật biến mất, liền xuất hiện một người con gái xinh đẹp, tuổi độ 21 – 22 ai nhìn thấy cũng phải mê, có lẽ từ đây về sau những kẻ háo sắc sẽ bị con Hồ Tinh cái nầy ăn tươi nuốt sống.

Mao Ly Hương, Mao Ly Hương giọng nói thanh tao ngọt ngào như mật rót vào tai. Mao Ly Hương nhìn người con gái mới xuất hiện đẹp đến nổi lóa cả mắt những đường nét gợi cảm, khích dục bốc lửa thu hút đến kỳ lạ.

Mao Ly Hương chạy tới nói:

   Sư phụ đó sao?

Yêu nữ nói:

   Không phải ta thì còn ai nữa. Ta đã luyện được yêu thuật Thần Công có thể trả thù được rồi một mình ta đối với trăm vạn quân cũng chỉ là con gà con chó mà thôi.

Mao Ly Hương vô cùng mừng rỡ nói:

   Sư phụ giúp con tiêu diệt quân Văn Lang chứ?

Mụ yêu tinh nói:

   Dĩ nhiên rồi, không những giúp con trả thù mà còn giúp quân Ân quét sạch nhà nước Văn Lang mới hả cơn giận của ta, bao nhiêu năm khốn khổ nơi âm Hồn Cốc.

Mụ Yêu Tinh nói:

   Con về trước đi sư phụ tới sau.

Mao Ly Hương từ biệt Yêu Nữ phi ngựa xuống núi, sắc mặt đầy vẻ hân hoang nhưng cũng không che hết tâm hồn độc ác đầy tham vọng của con Yêu Nữ đội lớp người.

Đây nói về Vi Tử Khải, đặt hết niềm tin vào Mao Ly Hương, chuyển xây tình thế đang lâm vào bế tắc, có thể nói là rơi vào cảnh khốn khổ nhưng Mao Ly Hương đã đi hơn 10 ngày mà sao chưa thấy trở lại.

Vi Tử Khải lẩm bẩm: Được hay không được cũng phải trở lại chứ hay là cô ta bỏ đi luôn rồi, ta biết phải làm sao đây.

Vi Tử Khải đang bối rối lo lắng thời có quân vào báo:

   Phu Nhân đã về.

Vi Tử Khải mừng quá như người sắp chết đuối gặp chiếc phao vội vả chạy ra đón Mao Ly Hương hỏi dồn hỏi dập:

   Thế nào có thỉnh được sư phụ không?

Mao Ly Hương nở nụ cười tươi như hoa:

   Thiếp đã mời được sư phụ đến giúp rồi, ngày tận số của chúng đã đến, nước Văn Lang sẽ thuộc về hai chúng ta.

Vi Tử Khải nhìn quanh, nhìn quất nào có thấy ai đâu, sanh nghi hỏi:

   Sư phụ đâu?

Mao Ly Hương làm mặt giận nói:

   Vương Gia không tin thiếp sao.

Vi Tử Khải nói:

   Đâu có, đâu có vì ta không thấy sư phụ nên hỏi đó thôi.

Mao Ly Hương nguýt Vi Tử Khải cặp mắt liếc ngang sắc lém nói:

   Với cái bệnh thấy gái đẹp là chết ngộp nếu gặp sư phụ của thiếp thì còn hồn đâu nữa mà làm Vua nước Văn Lang.

Vi Tử Khải bây giờ mới thở phào nhẹ nhỏm. Bổng nghe mùi hương nứt mũi pha lẫn nhau mùi hơi Chồn, thình lình xuất hiện một tuyệt sắc giai nhân. Vi Tử Khải nhìn sửng chết mê chết miệt, bị thu hút bởi ma lực hấp dẫn của thân hình đều đặng căng phồng, tràn trề nhựa sống.

Nàng là ai sao nàng xinh đẹp quá

Như bình minh sáng chóa cả trời xanh

Nàng là Tiên hay một ả Yêu Tinh

Nhìn vóc dáng một thân hình bốc lửa

Pho tượng người lung linh đầy gợi cảm

Ôi nhấn chìm hết thẩy bật đàn ông

Ôi làm nở hết thảy vạn mùa xuân

Những con Chiên sùng bái mãi dưới chân.

Mao Ly Hương thấy người mới xuất hiện, mừng rỡ chạy đến nắm tay nói:

   Sư phụ, sư phụ.

Vi Tử Khải đang say sưa ngắm nhìn thân hình căn nhựa sống, có sức thu hút đầy ma lực không sao kiềm chế lòng nổi.

Vi Tử Khải nghe Mao Ly Hương gọi người mới xuất hiện bằng sư phụ thì giật mình kinh hãi, không dám nghỉ ngợi lung tung nữa, lấy lại bình tỉnh chấp tay thi lễ nói:

   Bổn Vương ra mắt Tiên Cô.

Vị Tiên Cô ấy lạnh nhạt chẳng đáp lễ chi cả, hình như coi Vi Tử Khải chẳng ra gì. Vi Tử Khải thấy thái độ lạnh nhạt đối xử của vị Tiên Cô mới đến đối với mình chẳng khác gì kẻ hầu người hạ thời lấy làm tức lắm nhưng ráng dằn lòng không để lộ sự bất mãn ra mặt thì sẽ hỏng việc lớn.

Vi Tử Khải làm ra vẻ kính trọng:

   Mời Tiên Cô vào lều an nghỉ.

Vi Tử Khải ngự trên một chiến thuyền to lớn như một biệt thự trên đất liền, có một căn lều lớn là nơi hội các quan tướng, mụ Yêu Tinh được coi như là thượng khách, một người tối quan trọng cho cuộc xoay chuyển thế cờ, đánh bại quân Văn Lang chiếm lấy Nam Kinh Xích Quỷ.

Không để cho Vi Tử Khải chờ đợi lâu, mụ đi ngay vào vấn đề chính. Mụ Yêu Tinh nói:

   Ta ở trên mây nghe ngóng xem xét tình hình, thời quân Văn Lang sắp tấn công chúng ta, chậm lắm là 3 – 4 hôm nữa là cùng.

Vi Tử Khải lấy làm kinh hãi nói:

   Quân ta chỉ còn 10 vạn quân, 300 chiến thuyền, 5 vạn quân bộ binh, 5 vạn quân thủy chiến làm sao chống cự lại.

Mụ Yêu Tinh nói:

   Cần gì đến 10 vạn quân, chỉ cần đến 5 vạn là đủ, lần nầy gặp ta chúng chết chắc không còn một tên, nếu thành công chiếm lấy nước Văn Lang, nhớ dâng nạp trẻ con cho ta hàng năm.

Mao Ly Hương nói:

   Đó là điều mà đệ tử phải làm, miễn là sư phụ đánh bại quân Văn Lang.

Mụ Yêu Tinh nói:

   Điều đó con khỏi lo.

Vi Tử Khải nghe đến ăn thịt trẻ con thì ớn lạnh nỗi da gà, trời không lạnh mà run, không còn dám mơ tưởng đến cái thân đẹp đẻ đầy ma lực đó nữa vì sợ ả ăn thịt luôn cả mình. Mụ Yêu Tinh được đưa tới một chiếc thuyền sang trọng sạch sẽ, có nhiều tên lính phòng vệ, đầy đủ tiện nghi, sơn hào hải vị, món ngon vật lạ dâng lên hầu hạ, nhưng mụ Hồ Tinh nào thích những món nầy hoặc là gà sống hoặc là thịt người, mụ ngửi ngửi sơn hào hải vị rồi cho dọn đi.

Không hiểu trời xui đất khiến hay là Mao Ly Hương hiểu ý sư phụ, chọn những miếng mồi béo bở, đó là những tên lính còn trẻ sung mãn sức lực, tinh khí tràn trề da đầy thịt nở. Mụ nhìn thấy mấy chục tên như thế thèm muốn nhỏ dãi, mụ nhìn thấy một tên rất ưng bụng liền cho hầu nữ gọi tên ấy vào, thế là tên lính trẻ sung mãn được gọi vào.

Mụ nói với mấy đứa hầu nữ:

   Các ngươi ra khoan sau hết đi, khi nào cần ta gọi.

Tên lính bước vào căn phòng sang trọng dành riêng cho phụ nữ, thì đã choáng ngộp rồi huống chi nhìn thấy một thứ mà hồi giờ chưa từng thấy, đó là một nàng Tiên, trên người chỉ là y phục đồ tắm, tên lính sửng sốt chết mê tại chổ, y muốn nhào đến ôm chầm lấy thân hình khiêu gợi bốc lửa, mông đầy, lưng ong, ngực nở, da trắng mịn như trứng gà bóc vỏ, trong ngọc trắng ngà, mặt như hoa mới nở, rực rở như phù dung cộng thêm mùi hương quyến rũ của loài hoa chuyên ăn thịt người.

Tên lính mê mẩn cả người lao vào ôm lấy thể xác của mụ Yêu Tinh. Mụ đẩy nhẹ tên lính ra nói:

   Vội gì tối nay vào lúc canh ba vào đây hầu ta.

Tên lính tưởng mình nghe lầm ngơ ngác, mụ Yêu Tinh thấy thế nhắc lại:

   Tối nay lúc canh ba vào đây hầu ta.

Tên lính thấy thân người như muốn nổ tung, như uống phải một ly rượu mạnh cháy cả ruột gan. Bước ra khỏi căn phòng sang trọng tên lính như kẻ mất hồn, lúc nào cũng nóng ran cả người, ai hỏi gì cũng không nói, cứ nhìn mặt trời sao hôm nay trời lâu tối thế, không muốn ăn uống chi cả.

Thời gian nào có theo ý của ai, nó từ từ trôi qua mặt trời đã lặng, trên bầu trời lỏi rỏi những vì sao, tiếng sóng vỗ lao xao vào mạn thuyền làm trổi dậy cảnh nhạc buồn, lăng lõi vào tâm hồn những kẻ xâm lược, tương lai còn mờ mịt như những giọt sương nhen nhúm qua đêm, những cuộc đời ngắn ngủi khi ánh thái dương xuất hiện nhưng tên lính nào quan tâm đến cảnh vật, bởi ám ảnh một thân hình quyến rủ lôi cuốn đến mê người.

Dưới ngọn đèn mờ lung linh huyền ảo, một thân hình bốc lửa đang chờ đợi, tiếng chân dồn dập đi tới, mụ Yêu Tinh nở nụ cười khoai khoái con mồi đã đến, tên lính vội vả bước vào căn phòng, gã như điên như dại vì trước mắt gã là mùa xuân của muôn hoa, mật ngọt ập tới, mùi hương xông vào mũi, đóa hoa rung rinh như mời mọc, cuốn hút con ong, tên lính lao nhanh tới ôm chầm lấy thân hình của mụ Hồ Ly, cánh tay Hồ Ly ôm chầm lấy tên lính, bất ngờ vuốt nanh của mụ mọc ra dài thòn, sắc nhọn bốp chết tên lính, mụ liền hiện ra con Quỷ Dữ những chiến nanh sắc nhọn ngoạm vào tên lính như ngoạm vào cục nhừ.

Không bao lâu thời mụ chén sạch sành sanh, chỉ còn lại bộ xương cùng cái sọ đầu lâu trắng hếu, mụ gôm chúng bỏ vào một xó dùng chăn mền phủ lại đánh một giấc ngủ tới sáng và cứ thế đêm nào cũng ăn thịt một tên háo sắc, xem mụ càng ngày càng đẹp ra.

Những tên háo sắc họa dường bao

Kết cuộc thảm thê xuống âm tào

Vóc ngọc mình ngà là chi rứa

Yêu Tinh biến hóa thuật yêu cao

Hôi tanh nhơ nhớp nào ai biết

Mê si lặng hụp mãi bám vào

Mất mạng ô danh con đường chết

Chỉ người giác ngộ, thoát chiêm bao.

**************

PHẦN 57 

Đây nói về Ngạc Sùng Cảnh ra quân thua liền 5 trận, đi tiêu hơn 40 vạn quân, những cú xốc liên tiếp ập đến làm cho Ngạc Sùng Cảnh quỵ xuống đứng lên không nổi nữa, cũng may nhờ Hồ Ma Yêu cứu mạng, hiện giờ trong tay còn chỉ lại hơn 10 vạn quân các tướng tài đều bỏ mạng tại sa trường. Ngạc Sùng Cảnh giờ đây nhìn mỹ nhân như nhìn khúc gỗ, không nghe mùi nghe vị gì nữa. Nhìn món ngon vật lạ, sơn hào hải vị món nào cũng thấy đắng, nhìn kỷ nữ múa hát như nhìn con rối nhảy lung tung.

Hồ Yêu Ma thấu hiểu tâm trạng của người tuyệt vọng liền nói:

   Bẩm Thống Soái. Tôi có hai người bạn thân quen. Thần thông Pháp thuật vô biên. Nếu mời được hai người nầy ra giúp, thì lo gì quân Văn Lang không bị đánh bại. Nước Văn Lang sẽ thuộc về chúng ta.

Man Công nói:

   Bẩm Thống Soái nếu cầu được thầy tôi xuống núi. Thì dù có trăm vạn quân cũng khó mà toàn mạng, huống chi vài chục vạn quân Văn Lang.

Ngạc Sùng Cảnh như người chết đuối vớ được phao, như cây sắp chết héo gặp mưa rào, tia sáng hy vọng đã hiện ra.

Ngạc Sùng Cảnh mừng rở nói:

   Làm thế nào mời được những con người tài ba xuất chúng nầy.

Hồ Ma Yêu nói:

   Việc nầy để tôi lo liệu cho.

Ngạc Sùng Cảnh lại nói tiếp:

   Còn thầy của Man Lão Sư làm sao tôi cầu được?

Man Công nói:

   Thống soái phải tìm cho ra mười cặp, đực cái chuột trắng và một đôi trống mái chim Trĩ Trắng.

Ngạc Sùng Cảnh nghe xong thì lắc đầu thở dài nói:

   Tìm cho ra mười cặp đực cái Chuộc Trắng đã khó lắm rồi. Thời gian lại quá gấp, huống chi là cặp chim Trĩ Trắng trống mái.

Bổng có người lên tiếng:

   Bẩm Thống Soái. Quê nhà thuộc hạ có nuôi Chuột Trắng.

Người lên tiếng ấy chính là đội trưởng của đội mật thám. Ngạc Sùng Cảnh mừng rở nói:

   Nhờ Tướng quân tìm giúp cho. Tuân lệnh.

Ngạc Sùng Cảnh hỏi:

   Man Lão Sư thiếu cặp trống mái chim Trĩ Trắng có được không?

Man Công nói:

   Không thể được.

Ngạc Sùng Cảnh thất vọng vậy phải biết làm sao. Chim Trĩ trắng là loại chim quí hiếm. Ít ai thấy chớ đừng nói đến tìm bắt chúng. Thấy vẻ mặt đầy thất vọng của Ngạc Sùng Cảnh.

Man Công nói:

   Điều nầy thì tôi có thể làm được, vì tôi vô tình phát hiện ra chổ ở của chúng.

Ngạc Sùng Cảnh vô cùng mừng rở nói:

   Xin Lão Sư giúp cho.

Man Công nói:

   Tôi sẽ cố gắng, còn bắt được hay không thì chưa hứa được.

Nói xong nhảy lên không đằng vân bay mất. Ngạc Sùng Cảnh thấy hai Lão quái vật nhảy lên không bay đi mất thời kinh hãi nói:

   Trời giúp ta, Trời giúp ta.

Niềm tin chiến thắng nổi lên. Ngạc Sùng Cảnh nhìn về phương Nam nói:

   Là đất của nhà Ân.

Đây nói về Hồ Ma Yêu. Nhảy lên không trung, nhắm hướng Đông Bắc đằng vân bay đi thời thấy xa xa mây đen mù mịt bao phủ một vùng rộng lớn. Cuồng phong nổi dậy ầm ầm, các bay đá chạy cây cối đổ ngã. Chim muôn vạn thú khiếp kinh. Đúng là ngọn gió Hắc Phong rồi. Chuột Đệ chắc là ở đây. Quả đúng như vậy. Hồ Ma Yêu từ trên mây đáp xuống. Thấy Chuột Tinh đang luyện Hắc Phong Công. Một loại Yêu Công vô cùng lợi hại. Ai bị Yêu Công thổi trúng là mù cả hai mắt, sau đó ba ngày là chết. Thần tiên cũng khó mà chống lại ngọn gió độc lợi hại nầy.

Chuột Tinh nhìn thấy Hồ Ma Yêu tới liền thâu ngọn gió Hắc Phong lại hỏi:

   Nghe nói Lão Huynh ra phò Chúa Tinh Tổ Tổ chinh phạt Nam Phương, sao còn rảnh rỗi tới đây?

Hồ Ma Yêu thở dài nói:

   Quân Nam Văn Lang quả nhiên có chút tài. Một mình Huynh đánh không lại. Nên mới tìm đến hai Đệ cầu cứu. Ủa Dơi Đệ không có ở đây sao?

Bổng trên không có tiếng nói:

   Huynh tới lúc nào thế?

Thì ra trên không trung xuất hiện một con Dơi khổng lồ. Mỗi lần quật cánh là gió dậy ầm ầm các chạy đá bay, cây cối đổ ngã. Luồng Siêu âm từ đầu con Dơi khổng lồ phát ra. Ai bị quét trúng tức thời ngã lăn ra trào máu mà chết. Thần Tiên cũng phải tránh xa không giám tới gần.

Hồ Ma Yêu là con cáo già thành Tinh, Mưu mẹo khôn khéo hơn Chuột Tinh và Dơi Tinh. Hồ Ma Yêu nói:

   Lâu nay Huynh khâm phục tài nghệ của hai Đệ. Chỉ có hai Đệ mới đánh thắng quân Văn Lang. Nên Huynh mới tới đây cầu hai Đệ ra giúp.

Chuột Tinh, Dơi Tinh nghe Hồ Ma Yêu tân bốc lấy làm khoái chí nói:

   Huynh đã đến đây cầu cứu hai Đệ. Thời hai Đệ làm sao mà từ chối lời yêu cầu của Huynh được.

Hồ Tinh Ma Yêu mừng rỡ nói:

   Cảm ơn hai Đệ.

Thế là ba con Yêu Tinh đằng vân bay đến chổ Ngạc Sùng Cảnh.

Nhìn Ngạc Sùng Cảnh vẻ mặt hết lo âu sầu muộn. Quỳ trước bàn Hương án. Trên bàn Hương án, có cặp chim Trĩ trống mái trắng, với 10 cặp Chuột Bạch trắng. Tất cả đều còn sống.

Man Công khấn vái lâm râm, một lác sau. Bổng trên không một vùng mây đen xuất hiện. Cuồng Phong nổi dậy ầm ầm các bay đá chạy. Tức thời những đồ cúng phẩm. Chuột trắng, chim Trĩ trắng liền bị cuốn hút lên không bay vào vùng mây đen. Hào Quang chơm chớp nổ rang kéo dài. Sau đó thời biến mất, xuất hiện một người kỳ quái. Trên đầu luôn luôn xuất hiện luồng khí đen.

Ngạc Sùng Cảnh kinh sợ quỳ lạy ra mắt nói:

   Ngạc Sùng Cảnh xin ra mắt Tổ Sư.

Lão Xà Rồng Chúa Tinh phất tay một cái. Tạo ra luồng kình lực đở Ngạc Sùng Cảnh dậy. Ngạc Sùng Cảnh lại càng khiếp sợ trước pháp thuật Thần Thông của Xà Rồng Lão Tổ.

Man Công thấy Sư Phụ giá lâm, mừng rở quỳ lạy, kể lể hết chuyện nầy tới chuyện khác. Lũ quân Nam ỷ có chút tài ba coi Trời bằng nắp vung, hại chết Triệu Công Tiển Đệ Đệ.

Chúa Xà Rồng nói:

   Không phải chúng giết Triệu Công Tiển không đâu. Mà còn giết chết Vũ Tử Như nữa.

Man Công vô cùng kinh hãi. Quân Nam Văn Lang quả nhiên lợi hại vô cùng. Nếu Sư Phụ Không giá lâm, thì khó mà trả thù, khó mà đánh bại được quân Văn Lang.

Lão Yêu Tổ Xà Rồng nói tiếp:

   Ta xuống núi lần nầy. Một là lời thỉnh cầu thành tâm dâng đủ lễ của Thống Soái. Hai là trả thù cho hai Đệ Tử của ta.

Man Công nói:

   Ta kéo binh đến tiêu diệt chúng.

Chúa Xà Rồng nói:

   Cần gì tìm chúng cho mất sức. Cứ ở đây mà chờ, chúng nó Sẽ kéo đến đây chậm lắm ba bốn bữa nửa là cùng. Cứ cho binh lính ăn no dưỡng sức để tiêu điệt chúng.

Khi ấy trên không xuất hiện vùng mây đen rồi từ từ hạ xuống. Vùng mây đen biến mất hiện ra Hồ Ma Yêu cùng hai người nửa, mặt mày quái dị vô cùng. Một người mặt Chuột, một người mặt Dơi. Cũng giống như Lão Xà Rồng đầu hai con Yêu lúc nào cũng có khí đen ở trên đầu. Nhìn thấy Chúa Tinh Xà Rồng ngồi ghế cao thì tức lắm. Nhưng không lẽ gây chuyện ở đây, đành làm thinh nhưng lấy làm khó chịu. Ngạc Sùng Cảnh tinh ý, thấy sự khó chịu của Dơi Tinh, Chuộc Tinh. Liền cho người lấy hai cái ghế cao. Chỉ thấp hơn ghế Xà Rồng một tí.

Qua ngày hôm sau. Ngạc Sùng Cảnh cho mời Man Công, Hồ Ma Yêu tới nói:

   Ra trận phải có Chủ Soái. Nên ta phong cho hai Lão ngôi vị Chủ Soái. Điều khiển ba quân tướng sĩ. Nếu lần nầy đánh thắng, làm chủ nước Văn Lang, thì hai Lão Chủ Soái tha hồ mà hưởng lạc.

Man Công, Hồ Ma Yêu vô cùng mừng rở. Mỗi người thống lãnh năm vạn quân chuẩn bị giao chiến với quân Văn Lang.

Đây nói về Khương Hoàng Nhân, đang ngồi vui vẻ, cùng các quan tướng bàn luận công lao các tướng sĩ. Và kế hoạch chỉ đạo thôn tính nước Văn Lang.

Thời có quân thám báo hớt hãi về báo:

   Bẩm thống soái. Quân ta đại bại ở Dạ Loan Châu rồi, chết sạch sành sanh.

Khương Hoàng Nhân quát:

   Cái gì? Ngươi nói cái gì?

Quân thám báo thưa:

   Bẩm thống soái 15 vạn quân, 1500 chiến thuyền. Bị quân Văn Lang dùng hỏa công thiêu rụi hết rồi. Tất cả làm mồi cho tôm cho cá.

Khương Hoàng Nhân lấy lại bình tỉnh hỏi:

   Ngươi thấy hay nghe ai nói.

Quân thám báo nói:

   Bẩm thống soái thuộc hạ nghe lời đồn, không tin liền đến Dạ Loan Châu xem thử. Thời ôi thôi vô cùng thê thảm, quả thật lời đồn không sai. Tất cả quân binh tướng tá về chầu âm phủ hết rồi.

Khương Hoàng Nhân nghe xong mặt không còn chút máu lẩm bẩm: Chuyện gì đã xảy ra.

Thì có quân vào báo. Khương Hoàng Nhân linh cảm như có điều chẳng lành tiếp tục xảy ra. Quả đúng là một ngày xui xẻo hết bị đạp rồi đến bị đá. Cái nào cái nấy như Trời giáng:

   Bẩm thống soái. Quân ta đại bại ở Quế Giang Giao Châu rồi. Đi tiêu 20 vạn quân chẳng còn một người sống sót. Hồn chầu Địa Phủ.

Khương Hoàng Nhân thét lớn:

   Ngươi nói cái gì?

Tên lính thám báo sợ hãi nói:

   Bẩm Thống Soái. Lý Hạo Thiên cùng tướng sĩ 20 vạn quân vùi chôn nơi chiến địa.

Khương Hoàng Nhân thét lên một tiếng thật lớn rồi ngã nhào ụa ra mấy ngụm máu. Sau đó không ăn không uống gì nổi nửa.

Khương Hoàng Nhân nghĩ đến cảnh Ân Trụ Vương sẽ xẻ thịt mình, khó mà tránh khỏi cái chết thê thảm. Bằng kêu Khương Hào vào nói:

   Cha sẽ đi trước, để khỏi làm liên lụy đến con. Con ở lại sống chết cùng với quân Văn Lang, may ra còn có con đường sống.

Khương Hào ôm Cha khóc ròng:

   Cha ơi Cha, Cha không nên đi sớm như thế.

Bổng một luồng gió lạ xuất hiện âm u lạnh lẻo. Rồi hiện ra một người, mặt trắng bệch như thây ma nói:

   Ta đến đây cướu cha ngươi.

Nói xong người ấy phất tay một cái. Khai thông các huyệt Đạo bị bế tắc trong người. Làm cho kinh mạch thông suốt trở lại. Khương Hoàng Nhân ụa ra mấy cục máu bầm. Liền thấy trong người khỏe hẳn, ngồi dậy cảm ơn cứu mạng.

Lão Bạch Cốt Ma Tôn nói:

   Thống Soái chưa khỏi hẳn đâu.

Liền lấy viên thuốc màu trắng đưa cho Khương Hoàng Nhân uống. Mà Lão đã bỏ nhiều công sức mới luyện thành. Kỳ diệu thay Khương Hoàng Nhân hồi phục sức lực nhanh chóng. Còn khỏe hơn hồi chưa ngã bệnh nửa là khác. Khương Hoàng Nhân biết người cứu mình là một dị nhân kỳ tài trên cõi đời.

Nên hết sức kính trọng lạy tạ ơn cứu mạng nói:

   Xin ân nhân cho biết quí danh để tiện bề xưng hô cho khỏi thất lễ.

Lão nói:

   Thống Soái cứ gọi ta là Bạch Cốt Ma Tôn.

Khương Hoàng Nhân giật mình không dám lên tiếng nữa. Vì Lão hiểu Bạch Cốt Ma Tôn còn đáng sợ hơn Vua Trụ gấp trăm lần.

Bạch Cốt Ma Tôn nói:

   Ta có thể giúp ngươi tiêu diệt quân Văn Lang hoàn thành sứ mệnh của ngươi. Và cũng trả thù cho Đệ tử ta là Đề Cốt Ma đã bị quân Văn Lang sát hại. Ta sẻ lấy xương cốt của chúng để luyện Ma binh. Ngươi xem đây.

Nói xong Lão hét lên Ma quân hiện mau. Tức thời Ma quân hiện ra trùng trùng điệp điệp. Những bộ xương người trắng hếu, thấy mà rợn cả người.

Bạch Cốt Ma Tôn kêu bộ xương người đến rồi nói với Khương Hoàng Nhân rằng:

   Thống Soái chọn người có võ công cao đấu với Bạch Cốt Ma xem sao.

Khương Hoàng Nhân liền chọn một phó Tướng có võ công cao ra đấu với Bạch Cốt Ma. Tên phó tướng múa Đao vùn vụt chém xối xả vào bộ xương, biết đi như người sống. Không ngờ Bạch Cốt Ma lanh lẹ vô cùng. Tiến lùi nhanh như một bóng Ma. Nơi miệng phát ra âm thanh ma quái làm xây xẩm mặt mày.

Lần nầy Bạch Cốt Ma không cần né tránh nửa. Đưa tay chụp lấy lưỡi Đao. Rồi lưỡi Đao liền gãy lìa. Tên phó tướng kinh khiếp. Nào để cho tên phó tướng sống sót, cánh tay Bạch Cốt Ma chụp xuống đầu tên phó tướng. Tên phó tướng chỉ còn chờ chết.

Bạch Cốt Ma Tôn quát:

   Dừng tay không nên giết.

Tên phó tướng thoát chết mặt cắt không còn chút máu. Khương Hoàng Nhân kinh hãi không kém lẩm bẩm nói: Lợi hại vô cùng, lợi hại vô cùng. Quân Văn Lang cũng khó mà toàn mạng.

Bạch Cốt Ma Tôn phất tay một cái, kỳ diệu thay tất cả Bạch Cốt Ma tan biến đâu mất. Lại một lần nữa Khương Hoàng Nhân vô cùng khiếp phục. Tinh thần phấn chấn vô cùng nghĩ đến cảnh tiêu diệt quân Văn Lang chiếm lãnh Nam Phương hoàn thành sứ mệnh.

Bạch Cốt Ma Tôn thấy Khương Hoàng Nhân lấy lại niềm tin, tinh thần phấn khởi liền nói:

   Ta giới thiệu cho Tướng Soái một người vô cùng lợi hại. Đó là Muội Muội của ta. Bạch Cốt Ma Tôn Lão Bà. Điều khiển các bộ xương Bò sát bơi lội, Cầm thú, Thuồng Luồng, Cá Sấu, Khủng Long, Voi, Sư Tử, Cọp, Sói… Muội Muội xuất hiện đi.

Tức thời một luồng âm phong nổi lên, Bạch Ma Bà xuất hiện cười the thé nghe mà rởn óc. Bà nói:

   Ta vốn có thù với thằng Con Trời Hùng Lan. Khí số con cháu của nó đã giảm sút. Đây là lúc ta quét sạch chúng, giành lại Địa Long Vũ Trụ.

Khương Hoàng Nhân mừng quá. Mời hai vị Ma Tôn làm thượng khách cho người tiếp đải hầu hạ tử tế.

Khương Hoàng Nhân hỏi:

   Bẩm nhị vị Tổ Tổ Ma Tôn. Khi nào chúng ta tiêu diệt quân Văn Lang?

Bạch Cốt Ma Tôn hiểu ý Khương Hoàng Nhân nói:

   Không cần đi đâu cả ở đây đợi chúng đến, ta làm thịt một thể, hốt trọn ổ không chừa một tên. Ta sẽ lấy xương của chúng luyện thành Bạch Cốt Ma Binh.

Khương Hoàng Nhân gọi con đến nói:

   Hiện giờ ta chỉ còn 10 vạn quân. Con thống lãnh 5 vạn quân theo Bạch Cốt Ma Tổ Bà Bà. Còn Cha thống lãnh 5 vạn quân còn lại theo Bạch Cốt Ma Tôn Lão Tổ Tổ. Quét sạch quân Văn Lang chiếm lĩnh Nam Phương theo ý của Chúa Công Bệ Hạ, gồm thâu Bắc Nam về một mối.

Thế là Cha con Khương Hoàng Nhân chia làm đôi số quân còn lại chuẩn bị cho cuộc chiến.

**************

PHẦN 58

Đây nói về Vi Tử Điển. Vượt qua bao nguy hiểm thoát chết mấy lần. Vừa qua khỏi sông Hàm Giang, cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng, sợ quân Văn Lang đuổi theo truy sát. Cuối cùng cũng đến Nam sông Trường Giang. Dọc đường binh lính kiệt sức chết thêm mấy nghìn người nữa. Vi Tử Điển nhìn binh lính kiệt sức chết nhiều quá thì lo lắng. Trước mặt ba dặm là con sông Nam Trường Giang rộng lớn. Khó mà qua nhanh cho được. Vì thuyền bè để lại nơi đây rất ít chỉ có vài chục chiếc. Chỉ có hơn nghìn quân vận chuyển lương thực dự bị nơi đây.

Vi Tử Điển thấy quân Văn Lang không truy đuổi nửa. Liền cho quân dừng nghỉ nếu tiếp tục tháo chạy nữa thời binh sĩ Sẽ kiệt sức cộng thêm sự đói khát mà chết hết. Quân binh được lệnh dừng nghỉ, người nào người nấy ngã quỵ xuống đất, tưởng chừng như sắp chết đến nơi. Vi Tử Điển chỉ biết nhìn trời mà than mà thở.

Xâm lược nào ai nghỉ cảnh nầy

Bỏ chạy tháo thân thảm thê thay

Ba quân tướng sĩ phờ xơ xác

Khiếp vía hồn kinh, họa tai vây

Bỏ mạng đầy đường, ngơ ngơ ngác

Sạch quân, sạch tướng, sạch cả tay

Có ai nghĩ đến, tham là thế

Xâm lược không thành, nuốt đắng cay.

Hơn bảy nghìn quân được lệnh dừng nghĩ, quân binh ngã quỵ hàng loạt lăn đùng ra thở dốc, sau đó là thiếp luôn đi vào giấc ngủ không hay biết gì nửa. Có người ngủ luôn không dậy. Thì ra hồn đã lìa khỏi xác. Cho đến sáng hôm sau hơn 7 nghìn quân còn lại, mới lê lết đến Nam Sông Trường Giang. Hơn một nghìn ở đây ra tiếp đón. Cũng may ở đây có lương thực dự trữ hậu thuẩn ở phía sau. Nên quân binh mới thoát chết.

Vi Tử Điển ở lại nơi đây vài ngày tiến không được, thối cũng không xong. Cứ than vắng thở dài mãi: Trời hại ta rồi, trời hại ta rồi. Nghĩ đến Bảo Kiếm Trấn Quốc của quân Văn Lang thì khiếp sợ hoảng vía kinh hồn. Nghĩ đến các cánh quân khác, cũng sẻ bị thê thảm mà thôi. Liền cho quân dọ thám nghe ngóng tình hình, thì y như dự đoán không sai chút nào.

Tất cả những mũi tấn công sâu vào đất liền đều có kết cuộc thê thảm. Không còn một tên sống sót. Thê thảm còn hơn cả cánh quân của mình. Vi Tử Điển đã nhìn thấy lối thoát. Không thể tiến quân được nửa thời lùi vậy báo lại tình hình cho Chúa Công hay.

Vi Tử Điển chuẩn bị ra lệnh rút hết quân ra khỏi đất Văn Lang. Thì có quân thám báo về báo:

   Bẩm Vương Gia. Rút quân qua Nam sông Trường Giang kẻo không kịp. Quân Văn Lang trùng trùng điệp điệp ồ ạt tiến quân đánh chúng ta. Khí thế long trời lở đất.

Vi Tử Điển kinh hoàng ra lệnh rút quân mau qua bên kia sông Trường Giang. Cho người về báo lên Vua Trụ. Cầu viện quan giải cứu. E rằng quân Văn Lang đã qua sông Trường Giang chặn đầu chúng ta rồi.

Càng nghĩ Vi Tử Điển càng hốt hoảng. Hối thúc quân binh mau qua sông Trường Giang. Nhưng vì thuyền quá ít, sông Trường Giang lại quá rộng. Phải qua lại vài lần mới qua hết được sông Trường Giang. Binh lính qua sông thi nhau chạy thục mạng. Chạy đến nổi té lên ngã xuống tắc da đổ máu mà không hay biết gì cả. Quan binh đang chạy thục mạng, thì thấy trước mặt không xa khói bụi mịt mù.

Vi Tử Điển nhìn lên trời than:

   Mạng ta đã hết, định rút kiếm tự tử.

Đây nói về các Thủ Lĩnh của các cánh quân Văn Lang. Về họp tại Nam Kinh Xích Quỷ. Thống nhất quyết định một cuộc phản công vào ngày 23 tháng 9 là ngày quét sạch quân thù xâm lược ra khỏi non sông Tổ Quốc giử vững chủ quyền Đôc Lập. Đã có bề dày lịch sử. Hàng vạn năm ở thời Xích Quỷ. Gần hai nghìn năm ở thời Văn Lang. Mục tiêu xác định là tấn công vào ba mục tiêu chính.

1:  Là tấn công vào quân Ân. Đóng đô tại Huyện Trùng Giang do Vương Khải Gia chỉ huy.

2:   Là tấn công vào quân Ân. Đóng đô tại Huyện Tây Bắc Triết Giang Nam, do Ngạc Sùng Cảnh chỉ huy.

3:  Là tấn công vào quân Ân. Đóng đô tại Huyện Nam Giao, do Khương Hoàng Nhân chỉ huy.

*-  Nhiệm vụ tấn công vào mục tiêu một. Đóng đô tại Huyện Trùng Giang. Do Điền Điền Lang, cùng Hùng Cao Vương chỉ huy.

*-  Nhiệm vụ tấn công vào mục tiêu hai. Đóng đô tại Huyện Tây Bắc Triết Nam Giang. Do Diệp Lang Đích Tôn Vương cùng Tây Thục Vương chỉ huy.

*-  Nhiệm vụ tấn công vào mục tiêu ba. Đóng đô tại Huyện Nam Giao. Do Cao Lạc Hầu Vương cùng Cao Lạc Hải chỉ huy.

Đánh đuổi ngoại xâm là điều tất yếu tự nhiên, là nghĩa vụ, là trách nhiệm. Yếu tố sống còn của một dân tộc. Đức tính Vũ dũng. Không khiếp sợ quân thù, dù ta là con Chuột. Giặc là con Voi cũng sẳn sàng đối mặt. Lòng trung hiếu như kim cang bất hoại. Ra sức giữ nước bảo vệ chủ quyền Độc Lập. Bảo vệ quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền tự do ngôn luận. Phê phán những kẻ làm hại Đồng Bào. Làm hại non sông Tổ Quốc. Sống trong hoàn cảnh, ngoại xâm uy hiếp, đe dọa, đưa dân tộc đến con đường nô lệ thời mỗi người dân Văn Lang tự đứng lên góp công, góp của, góp sức, góp trí cứu nước đánh đuổi quân thù. Thà hi sinh cho đất nước sống còn, không sợ gian khổ. Không sợ mất mạng. Đó chính là truyền thống cao quí Anh Linh của nền Quốc Đạo dân tộc. Truyền thống dựng nước và giữ nước. Đã trải qua hàng nghìn hàng vạn năm. Truyền thống văn hóa Tiên Rồng. Như vũ khí, như tài sản bất ly thân. Làm khiếp đảm quân thù xâm lược.

Để dồn hết sức mạnh lực lượng tấn công vào quân xâm lược ở mục tiêu một. Điền Điền Lang Vương thống lãnh gần 20 vạn quân Huỳnh Trung Phong làm phó thống soái. Từ Lạc Giao Châu. Thủy quân. Bộ binh. Kỵ binh rầm rầm rộ rộ. Tiến thẳng đến huyện Trùng Giang tấn công vào thuyền trại thủy quân của Khải Vương Gia. Hướng Tây Nam doanh thủy trại của giặc.

Hùng Cao Vương thống lãnh gần 20 vạn quân. Cao Đình Luân làm phó thống Soái. Từ rừng Lâm Nguy Xích Linh Giao Châu, rầm rầm rộ rộ khói bụi mịt mù. Tiến thẳng đến huyện Trùng Giang tấn công vào hướng Đông Nam doanh trại của giặc bộ binh đóng trên đất liền.

Quân Văn Lang đã đến hồi phản kích

Thời non sông gào thét, chuyển rung rinh

Đã phản công thời đá vàng cũng nát

Lũ quân thù khó thoát, trận khởi binh.

Mục tiêu hai quét sạch quân Ân Cánh Tây Bắc. Diệp Lang thống lãnh gần 20 vạn quân. Thục Mân làm phó thống soái. Từ Tây Dương Châu rầm rầm, rộ rộ khó bụi mịt mù. Theo hướng Tây rồi chuyển sang hướng Bắc. Tiến thẳng đến huyện Tây Bắc Triết Nam Giang, tấn công vào hướng Tây Nam doanh trại của giặc.

Tây Thục Hầu Vương thống lãnh gần 20 vạn quân. Từ Kiến Giao Châu, Thục Lao làm phó thống soái. Đại quân kéo dài rầm rầm, rộ rộ. Quân reo ngựa hí dậy trời dậy đất. Tiến thẳng về hướng Bắc rồi bọc lên hướng Tây Bắc, tiến thẳng đến huyện Tây Bắc Triết Nam Giang tấn công vào hướng Đông Nam doanh trại của giặc.

Tiên Rồng chuyển động chân trời

Giặc Ân khiếp vía rã rời tay chân

Quân Nam rầm rộ tiến quân

Khói mù bụi mịt hực hừng uy phong.

Mục tiêu ba quét sạch quân Ân cánh Đông Bắc Văn Lang. Cao Lạc Hầu Vương thống lãnh hơn 10 vạn quân Nguyên Chấn Lạc làm phó thống soái. Từ Quế Giang Giao Châu. Kéo quân rầm rầm rộ rộ, tiến thẳng về hướng Bắc đến huyện Nam Giao. Tấn công vào hướng Tây Nam doanh trại của giặc.

Cao Lạc Hải, thống lãnh 8 vạn quân theo đường biển. Bọc lên theo sông Nam Trường Giang. Đổ bộ lên đất liền tiến thẳng đến huyện Nam Giao, đánh thẳng vào trại giặc hướng Đông Bắc.

Cờ phất phới ba quân rầm rộ

Tiến bao vây hùng hổ uy phong

Người cùng ngựa điệp trùng xông tới

Tiến hò reo dậy núi dậy non.

Nói về Vi Tử Khải, nghe quân thám báo, báo cáo là quân Văn Lang. Đang tiến quân ồ ạt chia làm hai mũi, tấn công vào doanh trại trên đất liền cũng như ở dưới sông, theo hướng Đông Nam, Tây Nam của hai doanh trại. Vi Tử Khải lấy làm kinh sợ.

Ác Độc Yêu Bà nói:

   Sợ gì chúng. Chúng đến để nạp mạng.

Nói xong Mụ Yêu Tinh, dùng pháp thuật thần thông triệu tập vô số vô biên Chồn, Cáo, toàn là những Yêu Tinh cao cấp. Từ hai đuôi trở lên cho đến năm đuôi, mỗi lúc mỗi kéo đến đông nghịt.

Mụ Yêu Tinh bổng to lớn dị thường như người khổng lồ. Thổi ra luồng Hắc Đạo Âm Dương, một đen một trắng. Tỏa ra bao phủ một vùng rộng lớn, tiếng lốp bốp nỗi lên như lúa rang. Hai luồng Hắc Đạo xâm nhập vào hết thảy các loài Chồn Cáo ấy. Mụ Yêu Tinh hô biến. Thì tất cả loài Chồn Cáo điều biến thành người.

Người nào người nấy điều có pháp thuật thần thông, phóng ra yêu khí mờ trời mịt đất.

Vi Tử Khải lấy làm kinh sợ, lẩm bẩm nói: Quân Hồ xuất hiện. Quân Hồ xuất hiện ra đứng trên mặt nước như đứng trên đất bằng. Chúng dùng xương người, xương cầm thú biến ra vũ khí. Như gươm, đao, giáo, mác cùng một số vũ khí hình thù quái dị. Nhìn cảnh quân Hồ trùng trùng điệp điệp. Hò hét dậy trời dậy đất. Thần thánh cũng phải kinh hãi, huống chi là người phàm.

Quả đúng như Mao Ly Hương nói. Nếu cầu được Sư Phụ. Thì dù cho quân Văn lang đông cho mấy. Mạnh đến đâu cũng sẽ bị tiêu diệt. Nếu toàn bộ quân chủ lực Văn Lang bị tiêu diệt trong trận nầy. Thì nước Văn Lang sẽ mất về tay nhà Ân làm nô lệ thuộc địa cho đất Bắc. Một trận chiến sống còn của dân tộc. Ác Độc Yêu Bà trao cho Mao Ly xâu sọ người Bà mới luyện thành. Cùng nhiều câu Thần Chú điều khiển quân Hồ. Mao Ly Hương thống lãnh hơn 10 vạn quân Hồ cùng 5 vạn quân Ân. Giăng hàng ngang chờ quân Văn Lang đến là xông ra tiêu diệt. Ác Độc Yêu Bà cũng thế. Điều động 5 vạn quân Ân, 300 chiến thuyền, 10 vạn quân Hồ Yêu Tinh. Giăng hàng ngang, hàng dọc trùng trùng lớp lớp. Đứng trên mặt nước, chờ quân Văn Lang đến là xáp chiến. Mao Ly Hương căm thù quân Văn Lang đến tận tủy xương. Quyết ra tay quét sạch quân Văn Lang ở trận nầy. Mắt chăm chăm nhìn về hướng Đông Nam như muốn ăn tươi nuốt sống.

Đây nói về quân Văn Lang. Do Điền Điền Lang Vương, Hùng Cao Vương. Chia làm hai nhánh tiến quân, gần 40 vạn quân rầm rầm rộ rộ tiến thẳng đến huyện Trùng Giang. Quân Văn Lang đang di chuyển, gươm, đao, giáo mác, ngựa hí quân reo rền trời rền đất. Thời có hai vị Thần xuất hiện ở hai cánh quân. Hùng Cao Vương thấy vị Thần xuất hiện. Liền cho ba quân tướng sĩ dừng lại.

Hùng Cao Vương vô cùng kinh ngạc. Chấp tay thi lễ nói:

   Không hiểu Lão Thần Tiên từ cõi nào đến có điều chi dạy bảo.

Vị Thần Tiên đáp lễ nói:

   Lão Thần là Chủ của các con sông lớn, nơi Hạ Thiên Vũ Trụ. Thừa lệnh Dược Vương Lão Tổ Tổ đem Linh Dược đến cho quân Văn Lang uống để chống lại dược khí của các loài Yêu Tinh. Cao Vương hãy ra lệnh cho ba quân tướng sĩ ngữa mặt lên trời uống tắm Linh dược.

Lệnh đã ban truyền ba quân tướng sĩ răm rắp làm theo. Vị Thần Tiên bay lên không mở bầu Linh dược trút xuống kỳ diệu thay. Linh dược vừa ra khỏi bầu liền biến thành trận mưa rào trút xuống xối xả cả người lẩn ngựa gần 20 vạn quân Văn Lang. Vị Thần Tiên thấy đã hoàn thành sứ mệnh liền biến mất. (Giang Công Thần Chủ).

Gần 20 vạn quân do Điền Điền Lang chỉ huy băng rừng lội suối rầm rầm rộ rộ náo động đất trời. Thời thấy vị Thần Tiên xuất hiện.

Điền Điền Lang vô cùng kinh ngạc. Chấp tay thi lễ hỏi:

   Không hiểu Lão Thần Tiên từ cõi nào đến, có điều chi dạy bảo.

Vị Thần Tiên đáp lễ nói:

   Lão Thần là Chủ của các dãy núi cao nơi Hạ Thiên Vũ Trụ. Thừa lệnh Dược Vương Lão Tổ Tổ. Đem Linh dược đến cho quân Văn Lang uống, để chống lại Độc khí của các loài Yêu Tinh. Điền Vương hãy ra lệnh cho ba quân tướng sĩ ngước mặt lên tiếp uống Linh dược.

Điền Điền Vương tức thời ra lệnh cho ba quân tướng sĩ làm theo lời dạy của vị Thần Tiên. Cao Sơn Thần Núi. Vị Thần Tiên bay lên không mở bầu Linh dược trút xuống hóa ra trận mưa rào tắm gội cả người lẩn ngựa quân Văn Lang. Gần 20 vạn quân Văn Lang cảm thấy trong người khỏe khoắn, mệt mỏi chẳng còn. Vị Thần Tiên thấy đã hoàn thành sứ mệnh liền biến mất.

Quân Văn Lang sau khi tắm uống Linh dược thì trở thành đội quân nhà Trời. Trí huệ, Thần lực, võ nghệ đều tăng lên gấp ba gấp bốn. Đúng với ý nghĩa đội quân con Rồng cháu Tiên. Khi gần đến Trùng Giang thì thấy đất trời u ám, hung khí mờ mịt, mây đen cuồn cuộn trên bầu trời. Thì hiểu rõ đây là trận chiến một còn một mất. Giữ vững Chủ quyền Độc lập, hay nô lệ cũng ở vào trận chiến nầy mà thôi.

Quân Nam Hùng khí bừng lên

Phen nầy tử chiến ghi tên sổ vàng

Rồng Tiên lịch sử chói vang

Phen nầy còn mất giang san mất còn.

**************

PHẦN 59

Đây nói về Diệp Lang Đích Tôn Vương, cũng như Tây Thục Vương. Hai cánh quân di chuyển rầm rầm rộ rộ. Cờ bay phất phới, gươm giáo uy nghi. Bổng thấy hai vị Tiên Cô xuất hiện ở hai cánh quân.

Tây Thục Vương thấy Tiên Cô xuất hiện liền chấp tay thi lễ nói:

   Tiên Cô ở cung nào đến có điều chi dạy bảo.

Tiên Cô đáp lễ nói:

   Tiên nữ ở cung Diêu Trì Vương Mẫu. Hạ Thiên Vũ Trụ vân lệnh Vương Mẫu. Đem thuốc giãi độc Linh dược cho ba quân tướng sĩ người ngựa uống, trước khi giao đấu với các loài Yêu Tinh vô cùng lợi hại. Thục Vương hãy ra lệnh cho ba quân tướng sĩ sè ngửa lòng bàn tay ra để nhận lấy thuốc. Mỗi người chỉ uống một viên còn cho ngựa.

Thục tây Vương vừa truyền lệnh xong gần 20 vạn quân tức tốc ngữa bàn tay ra. Tiên nữ liền bay lên không trung đứng trên mây. Phất cái túi bao một cái. Tức thời hóa ra một trận mưa thuốc. Kỳ diệu thay người có ngựa thời nhận được hai viên. Còn không ngựa thì chỉ có một viên thôi. Trong số gần 20 vạn người chỉ có một người cỡi ngựa chỉ nhận được một viên. Đó là Thục Chăm.

Thục Chăm la lớn:

   Ta thiếu mất một viên rồi.

Tiên Cơ ở trên mây cười lớn:

   Làm gì có thiếu. Vì tướng quân đã uống thuốc giải độc rồi.

Thục Chăm nhớ lại liền làm thinh. Thục Chăm nào biết viên thuốc mà Thục Chăm uống trước là Linh đan cải tử hoàn sinh quí hiếm vô cùng. Tiên Nữ thấy nhiệm vụ đã hoàn thành liền biến mất trong không trung.

Diệp Lang thấy Tiên Cô xuất hiện liền chấp tay thi lễ nói:

   Tiên Cô ở cung nào đến, có điều chi dạy bảo.

Tiên Cô thi lễ nói:

   Tiểu Nữ ở Cung Diêu Trì Vương Mẫu. Hạ Thiên Vũ Trụ. Vâng lệnh vương mẫu đem thuốc giải độc linh dược cho ba quân tướng sĩ người ngựa uống trước khi giao chiến với các loài yêu tinh vô cùng lợi hại, độc khí phun ra mù trời mịt đất. Đức Tôn Vương hãy ra lệnh cho ba quân tướng sĩ sè ngửa bàn tay ra để nhận lấy thuốc, mỗi người chỉ uống một viên, còn viên kia thì cho ngựa.

Gần 20 vạn quân được lệnh tất cả đều ngữa bàn tay ra, Tiên Cô liền bay lên không trung đứng trên mây mở nút hồ lô niệm chú, tức thời hàng vạn viên thuốc bay ra hóa thành trận mưa thuốc rơi vào bàn tay quan, binh một cách nhanh chóng kỳ diệu thay người có ngựa thời nhận được hai viên, còn không ngựa thời chỉ nhận được một viên thôi.

Thái Nga la lớn:

   Sao tôi chỉ có một.

Tiên Cô ở trên mây nói:

   Tướng quân uống rồi còn uống chi nữa.

Thái Nga nhớ lại liền làm thinh, Thiên Hương không có viên nào ngơ ngác nhìn lên vị Tiên Cô muốn nói gì đó nhưng lại thôi.

Tiên Cô ở trên mây hiểu ý nói:

   Cung Chủ hãy lấy hai viên linh đan trong lọ thần cho tiểu Long Câu cùng Cung Chủ uống, trước khi chiến đấu với yêu tinh.

Ngọc Thiên Hương nhớ mình có lọ linh đơn giải độc, liền dốc ra hai viên cho mình và tiểu Long Câu uống, Tiên Cô thấy nhiệm vụ đã hoàn thành liền biến mất.

Đại quân uống thuốc kháng độc xong tiếp tục tiến quân gần đến huyện Tây Bắc Triết Nam Giang, thì thấy yêu khí mù mịt đen trời mịt đất thời biết trận chiến nầy vô cùng nguy hiểm có thể nói là mất mạng, một là xanh cỏ, hai là tỏ ra uy phong.

Đã đến lúc một còn một mất

Vào tử chiến tỏ rạng uy phong

Đường cứu nước tiến lên phía trước

Đuổi quân thù ra khỏi non sông.

Đây nói về Cao Lạc Hầu Vương, cũng như Cao Lạc Hải, hai cánh quân rầm rầm rộ rộ hăn hái tiến về huyện Nam Giao bổng xuất hiện hai vị Tiên Ông ở hai cánh quân.

Cao Lạc Hầu Vương thấy Tiên Ông xuất hiện liền chấp tay thi lễ nói:

   Tiên Ông ở cõi nào tới, có điều chi dạy bảo.

Tiên Ông đáp lễ nói:

   Ta vâng lệnh Thái Thượng Lão Tổ Tổ đem linh dược chống độc cho quân quan, tướng uống tắm gội trước khi giao chiến với Bạch Cốt Ma Tôn, Bạch Cốt Quỷ độc khí trùng trùng dù cho Thần Thánh cũng khó mà xông vào Bạch Cốt Ma độc trận huống chi là người phàm thì tiêu ra nước hết. Cao Vương mau ra lệnh cho ba quân tướng ngửa mặt lên trời để nhận lãnh linh dược.

Mười vạn quân được lệnh liền ngửa mặt lên trời. Tiên Ông liền bay lên không trung, niệm chú lắc lắc Hồ Lô mấy cái mở nút, tức thời một luồng khói trắng tuông ra hương thơm ngào ngạt, hóa ra một trận mưa rào tắm uống cho người ngựa ba quân tướng sĩ, thấy mình đã hoàn thành nhiệm vụ Tiên Ông liền biến mất.

Nói về Cao Lạc Hải thống lãnh 8 vạn quân rời khỏi thuyền, đại quân rầm rầm rộ rộ tiến thẳng về huyện Nam Giao thời thấy một đạo hào quang bay đến Tiên Ông xuất hiện.

Cao Lạc Hải thi lễ nói:

   Tiên Ông từ cõi nào đến có điều chi dạy bảo.

Tiên Ông đáp lễ nói:

   Ta vâng lệnh Thái Thượng Lão Tổ Tổ, Viêm Đế Thần Nông Lão Tổ Tổ đem linh dược xuống trần cho ba quân tướng sĩ uống tắm linh dược khán độc, trước khi giao chiến với Bạch Cốt Ma, Bạch Cốt Quỷ quá lợi hại. Cao Lạc tướng quân mau ra lệnh cho ba quân tướng sỉ ngửa mặt lên.

Được lệnh 8 vạn quân đều đồng loạt ngửa mặt lên trời. Tiên Ông liền bay lên không trung cầm năm loại ngũ cốc phất qua phất lại vài lần, tức thời một trận mưa dược trút xuống như mưa tắm gội người ngựa quân Văn Lang. Năm loại ngũ cốc là tinh khí của trời đất kết hợp cả thân, rễ, củ, quả. Quân Văn Lang tiếp nhận linh khí trời đất xong tinh thần phấn chấn sinh lực dồi dào tất cả sự mệt mỏi biến mất không còn, thấy mình đã hoàn thành sứ mệnh, Tiên Ông liền biến mất.

Sau khi tiếp nhận linh dược xong hai cánh quân, Cao Lạc Hải cùng Cao Lạc Vương tiến sâu vào địa phận huyện Nam Giao âm u mù mịt hơi lạnh thấu xương, mùi tanh hôi khó chịu, đó chính là độc khí do ma trận Bạch Cốt tạo ra nếu không nhờ uống linh dược thì xây xẩm mặt mày ngã lăn ra bất tỉnh, lục phũ ngũ tạng hư nát mà chết, Thần Tiên cũng khó mà xông vào Ma Độc Trận.

Kìa trước mắt là quân thù hùng mạnh

Mộng xâm lăng tàn bạo ác kinh thiên

Giờ quyết tử tính từng giây từng phút

Quyết tử xông lên tử chiến với yêu Tinh.

Nói về hai cánh quân, Cao Lạc Hải cùng Cao Lạc Vương bất chấp trời đất âm u mù mịt hơi lạnh thấu xương, mây đen cuồn cuộn tiếng linh tinh nổ lốp bốp, những cục lửa đỏ lòm bay lên bay xuống, mùi hôi tanh càng dữ dội, hai cánh quân càng lúc càng tiến gần đến doanh trại của giặc, thì một thế giới hãi hùng hiện ra ở hai cánh quân, mỗi cảnh giới ma khác nhau, Ma Cầm Thú và Ma Người.

Cao Lạc Hầu Vương cùng quân binh kinh hoàng, trước mắt là một thế giới bộ xương người, trùng trùng điệp điệp ngút tận đâu đâu, hai con mắt xanh lè phát tỏa ra ánh sáng thấy mà ghê sợ. Cao Lạc Vương cùng ba quân tướng sĩ nghĩ: Đây là đâu thế? Giới ma binh. Cao Lạc Vương lấy lại bình tỉnh, ngâm bài thơ rằng.

Ta là con cháu Tiên Rồng

Ta đi theo bước cha ông vạn đời

Ta là con cháu nhà trời

Càn Khôn vũ trụ ra vào như không

Sá gì một lũ ma Tinh

Kiếm linh ta chém nát tan chẳng còn

Anh linh truyền thống anh hùng

Trảm yêu trừ Quỷ mở đường cứu dân

Kìa truyền thống anh linh thuở trước

Thời cha ông mở nước dựng non

Đánh tan muôn vạn yêu Tinh

Dựng nền Quốc Đạo văn minh lẫy lừng

Nào con cháu Tiên Rồng tiến lên

Nào gươm, Đao, giáo, mác tiến lên

Phất cờ tay chỉ gươm binh

Văn Lang hào khí tiến lên diệt thù, tiến lên.

Tám vạn cánh quân Cao Lạc Hải bất chấp cuồng phong càng quét dữ dội, gần tới doanh trại của giặc ôi thôi chuyện lạ xảy ra, tưởng mình đang lạc vào thế giới xa lạ, Ma, Yêu Quỷ binh một thế giới toàn là xương, xương ma cá sấu, xương ma thuồng luồng, xương ma khủng long cho đến xương ma hổ, báo, voi, sư tử, đại bàng, trăn, rắn ôi thôi trùng trùng điệp điệp, gào thét hung dữ vô cùng, cuồng phong dữ dội là do chúng tạo ra. Cao Lạc Hải cùng ba quân tướng sĩ kinh hoàng. Bổng nghe tiếng hát đầy thần lực âm vang.

Thuở trời đất mới sinh khai lập

Đức Cha Trời mở rộng non xanh

Truyền rằng nhân loại trưởng thành

Thay trời hành đạo dẹp loài yêu tinh

Lời truyền ấy ứng linh ba cõi

Giống Tiên Rồng dòng giõi tối cao

Hiếu trung chẳng sợ ma nào

Tiến lên quét sạch ngã nhào yêu tinh

Hãy tiến lên vì nước vì non

Hãy tiến lên càn quét yêu ma.

*         *         *

Quân Ân xâm lược can qua.

Để cho non nước bài ca yên bình.

Để cho dân chúng yên lành

Quê mình mãi mãi học hành ấm no.

Tiếng hát đầy thần lực âm thanh truyền đi 7 – 8 dặm đường, bài thơ sư phụ truyền dạy khi nào lâm vào tình thế nguy hiểm thì hát lên. Cao Lạc Hải cùng ba quân tướng sĩ nghe lời hát đầy chí khí ấy thì hò reo dậy trời dậy đất, hò hét xông lên.

Đây nói về Diệp Lang cùng Tây Thục Vương hai cánh quân sau khi dùng thuốc kháng độc, ba quân tướng sĩ thấy trong người thần lực tăng lên gấp ba gấp bốn lần, thấy trong người nhẹ nhàng như muốn bay lên, tiến quân ồ ạt càng lúc càng tiến gần doanh trại giặc, bất chấp cuồng phong càng quét mỗi lúc một dữ dội, yêu khí mù mịt, độc khí trùng trùng, bất ngờ nhìn thấy chuyện lạ xuất hiện, ba quân tướng sĩ la lên coi kìa, nào là quân chuột, nào là quân dơi, nào là quân chồn, gươm, đao, giáo, mác sáng ngời và tướng chỉ huy của chúng là một con chuột khổng lồ ba đầu, một con dơi khổng lồ ba đầu, sáu con mắt của tướng chuột, tướng dơi như 12 ngọn đèn pha càn quét quân Văn Lang. Nhìn quân yêu Tinh trùng trùng điệp điệp không biết bao nhiêu mà đếm, tinh thần quân Văn Lang hơi khiếp hoảng, bổng nghe tiếng ca như Rồng ngân nổi lên vang dội 9 – 10 dặm đường.

Từ thuở Hồng Hoang mở đất trời

Cỏ cây cầm thú nở sanh sôi

Cha Trời Địa Mẫu cùng xuống thế

Nhân loại từ đó đã ra đời

Một bọc trăm con nào ai khác

Ngũ hành trấn khắp chủ mọi nơi

Thay Trời hành Đạo trừ bạo ác

Gươm thiên càn quét chuột yêu dơi

Huyền cơ một trận xoay bộ máy

Yêu Tinh Quỷ dữ nát tàn đời

Tiên Rồng chánh nghĩa quân cứu thế

Hùng khí Nam Thiên dậy biển khơi

Ba quân tướng sĩ nào xông tới

Quét sạch quân thù giữ nước ôi

Chủ quyền Độc Lập muôn đời mãi

Hiếu trung tỏ rạng Đức sanh sôi

Ba quân tướng sĩ nào xông tới

Bảo vệ quê hương khắp đất trời

Ba quân tướng sĩ nào xông tới

Đánh đuổi giặc thù diệt chuột dơi

Tiến lên, tiến lên, tiến lên.

Ba quân tướng sĩ nghe lời ca đầy chính khí ấy, thì hùng tâm trổi dậy hò hét dậy trời dậy đất, 20 vạn quân ào ào xông tới xáp chiến với yêu Tinh, thế là trận chiến xảy ra kinh thiên động địa dậy trời dậy đất.

Đây nói về Tây Thục Vương thống lãnh gần 20 vạn quân sau khi tắm gội linh dược xong, tinh thần ba quân tướng sĩ vô cùng phấn chấn khí lực sung mãn tràn trề, quân reo ngựa hí tiến quân rầm rộ, càng lúc càng tiến gần đến doanh trại của giặc, bất chấp cuồng phong quét tới mịt mù, khí độc ngùn ngụt đen trời mịt đất, những âm thanh kỳ lạ đinh tai nhức óc, bổng nghe một tiếng nổ long trời lở đất, thì một cảnh tượng hiện ra vô cùng khủng khiếp, nào là đủ loại rắn hai đầu trở lên cho đến năm đầu, cá sấu có cánh, thuồng luồng có cánh, khủng long có cánh, mỗi lần đập cánh là giông bão nỗi lên, còn rắn nhiều đầu, thì vô cùng khiếp đảm, đầu phun lửa, đầu phun độc, đầu phun kiếm khí, đầu phun nọc rắn, đầu phun cuồng phong gió bão, đầu phun khí đen mù mịt, chỉ huy là một con rắn khổng lồ chín đầu, các vị Thần xưa nay đều tránh xa con rắn Chúa Xà Rồng nầy, là chúa tể 36 loài bò sát, pháp thuật vô biên. Quân binh Văn Lang nhìn thấy trùng trùng điệp điệp yêu tinh cũng phải kinh hoảng. Thì ở trên mây bổng nỗi lên tiếng hát vang dội núi non biển cả.

Ta tu ở núi Vệ Linh

Còn ta tu ở Tiên Sơn ngút Trời

Hoành Sơn ta tạm ở ngồ