BÁO TIÊN RỒNG

NHÂN THẬP ĐẠI CƯ SỸ

LONG HOA MẬT TẠNG

QUỐC BẢO CHÂN KINH

LONG

HOA

MẬT TẠNG

KINH

THIÊN ẤN – THIÊN BÚT

GÒ HỘI

ĐỨC PHỔ – QUẢNG NGÃI

2000

Cao Đức Thắng

 

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG 1

Tôi là người Việt nên rất yêu mến Cội Nguồn người Việt.

Tôi thường nghe thầy tôi là Đức Hư Không Tạng Diệu Không kể lại rất nhiều lịch sử, nhưng đáng chú ý nhất đó là lịch sử Tiên Rồng.

Thầy tôi kể, lịch sử Tiên Rồng là một lịch sử có thật, lịch sử tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Đã trải qua nghìn năm Văn Hiến do các Vua Hùng tôn thờ truyền lại. Thầy tôi nói, Quốc Tổ Hùng Vương là Đấng Chí Tôn Thiên Đế lâm phàm, đã để lại cho con cháu Việt Nam.  Hai di sản quí hiếm.

1: Là di sản Non Sông Tổ Quốc.

2: Là di sản Văn Hóa Cội Nguồn.

Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc. Nền Quốc Đạo Tiên Rồng là Tinh Hoa vũ trụ, là tiền đồ ung đúc bao thế hệ tinh thần Dân Tộc, trở thành Dân Tộc Thần Thánh. Rừng vàng biển bạc Non Sông đất nước là tiền đồ ung đúc lên sự giàu sang ấm no hạnh phúc.

Tôi lại hỏi. Thưa thầy: Nền Quốc Đạo Tiên Rồng tốt đẹp như vậy, sao không phát triển truyền bá rộng rải cho thế hệ con cháu gìn giữ?

Thầy nói: Nền Quốc Đạo Tiên Rồng là Nền Thiên Luật vũ trụ, Hiến Pháp Đại Đồng Tạo Hóa, Đạo Trời, Thiên Đạo. Chỉ dành riêng cho Vua thờ, không phải Đạo của dân thờ. Hơn nữa trình độ dân trí thời ấy quá lạc hậu, tập tục mê tín dị đoan quá lớn. Hơn nữa Nền Quốc Đạo Tiên Rồng lời lẽ thâm sâu khó hiểu nên không thể truyền rộng rãi xuống dân được. Chỉ vào ngày hội lớn mới được nghe. Nhưng đó chỉ là lời truyền dạy khuyến thiện mà thôi, còn Tinh Hoa của Nền Quốc Đạo thì dân khó mà được nghe.

Nền Quốc Đạo Dân Tộc là Nền Hiến Pháp, Luật Pháp trị Quốc an dân, Nền Quốc Học Văn Minh thời đại. Nhất là lọt vào Tà Ma Ngoại Đạo thì nguy hiểm cho đất nước, họ lợi dụng chánh giáo mê hoặc dân chúng, y giáo một đường giảng một nẻo. Bóp méo Luật Thiên chuyện không nói có chuyện có nói không. Nhất là kẻ thù có dã tâm xâm lược. Thì tai họa không biết đâu mà lường.

Thầy nói: Giữ Tổ Quốc Non Sông đã khó. Giữ gìn Nền Quốc Đạo lại càng khó hơn, vì thế Văn Hóa Cội Nguồn được coi như là báu vật vô giá, được giữ gìn nghiêm ngặt. Hơn nữa Thiên Cơ chưa đến thời cơ chưa phù hợp. Thời xa xưa ấy Dân Tộc Văn Lang nói riêng, nhân loại thế giới nói chung. Khoa học thế giới vật chất trên đà đang hình thành tượng búp, chưa thành búp nói gì đến nở hoa khoa học Văn Minh vật chất. Nên chưa chế tạo ra giấy bút tinh vi. Chỉ dùng da Thú thay cho giấy. Còn dùng thanh tre thay cho giấy là sau này mới có. Không những nền Văn Minh vật chất chưa thành búp mà ngay cả chữ viết cũng còn thô sơ lạc hậu không kém. Khó mà diễn tả ý của Văn Kinh. Lấy việc khắc tượng, vẽ hình họa cảnh lên đất, lên đá, lên cây để truyền dạy cho thế hệ sau. Sự truyền dạy ấy không mấy đem lại kết quả. Quốc Tổ Vua Hùng cũng thấy rõ được điều này.

Nên nói rằng ta sẽ trở lại trần gian ở kỳ 3. Là thời kỳ trình độ dân trí lên cao. Khoa học vật chất đã nở hoa rực rỡ. Văn Hóa Cội Nguồn ra đời không có điều kiện để lại Kinh Luân. Mọi chuyện truyền giáo chỉ truyền khẩu cho nhau, thông qua khẩu tự ngôn từ Từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cứ thế kéo dài mấy nghìn năm thì chuyện gì xảy ra. Đó là tam sao thất bổn. Làm sai lệch chính văn là đều không tránh khỏi vì thế Nền Tinh Hoa Quốc Đạo cũng dần dần biến mất, thay vào đó là những chuyện sai lệch.

Có thể nói buổi ban đầu truyền giáo, Quốc Tổ Vua Hùng thuyết kể về Con Rồng Cháu Tiên thật. Về sau qua nhiều thế hệ truyền giáo thuyết kể Con Rồng Cháu Tiên, qua những lý luận mơ hồ, kể lần ra loài Rắn nước không còn chút uy lực nào cả. Rồi bị ngoại xâm biến thành con giun dưới chân của chúng, Dân Tộc Tiên Rồng trở thành dân tộc nô lệ. Thế hệ con cháu Vua Hùng càng về sau càng đánh mất Tinh Hoa Văn Hóa Cội Nguồn. Từ một lịch sử anh linh cao đẹp, rồi trở thành một tập quán truyền thuyết chân lý mơ hồ. Từ đây con cháu Tiên Rồng sa vào cảnh tối tăm. Nô lệ ngoại bang, nô lệ Thần Quyền, nô lệ Kiến Thức. Nhất là những thức vô cùng độc hại dẩn đến cảnh nồi da nấu thịt, anh em tàn sát lẫn nhau. Đạo Đức xã hội xuống cấp trầm trọng, dẩn đến chiến tranh triền miên khó mà kết thúc. Đói nghèo lạc hậu đeo bám cuộc đời. Thương thay. Thương thay.

*********

Hết phần mở đầu Long Hoa Mật Tạng, mời khắp tầng lớp xã hội con cháu Việt Nam, xem tiếp phần 1 chương 2 Long Hoa Mật Tạng Bộ Kinh tối cao, có một không hai trên toàn nhân loại. Chỉ cần đọc qua một lần, thời nhất định siêu sanh lên các tầng trời, cõi trời hoặc trở thành những nhà lãnh tụ thiên tài. Lưu danh mãi nơi hậu thế. Nếu như đọc tụng ấn in, hoặc giảng giải cho người khác nghe, thì công đức phải nói là vô cùng vô tận. Phải nói là cầu đâu linh đó, cầu chi đặng nấy. Bằng có lời chi xúc phạm thì đại họa giáng xống không biết đâu mà lường.

Chỉ cần khen ngợi một câu

Muôn đời vạn kiếp siêu sanh cõi trời

Chỉ cần xúc phạm một lời

Họa tai giáng xuống đứng ngồi không yên

Linh thiên linh ứng vô biên

Chỉ cần thành kính cũng nên sang giàu.

*********

 

CHƯƠNG 2

PHẦN 1

MẶT TRỜI CHÂN LÝ LẶNG BÓNG ĐÊM TRÙM XUỐNG NHÂN GIAN

Vào năm 110 trước công nguyên lúc đó giấy bút thô sơ mới được ra đời. Cho đến 542 sau công nguyên mới có dịp hưng thịnh nhưng chưa tinh vi mấy. Cũng từ đây các học giả Việt Nam. Hồi tưởng về Cội Nguồn. Tìm toài qua sự thờ cúng, Thơ ca, Hò vè, Truyện kể, Khắp mọi miền đất nước. Rồi đúc kết lại viết lên lịch sử Tiên Rồng, làm mối ghiền Bản sắc đoàn kết dân tộc, bảo vệ giữ gìn quê cha Đất Tổ. Đánh đuổi ngoại xâm.

Nhưng tiếc thay các Ngài chỉ là người thường tục. Chưa tu luyện Đắc Đạo nên không có Huệ Nhãn, Pháp Nhãn. Khó mà thấy rõ quá khứ vị lai, phân biệt được sai lệch, giả chân, đúng sai. Trong sự thờ cúng, truyện kể, thơ ca hò vè. Ở quá khứ và hiện tại sai lệch ở điểm nào, ghi đại những thu thập không hiểu là đúng sai cứ kết thành sử liệu, để lại cho đời sau.

Sự truyền khẩu kéo dài, lại thêm sự thêm bớt khi truyền khẩu. Có nhiều điểm vô lý thiếu khoa học. Nào có phải là tinh hoa Văn Hóa Cội Nguồn. Cái sai dây chuyền. Dựa vào đó mà kết thành sử liệu. Khác nào đưa cái sai đến chỗ sai thêm.

Ở đây chúng tôi nêu lên vài điều vô lý. Đối chiếu giữa mình và Trung Quốc ở sát bên nhau. Không những liên quan về Họ Tộc mà còn liên quan nhiều điểm khác nữa. Nếu nói Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ cách đây hơn 4 nghìn năm. Sinh ra một cái bọc đẻ ra trăm trứng nở ra trăm con.

Nếu nói trăm trứng nở ra trăm con, 50 Nam, 50 Nữ, Gái theo Mẹ lên núi, Trai theo Cha xuống biển. Lớn lên gặp lại lấy nhau. Thành Tổ Tiên của người Bách Việt là không có cơ sở khoa học. Vì sao?

Vì vào thời kỳ ấy, cách đây hơn bốn nghìn năm. Thì chỉ trước thời nhà Hạ, trước thời Nghiêu, Thuấn mà thôi. Không những không đúng sự thật mà còn có hại nữa là khác.

Nếu nói Âu Cơ sinh ra 50 Nam, 50 Nữ, Gái theo Mẹ lên núi, Trai theo Cha xuống biển, lớn lên gặp lại lấy nhau trở thành Tổ Tiên của người Bách Việt.

Chỉ ở thời điểm này thời chúng ta đã thấy bất ổn. Họ sẽ cho chúng ta có nguồn gốc loạn luân. Trong khi nước bạn Trung Quốc ở sát bên ta. Ở vào thời kỳ này nền Văn Minh Thần Giáo đang trên đà Văn Minh cực thịnh. Nhơn Luân cũng đã khá rõ ràng, anh em ruột không lấy lộn nhau. Nếu có lấy cũng chỉ là con nhà Cô Cậu, Dì Dượng mà thôi, còn trong họ tộc ít lắm cũng phải qua ba đời. Huống chi Nền Văn Minh Quốc Đạo Tiên Rồng, Văn Hóa Cội Nguồn, Hiến Pháp Văn Lang cấm hẳn anh em ruột thịt lấy lộn nhau.

Nếu còn nói Âu Cơ chỉ sanh một trăm con Trai, tránh đi sự loạn luân, thì nguồn gốc của người Bách Việt lại càng thêm bất ổn. 100 người con trai Âu Cơ lớn lên lấy vợ ở đâu? Và những người vợ ấy là dân tộc nào? Không ai giải thích nổi, đó là nói đến phàm trí. Còn bậc Đại Thánh trí thì thấy quá rõ ràng. Có thể nói tóm tắt câu chuyện, Lạc Long Quân và Âu Cơ sanh ra bọc trứng. Từ bọc trứng nở ra trăm con sau đây.

(Xem Kinh Long Hoa Thiên Tạng sẽ nói rỏ hơn).

QUỐC TỔ VUA HÙNG KỂ RẰNG:

Cách đây 3 trăm 27 triệu 600 nghìn năm. Ở vào thời kỳ ấy. Cuối kiếp tăng, đầu kiếp giảm. Thời kỳ ấy là thời kỳ chánh khí. Khí Tiên Thiên dày đặc. Côn trùng thảo mộc, sinh linh vạn vật, muôn loài Cầm Thú tiến hóa rất nhanh. Lại thêm tuổi thọ sống lâu vô kể nên sự sanh sôi nẫy nở lan rộng rất nhanh. Cùng khắp mặt Địa Cầu ở khắp năm châu bốn bể. Và cái ác, cái thiện sơ khai cũng từ từ ló dạng ra đời.

Loài Rồng và loài Quỷ thường đánh nhau, sự bất phân thắng bại ấy kéo dài tới hàng triệu triệu năm. Hết tiểu kiếp này sang tiểu kiếp khác.

Cho đến một hôm, Trái Đất xảy xa chuyện lạ. Đó là con người xuất hiện sanh con đẻ cháu, lưu truyền cho đến ngày nay. Cách đây 75 triệu 600 nghìn năm. Giữa tiểu kiếp thứ 5 của kiếp trụ. Tức là ở đỉnh kiếp tăng đầu kiếp giảm.

Thời kỳ ấy ở phương Đông có một dãy núi cao, to, rộng lớn vô cùng. Quanh năm tuyết phủ che lấp hết thảy ngọn núi, khí lạnh bao trùm. Chim muôn vạn thú ở dãy núi này đông vô số nhiều vô biên, không thể tính đếm hay luận bàn cho hết được. Phần nhiều muôn loài Cầm Thú đều có pháp thuật thần thông. Sự đi đi lại lại của các loài Cầm Thú thường gây lên những cơn gió lốc. Cây cối ngã đổ ầm ầm. Lại thêm loài Rồng đánh nhau với các loài Quỷ dữ dội. Nhất là đánh nhau với Mộc Tinh, Hồ Tinh và Ngư Tinh tạo ra cảnh mù trời mịt đất. Chết chóc ghê hồn.

Ngọn núi cao chót vót khoảng độ 10 nghìn mét, dài, to, rộng ấy, bao hàm rộng lớn gồm 3 nước. Lào, Campuchia và Việt Nam, hình thể như một con Rồng vương mình bay về vũ trụ.

Chân núi ở phía Đông rộng xa kéo dài thăm thẳm, giáp liền tới các Đảo. Ngày nay gọi là Đảo Hải Nam, Trường Sa, Hoàng Sa.

Chân núi ở phía Nam kéo dài rộng xa thăm thẳm. Giáp liền tới các Đảo Na Tu Na, MÃ LAI (Malaysia).

Chân núi ở phía Tây kéo dài rộng xa thăm thẳm. Giáp liền Mê gui, Ta voi, Nam tu, Mit ti na, Miến Điện ( Myanma).

Chân núi ở phía Bắc bao trùm cả Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu. Nói chung bao trùm hầu hết giang Nam lĩnh Nam Trung Quốc.

Một dãy núi cao to đã kinh khiếp. Cộng thêm chân núi bốn phía xung quanh bao trùm rộng lớn như đã kể trên. Chưa hết, còn có 7 dãy núi khác nữa, bao bọc xa gần. Nói chung là 7 nước xa gần là 7 nước Đông Nam Á hiện nay.

Một dãy núi cao dài rộng lớn kinh khiếp ấy. Hình thể như một con Rồng vươn mình bay lên hư không vũ trụ. Nên gọi dãy núi đó là dãy núi Long Hoa. Long Hình Địa Cốt. Địa Long của quả Địa Cầu.

Ở dưới dãy lòng núi, nằm sâu dưới đất. Có một khoảng trống chạy dài theo dãy núi. Linh Địa đều tập trung nơi đây. Trải qua hàng triệu triệu năm. Linh tuyền linh. Cốt của Địa Long hết sức quí hiếm. Trên đỉnh núi tuyết phủ quanh năm, khí hậu lạnh lẽo.

Lưng chừng núi rải rác có hàng trăm hàng nghìn cái động lớn. Hàng vạn cái động nhỏ. Phần do tự nhiên. Phần do Thú Cầm có pháp thuật thần thông tạo ra. Quang cảnh nhộn nhịp bởi quá đông chim muôn vạn thú. Cây cao bóng cả tàng tán xum xuê. Xanh um bạc ngàn lớp áo bọc ngoài dãy núi. Hoa văn sặc sở chen nhau đua sắc đua hương của nhiều loại hoa. Thêm vào đó là những quả chín đỏ chín vàng. Lúc nào cũng mỉm cười với những cụm đá chồng ngộ nghĩnh. Cành lá rung rinh theo chiều gió, suốt ngày suốt đêm làm bạn hàng nghìn, hàng trăm đám mây ngũ sắc la đà bay lượn xung quanh dãy núi. Làm cho quang cảnh xung quanh của núi có muôn vạn đèo mây.

Dãy núi Long Hoa đẹp như Thiên Sơn Tiên Cảnh, Còn bốn bên chân núi thì rừng xanh thăm thẳm, trải dài vô tận. Suối, sông, ao, hồ tuông chảy ngày đêm không ngớt. Thời tiết ở bốn phía chân núi chuyển vận theo bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Khi Chân Núi phía Bắc khí hậu lạnh, mưa to, gió lớn. Thì chân núi ở phía Nam lại là mùa nắng ấm. Chân núi ở phía Tây lạnh lẽo, mưa gió lụt lội. Thì ngược lại chân núi ở phía Đông lại là mùa khô ráo hạn hán. Cứ thế ở bốn phía chân núi thời tiết luân phiên trái ngược nhau.

Có thể nói dãy núi Long Hoa. Long Hình Địa Cốt. Là dãy núi thể hiện đầy đủ huyền Thiên Tạo Hóa, Vô Cực, Thái Cực, ÂM DƯƠNG, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Ngũ Hành, Bát Quái, Thiên Can, Địa Chi, Hào Quẻ, biến hóa ảo diệu vô cùng. Phải nói là dãy núi linh thiêng nhất của Trái Đất. Trung tâm khí Thiên sông núi, linh ứng của Quả Địa Cầu. Là một Thánh Địa để cho con người ra đời và thật vậy.

*********

 

Hết phần 1 chương 2 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 2 chương 2. Long Hoa Mật Tạng kinh là bộ kinh quý hiếm không thể nghĩ bàn, những người hữu duyên chỉ cần đọc qua một phần kinh thì coi như tội lỗi tiêu tan muôn vạn ức kiếp, rốt sau đều thành Phật Tổ, Thánh Tổ, Chúa tổ, giáo hóa vô lượng cõi nước trời. Nếu đem in ấn, biên chép truyền bá cho đời, thì phước đức không kể sao cho hết. Không những Ông Bà Cha Mẹ siêu thăng về thượng giới. Mà con cái cháu chắt hiển vinh đời đời, giàu sang bậc nhất.

Long Hoa Mật Tạng quí biết bao

Muôn nghìn ức kiếp khó tìm cầu

Chỉ cần đọc tụng truyền bá khắp

Vua Trời mãi mãi đấng tối cao.

 

 *********

 CHƯƠNG 2

 PHẦN 2

CHA TRỜI – ĐỊA MẪU

XUẤT HIỆN

LẠC LONG QUÂN VÀ ÂU CƠ

Lúc bấy giờ nơi cõi Hư Không trung tâm vũ trụ, Đức Khai Hóa Tối Thượng Tổ Tiên thấy muôn loài Cầm Thú sát phạt lẫn nhau, không còn tiến hóa được nữa với cái tánh ngu si mê muội ác độc, ngự trị mãi linh Hồn của chúng, đầu thai lẫn quẫn, lộn qua lộn lại ở loài Cầm Thú mà thôi.

Tổ Tiên Khai Hóa nhìn vũ trụ nghĩ, giang sang ta rộng lớn thế này, không người cai quản với tính chất ngu si của loài Cầm Thú thì khó mong làm chủ được vũ trụ, chớ đừng nói đến linh Hồn của chúng giác ngộ trở về Cội Nguồn. Chúng mãi mãi ở lớp Thú Cầm, rồi đọa lạc sang Côn, Trùng, Thảo, Mộc.

Linh Hồn 8 muôn 4 nghìn loài sống trong vũ trụ nói chung, bốn quả Địa Cầu nói riêng linh Hồn của chúng cũng chính là linh Hồn của ta, ở hai dạng khác nhau.  Ta nước, chúng là bọt nước. Linh Hồn của ta Đại Linh Hồn vũ trụ ví như nước. Còn linh Hồn 8 muôn 4 nghìn loài là tiểu linh Hồn vũ trụ, ví như bọt nước. Tiểu Linh Hồn do Đại Linh Hồn tạo ra. Cũng như bọt nước là do nước tạo ra. Nước chỉ là một, còn bọt nước thì nhiều vô lượng vô biên.

Linh Hồn của chúng không phải do trí giác ta tạo ra mà do thân giác vũ trụ ta tạo ra. Khi trí giác vũ trụ ta ngủ sâu vào Đại Định, không còn kiểm soát thân giác nữa Thân giác ta liền khởi ý phân biệt xâm nhập vào thế giới vật chất. Thế là trở thành Tiểu Linh Hồn vũ trụ nhiều vô lượng vô biên không thể tính đếm, không thể nghĩ bàn.

Linh Hồn của chúng sanh ra khi ta còn đang ngủ. Nên Linh Hồn của chúng vì đó mà tối mê chìm đắm mãi trong cảnh giới vô minh không bao giờ trở về Cội Nguồn được. Cũng như bọt nước u mê, thì không bao giờ hiểu chúng từ nước sanh ra và Tiểu Linh Hồn cũng thế. Không bao giờ hiểu mình từ Đại Linh Hồn sanh ra vì không hiểu rõ Nguồn Cội của mình. Cứ trôi lăn mãi trong sanh tử, đầu thai qua lại ăn nuốt lẫn nhau, Ác tánh khởi sanh như non, như núi, xung đột tàn sát khốc liệt. Vì hiểu rõ muôn loài Cầm Thú tiến hóa đến đây thì không còn tiến hóa được nữa, cũng như trí giác Linh Hồn của muôn loài Cầm Thú không bao giờ tìm thấy Đại Linh Hồn vũ trụ trở về với Cội Nguồn.

Nên Khai Hóa Tổ Tiên mới hiện thân ra con người.

(xem Kinh Long Hoa Thiên Tạng nói rõ điều này hơn)

Lưu truyền nòi giống con người để mà cứu chúng. Lưu truyền nòi giống con người có nhiều mục đích:

1: Là để cho các loài Cầm Thú, đầu thai làm người. Một thể xác cao cấp tiểu thiên vũ trụ.

2: Linh Hồn muôn loài Cầm Thú nhờ thể xác con người, thể xác cao cấp tiểu thiên vũ trụ. Tiến hóa Linh Hồn nhanh chóng lên cảnh giới, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

3: Thay thế Tổ Tiên cai quản điều hành vũ trụ, lúc Tổ Tiên ngủ, cũng như lúc Tổ Tiên thức.

4: Điều hành nhân loại còn ở cảnh giới phàm, phàm phu theo Thiên Đạo. Hiệp theo bộ máy huyền vi của Tạo Hóa. Hiệp theo Thiên Luật Cội Nguồn.

5: Thay thế Tổ Tiên. Khai tạo lập lên cảnh giới Thiên Đàng Cực Lạc. Cảnh giới cao nhất của loài người.

6: Duy trì: Mật Tạng, Pháp Tạng, Thiên Tạng, Luật Tạng, Công Đạo Hiến Pháp vũ trụ.

7: Đại Đồng vũ trụ, Độc Lập thống nhất bình đẳng, đem lại sự bình yên cho toàn vũ trụ.

8: Phát minh khoa học toàn năng toàn giác, tinh thần, vật chất. Phục cho nền Văn Minh vũ trụ.

9: Trở về Cội Nguồn. Ví như bọt nước tan biến trở về là nước. Tiểu Linh Hồn trở về Đại Linh Hồn. Trở về thật tánh thật tướng của mình. Vô thỉ vô chung như như bình đẳng.

10: Là hiện thân toàn năng toàn giác lập ra vô lượng phương tiện. Phù hợp khả năng ở mỗi thời kỳ, độ tận thiên hạ. Sự hiện thân của Tổ Tiên Khai Hóa, lưu truyền nòi giống con người có 10 mục đích như thế, lợi ích như thế nhưng Tổ Tiên hiện thân bằng cách nào. Khi Tổ Tiên bản thể vốn vô vi, muốn hiện thân thành hửu vi phải có cơ sở khoa học của nó.

Tổ Tiên Khai Hóa phải dùng đến ý niệm tóm thâu, giống như Lực Nam Châm hút lấy sắt, thép, kẽm, chì. Tổ Tiên dùng ý niệm tóm thâu Tiên Thiên Tinh Hoa vũ trụ. Hiện thân ra Đức Cha Trời, đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, hào quang sáng chói. Tổ Tiên lại tiếp tục dùng ý niệm, tóm thâu Tiên Thiên Chơn Âm, Tinh Hoa vũ trụ. Hiện thân ra Đức Địa Mẫu đủ 32 tướng tốt, 80 mươi vẻ đẹp hào quang sáng chói.

Sự hiện thân của Tổ Tiến, một âm một dương, một nam một nữ. Làm cho không gian bổng sáng rực rỡ. Như báo hiệu Đức Cha Trời Đức Địa Mẫu ra đời, chuẩn bị cho cuộc hành trình lưu truyền nòi giống con người. Thay thế Tổ Tiên trông coi vũ trụ.

Đức Cha Trời khi có con gọi là Đức Lạc Long Quân.

Đức Địa Mẫu khi có con gọi là Đức Âu Cơ.

Đức Cha Trời cùng Đức Địa Mẫu, chọn lấy quả Địa Cầu Nam Thiện Bộ Châu. Quả Địa Cầu mà chúng ta đang sanh sống, làm nơi sanh sản con người trước nhất. Từ nơi chốn hư không trung tâm vũ trụ, Hai Đấng Tiên Rồng, Cha Trời, Địa Mẫu từ từ bay đến Trái Đất và đáp hạ xuống đỉnh núi Long Hoa, Long Hình Địa Cốt Trái Đất. Làm cho Trái Đất rung động. Chim muôn vạn thú kinh hoàng hoảng sợ, không biết điều gì đã xảy ra. Mây ngũ sắc bổng nhiên xuất hiện. Dưới mặt đất muôn hoa chen nhau đua nở, cây cối khô héo lâu ngày bổng đâm chồi nảy lộc xanh tươi trở lại. Sông suối khô cạn, tự nhiên nguồn mạch sung túc rốc rách chảy tuôn thấm nhuần mặt đất. Bầu Trời mát mẻ trong xanh, Nhật Nguyệt Tinh Tú thi nhau tỏa sáng. Dưới đất trên cây Phụng Hoàng nhảy múa. Rồng uốn khúc ngúc ngoắt vẫy đuôi, 8 muôn 4 nghìn loài như đi vào an lạc mới.

Từ nơi ngọn núi Long Hoa, muôn đạo hào quang tỏa lên rực rỡ, mang theo mùi hương thơm ngát Loài Cầm Thú nào hít được thì không còn đói khát, như uống phải cam lộ, Linh Đơn. Linh Hồn phấn chấn như muốn bay bổng lên Trời. Các loài Cầm Thú có pháp thuật thần thông, thấy ngọn núi Long Hoa, muôn Đạo hào quang tỏa lên rực rỡ thì bốn phương tám hướng quả Địa Cầu, các loài Thần Thú, Thần Cầm lũ lược bay đến làm cho ngọn núi Long Hoa trên không dưới đất chật nghẹt. Ngày hội của Thú Cầm.

Đây nói về Đức Cha Trời cùng Địa Mẫu đáp xuống ngọn núi Long Hoa gây ra chấn động Địa Cầu. Liền thâu nhỏ thân hình lại cao độ vài mươi trượng mà thôi. Đức Địa Mẫu Âu Cơ liền gồm thâu ngũ khí: Địa, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa ở bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc và Thổ Khí Linh truyền sâu dưới dãy núi Long Hoa để tạo thành phôi thai trăm trứng cùng trong một cái bọc to lớn trong bụng Đức Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ.

Núi Long Hoa là dãy núi hình Rồng, thu hút Tinh Hoa của Trời Đất hàng triệu triệu năm: Vô Cực, Lưỡng Nghi, ÂM DƯƠNG gồm đủ, tứ tượng đủ đầy, bát quái chuyển xây, Ngũ Hành, Địa Chi không thiếu, một trăm chi khí, trấn khắp ngũ phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung Uơng Thượng, Hạ.

Đức Địa Mẫu Âu Cơ tóm thâu Tinh Hoa, khí hóa Ngũ Địa của dãy núi chân núi Long Hoa là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ kết tụ thành trăm trứng trong một bọc, trăm trứng vì vậy cũng chia thành năm màu da khác nhau.

Kim trứng da trắng. Mộc trứng da chàm. Thủy trứng da đen. Hỏa trứng da đỏ. Thổ trứng da vàng.

Sự hình thành phôi thai, dưỡng nuôi bào thai phải trải qua một thời gian khá lâu, đúng chu kỳ luật tự nhiên ở đỉnh cao tuổi thọ giữa tiểu kiếp thứ 5, con người sanh ra trung bình thọ 60 nghìn tuổi, yểu 40 nghìn tuổi, thọ 80 nghìn tuổi. Nên Địa Mẫu Âu Cơ phải mang thai 9 năm, 9 tháng, 10 ngày thời thai nhi mới phát triển đầy đủ, lục phủ ngũ tạng, sáu căn, chín khiếu hoàn hảo. Trở thành con người hài nhi (xác thân tiểu thiên vũ trụ). Tinh Cha, Huyết Mẹ, Tinh của Trời, Khí của Đất. Đức Địa Mẫu Âu Cơ đã mang thai trăm trứng. Sắp đến ngày khai hoa nở nhi, nhân loại con người sẽ ra đời, chào đời, sắp đến giờ quan trọng ấy.

Đức Địa Mẫu Âu Cơ nói với Đức Long Hoa Cha Trời rằng:

   Này ông, giờ thì đến lượt ông, ông hãy gọi muôn loài Cầm Thú đến, để chúng đầu thai làm con người, làm con của chúng ta.

Đức Long Hoa Cha Trời nghe Địa Mẫu Âu Cơ nói thế tức thời từ nơi cửa miệng của Đức Long Hoa Cha Trời, trùng trùng điệp điệp lớp lớp hào quang tung tủa phóng ra, tạo ra vô số vô biên âm thanh vi diệu, truyền xa đến tận chân trời góc bể khắp quả Địa Cầu.

Chim muôn vạn thú là những con chúa tể đầu đàn nghe được âm thanh ấy liền cấp tốc lên đường đến nơi Cha Trời đang gọi. Lúc bấy giờ xa gần trên không, xa gần ở đỉnh núi Long Hoa. Lớp lớp mây ngũ sắc biến thành cây báu khổng lồ, các loài Cầm Thú khắp mặt Địa Cầu, loài ở động ở hang, loài ở rừng ở núi, loài ở cây ở đất, loài ở sông ở biển, loài ở tuyết ở lửa, thi nhau bay đến ngọn núi Long Hoa rợp trời rợp đất. Nhìn các loài Cầm Thú đông vô số vô biên, không thể tính đếm không thể nghĩ bàn, lớp ở mặt đất, lớp ở trên cây báu, lớp ở trên không, Chúa Tể của loài bò sát, Cầm Thú đều có mặt.

Các loài Thần Thú, Thần Cầm thấy hai Đấng Tiên Rồng, cao lớn kỳ lạ. Hào quang sáng rỡ muôn màu muôn sắc. Xinh đẹp tôn nghiêm. Nhưng rất hiền lành, có loài bạo dạng đến gần để nhìn cho rõ.

Địa Mẫu Âu Cơ thấy Chúa Tể của muôn loài đến đông đủ, toàn thân của Địa Mẫu Âu Cơ, trổi dậy vô lượng mùi hương lan tỏa khắp, muôn loài Cầm Thú, Bò Sát chỉ cần hít vào, không những hết đói khát cả tháng mà Linh Hồn cũng sáng suốt minh mẩn lạ thường, nhạy cảm vô biên.

Nhất là loài Rồng, loài Phụng, loài Khổng Tước, loài Kỳ Lân, loài Voi, loài Sư Tử, loài Ngựa, Trâu, Dê, Chó, Mèo v.v… Đức Long Hoa Cha Trời thấy chúng nó đã hít huệ hương, trí hương, giác hương, giới hương, định hương, thiện hương, dũng hương, tín hương, nghĩa hương, lễ hương, nhẫn hương, xả hương, nhịn hương, nhục hương, lạc hương, thiên hương v.v.. Liền dùng trăm nghìn muôn ức hào quang phát ra muôn vạn âm thanh vi Diệu, cùng một lúc thuyết giáo nói chuyện với muôn nghìn chủng loại Cầm Thú, Bò Sát.

LỜI TRUYỀN DẠY CỦA ĐỨC CHA TRỜI :

   Hỡi các loài Cầm Thú, các loài Bò Sát, ta đây là Đấng Chúa vũ trụ, Đấng tạo lập lên tất cả. Nay ta gọi các ngươi đến đây nói rõ các ngươi từ đâu có ra thì các ngươi phải hiểu để biết đường trở về, thoát khỏi cảnh luân hồi sanh tử, thoát khỏi cảnh ngu si khốn khổ. Khi xưa ta tạo ra Lực, Khí, Lửa, Nước, Đất Ngũ Đại vũ trụ. Thành lập Tam Thiên, Đại Thiên thế giới, ba cõi vật chất Thiên Đàng, Trần Gian, Âm Phủ. Tạo ra Nhật, Nguyệt, Thiên Hà, Ngân Hà, Tinh Tú, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ sau cùng là 4 quả Địa Cầu. Thì ta cũng đã quá mệt nên đi vào giấc ngủ say sưa. Ta có một cái tánh đặc biệt, khi ta thức thì pháp thân ta Quang Minh, nhưng khi ta đi vào giấc ngủ say sưa, không kiểm soát được pháp thân của ta nữa. Pháp thân ta liền trở thành vô minh, xâm nhập vào thế giới vật chất. Khởi tưởng phân biệt bám lấy vật chất, từ bản thể linh giác Thấy, Nghe, Hay, Biết tự nhiên của ta, nẩy sanh khởi tưởng phân biệt, tức thời thân ta một phần lớn bể ra từng mảnh nhỏ, nhiều vô số vô biên không thể tính đếm, không thể nghĩ bàn như vô số vi trần cát bụi vô tận vô biên. Những mảnh bể Linh Hồn đó đã trải qua vô lượng vô biên số kiếp, tiến hóa ý thức, những mảnh Linh Hồn đó chính là Linh Hồn của các ngươi.

   Linh Hồn của các ngươi ví như bọt nước, còn Linh Hồn của ta ví như nước. Bọt nước từ nước sanh ra nhưng bọt nước không biết Cội Nguồn của mình là nước. Ta là Đại Linh Hồn vũ trụ còn các ngươi là Tiểu Linh Hồn vũ trụ. Tiểu Linh Hồn từ Đại Linh Hồn mà ra nhưng Tiểu Linh Hồn các ngươi không biết đường về, bởi gì các ngươi sanh ra mang theo cái tánh vô minh ấy của ta, trở thành tánh ngu si của các ngươi, cũng từ cái tánh ngu si này, dẫn dắt các ngươi đến con đường hung ác, con đường Dục Vọng, cấu xé ăn nuốt lẩn nhau và mãi mãi trong thống khổ, Dục Vọng Điên Cuồng.

   Không những các ngươi khốn khổ trong cuộc sống sát phạt, ăn nuốt lẫn nhau mà còn khốn khổ trong sanh tử luân hồi đọa đầy khắp nẻo. Khốn khổ trong bộ mấy tuần hoàn vũ trụ, Thành, Trụ, Hoại, Không. Linh Hồn các ngươi phải lại chìm đắm trong lạnh lẽo, tối tăm ở kiếp không hàng trăm triệu năm.

   Linh Hồn của ta ví như nước, Linh Hồn của các ngươi là bọt nước. Bọt nước với nước chính là một không phải hai, mà là hai vì Linh Hồn của các ngươi là bọt nước còn Linh Hồn của ta là nước mà thôi. Nước không xa rời bọt nước, chính bọt nước không biết đấy thôi, Linh Hồn bọt nước của các ngươi đang sống trong Đại Linh Hồn vũ trụ nước của ta vì bọt nước và nước không tách rời nhau, nếu bọt nước tách rời khỏi nước thì bọt nước sẽ bị hủy diệt. Linh Hồn của các ngươi cũng vậy, nếu tách rời khỏi Đại Linh Hồn vũ trụ của ta thì Linh Hồn các ngươi sẽ bị hủy diệt ngay. Các ngươi nghĩ gì, làm gì ta đều nghe thấy tất cả, cũng giống như cá sống trong nước, cá làm gì, nghĩ gì nước đều thấy rõ.

   Thân xác của các ngươi là thân xác Cầm Thú, Bò Sát khó mà tiến hóa lên được nữa, Linh Hồn của các ngươi mãi là Linh Hồn Cầm Thú, Bò Sát, đầu thai qua lại ăn nuốt sát phạt, trả quả cho nhau khổ mãi không ngừng.

   Các ngươi nên nhân cơ hội này xả bỏ xác thân Cầm Thú, Bò Sát, Linh Hồn đầu thai vào loài người, một thể xác cao cấp thể xác Tiểu Thiên vũ trụ. Không những Linh Hồn các ngươi tiến hóa rất nhanh trí huệ vô tận, nhờ thân xác con người các ngươi tiến tới làm chủ được mình, làm chủ vũ trụ, không những các ngươi thoát khỏi loài Thú, Cầm, Bò Sát, ngu si đần độn. Được làm người đứng thẳng, đầu đội Trời chân đạp đất, không những các ngươi thoát khỏi ngu si đần độn, được làm người, làm con của ta, các ngươi sẽ thay ta, trông coi vũ trụ, đầy đủ Thần Thông trí huệ, phước báo pháp lực vô biên, tạo lập lên thế giới Thiên Đàng Cực Lạc, sống mãi không chết. thoát khỏi Sanh, Lão, Bệnh, Tử.

   Loài nào đầu thai làm người trước, loài đó sẽ ở ngôi vị Chí Tôn, làm đàn anh của loài người và tiếp theo ngôi vị sẽ phân theo thứ lớp.

Khi Đức Long Hoa Cha Trời thuyết giáo xong, liền có 100 Thần Thú, Cầm, Bò, Sát là những Chúa Tể đứng đầu. Thú, Cầm, Bò, Sát vui mừng khôn xiết liền xả bỏ thể xác, đầu thai nhập vào bụng Mẹ Âu Cơ. Chúa Tể loài Rồng xả bỏ thân xác nhanh chóng, đầu thai trước nhất ở ngôi số 1, kế đến là Phụng Hoàng, Khổng Tước, Kỳ Lân ở ngôi số 2, kế đến là Voi, Sư Tử ở ngôi số 3 rồi đến Ngựa, Trâu, Hổ, Gấu, Khỉ, Chó, Mèo v.v..(năm ngôi).

Chỉ riêng có 3 con Chúa Tinh yêu quái đứng đầu, các loài không phải Cầm, không phải Thú.

Một là loài Chồn Cáo có cánh: tánh đa nghi xảo hoạt, trộm cướp lén lút, thích nữa tối nữa sáng là lối sống của chúng, nghi ngờ lời thuyết giáo của Đức Cha Trời nên bỏ cơ hội làm con của Trời.

Hai là loài Thuồng Luồng có cánh: không phải Cầm, không phải Thú, không phải loài Bò Sát, tánh tình hung dữ, đa nghi, mưu mẹo, ác độc, háo chiến háo sát, chúng hủy diệt cả tổ tông của chúng là loài Khủng Long. Với cái tính hung ác, đa nghi, bảo thủ cao. Chúng không nghe lời Đức Cha Trời bỏ mất cơ hội làm con của Tiên Cơ Địa Mẫu, làm con của Đức Cha Trời.

Ba là loài cây sống lâu năm: đó là cây Mộc Hương, loài cây ăn thịt. Loài cây này chuyên tiết ra mùi hương lạ dụ các loài Động Vật đến, kể cả các loài Cầm Thú. Chúng cũng được Cha Trời gọi đến nhưng chúng tự cao đến để thực hiện mưu đồ hưởng lợi từ hai bên Cha Trời Địa Mẫu và các loài Động Vật Cầm Thú, Bò Sát. Không những chúng không chịu đầu thai mà chúng còn tỏ thái độ ganh ghét, sự cao sang, uy lực, thần thông quảng đại của Đức Cha Trời cũng như Địa Mẫu Âu Cơ.

Đức Cha Trời, Địa Mẫu Âu Cơ tuy biết thế nhưng cũng để yên cho chúng không phê phán gì, mà nghĩ chúng là kẻ có lợi cho sự tu luyện, con cái nhà Trời. Muốn tu luyện mau thành chánh quả phải nhờ cái ác khảo đảo phản tỉnh, có Đại Ác thì mới thấy Đại Thiện, thấy cái xấu thì mới quí cái tốt, thấy khổ mới đi tìm sự vui, muốn có Cõi Thiên Đàng Cực Lạc phải thoát ra từ cõi Địa Ngục.

Vì hiểu thế Đức Cha Trời không làm hại chúng mà còn nói:

   Này ba con quỷ, Luật Trạng vũ trụ rất công minh, nếu ngươi thắng được con ta, thì các ngươi có quyền làm chủ vũ trụ.

Ba con quỷ nghe Đức Cha Trời phán thế không những không cảm ơn mà còn cao ngạo phóng lên không trung bay đi đầy thách thức. Đức Cha Trời thấy thế liền nở nụ cười đầy bí hiểm, khó ai hiểu được thâm ý của Trời, bí mật mãi mãi là bí mật.

Từ khi Chúa Tể của các loài Cầm Thú, Bò Sát đầu thai vào bụng Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ để được làm người, làm con Trời phải trải qua chín tháng trăm ngày mới chào đời, trong thời gian ấy Đức Địa Mẫu Âu Cơ phải luôn luôn tóm thâu tinh hoa khí hóa Thiên Địa để nuôi con từng ngày từng giờ. Với công lao ấy không có gì đền đáp nỗi.

Đức Cha Trời nhìn sự kham khổ của Địa Mẫu liền ngẫm nghĩ. Vì muốn sanh ra nhân loại con người, lưu truyền nòi giống con người. Để cho muôn loài vạn vật, Côn Trùng, Thảo Mộc muôn loài Cầm Thú tiến hóa lên, được đầu thai làm người. Tiến hóa Linh Hồn trở về Nguồn Cội giải thoát sanh tử, khốn khổ.

Địa Mẫu Âu Cơ mang thai theo quy luật tự nhiên của phàm trần, theo thời kỳ ấy, thì những người con của Địa Mẫu mới ở lại sống trong chốn nhân gian, nơi quả Địa Cầu này, một thứ khổ, mang thai, sanh con, nuôi con mà Địa Mẫu Âu Cơ là người đầu tiên trải qua kham khổ, khổ nhọc ấy.

Thật ra mà nói với Thần Lực của Đức Cha Trời và Địa Mẫu thì không cần mang thai đẻ con lâu như vậy (mà chỉ cần nháy mắt là tạo ra hàng loạt con người). Nhưng những con người đó chỉ là những con người bằng pháp thuật không phải con người trần tục, xác thân phàm trần, ăn uống đói khát theo quy luật tự nhiên, sanh con đẻ cháu lưu truyền nòi giống con người, chịu kham khổ tu hành tiến hóa, lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn, tiến lên cảnh giới Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa lối sống có nhân có quả, gieo Thiện gặt Thiện, gieo ác gặt ác, gieo phúc gặt phúc, gieo họa gặt họa theo quy luật tự nhiên.

Vì vậy để khai tạo ra con người phàm tục, sống chung với muôn loài vạn vật, Đức Địa Mẫu Âu Cơ phải trải qua sự khốn khổ mang thai, nuôi thai, sanh con đều trải qua sự khốn khổ lâu dài. 9 năm 9 tháng 10 ngày mới khai hoa nở nhị.

Đức Địa Mẫu Âu Cơ đã biết sắp đến giờ sanh nở, bằng nói với Đức Long Hoa Cha Trời rằng:

   Ông hãy ban cho con cái lời nguyền Hồng Phúc đi.

Đức Long Hoa Cha Trời nhìn về vũ trụ giang sang rộng lớn của mình, chưa có người trông coi và sáng tạo thêm cho xinh đẹp. Lập thành các cõi nước trời trang nghiêm. Đức Cha Trời lại nghĩ rằng. Ta là hiện thân của Đức Tổ Tiên, đấng tối cao vũ trụ, đấng chúa của Linh Hồn và vật chất. Ta cũng cần có người kế nghiệp, đó chính là con cái của ta, thay thế ta làm chủ vũ trụ. Đức Cha Trời lại nghĩ, pháp thân ta vô cùng vi Diệu khó mà nghĩ bàn. Đó là Cội Nguồn của tất cả Trời Đất, vạn vật sanh linh cùng vũ trụ, pháp thân ta là pháp thể Đại Đồng, Tự Do, Bình Đẳng, Hiến Pháp công đạo vũ trụ. Ta cũng cần có người thay thế, duy trì Công Đạo vũ trụ, cầm cân nảy mực phân minh.

NÊN ĐỨC CHA TRỜI PHÁN TRUYỀN RẰNG:

   Này hỡi các con của ta, khi các con chào đời sẽ vang tiếng sấm trí tuệ, tiếng sấm Chúa Tể của muôn loài. Các con sẽ có trí Huệ, sáng hơn mặt trời, sáng hơn hào quang của ta, các con sẽ trở thành Phật, Thánh, Tiên vào ba ngôi báu của ta. Đó là Pháp Tạng, Thiên Tạng, Luật Tạng vào ngôi Chí Tôn, thay thế ta điều hành vũ trụ và lập lên các cõi nước Trời, các Thiên Đàng Cực Lạc làm cho Tam Thiên, Đại Thiên vũ trụ mỗi ngày một thêm rực rỡ, xinh đẹp, trang nghiêm.

Lời nguyền của Đức Long Hoa Cha Trời vừa dứt, thì Địa Mẫu Âu Cơ đã sanh ra một bọc to lớn khổng lồ, sau đó là một tiếng nổ kinh thiên động địa, chấn động toàn vũ trụ. (Tiếng sấm Đại Đồng) kế theo là một trăm tiếng sấm nổ làm chấn động liên miên vũ trụ như muốn đến hồi sụp đổ. Như báo hiệu cho tất cả muôn loài vạn vật biết là nhân loại con người đã ra đời thay thế cha ông làm chủ vũ trụ, cai quản thế giới vật chất cũng như thế giới Linh Hồn, kế tục và gìn giữ cơ nghiệp vũ trụ của Ông Cha. Các loài Cầm Thú, Bò Sát vô cùng hoảng sợ, khiếp đảm khi nghe tiếng sấm vang dậy liên tiếp nổ ra làm rung chuyển cả Trời Đất, chấn động không gian vũ trụ, chúng linh cảm là hàng loạt Chúa Tể con người đã ra đời, từ đây chúng sẽ bị cai trị.

Chúng thấy trùng trùng điệp điệp muôn Đạo Hào Quang tỏa lên từ đỉnh núi Long Hoa, và không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chúng liền bay lên không trung hướng về ngọn núi Long Hoa, mỗi lúc một dữ dội. Âm thanh sấm nổ cứ vang rền mãi không dứt. Làm rung động cả núi rừng, cả năm châu bốn bể.

Nhất là ba con Quỷ tâm Hồn hoảng loạn, run sợ không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chúng liền bay lên không trung hướng về ngọn núi Long Hoa bay tới thì hết sức kinh hoàng. Một trăm người con của Đức Cha Trời đã ra đời.

Những tia hào quang tỏa ra từ trăm người con của Đức Cha Trời, làm chúng đau đớn ngạt thở. Như hàng vạn mũi kim đâm vào tim chúng, làm chúng hoảng sợ, khiếp kinh ẩn mình, trốn thoát không dám quay đầu nhìn lại nữa.

Khi ấy những dòng sữa của Đức Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ tuông chảy ra và mọc lên hàng loạt ngũ cốc, dần dần lan ra khắp cùng mặt đất. Khi con người đi đến đâu, thì nơi đó có dòng sữa Mẹ ngũ cốc để sinh sống.

Đức Long Hoa Cửu Huyền Cha Trời nói:

   Này Bà, không bao lâu nữa thì dãy núi Long Hoa sẽ bị sụp. Đất đai phương Đông này động đất dữ dội. Lục Địa giãn nở tách ra, phần lớn đất đai biến thành biển cả sông Hồ. Ở phương Tây cũng như trung Đông nước cạn dần và lộ ra những đất đai bằng phẳng. Phương Đông phần lớn ngập chìm trong biển nước, dãy núi Long Hoa bị sụp. Vì vậy sự sống của dãy núi cũng như sự sống của con cái không được an toàn.

   Chúng ta dẫn con cái về phương Bắc của dãy núi (tức là địa phận Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu, nói chung là bao trùm hầu hết miền Giang Nam Lãnh Nam Trung Quốc, giáp liền với sông Trường Giang). Đất đai ở đây bằng phẳng, cây cối sum xuê, hoa hiền trái ngọt, phía Đông Nam dãy núi Long Hoa địa chấn sụp xuống thành biển, nơi đây tuy có sụp nhưng vẫn an toàn con cái.

Thế là Đức Cha Trời Lạc Long Quân cùng Địa Mẫu Âu Cơ bay lên không trung phất tay một cái. Tức thời trăm người con bay lên không trung theo Cha mẹ bay về phương Bắc của dãy núi, hạ xuống gần Nam sông Trường Giang bây giờ. Nơi đây đất đai bằng phẳng, cây cối sum xuê, sông hồ kinh rạch, núi rừng đều thuận tiện cho cuộc sống. Bốn mùa, tám tiết, Xuân, Hạ, Thu, Đông lúc nào cũng có hoa quả sum xuê bảo tồn nòi giống con người.

Nhìn những dãy đồi mênh mông xa thẳm sông suối nước trong văn vắt. Địa Cuộc Rồng nằm, Hổ phục, Qui định, Phụng an, Chim muôn vạn Thú ở đây đông vô số vô biên, nhất là loài khỉ, loài vượn, loài Tinh Tinh, hàng vạn vạn con. Một hôm Đức Cha Trời Lạc Long Quân cùng Địa Mẫu Âu Cơ nhìn trăm người con đã lớn, uy nghi như sứ Thần Tạo Hóa. Đức Địa Mẫu Âu Cơ nhìn đàng con khôn lớn, chúng có thể nghe có thể hiểu, bằng nói Ông hãy dạy bảo cho con đi.

Đức Cha Trời Lạc Long Quân thường thấy các con không được đoàn kết cho lắm, luôn luôn phân biệt màu da. Da vàng theo da vàng, da trắng theo da trắng, da đen theo da đen, da đỏ theo da đỏ, da chàm theo da chàm, luôn luôn phân biệt chia rẽ nhau.

Đức Cha Trời Lạc Long Quân phán rằng:

   Này hỡi tất cả con của ta, các con từ một bọc mà ra, tuy các con khác màu da nhưng các con chung cùng một Cội, một Cha, một Mẹ, một Tổ Tiên, một chiếc nôi Quả Địa Cầu, một ngôi nhà chung vũ trụ. Các con là anh em, các con phải biết thương yêu nhau, đùm bọc nhau để mà sống, các con phải có tinh thần đoàn kết. Tôn trọng lẫn nhau, đối xử với nhau thật Bình Đẳng, tôn trọng quyền Tự Do, quyền Tự Chủ, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc. Trong cái riêng có cái chung, cái chung chính là Hiến Pháp Đại Đồng. Sẽ khởi sanh ra Luật Pháp bảo vệ cái riêng của các con. Các con phải có tấm lòng Quảng Đại, có chí nghĩa Nhân, có lòng hiếu thuận đối với Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, biết thương yêu đồng loại, nòi giống Tiên Rồng.  Trung thành lẽ công, bảo vệ cái chung và cái Riêng. Đã là loài người, đầu đội trời chân đạp đất, nòi giống Tiên Rồng. Thì các con phải khác với loài Cầm Thú, Bò Sát. Các con phải sống chân thật, khác với loài Cầm Thú, lừa dối, phỉnh gạt lẫn nhau. Các con phải lấy nhơn Đức làm đầu, tha thứ cho nhau khi có lỗi, nâng đở nhau khi lâm nạn, lúc đói khổ. Đoàn kết là lối sống văn minh, chia rẽ là lối sống Địa Ngục, biết yêu thương con cái, biết hi sinh vì đại nghĩa, luôn luôn hướng về Cội Nguồn. Phụng thờ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu cho con cái noi theo, đừng để lạc mất Cội Nguồn, chăm lo và giữ gìn Đức tánh con người luôn luôn hướng thiện (xem Kinh Nhơn Luân).

   Nhờ các con luôn luôn hướng thiện nên các con tìm thấy Cội Nguồn. Trở về Tạo Hóa lên ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác. Đó là ngôi Phật, ngôi Thánh, ngôi Tiên. Nếu các con có công lớn trong Văn Hóa Cội Nguồn trong việc truyền giáo độ sanh. Thì các con sẽ lên ngôi Chí Tôn vô thượng phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Chúa.

   Nếu các con nghe theo lời dạy của ta chỉ cần được một nữa. Thì các con sẽ được làm vua, làm Chúa, phạm Thiên, Đế Thích ở các tầng Trời. Hưởng phước quả, hạnh phúc vô tận vô biên. Sống trên Châu Báu tột đỉnh của sự giàu sang.

   Nếu các con chỉ cần làm được một lời ta dạy. Thì các con sẽ được làm Vua làm Chúa nơi chốn phàm trần. Nếu các con làm theo hai ba bốn lời ta dạy, thời các con sẽ là Vua lớn trên các Vua Chúa lớn trên các Chúa nhỏ.

   Nếu các con chỉ cần nghe theo một lời ta dạy, chỉ được một thời gian, nhất là thời gian ở cuối đời. Thời các con sẽ được làm các vị Thần may mắn, vị Thần của sự giàu sang, vị Thần hạnh phúc, vị Thần uy lực, vị Thần Trí Huệ. Công danh địa vị rực rỡ, huống chi các con làm theo trọn một lời cha dạy, nhiều lời cha dạy, thì phước báo không thể nghĩ bàn, có thể nói mãi mãi làm Vua, làm Chúa ở nhân gian, cũng như ở các cõi Trời, sống mãi trên cung vàng Điện ngọc.

   Nếu các con chỉ cần nghe qua rồi nhớ 1, 2 điều, trọn đời không quên thì các con sẽ được làm các vị Thần, Thiên Thần ở các cõi trời, muốn chi đặng nấy, cầu chi đặng nấy, đặng nhiều phép lạ để vui chơi. Nếu các con nghe những điều ta dạy, tuy chưa làm theo, nhưng không làm ác thì các con sanh lên các cõi Thiên Đàng Cực Lạc, làm Chư Thiên, Thiên Chúng làm dân ở cõi Trời, tưởng ăn có ăn, tưởng mặc có mặc, muốn cái gì có cái đó.

   Nếu các con chỉ cần khen một lời ta dạy, thời các con sẽ được làm các vị Thần ở chốn nhân gian như: Thần Núi, Thần Rừng, Thần Sông, Thần Biển, Thần Mưa, Thần Gió, Thần Lửa, Thần Tuyết, Thần Thổ Địa, Thần Tài. Nếu có công ca ngợi Văn Hóa Cội Nguồn khi mãn số sẽ được thăng lên Thần Mặt Trời, Thần Mặt Trăng, Thần Sao Hôm, Sao Mai và các vị Thần Tinh Tú khác.

   Nếu các con chỉ cần truyền lại một lời dạy của ta, thời đời đời kiếp kiếp ta sẽ luôn luôn phù hộ cho con, cho đến khi nào con ngộ được chân tâm thấy được chân tánh trở thành Phật, Thánh, Tiên.

   Nếu các con tôn thờ ta, truyền lời dạy ta dạy cho thế hệ sau, thì các con sẽ trở thành Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Chúa, lên ngôi Chí Tôn vô thượng, Chánh đẳng Chánh giác, làm chủ vũ trụ.

Này các con của ta:

   Nếu các con làm ngược lại lời ta dạy, thì đi vào bất hiếu, nghịch Thiên, tai họa giáng xuống không sao kể xiết, các con sẽ biến thành Quỷ dữ, Ma Tinh. Các con sẽ trở thành chủ nhân của bóng đêm, chủ nhân của sự chết chóc. Các con sẽ tạo ra thế giới Địa Ngục, thế giới đau khổ không sao tả nổi, thế giới của sự chém giết, ăn sắt uống đồng, sự thống khổ không một giờ nghỉ.

   Nếu các con đi theo con đường ác, thời Chúa Tể của u minh sẽ sai Đại ác Quỷ ăn tinh, hút khí của các con. Làm cho các con kiệt sức vì chiến tranh. Chúng sẽ biến tâm hồn của các con thành tâm hồn ác Quỷ của chúng. Tham lam, gian trá, hận thù và sát phạt, tàn sát lẫn nhau. Chúa Tể u minh sẽ biến các con thành những linh hồn ngu si. Mãi Mãi làm nô lệ cho chúng. Chiến tranh tàn sát là thú vui của chúng. Thế Giới đau khổ, những Địa Ngục sát phạt dã man nhất, Chính là Vương Quốc của chúng. Khoái lạc của chúng là sự chia ly, chết chóc, bệnh tật, tù đày, Keo kiệt, tham lam, ganh tị, hận thù, là cửa ngõ u minh. Bước vào thế giới đau khổ, thế giới của sự khảo tra áp bức đến kinh người. Chúng không bao giờ muốn các con tiến lên cảnh giới của Phật, Thánh, Tiên, vào ba ngôi Báu của Trời. Ba ngôi Báu ấy luôn luôn tỏa ánh sáng tâm linh làm chúng khiếp sợ.

   Nếu các con đi ngược lại lời dạy. Không những các con đi vào cảnh giới đau khổ. Không bao giờ nhìn thấy thế giới Thiên Đàng Cực Lạc. Cũng như không bao giờ nhìn thấy thật tướng, thật tánh Linh Hồn của các con. Vĩnh viễn không thấy được Cội Nguồn. Mãi mãi đọa lạc trong luân hồi sanh tử. Các con chỉ thấy sự giả dối, sự chết chóc. Chiến tranh, áp bức, bệnh tật, già nua. Và sự tàn sát chém giết, ăn nuốt lẫn nhau. Các con luôn luôn nếm đủ mùi cực nhọc khốn khổ và đau đớn. Đau đớn về thể xác, đau đớn về Linh Hồn. Đau đớn cảnh nồi da nấu thịt. Cảnh cha khóc con, vợ khóc chồng, anh em cấu xé tàn sát lẫn nhau. Nước mắt của các con, kiếp nầy sang kiếp khác. Cộng lại sẽ nhiều hơn một Đại Dương.

   Các con hôm nay đã được làm người. Lại là con của ta. Hai đấng Tiên Rồng Tối Cao Vũ Trụ, sự nghiệp giàu sang vô tận. Cái giàu không sao kể xiết, vàng, bạc, Châu Báu vô tận. Đầy cả Hư Không, Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Đó là các cõi nước Trời. Các con hôm nay đã là con của ta. Chỉ cần nghe lời của ta dạy. Thì các con sẽ thay ta làm chủ Vũ trụ. Sống trong bất tử và sự giàu sang. Nếu các con không nghe lời thì đáng tiếc biết bao.

   Hỡi các con, ta là Đấng Cha Trời, Đấng biết trước. Những gì xảy ra trong tương lai ta đều thấy rõ biết rõ. Vì vậy các con phải tuyệt đối tin tưởng ta. Vì ta là Chúa Tể vũ trụ. Đấng thương yêu các con hơn hết.

   Những gì nơi vũ trụ. Cha đã tạo ra, đều là của các con. Nhưng các con muốn có được nó. Thì các con phải có Tài, có Trí, có Đức. Biết áp dụng khoa học kỹ thuật. Nguyên lý thuận nghịch, biến ảo vũ trụ, vận dụng sức mạnh vũ trụ, làm sức mạnh của mình. Thì các con mới làm chủ được nó. Đó là nói đến những người con, người cháu có Đức, có tâm, có trung, có hiếu đối với Tổ Tiên Cội Nguồn, nghe theo và làm theo lời ta dạy.

   Còn những kẻ nghịch Thiên, đi ngược lại lời ta dạy. Dù có làm nhiều, ra sức nhiều, tóm thâu, bầu vét khắp thiên hạ vũ trụ, cuối cùng cũng chỉ là trắng tay. Nếu các con nghe lời dạy của ta, các con sẽ luôn luôn gặp ta ở khắp mọi nơi, che chở và diều dắt các con. Dù cho các con có trải qua vô lượng ức kiếp sanh tử, ta cũng theo sát các con, hộ trì các con, cứu khổ các con, làm cho trí huệ các con mỗi ngày mỗi thêm tỏa sáng, làm chủ được tâm, làm chủ được tánh. Phát Đại Nguyên rộng lớn tận độ vô tận, vô biên, lớp lớp con cháu nhân loại các thế hệ sau vào ngôi vị Chí Tôn Chánh Đẳng, Chánh Giác. Các con Hạnh Nguyện viên mãn, bọt nước trở về là nước, Tiểu Linh Hồn trở về Đại Linh Hồn vũ trụ, bản nguyên là đấng Tạo Hóa Tổ Tiên vũ trụ, đấng Tạo lập lên tất cả.

Đức Địa Mẫu Âu Cơ thấy 100 người con chăm chú lắng nghe Đức Cha Trời Lạc Long Quân dạy bảo lấy làm vui vẻ, thì nghỉ rằng chúng nó đã lớn, có thể tự lập sanh sống, không cầm nương dựa vào Cha Mẹ nữa. Biết mình không thể ở lâu nơi này. Đức Cha Trời Lạc Long Quân, Địa Mẫu Âu Cơ chia hai con cái. 50 con theo Cha làm quen với biển, 50 người con theo Mẹ làm quen với núi rừng.

Đức Cha Trời Lạc Long Quân dẩn 50 người con Trai làm quen với biển, từ biển này sang biển khác, từ đảo nọ sang đảo kia, từ Đông sang Tây rồi trở về chỗ cũ. Đức Mẹ Âu Cơ cũng thế, Đức Mẹ dẩn theo 50 người con gái, hết núi rừng này sang núi rừng khác, hết núi rừng phương Đông rồi đến núi rừng phương Tây rồi dẩn con về chỗ cũ.

Đức Cha Trời Lạc Long Quân, Địa Mẫu Âu Cơ dẩn con khắp cùng trái đất, năm châu bốn biển bằng con đường hàng không đi trên mây, tham quan khi cần thì hạ xuống núi xuống rừng, xuống biển xuống đảo. 100 người con của Đức Âu Cơ, Lạc Long Quân thấy nào là biển rộng mênh mông, nào là núi cao chót vót, nào là rừng xanh thăm thẳm bạt ngàn, nào là đảo biển lô nhô xanh um giữa biển cả mênh mông. Cảnh đẹp như tranh, đất liền sông Hồ uốn khúc, không những tham quan trên biển đảo, núi rừng mà còn tham quan nơi đáy biển, các Động tuyệt đẹp nằm sâu trong lòng núi.

Đúng là trên khô ôi là Chim muôn vạn thú, đáy biển mênh mông ôi là chen chúc cá lội tung tăng, nào hang Động, thác nước phủ màn lụa trắng. Hết tham quan trái đất, Cha Trời, Địa Mẫu dẫn con tham quan đến các vì sao gần trái đất, thấy dẫn các con tham quan đến đây là đủ, hai người dẩn các con trở về trái đất, trở về chỗ cũ.

Trước khi từ giã con cái, Đức Cha Trời Lạc Long Quân dạy bảo lần cuối cùng:

Này các con, Quả Địa Cầu này tuy là rất đẹp, Quả Địa Cầu Cha tạo ra sau cùng, khi Cha tạo lập vũ trụ, Tam Thiên Đại Thiên thế giới, Quả Địa Cầu này chỉ là Quả Địa Cầu trần tục, khí hóa ô trược cặn bã của Hậu Thiên khí hóa, các con đang sống trong cõi trần giar tạm, không phải là cõi vĩnh hằng, thân xác các con cũng thế, cũng chỉ là thân xác phàm tục khác với thân xác của Cha, Mẹ đây, thân xác Tiên Thiên Tinh Hoa vũ trụ.

   Khi các con tu luyện tiến hóa Linh Hồn thành tựu, trí huệ giác ngộ, Đạo Đức, nhân hạnh cao các con sẽ bỏ xác phàm. Linh Hồn siêu lên Thượng Giới, thì các con sẽ có thân xác Tiên Thiên, biến hóa như ý, các con muốn già thì nó già, các con muốn trẻ thì nó trẻ, các con muốn nó lớn như quả núi thì nó lớn như quả núi, các con muốn nó nhỏ như cây kim thì nó nhỏ như cây kim. Nói chung ý tưởng các con muốn gì thì pháp thân các con ứng hóa theo nấy, dạo chơi khắp cùng vũ trụ, Tam Thiên Đại Thiên thế giới, các con hãy ghi nhớ lời ta dặn, cố gắng tu luyện tiến hóa Linh Hồn, sớm mau trở về Cội Nguồn làm chủ vũ trụ.

Trước khi Hai Đấng Tiên Rồng từ giã con cái, đưa tay chỉ về ngọn núi Long Hoa nói:

   Cuối tiểu kiếp thứ 9, sắp chuyển sang tiểu kiếp thứ 10, các con hãy khiến con cháu của các con đến dãy núi Long Hoa ấy làm nhà Rồng Tiên.

Nói xong Hai Đấng Tiên Rồng bay lên không trung, ẤN dấu Cốt Tiên Rồng xuống ngọn núi Long Hoa, Hai Đấng Tiên Rồng bay xuống đất ôm lấy con lần cuối.

Hai tòa sen báu như trái núi nhỏ hào quang rực rỡ, không biết hiện ra từ lúc nào, Hai Đấng Tiên Rồng từ từ bay lên tòa sen, bầu trời đang sáng bổng nhiên tối sầm, thế gian rơi lệ vì Hai Đấng Tiên Rồng ra đi. Hai tòa sen báu từ từ bay vào chốn không gian rồi mất hút trước sự ngơ ngác của 100 người con, 200 con mắt nhìn theo, nhìn theo mãi.

Bầu trời hôm qua đã khác với bầu trời hôm nay, bầu trời hôm qua là bầu trời mùa Xuân, bầu trời hôm nay là bầu trời mùa Đông, cái lạnh bơ vơ, mồi côi mồ cút, trên nẻo đường vạn dặm của cuộc đời. Nhân loại anh em sẽ đi về đâu, Ông Bà Tổ Tiên chúng ta làm gì để sống và tồn tại như thế nào.

(Xem Kinh Long Hoa sẽ hiểu rõ hơn).

Có thể nói Văn Hóa Cội Nguồn, Nền Quốc Đạo Tiên Rồng triết lý, lịch sử cao thâm, lời lẽ khuôn mẫu như thế, chỉ truyền khẩu cho nhau, từ thế hệ này sang thế hệ khác, kéo dài đến mấy nghìn năm, thử hỏi làm sao không sai lệch cho được. Vì thế cốt cán cơ bản tinh hoa của Nền Quốc Đạo Tiên Rồng dần dần bị mất gốc.

Có thể nói buổi ban đầu Quốc Tổ truyền giáo là Rồng, càng về sau con cháu thuyết kể ra loài Rắn nước, rồi bị ngoại xâm thêm bớt, con cháu ghi chép sai đã biến Văn Hóa Cội Nguồn trở thành văn hóa con giun. Từ một lịch sử Cội Nguồn tốt đẹp rồi trở thành một truyền thuyết mơ hồ, ánh sáng chân lý Cội Nguồn đã tắt. Từ đây con cháu Tiên Rồng sa vào cảnh tối tăm, dẩn đến nô lệ, chiến tranh triền miên khó mà kết thúc, cảnh nồi da nấu thịt, đói nghèo lạc hậu khổ thay.

*********

Hết phần 2 chương 2 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 3 chương 2.

Cái khổ nào hơn khổ lạc Nguồn

Họa cùng khắp nẻo khó qua truông

Non sông tổ quốc đầy u ám

Ngoại xâm thôn tính nghĩ mà thương.

 

*********  

CHƯƠNG 2

PHẦN 3

MẶT TRỜI CHÂN LÝ LẶNG BÓNG ĐÊM TRÙM XUỐNG NHÂN GIAN

Vào năm 110 trước Công Nguyên lúc đó giấy bút thô sơ mới được ra đời, cho đến năm 542 sau Công Nguyên mới có dịp hương thịnh nhưng chưa tinh vi mấy. Cũng từ đây các học giả yêu nước Việt Nam hồi tưởng về Cội Nguồn, tìm tòi qua sự thờ cúng, truyện kể, thơ ca, hò vè khắp mọi miền đất nước, rồi đúc kết viết lên lịch sử Tiên Rồng một cách mơ hồ làm mối ghiền đoàn kết dân tộc, chung lòng chung sức, bảo vệ giữ gìn quê Cha đất Tổ, đánh đuổi ngoại xâm. Nhưng tiếc thay các Ngài chỉ là người thường tục, chưa tu luyện Đắc Đạo nên không có Huệ Nhãn, Pháp Nhãn thấu suốt quá khứ vi lai, khó mà thấy rõ sự sai lệt trong Văn Hóa Cội Nguồn qua sự truyền khẩu, truyện kể, thờ cúng, thơ ca hò vè, liền cho đó là bản nguyên Văn Hóa Cội Nguồn. Rồi kết thành sử liệu để cho đời sau, sự truyền khẩu qua nhiều thế hệ, thêm bớt làm cho Văn Hóa Cội Nguồn biến dạng mất gốc, có nhiều điểm sai sự thật, dựa vào đó mà kết thành sử liệu thì cũng sai, cái sai dây chuyền.

Cũng từ đây Văn Hóa Cội Nguồn mất gốc, trở thành truyền thuyết mơ hồ, anh sáng Văn Hóa Cội Nguồn đã mất, mặt trời chân lý đã tắt, bóng đêm trùm xuống con Cháu Lạc Hồng kể từ đời AN DƯƠNG VƯƠNG trở xuống.

41 đời Hùng Vương kết thúc, thì những gì tinh hoa Văn Hóa Cội Nguồn còn sót lại cũng theo Vua Hùng biến mất luôn. Từ thời AN DƯƠNG VƯƠNG trở xuống, đến thời Hậu Lê cuối thế kỷ thứ 17 sau công nguyên, kéo dài hơn 2000 năm. Các học giả của mỗi triều đại đi qua, mỗi khi tìm hiểu về truyện kể, thờ cúng, thơ ca hò vè, thêm bớt cho hợp tình hợp lý rồi đúc kết thành sử liệu.

Nhưng học giả có biết đâu, việc thêm bớt Văn Hóa Cội Nguồn vốn đã sai mà vẽ Rồng, vẽ Rắn thêm bớt cho phù hợp tình thế, thì dẫn đến tai hại hơn nữa, chỉ cần ghi chép sai về Văn Hóa Cội Nguồn một li thì cái sai đã đến hàng vạn dặm, đưa lịch sử Tiên Rồng vào chỗ vô lý, nghi ngờ không đáng tin.

Lịch sử Tiên Rồng truyền khẩu kéo dài từ thời Hùng Quí Lân đến thời Hùng Duệ Vương kéo dài 2622 năm. Sự truyền khẩu càng về sau. Sự mất đầu, mất đuôi sai lệt càng nhiều. Không còn đúng Văn Hóa Tinh Hoa Hiến Pháp Văn Lang, Nền Quốc Đạo nữa. Mà Quốc Tổ Hùng Vương đã truyền lại cho con cháu chúng ta cách đây gần năm nghìn năm.

Các học giả từ thời AN DƯƠNG VƯƠNG trở xuống, khi tìm hiểu về Văn Hóa Cội Nguồn Tiên Rồng. Liền gặp phải bao sự khó khăn. Vì sự truyền khẩu có nhiều điểm không giống nhau. Đưa người đọc, người nghe đến chỗ phân vân, sanh ra nhiều nghi vấn. Lắm lúc sanh ra ý niệm tội lỗi. Phỉ bán Cội Nguồn dân tộc, tai họa liền gián xuống. Nhà tan cửa nát con cháu ly tán. Khổ ơi là khổ.

Các học giả chỉ dựa theo suy đoán của mình, dẫn đến kết tập sử liệu. Đưa Văn Hóa Cội Nguồn chuyển sang giai đoạn giả tưởng. Vô tình mở màn nội chiến. Mở màn cho các thế lực ngoại xâm. Truyền thống mất, Văn Hóa Cội Nguồn mơ hồ không đủ cơ sở lý luận vững chắc, thiếu đi mạch lạc khoa học, Văn Hóa Cội Nguồn có nhiều điểm bất ổn.

Dựa vào nhược điểm bất ổn này. Lại thêm lòng tin của Đại Đa số con cháu phân vân gió chiều nào ngã theo chiều ấy. Đây là cơ hội cho các học giả nước ngoài, thuộc hạ cao cấp chính trị với tính toán mưu đồ ngoại xâm. Họ góp ý thêm bớt sữa chữa tưởng chừng như là thiện chí. Nào hay đâu đó là một âm mưu lớn. Ếm đối tài tình, chồng chất thêm nhiều mâu thuẫn. Càng học càng thấy nhiều phi lý rồi trở thành mất gốc hẳn.

Một dân tộc mất đi Văn Hóa Cội Nguồn mất đi bản sắc dân tộc. Thì sức mạnh tinh thần dân tộc ấy sẽ bị yếu ớt, suy giảm đoàn kết dân tộc. Đó là lúc thuận lợi cho cuộc mưu đồ xâm lược ngoại bang. Xâm lược bằng học thuyết, kèm theo văn hóa nghệ thuật. Nhất là xâm lược một loại văn hóa độc hại. Làm cho tinh thần đi vào sa đọa. Xâm lược bằng vũ lực, biến dân tộc ta trở thành dân tộc nô lệ. Cụ thể hơn một nghìn năm, dưới ách thống trị của Tàu. Hơn trăm năm dưới sự cai quản của Tây. Lại thêm nồi da nấu thịt từng ngày. Càng thêm lạc hậu đọa đày gian truân.

*********

Hết phần 3 chương 2 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 4 chương 2.

Việt Nam con cháu Tiên Rồng

Trở về Nguồn Cội lẫy lừng năm châu

Văn Lang Văn Hóa cao sâu

Anh linh truyền thống rạng bầu tinh hoa

Lạc Nguồn lạc Cội Ông Cha

Hết mong độc lập đọa sa khốn cùng

Nghìn năm nô lệ tan thương

Cũng vì lạc Cội mất Nguồn mà ra.

 

********

CHƯƠNG 2

PHẦN 4

THÀ MỘT SỰ ĐÚNG CÒN HƠN MỘT THÚNG SAI

Thà giữ lấy một điều đúng còn hơn ôm trọn một thúng sai. Như chúng ta đã biết, các học giả của các triều đại. Mỗi khi dựng dậy Hồn Thiêng dân tộc, phải dựa vào Văn Hóa Cội Nguồn. Nhưng Văn Hóa Cội Nguồn đã thất truyền từ lâu. Khi các học giả nhất là thời Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê. Nổ lực ngày đêm không mệt mỏi. Tìm hiểu về Cội Nguồn Tiên Rồng cũng như về gia thế Hùng Vương liền gặp phải bao sự khó khăn. Nhưng không thể vì sự khó khăn ấy mà các học giả lại bỏ qua. Thu nhập chứng cứ, qua thờ cúng, truyện kể, thơ ca, hò vè. Tôm gốp lượm lặc dù đúng hay sai cũng quí giá cả, đúc kết thành sử liệu.

Như: (Lĩnh Nam Chính Quái), (Việt Điện U Linh), (Việt Sử Lược), (Đại Việt Sử Toàn Thư) và còn nhiều bộ sách khác nữa v.v… Sự thêm bớt qua các sử liệu, sự mâu thuẫn các câu truyện kể, sai lệch về thờ tự không chỗ nào giống chỗ nào.

Tuy sử liệu để lại nhiều như vậy, nhưng Văn Hóa Cội Nguồn vẫn không mấy sáng sủa, chỉ là con đom đóm không đủ sức soi đường mở lối cho con cháu đi theo. Tuy ánh sáng Văn Hóa Cội Nguồn có lúc chỉ là con Đom Đóm nhưng cũng khó khăn cho con Cháu gìn giữ tôn thờ, tuy chỉ còn một phần đúng. Còn hơn ôm trọn một khối sai. Tôn Thờ Văn Hóa Độc Hại ngoại xâm, làm ngu si mù quán dẫn đến nô lệ.

Một khi nô lệ, thì dân ta mất hết những Quyền cơ bản mà Tổ Tiên Tạo Hóa đã ban cho mỗi con người, cho mỗi dân tộc. Đó Quyền Độc Lập, Quyền Tự Do, Quyền mưu cầu hạnh phúc, Quyền sống, Quyền được sống. Nếu chúng ta khơi dậy và đòi lại những quyền cơ bản ấy, thì thế lực thống trị ngoại bang áp chế đàn áp ngay. Nhất là chúng ta khơi dậy Văn Hóa Cội Nguồn, thì thế lực ngoại xâm dập tắt tiêu diệt ngay. Vì họ sợ dân ta vốn mang hai chữ Đồng Bào, Đoàn Kết nổi dậy đánh đuổi chúng ra khỏi Non Sông Tổ Quốc. Các thế lực ngoại xâm rất sợ văn hóa Chủ Nghĩa Tiên Rồng. Vì Văn Hóa Cội Nguồn chính là Văn Hóa Đại Đồng, có sức mạnh dời non lấp biển. Một thứ Văn Hóa Linh Thiêng, có một không hai trong nhân loại con người.

Văn Hóa Cội Nguồn sống dậy. Mặt Trời Nhân Nghĩa Đạo Đức tỏa sáng, làm khiếp đảm tà ma ác Đạo của các thế lực ngoại xâm. Cơ may cho các thế lực ngoại xâm, vì Văn Hóa Cội Nguồn đã bị thất truyền nên chúng mới có cơ hội xâm lược nước ta. Chúng dựa vào yếu điểm mất gốc Văn Hóa Cội Nguồn, Nền Quốc Đạo Dân Tộc làm cái cớ để bài xích dập tắt Văn Hóa Cội Nguồn còn sót lại. Hầu mong cai trị ta vĩnh viễn.

Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng là một Chủ Nghĩa cao tột, không có một Chủ Nghĩa nào có thể vượt qua. Văn Hóa Tiên Rồng là Văn Hóa Linh Thiêng tối thượng. Một dân tộc đi đôi với truyền thống Linh Thiêng như thế, thử hỏi ngoại xâm không sợ truyền thống Tiên Rồng sao được. Nên ngoại xâm lúc nào cũng muốn tiêu diệt đi để dễ bề xâm lược. Chúng cố tìm sơ hở, sự thất truyền trong Văn Hóa Cội Nguồn của chúng ta để mà bài xích. Biến truyền thống Văn Hóa Cội Nguồn chúng ta thành truyền thống, từ Văn Hóa Rồng thành văn hóa con giun để chúng xơi, chúng đạp dưới chân của chúng.

*********

Hết phần 4 chương 2, mời xem tiếp phần 5 chương 2 Long Hoa Mật Tạng, bộ kinh tối cao, quốc bảo của toàn thế giới nói chung, dân tộc Việt Nam nói riêng. Chỉ cần đọc qua một lần không những tội ác vô lượng kiếp tiêu tan, mà còn thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, không gì là khó . Nếu biên chép in ấn truyền bá cho đời, thì không gì phước đức hơn. Ông Bà, Cha Mẹ siêu thăng về các cõi trời hưởng phước, con cái cháu đời đời vinh hiễn, còn bản thân thì thường làm vua các cõi trời giáo hóa vô lượng vô biên thiên chúng. Uy danh khắp cùng vũ trụ.

 ********* 

CHƯƠNG 2

PHẦN 5

CÂY CÓ GỐC NỞ CÀNH XANH NGỌN

NGƯỜI MẤT NGUỒN PHƯỚC CẠN ĐỨC KHÔ

Các thế lực ngoại xâm luôn luôn đánh phá, bài bác Văn Hóa Cội Nguồn của chúng ta. Làm cho dân tộc chúng ta mờ mịt yếu đi, tan rã đoàn kết. Đưa đất nước ta đến con đường nô lệ.

Vậy mà có người cũng nghe theo. Tệ hại hơn nữa, có người tự cho mình là trí thức. Nghe theo sự xuyên tạc của ngoại bang, ếm chặn sự phát triển Văn Hóa Cội Nguồn, truyền thống Linh Thiêng tốt đẹp của chúng ta. Lắm khi còn tỏ ra bất kính đối với các bậc Cha – Anh tiền sử đã có công vun đắp lên vẻ đẹp Non Sông Tổ Quốc, cũng như Văn Hóa Cội Nguồn còn sót lại. Để cho con cháu chúng ta vươn lên. Những kẻ ấy thật đáng phê bình nếu đúng luật thời những kẻ ấy nghiêm trị thích đáng.

Đã là dân tộc Rồng Tiên. Con dân Đại Việt, chúng ta phải tin tưởng những gì ông cha ta truyền lại. Dù cho đó có nhiều chổ mâu thẫn chưa giải thích được. Chúng ta cũng cần trân trọng gìn giữ. Chúng ta là con cháu Tiên Rồng, thì phải tận trung, chí hiếu, tôn thờ bảo vệ gìn giữ Cội Nguồn Văn Hóa Tiên Rồng.

Văn Hóa Cội Nguồn Quốc Đạo Tiên Rồng do Quốc Tổ Hùng Vương sáng lập và truyền lại cho chúng ta, sự ra đời của Nền Quốc Đạo làm chói lọi dân tộc Văn Lang. Có thể nói ở vào thời kỳ ấy, khắp cùng thế giới. Chưa có một Nền Quốc Đạo nào ra đời, ngay cả Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo, các Giáo Đạo khác nữa v.v… Cũng chỉ là ở giai đoạn sau này hàng nghìn năm mà thôi.

Việc thất truyền của Nền Quốc Đạo là do truyền khẩu quá dài. Lại không có giấy bút để lưu chép, dẫn đến sai lệch về sau càng lớn. Những gì còn sót lại ở cuối thời Hùng Vương tức là Hùng Duệ Vương trước công nguyên. Kết thúc vào năm 258 chuyển sang giai đoạn ÂU LẠC, thì Văn Hóa Cội Nguồn Quốc Đạo Tiên Rồng còn sót lại cũng đi theo Vua Hùng sau cùng về Trời. Từ đây về sau Vua là trên hết, không còn Hiến Pháp, Luật Pháp trên hết nữa. Vua muốn làm gì thì làm, cá mè một lứa như các nước bạn mà thôi. Thôn tính lẩn nhau tranh giành quyền lực, được là Vua thua là giặc, giặc và Vua cũng cùng chung một loại (Vô Đạo) độc trị mà thôi, dân chúng lầm than khốn khổ. Nếu không bị ngoại xâm thống trị, thì cũng bị Chế Độ Độc Tôn, Độc Trị đè bẹp mà thôi, không bao giờ có tự do, công bằng xã hội.

Nếu nói toàn dân kháng chiến bảo vệ đất nước, bảo vệ Tổ Quốc. Đất nước là của chung, Tổ Quốc là của chung, thì phải sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, dựng nước giữ nước mà thôi. Không ai là tối cao, chỉ có Hiến Pháp, Luật Pháp là tối cao. Dân, Vua, Quan bình đẳng, có tội đều bị xử như nhau. (Tối cao của nước Văn Lang không phải là Vua Hùng mà chính là Hiến Pháp, Luật Pháp của Nền Quốc Đạo). Cái Đạo cao quí của Vua, Quan, Dân thờ.

Văn Hóa Cội Nguồn Hiến Pháp Quốc Đạo Văn Lang, ở đoạn kinh thờ phụng nói. Cha Trời, Địa Mẫu sinh ra Nhân Loại Bình Đẳng. Phật, Tiên, Thánh, Thần, Chúa, phàm nhân, Bình Đẳng, tất cả đều là anh em một nhà vũ trụ. Chỉ thờ Tổ Tiên Khai Hóa hiện thân là Trời (Cha Trời Mẹ Trời) sau đó là thờ Ông Bà, kế nữa là thờ Cha Mẹ, người sanh ra mình. Còn xã hội là thờ Hiến Pháp, Luật Pháp, Vua, Quan, Dân chúng bình đẳng. Nói tóm lại việc thất truyền Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo dân tộc là do truyền khẩu quá dài, lại không có giấy bút lưu chép, khi có giấy bút lưu chép, thì chỉ lưu chép Tinh Hoa còn sót đọng lại mà thôi.

Các học giả qua các Triều Đại. Lưu chép lịch sử Văn Hóa Cội Nguồn chỉ dựa trên sự thờ cúng, truyện kể, thơ ca, hò vè, các ngài nào hiểu, đó chỉ là cái vỏ của Văn Hóa Cội Nguồn mà thôi. Còn Tinh Hoa lớp ruột của Văn Hóa Cội Nguồn thì các ngài không tìm thấy được, vì các ngài là người phàm tục, không có Nhãn Huệ để thấy biết Quá Khứ, Hiện Tại vị lai. Chỉ có những bậc Đại Giác Ngộ dùng Huệ Nhãn, Pháp Nhãn thấy rõ quá khứ vị lai, tôm góp tinh hoa vũ trụ làm lợi ích cho toàn nhân loại con người.

Còn người thường tục, dù đó là Bác Học, Tiến Sĩ, nếu không tu luyện đến cảnh giới cao, làm chủ tâm mình, tánh mình an trụ vào Tạo Hóa, thì khó mà hiểu rõ Thật Tướng, Thật Tánh vũ trụ, khó mà thấu suốt Quá Khứ, Hiện Tại, Vị Lai.

*********

Hết phần 5 chương 2, mời xem tiếp phần 1 chương 3 Long Hoa Mật Tạng. Bộ kinh vô cùng quý hiếm báu vật của trần gian nói chung, nói riêng dân tộc Việt Nam. Có duyên gặp được bộ kinh nầy thì coi như người đó đã tu luyện vô lượng ức kiếp. May mắn thay cho con cháu Việt Nam làm chủ báu vật kho tàng tri kiến vô giá nầy. Chỉ cần đọc tụng một câu cũng chuyển họa thành phúc, huống chi là truyền bá bộ kinh nầy cho nhân loại anh em thời làm vua các tầng trời là chuyện hiển nhiên không có chi là bàn cãi. Nơi nào có bộ kinh nầy, thì nơi đó có Cha Trời ngự trị, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa gia hộ. Hồn thiên dân tộc che chở, khí thiên sông núi phù trì, luôn được bình yên vạn sự.

Thấy Thiên Bút như thấy Trời Cha

Thành tâm cung kính

Nạn khỏi tai qua

Cầu chi đặng nấy, phước muôn vạn đời.

 

*********

CHƯƠNG 3

PHẦN 1 

QUỐC ĐẠO TIÊN RỒNG

Quốc Đạo là Đạo khai dựng lập lên đất nước Văn Lang. Bất chiến tự nhiên thành. Văn Hóa Cội Nguồn Quốc Đạo Tiên Rồng là Đại Đạo cao quí. Chí Tôn vô thượng, Đại Đạo Nguồn Cội nhân loại con người, Chủ Nghĩa Hòa Hợp Dân Tộc, Chủ Nghĩa Đại Đồng.

Hiến Pháp Văn Lang Nền Quốc Đạo Tiên Rồng ở đoạn thờ tự nói. Chỉ có bốn cấp trên đầu, trên cổ thiên hạ chúng ta, hay còn gọi là bốn ngôi.

1: Đó là Tổ Tiên Khai Hóa. Đấng tạo lập lên vũ trụ.

2: Là Hai Đấng Cửu Huyền Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ.

3: Ông Bà Tổ chúng ta cũng như ông bà nhiều đời nhiều kiếp, ông bà hiện tại.

4: Là Cha Mẹ sinh ra chúng ta song thân Phụ Mẫu.

Còn ta là ngôi số 5 ngôi con cháu.

Chúng ta lạy bốn lạy là lạy bốn ngôi trên. Còn bái bốn bái.

1: Là ơn Đồng Bào.

2: Là ơn Tổ Quốc.

3: Là ơn Chúa ơn Phật, Thánh, Tiên, Thần.

4: Là ơn Thầy, Cô dạy dỗ.

Nói chung 8 ngôi này là 8 ngôi Chí Thánh Chí Linh, công ơn như non như biển.

Trong 8 ngôi ấy có 2 ngôi không thể nghĩ bàn. Đó là Ngôi Tổ Tiên Khai Hóa. Ngôi Cửu Huyền Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Hai ngôi này tuy 2 là 1, tuy 1 mà 2, có thể nói Tổ Tiên Khai Hóa khai tạo lập nên vũ trụ rồi hiện thân ra Đức Cha Trời, Đức Địa Mẫu để mà cai quản điều hành vũ trụ, sanh con đẻ cháu. Chánh Thân, Chánh Mẫu của nhân loại con người. Hiến Pháp Văn Lang Kinh Cội Nguồn nói: Khi nào nhân loại hướng về Cội Nguồn nơi sanh ra Linh Hồn thể xác của họ, thì Chủ Nghĩa Đại Đồng sẽ ra đời, nhân loại sẽ sống chung trong nền Hiến Pháp vũ trụ.

Quốc Tổ Hùng Vương thừa lệnh của Đức Cha Trời khai lập lên nước Văn Lang, đi đôi với Văn Hóa Cội Nguồn, Hiến Pháp Văn Lang Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc. Là Đức Chí Tôn thừa hành theo di chí của Tổ Tiên, đặc nền móng Thiên Đạo, Đạo Trời xuống chốn nhân gian. Đưa nhân loại trở về vũ trụ, hội nhập Cội Nguồn đến với Đấng Cha Ông, Đấng Chúa tối cao vũ trụ.

Có thể nói Quốc Tổ Vua Hùng đã để lại cho dân Văn Lang ngày xưa, dân tộc Việt Nam ngày nay, hai di sản quí hiếm.

1: Đó là Tổ Quốc Non Sông.

2: Là Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc.

Những kẻ thiếu hiểu biết, không có lòng trung nghĩa hiếu kính, xem thường Văn Hóa Cội Nguồn. Nhưng họ biết đâu Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa Chí Tôn vô thượng, linh thiêng thuộc hàng bậc nhất trong trời đất.

Sự bài bác của những kẻ thiếu hiểu biết, chẳng đem kết quả tốt đẹp nào đến mà phải nhận lãnh đầy tai họa, không những tai họa cho bản thân mà còn tai họa sang con cháu. Cái tội chống phá Cội Nguồn, chia rẽ Đồng Bào, phản bội Cha Ông, nòi giống Tiên Rồng thì khó có thể mà tha thứ được. Loại người như vậy đã trở thành những kẻ đại gian đại ác, đại bất trung, đại bất hiểu. Chạy theo ảo tưởng dục vọng cuồn điên, làm hại con cháu, làm hại xã hội. Nếu không từ bỏ, một phen chết đi liền sa ngay xuống Địa Ngục, khó mà đầu thai trở lại làm người, vì đã phạm vào tội Đại Nghịch, đã phá Tổ Tiên, Cội Nguồn, Đấng Ông Cha lập lên vũ trụ và con người.

Quốc Tổ Hùng Vương là Chí Tôn Thiên Đế, con lớn của Đức Cha Trời đầu thai xuống trần, dựng nước Văn Lang, mở ra Văn Hóa Cội Nguồn, Nền Quốc Đạo Tiên Rồng, theo Thiên ý của Đức Cha Trời, nên Quốc Tổ có quyền năng vô hạn. Những kẻ hủy bán Quốc Tổ sẽ bị giảm tuổi, lại gặp bao điều xui rủi, Thần, Thánh, Phật, Tiên không độ mạng, con cháu sanh nghịch tử.

Những người trước đây không hiểu nên đã phạm tội. Nên Long Thần Hộ Pháp, Thần Thánh còn tha thứ. Đã gặp lời Kinh dạy rồi mà còn vi phạm, dù là người ngoại Quốc cũng không tránh khỏi đại họa, huống chi là con cháu Tiên Rồng. Chỗ nào cũng trời, chỗ nào cũng đất, Thiên La Địa Võng tránh đâu cho thoát.

Tổ Tiên ta thường dạy, dù con cháu có đi đến đâu, nơi đâu, chân trời góc biển cũng mang triết lý lời dạy Ông Bà Tổ Tiên đến đó để thờ phụng, giữ gìn Văn Hóa Cội Nguồn đừng để mất. Lời dạy ấy đã thấm nhuần trong tim của người dân Đại Việt, vì vậy con cháu Đại Việt đi đến đâu, thì đền thờ Cha Trời Lạc Long Quân, đền thờ Địa Mẫu Âu Cơ, đền thờ Hùng Vương đến đó. Dù là ở nước ngoài cũng thế huống chi là trong nước, có như vậy mới xứng đáng Con Lạc cháu Hồng, Con Rồng Cháu Tiên.

Cây có Cội Nước có Nguồn

Con Chim có Tổ con người có Tông

Mất đi Nguồn Gốc Tiên Rồng

Như cây mất Gốc, như sông mất Nguồn.

PHẦN HỎI ĐÁP:

Hỏi: vì sao ta phải yêu mến Văn Hóa Cội Nguồn?

Đáp: vì Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa Kim chỉ Nam. Là con đường truyền thống để cho con cháu đi theo, hết thế hệ này đến thế hệ khác, là con đường dẩn ta đến An Lạc. Không những An Lạc về vật chất mà cả về Linh Hồn, con đường Cực Lạc Quốc, sống mãi trong Tự do, Độc lập, Hạnh phúc.

Hỏi: Vì sao ta phải bảo vệ và giữ gìn Cội Nguồn?

Đáp:

Cây có Cội Nước có Nguồn

Con Chim có Tổ, con người có Tông

Mất đi Nguồn gốc Tiên Rồng

Như Cây mất gốc, như sông mất Nguồn.

Hay là:

Cây có gốc, nở cành xanh ngọn

Người có Nguồn người nở mùa xuân

Uy phong tỏ rạng anh linh

Vững bền Độc Lập, vững bền tự do.

Dân Tộc nào đánh mất truyền thống Cội Nguồn. Thì dân tộc đó, tan rã sự đoàn kết, dẫn tới nô lệ. Vì vậy bảo vệ và giữ gìn Cội Nguồn. Là bổn phận, là trách nhiệm đối với Con Cháu Rồng Tiên. Đó là nét cơ bản của Đạo pháp dân tộc. Thể hiện lòng Trung, Hiếu đối với Non Sông Tổ Quốc. Đối với Cha Ông.

Hỏi: Quốc Tổ Hùng Vương để lại cho chúng ta những gì?

Đáp:

Vua Hùng dựng nước dựng non

Dựng Nền Quốc Đạo vàng son Tiên Rồng

Công lao trời bể non sông

Cháu con mãi mãi nhớ ơn công người.

Quốc Tổ Hùng Vương là Đấng Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống trần. Là vì Quốc Tổ Thiên Tài có một không hai trong hàng Đế Vương thời đó, từ Đông sang Tây. Quốc Tổ mở mang bờ cõi nước xích Quỷ thành nước Văn Lang, truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn, Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc. Như vậy Quốc Tổ Hùng Vương đã để lại cho chúng ta hai di sản quí hiếm. Đó là: Non Sông  Tổ Quốc và Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc. Công ơn ấy muôn đời không trả nỗi.

Hỏi: Vì sao Nền Quốc Đạo Tiên Rồng lại thất truyền?

Đáp: Vì thời xa xưa ấy. Dân Tộc Văn Lang nói riêng, nhân loại thế giới nói chung. Chưa chế tạo ra được giấy bút, chỉ dùng da Thú thay cho giấy. Lại thêm chữ viết chưa được hoàn hảo, lấy việc khắc tượng, vẽ hình, họa cảnh lên đất lên đá lên cây, thay cho chữ viết. Truyền dạy cho thế hệ sau. Sự truyền dạy ấy vừa lạc hậu vừa không bền vững, vừa khó diển đạt ý nghĩa của Văn Kinh. Nên việc lưu chép Kinh sử khó thực hiện được. Mọi chuyện chỉ truyền khẩu cho nhau, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cứ thế kéo dài mấy nghìn năm. Tam sao thất bổn. Thử hỏi y văn sao được. Dẫn đến thất truyền là điều hiển nhiên khó tránh khỏi. Dẫn đến mất bốn gốc Tinh Hoa Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Dân Tộc.

Hỏi: Vì sao Dân Tộc ta dẫn đến đói nghèo, lạc hậu, chiến tranh triền miên?

Đáp: Ánh sáng chân lý Cội Nguồn đã tắt. Bóng đêm trùm xuống con cháu Lạc Hồng, mở màn cho các thế lực ngoại xâm. Một khi truyền thống Văn Hóa Cội Nguồn yếu đi. Thì sức mạnh yêu nước yêu nòi giảm sút. Thậm chí còn quên đi nữa là khác, đoàn kết dân tộc tan vỡ. Đó là lúc thuận lợi cho cuộc mưu đồ xâm lược ngoại bang. Xâm lược bằng học thuyết chính trị, văn hóa độc hại, xâm lược bằng vũ lực. Họ truyền bá văn hóa độc hại, làm mê hoặc tinh thần của dân tộc ta. Sau đó là thôn tính non sông Đại Việt, con cháu Tiên Rồng thành con cháu nô lệ. Cụ thể hơn một nghìn năm dưới ách thống trị của Tàu. Hơn trăm năm dưới sự cai quản của Tây. Lại hơn năm mươi năm nồi da nấu thịt từng ngày. Non Sông Đại Việt đi vào thê thảm, đói nghèo, lạc hậu, chán chê, chiến tranh, loạn lạc ê hề chiến tranh.

Hỏi: Vì sao các thế lực ngoại xâm rất sợ Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc?

Đáp: Vì Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa Linh Thiêng, Đầy chính nghĩa ung đúc nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết yêu nước yêu dân tộc. Mạnh như Rồng, đẹp như Tiên. Văn Hóa của sự Độc Lập, Tự Do, chủ quyền hạnh phúc. Con người đứng vững là nhờ đôi chân mạnh mẽ. Dân tộc đứng vững là nhờ dân trí yêu nước, yêu văn hóa truyền thống vững vàng. Nhất là thứ văn hóa đầy Chính Nghĩa. Mạnh như Rồng, đẹp như Tiên ấy, thì ngoại xâm không sợ sao được.

Hỏi: Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo, Thiên Chúa Giáo có trước hay sau Văn Hóa Cội Nguồn. Quốc Đạo Tiên Rồng?

Đáp: Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ ra đời cách đây năm nghìn năm. Còn Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo ra đời cách đây hơn 2 nghìn 5 trăm năm mà thôi. Bằng một nửa thời gian Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Dân Tộc ra đời. Còn Thiên Chúa Giáo thì mới sau này, hai nghìn năm sau Văn Hóa Cội Nguồn ba nghìn năm. Có thể nói Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa lâu đời. Có trước tất cả các Văn Hóa, Đạo Giáo Tôn Giáo.

Hỏi: Vì sao Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ là Đạo của Vua thờ, còn dân không được thờ ?

Đáp: Đó là cách đây hơn mấy nghìn năm thời Hùng Vương. Còn thời này thì dân có quyền được thờ. Văn Hóa Cội Nguồn là Đại Đạo tối cao vũ trụ. Đạo Luật công bằng xã hội, cán cân công lý dùng để trị Quốc. Cứu dân độ thế, cái Đạo của Vua thờ. Thế Thiên hành Đạo, Hành theo Đạo Luật vũ trụ.

Hỏi: Bài bác chống phá Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ, có tội không?

Đáp: Phải nói là Đại Tội. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa thường dạy rằng. Thuận Trời thì sống hạnh phúc. Chống Trời thì họa đến, chết rồi hồn chẳng được yên thân. Muôn kiếp luân hồi đọa đày khốn khổ, khó mong trở lại làm người, luân hồi mãi trong Địa Ngục. Ngạ Quỷ, súc sanh mà thôi.

Hỏi: Tin theo, làm theo Văn Hóa Cội Nguồn thì được lợi ích gì?

Đáp: Còn gì vui sướng hơn nghe theo, làm theo lời dạy của Đức Cha Trời. Nếu kể ra lợi ích nầy, thì dù kể đến trăm nghìn năm cũng không hết. Đây chỉ là kể sơ qua lợi ích, tin theo, làm theo. Lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn lời dạy của Đức Cha Trời, 10 lợi ích cơ bản.

1: Là Tổ Tiên Khai Hóa, Cha Trời, Địa Mẫu. Phật, Thánh, Tiên, Thần Chúa thường hộ trì, độ mạng, che chở, phù hộ, họa tiêu phước đến, cầu chi đặng nấy, muốn gì đặng nấy. Nếu điều ước muốn không trái với Đạo Đức, nếu công càng lớn Đức càng cao, thì cầu càng linh.

2: Con cháu hiếu thuận, hiển đạt công danh, ông bà siêu thăng, cha mẹ tăng tuổi thọ, niềm vui kéo đến, tai nạn giảm đi cải số, chuyển họa thành phúc, chuyển nghèo thành giàu, dư ăn dư để. Bệnh tật tiêu trừ, bệnh nặng chuyền thành bệnh nhẹ, bệnh nhẹ chuyển thành hết bệnh. Nhờ lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn. Rời xa tội lỗi, tạo lập nhiều Công Đức. Nên đã chuyển đổi số mạng. Từ họa chuyển ra phúc, tuổi về già không lẩn não, Linh Hồn minh mẩn, Siêu sanh về thượng giới. Sống trong Cực Lạc.

3: Không sanh vào ba ác Đạo, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, phước lớn thì sanh về Trời, phước nhỏ thì sanh trở lại làm người, hưởng phú quí vinh hoa giàu sang, trí huệ sáng láng, gia đình êm ấm. Muôn phúc nghìn lành. Vô cùng tọai nguyện.

4: Nếu là dân thường nhờ lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn, thì lên chức Thần, nếu là Thần thì lên chức danh Phật, Thánh, Tiên, vào ba ngôi chí Bảo, Pháp Tạng, Luật Tạng, Thiên Tạng, nếu là Phật, Thánh, Tiên, có công trong Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ, thì lên ngôi Phật Tổ, Thánh Tổ, Thiên Tổ, Chí Tôn vô thượng.

5: Trí Huệ vô ngại, biện tài vô ngại, chuyển đại pháp Luân, thay Trời hành Đạo làm theo thiên ý Đạo Trời.

6: Phước báo vô tận, trang nghiêm thù thắng, uy quyền tột đỉnh, Báo Thân có đủ 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp, Pháp Thuật, Thần Thông, Trí Huệ không thể nghĩ bàn vô tận.

7: Bất sanh – Bất diệt – Bất cấu –  Bất tịnh – Bất tăng – Bất giảm trong sạch. Như hoa sen thường còn vô lượng thọ không còn cái thọ nào hơn.

8: Nhất thiết chủng trí, đồng nhất một trí, quá khứ vị lai, chỉ là một trí. Trí vũ trụ.

9: Viên mãn trí Huệ, viên mãn Hạnh Nguyện vào ngôi Chánh đẳng Chánh giác, an trụ niết bàn (Vô Trụ) Tự Nhiên Trụ.

10: Toàn năng, Toàn giác làm chỗ tựa vững chãi cho toàn pháp giới cháu con.

*********

Hết phần 1 chương 3 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 2 chương 3.

 

*********

CHƯƠNG  3

PHẦN 2

ĐI TRƯỚC VỀ SAU

Các Giáo Đạo ra đời sau Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ. Nhưng lại có dịp truyền bá rộng rãi. Nhằm lúc con người đang trên đà phát triển văn minh về vật chất, tuy giấy bút còn thô sơ, có cơ hội lưu chép Kinh Luân. Cũng như tạc tượng họa hình mỗi ngày một thêm phong phú, dễ in sâu vào lòng người. Lại thêm Kinh luân văn tự lưu truyền không thay đổi, nên không có sự thất truyền, vì vậy các Tôn Giáo, Đạo Giáo đứng vững, vì bổn gốc không mất và lần lần lan truyền khắp cùng thế giới.

Còn Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ ra đời trước các Giáo Đạo Tôn Giáo hàng nghìn, nghìn năm. Gặp lúc con người còn lạc hậu về vật chất, chưa chế tạo ra giấy bút, thì lấy đâu ra giấy bút để lưu chép Kinh Luân. Chưa nói đến chữ viết còn lạc hậu thô sơ ở dạng tượng gạch, tượng hình. Nên việc lưu truyền Chánh Giáo rất hạn hẹp, rồi dần dần đi vào bế tắc. Dẫn đến thất truyền, không còn phát huy rộng lớn được nữa, đi vào bế tắc, vì vậy Văn Hóa Cội Nguồn tưởng như là mất hẳn, bất ngờ đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái rực thắm mùa xuân cả đất trời. Có thể nói Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng ra đời trước nhưng lại nở hoa sau, đi trước về sau bao chót. Đây là điều bí mật Thiên Cơ Đức Cha Trời Lạc Long Quân sắp xếp như vậy, nở hoa Văn Hóa hồi kết thúc của tiểu kiếp thứ 9, mở màn cho tiểu kiếp thứ 10.

Thời kỳ Văn Hóa Cội Nguồn ra đời. Đạo Nhơn Luân Hiếu Nghĩa ở đỉnh cao làm sáng rực Nền Quốc Đạo Tiên Rồng, ít có người dối trá, bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu, ngược lại họ còn Trung Hiếu, Nhân Nghĩa vô cùng. Có thể nói người xưa thực hiện Đạo làm người rất đạt. Biết liêm sỉ, biết hổ thẹn khi làm sai, công minh chính trực, kính trên nhường dưới, tôn ti trật tự, khiêm tốn dung hòa, anh em họ tộc, chồng vợ cha con có khuôn phép. Vua, Tôi, Quan, Tướng giữ lễ hàng đầu, xã hội nghiêm minh, tất cả đều sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, thật thà chất phát lòng ngay thẳng, tham lam tật đố ít sanh ra, yêu nước yêu non lòng nhường nhịn, tướng vương, tôi tớ rất dung hòa, xã hội muôn phần đều tốt đẹp, thái bình Độc Lập khắp Âu Ca, dân giàu nước mạnh luôn phồn thịnh, văn minh Quốc Đạo thật sâu xa, Độc Lập kéo dài xuân cùng khắp, mấy nghìn năm hạnh phúc mấy ai qua. Nước Văn Lang kéo dài Độc Lập mấy nghìn năm, phần lớn là do Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Tiên Rồng ung đúc sự bền vững của thái bình thịnh trị, không có một quốc gia nào trên thế giới thời đó sánh kịp.

Lấy trường dạy Đạo thay thế cho nhà tù, cải tạo gội rữa tâm linh bằng Văn Hóa Cam Lồ Cội Nguồn, ít dùng đến bạo lực đàn áp khổ sai, hình ảnh Đức Quốc Tổ lúc nào cũng coi như là Đấng Cứu Thế. Mà thật đúng vậy, Đức Quốc Tổ là con lớn của Đức Cha Trời Lạc Long Quân, Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống trần, đấng cứu thế, nên Thiên Thần, Địa Thần luôn luôn theo phò trợ Đức Quốc Tổ. Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Tiên Rồng. Là nền Quốc Đạo cao quí của toàn dân. Cái Đạo Quốc Vương tôn thờ. Vì vậy sự truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn đều nằm trong dòng dõi Vương tộc. Trải suốt một dọc đường 2622 năm Vương trước truyền Vương sau tôn thờ gìn giữ.

Y Giáo chơn truyền. Quốc Vương trước truyền cho Quốc Vương kế vị sau mà thôi. Cũng vì vậy tiếp nhận Văn Hóa Cội Nguồn. Cũng có nghĩa là tiếp nhận Thiên Ấn chiếu chỉ của Trời. Thay Trời hành Đạo.

Đến cuối giai đoạn Hùng Vương thời Hùng Vương thứ 41 thượng hạ Hùng Vương. Hùng Vương đời thứ 18 hạ Hùng Vương. Hùng Duệ Vương là Hùng Vương sau cùng. Mang theo Y Giáo Văn Hóa Cội Nguồn còn sót lại về trời. Không truyền xuống AN DƯƠNG VƯƠNG. Có thể nói Thiên Ấn Cội Nguồn đến thời Hùng Vương cuối cùng là chấm dứt.

AN DƯƠNG VƯƠNG lên ngôi Quốc Vương làm chủ nước Văn Lang. Vì không có Y Giáo Thiên Ấn ẤN truyền, Nên An Dương Vương đổi sang niên hiệu ÂU LẠC. Nước Văn Lang chuyển sang giai đoạn nước ÂU LẠC. Niên hiệu Hùng Vương chuyển sang niên hiệu AN DƯƠNG VƯƠNG. Quốc Tổ Hùng Vương để lại hai Di Sản. Nhưng đến thời ÂU LẠC An Dương thì chỉ còn lại một Di Sản mà thôi. Đó là Tổ Quốc Non Sông. Còn Thiên Ấn, Văn Hóa Y Giáo Cội Nguồn không truyền xuống nữa. Từ đây trở về sau là thời loạn. Mạnh là Vua thua là giặc. Cảnh tượng nồi da nấu thịt luôn luôn xảy ra. Chờ cho Thiên Bút ra đời. Thời Thiên Ấn Văn Hóa Cội Nguồn mới trở lại non sông và NGÀY ĐÓ ĐÃ ĐẾN. Ngày mà Thiến Ấn Thiên Bút ra đời.

*********

Hết phần 2 chương 3 mời xem tiếp phần 3 chương 3 Long Hoa Mật Tạng. Để hiểu rõ nguồn gốc sâu xa các dân tộc ở tiểu kiếp thứ 9 nói chung, cũng như dân tộc Văn Lang, nay là dân tộc Việt Nam nói riêng. Thì chúng ta mới hiểu thế nào những lời tiên tri về dân tộc Việt Nam, cũng như đất nước việt Nam. Có thể nói những gì qua sấm truyền, cũng như cơ bút ứng linh truyền ra tất cả đều đúng sự thật. Nhưng chỉ có các bậc đại giác ngộ mới thấu rõ cơ bút ứng linh nầy. Còn những suy luận tầm thường thì không thể nào trúng được. Hầu hết là đoán sai, luận sai không trúng những gì cơ bút đã truyền dạy. Và chỉ có Thiên Ấn, Thiên Bút xuất hiện mới làm sáng tỏ những lời cơ bút tiên tri báo trước. Nói về đất nước Việt Nam. Con người Việt Nam, Văn Hóa Việt Nam. Tỏ rạng khắp năm châu bốn biển.

Long Hoa Mật Tạng quá huyền vi

Tu nhanh kẻo trễ mới kịp kỳ

Vận hội Tiên Rồng kìa tỏ rạng

Đại Đồng Đại Đạo một đường đi

Muốn hiểu Việt Nam đặng thể nào

Long Hoa Mật Tạng đọc xem vào

Huyền Cơ ẩn hiện trong kinh giáo

Quốc Tổ anh linh sáng làm sao.

 

*********

CHƯƠNG  3

PHẦN  3

NGUỒN GỐC CÁC DÂN TỘC NĂM MÀU DA ANH EM CÒN SỐNG SÓT Ở TIỂU KIẾP THỨ 9

Gần cuối tiểu kiếp thứ 8. Tứ Đại Đất – Nước – Gió – Lửa. Thái chuyển hoành hành dữ dội. Nên con người khó mà sống sót. Còn lại không còn bao nhiêu. Mở màn người nguyên thủy ra đời. Sang qua tiểu kiếp thứ 9. Càng gần cuối tiểu kiếp thứ 8. Thì cơn bão bình thường cũng lên tới 200 cây số giờ cuối tiểu kiếp lên tới 300 cây số giờ. Còn cơn bão mạnh lên tới 500 – 600 cây số giờ. Nước dâng ngập hầu hết các lục địa Đồng Bằng. Cuối tiểu kiếp các dãy núi thấp cũng ngập luôn, nhấn chìm hết thảy nền văn minh vật chất ở cuối tiểu kiếp thứ 8. Nhiệt độ trung bình trên 60 độ C, có lúc tăng lên 100 độ C nhất là mùa nắng nóng, ngược lại đến mùa băng giá có lúc âm xuống 100 độ. Động đất liên miên xảy ra các Châu lục, quả đất co giãn rất mạnh và cuối cùng là thay đổi lục địa. Năm châu bốn biển thay đổi địa hình, nhân loại đi vào nguy hiểm.

Gần cuối tiểu kiếp thứ 8 mực nước biển dâng cao, nhấn chìm vô số hầu hết các nước trên toàn thế giới. Nhân loại phải di cư lần đến những vùng đất cao, bỏ lại sau lưng là bao nhiêu thành thị thôn quê, Đời sống khoa học vật chất hiện đại. Vì tất cả giờ đây đã ngập chìm trong biển nước. Nền văn minh vật chất kéo dài hơn mười nghìn năm đã kết thúc, bị tiêu hủy hoàn toàn. Nhân loại còn sống sót ở các dãy núi cao khắp mặt địa cầu vào Đầu tiểu kiếp thứ 9 trở thành người thượng Cổ ở hang, ở động, ở lỗ, sống chung bầy đàn. Trải qua hàng triệu năm trở thành dân tộc Hồng Hoang Bàng Cổ sơ khai và cho đến cách đây hơn một triệu năm mực nước biển đã cạn lần. Nhân loại đang sanh sống ở các dãy núi cao của nhiều Châu Lục. Trong các dãy núi cao của nhiều Châu Lục chỉ có những dãy núi cao ở khắp Tây Tạng và những dãy núi xa gần giáp ranh với Tây Tạng. Nơi đây dân tộc Hồng Hoang sống đông đúc hơn cả, đủ 5 màu da sắc tộc anh em, còn những dãy núi khác rãi rác khắp địa cầu thì rất ít. Dân Tộc anh em không nhiều như ở đây.

Ở tiểu kiếp thứ 9 theo thời gian mực nước biển cạn lần, cạn lần. Núi, đồi, đất đai cũng dần dần lộ ra, hàng năm càng rộng lớn. Những trận lụt kinh khiếp theo dòng chảy ra sông ngòi kinh rạch. Nước từ các dãy núi cao Tây Tạng giáp ranh với Tây Tạng chảy xuống các vùng đồi thấp, rồi chảy xuống Đồng Bằng, chảy lần ra biển cả, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương, Bắc Băng Dương. Mực nước biển rút đến đâu, để lại lớp phù sa màu mỡ đến đó, cộng thêm sông ngòi kinh rạch, mang theo lớp phù sa, là do những trận lụt lớn làm lở núi sụp đồi cuốn theo động vật, thực vật. Lớp bùn phù sa bồi đắp lấp lần ra biển, lấp lần ao hồ, thành những đồng bằng màu mở bạt ngàn, làm cho cây cối sanh sôi nẩy nở, đâm chồi nảy lộc. Rừng xanh tăm tắp bạt ngàn, hoa thơm trái ngọt thi nhau mà chen mà chúc. Chim muôn vạn thú mặc sức mà xơi, nhân loại anh em thi nhau mà sinh mà sản. Bốn phương tám hướng, Đông Tây Nam Bắc khắp vùng xa gần dưới chân núi Tây Tạng cổ xưa. Con đàn cháu đống năm màu da anh em từ bốn phương tám hướng ở dãy núi cao Tây Tạng xuống lần đồi thấp, xuống lần đồng bằng, Theo con suối, con khe từ thượng nguồn của các dòng suối, rồi đến thượng nguồn của các dòng sông, xuống lần đồi thấp, xuống lần đồng bằng. Dân Tộc Hồng Hoang đi lần về hướng Tây, Tây Nam, Tây Bắc, hình thành lên các dân tộc gần vùng Tây Á, Tây Bắc Á, Tây Nam Á. Còn lại là các dân tộc Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc. Có thể nói là tiểu kiếp thứ 8, nhất là gần cuối tiểu kiếp thứ 8 nhân loại anh em cũng đã từng ở khắp những Châu này, cả tỷ tỷ dân, nhưng đã bị xóa sổ ở giai đoạn cuối tiểu kiếp thứ 8. Những người sống sót ở cuối tiểu kiếp thứ 8, trở thành dân tộc Hồng Hoang ở đầu tiểu kiếp thứ 9 và tuần hoàn lặp lại họ đi lần về bốn biển năm Châu nơi mà Tổ Tiên ông bà ở tiểu kiếp thứ 8 của họ đã ở. Và từ đây hình thành lên nhiều thế lực chia nhau làm chủ núi rừng, đồng bằng, sông hồ, kinh rạch. Nhân loại ở tiểu kiếp thứ 9 càng ngày càng đông, thì sự di cư từ nơi này sang nơi khác lan tỏa càng nhanh, rồi trở thành những cuộc xung đột của nhiều thế lực xảy ra tàn khốc, tiêu diệt lẫn nhau.

*********

Hết phần 3 chương 3 mời xem tiếp phần 4 chương 3 Long Hoa Mật Tạng. Bộ kinh tối cao giải rõ bao điều bí mật vũ trụ. Nhất là sự bí mật về địa long hình chữ S  địa cuộc của nước Việt Nam. Tiền thân Quốc Tổ Hùng Vương, lịch sử Tiên Rồng cũng như nhân loại về Châu Á.

 

*********

CHƯƠNG  3 

PHẦN  4

NGŨ LUÂN DA VÀNG.

Như chúng ta đã biết, Địa Mẫu Âu Cơ sanh ra nhân loại con người, ông bà Tổ Tiên chúng ta. Cách đây 75 triệu 600 trăm nghìn năm, giữa tiểu kiếp thứ 5. Trăm người con, 50 Nam, 50 Nữ. Gồm 5 màu da ngũ hành, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Kim Da Trắng, Mộc Da Chàm, Thủy Da Đen, Hỏa Da Đỏ, Thổ Da Vàng, ngũ hành. (Ngũ Hành, sanh ra Ngũ Luân).

Nói tóm lại Địa Mẫu Âu Cơ sanh ra nhân loại Ngũ Hành. Còn nhân loại Ngũ Hành, sanh ra con cháu Ngũ Luân, ứng hiệp theo Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Đây nói về dân tộc Hồng Hoang Bàng Cổ sơ khai, kéo dài hàng triệu triệu năm. Dân tộc Da Vàng ở tiểu kiếp thứ 9, Hầu hết là con cháu Hồng Đế, luân chuyển sanh ra 5 màu da Vàng Trắng, Vàng Chàm, Vàng Đen, Vàng Đỏ, còn Vàng Hồng đó là chính da. Vì ứng dụng theo Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ nên anh em da Vàng có hai lối sống khác nhau, kẻ thích sống ở trên cao gọi là Thượng, người thích sống ở đồng bằng ao hồ sông rạch gọi là Kinh. Kinh, Thượng qua lại chung sống với nhau vì anh em một nhà. Con cháu Hồng Đế trải qua hàng triệu triệu năm, Từ các thượng nguồn con suối, thượng nguồn con sông, xuống lần dưới thấp theo hai hướng, theo các dòng sông và theo các sườn đồi. Phần lớn anh em da Vàng, Kinh, Thượng đi theo hướng mặt trời mọc, rồi tẻ ra Nam, Bắc, Và cho tới cách đây hàng chục nghìn năm anh em Da Vàng theo các con sông xuống Đồng Bằng, trong đó phải kể ba nguồn sông lớn là, Sông Mê Công, Sông Trường Giang, Sông Hoàng Hà. Anh em Da Vàng xuống đồng bằng rồi tiến lần về biển, phần lớn là tiến lần về Thái Bình Dương, phần lớn tiến về hướng Đông Đông Nam ra biển Thái Bình Dương, gần giáp ranh với ẤN ĐỘ DƯƠNG. Hình thành lên hai dân tộc anh em, Đông Nam Á và Bắc Đông Á, lấy Bắc sông Trường Giang làm chuẩn Bắc, Nam. Và cho đến cách đây 7 nghìn năm, lúc bấy giờ nền văn minh Đông Nam Á trên đà phát triển. Dân Tộc Kinh cũng như Dân Tộc Thượng anh em, sống dọc theo thượng Nguồn sông Mê Công, thượng Nguồn sông Trường Giang. Đột phá tiến lên chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn văn minh Ngũ Cốc, trong đó có nền văn minh lúa nước là độc đáo.

Vì sao lại có chuyện như thế? Vì Đông Nam Á khí hậu ôn hòa, bốn mùa tám tiết, nhiệt độ trung bình lên xuống không cao, không thấp. Nên Thực Vật nói nôm na là cây, cỏ, củ rất phong phú, những giống quí hiếm sanh sôi cùng khắp, nhất là về Ngũ Cốc và các giống cỏ, lúa đuôi phụng, đuôi công. Nhưng phát hiện ra Ngũ Cốc cũng như các giống cỏ lúa, liên quan mật thiết đối với con người không phải dễ, tuy biết rằng chúng ở ngay trước mặt chúng ta. Để khám phá ra chúng, sử dụng chúng, đưa đời sống con người lên cao. Đương nhiên phải có nhân tài xuất chúng ra đời, tóm thâu Ngũ Cốc hoang dại, cỏ lúa hoang dại. Lai tạo chúng, nhân giống chúng thành thuần chủng, nâng cao đời sống con người. Đó là ai chúng ta tìm hiểu những đoạn Kinh ở sau.

Còn Đông Bắc Á nhiệt độ lên cao xuống thấp quá lớn. Mùa nóng thì nóng khô hạn. Mùa mưa thì bão tuyết phủ xuống ngập tràn, tương sanh thì nhỏ, tương khắc thì quá lớn không phù hợp cho thực vật nẩy sinh phong phú. Nhất là những giống quí hiếm ít sanh sôi nẩy nở như Ngũ Cốc hoang dại, cũng như cỏ lúa đuôi Công, đuôi Phụng, nên nhà Bác Học vũ trụ không đầu thai xuống Đông Bắc Á mà chỉ đầu thai xuống Đông Nam Á cách đây khoảng 7 nghìn năm.

Nhà Bác Học nông nghiệp Thiên Tài vũ trụ đó là ai? Chính là Đức VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG ra đời, mở màng cho nền văn minh Ngũ Cốc. Trong đó nền văn minh Lúa nước là độc đáo hơn cả. VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG tìm tòi Ngũ Cốc hoang dại, năng xuất thấp, đem về lai tạo nhân giống chúng thành giống thuần chủng năng xuất cao. Đưa đời sống nhân loại nhảy vọt lên một bước cao, đánh dấu sự hưng thịnh của Đông Nam Á.

Kế đến là các nhà Bác Học vũ trụ xuống trần ra đời, trong niên đại Viêm Đế Thần Nông, như nền văn minh hội họa, hình tượng, gạch tượng, động tượng và biểu tượng. (Xem Kinh Văn Lang Chiến Sự sẽ rõ).

Thay cho lời nói, mở ra trang sử mới trong giao tiếp, văn minh tinh thần, vật chất lần lần xuất hiện. Sau thời đại Viêm Đế Thần Nông là thời đại KINH DƯƠNG VƯƠNG. Sau thời đại Kinh Dương Vương là thời đại HÙNG VƯƠNG. Sau thời đại Hùng Vương là thời đại ÂU LẠC.

*********

Hết phần 4 chương 3 mời xem tiếp phần 5 chương 3 Long Hoa Mật Tạng, bộ kinh nói rõ về Cội Nguồn của dân tộc Văn Lang nay là dân tộc Việt Nam. Kéo dài hàng triệu triệu năm không phải chỉ có năm nghìn năm Văn Hiến, mà hàng triệu năm Văn Hiến. Năm nghìn năm Văn Hiến là nói từ thời Quốc Tổ Vua Hùng khai dựng nước Văn Lang đến bây giờ. Một dân tộc có truyền thống lâu đời nhất thế giới như vậy. Mới có cơ sở làm tỏ rạng năm màu da anh em khắp cùng trái đất.

 

*********

CHƯƠNG  3

PHẦN  5

PHẦN TÓM LƯỢC.

1: Lịch sử: Quốc Tổ Hùng Vương, khai dựng nền Quốc Đạo Văn Hóa Cội Nguồn dựng lên nước Văn Lang. Quá trình tiến hóa của xã hội nay là nước Việt Nam.

2: Đức Quốc Tổ Hùng Vương chính là Đức Giáo Tổ, Chí Tôn Thiên Đế con cả của Đức Cha Trời Lạc Long Quân, đầu thai xuống trần làm con Kinh Dương Vương.

3: Đức Quốc Tổ Hùng Vương chứng quả vô thượng, Chánh Đẳng Chánh Giác, thuyết ra Văn Hóa Cội Nguồn, hàng phục trăm bộ lạc, lập lên nước Văn Lang rộng lớn.

4: Do chính sách trị dân bằng Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Chính Nghĩa, đất nước Văn Lang Độc Lập kéo dài, thời dựng nước 79 năm, thời giữ nước 2622 năm, cộng chung là 2701 năm.

5: Vì do truyền khẩu quá lâu dài hàng nghìn năm, Văn Hóa Cội Nguồn càng về sau càng mất gốc, mất dần Tinh Hoa ý chính, trở thành truyền thuyết không đầu, không đuôi, không thứ lớp, thiếu thực tế.

6: Cũng vì mất gốc Văn Hóa Cội Nguồn, Con Cháu Tiên Rồng rơi vào hố thẳm, bóng đêm trùm xuống, chiến tranh loạn lạc, nồi da nấu thịt, nô lệ triền miên.

7: Sống theo kế sách bạo lực, thắng là Vua, thua là giặc. Đi ngược lại Văn Hóa Cội Nguồn, Hiến Pháp Văn Lang.

8: Hiến Pháp Văn Lang là Hiến Pháp Đại Đồng, Bình Đẳng là cán cân công lý xã hội, là Chí Tôn vô thượng. Bảo vệ Quyền Tự Do, Quyền Độc Lập. Quyền Tự Chủ, Quyền Bình Đẳng, Quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi người dân, của mỗi dân tộc, không một ai có quyền xâm phạm.

9: Là tôn trọng lẫn nhau, sống đúng Hiến Pháp và làm đúng Luật Pháp, hai bên cùng có lợi, cả hai mặt, tinh thần lẫn vật chất.

10: Ra sức bảo vệ Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Dân Tộc. Ra sức Cống Hiến sức lực tài năng, trí huệ, của cải vật chất. Xây dựng, gìn giữ mỗi ngày một lớn mạnh, gánh vác mọi khó khăn, làm cho nền Quốc Đạo ngày một sáng tỏ phát Đại Dương Quang, đưa con cháu Tiên Rồng nói riêng, nhân loại thế giới nói chung đến cảnh Cực Lạc Hạnh Phúc.

*********

Hết phần 5 chương 3 mời xem tiếp phần 1 chương 4 Long Hoa Mật Tạng, bộ kinh nói rõ về Cội Nguồn của dân tộc Văn Lang nay là dân tộc Việt Nam. Long Hoa Mật Tạng là bộ kinh Quốc Bảo làm sống dậy khí thiêng sông núi, sống dậy Hồn Thiên Dân Tộc. Đưa dân tộc Việt Nam tỏa sáng khắp năm châu bốn biển. Gươm thiên trấn quốc, độc lập tự do, thái bình an lạc muôn năm. Mùa xuân mãi mãi nở trong lòng người, xuân giàu sang, xuân hạnh phúc trên khắp đất nước quê hương.

*********

CHƯƠNG  4

PHẦN 1

NGUỒN GỐC TIỀN THÂN QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

Đức Quốc Tổ Hùng Vương chính là Đức Giáo Tổ, Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống trần, là một trong trăm người con của Địa Mẫu ÂU CƠ và LẠC LONG QUÂN. 100 người con của Đức Cha Trời LẠC LONG QUÂN và Địa Mẫu ÂU CƠ, sanh ra tại dãy núi Long Hoa, chốn Hồng Trần, cách đây 75 triệu 600 nghìn năm, giữa tiểu kiếp thứ 5. Một trăm người con của Đức Cha Trời LẠC LONG QUÂN và Địa Mẫu ÂU CƠ hiện đang làm Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Chúa, Mẫu Hoàng, Phật Mẫu, Tiên Mẫu, Thánh Mẫu cai quản khắp tầng trời, Tam Thiên Đại Thiên vũ trụ. Đức Giáo Tổ Chí Tôn là anh cả, theo di chí Tổ Tiên, làm theo lời dạy của Đức Cha Trời.

Cho đến cách đây hơn năm nghìn năm, nơi tầng Trời thứ 11 trung Thiên Giới, nơi tầng Trời Thiên Vân, cõi Long Vân, Đức Giáo Tổ Chí Tôn ra khỏi Thiên Cung nhìn về chốn trần gian, trong lòng bổng nhiên hồi hộp, một chuyện lạ chưa từng có, không hiểu chuyện gì sắp xảy ra. Thì thấy vũ trụ bổng nhiên tối đen như mực, cuồng phong nỗi dậy ù ù, tiếng gào thét kêu la thật thảm thiết. Đức Chí Tôn suy nghĩ, đây là cuồng phong chốn nhân gian, tiếng gào thét kêu la từ Địa Ngục sao lại bay lên tới tận trung Thiên nơi này hay là Đức Cha Trời có điều chi dạy bảo, đang suy nghĩ, thì thấy Chư Thiên nhiều vô số vô biên lâm phàm, bị vô minh vây phủ, không trở về Trời được nữa, không biết bao nhiêu là Chư Thiên rơi luôn xuống Địa Ngục âm phủ thống khổ vô cùng.

Đức Chí Tôn thở dài, bổng chốn hư không Ba Đạo hào quang, kéo theo hàng loạt tiếng sấm lớn, tức thời màn đêm từ từ biến mất. Vũ trụ giờ đây đã trở lại yên bình, hiện ra vô số hoa sen báu, sau đó thì biến mất.

Biết Đức Cha Trời có điều muốn dạy, Đức Chí Tôn liền chấp tay vái lạy chốn hư không khấn rằng:

   Thưa Đức Cha Trời, hiện tượng vừa hiện ra nơi vũ trụ, con đây chẳng rõ, vừa mừng vừa lo. Xin Đức Cha Trời dạy bảo cho con hiểu.

Lời khấn vái của Đức Chí Tôn xong, thì nơi chốn hư không phát ra tiếng nói:

   Này A DI ĐA con là anh cả trong 100 người con của ta, nay ta giao cho con việc lớn. Tiểu kiếp thứ 9 sắp kết thúc, chuyển sang tiểu kiếp thứ 10. Con đem Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ truyền xuống chốn nhân gian, mở đường đưa nhân loại về Trời. Qua khỏi sông mê đến bờ giác, mùa gặt hái linh hồn đã đến. Nhân loại tu luyện tiến hóa Linh Hồn đã trải qua 16 triệu 800 nghìn năm, thời kỳ trình độ dân trí tiến hóa lần đến chổ chí cao. Nhân loại cần có đường để về Trời, tiến lên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Còn những Linh Hồn chậm tiến sẽ ở lại chốn nhân gian, tiếp tục đầu thai chuyển qua tiểu kiếp thứ 10, tiếp tục tu luyện chờ mùa gặt sau. Nơi chốn Hồng Trần dãy núi Long Hoa, sau một thời gian sụp lở đã thấp xuống, gãy khúc lổm chổm tạo ra núi non trùng điệp. Nay mực nước biển đã xuống thấp, Địa Long đã lộ ra, dọc theo bờ biển từ Nam cho tới Bắc. Con hãy đầu thai xuống chốn nhân gian, sanh vào dòng dõi KINH DƯƠNG VƯƠNG, lớn lên dùng gươm trí huệ, hàng phục ma quân, đại quỷ yêu quái, hàng phục Thần Giáo lập lên Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ, Đất Nước Văn Lang. Đóng đô ở Đầu Địa Long hình chữ S. Con phải đầu thai ba lần con mới làm xong sứ mệnh.

   Lần thứ nhất: Con đem Thiên Ấn Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ xuống nhân gian, lập lên Nền Quốc Đạo Tiên Rồng. ẤN TRUYỀN xuống con cháu thay nhau gìn giữ. Nhưng không bao lâu thì Thiên Ấn thất truyền, con cháu Tiên Rồng nhân loại con người phàm trở lại rơi vào cảnh tối tăm. Cho nên con phải đầu thai lần thứ 2.

   Lần thứ hai: Không phải đầu thai làm con Quốc Vương trở thành Thái Tử Điện Hạ, quyền thế uy nghi mà đầu thai vào gia đình trung nông bình thường, mồ côi mồ cút, sống trong cảnh chiến tranh loạn lạc, thiếu ăn thiếu mặc, lang thang khắp chốn, rồi trở thành cư sỉ ẩn dật, chịu nhiều khảo đảo của ác Ma và ác Quỉ, gian truân khốn khổ trăm bề suốt 30 năm. Lúc này nhân loại trên đà văn minh vật chất cao, đã chế tạo ra giấy bút mực tinh xảo, đầy đủ nhân duyên cho con để lại cả ẤN lẫn BÚT. Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ lại tiếp tục ra đời, Long Hoa Hội tiếp tục khai mở. Kinh luân lưu truyền đến tiểu kiếp thứ 15 thì mãn. Thời Long Hoa kéo dài 84 triệu năm, chuyển sang giai đoạn Liên Hoa Hải Tạng.

   Lần thứ ba: Con đầu thai xuống chốn nhân gian, giữa tiểu kiếp thứ 10, làm Chuyển Luân Thánh Vương, xuất gia tu hành, làm tổng trì cho Tổ Tiên Khai hóa, thay Cha Trời, Địa Mẫu chuyển Đại Pháp Luân. Thị hiện Bản Thể, Bất Cấu, Bất Tịnh, Bất Tăng, Bất Giảm, trong sạch, bản thể Đại Đồng, Tánh Đại Đồng, Tướng Đại Đồng, Trí Đại Đồng, quá khứ vị lai cũng chỉ là một. Thọ ký cõi nước trang nghiêm cho những người có công lớn trong Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ.

Đức Cha Trời truyền dạy xong, nơi không trung bổng nhiên ba Đạo Hào Quang hiện ra chiếu xuống đầu Đức Chí Tôn, tức thời nhục kế trên đỉnh đầu Đức Chí Tôn liền trong suốt hóa thành gươm Thiên vũ trụ. Trí Huệ của Đức Cha Trời, thần thông trí huệ quảng Đại Vô Biên.

Tiếp nhận xong lời truyền dạy của Đức Cha Trời. Đức Chí Tôn trở về Thiên Cung Đại Điện, ngồi xếp bằng phóng ba Đạo Hào Quang xuyên suốt không gian vũ trụ. Hiệu triệu các vị Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Chúa, Lão Lão Tổ, Vương Mẫu, Thánh Mẫu, Mẫu Hoàng, Phật Mẫu đang cai quản khắp các tầng trời, khắp cùng Tam Thiên, Đại Thiên vũ trụ.

Nói về 6 phương trời là: Đông Phương, Tây Phương, Nam Phương, Bắc Phương, Thượng Phương, Hạ Phương. Mỗi phương lại có thập phương, vô số, vô biên, cõi nước Chúa, cõi nước Thánh, cõi nước Phật. Nhận được lời hiệu triệu của Đức Chí Tôn, liền đằng vân giá vũ tức tốc lên đường đến trung ương Thiên Giới để họp. Từ 6 phương thập hướng, từng cụm mây vàng, mây xanh, mây đỏ, mây trắng, trùng trùng điệp điệp lớp lớp vô tận vô biên, nhắm hướng cõi Long Vân bay đến.

Đức Chí Tôn thấy Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, đến dự Hội Long Vân đông đủ, các ngài là các bật Tôn Sư, Giáo Tổ, Phật Tổ, Vương Mẫu, Thánh Mẫu, Mẫu Hoàng, Phật Mẫu cùng các Thượng Đế, Vương Đế, Vua, Chúa vô lượng cõi Trời, đến hội họp đông đủ. Tức thời Kim Đồng Ngọc Nữ bay lên không trung xông hương trổi nhạc, ca hát ngợi khen tán thán, cúng dường xong đâu vào đấy.

Đức Chí Tôn mới chấp tay hướng về Đại Hội thưa rằng:

   Theo thường lệ cứ 5 năm là Đại Hội Long Vân một lần, nhưng hôm nay lại sớm hơn 1 năm là vì Đức Cha Trời có lệnh, dạy bảo chúng ta có điều cần làm. Các anh em khắp vũ trụ có nghe thấy lời dạy của Đức Cha Trời không?

Đại Hội thưa rằng:

   Bạch Đức Chí Tôn anh em chúng tôi đều nghe thấy rõ cả, nên đã chuẩn bị tinh thần, chờ Đức Chí Tôn hiệu triệu là lên đường ngay.

Đức Chí Tôn nói:

   Anh em chúng ta là dòng dõi Tiên Rồng, con cái nhà Trời, từ khi Cha Trời, Mẹ Trời hiện thân sanh ra chúng ta, rồi trở về với Tạo Hóa, trở về ngôi vị Khai Hóa Tổ Tiên, đấng lập lên tất cả vũ trụ, vạn vật và con người. Cha Trời, Mẹ Trời trở về với Tạo Hóa chuyển xây bộ máy huyền Cơ vũ trụ và đã giao cho anh em, con cháu chúng ta làm chủ vũ trụ.

NHƯ CHÚNG TA ĐÃ BIẾT :

   Vũ trụ chúng ta đang cai quản không phải là vũ trụ đầu tiên, mà là vũ trụ anh em ta cai quản đã có vô lượng vô biên vũ trụ hủy diệt rồi.

   Các thế giới đàn anh của chúng ta, sau khi vũ trụ hủy diệt, thì Linh Hồn các ngài đã nhập vào bản thể Cội Nguồn vũ trụ rồi. Từ bọt nước, Tiểu Linh Hồn nhập vào bản thể Nước, Đại Linh Hồn vũ trụ, bọt nước trở lại là nước. Tiểu Linh Hồn trở thành Đại Linh Hồn. Anh em chúng ta đang làm chủ sống trong vũ trụ mới, kế tiếp vũ trụ đã hủy diệt cách đây hàng tỷ năm. Chúng ta đang sống trong vũ trụ của chúng ta, chúng ta phải biết gìn giữ và phải có bổn phận dìu dắt hướng dẫn và giúp đỡ cho thế hệ sau tiến lên giải thoát đau khổ, giải thoát sanh tử  như các vũ trụ trước. Anh em chúng ta phải theo lời Cha Trời dạy bảo, tùy sự giác ngộ của mỗi người mà phát Đại Nguyện tận độ lớp lớp thế hệ sau. Trải qua hàng triệu năm, dưới sự cai quản của anh em chúng ta, Thiên Giới vẫn bình yên trong Bình Đẳng tự do, An Lạc hạnh phúc.

   Chốn nhân gian tuy là cõi phàm tục nhưng lại là nơi sanh ra anh em chúng ta. Cứ mỗi tiểu kiếp là một chu kỳ lớp học vũ trụ, từ các loài Cầm Thú, Bò Sát đầu thai làm người, rồi từ người Linh Hồn tiếp tục tu luyện, tiến hóa lên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Rồi tùy theo công hạnh, lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn. Theo Thiên Luật luân chuyển mà làm Đế làm Vương, làm Vua, làm Chúa các tầng trời, Tam Thiên, Đại Thiên thế giới khắp cùng vũ trụ.

   Nơi chốn nhân gian đang ở giai đoạn gần cuối tiểu kiếp thứ 9, giai đoạn vô cùng khẩn cấp, vô cùng quan trọng, giai đoạn gặt hái Linh Hồn, giai đoạn mãn chu kỳ lớp học tiến hóa Linh Hồn của một tiểu kiếp.

   Nhưng cũng là giai đoạn đầy nguy hiểm đối với anh em chúng ta, đầu thai xuống chốn nhân gian. Hầu hết nhân loại ở vào thời kỳ này nhục thể ô trược nặng nề, khi đầu thai vào bụng Mẹ, thì coi như Linh Căn tối tăm mù mịt, quên hết kiếp trước của mình. Sanh ra gặp phải thời thế bất công, chiến tranh loạn lạc, đói nghèo áp bức, tranh giành đua chen, ganh ghét hận thù, nhất là danh lợi cám dỗ. Bát phong xây chuyển, Ngũ Quỉ khảo tra, tai nạn dập dồn khổ thôi là khổ. Lục trần bẩn đục, lục căn bệnh tật điên đảo, lục thức bị vô minh che khuất không rõ giả chân chạy theo bám niếu. Nhân loại ác tánh phủ khắp xã hội Địa Cầu, bẫy Quỉ, bẫy Ma, bẫy Gian, bẫy Xảo giăng khắp hang cùng ngõ hẻm.

Dòng phiền não tuông nhau chảy xiết

Bả lợi danh cuốn hút liên miên

Có mấy ai đi ngược trở lên

Mà không bị chúng lôi chúng niếu.

   Đừng nói chi đến tu hành đắc ngộ. Chỉ cần làm một việc lành cho vững thì cũng đã thấy khó lắm rồi, nói chi đến mở đường khai Lộ cho Thiên Hạ đi theo, mà đó lại là con đường về Trời, thì khó biết là bao nhiêu. Chưa nói đến cảnh bệnh tật, nghèo đói lạc hậu, cảnh anh em, chồng vợ, cha con, họ hàng, thân tộc, người này khổ lôi kéo người kia, người kia khổ lôi kéo người nọ, tâm hồn yên tỉnh được đâu, cứ mãi vùi đầu trong vòng xoáy sanh lão bệnh tử, hận thù triền miên, tham si chẳng dứt, tự mình chẳng cứu được mình, lặng hụp trong biển khổ, còn cứu được ai nữa. Khó biết bao là khó, nguy hiểm biết bao khi sanh xuống chốn nhân gian.

   Vì Đại Nguyện, vì Cha Trời đã dạy. Anh em chúng ta lần lượt xuống trần, lấp cửa Địa Ngục mở lối Thiên Đàng. Nếu chậm trễ, thì nhân loại nhân gian tự hủy diệt nhau, rơi vào ác Đạo, Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, không sao tránh khỏi, uổng công 16 triệu 800 nghìn năm luân hồi tu luyện.

   Gần cuối tiểu kiếp thứ 9, trình độ khoa học vật chất dân trí đã lên cao, văn minh vật chất đang tiến lên đà cực thịnh, chế tạo vũ khí giết nhau hàng loạt. Nếu không có Văn Hóa Cội Nguồn, Thiên Đạo vũ trụ giải mã bí mật vũ trụ, duy trì Chính Nghĩa Đại Đồng. Thì họa diệt vong sẽ không sao tránh khỏi, thảm khốc vô cùng, Địa Ngục nới rộng, luân hồi chuyển kiếp súc sanh, đầu thai trở lại Thú Cầm, Ngạ Quỉ súc sanh.

Nói xong Đức Chí Tôn toàn thân phóng ra vô lượng Hào Quang: Hào Quang Trì Giới, Hào Quang Thiền Định, Hào Quang Đại Định, Hào Quang Chuyển Luân, Hào Quang Trí Huệ Bát Nhã, Hào Quang Đại Hùng Đại Lực, Hào Quang Đại Từ Đại Bi, Hào Quang Đại Hỹ Đại Xả, Hào Quang Phương Tiện, Hào Quang Đại Phương Tiện, Hào Quang Nhẫn Nhục – Nhẫn Nhịn – Nhẫn Nại, Hào Quang Đại Tinh Tấn, Hào Quang Đại Nguyện.

Đức Chí Tôn phóng ra vô lượng Hào Quang: Hào Quang Đại Đồng, Hào Quang Bình Đẳng, Hào Quang Tự Do, Hào Quang Cực Lạc vô lượng vô biên tạng tánh Công Đức, thù thắng trang nghiêm.

Hiện ra tiếng sấm lớn làm chấn động vũ trụ. Tuyên thuyết rằng ta sẽ đầu thai xuống trần mở màn sớm nhất, tức thời 3 cõi Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Ngục bổng sáng rở lên. Tam Thiên, Đại Thiên thế giới, Chư Thiên mừng rỡ, Chí Tôn sắp lâm phàm cứu thế, tức thời đàn ca sáo thổi, ca hát nhảy múa tán thán Công Đức. Nhiệm mầu thay, lời ca tiếng hát, đàn sáo nhảy múa ấy theo Hào Quang của Đức Chí Tôn luân chuyển cùng khắp vũ trụ, thật là hi hữu chưa từng thấy bao giờ.

Sau Đức Chí Tôn là các vị Phật Tổ phóng vô lượng Quang, vô lượng Quang thanh tịnh, hiện ra vô lượng vô biên hoa sen báu, mỗi tòa sen báu đều có Phật Tổ an ngự, từ vô lượng vô biên tòa sen báu đồng cùng lúc phóng ra vô lượng vô biên Hào Quang: Hào Quang giải thoát, giải thoát phiền não, giải thoát Tri Kiến, giải thoát Địa Ngục, giải thoát Ngạ Quỉ, giải thoát súc sanh, giải thoát luân hồi sanh tử. Hào Quang cứu khổ cứu nạn, Hào Quang tạng tánh Công Đức, Hào Quang Đại Từ Đại Bi, Đại Hỹ, Đại Xả. Vô lượng vô biên Phật Tổ phóng ra vô lượng Hào Quang, Nhơn Chú, Phật Chú, Thánh Chú, Thần Chú làm lợi ích cho toàn nhân loại vũ trụ, Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Hào Quang vô ngại trí huệ, Hào Quang nhất thiết chủng trí, Hào Quang Chánh Đẳng, Chánh Giác, cho đến vô lượng Quang, Đà La Ni Tạng Tánh Công Đức thanh tịnh vũ trụ, hi hữu chưa từng thấy bao giờ.

Sau Phật Tổ là các vị Thánh Tổ phóng ra vô lượng Quang. Hiện rõ:

Luật Tạng vũ trụ. Hiện rõ Thiên Tạng vũ trụ. Hiện rõ Pháp Tạng vũ trụ. Phật, Thánh, Thần, Tiên, Chúa đều Bình Đẳng. Hào Quang công lý vũ trụ. Hào Quang Nhân Quả vũ trụ. Hào Quang Phước Báo. Hào Quang Ác Báo. Hào Quang Trọng Tài. Hào Quang Công Tố. Hào Quang Hành Pháp. Hào Quang Phân Xử. Hào Quang Thế Thiên Hành Đạo. Vô lượng Thánh Tổ, đồng phóng vô lượng Hào Quang. Hiện rõ khắp Tam Thiên, Đại Thiên, Thế Giới, Trần Gian, Địa Ngục. Vô lượng vô biên vị Thánh phán xét phân xử Công Minh theo Thiên Luật, Nhơn Luật vũ trụ. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, phàm nhân, Quỉ, Ma hể phạm tội liền bị luân chuyển nhận lãnh quả báo như nhau. Thiên Luật vũ trụ không thiên vị một ai. Cán cân công lý vũ trụ mãi mãi ứng dụng theo Luật Đại Đồng Bình Đẳng. Không thay đổi, hi hữu chưa từng thấy bao giờ.

Sau Thánh Tổ là các vị Tiên Chúa phóng ra vô lượng Quang. Hào Quang hình thành lực vũ trụ. Hào Quang hình thành khí vũ trụ. Hào Quang hình thành nước vũ trụ. Hào Quang hình thành lớp bụi vũ trụ càng lúc càng nhiều. Bổng nổi lên một trận phong Luân dữ dội, sấm chớp lửa đỏ dậy trời, rồi phân ra làm 9 phong Luân vũ trụ. Chia làm ba phần, Thượng Luân, Trung Luân, Hạ Luân. Từ một phong Luân tách ra hàng nghìn hàng vạn phong Luân nhỏ. Rồi từ hàng vạn phong Luân tách ra hàng triệu phong Luân. Lớp bụi vũ trụ bị phong Luân cuốn hút theo xoáy tròn. Lực ép khí, khí ép nước, nước ép lại bụi vũ trụ đã tạo ra sau cùng thành vô lượng, vô biên cõi nước Trời. Nhật, Nguyệt, Tinh Tú, Thiên Hà, Ngân Hà trần gian âm phủ, ba cõi Thiên Đàng trần gian âm phủ. Vô lượng Chúa Tiên lại phóng ra vô lượng Hào Quang hiện rõ quá khứ, từ vũ trụ Vô Cực hiện ra vũ trụ Thái Cực, từ Thái Cực vũ trụ phân ra lưỡng nghi rồi hình thành Âm Dương vũ trụ. ÂM DƯƠNG giao hóa chuyển động theo phong luân, sanh ra ngũ hành, để rõ hơn ÂM DƯƠNG phân ra tứ tượng, tứ tượng âm dương giao hóa với nhau, chuyển động theo phong Luân hình thành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ luân chuyển phân hóa sanh ra thập nhị địa chi. Lục Luân Chuyển Hóa, Ngũ Địa Luân Hoàng, Bát Quái giao tranh, Hào Quẻ sanh ra có lang có lớp, tương sanh tương khắc, sanh trụ dị diệt, thành trụ hoại không. Từ một đầu lông cho đến vũ trụ có sanh có tử, đều theo Luật tuần hoàn, không rồi lại có, có rồi lại không. Văn minh khoa học, tinh thông vật chất, nhờ hiểu rõ cơ lý đa năng bộ máy tiến hóa đa dạng vũ trụ, kết tập kinh nghiệm, hình thành nền văn minh Thiên Địa, Địa Tiên lập lên thế giới Thiên Đàng Cực Lạc, truyền xuống phàm trần làm lợi ích cho toàn nhân loại, thật là hi hữu chưa từng thấy bao giờ.

Sau Tiên Chúa là các Thần Tổ vô lượng vô biên, đồng phóng Quang hộ pháp, vang ra tiếng sấm lớn chấn động vũ trụ, làm cho tà giáo, ác Ma, ác Quỉ khiếp đảm, Đại Hội bất thường Long Vân kết thúc. Tam giáo Quy nguyên, Ngũ Chi hợp nhất trở về chổ cũ, ở nước nào về nước nấy, tùy theo cơ duyên mà hành sự. Thế là Thiên Đạo Cội Nguồn vũ trụ mở màn xuống trần sớm nhất rồi đến Phật Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Thần Đạo, lập công với Tổ Tiên, Trời Đất trong Văn Hóa Cội Nguồn.

*********

Hết phần 1 chương 4 mời xem tiếp phần 2 chương 4 Long Hoa Mật Tạng. Bộ kinh tối cao không thể nghĩ bàn. Chỉ cần xem qua một phần thành tâm khen ngợi, thì bao kiếp nạn cũng tai qua nạn khỏi, huống chi là đọc hết một chương, hay trọn bộ kinh Long Hoa Mật Tạng. Thì những người nầy muôn vạn kiếp sau trở thành những lãnh tụ thiên tài. Uy danh lừng lẫy. Binh pháp siêu đẳng khó người hơn được. Nếu phát tâm ấn in truyền bá cho đời, thì những người nầy nhất định trở thành những vị chuyển luân vương ở khắp cõi trời, giáo hóa vô lượng cõi nước. Được Thiên Chúng ca ngợi tôn thờ.

Long Hoa Mật Tạng Đại phúc kinh

Thành tâm lễ bái cầu hiển linh

Phước đến hoa tiêu trong nháy mắt

Huống chi đọc tụng Quỉ, Yêu kinh.

 

*********

CHƯƠNG 4

PHẦN 2

NGUỒN GỐC DÂN TỘC ĐÔNG NAM Á

Tiểu kiếp thứ 8 kết thúc, nhân loại còn sống sót, chuyển qua tiểu kiếp thứ 9, trở thành người nguyên thủy, rồi từ người nguyên thủy trải qua hàng triệu năm, trở thành dân tộc Hồng Hoang, Bàng Cổ sơ khai, từ dân tộc Hồng Hoang, Bàng Cổ sơ khai, trải qua hàng triệu năm, trở thành dân tộc Hồng Bàng, đứng đầu Hồng Bàng là Hồng Đế. (Niên Hiệu Hồng Đế ra đời). Rồi từ Niên Hiệu Hồng Đế, trải qua hàng trăm nghìn năm, thời chuyển sang giai đoạn Niên Hiệu VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG.

Nói về giai đoạn Niên Hiệu Hồng Đế trải qua hàng trăm nghìn năm, đến đời Hồng Đế cuối cùng. Hồng Đế Hậu Nương hạ sanh Quí Tử khôi ngô tuấn tú, thông minh tài trí khác phàm, đặc tên là HỒNG VIÊM. Vì sao lại là tên Hồng Viêm, vì lúc Đế Nương sắp sanh Quí Tử, liền thấy Thiên Thần đến lễ bái nói chúc mừng Đế Nương. VIÊM Đế xuống trần là nhà Bác Học Thần Nông, chủ nhân của Ngũ Cốc, chủ nhân của Lúa Gạo, nói xong các Thiên Thần liền biến mất. Nên sanh ra Quí Tử, Hồng Đế đặc tên cho con là Hồng Viêm. Hồng Chúa Kinh, Thượng khắp nơi đến chúc mừng.

Ở giai đoạn Hồng Bàng, đứng đầu Hồng Bàng là Hồng Đế, dưới Hồng Đế là Hồng Chúa trấn giữ khắp nơi, người kinh lẫn người thượng, kẻ ở cao người ở thấp. Ở giai đoạn Hồng Bàng người Kinh cũng như người Thượng, một phần sống dọc theo hạ lưu thượng nguồn sông Mê Công, một phần người Kinh cũng như người Thượng sống dọc theo hạ lưu thượng nguồn sông Trường Giang.

Hạ lưu thượng nguồn sông Mê Công, hạ lưu thượng nguồn Nam sông Trường Giang song song cách nhau không xa. Thượng nguồn hạ lưu của hai con sông này hình thành dân tộc Đông Nam Á.

Thời Hồng Đế dân tộc Đông Á chỉ là một và sanh sống tại thượng nguồn của các con sông lớn như: Mê Công, Trường Giang, Hoàng Hà, đến giai đoạn cuối một hai đời Hồng Đế, dân tộc Đông Nam Á mới tách lần ra làm đôi, Đông Nam Á và Đông Bắc Á.

Đến thời VIÊM ĐẾ thì coi như tách hẳn ra, Đông Nam Á và Đông Bắc Á thì chuyển sang thời Kinh Dương Vương kéo dài hơn 2 nghìn năm, rồi chuyển sang giai đoạn Hùng Vương kéo đài 2701 năm.

Đây nói về Hồng Viêm ra đời, càng lớn càng thông minh lạ thường, phát minh sáng kiến ra nhiều điều mới lạ, nhất là về lĩnh vực Ngũ Cốc. Hồng Viêm dẫn theo thuộc hạ, trèo non lặng suối tìm kiếm những giống Ngô, giống Quả, giống Củ hoang dại ở khắp nơi. Nhất là những giống cỏ lúa, đuôi Công, đuôi Phụng, đem về lai tạo thành giống thuần chủng cho năng xuất cao, cho kết quả bất ngờ trúng lớn. Ngô, Quả, Củ đầy rẫy, đầy nương. Đặc biệt nhất là từ những cỏ lúa hoang dại, dọc theo hai bên bờ sông, mọc những nơi đầm lầy trên khô dưới nước. Dân Hồng Bàng gọi đó là cỏ phúc nuôi Chim Trời, đủ loại Chim tới đây tìm ăn, nhất là Chim Hồng Lạc loại Chim khôn ngoan hiền lành. Nhờ có tài Lai Tạo, Hồng Viêm lai tạo giống, biến chúng thành giống lúa nước thuần chủng cho năng xuất cao.

Từ trước đến nay, dân tộc Hồng Bàng chỉ biết lấy việc săn bắn hái lượm để mà sanh sống, nay thấy Lúa, Ngô, Khoai, Sắn do VIÊM ĐẾ lai tạo mới lạ đạt năng xuất, ăn ngon bổ dưỡng, đẩy lùi đói khổ bệnh tật, đưa đời sống con người nhảy vọt lên một tầm cao. VIÊM ĐẾ danh nổi như cồn, tiếng tăm lừng lẫy, Công to Đức lớn, được Thiên Hạ suy tôn là Thần Nông, vị thần Ngũ Cốc lúa gạo.

Khi lên ngôi thay Cha là Hồng Đế trị vì Thiên Hạ. Hồng Viêm đổi niên hiệu. Từ Hồng Đế chuyển sang giai đoạn Niên Hiệu VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG. Truyền được 10 đời, đồng danh hiệu là VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG.

Đến đời VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG thứ 10, có cháu Đế Tôn do Đế Nương sanh ra, khôi ngô tuấn tú, dũng mãnh phi thường, mới sanh ra đã biết đi, ba ngày sau thì biết chạy, mau lớn khác thường, đi trên nước cũng như đi trên cạn, sức mạnh quật ngã con Voi lớn lực lãm kinh người, khai phá đất đai mau chóng bằng hàng trăm người, mở mang ruộng đất cho việc trồng ngô, cấy lúa.

Đời sống con người từ đó nhảy vọt lên một mức cao nữa, Uy danh của Ngài nổi như sấm, Đức cả bay xa nên được Thiên Hạ suy tôn là Đức Sùng Lãm, ý nghĩa của ba chữ Đức Sùng Lãm là: Đức là nói đến công lao khai phá mở rộng ruộng đất, đem lại đời sống no ấm cho con người. Sùng là tôn sùng, kính trọng, kính phục. Lãm là nói đến sức mạnh lực lãm không ai hơn. Hay còn gọi ngài là Đế Tôn Thần Sấm ai nghe đến cũng khiếp sợ.

Đức Sùng Lãm khi lên ngôi thay cho Đế Nội (ông nội), VIÊM ĐẾ đời thứ 10 trị vì Thiên Hạ, liền chuyển đổi Niên Hiệu. Từ VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG chuyển sang giai đoạn Niên Hiệu KINH DƯƠNG VƯƠNG. Truyền được 9 đời, đồng danh hiệu là Kinh Dương Vương. Đến đời KINH DƯƠNG VƯƠNG đời thứ 9 cầu hôn Thần Long Nữ ở Bộ Tộc Long Giao, Đông Giao Chỉ kết duyên thành phu phụ. Khi Thần Long Nữ sắp sanh con, thì Hoa Lan khắp non sông nước Xích Quỷ đều nở rộ hương thơm ngào ngạc, ngày 20 tháng 2 coi như là ngày hội Hoa Lan nên Kinh Dương Vương đời thứ 9 đặc tên cho con là Hùng Lan.

*********

Hết phần 2 chương 4 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 3 chương 4.

 

*********

CHƯƠNG  4

PHẦN 3 

NGUỒN GỐC NAM KINH XÍCH QUỶ GIAO CHỈ

Khi Sùng Lãm lên ngôi thay cho Đế Nội (ông nội) trị vì Thiên Hạ, liền chuyển đổi Niên Hiệu từ VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG chuyển sang giai đoạn Niên Hiệu KINH DƯƠNG VƯƠNG. Kinh Dương Vương không những có tài mở mang về Nông Nghiệp mà còn có tài Bác Học phát minh ra Nền Văn Hóa giao tiếp, Hội Họa và các dấu hiệu ra ni thành văn pháp thay cho lời nói. Nhờ phát minh ra Nền Văn Hóa giao tiếp, gởi thông điệp cho qua tấm da thú, đưa con người xích lại gần nhau, hiểu nhau cách xa hàng nghìn dặm, hình thành tính cách ngoại giao với nhiều Bộ Tộc, Bộ Lạc trao đổi thông tin cho nhau. Đến đời Kinh Dương Vương thứ 4, Vương Hậu Nương Nương khi sắp sanh Quý Tử liền thấy một con Rồng vàng to lớn đến chào Bà, sau đó không bao lâu chuyển mình sinh ra Quý Tử. Nên KINH DƯƠNG VƯƠNG đời thứ tư đặc tên cho con là Long Nhi. Long Nhi lớn mau như thổi thông minh kỳ lạ, học đâu nhớ đó, võ nghệ siêu quần, triệt hạ đàn Sư Tử dễ như chơi, phóng lao vài dặm chẳng ai qua, đi dưới nước như trên khô.

Ở vào thời kỳ ấy đã có một số ít Bộ Tộc hình thành dọc theo sông Nam Trường Giang, nhưng bị thuồng luồng, sấu Quỉ, Trăn Quỉ, Hổ Quỉ sát hại. Vì sống không nổi với bầy lũ Quỉ, trong số các Bộ Tộc sống rãi rác, Bộ Tộc Kinh Hoa là bị lũ Ác Quỉ sát hại nhiều hơn cả, liền gởi thông điệp về cho Kinh Dương Vương với năm bức họa tiết thông điệp như sau.

Bức thứ nhất: Họa tiết đất bằng đất đai rộng lớn, thuận lợi cho việc trồng lúa, trồng ngô.

Bức thứ hai: Họa tiết nói lên nơi đây có nhiều loài Thủy Quái hung dữ như thuồng luồng Quỉ, cá Sấu Quỉ, Trăn Quỉ, Rắn Quỉ, Hổ Quỉ chúng theo bám con người tàn sát dữ dội.

Bức thứ ba: Họa tiết nói lên các loài Thủy Quái phá hại mùa màng, có phép thuật vô cùng lợi hại như đi gió về mây, gây ra cảnh lụt lội tàn phá cuộc sống của dân.

Bức thứ tư: Họa tiết Kinh Dương Vương đem quân đánh Quỉ, đuổi chúng đi nơi khác hoặc tiêu diệt chúng.

Bức thứ năm: Họa cảnh nói lên sau khi dẹp xong loài Thủy Tộc, Thuồng Luồng Quỉ, Cá Sấu Quỉ, Trăn Quỉ, Rắn Quỉ, Hổ Quỉ, dựng lên đất nước giàu có, ấm no hạnh phúc.

Nói về Long Nhi lớn lên trở thành Long Vương Tử Tài Đức song toàn. Kinh Dương Vương xem xong 5 bức thông điệp do Bộ Tộc Kinh Hoa gởi đến, Kinh Dương Vương xem tới đâu gật đầu tới đó nhưng không có ý kiến gì. Liền đưa 5 bức họa tiết thông điệp cho Long Vương Tử xem, Long Vương Tử xem xong lấy làm mừng rỡ, bằng xin Cha ban cho ấn lệnh đem quân dẹp loạn yêu Quỉ. Kinh Dương Vương bằng lòng, Long Vương Tử liền phát động đại quân tiến về Đông Hải đến Long Giao, tiến đánh các loài Thủy Tộc yêu tinh ác Quỉ.

Long Vương Tử đi đến đâu, các loài Thủy Tộc kinh hồn khiếp vía đến đó, Long Vương Tử chính là Rồng Chúa đầu thai nên các loài yêu Quỉ Thủy Tộc thấy Long Vương Tử đến đâu là kinh khiếp đến đó. Bị Long Vương Tử dùng pháp thuật bắt hết, số nào chống cự lại thì bị giết, số nào bị bắt thì xiềng xích chờ ngày trị tội. Diệt xong các loài Thủy Tộc, Trăn Tinh, Xà Tinh, Hổ Tinh phải mất cả năm, số còn sống sót thì trốn chạy ra biển, ở trên các hải Đảo hoặc trốn chạy qua xứ khác, thu phục một vùng đất đai rộng lớn thuộc phía Nam sông Trường Giang giáp biển.

Long Vương Tử từ thượng nguồn Tây Bắc Côn Minh đánh xuống Quý Dương, Trùng Khánh, Quế Lâm, Chu Châu, Liễu Châu, Thiều Quang, Nam Xương, Hàng Châu, Hạ Môn nói chung là hầu hết Lãnh Nam Trung Quốc ngày nay. Dẹp xong loài Thủy Tộc, Thuồng Luồng Quỉ, Cá Sấu Quỉ, Trăn Quỉ, Rắn Quỉ, Hổ Quỉ, sau đó là cho quân binh khai phá đất đai, màu mỡ trồng ngô cấy lúa, đưa thời đại Kinh Dương Vương tiến lên một bước giàu sang mới.

Long Vương Tử lên ngôi thay cha thành vị vua Kinh Dương Vương đời thứ 5 dời Kinh Đô về Giao Chỉ lập lên nước Xích Quỷ. KINH DƯƠNG VƯƠNG đời thứ 5 là vị Vương Thiên Tài, Đức Độ hơn người, chăm lo phát triển Nông Nghiệp, phát triển Nền Văn Hóa giao tiếp, thuận tiện cho việc ngoại giao, trao đổi hàng hóa, dụng cụ, lương thực khắp xa gần lân bang, các nước bạn.

Khi ấy phía Bắc, Bắc sông Trường Giang, các Vương Đế cũng đã hình thành, nói chung là Dân Tộc Đông Nam Á hay Dân Tộc Đông Bắc Á cũng chỉ là con cháu của Huỳnh Đế, Hồng Đế mà thôi.

Ở cuối thời Hồng Đế. Nam sanh VIÊM ĐẾ: thì Bắc sanh PHỤC HY: anh em một nhà.

VIÊM ĐẾ: là nhà Bác Học NÔNG NGHIỆP.

PHỤC HY: là nhà Bác Học CÔNG NGHIỆP tơ tằm, bông vải dệt lụa.

Khi Nam chuyển sang giai đoạn KINH DƯƠNG VƯƠNG thì Bắc chuyển sang Vương Đế, Đế Lai, Đế Nghi, Đế Minh, Đế Hạ, Đế Vũ v.v… Sự giao thương qua lại, Nam Bắc mỗi ngày một nâng cao nhưng mầm họa chiến tranh cũng từ đó mà phát triển. Do đâu? Do tham lam mà ra cả.

Cho đến đời Kinh Dương Vương đời thứ chín, húy hiệu là Lộc Tục hay còn gọi là Lộc Vương. Sanh ngày mùng 6 tháng 3 năm Giáp Tý, tức là năm 3084 trước Công Nguyên. Vương Hậu KINH DƯƠNG VƯƠNG đời thứ 8, lúc đó khi Vương Hậu sắp sinh con, trong lúc mơ màng yên giấc ngủ, liền thấy Thần dân trong nước ở khắp mọi miền đem cúng nạp vô số châu báu trâm bảo quí hiếm, vàng bạc, ngà voi, sừng tê giác, ngọc trai, trầm hương, mật gấu đầy nhà chật kho. Quả thật khi Vương Hậu sanh Quý Tử xong thời dân khắp mọi miền đất nước đem châu báu trâm bảo, sơn hào hải vị hiếm quí dâng lên Vua mừng Thái Tử ra đời, nên Kinh Dương Vương đời thứ 8 đặc tên cho con là Lộc Tục hay còn gọi là Lộc Vương.

Lộc Tục càng lớn càng hiền lành nhưng lại nhà Quân sự tài giỏi nhất đương thời, vốn bản chất chân tu không háo sắc nên không có nhiều thê thiếp. Khi lên nối ngôi thay cha cũng đồng danh hiệu KINH DƯƠNG VƯƠNG đời thứ 9, không tuyển thêm thê thiếp gì cả, tuổi đã lớn gần trăm nhưng chưa có con nối dòng làm lo lắng cho các quan.

Thấy các quan buồn, Kinh Dương Vương hỏi có việc chi mà các quan các khanh lo lắng rầu rĩ. Quốc Sư Thục Lục thưa, bẩm Quốc Vương nước Xích Quỉ không thể không có người nối dõi, Vương Hậu nay đã lớn tuổi gần trăm khó mà có con được nữa. Quốc Vương nên chọn thứ Hậu để sanh Thái Tử nối dõi ngôi vương. Ở Giao Chỉ có Vương Tộc Long Giao vốn nhà tông, sanh ra út nữ, Tiểu Long Công Nương, nổi tiếng xinh đẹp tuyệt trần, nhân từ khắp vùng, không ai là không ngưỡng mộ. Quốc Vương nên cầu hôn với Tiểu Long Công Nương, Thần Long Nữ về làm thiếp may ra sanh được con Trai. Kinh Dương Vương nghe chí phải, liền cho người đến Bộ Tộc Long Giao ở Đông Giao Chỉ giáp biển, cầu hôn. (Bộ Tộc Long Giao sau này trở thành Dân Tộc Nhật).

*********

Hết phần 3 chương 4 mời xem tiếp phần 4 chương 4 Long Hoa Mật Tạng, Bộ kinh Nguồn Cội tối cao truyền thống anh linh dân tộc Việt Nam. Những gì thất truyền đã hiện rõ. Vầng Thái Dương đã trở lại sáng bừng trên non sông đất Việt.

Việt Nam chữ S nở hoa

Việt Nam tỏ rạng bài ca thanh bình

Cội Nguồn truyền thống anh linh

Sáng bừng chân lý hiển vinh đời đời.

 

*******

CHƯƠNG 4

PHẦN 4

DÂN SỐ – CHÂU BỘ

CUỐI THỜI KINH DƯƠNG VƯƠNG

Nước Xích Quỷ thời dựng nước chỉ có 7 Bộ, 42 Châu nhưng về sau dân số tăng lên, nên tăng thêm hai Bộ nữa thành 9 Bộ, 53 Châu.

1- Giao Chỉ: 92.440 hộ, 746.237 người.

2- Cửu Chân: 15.398 hộ, 78.980 người.

3- Nhật Nam: 15.460 hộ, 69.458 người.

4- Hợp Phố: 16.398 hộ, 78.980 người.

5- Nam Hải: 19.613 hộ, 94.253 người.

6- Uất Lâm: 12.415 hộ, 71.162 người.

7- Thương Ngô: 24.375 hộ, 146.160 người.

8- Ninh Hải: 25.437 hộ, 172.263 người.

9- Vũ Ninh: 21.280 hộ, 136.667 người

Phải nói nước Xích Quỷ ở gần cuối thời KINH DƯƠNG VƯƠNG không những rộng lớn mà dân số cũng đông đúc vô cùng. Đây nói đến những Bộ Tộc anh em ở Đồng Bằng, còn những Bộ Tộc anh em ở trên cao sống ở trên cao dân tộc thượng chưa kể đến. Kinh hay Thượng cũng chỉ là danh từ đặt ra để gọi, thật ra Kinh Thượng vốn là anh em một nhà. Kẻ thích ở cao sống dọc theo sườn đồi gọi đó là Dân Tộc Thượng. Người thích ở thấp, Đồng Bằng sông Hồ Kinh rạch gọi là Dân Tộc Kinh. Kinh Thượng thường lên xuống lại qua chung sống với nhau.

*********

Hết phần 4 chương 4 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 1 chương 5. Phong tục tập quán mỗi dân tộc Bách Việt Văn Lang mỗi khác. Nhưng truyền thống anh linh Bách Việt Văn Lang chỉ có một. Đó là Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo Văn Lang. Bách Việt Văn Lang đều sống trong một ngôi nhà chung là sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, Công Bằng, Bình Đẳng Nền Quốc Đạo Văn Lang.

 

 *********

CHƯƠNG  5

PHẦN 1

SỰ RA ĐỜI VỊ QUỐC TỔ THIÊN TÀI CÓ MỘT KHÔNG HAI TRONG NHÂN LOẠI CON NGƯỜI

Thời kỳ phồn thịnh của nền văn minh lúa nước, văn minh giao tiếp, kéo dài hơn mấy nghìn năm. Từ thời VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG cho đến thời KINH DƯƠNG VƯƠNG với địa thế đất đai rộng lớn màu mỡ, bởi hàng năm phù sa theo các dòng sông bồi đắp, đưa đến dân giàu nước mạnh. Nước Xích Quỷ bao trùm hầu hết Giang Nam Trung Quốc.

Chín vị Vua KINH DƯƠNG VƯƠNG tiếp nối nhau trị vì Thiên Hạ. KINH DƯƠNG VƯƠNG đời thứ 9 là vị vua nổi tiếng không ham thích tửu sắc, Nhân Đức hiền từ, tuổi đã hơn trăm nhưng chưa có con nối dõi nối dòng làm lo lắng cho các vương quan Đại Thần.

Thấy các quan buồn KINH DƯƠNG VƯƠNG hỏi:

   Có việc chi mà các quan các khanh lo lắng rầu rĩ.

Quốc Sư Thục Lục thưa:

   Muôn tâu Quốc Vương, Vương Hậu gần hết tuổi sanh con, tuổi trung niên sắp qua, tuổi về già lại đến khó thể sanh con được nữa, Quốc Vương nên thu nạp thứ thiếp may ra có thể sanh con nối ngôi Quốc Vương Bệ Hạ. Muôn dân trăm họ đặng nhờ. Giữ vững cơ nghiệp Tiên Đế Cha Ông. Đông Giao Chỉ có Vương Tộc Giao Long, Vương Chúa có con gái út nữ Tiểu Long Công Chúa, sắc nước hương Trời, nổi tiếng thông minh hiền hậu hiếm thấy trên đời, tuy đã lớn tuổi nhưng Tiểu Long không thích lấy chồng vì cho rằng không ai là người xứng đáng với nàng. Vương Chúa vì thương nên không ép có chồng, tùy Công Chúa Tiểu Long Nữ lựa chọn quyết định.

KINH DƯƠNG VƯƠNG nghe Quốc Sư Thục Lục kể về Tiểu Long Nữ tính tình kỳ lạ, mà ngay cả người Cha cũng kỳ lạ như thế, lấy làm kinh ngạc hỏi:

   Có chuyện kỳ lạ đó sao?

Thục Lục thưa:

   Bẩm Quốc Vương chuyện Hạ Thần kể đều là sự thật. Quốc Vương nên cầu hôn với Tiểu Long Nữ về làm thứ thiếp, may ra có thể sanh con. Nối ngôi Quốc Vương, muôn dân trăm họ đặng nhờ, giữ vững cơ nghiệp Tiên Đế Cha Ông.

Kinh Dương Vương nghe phải gật đầu, nhưng nói:

   Để ta suy nghĩ tính sau.

Thục Lục làm thinh không dám tâu nữa.

Nói về Vương Hậu không có con lấy làm lo lắng, lúc nào cũng khuyên Kinh Dương Vương thu nạp thứ thiếp, để sanh con nối dõi ngôi vương. Kinh Dương Vương ầm ừ qua chuyện, ngày qua tháng lại không đá động gì đến kết nạp thê thiếp, làm lo lắng cho các vương quan Đại Thần, nhất là Vương Hậu.

Kinh Dương Vương chỉ thích tu luyện hơn là nạp thê thiếp, Kinh Dương Vương tu luyện đạt đến cảnh giới Địa Tiên, pháp thuật võ nghệ cao cường, đi trên nước như đi trên đất bằng, đi qua con suối, con khe, hố sâu, vực thẳm, núi cao như đi trên thảm cỏ. Không hiểu vì sao hôm nay Kinh Dương Vương lại muốn dạo chơi nơi Hồ Động Đình, danh lam thắng cảnh thời đó, nhất là dịp xuân về, cảnh sắc nơi đây như bồng lai Tiên Cảnh. Kinh Dương Vương quyết định đi một mình nên không cho ai biết, lặng lẽ một người một ngựa âm thầm ra khỏi cung cấm, nhắm mắt hướng Hồ Động Đình vó ngựa lao đi. Kinh Dương Vương tuy đã hơn trăm tuổi nhưng tráng kiện như trai trẻ khôi ngô tuấn tú oai phong lẫm liệt, nhìn vào chỉ độ 40 tuổi là cùng. Có lẽ Kinh Dương Vương nhờ tu thiền luyện khí nên giữ được bản sắc tướng lâu già, da dẻ hồng hào, trai tráng cũng khó mà hơn được. Cỡi con Huyết Hản Long Câu Thần Mã lao đi vùn vụt, nhìn cảnh non xanh nước biếc, lũy tre đồng ruộng, cây đa, bến đò con nước, người người đông đúc qua lại, bề bộn, dập dìu.

Cảnh thái bình thịnh trị khắp nơi nơi, không người ăn xin, ai cũng được no cơm ấm áo. Kinh Dương Vương lòng đầy khoan khoái, cho ngựa đi chầm chậm thưởng thức cảnh miền quê êm ả hiền hòa. Trước mặt là con sông lớn nhưng Kinh Dương Vương hình như không để ý, ngựa người vẫn lướt bon bon trên mặt nước, ai nhìn thấy cứ ngỡ đó là Thần Tiên trên trời dạo chơi nơi chốn nhân gian, vượt qua bao rừng núi, con suối, con khe, hố sâu vực thẳm như đi trên đường lộ, nhìn cảnh núi rừng hoa khoe sắc thắm, hương thơm nức mũi, đá chen hoa hoa chen lá, lá trong mây, mây trong gió, gió làm cho người dễ chịu khoan khoái lân lân.

Ôi Quê Hương, ôi Núi Rừng xanh biếc

Đá chen Hoa, nực Hương trời thơm ngát

Hoa chen lá, cảnh Bồng Lai hạ giới

Lá chen Mây, đang thì thầm xuân tới

Mây trong Gió, tình càng thêm nồng ấm

Đưa hồn người lên tới tận trời xa.

Cảnh Thái Bình, trổ no ấm âu ca.

Kinh Dương Vương, lòng đầy khoan khoái, ngựa cùng người chầm chậm lướt lướt qua. Kinh Dương Vương nhìn cảnh Núi Rừng muôn Hoa đua sắc, mùa xuân lại về, mùa hội tụ lại đến, cảnh bà con thân tộc, cha con chồng vợ anh em sum vầy ấm cúng, bên cổ mâm xôi, bên nồi bánh tắc, Xuân Trời, Xuân Đất, Xuân Tình thi nhau nở rộ.

Hồ Động Đình lần lần xuất hiện, Kinh Dương Vương cảm thấy rất vui, thoáng cái người ngựa đã đến nơi. Hồ Động Đình quan cảnh vừa kỳ bí vừa xinh đẹp, chẳng khác gì Bồng Lai Tiên Cảnh, có lẽ nơi đây là Bồng Lai chốn cõi trần. Kinh Dương Vương xuống ngựa đi dạo quanh bờ Hồ như đang lạc vào Bồng Lai Tiên Cảnh. Bổng xuất hiện giữa Hồ một bóng Hồng tha thướt, tà áo miên man phất phơ theo gió. Kinh Dương Vương bị cuốn hút theo người con gái đẹp như Hằng Nga giáng thế, bước chân nhẹ nhàng trên mặt nước. Kinh Dương Vương nghĩ nàng là ai từ đâu đến, Thần Tiên ở cõi nào đến dạo chơi nơi đây.

Nàng là ai, từ đâu nàng đã đến

Như vầng trăng, rực sáng cõi nhân gian

Ta đang mơ, hay lạc đến Thiên Đàng

Tà áo nhẹ, lướt trên Hồn thi sĩ

Nàng là Ma, hay là loài ác Quỷ

Cuốn hồn ta, theo nhịp bước nàng đi

Nàng là ai, nàng đừng vội bay đi.

Kinh Dương Vương nhìn nàng con gái thanh nhã, cao sang như đang tìm kiếm vật gì đó. Kinh Dương Vương nào có hay biết người con gái xinh đẹp quý phái kia đang tìm kiếm giấc mơ của mình mà Nữ Thần hạnh phúc đã mách bảo. Con hãy đến giữa lòng Hồ Động Đình tìm lấy hạnh phúc của con. Nàng đến đây tìm hơn nữa giờ mà vẫn không thấy, quả tim hạnh phúc ở đâu. Nhưng nàng vẫn kiên trì đi tới đi lui giữa Hồ để tìm kiếm.

Kinh Dương Vương bị cuốn theo sắc đẹp bước chân, tà áo và sự tìm kiếm của nàng. Kinh Dương Vương như bị nam châm hút lấy, phi thân xuống Hồ đi ra gặp nàng. Người con gái đẹp như Tiên Hằng Nga đang tìm kiếm gì đó giữa mặt Hồ, bổng phát hiện có người từ xa đi đến, đi trên mặt nước như đi trên đất liền, thì lấy làm kinh ngạc, nhìn xem người tài cao đó là ai, Thần Tiên ở cõi nào đến, khi đã nhìn rõ, nàng bỗng nhiên hồi hộp lạ thường. Thì ra người mới đến là một trung niên cao to vạm vỡ, khôi ngô tuấn tú, khí sắc oai hùng, chẳng kém gì Thần Tiên giáng hạ dạo chơi chốn phàm trần, quả tim nàng đã đập loạn lên.

Kinh Dương Vương càng tới gần càng thấy người con gái đẹp lộng lẫy, có lẽ còn đẹp hơn cả Hằng Nga nữa là khác. Kinh Dương Vương vốn là người không màn đến tửu sắc, thế mà nhìn người con gái mới gặp gỡ này quả tim liền rung động. Người con gái thấy khí sắc oai hùng khôi ngô tuấn tú cũng có sự rung động như vậy.

Kinh Dương Vương sanh tâm kính mến bước tới chào hỏi. Nhìn vẻ quí phái cao sang lễ phép cung cách như Công Chúa, thì nhìn sửng nghĩ nàng là ai? Đến khi giật mình thì nhận ra sự thất kính của mình thì:

   Xin lỗi, xin lỗi cô nương tha cho sự vô lễ thất kính của tôi.

Nhìn vẽ lúng túng điệu bộ của Kinh Dương Vương có pha chút khôi hài, nàng liền hết giận phì cười, ôi nụ cười của nàng đẹp làm sao, tươi như cánh Hoa mới nở, đẹp như mùa xuân rực rỡ. Kinh Dương Vương không kiềm được lòng mình, khen nàng cười đẹp quá. Có phải đây là duyên nợ hay không. Biết bao nhiêu lần khen nàng cười đẹp nhưng nàng không hề chú ý, nhưng lần này lại khác. Nàng nghe như mật ngọt rót vào hồn lân lân khó tả, quả tim đập mạnh đôi má ửng hồng, như vừa uống phải một ly rượu mạnh.

Bổng cô bạo dạng lên tiếng:

   Ngài là ai tìm tôi có chuyện gì?

Thấy Kinh Dương Vương lặng im không trả lời nàng có ý hờn giận, hỏi lại như có vẻ hơi gắt gỏng hơn:

   Ngài tìm Tiểu Long Nữ tôi có chuyện gì?

Kinh Dương Vương à một tiếng nghĩ thì ra đây là Tiểu Long Công Chúa, Vương Tộc Long Giao. Kinh Dương Vương vô cùng kinh ngạc đến đổi đờ người ra, không lẽ đây là duyên tiền định. Kinh Dương Vương nhìn Tiểu Long Công Chúa đang giận dỗi liền phì cười:

   Chấp tay xin lỗi, xin lỗi Tiểu Long Công Chúa, tôi là Lộc Tục, theo giấc mơ đến đây vô tình gặp Công Chúa mà thôi.

Tiểu Long Nữ nghe Kinh Dương Vương nói thế thì lấy làm kinh ngạc, tự nghĩ sao lại trùng hợp với mình thế, mình cũng đang tìm giấc mơ hạnh phúc. Thế là lời qua tiếng lại càng lúc càng tâm đầu ý hợp, như đã quen biết từ lâu rồi, tình yêu liền đâm chồi mọc rễ hòa quyện lẫn nhau.

Mưa yêu từ thuở xa xăm

Cho hạt nẩy mầm xanh tốt từ đây

Trời xanh gió đã dìu mây

Cây đà nẩy lộc, vương cành đơm hoa

Chim Tình mọc cánh bay xa

Vườn xuân vầy hội Bướm Hoa tựa kề

Hồ gương in bóng trăng thề

Trúc – Mai má tựa vai kề yến oanh.

Kinh Dương Vương tuy là người không háo sắc nhưng gần Tiểu Long Nữ cầm lòng không được liền bước tới nắm lấy tay nàng nói:

   Ta tuy là vị Vua nổi tiếng giàu có hùng mạnh nhưng ta chưa bao giờ xâm lược hay đàn áp Bộ Tộc, Vương Tộc nào, luôn luôn tôn trọng lẫn nhau, kết tình bằng hữu. Nhất là Vương Tộc Long Giao ta vô cùng kính mến.

Tiểu Long Nữ cắt ngang:

   Thì ra chàng đã biết Tiểu Long là Công Chúa Long Giao.

Kinh Dương Vương nói:

   Ta nghe nàng nói nàng là Tiểu Long Nữ, ta liền nghĩ ngay nàng là Tiểu Long Công Chúa.

Tiểu Long Công Chúa như chợt nhớ ra điều gì nhìn Kinh Dương Vương một cách kỳ lạ. Kinh Dương Vương thấy cử chỉ Tiểu Long Nữ khó hiểu:

   Ta kỳ lạ lắm sao mà nàng nhìn ta dữ vậy.

Tiểu Long Nữ bắt đầu nói:

   Không phải.

Kinh Dương Vương không hiểu gì cả.

Tiểu Long Nữ hỏi:

   Chàng nói chàng là Vua một đất nước giàu có hùng mạnh.

Kinh Dương Vương gật đầu.

Tiểu Long Nữ lại hỏi tiếp:

   Quốc Vương nước Xích Quỷ sao?

Kinh Dương Vương lại gật đầu.

Tiểu Long Nữ lại hỏi:

   Chàng là Kinh Dương Vương.

Kinh Dương Vương lại gật đầu, thiếu chút nữa Tiểu Long Nữ la lên vì kinh ngạc. Có lẽ lời đồn đã sai.

Kinh Dương Vương hỏi:

   Nàng nghe đồn gì về ta.

Tiểu Long Nữ nói:

   Lời đồn Kinh Dương tuổi đã cao có dư trăm, lại chưa có con nối dõi. Ngôi Quốc Vương sẽ đổi chủ. Dòng dõi Kinh Dương Vương kết thúc.

Kinh Dương Vương thở dài:

   Cũng tại ta, không chịu kết nạp thê thiếp.

Tiểu Long Nữ nói:

   Thật kỳ lạ Kinh Dương Vương lời đồn dư trăm tuổi, còn Kinh Dương Vương, Tiểu Long Nữ gặp đây chỉ độ 40 tuổi là cùng.

Kinh Dương Vương lại thở dài nói:

   Có lẽ do ta tu luyện, cũng có lẽ trời phú cho ta lâu già, ta nay đã 100 tuổi hơn nửa đời người.

Tiểu Long Nữ như có điều suy nghĩ, nhưng thoáng chốc Tiểu Long Nữ vui trở lại, hai người dạo chơi hết dưới nước rồi lên bờ Hồ, cuộc vui chơi nào cũng đến lúc chia tay. Tiểu Long Nữ về Vương Tộc Long Giao. Kinh Dương Vương về Kinh Đô Xích Quỷ.

*********

Hết phần 1 chương 5 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 2 chương 5.

 

*********

CHƯƠNG  5

PHẦN 2

Hai người chia tay không bao lâu, thì Kinh Dương Vương cho Sứ Thần qua Vương Tộc Long Giao cầu hôn Công Chúa Thần Long Nữ. Thần Long Nữ vừa xinh đẹp vừa hiền thục, nên về làm vương phi chưa lâu, thế mà đã chiếm được lòng các quan lớn nhỏ trong triều.

Vương Hậu không những không ganh ghét mà hết lòng yêu thương Vương Phi. Vương Hậu thấy mình đã có lỗi trong việc sanh con đẻ cái, sợ dòng dõi Kinh Dương Vương tuyệt hậu. Nên sớm hôm lập bàn hương án cầu Trời, cầu cho Vương Phi Thần Long Nữ có con, sớm sanh Quý Tử. Có lẽ lời cầu nguyện ấy cảm ứng đến Đức Long Hoa Cha Trời Lạc Long Quân và Đức Địa Mẫu Âu Cơ, nên Đức Cha Trời sai Đức Chí Tôn đầu thai xuống chốn nhân gian, sanh vào dòng dõi Kinh Dương Vương làm con Thần Long Nữ.

Nói về Thần Long Nữ sau khi về làm vương thiếp không đặng bao lâu thì có mang, tin vui này đã lan truyền khắp nước Xích Quỷ, làm cho cả nước Xích Quỷ reo hò nhảy múa. Còn nơi Cung Vương Phi lúc nào cũng có kẻ ra người vào tấp nập. Vương Hậu thường đến bầu bạn với Vương Phi. Kinh Dương Vương luôn luôn tạ ơn Trời Đất, Hương Hoa, Trà, Quả cúng dường không ngớt. Có điều khác lạ ở đây, Kinh Dương Vương không dâng cúng Gà, Heo, Trâu, Bò mà chỉ cúng bằng Hương Hoa, Trà Quả, Rượu thơm, Xôi Nếp với tấm lòng thành kính của mình.

Có lẽ Kinh Dương Vương nghĩ, Trời là Đức Hiếu sanh, tất cả sanh linh đều liên quan đến nhà Trời nên không thể dùng sanh mạng dâng cúng, chỉ dâng cúng Hương Hoa, Trà Quả, Rượu thơm, Xôi Nếp là thích hợp nhất. Sự cúng dường không sát hại sanh mạng của Kinh Dương Vương làm tăng thêm phước Đức, các vị Thiên Thần hài lòng lắm, nên luôn luôn hộ trì hộ độ cho Kinh Dương Vương cũng như dòng dõi vương tộc bình an vạn sự.

Đúng vào ngày 20 tháng 2 năm giáp thìn, Vương Phi Thần Long Nữ chuyển dạ sanh con. Trước đó mấy hôm vào lúc canh ba, Thần Long Nữ trong lúc mơ màng, Trời Đất đang trong sáng, bổng nhiên tối sầm, Ma Quỉ lộng hành, chúng thi nhau phù phép thổi luồng tà khí, dục vọng, tham lam, ganh ghét, trộm cướp, hận thù, tranh giành cuồng loạn, chém giết lẫn nhau, máu chảy thành sông, thây chất đầy núi. Cảnh binh đao múa lửa dậy trời, nhà tan cửa nát, tiếng cầu cứu khóc la thảm thiết, ôi thế nhân đến hồi mạc vận. Vương Phi Thần Long Nữ vô cùng kinh sợ, càng thấy càng khiếp vía kinh hoàng, chưa biết phải làm sao.

Thì lạ thay Vương Phi Thần Long Nữ thấy giữa không trung xuất hiện một vị Thiên Đế uy nghi Hùng Dũng, tay cầm gươm báu, ba đạo Hào Quang sáng chói, xông vào đám Yêu Tinh mà diệt trừ. Vị Thiên Đế hét to: Hỡi lũ Yêu Tinh, Tà Quỉ. Tà tánh của các ngươi từ mê si ngu muội mà ra. Các ngươi là loài Quỉ dữ Ma Thiên. Chuyên làm mưa làm gió gieo rắc chiến tranh. Đầu độc nhân loại. Làm tổn hại con cháu nhà Trời. Nay ta vâng lệnh Cha Trời xuống thế mà trừ hại cho nhân loại con người. Tức thời gươm Huệ vung lên Sấm nổ vang trời. Ba Đạo hào quang rực rỡ. Hiện ra hàng nghìn hàng vạn mặt trời thiêu rụi Tà Quỉ Yêu Tinh. Bóng u minh, khói lửa chiến tranh biến mất. Non sông đất nước thái bình. Bầu trời trong xanh mát mẻ. Mùa xuân lại về, muôn hoa thi nhau đua nở. Chim muôn vạn thú ca hát nhảy múa liếu lo. Cảnh ăn no mặc ấm, con đàn cháu đống tràng ngập thôn quê, Phố thị, núi rừng. Vương Phi Thần Long Nữ còn đang ngơ ngơ ngẩn ngẩn mở to đôi mắt mà nhìn. Bổng chốc vị Thiên Đế đến gần, hào quang rực rỡ mỉm cười rồi biến mất.

Nói về Vương Phi chuyển dạ cuối giờ Mẹo đầu giờ Thìn thì sanh ra một Hoàng Nam tướng mạo khôi ngô tuấn tú. Giống hệt vị Thiên Đế trong giấc mơ.

Lúc Vương Phi Thần Long Nữ sắp sanh Thái Tử. Mùi Chiên đàng hương thơm ngát cả cung thành. Kỳ lạ thay Hoa Lan khắp non sông Tổ Quốc đồng nở rộ, hương thơm ngào ngạt rực rỡ chưa từng có trong đời.

Tiếng hát ca từ Thiên Cung vọng xuống ca ngợi Đức Chí Tôn xuống thế Độ Đời. Các Thiên Thần, thi nhau rưới hương Sen, hương Lan, hương Huệ, hương Mai, và còn nhiều thứ hương khác nữa, từ trên không rơi xuống khắp khung thành. Những người ốm đau liền khỏi hẳn. Những người mù lâu năm bổng dưng sáng mắt ra. Trí Đức tăng cao, mê mụi đẩy lùi. Ai nấy thấy mình trào dâng sức sống. Mùi Hương thơm đã dứt đi sự lo âu sầu muộn, đưa con người đến an lạc yên vui. Kinh Dương Vương nhìn Thái Tử triều mến thương yêu.

Vương Phi Thần Long Nữ ngắm nhìn hài nhi hồi lâu, rồi thưa với Kinh Dương Vương rằng:

   Hài Nhi quả đúng là vị Thiên Đế trong giấc mơ ấy rồi. Vị Thiên Đế anh hùng. Một mình quét sạch Yêu Tinh Quỉ Dữ.

Kinh Dương Vương chiếu theo lời kể của Vương Phi. Thì vị Thiên Đế nầy, chính là Chí Tôn anh hùng xuống trần cứu dân Độ Thế. Nên Kinh Dương Vương đặt tên cho Thái Tử chữ đầu tiên là chữ Hùng khi sanh ra Thái Tử. Hoa Lan khắp non sông Tổ Quốc nở rộ. Hương Lan thơm ngát lan tràn khắp hang cùng ngõ hẻm. Ta vốn chữ đầu là Lộc, mùa xuân, Lan cũng thuộc mùa xuân. Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm. Vì thế ta đặc Tên cho con ta là Hùng Lan. Thêm chữ Cao ở giữa vì Tổ Tiên Ta là Trời. Từ thời Viêm Đế Thần Nông đến thời Kinh Dương Vương Ta đều thờ một chữ Cao. Hùng Cao Lan. Nhưng khi gọi con chỉ gọi Hùng Lan vì Chữ Cao Họ Trời, Trời Cao. Thiên Tổ  Chúng Ta. Đây là điều cơ mật nối truyền cho đến ngày nay. Hùng Lan còn nhiều ý nghĩa khác, như Hùng Thiên, Hùng Khí, Hùng Anh. Lan tỏa, Lan tràn, Lan truyền khắp Thế Giới năm Châu bốn bể. Trần gian, Thiên đàng, Vũ trụ.

Còn chữ Lang có “g” là sau nầy Hùng Lan Dựng nước Văn Lang. Là một đất nước hung dữ, như Lang sói Hổ Báo, đụng đến là bỏ mạng vì thế đã làm khiếp đảm quân thù, ngoại xâm hàng nghìn năm. Vương phi Thần Long Nữ đã sanh ra vị Thiên Tài có một không hai nơi trần thế, nên sau này Thần Long Nữ được suy tôn Đức Thánh Tổ Mẫu. Chính là Đức Vương Mẫu trên cung Trời Đao Lợi Thiên, quyền lực vô biên.

*********

Hết phần 2 chương 5 mời xem tiếp phần 3 chương 5 Long Hoa Mật Tạng. Long Hoa Mật Tạng là bộ kinh tối cao, những tinh hoa Mật Tạng Vũ trụ đều gói gọn trong bộ kinh nầy. Những ai gặp được bộ kinh Long Hoa Mật tạng, phải nói là vô cùng hạnh phúc. Có thể nói những người nầy đã tu vô lượng kiếp làm nhiều phước thiện, nên mới sanh ra đúng thời kỳ Long Hoa Mật Tạng ra đời làm chủ vận mệnh, làm chủ tất cả.

Đất nước Việt Nam thật diệu kỳ

Trổ Rồng trổ Phụng lắm uy nghi

Lịch sử Cha Ông rền sông núi

Tài đức song toàn sách sử ghi

Văn Hóa Rồng Tiên đã ra đời

Sáng bừng chân lý sáng ngời ngời

Con cháu Tiên Rồng anh linh khắp

Việt Nam hùng khí rạng tinh khôi.

 

*********

CHƯƠNG  5

PHẦN 3

XEM TƯỚNG.

Thành Giang Nam có vị Đạo Sĩ kỳ tài, nổi tiếng chuyên đón mộng lại có tài xem tướng như Thần, nổi tiếng như sấm. Nay Thái Tử Hùng Lan vừa tròn một tuổi. Kinh Dương Vương cho người mời Đạo Sĩ tài ba ấy vào cung đón mộng cho Vương phi Thần Long Nữ, xem tướng cho Thái Tử Hùng Lan, lành dữ vận mệnh về sau thế nào.

Đạo Sĩ nhà tướng số 1 kỳ tài đương thì được đưa vào cung ra mắt Kinh Dương Vương và Vương Phi Thần Long Nữ. Kinh Dương Vương xem qua tướng mạo Đạo Sĩ thấy trên đầu có Hào Quang tỏa ra thì lấy làm vừa lòng lắm nói:

   Ta đã nghe tài năng của Đạo Sĩ từ lâu nay ta có việc cần nhờ Đạo Sĩ giúp cho.

Đạo Sĩ chấp tay hành lễ nói:

   Bẩm Quốc Vương bần Đạo sẽ làm hết khả năng của mình, Quốc Vương cứ dạy bảo.

Kinh Dương Vương nói Vương Phi hãy kể lại giấc mộng trước khi sanh Thái Tử cho Đạo Sĩ nghe đi. Vương Phi nói thần thiếp tuân lệnh: Vương Phi liền kể lại đầu đuôi giấc mộng trước khi sanh Thái Tử.

Đạo Sĩ ngồi chăm chú lắng nghe, vương phi kể đến đâu Đạo Sĩ kinh hãi đến đó, Vương Phi kể xong Đạo Sĩ nói:

   Bẩm Quốc Vương có thể cho Bần Đạo xem qua tướng Thái Tử được không.

Kinh Dương Vương nói:

   Được chứ, đó là mục đích chính ta mời Đạo Sĩ đến đây.

Liền cho Cung Nữ Xảo Yếu, hầu tì bồng Thái Tử ra. Đạo Sĩ vừa nhìn thấy Thái Tử thì sửng sốt vì trên đầu Thái Tử phát ra Hào Quang Trí Huệ, tuy chưa sáng tỏ lắm, từ xưa đến nay Đạo Sĩ chưa từng thấy dù cho đó là Thiên Tiên hay Địa Tiên.

Khi được tận mắt chứng kiến một nhân thể bất phàm, có đủ 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp. Quả đúng là Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống trần, có 1 không 2 trong nhân loại. Nếu xuất gia sẽ là Phật Tổ, Chúa Tổ, còn không xuất gia sẽ là Chuyển Luân Vương, không đánh mà hàng phục được Thiên Hạ, Bất chiến tự nhiên thành. Lập lên đất nước rộng lớn, mở ra trang sử mới. Trang sử vẻ vang đưa đời sống nhân loại vượt lên tầm cao mới. Mở màn cho nền văn minh vật chất lẫn tinh thần, khám phá lần về vũ trụ, làm chủ vũ trụ. Chân lý Đại Đồng sẽ mở màn ra đời.

Đạo Sĩ rơi lệ quì xuống vái lạy Thái Tử. Kinh Dương Vương giật mình, vương Phi kinh hãi, không hiểu chuyện gì xảy ra.

Kinh Dương Vương lo lắng hỏi:

   Đạo Sĩ làm sao vậy?  Điều gì xảy ra cho Thái Tử lành dữ thế nào hãy nói cho ta rõ.

Đạo Sĩ nói:

   Bẩm Quốc Vương chỉ có lành chứ không có dữ, Bần Đạo lạy đây là lạy Đức Chí Tôn lâm phàm, Cứu Dân Độ Thế, Đại Từ Đại Bi. Thương dân như thương con ruột của mình. Bần Đạo khóc đây là khóc tuổi đã già, không được nghe Chí Tôn thuyết giáo, uổng biết bao vì kém Đức, thiếu nhân duyên với Đức Chí Tôn nên sanh ra làm người hơi sớm, không được nghe lời dạy của Đức Chí Tôn. Đạo Sĩ càng nói nước mắt càng chảy.

   Theo lời Vương Phi kể, vì Thiên Đế tay cầm gươm báu, đó không phải là gươm thường mà đó là gươm Thiên Trí Huệ. Có 3 đạo Hào Quang, đó là ánh sáng Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Thiên Tạng, Luật Tạng, Pháp Tạng vũ trụ, Tam Bảo Chí Tôn. Chỉ cần nghe hiểu một câu trong Tam Bảo Chí Tôn thì diệt được vô lượng tội ác. Mạng chung liền được siêu sanh về thượng giới, huống chi được nghe Chí Tôn thuyết giáo thì hạnh phúc biết bao. Vĩnh viễn không còn đọa lạc. Thường làm Vua làm Chúa ở các cõi Trời. Chỉ có Đức Chí Tôn mỗi lần vung Kiếm Trí Huệ, thì hiện ra vô số Mặt Trời, Mặt Trời Công Lý, Mặt Trời Hiến Pháp, Mặt Trời Đạo Đức, Mặt Trời Bình Đẳng, Mặt Trời Nhân Quyền, Mặt Trời Tự Do, Mặt Trời Luật Pháp, Mặt Trời Khoa Học và cho đến hàng nghìn hàng vạn Mặt Trời cùng chung mục đích là thiêu rụi lòng tà gian tối tăm che khuất tâm linh con người vô minh tan biến, Cội Nguồn vũ trụ hiện ra, nhân loại Thăng Hoa tiến tới cảnh Đại Đồng vũ trụ. Những người nghe Thái Tử thuyết giáo thi coi như siêu thoát Linh Hồn về nơi Cực Lạc. Quốc Vương và Vương Phi sẽ được lưu danh mãi mãi vì đã sanh ra Đức Chí Tôn.

Kinh Dương Vương cùng Vương Phi nghe Đạo Sĩ nói như vậy, thì mừng lắm. Ban thưởng trọng hậu cho Đạo Sĩ, sau đó sắm lễ vật dâng cúng tạ ơn Trời Đất.

PHẦN THƯA HỎI

Hỏi: Nguồn gốc dân tộc Rồng Tiên phát nguồn từ đâu?

Đáp: Phát nguồn từ thời Hồng Hoang Bàng Cổ sơ khai, nếu nói gần thời từ đầu tiểu kiếp thứ 9 đến nay đã trải qua 16 triệu 7 trăm 90 nghìn năm.

Hỏi: Dân Tộc Rồng Tiên phát nguồn xa hơn nữa thời cách đây bao lâu?

Đáp: Dân Tộc Rồng Tiên ra đời cách đây hơn 4 tiểu kiếp, nơi dãy núi Long Hoa, cách 75 triệu 600 nghìn năm.

Hỏi: Dân Tộc Việt Nam thừa hưởng di sản Cội Nguồn quí giá như vậy, sao không biết phát huy để thừa hưởng mà còn tìm kiếm những Văn Hóa đâu đâu, dẩn đến nô lệ chiến tranh loạn lạc, nồi da nấu thịt lạc hậu nghèo đói truyền miên.

Đáp: Theo tôi nghĩ, con cháu Việt Nam có nền văn hóa Tiên Rồng lâu đời tốt đẹp như vậy, đáng lý ra Con Cháu Việt Nam ra sức giữ gìn phát huy mỗi ngày mỗi tốt đẹp, nhớ mãi công ơn của Vua Hùng đã truyền lại. Có lẽ vì Văn Hóa Cội Nguồn Tiên Rồng đã thất truyền, phần thì bị ngoại xâm di hại, những kẻ yếu kém về lòng trung hiếu nghe theo tà kiến ngoại bang, làm hại đến truyền thống văn hóa Cội Nguồn dân tộc, mới dẩn đến cái cảnh nồi da nấu thịt, chiến tranh loạn lạc, hạn chế trình độ dân trí phát triển, dẫn đến lạc hậu nghèo đói triền miên. Chúng ta đã làm chủ kho tàng kiến thức vũ trụ là niềm vinh hạnh nhất, không có sự vinh hạnh nào hơn, cũng không có hạnh phúc nào hơn. Nếu chúng ta bỏ lỡ cơ hội lần nữa thì chúng ta sẽ mất tất cả. Con đường nô lệ sẽ lặp lại, Địa Ngục trần gian sẽ bao phủ lấy chúng ta.

Hỏi: Văn Hóa Cội Nguồn Tiên Rồng có phải là giáo phái Tôn giáo không?

Đáp: Văn Hóa Cội Nguồn do chính Hùng Vương Quốc Tổ sáng lập là Thiên Đạo vũ trụ, Chủ Nghĩa Đại Đồng, Hiến Pháp Văn Lang, Quốc Đạo Dân Tộc. Có thể nói Quốc Đạo Tiên Rồng không phải là giáo phái Tôn Giáo mà là hiện thân Hiến Pháp vũ trụ, Luật pháp vũ trụ, Công Lý Bình Đẳng vũ trụ.

Hỏi: Chủ Nghĩa Đại Đồng là gì?

Đáp: Nếu nói gần thì tất cả nhân loại, điểm xuất phát là từ một nguồn gốc, từ trong bọc trứng ÂU CƠ sanh ra, mang ý nghĩa Đồng Bào, nói lên nhân loại thế gian năm màu da đều là anh em một nhà, không phải nói riêng nhân loại trần gian mà ngay cả nhân loại trên các cõi Trời. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa cũng đều là anh em một nhà, sinh ra từ một nguồn gốc, sống chung trong một nhà vũ trụ. Còn nói xa hơn nữa, tất cả Linh Hồn nhân loại. Tiểu Linh Hồn là do Đại Linh Hồn vũ trụ tạo ra mà thôi ví như Đại Linh Hồn là nước tạo ra Tiểu Linh Hồn bọt nước mà thôi. Bản thể nước thì có một. Còn bọt nước thì nhiều vô lượng vô biên. Chủ Nghĩa Đại Đồng nói về bản thể của nước Đại Linh Hồn vũ trụ mà tất cả bọt nước Tiểu Linh Hồn hướng về Cội Nguồn của mình. Tiến đến cảnh giới giác ngộ tối cao Chánh Đẳng, Chánh Giác, Đồng trí, Đồng tướng, Đồng tánh. Bọt nước trở về là Nước, Tiểu Linh Hồn nhập về Bản thể Đại Linh Hồn.

Hỏi: Thờ Cha Trời Lạc Long Quân. Thờ Địa Mẫu Âu Cơ, Phước Đức giải thoát tội lỗi hơn Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa không?

Đáp: Có thể nói thờ hết Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa khắp vũ trụ Tam Thiên Đại Thiên thế giới, cũng không bằng thờ Đức Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Vì sao như vậy? Vì Đức Cha Trời, Đức Địa Mẫu là do Tổ Tiên Khai Hóa, Đại Linh Hồn vũ trụ hiện thân ra hai Đấng tối cao vũ trụ. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa cũng như vận mệnh Non Sông Tổ Quốc của mỗi dân tộc, đều do hai Đấng Cha Trời, Địa Mẫu chuyển vận bộ máy huyền cơ quyết định. Phải nói chưa có Phật, Tiên, Thánh, Chúa nào lập lên vũ trụ, Tam Thiên Đại Thiên thế giới mà do Tổ Tiên Khai Hóa, khai tạo lập nên, rồi hiện thân ra Đức Cha Trời Địa Mẫu, cai quản giang san vũ trụ sự nghiệp ấy. Vì vậy thờ Đức Cha Trời Lạc Long Quân cùng Đức Địa Mẫu Âu Cơ, thì phước Đức không thể nghĩ bàn cho hết được. Điều đáng nói ở đây thờ Trời phải thành tâm, thì sự linh ứng cùng tột, có thể nói cầu chi đặng nấy.

*********

Hết phần 3 chương 5 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 4 chương 5.

 

*********

CHƯƠNG  5

PHẦN 4

Nước Xích Quỷ vang lừng Thái Tử

Dậy Phương Nam trổ đức, trổ nhân

Hùng Lan Thiên Đức Chí Tôn

Xuống trần lập giáo dựng nên cơ đồ.

Thái Tử Hùng Lan càng lớn càng khôi ngô tuấn tú, thông minh khác thường, khôn ngoan, Đạo Đức nhân từ hiếm thấy. Thái Tử tuy tuổi còn nhỏ nhưng tiếng lành đồn xa lan rộng khắp nơi.

Ngày qua tháng lại như thoi đưa, mới đó Thái Tử Hùng Lan đã hơn 14 tuổi, một hôm Thái Tử một mình dạo chơi chốn hoa viên, thì bổng dưng xuất hiện một người xa lạ, Thái Tử chưa từng gặp bao giờ. Người ấy chấp tay cuối đầu chào Thái Tử. Thái Tử nhìn người xa lạ, Tiên Phong Đạo Cốt khí chất khác phàm sinh lòng kính nể.

Thái Tử chấp tay thi lễ hỏi:

   Ngài từ đâu đến, tìm ta có chuyện gì?

Người xa lạ đáp:

   Hạ dân từ Cội Nguồn đến, nghe tiếng Thái Tử thông minh hơn người, không có câu hỏi nào mà Thái Tử bí trả lời không được, nên đến đây hỏi Thái Tử vài câu.

Thái Tử nhìn người xa lạ hỏi:

   Cội Nguồn là ở nơi nào?

Người xa lạ đáp:

   Cội Nguồn nếu nói xa thì xa lắm, nếu nói gần thì ở ngay trước mắt.

Thái Tử khó hiểu với lối trả lời này, thấy Thái Tử chú tâm suy nghĩ, người xa lạ nói Thái Tử cho phép hạ dân hỏi đôi lời được không? Thái Tử đáp Ngài cứ hỏi.

Người xa lạ hỏi:

   Thưa Thái Tử ai cũng biết Thái Tử sẽ là vị Quốc Vương chủ nhân của một đất nước Xích Quỷ giàu có hùng mạnh, Thái Tử nghĩ gì về nhân loại khi nhân loại vẫn còn nhiều sự khốn khổ, khổ về mê muội, khổ về chiến tranh, khổ về lạc hậu, khổ về sanh, lão, bệnh, tử. Còn riêng bản thân Thái Tử nghĩ về mình thế nào? Lối sống vinh quang, cũng như sự chết chia ly rốt cuộc Thái Tử được những gì khi Thái Tử rời xa chốn trần gian nầy ?

Thái Tử hết sức ngạc nhiên với lối hỏi này, một câu hỏi không dễ gì trả lời ngay được ngập ngừng một lát nhưng rồi Thái Tử cũng trả lời. Thái Tử trả lời rằng:

   Con người là Động vật thiêng liêng trên cả muôn loài Cầm Thú. Con người là giai cấp Động vật Chính trị, dòng máu Chính Nghĩa, tự chủ trực tính của chính mình, vì vậy con người có thể nhận thức được cuộc sống của chính mình, sống trong hạnh phúc hay sống trong đau khổ. Sanh ra ở đời ai cũng muốn mình được Thăng Hoa, nhất là sống trong hạnh phúc, sống trong Độc Lập Tự Do, sống trong Hiến Pháp, Luật Pháp Bình Đẳng, nhân quyền, quyền sống con người được bảo vệ, Tự Do mưu cầu hạnh phúc thì cuộc sống ý nghĩa hơn.

   Vì thế làm quốc vương chủ nhân của một đất nước thì phải biết tôn trọng ý nguyện của muôn dân, nhất là biết tôn trọng quyền tự do Mưu Cầu Hạnh Phúc muôn dân, cũng như giải thoát sự mê tín dị đoan tôn thờ thú cầm, tôn thờ tà kiến. Hạ thấp giá trị con người. Trên đời nầy không có động vật nào cao hơn con người, linh hơn con người, nên con người không cần cuối đầu trước muôn loài vạn vật, nhất là muôn loài cầm thú. Cũng như không có loại yêu tinh, ác quỉ nào hơn được con người, khi con người hiểu đạo đức và sống theo đạo đức.

   Thế giới cuộc sống nhân loại thời nay chưa được như vậy nhất là tầng lớp nhân dân tầng lớp quá lạc hậu, vì họ đang sống trong chế độ hà khắc, sống dưới cửa Quyền Độc trị, phong kiến Thần Giáo. Không phải sống trong Chủ Nghĩa Đại Đồng, Thiên Quyền Nhân Chủ con người sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Công Lý Bình Đẳng, Thiên ý Đạo Đức. Theo đúng nghĩa Quốc Vương chỉ là người đi đầu, đứng đầu giải quyết mọi vấn đề bất công đem lại sự Công Bằng Bình Đẳng cho cuộc sống xã hội. Xây dựng một môi trường sống cạnh tranh lành mạnh trong Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp ai cũng được trổ tài cống hiến cho xã hội làm giàu cho xã hội. Quốc Vương chỉ là đầy tớ trung thành, tôn thờ Hiến Pháp, Luật Pháp, bảo vệ Công Lý Bình Đẳng Chính Nghĩa mà thôi, không có sự Độc Tài, Độc Trị, không tôn thờ giáo điều Tà Giáo tà kiến. Nhưng nhân loại hiện nay các Quốc Vương khắp thế giới chỉ biết theo xu thế theo Phong Kiến Thần Giáo Độc Tài Độc Trị, không hiểu gì về Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp lấy dân làm gốc Công Bằng, Bình Đẳng xã hội, chỉ biết độc tài độc trị muốn làm gì thì làm, tàn bạo lạm sát. Không những không giải thoát được sự khốn khổ của dân, mà còn đẩy dân chúng vào con đường cuồng tín mê tín dị đoan, làm cho xã hội không đi vào ổn định trật tự, cạnh tranh mất bình đẳng mạnh được yếu thua thắng là vua thua là giặc, mãi mãi là đói khổ mê muội chiến tranh lạc hậu tàn sát lẫn nhau. Khi ta làm Quốc Vương ta không giống nhưng những Quốc Vương hiện tại, ta có hướng đi khác. Biết lột bỏ những gì lạc hậu tiến hóa đổi mới đi lên làm cho cuộc sống muôn dân đơm hoa kết quả hạnh phúc.

   Hiện nay nhân loại Họ đang sống dưới chế độ phong kiến Thần Giáo, phong kiến Tộc trị, tiến xa hơn nữa là chế độ thể chế Độc trị, chế độ thể chế độc trị Tôn Thờ Thần Mặt Trời như thời Kinh Dương Vương ta, một lối sống được coi như là hơn hẳn các Vương Quốc đất nước khác sống có luật có lệ. Không như các Vương Quốc khác. Nhân loại đang sống trong nô lệ Tộc trị, nô lệ mê tín dị đoan, nô lệ ngoại bang. Sống trong lao dịch khổ sai, sống trong áp bức, sống mất tự do, sống trong lo âu sợ hãi, chưa nói đến nghèo đói và bệnh tật. Sống như vậy thì có ý nghĩa gì và tôi đang tìm hướng đi mới, cho đất nước Xích Quỷ hướng đi của Chủ Nghĩa Đại Đồng, Chủ Nghĩa Bình Đẳng, Công Bằng Văn Minh, Chủ Nghĩa của sự tự do tôn trọng quyền con người lấy dân làm gốc ai ai cũng được tự do hạnh phúc.

Người khách lạ không mời mà đến càng nghe Thái Tử nói càng mở rộng kiến thức cho mình như trong màng đêm thấy được ánh sáng mặt trời, những ý tưởng mới lạ chưa bao giờ được nghe qua nếu không phải là bậc Đại giác ngộ thì không thể nào hiểu nỗi ý tưởng thâm cao ấy của Thái Tử, càng nghe càng khâm phục Thái Tử vô cùng.

Thái Tử nhìn người xa lạ nói:

   Ở đời không ai là không chết, dù cho là Vua hay dân, giàu hay nghèo, không chết lúc trẻ thì cũng chết về già, cái chết sẽ nhất định đến với con người sớm hay muộn. Mà chết thì không ai mang theo được gì, kể cả vua chúa nói gì là dân. Nói tóm lại cuộc sống trần gian chỉ là cuộc sống giả tạm tu luyện tiến hóa linh hồn mà thôi. Nhưng khi chết đi không ai mang theo châu báu ngọc ngà mà chỉ mang theo một thứ đó là nghiệp ác hay nghiệp thiện, để rồi nhận lấy quả báo vui hay khổ, lên thiên đàng hay xuống địa ngục.

   Vì quá hiểu rõ như vậy, nên tôi đã chọn cho mình một hướng đi. Hướng đi của bậc giác ngộ, sống chết đều có nghĩa. Sống có giá trị là sống vì nhân loại, sống cho nòi giống, sống vì non sông Tổ Quốc. Chết có ý nghĩa là lối chết bất tử. Chết vinh quang mãi mãi thường còn là chết vì Chính Nghĩa, chết vì nhân loại. Nếu không tìm cho mình lối chết bất tử như thế, thì cái chết có ý nghĩa gì. Lối sống vô vị cái chết trống rỗng. Nói đến cái chết thì không ai tránh khỏi, không chết trẻ thì cũng chết về già. Vô thường sẽ cướp đi sinh mạng của chúng ta, cái chết tự nhiên theo qui luật của Tạo Hóa. Vì quá hiểu rõ như vậy nên tôi đã chọn cho mình một hướng đi. Chết, sống đều có ý nghĩa của bậc giác ngộ. Làm Quốc Vương hay không làm Quốc Vương cũng thế mà thôi.

Người xa lạ càng nghe Thái Tử thuyết giáo càng kinh ngạc trước sự hiểu biết phi phàm của Thái Tử có thể nói là chưa từng thấy chưa từng nghe.

Thái Tử nói:

   Nếu nói chết là hết, thì ai ai cũng như nhau, thiện ác theo đó cũng không còn. Nhưng chết mà không hết chỉ mất đi thể xác, còn Linh Hồn thì sống mãi, thì sao đây? Không lẽ mang theo cả gánh hành lý tội ác xuống địa ngục. Sống trong đày đọa, thì sống đau khổ chớ có ý nghĩa gì? Sống trong tù đày, sống trong sự tra tấn tàn bạo của Quỷ dữ. Sống trong đói khát đau đớn, sống trên Đao Búa và Chảo dầu, đó là chưa nói đến sống trong hỏa ngục. Thì Linh Hồn thống khổ hơn nữa. Nhưng từ xưa tới nay những bậc tu tiên đắc đạo hiểu rõ chết không phải là hết.

   Chết mà không hết chỉ mất đi các xác phàm tục. Còn Linh Hồn thì sống mãi, thì sống Thiện sống Ác có hai kết quả khác nhau. Sống Thiện có kết quả tốt, Sống Ác có kết quả xấu. Sống Thiện thì Linh Hồn được siêu sanh về Trời, hưởng phước báo vô tận muốn gì được nấy. Sống trong cảnh giới Đại Đồng, các quyền con người được thể hiện đầy đủ như: Quyền tự do tự tại, quyền mưu cầu hạnh phúc muốn gì được nấy, không có thống trị, cai trị, sống trong Bình Đẳng, Tôn Trọng lẫn nhau, sống trong hạnh phúc. Sống Ác có kết quả xấu, khi thể xác phàm tục mất, Linh Hồn liền sa đọa vào âm phủ, khi ta muốn ăn năng hối cải thì cũng đã quá muộn. Vì vậy tôi lúc nào cũng loại bỏ sai lầm luôn luôn hướng tới Chân Thiện Mỹ. Loại bỏ quét sạch dơ bẩn, rác rưởi, tội lỗi trong tâm hồn, phát huy cuộc sống Đạo Đức vì nhân loại mà hi sinh, vì nhân loại mà cống hiến đời mình. Khi tôi trở thành Quốc Vương, thì Quyền sống, Quyền Tự Do, Quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi con người được tôn trọng, được bảo vệ không một ai có quyền xâm phạm, khi họ mưu cầu tư lợi đúng Hiến Pháp, Luật Pháp, Công Bằng văn minh là điều trên hết. Thương yêu dân chính là thương yêu bản thân mình, oán lấy ân mà trả, lòng tha thứ đối với kẻ phạm tội giáo dục Đạo Đức thường xuyên đối với dân chúng là giảm bớt hình phạt nhà tù, đó là con đường Chân Chính, cánh cửa Địa Ngục khép lại, cánh cửa Thiên Đàng mở ra, đưa nhân loại đến Chân Trời hạnh phúc.

   Sở dĩ con người luôn luôn lầm lỗi là vì con người một phần vì trình độ dân trí còn thấp. Một phần chưa gặp được Chánh Giáo không có Kim chỉ Nam. Lại thường đối mặt với bao cuộc sống gian trá đầy cạm bẫy, đầy chông gai. Dần dần con người trở nên tiêu cực, chỉ biết nghĩ cho mình còn Thiên Hạ thì sao cũng mặc, không mấy quan tâm. Đâu đó cũng là một sự sai lầm trong cuộc sống. Thật ra con người khó sống riêng lẻ được mà phải sống chung cùng nhau, chung gánh vác xã hội. Gánh trách nhiệm bảo tồn cuộc sống cộng đồng. Mình sống vì người, người sống vì mình. Tất cả từ Vua cho tới dân ai ai cũng sống gắng bó cùng nhau, sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Đức đó mới là cuộc sống có trình độ dân trí cao. Lối sống lấy dân làm gốc Dân Chủ Công Bằng văn minh. Muốn có một cuộc sống bình yên hạnh phúc mà xung quanh ta với bao kẻ thù chống phá, bao kẻ rình rập trộm cướp, gian ác thời cuộc sống bình yên hạnh phúc sao được.

   Vậy mới biết người nông dân ngủ yên không lo đói là kho lúa thóc vẫn còn đầy. Làm Quốc Vương mà ngủ yên trên cung vàng, Điện Ngọc là nhờ dân làm lành hướng Thiện. Xung quanh Quốc Vương là các bậc trung Thần, hết lòng vì Quốc Vương. Hết lòng chăm lo cho dân, cho nước.

   Muốn có một gia đình hạnh phúc thật sự, thì làm Cha Mẹ phải có Đạo Nhơn Luân Hiếu Nghĩa, để cho con cái noi theo.

   Muốn có một Quốc Gia yên ổn Thái Bình Thịnh Trị, thì phải biết dạy dân sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Đức hướng về Cội Nguồn. Dân tự nuôi dân bằng vật chất, còn nhà nước nuôi dân bằng truyền thống văn hóa Chính Nghĩa, nuôi lớn Tinh Thần Dân Tộc, nuôi lớn trình độ dân trí, để dân tự làm chủ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Đức cũng như truyền thống Văn Hóa Cội Nguồn. Dân làm chủ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Đức làm chủ Văn Hóa Cội Nguồn, thì Quốc Vương được ngủ yên, sống yên không có một đất nào xâm lược nổi, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Một vị Quốc Vương anh minh như thế, thì còn lo gì không có Độc Lập Tự Do, dân giàu nước mạnh, nhất định Thiên Đàng Cực Lạc sẽ ở ngay chốn nhân gian.

   Còn làm vị Quốc Vương chỉ biết lo cũng cố tu bổ cho quyền lực của mình, vây cánh của mình, mới suy nghĩ cho là trúng nhưng đó là một sự sai lầm lớn. Một Quốc Gia hùng mạnh phải nói toàn dân tộc nước đó phải nhận thức được cái chung phải đứng trên cái riêng. Non Sông Tổ Quốc, truyền thống Văn Hóa Cội Nguồn coi trọng hơn bản thân, tư nhân của mình.

   Cái chung ở đây không phải là cái chung của Thần Giáo bè phái giáo phái thời phong kiến Thần Giáo hiện nay, phong kiến Địa Chủ, phong kiến tiến bộ Chế Độ, Nói chung là ở các thời phong kiến. Đứng đầu là Đế, Vương, Vua, Chúa của các Họ Tộc, Phần nhiều là do tranh giành quyền lực, được xưng Vua, thua là giặc. Cái chung ở đây là cái chung bảo vệ quyền con người ai cũng như ai, chung nhau gìn giữ Tổ Quốc, chung nhau phát triển xã hội. Những người có công lớn được sự tín nhiệm muôn dân tôn phong suy Tôn lên, tất cả muôn dân phải sống dưới cái chung, trong đó có cái riêng của chính mình. Thống trị Độc Tài Độc Trị của Đế, Vương, Vua thời nay thì cuộc sống không bao giờ thoát khổ được, vì sống dưới chế độ Độc Trị hà khắc khốn khổ.

   Còn cái chung ở đây là của chung toàn dân tộc. Chung nhà nước, chung Hiến Pháp, chung Luật Pháp, chung Đạo Pháp công bằng bình đẳng. Không có chế Độ Độc Tài cai trị, mà toàn dân tộc sống chung nhau trong Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Quốc Đạo Văn Hóa truyền thống Chính Nghĩa Tinh Hoa xã hội con người tiến bộ. Non Sông Tổ Quốc, Hiến Pháp, Luật Pháp, Văn Hóa truyền thống Dân Tộc không của riêng ai, mà của toàn dân tộc. Toàn dân là Chủ. Vì thế một đất nước hùng mạnh là một đất nước toàn dân là Chủ, chung nhau bảo vệ Tổ Quốc, chung nhau bảo vệ Hiến Pháp. Luật Pháp, truyền thống Văn Hóa Cội Nguồn. Một đất nước có trình độ dân trí cao văn minh như vậy. Thì người đứng đầu nhà nước đó phải là người gương mẫu về mọi mặt, do dân suy tôn tính nhiệm mà ra. Thi hành Hiến Pháp, Luật Pháp, Công Lý xã hội.

   Dưới các triều Đại phong kiến độc tài độc trị. Dù là phong kiến Địa Chủ, phong kiến Thần Giáo, phong kiến Chế Độ, thời nào cũng tìm ẩn tham quan quá lớn. Thi nhau mà vơ mà vét làm hại Non Sông Tổ Quốc, làm hại dân tộc, nội bộ chiến tranh triền miên không dứt. Nồi da nấu thịt thê thảm vô cùng, thời trước thi nhau loạn thời này cũng thế. Văn Hóa đồi trụy thi nhau mà ra đời làm hại đến sự phát triển xã hội. Đưa đẩy dân tộc vào cảnh tối tăm khó mà vươn lên một tầm cao mới.

   Nói tóm lại cái chung đưa dân tộc đi lên tiến tới dân giàu nước mạnh không phải là cái chung của bè phái, đạo phái, giáo phái, độc tài độc trị nào. Mà là cái chung sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp minh chính, công bằng bình đẳng xã hội.

   Vậy mới biết cành lá khô héo là do gốc mục nát hỏng, sông cạn kiệt là do nguồn cạn kiệt. Nhìn một Dân Tộc hùng mạnh, cành lá sum xuê, thì cũng biết Dân Tộc đó có gốc gác vững vàng, Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp minh chính, không phải tự nhiên mà có, càng không thể dựa trên thể chế độc tài độc trị mà ra. Mà là Tinh Hoa Truyền thống được chiết lọc nguyện vọng chân chính của con người. Không phải dựa trên cửa quyền truyền thống của Chế Độ độc tài độc trị mà có. Mà Là Tinh mật ngọt đồng nhất nguyện vọng của con người, nguyện vọng ấy ví như mật ngọt của muôn loài hoa không có sự khác biệt nhau, càng không có sự chống bán nhau. Ai cũng thấy quyền lợi cái chung ấy chính là quyền lợi của chính mình. tinh Hoa Hiến Pháp. Tinh Hoa Luật Pháp. Tinh Hoa Đạo Pháp là cái chung mơ ước của mỗi một con người, bảo vệ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp cái chung ấy, là bảo vệ sự sống sức mạnh phát triển của toàn dân tộc. Mà mỗi dân tộc điều chung mơ ước. Đó là quyền con người, những quyền căn bản của cuộc sống. Những Quyền mà Tạo Hóa đã ban cho, những quyền bất khả xâm phạm. Tinh Hoa Hiến Pháp. Tinh Hoa Luật Pháp. Tinh Hoa Đạo Pháp trở thành Truyền thống Tinh Hoa anh linh dân tộc Văn Minh có cả sức mạnh Hồn Thiêng Dân Tộc, khí Thiêng Sông Núi. Hàng nghìn nghìn năm, cho đến hàng triệu năm. Dòng lịch sử truyền thống tuôn trào mãi làm cho tinh thần Dân Tộc luôn tràn trề niềm kiêu hãnh đầy sức sống. Hết thế hệ này đến thế hệ khác liên miên bất tận không dứt.

   Nhìn một Dân Tộc luôn luôn bị nô lệ, cành lá héo tàn, thì cũng biết Dân Tộc đó gốc gác có vấn đề. Hiến Pháp, Luật Phát, Văn Hóa truyền thống, không phải là Tinh Hoa Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Văn Hóa truyền thống anh linh lâu đời. Mà chỉ là những giáo điều Chính Trị, thể chế trói chặt quyền con người bị thống Trị của Chế Độ đó mà thôi. Chính những đất nước như thế tự mất đi cái gốc Đồ Sộ nền tảng lâu đời đoàn kết của nó mà cũng mất luôn sức mạnh của Hồn Thiên Dân Tộc. Khí Thiên sông núi khó mà bền vững Độc Lập lâu dài. Vì chính độc tài độc trị nó tự hủy diệt lấy nó. Để rồi sanh ra chế độ độc tài độc trị khác. Diệt Sói rồi trở thành Sói. Cứ lẫn quẫn mãi trong cảnh giới thắng là vua thua là giặc xem đi xét lại Giặc với Vua cũng cùng một thứ.

   Một Dân Tộc có tương lai rộng mở là một dân tộc có tầm nhìn xa rộng lớn, có kiến thức sâu rộng bỏ những tập tục lạc hậu, góp nhặt Tinh Hoa nhân loại. Làm hành trang cho những bước tiến của mình. Một đất nước dân giàu nước mạnh, không có con đường nào khác hơn là Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp là vua, trở thành nhà nước Pháp Quyền, thật sự của dân, do dân, vì dân. vì dân. Nói chung một cách dễ hiểu là Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Tam Quyền Phân Lập, Tự Kiểm Soát Nhau, Bảo Vệ Nhau, Tồn Tại Mãi Mãi, không già không trẻ cứ thế mà đi vào cuộc sống.  Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp của dân, bảo vệ dân, để cho dân tự do vươn lên phát triển. Quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc phát triển vươn lên một cách mạnh mẽ. Nhà nước ủng hộ bảo vệ, làm trọng tài cho cuộc phát triển về mọi mặt, mọi hoạt động của toàn dân và sự đi lên của xã hội tiến tới dân giàu nước mạnh.

   Một đất nước có nền Độc Lập lâu đời. Thì đất nước đó có nền Văn Hóa Quốc Đạo Dân Tộc, nền tảng vững chắc Độc Lập lâu dài. Một đất nước có nền Văn Hóa Quốc Đạo thì đất nước đó nhất định độc lập bình yên lâu dài. Quốc Đạo không phải là dựa vào một giáo đạo nào lấy đó làm Quốc Đạo. MÀ LÀ ĐẠO PHÁP KHAI DỰNG LÊN ĐẤT NƯỚC, KHAI DỰNG LÊN DÂN TỘC không được nhầm lẫn Tôn Giáo, Đạo Giáo, Thần Giáo là nền Quốc Đạo. Mà phải là Đạo Pháp khai dựng lên dân tộc, khai dựng lên non sông Tổ Quốc. Quốc Đạo luôn đi đôi với truyền thống anh linh dân tộc luôn luôn đem truyền thống tốt đẹp ấy truyền dạy cho con cháu, thắp sáng mãi tinh thần yêu nước, yêu truyền thống tốt đẹp của mình.

   Cha Mẹ có Đạo là tấm gương sáng cho con cái noi theo. Vương, Quan có Đạo thì trị dân không cần động đến gươm, đao, giáo, mác mà quân dân vẫn tuân theo răm rắp. Vậy mới biết Văn Hóa truyền thống Đạo pháp dân tộc là phép mầu hữu hiệu, uốn nắn dân chúng theo đúng kim chỉ nam, không cần đến bạo lực còn trên cả đòn roi gươm, đao, giáo, mác tầm thường.

   Một đất nước có Nền Văn Hiến Quốc Đạo. Vương với Dân cùng hội cùng thuyền, xã hội càng thêm ấm no hạnh phúc độc lập lâu dài.

Người khách lạ càng nghe Thái Tử lập luận càng sững sốt vô cùng với những điều mới lạ chưa nghe thấy bao giờ  liền chấp tay thưa hỏi:

   Thưa Thái Tử, Văn Hóa Quốc Đạo là giống gì mà nhiệm mầu uy lực như vậy?

Thái Tử đáp:

   Văn Hóa Quốc Đạo không là giống gì cả, mà chỉ là con đường rộng lớn đầy hoa thơm quả ngọt, không chông gai con đường đoàn kết Đại Đồng Bình Đẳng. Con đường yêu nước thương dân hay nói một cách dễ hiểu Văn Hóa Quốc Đạo là con đường Chính Nghĩa, con đường hòa hợp các Dân Tộc. Con đường Đạo Đức làm cho bản thân, gia đình, xã hội, đất nước Tổ Quốc càng ngày càng xuân. Nhân loại đi theo Văn Hóa Quốc Đạo là đi đến chân trời hạnh phúc. Nhưng Đạo thì có hai, Tiểu Đạo và Đại Đạo.

   Tiểu Đạo là con đường hẹp và ngắn lại nhiều chông gai, đó là con đường đấu tranh giai cấp, con đường mạnh được yếu thua nhiều chông gai, con đường Phi Chính Trị, Phi Chính Nghĩa con đường tranh bá xưng hùng mạnh được yếu thua, thắng là vua thua cho là giặc, đổi ngôi, đổi chủ như thay áo, con đường hận thù chồng chất.

   Đại Đạo là con đường lớn con đường dựa trên căn bản quyền con người, Thấp thì Nhân Quyền, cao thì Thiên Quyền con đường tối cao của cái chung, trong đó có cái riêng của mỗi một con người. Con đường Đại Đạo xuyên suốt lịch sử quá khứ vị lai. Cũng như xuyên từ Địa Ngục cho tới tận Thiên Đàng. Con đường Thiên Quyền Nhân Chủ Đại Đồng Bình Đẳng. Con đường làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ khoa học, làm chủ Non Sông Tổ Quốc, làm chủ vũ trụ, làm chủ Thiên Đàng Cực Lạc. Ai đi trên con đường Đại Đạo, mỗi bước chân là mỗi bước hạnh phúc. Vì con đường Đại Đạo là con đường từ bi, bác ái nhân nghĩa, con đường giải thoát tội lỗi, giải thoát nô lệ, giải thoát sự ngu muội của chính bản thân mình. Trở thành người thông thái Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa sống tự do và làm chủ vũ trụ, làm chủ Thiên Đàng Cực Lạc.

Người khách lạ hỏi:

   Thưa Thái Tử, Đạo thì có hai, Tà Đạo và Chánh Đạo làm sao ta phân biệt nhận biết?

Thái Tử đáp:

   Đạo là con đường đi, đường hướng, đường lối nhưng Tà Đạo và Chánh Đạo thì khác nhau rất xa. Thiện ác hai nẻo như Thiên Đàng và Địa Ngục.

Thái Tử nói:

   Con đường nào dẫn Thiên Hạ nhân loại đến chiến tranh, tranh giành quyền lực, chiến tranh xâm lược, chiến tranh bè phái, giáo phái đẫm máu nhất là đẫm máu nồi da nấu thịt, tệ hại hơn nữa là đẫm máu trong Họ Tộc. Trong tình thương ruột thịt, giết hại người thân lập công bè phái giáo phái cũng chỉ vì phục vụ cho tranh bá quyền lực, lên quan lên chức. Tà Đạo là con đường tranh bá quyền lực đấu tranh giai cấp triệt hạ thôn tính lẫn nhau dẫn dắc nhân loại đi trên con đường gươm đao giáo mác chiến tranh, tranh giành được là Vua thua là giặc. Thật ra giặc và Vua chẳng khác chi nhau, tham lam tật xấu, gian xảo ích kỷ. chỉ biết quyền lực Danh và Lợi dẫn đến tàn sát lẫn nhau, kẻ thắng thống trị, người thua bị trị, nô lệ, tù đày hoặc giết đi.

   Đã đi trên con đường đấu tranh giai cấp gặp phải những tay hôn Quân tàn bạo. Bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu thì không nói cũng biết cuộc sống muôn dân vô cùng thê thảm. Xem thường luật nhân quả. Cống Cao Ngạo Mạn. Liêm Sỉ chẳng cần, thêu dệt lên bao tà thuyết hoang tưởng, không thực tế. Tay cứ vấy máu mà miệng hô hòa bình, tham lam vơ vét của công, lấy sạch của dân, ngoài miệng thì hô lo cho dân cho nước. Nhà tù cứ nới rộng, Đao Búa thêm mài bén ngót tàn bạo hết ngõ nói. Oán thêm oán, hận thêm hận, thù chồng thù như núi như non.

   Tà Đạo là con đường dẫn đến mọi thói hư tật xấu. Sung sướng chỉ đem lại cho một nhóm người, còn toàn bộ là khốn khổ. Con đường tươi sáng đâu không thấy mà thấy trước mắt chỉ là vực thẳm tối đen, đấu tranh tàn sát nhau. Tìm hạnh phúc, hạnh phúc đâu không thấy mà thấy cảnh Địa Ngục nhà tù bày ngay trước mắt.

   Còn Chánh Đạo là con đường rộng lớn Thiên Quyền Nhân Chủ cao hơn Nhân Quyên Dân Chủ mấy bậc con đường hiện thân Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, Tự Do Công Bằng Bình Đẳng bỏ Ác hành Thiện. Con đường Chân Thiện Mỹ dẫn tới Thái Bình An Lạc. Con đường dẫn dắc nhân loại tiến tới dân giàu nước mạnh không có sự hận thù mà chỉ có đoàn kết yêu thương. Chánh Đạo là con đường vì dân vì nước vì Cội Nguồn. Chánh Đạo là hiện thân của Hiến Pháp Chính Nghĩa, Luật Pháp Chính Nghĩa, Công Lý Chính Nghĩa, Đạo Đức Chính Nghĩa. Chánh Đạo là con đường rộng lớn, còn đường Đại Đồng Bình Đẳng (Chủ Nghĩa Đại Đồng chủ nghĩa Thiên Quyền, Nhân Quyền xã hội). Không phải giáo phái, bè phái, tôn giáo không sống theo giáo điều mà chỉ sống theo Hiến Pháp Chân Chính. Luật Pháp Chân Chính. Đạo Pháp chân chính Công bằng văn minh. Chánh Đạo là con đường không đi trên sự đau khổ của nhân loại, mà đi trên con đường cứu khổ an vui của nhân loại. Con đường Chánh Đạo là con đường nới rộng vòng tay đoàn kết, lá lành đùm bọc lá rách. Người giàu sang sẽ bớt cho người nghèo, người mạnh thương người tàn tật. Chánh Đạo chính là Chính Nghĩa, mà Chính Nghĩa chính là lòng nhân Đạo của con người.

– Con đường Tà Đạo là phục vụ cho lòng Tà Đạo Bất Chính.

– Con đường Chánh Đạo là con đường đoàn kết, hòa hợp dân tộc ung đúc lên đạo đức Chính Nghĩa.

– Con đường Tà Đạo chủ ý tranh quyền đoạt lợi.

– Con đường Chánh Đạo chủ thuyết cứu khổ tôn trọng lẫn nhau.

   Chủ quyền của Tà Đạo là thống trị, cửa quyền ác bá, chiến tranh và hận thù, máu trả bằng máu, thịt đè lên thịt, bóc lột dã man.

   Chủ ý của Chánh Đạo là vì người không vì mình, nhân loại là anh em, không phân biệt màu da chủng tộc, tất cả đều là anh em một nhà thương yêu đùm bọc lẫn nhau lá lành đùm lá rách.

   Chủ thuyết của Tà Giáo Tà Đạo là Bè Phái, Giáo Phái. Đối lập nhau và luôn luôn mâu thuẫn với nhau. Thậm chí còn đã kích nhau.

   Chủ thuyết của Chánh Đạo là chủ nghĩa Đại Đồng Công Bằng bình đẳng. Trên con đường Thánh Thiện Tôn Trọng Quyền con người ý tưởng khoa học siêu phàm. Sống thực tế loại bỏ những gì lạc hậu tiến tới văn minh tinh thần lẫn vật chất, làm chủ chính nghĩa. Lấp con đường Địa Ngục, mở rộng cửa Trời.

   Vì vậy con đường Chánh Đạo rất khó đi cho những người tâm còn nhỏ hẹp. Rất dễ đi với những con người có Đức. Tấm lòng rộng mở. Sống vì người hơn là vì mình.

   Tà Đạo là con đường hẹp, đầy dẫy chông gai. Con đường dẫn tới chiến tranh, dẫn tới địa ngục, âm phủ. Mỗi bước chân đi trên con đường Tà Đạo là mỗi bước chân lo âu sợ hãi. Cuối cùng cũng dẫn đến cảnh trầm luân đọa lạc.

   Tà Đạo và Chánh Đạo, hai con đường khác nhau quá rõ, trắng với đen khó mà lẫn lộn nhau, đối với người sáng tâm sáng mắt. Còn tâm u minh người mù thì khó mà nhận ra.

Nghe Thái Tử lập luận giảng thuyết Đạo Pháp kỳ lạ. Người khách lạ hết kinh ngạc này đến kinh ngạc khác. Chính Ta ở nơi Hạ Thiên Vũ Trụ cũng không nghe thấy đạo lý như thế nầy huống chi là chốn nhân gian. Người xa lạ nghĩ ý tưởng Thái Tử vô cùng xa lạ. Có thể nói sự hiểu biết của Thái Tử, theo trình độ dân trí hiện nay thời khó mà hiểu được một lời của Thái Tử nói chi đến nhiều lời Ngay cả như ta đây là Thiên Thần trí tuệ mà nghe càng lạ lẩm, cao xa khó hiểu huống chi là người phạm tục ý thức lạc hậu, mê tín dị đoan sâu dày.

Thì ra đây người khách lạ không mời mà đến chính là Thiên Thần Trí Tuệ ở trên sáu tầng Trời Cõi Dục, xuống chốn nhân gian thử Tài năng trí huệ Thái Tử, cũng như sự hiểu biết của Thái Tử. Thiên Thần Trí Huệ ở cõi Trời hạ giới hàng nghìn nghìn năm, chưa nghe thấy ai giảng thuyết thế này. Không lẽ đây là Vương Đạo mà Đức Cha Trời đã dạy cho Đức Chí Tôn.

Thiên Thần Trí Huệ hỏi:

   Thưa Thái Tử. Hiện nay chốn nhân gian, phương Đông Thần Giáo thịnh hành như thờ lửa, Thần lửa, thờ Thần mặt trời, thờ Thần núi, Thần sông, Thần biển, Thần mưa, Thần sấm sét v.v… Phương Tây thì thịnh hành phù thủy, thờ ma thuật, quỉ thuật, yêu thuật. Đại đa số các nước sống theo giáo điều của Thần giáo, điều lệ của Phù Thủy. Không thấy đất nước nào sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp cả. Thái Tử tìm ở đâu ra Đại Đạo, Thiên Đạo Cội Nguồn, lập lên Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, thay cho giáo điều và điều lệ đã ăn sâu vào con người hàng nghìn nghìn năm ?

Thái Tử đáp:

   Đây là một điều rất khó nhưng không phải vì sự khó ấy mà tôi sẽ bỏ qua. Thiên Đạo Cội Nguồn vũ trụ sẽ không ở đâu xa, có thể ở ngay trước mắt. Xét đi xét lại tất cả là vũ trụ, không có chổ nào là không phải vũ trụ. Thậm chí Linh Hồn Thể Xác chúng ta cũng là thành viên vũ trụ. Chẳng hạn như Nước và bọt Nước. Gốc của các bọt Nước là Nước, tuy hai mà một, bọt Nước cũng chính là Nước, tuy một mà hai vì bọt Nước có hình dạng còn Nước thì không có hình dạng nhất định, ở trong ống thì hình ống, ở trong lu thì hình lu, ở trong không gian thì hình không gian.

   Có thể nói muốn tìm thấy Đại Linh Hồn vũ trụ ví như bọt Nước tìm về Cội Nước. Muốn làm được như vậy thì phải làm chủ cho được Tiểu Linh Hồn bọt Nước của chính mình hướng về Cội Nguồn, hội nhập vào Cội Nguồn Đại Linh Hồn vũ trụ, ví như bọt nước trở lại là nước. Thì sẽ tìm ra Đại Đạo Cội Nguồn vũ trụ, lập lên Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp khai lập lên đất nước mới Văn Hóa Cội Nguồn sẽ trở thành nền Quốc Đạo dân tộc. Làm lợi ích cho toàn nhân loại.

Thiên Thần trí tuệ mừng rở vô cùng như ngộ được điều gì, liền vái lạy Thái Tử nói:

   Thái Tử là Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống trần mới có trí huệ vô tận thâm thâm vi diệu như vậy. Đấng Cứu Thế Đã Ra Đời hồng phúc thay cho nhân loại nhân gian, nói xong Thiên Thần biến mất.

Sự xuất hiện và biến mất của Thiên Thần Trí Huệ đã đánh thức Thái Tử một điều hết sức quan trọng mà Thái Tử cần phải nắm bắt. Đó là Thần Thông, có Đức có Trí nhưng thiếu đi Thần Thông thì khó mà vượt qua bao chướng ngại, trên con đường tìm ra Thiên Đạo Cội Nguồn. Và thật vậy Thiên Đạo Cội Nguồn Tiên Rồng là Đại Đạo vũ trụ, Tam Bảo Chí Tôn.

1 – Pháp Tạng

2 – Hiến Tạng

3 – Luật Tạng

4 – Thiên Tạng

5 – Mật Tạng

Thì con đường Công lý Bình Đẳng Văn Hóa Cội Nguồn, Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp vũ trụ ra đời. Văn Hóa Chính Nghĩa tối cao vũ trụ, con đường Đại Đạo xuyên qua tư tưởng, xuyên qua không gian, thời gian, xuyên qua quá khứ vị lai, con đường làm chủ tất cả. Muốn tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn ngoài Hùng Bi Trí Đức còn phải đạt đến cảnh giới tối cao, Thần Thông pháp thuật, Thần Thông trí huệ, thì mới tìm ra Đại Đạo Văn Hóa Cội Nguồn. Thái Tử làm sao để tìm ra Đại Đạo vũ trụ Chủ Nghĩa Đại Đồng Văn Hóa Cội Nguồn. Chúng ta hãy đọc tiếp những đoạn Kinh văn sau.

*********

Hết phần 4 chương 5 mời xem tiếp phần 5 chương 5 Long Hoa Mật Tạng. Những gì bí mật nơi vũ trụ lần lần hé lộ, phải nói là bộ kinh quý hiếm không gì quý bằng. Những ai có Bộ Kinh nầy trong tay hàng ngày đọc xem nghiên cứu, thì phước đức trí huệ của những người nầy không sao luận bàn cho hết được, và tương lai của những người nầy cũng không sao lường hết được. Nếu ai gặp được những người nầy nên cung kính cúng dường, tán thán ca ngợi. Thì muôn vạn kiếp sau không những đứng đầu đại chúng cũng như giàu sang tột bực.

Long Hoa Mật Tạng tột siêu kỳ

Cúng dường in ấn truyền bá đi

Phước lành muôn ức không thể đếm

Gia đình con cái rạng tông ti

Chuyển đổi mạng căn vào Đức Thánh

Về trời hưởng phước mãi thường khi

Chỉ cầm một niệm tin ca ngợi

Cũng đặng về trời chẳng khó chi.

*********

CHƯƠNG 5

PHẦN 5

CHÌA KHÓA VẠN NĂNG.

Thái Tử nghĩ không phải chỉ làm Quốc Vương ngự trên Ngai Vàng Điện Ngọc mới là uy quyền cao cả. Đó chỉ là uy quyền cao cả tạm thời cuộc đời ngắn ngủi sống trên vật chất cung vàng điện ngọc chớp mắt đã qua, mọi chuyện rồi trở về con số không, cái không trống rỗng chẳng có ý nghĩa gì. Chỉ có sự nghiệp Đạo Đức sự nghiệp tận độ nhân loại cứu linh hồn nhân loại về trời. Mới là sự nghiệp vĩ Đại vĩnh cửu, sự nghiệp bất tử không bao giờ mất mãi mãi trường tồn. Chỉ có tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn Đại Đạo vũ trụ, đúc kết Tinh Hoa Chân Lý, vạch ra đường hướng đúng đắn chân thiện, để cho nhân loại Thiên Hạ Đồng Bào đi theo làm theo tìm đến cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc ở các cõi Trời Thiên Đàng Cực Lạc. Giải thoát sanh tử đi đến cảnh bất tử. Thì đó mới là việc làm cao cả, sự nghiệp vĩ đại, không có một sự nghiệp nào sánh bằng. Ngay cả những Quốc Vương giàu có nhất thế giới, hùng mạnh nhất thế giới cũng không sánh kịp bằng mảnh lông sợi tóc của sự nghiệp Đạo Đức Văn Hóa Cội Nguồn.

Thái Tử phát họa ý tưởng rồi đưa đến một kết luận quyết định. Quyết tìm ra Đại Đạo mở đường dìu dắt nhân loại, đưa xã hội nhân loại tiến lên công bằng văn minh, văn minh vật chất lẫn văn minh tinh thần. Tất cả sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Lý xã hội, ai cũng được sống trong Công Bằng Bình Đẳng tiến tới dân giàu nước mạnh, làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, làm chủ non sông Tổ Quốc cho đến làm chủ vũ trụ.

Khi con người mới sanh ra, thì Tổ Tiên Tạo Hóa đã ban cho con người nhiều thứ quyền và làm chủ tất cả. Trong các thứ quyền mà Tổ Tiên Tạo Hóa đã ban cho mỗi con người trong đó có Quyền Sống, Quyền Độc Lập, Quyền Tự Do, Quyền Bình Đẳng, Quyền mưu cầu hạnh phúc, nói chung là Quyền con người (Nhân Quyền). Con người là chủ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Lý vũ trụ, tất cả nhân loại sống trong xã hội công bằng văn minh. Cạnh tranh lành mạnh tiến hóa đi lên mở ra Xã hội Thiên Đàng Cực Lạc Quốc ngay nơi trần thế. Con người là tiểu thiên vũ trụ. Tổ Tiên khai lập con người. Thì Tổ Tiên Khai Hóa cũng đã ban cho con người kho tàng trí huệ. Cũng như chiếc chìa khóa vạn năng ấy để mở kho tàng trí huệ, chiếc chìa khóa vạn năng ấy không đâu xa đó là chìa khóa Tiểu Linh Hồn chúng ta vậy. Chúng ta sẽ dùng nó mở cánh cửa Cội Nguồn vũ trụ, tiến tới làm chủ tất cả, cũng như các Quyền mà Tổ Tiên đã ban cho mỗi con người.  Để mở tung cánh cửa Cội Nguồn vũ trụ làm chủ kho tàng kiến thức vũ trụ. Thái Tử suy ngẫm lần lần tháo gở gút mắc rắc rối ngăn cản của vô thường và vô minh. Lần tiến tới mục đích cuối cùng là Đại giác ngộ Chánh Đẳng, Chánh giác.

Thái Tử là bậc Đại thông minh, nếu không nắm bắt rõ Linh Hồn của chính mình, thì không bao giờ tìm thấy Đại Linh Hồn vũ trụ, Đại Linh Hồn Khai Hóa Tổ Tiên. Bản thể Linh giác tối cao vũ trụ, nếu chỉ hướng ngoại tìm kiếm trong thế giới vật chất dù cho tìm khắp trong vật chất, khắp thế giới vũ trụ cũng không tìm thấy bản thể Linh giác tối cao của vũ trụ, kho tàng tri thức của tâm Linh. Muốn tìm thấy Đại Linh Hồn vũ trụ, trước hết phải tìm thấy nắm bắt Tiểu Linh Hồn của chính mình và nó tự làm chủ lấy nó và dùng nó để mở ra cánh cửa Cội Nguồn vũ trụ và chỉ có bọt Nước mới tìm ra bản thể của Nước.

Lại nữa Linh Hồn là vật thể siêu Linh khó mà nắm bắt, khó mà hàng phục, tìm tàng ẩn chứa muôn vạn Chủng Tánh, của muôn cảnh giới, từ hiện tại đến quá khứ. Cảnh giới sắc từ Linh giác sắc không hiện ra. Cũng giống như cảnh giới của Điện hiện lên màng ảnh ti vi, thật ra Điện vốn không, không có cảnh giới đó. Nếu chúng ta tự hiểu Linh Hồn của chúng ta. Thì chúng ta mới làm chủ chiếc chìa khóa vạn năng vũ trụ. Khám phá bí mật vũ trụ, tiến tới làm chủ vũ trụ.

1: Tánh không tánh: Đó là thật tánh Linh Hồn chúng ta, từ tánh không này Linh Hồn của chúng ta tạo khởi ra vô lượng tánh khác nhau như tánh tham, tánh sân, tánh si, tánh cống cao ngạo mạn, tánh nghi, tánh bảo thủ cho đến tánh Thiện tánh ác, nói chung là 8 muôn 4 nghìn tánh, nhưng tất cả chỉ là giả tánh, do tánh không tánh. Chân Tánh khởi tưởng tạo ra mà thôi. Như vậy nắm bắt thật tánh Linh Hồn, tánh không tánh. Làm chủ Chân Tánh của chính mình nó tự làm chủ lấy nó, trở thành tánh tự nhiên, tự nhiên tánh.

2: Tướng không tướng: Đó là thật tướng Linh Hồn chúng ta.

3: Sắc không sắc: Đó mới là thật sắc Linh Hồn chúng ta. Từ tướng không tướng: sắc không sắc này, khởi tưởng phân biệt hiện ra vô lượng cảnh giới trong Linh Hồn chúng ta, cảnh giới hửu sắc. Ví dụ như cảnh giới xã hội, cảnh giới chiến tranh, cảnh giới hòa bình, cảnh giới thiện, cảnh giới ác v.v… Như vậy nắm bắt thật tướng, thật sắc của Linh Hồn chúng ta là tự nó hiểu nó, không cảnh tướng là tướng thật tướng của mình, không sắc là thật sắc của mình. Tự không làm chủ lấy không, vắng lặng tự nhiên, tất cả cảnh giới trong tâm đều không thật, do tâm thức Linh Hồn khởi tướng tạo ra mà thôi.

4: Ý không ý: Đó mới là thật ý của Linh Hồn, trí không trí đó mới là thật trí của Linh Hồn, tự nó làm chủ ý không trí của nó, đi vào ý trí tự nhiên. Cảnh giới tối cao của người tu trên con đường Đại Giác Đại Ngộ, bước thẳng tới cánh cửa Cội Nguồn, bước vào kho tàng Như Lai Tạng tánh vũ trụ. Kho tàng tri thức vũ trụ.

5: Nhưng cánh cửa Cội Nguồn vũ trụ ấy không dễ gì mở ra được, phải phát Đại Nguyện rộng lớn mới mở nổi Như Đại Nguyện Di Đà, Quan Âm, Thích Ca, Địa Tạng v.v…

*********

Hết chương 5 phần 5 mời xem tiếp phần 1 chương 6 Long Hoa Mật Tạng Kinh, tối cao kinh giáo thượng thừa vũ trụ.

 

*********

CHƯƠNG 6

PHẦN 1

SỰ THÔNG MINH KỲ LẠ CỦA THÁI TỬ

Thái Tử tuy còn rất trẻ nhưng thông minh kỳ lạ, dù cho Thần Thánh cũng không theo kịp. Thái Tử nghĩ nếu ta nắm bắt và làm chủ thật tánh, thật tướng, thật sắc, thật ý, thật trí của ta. Tánh chủ, Tướng chủ, Sắc chủ, Ý chủ, Trí chủ, tiến sâu vào con đường Tạo hóa, mở cánh cửa Cội Nguồn, tìm ra nguồn gốc Linh Hồn nhân loại, nguồn gốc Tiểu Linh Hồn vũ trụ, nguồn gốc thế giới vật chất, nguồn gốc vạn vật trong đó có nguồn gốc con người. Tìm ra Đại Đạo chủ nghĩa Đại Đồng Văn Hóa Cội Nguồn lưu truyền chốn nhân gian, đưa Nhân Loại qua sông mê đến bờ giác, sống mãi tự do nơi vũ trụ trên khắp cõi Thiên Đàng Cực Lạc. Có làm được như vậy thì cuộc sống mới có ý nghĩa, lối sống đỉnh cao của cuộc sống, sống có ích cho đời, cho người cho muôn sanh linh vạn vật.

Thái Tử tuy còn rất trẻ nhưng lại có tầm nhìn rộng lớn, thấy rõ tình hình thế giới hiện nay, nhất là tình hình ở phương Đông, các Vương Quốc, các Bộ Lạc, các Vương Tộc, người Kinh cũng như người Thượng, thường xảy ra xung đột, nước này với nước kia, Bộ Lạc này với Bộ Lạc nọ. Cảnh chiến tranh xung đột, cảnh chết chóc thảm thương xảy ra hằng ngày hằng tháng, hằng năm. Binh Đao máu lửa lan tràng khắp nơi, cảnh tù binh nô lệ xảy ra khắp châu lục, nhân dân sống dưới ách thống trị tàn bạo của những kẻ háo chiến, cướp mất quyền sống con người, nhất là cảnh dân chúng sống dưới ách thống trị hà khắc, không còn tính nhân Đạo, dữ hơn Lang Sói Hổ Báo.

Thời kỳ tranh giành thuộc địa càng ngày càng dữ, từ phong kiến Thần giáo biến thành phong Kiến Địa Chủ, sự tranh giành thuộc địa càng về sau càng tàn bạo bất chấp thủ đoạn lòng gian trá, mánh khóe, mưu mô xảo quyệt, đánh lừa để mưu lợi, nham hiểm vô cùng, biết lợi dụng danh từ Chính Nghĩa, che đậy sự gian trá tham lam ác độc của mình, bè phái mình. Sự gian trá che đậy nầy chỉ gạt được thành phần nhân loại kém hiểu biết, làm sao che mắt gạt được Thái Tử, vì Thái Tử là Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống phàm trần. Nếu đất nước nào kém văn hóa, nhất là văn hóa truyền thống, thì không tránh khỏi sự xâm lược của nước khác, trở thành đất nước nô lệ.

Một đất nước mà vô Đạo, không có nền Hiến Pháp, Luật Pháp Đạo Pháp Chân Chính, chỉ sống theo giáo Điều và Điều lệ của các tổ chức thống trị bè phái, giáo phái, thì dân chúng đã coi như sống trong xã hội Địa Ngục trần gian.

Một đất nước có Nền Quốc Đạo, có Nền Hiến Pháp, Luật Pháp Đạo Pháp Chân Chính, thời dân chúng nương tựa vào Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp thành nề, thành nếp, sức mạnh của một dân tộc đoàn kết, muôn hoa góp phần làm đẹp mùa xuân, trăm sông nghìn suối đều chảy về biển cả, hòa mình vào dòng Đại Dương.

Chỉ có Văn Hóa Cội Nguồn Đại Đồng là chân lý biển cả Đại Dương, cho bao ý tưởng, lý tưởng đổ về, cho bao tổ chức, giáo phái, bè phái hòa mình vào đó trường tồn vĩnh viễn, cũng chỉ có Văn Hóa Cội Nguồn đưa nhân loại xích lại gần nhau, cùng nhau tiến tới xây dựng xã hội Thiên Đàng Cực Lạc.

Sống có Chân lý, sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp. Đạo Pháp Chân Chính, thì bản thân, gia đình, xã hội, non sông Tổ Quốc như mùa xuân thắm tươi.

Sống không có Chân lý, không có Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Chính Nghĩa như cây thiếu nước, thiếu phân, thiếu ánh sáng mỗi ngày một héo tàn và cuối cùng bị hủy diệt.

Thái Tử càng ngày càng đắm chìm trong suy nghĩ, ít nói, ít cười thường ngồi một chỗ im lặng trầm tư.

Kinh Dương Vương và Vương Phi Thần Long Nữ thấy Thái Tử Hùng Lan ngày càng trầm tư như vậy, thì sinh ra lo lắng chẳng yên, liền triệu tập Vương Quan Đại Thần văn võ hỏi xem cao kiến, hầu tìm ra phương pháp làm cho Thái Tử vui.

Nước Xích Quỷ có vị Quốc Sư Thục Lục, có sáu biệt tài không ai có nổi.

1 – là tài Quân sự

2 – là tài Chính trị

3 – là tài Văn thơ

4 – là tài Võ thuật

5 – là tài Hội họa

6 – là tài Âm nhạc

Lại có nhiều kinh nghiệm về trị Quốc, ngoại giao với các nước láng giềng với tài ngoại giao này làm cho các Vương Quốc lân cận kính nể, coi Vương Quốc Xích Quỉ như là một vương quốc giàu có hùng mạnh nhất thời ấy. Danh tiếng Thục Lục lừng lẫy vang dội như sấm, các Vương Quan Đại Thần nghe nói có kế sách gì làm vui cho Thái Tử, tất cả đều lắc đầu, các Vương Quan Đại Thần còn lạ gì Thái Tử, một Thái Tử thông minh, hiểu biết ngoài sức tưởng tượng của họ, họ nhìn Thái Tử như một dãy núi cao mà họ không bao giờ vượt qua được, nói gì đến có kế sách làm vui cho Thái Tử.

Kinh Dương Vương nhìn thấy cảnh lắc đầu của các Vương Quan Đại Thần thì thở dài.

Quốc sư Thục Lục thấy thế bằng thưa rằng:

   Muôn tâu Quốc Vương, Thái Tử là bậc Con Trời sanh xuống thế, thông minh tài trí khác thường, các nhân tài dị sĩ ở nước Xích Quỉ ta lần lượt không còn gì để truyền dạy Thái Tử được nữa. Nay Thần cũng muốn góp chút công sức truyền bá chút kinh nghiệm cả đời mình cho Thái Tử.

Kinh Dương Vương nghe Quốc sư Thục Lục tâu thế thời lấy làm vui mừng vừa lòng lắm. Bằng giao Thái Tử cho Quốc sư dạy bảo.

*********

Hết phần 1 chương 6 mời xem tiếp phần 2 chương 6 Long Hoa Mật Tạng. Bộ kinh thượng thừa Mật Tạng vũ trụ.

Có duyên gặp được Mật Kinh

Coi như giải thoát ức nghìn họa căn

Nếu như truyền bá ấn in

Linh hồn chuyển hóa vượt lên đỉnh trời.

 

*********

CHƯƠNG  6

PHẦN 2

CON TRỜI CÓ KHÁC

Nói về Quốc Sư Thục Lục dạy Thái Tử chưa đầy một năm Quốc sư Thục Lục phải chịu hết tài để mà dạy, để mà truyền. Thái Tử học một biết mười biết trăm, thường làm cho Quốc sư phải nhiều phen sửng sốt, Quốc sư nghĩ con Trời có khác.

Hôm nay là một ngày đẹp trời, nhìn cảnh vật muôn hoa đua nở, Quốc sư nhìn Thái Tử rồi nói:

   Năm cũ sắp qua năm mới lại về, thời gian chẳng chờ đợi ai cứ lặng lẽ trôi qua nhanh chóng, con người chẳng mấy chốc rồi già, cuộc đời sống gửi thát về, còn về đâu Thiên Đàng hay Địa Ngục thì chưa rõ. Thế mà lòng tham con người càng lúc càng bùng lớn lên, những nước lân bang chúng có ý dòm ngó mãi nước ta, có cơ hội là xâm lược.

Quốc sư nhìn Thái Tử rồi hỏi:

   Khi nước mất nhà tan Thái Tử làm sao để giành lại.

Thái Tử hết sức ngạc nhiên với câu hỏi kỳ lạ đó nhưng cũng trả lời:

   Quốc sư hỏi cho vui chứ làm gì có chuyện đó.

Quốc sư nói:

   Thái Tử thử nhìn xung quanh nước Xích Quỷ ta, các nước lân bang họ đang làm gì trước con mồi béo bở, chúng không xâm lược nước ta được sao ?

Thái Tử đáp:

   Tuy đất nước Xích Quỷ ta là một đất nước giàu có, binh lực hùng mạnh nếu riêng lẻ từng nước thì không có đất nước nào đánh bại được đất nước ta. Nhưng nếu các Vương Quốc lân cận thống nhất với nhau thành một khối liên bang xâm lược nước ta, thì nước Xích Quỷ chúng ta sẽ không đỡ nổi. Nhưng không bao giờ có chuyện đó xảy ra, nếu có xảy ra cũng phải hàng nghìn năm nữa và chỉ có một cách, cá lớn nuốt cá bé, các Vương Quốc thôn tính lẫn nhau, rồi trở thành Cường Quốc thì nước Xích Quỷ ta chính là con mồi béo bở cho chúng nuốt.

Quốc sư nhìn Thái Tử lập luận phân tích vô cùng thám phục nhưng có chỗ chưa hiểu hỏi:

   Sao phải hàng nghìn năm tới các Vương Quốc mới liên minh nhau, sao không phải là hôm nay hoặc hàng chục năm tới?

Thái Tử đáp:

   Hiện nay trình độ dân trí còn quá lạc hậu, các Vương Quốc đang sống trong giáo điều và điều lệ, do Quốc Vương nước đó tự đặc ra để cai quản thống trị độc quyền độc tài khó mà liên minh cùng các nước chỉ còn cách là thôn tính lẫn nhau, mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé, rồi trở thành một cường quốc.

   Không thể có chuyện các Vương Quốc vào giai đoạn hiện nay liên minh với nhau thống nhất cùng nhau, trở thành một thế lực Cường Quốc mà phải đến hàng nghìn năm nữa, trình độ dân trí lên cao, không phải sống theo giáo điều và điều lệ do Quốc Vương đặc ra để thống trị. Mà sống theo căn bản Quyền Con Người trở thành Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Lý công bằng bình đẳng, thì mới liên minh liên kết các nước được Hợp Chủng Tộc Tiến Lên Hợp Chủng Quốc. Với sức mạnh ấy thì không có một đất nước nào chống trả nổi, dù cho đó là một cường quốc. Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Lý Chân Chính không phải do Quốc Vương tự đặc ra mà do Công Lý Xã Hội dựa trên nền tảng Quyền Con Người công bằng xã hội mà ra, tầng lớp trí thức nhân sĩ soạn ra, được đúc kết tinh hoa nhân loại hàng nghìn nghìn năm.

   Nhưng cũng có Hiến Pháp, Luật Pháp, Công Lý trá hình do chế độ Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị lập ra cũng cố địa vị cho mình trói buộc dân chúng hết sức hà khắc biến dân chúng sống trong nhà tù xã hội. Những thức Hiến Pháp, Luật Pháp giả hiệu nầy không mấy hiệu quả cho công cuộc trị quốc an dân vì tính bất công quá lớn. Lại tước đoạt hết quyền con người của mỗi người dân do thể chế độc tài độc trị tạo ra. Vì vậy đối kháng của nước Xích Quỷ chúng ta trong tương lai vài mươi năm nữa, không phải đối kháng Cường Quốc liên minh mà là đối kháng Cường Quốc tàn bạo độc tài độc trị. Chúng thôn tính đất nước ta bằng mọi thủ đoạn, gian manh xảo trá và bạo lực.

Quốc sư với vẻ mặt sáng tỏ nói:

   Nếu bị chúng xâm lược thì ta phải làm sao?

Thái Tử suy nghỉ rồi trả lời:

   Với tình thế hiện nay, phương Bắc nước Xích Quỷ ta có nhiều Vương Quốc nhưng phải kể ba Vương Quốc đang lớn dần và hùng mạnh, đó là Vương Quốc Đế Lai, Đế Nghi, Đế Minh con cháu nhiều đời của Phục Hi, Hiên Viên.

Thái Tử nói:

   Muốn đối kháng hay đánh bại ngoại xâm việc lường trước là việc cần phải làm, phải nói làm thường xuyên lên kế sách nữa là khác, những đường đi nước bước âm mưu của các thế lực ngoại xâm. Phải nói là đừng để mắc mưu chúng, nhất là mưu trong kế sách ngoại giao lâu dài, những cái lợi bao giờ cũng có cái hại. Nếu không tinh ý thì khó phát hiện có thể cả hàng trăm năm sau mới phát hiện được. Thế lực cũng như danh và lợi là ba miếng mồi ngon để câu nhử ta, chúng có thể tôn ta lên rồi hại ta, luồn cúi ta rồi trăm phương nghìn kế để hạ gục ta, chúng khéo léo vơ vét tài nguyên béo bở mà lâu nay chúng mơ ước cũng không bao giờ có. Chúng là những con Sói ngày đêm rình rập con mồi hể có cơ hội là xơi.

   Trước hết chúng ta phải tìm hiểu rõ chúng là Cáo, là Sói, là Beo cho rõ. Nếu chúng là con quái vật vừa là Cáo, vừa lá Sói, vừa là Beo thì chúng ta mới có kế sách để đối kháng về lâu về dài. Biết người biết ta là nền tảng cơ sở ưu khuyết của ta, ưu khuyết của địch, để rồi tìm ra kế sách đối kháng, định hướng chiến lược sách lược. Chỉ có Ánh Sáng Chính Nghĩa truyền thống luôn luôn sáng tỏ đến tận hang cùng ngỏ hẻm, một ý tưởng xấu nổi dậy là phát hiện ngay, ánh sáng Chính Nghĩa Văn Hóa truyền thống được trao cho mỗi người dân, dù chỉ là một phần nhỏ, dân chúng cũng phát hiện ra âm mưu của giặc. Loại Chồn, Cáo, Beo, Sói ẩn núp bất chính mưu đồ chiếm đoạt nước ta.

   Chúng ta chỉ sợ các thế lực ngoại xâm có nội ứng bên trong, còn thế lực không có nội gián bên trong nội ứng chỉ đường cho giặc, đó chỉ là xâm lược mưa rào không có gì đáng sợ. Nếu kẻ thù mạnh hơn ta về vũ lực, thì ta mạnh hơn họ về dân vận chính trị, đoàn kết muôn người như một. Toàn dân kháng chiến, sức mạnh toàn dân là sức mạnh vô địch. Phải biết chờ thời cơ, cướp lấy thời cơ tiêu diệt chúng, tính cách khôn khéo nhẫn nhịn, nhẫn nhục, nhẫn nại, có tam nhẫn chính là Mật Tạng của Hùng, Bi, Trí, Dũng vượt qua bao chướng ngại khó khăn đưa đến thành công.

   Nếu ánh sáng Chính Nghĩa đó chính là ánh sáng Văn Hóa Cội Nguồn Nền Quốc Đạo dân tộc thì các thế lực ngoại xâm, xâm lược ấy coi như đã bước chân vào chỗ chết, có đi mà không có trở về tất cả đều bỏ mạng. Nếu ngoại xâm kẻ thù mạnh hơn ta về vũ lực cả chính trị lẫn nội ứng. Thì ta phải mạnh về truyền thống anh linh Ông Cha, phát huy tinh thần Quốc Đạo Dân Tộc, quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh, mỗi người dân là một anh hùng dân tộc. Mỗi chiến sĩ dũng cảm. Mỗi vị tướng tài năng đủ khôn khéo chuyển xây tình thế biến nguy thành an, biến bất lợi thành đại lợi Lòng yêu nước là tường thành kiên cố, ngoại xâm khó mà vượt qua tường thành yêu nước toàn dân nổi. Hơn nữa tà không thắng được chánh. Sức mạnh Chính Nghĩa là sức mạnh bất tử vô địch, bản sắc dân tộc Văn Hóa Cội Nguồn, truyền thống anh linh Ông Cha, truyền thống kế thừa tự hào giữ vững nền độc lập. Mỗi người dân ai cũng vì non vì nước, toàn dân là chủ của đất nước, đồng tâm quét sạch quân thù, sức mạnh nội lực truyền thống dân tộc, là sức mạnh Chính Nghĩa dời non lấp bể. Sức mạnh nội lực ấy đứng vững trên nền tản Quốc Đạo Dân Tộc, sức mạnh của lòng trung hiếu đối với Cha Ông đối vơi Non Sông Tổ Quốc. Dù cho ngoại bang họ có mạnh tới đâu cũng bị đánh bật ra khỏi đất nước, thất bại nhục nhã. Những thứ rác rưởi nhơ nhớp xâm lược của chúng đã bị chúng ta quét sạch, và vùi chúng xuống hố rác nhục nhã nhơ bẩn để mùi hôi thối của chúng đến mấy nghìn năm vẫn chưa hết.

Quốc sư lại hỏi:

   Thế lực ngoại xâm mạnh quá chúng đè bẹp chúng ta thì làm sao?

Thái Tử đáp:

   Nếu thế lực mạnh hơn ta gấp trăm nghìn lần, thế lực ngoại xâm là đá, còn thế lực của ta là trứng. Thái Tử nói nếu có trường hợp đó, chúng ta biến đất nước ta thành đất nước trống không, dân chúng sẽ được dời đến nơi hiểm địa, núi rừng hiểm trở tạo ra thế nước chảy đá mòn, chiến tranh du kích lâu dài, nung nấu thời cơ chờ đợi. Chúng ta thắng giặc phải thắng trên đất nước của họ, tạo ra chiêu pháp làm cho đất nước họ rơi vào kể bẫy tiêu diệt lẫn nhau ngay nơi triều đại của chúng, gậy ông đập lưng ông. Đánh Rắn phải đánh dập đầu, làm cho đất nước họ đảo lộn, tranh giành quyền lực với nhau dẫn đến thôn tính nhau lật đổ nhau, đó chính là thời cơ chúng ta quật khởi, từ thế lực của trứng nước, chuyển thành thế lực di sơn đảo hải ập tới như cơn bão lốc xóa sổ chúng. Chỉ có Văn Hóa anh linh Truyền Thống ung đúc lên sức mạnh tinh thần dân tộc. Nhất quyết không để mất nước, nhất quyết không làm nô lệ, noi gương khí phách Ông Cha xông lên quét sạch quân thù. Một dân tộc luôn luôn ôm ấp Chính Nghĩa ôm ấp lòng yêu nước thì không sợ một thế lực ngoại xâm nào cả. Khi thế lực ngoại xâm mạnh hơn ta, tạm thời ta tạo ra thế vườn không nhà trống mà thôi làm cho ngoại xâm không biết đâu mà lường. Bổng chốc nở ra thế lực Đại Bàng, mang dòng máu anh hùng, nanh vuốt hận thù, bất khuất, quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh, đồng loạt khởi nghĩa, chắc chắn phần thắng lợi sẽ thuộc về mình. Vì lúc ấy con Mãng Xà hung dữ đã mất sức mạnh từ đất nước của chúng, lại thêm chúng không hiểu về thực lực của ta, sức mạnh của chúng đã bị lung lay, vì đất nước của chúng đã đi vào hổn loạn. Thời cơ đã chín mùi, chính là lúc chúng ta quét sạch quân thù ra khỏi non sông Tổ Quốc.

   Dân là nguồn tài nguyên vô giá của Quốc Gia, vì vậy ta phải chăm lo cho dân thật tốt. Dân là tường đồng vách sắt, ngăn cản và vùi dập quân thù xâm lược. Vì thế ta phải để cho dân tự phát triển mưu cầu nuôi lớn trí huệ, nuôi lớn tài năng, phát huy nội lực dân tộc hùng mạnh. Dân là Gươm Thiêng sông núi, bảo vệ gìn giữ non sông Tổ Quốc. Nên ta phải bảo vệ cái quyền của Dân, nhất là những Quyền Cơ Bản của mỗi con người. Quyền làm chủ xã hội làm chủ non sông Tổ Quốc. Cũng như vận mệnh của một quốc gia Một đất nước Văn Minh là một đất nước dân trí phải được nâng cao dân trí lên cao chính là nguồn tạo ra sự giàu sang xã hội cũng như sức mạnh của một dân tộc. Đem lại sự hùng mạnh của một Quốc Gia dân tộc. Nói tóm lại Dân là nguồn tài nguyên vô giá của non sông Tổ Quốc, không có một thứ quí giá nào sánh kịp, kể cả vàng ngọc Kim Cương Trân Châu. Vậy nên phải có chính sách lo cho dân chu đáo, để cho dân được tự do phát triển, thì không một đất nước nào xâm lược, hay đánh thắng được dân tộc đất nước chúng ta. Kể cả đất nước mạnh hơn đất nước ta gấp mười lần.

   Dân là một nguồn tài nguyên đất nước vô giá như vậy, nhà nước lại không biết quan tâm, còn ra thể chế nầy thể chế nọ trói buột dân chúng tước hết Quyền Con Người thì đất nước đó mạnh về kinh tế giàu về tinh thần sao được, phải nói là lụn bại. Làm Quốc Vương mà ít quan tâm bỏ mặc dân chúng. Không những thế lại còn vơ vét bóc lột thậm tệ làm cho cạn kiệt lòng dân, nước cạn thời cá sống ở đâu ? Thuyền lấy nước đâu để mà vươn ra xa. Nếu nói dân là nước còn Vương, Quan chính là cá, thì phải theo kế sách ao sâu béo cá, nước giàu dân mạnh thì cá yên, nước nghèo dân mạc thời cá cùng đường, Chồn, Cáo, Hổ, Báo ăn thịt sạch. Làm Quốc Vương phải kiên định. Thắng không kêu, bại không nản, dù tạm thời bị nô lệ hoặc bị nô lệ nhưng bản sắc Văn Hóa Anh Linh Truyền Thống không mất, đó là thế bất bại của một dân tộc Hổ phục Rồng nằm, chờ thời cơ là quật khởi, một dân tộc bất khuất là dân tộc biết yêu truyền thống Văn Hóa của mình, từ thế bại vì quân giặc quá mạnh, nhưng sẽ chuyển thành thế thắng, sớm hay muộn mà thôi.

Thái Tử nói tiếp:

   Xâm lược bạo lực không độc hại bằng xâm lược Văn Hóa, sở dĩ một dân tộc bị nô lệ hàng nghìn năm, chính dân tộc đó đã bị Văn Hóa ngoại xâm đè bẹp tinh thần dân tộc, ngóc đầu dậy không nổi, Văn Hóa ngoại xâm đã thống trị tinh thần dân tộc của họ, làm cho họ khiếp đến nổi phải tôn thờ Văn Hóa ngoại xâm nghe theo và làm theo.

   Nước Xích Quỷ ta Tôn Thờ Thần Mặt Trời là vị Thần tối cao vũ trụ, trong khi ấy các nước lân bang các quốc vương Văn Hóa Tôn Thờ thấp hèn. Thờ Quỷ Thần, thờ Thần Cầm, Thần Thú, còn các nước Phương Tây thờ Phù Thủy. Nên các nước Phương Đông cũng như Phương tây  không nước nào đủ sức xâm nhập Văn Hóa đánh bại sự tôn thờ của dân tộc ta. Nên tinh thần dân tộc nước Xích Quỷ luôn đứng vững. Độc Lập vì thế mà kéo dài không một đất nước nào sánh kịp. Nhưng tình hình hiện nay đã đổi khác các nước lân bang nổi lên mạnh về bạo lực gươm đao giáo mác, mạnh được yếu thua. Mạnh tồn tại yếu xóa sổ. Nên nước Xích Quỷ Ta phải có chiều hướng đổi mới, mới mong giữ vững nền độc lập thái bình an lạc.

Quốc sư lại hỏi:

   Thưa Thái Tử giả sử có trường hợp, giặc ngoại xâm đã đuổi, giặc Tham Quan sanh ra làm hại dân hại nước thì làm cách nào để loại bỏ ?

Thái Tử nghe Quốc sư hỏi thế thì lấy làm khó nghĩ mà cũng khó trả lời nhưng rồi Thái Tử cũng phải trả lời. Thái Tử nói:

   Thắng giặc ngoại xâm đã khó, nhưng dẹp loạn quan tham lại càng khó hơn. Nhưng không phải khó mà làm không được, biết cách lèo lái chính sách cũng như xóa bỏ Độc Tài Độc Trị, Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp nghiêm minh. Tam quyền phân lập kiểm soát nhau hỗ trợ nhau. Giữ vững kỷ cương đất nước giáo dục đạo đức Dân, Quan, Vua đều theo một Đạo Luật Minh Chính, ai ai cũng là chủ của xã hội, chủ của non sông Tổ Quốc. Và ai ai cũng có quyền Ngôn Luận góp tiếng nói vào Công Lý xã hội chống giặc nội xâm đó là giặc Tham Quan làm hại dân hại nước.

Quốc Sư Thục Lục lại hỏi:

   Đã là quan thì có quyền sanh sát trong tay ai mà dám tố Quan tham ô, móc ngoặc, hối lộ. Quyền lực của quan có thể che được Mặt Trời.

Thái Tử đáp:

   Sanh ra quan tham nhiều phần lớn là do thể chế độc tài độc trị mà ra. Không Hiến Pháp Trị, Luật Pháp Trị, Đạo Pháp Công Lý trị, nên tham quan mới lộng hành như vậy. Dân làm sao trị được Quan tham, mà dân phản ảnh lên Hiến Pháp Trị, Luật Pháp Trị, Đạo Pháp Công Lý trị. Công Minh Bình Đẳng không thiên vị một ai, Quan, Dân có tội đều xử như nhau. Thứ Giặc Tham Nầy không chỉ ở Quan mà ngay ở Dân cũng có, Quan tham theo kiểu Quan, Dân tham theo kiểu Dân. Thứ giặc khó trị vô cùng, giặc tham quan sanh ra từ nội tâm con người, ăn sâu vào gốc rễ linh hồn con người. Nhất là Vương, Quan có điều kiện lòng tham khởi lên mạnh hơn sự tham nào cũng dám làm, lòng tham được che đậy dưới quyền lực. Nếu không có Văn Hóa Chính Nghĩa Nhân Quyền Dân Chủ thì khó mà đẩy lùi được. Chúng mãi tồn tại ẩn núp dưới Thể Chế Độc Tài Độc Trị. Không có Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp minh chính Công Lý hạn chế thì coi như Quốc nạn tham ô tham nhũng không sao tránh khỏi. Dưới thể chế Độc Tài Độc Trị việc lợi dụng sơ hở của thể chế để làm bậy, đã là Vương, Quan làm bậy thì còn sợ ai nữa. Nếu không có Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo pháp minh chính triệt phá. Giặc tham Quan rất nhiều dạng nhưng động cơ sanh ra chúng, đó là Dục Vọng bất chính tà tâm, dựa trên tham lam mưu cầu danh lợi riêng mà ra. Cũng bởi gì không kìm hãm được lòng tham háo danh, háo lợi bất chính mà biết bao người phản Quốc hại dân, phản Tổ, phản Tiên, làm tổn hại Non Sông Tổ Quốc, tổn hại Đồng Bào dân tộc. Tội ác chi cũng dám làm, kể cả người thân của họ cũng bị loại bỏ. Tánh tham lam trục lợi bất chính khó ai mà diệt tận chúng nổi, vì chúng ẩn núp trong linh hồn con người. Linh Hồn con người luôn luôn bảo thủ bao che cho chúng, nhất là tầng lớp Vương Quan hủ hóa lại còn bao che thói hư tật xấu hơn nữa.

   Muốn có một xã hội trong sạch công bằng văn minh ít tham quan, thì xã hội đó phải gieo trồng Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp minh chính quả ngọt hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm, đi theo hai con đường, một là con đường Giáo Dục trong các trường học. Hai là con đường Đạo Pháp Văn Hóa Chính Nghĩa truyền thống truyền dạy nơi các thờ tự. Với chính sách lấy Dân làm gốc, dân là chủ của đất nước, chủ của Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Lý. Quyền con người cũng như quyền của mỗi người dân phải được tôn trọng và bảo vệ, bất khả xâm phạm dù cho đó là Vương Quan. Tạo Hóa sinh ra đều bình đẳng, những quyền Tạo Hóa ban cho đều được thực thi. Nhà nước chính quyền lúc nào cũng làm hết trách nhiệm thực thi Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo pháp minh chính bảo vệ quyền những quyền cơ bản của dân. Chính quyền là đầy tớ trung thành của Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, nhân quyền, Dân Chủ. Một đất nước bình đẳng. Một đất nước mà Đế, Vương, Vua, Chúa không phải là tối cao trên hết mà là Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Lý Công Bằng, Bình Đẳng trên hết. Thì nhà nước đó không lo về quốc nạn tham nhũng, tham ô. Dân chúng Vương, Quan sống trong môi trường lành mạnh.

   Mỗi người dân là mỗi dũng sĩ diệt gian, diệt thói hư tật xấu của chính mình và tệ nạn xã hội, phê bình và tự phê bình, tự mình xóa bỏ điều quấy, không ai thay thế xóa bỏ thói hư tật xấu cho mình, nếu không xóa bỏ thì tự mình hại mình không sớm thì muộn cũng bị sa đọa, trước là sa đọa cuộc đời, sau là linh hồn sa đọa âm phủ. Một đất nước đi vào Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, xóa bỏ độc tài độc trị, thì đất nước đó có trình độ dân trí cao, giác ngộ Đạo Đức Chính Nghĩa lớn, làm chủ mình, làm chủ xã hội, làm chủ non sông Tổ Quốc cho đến làm chủ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Bằng xã hội. Muốn có xã hội ít tham quan làm hại dân hại nước là tất cả đi trên con đường Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng Thiên Ý Cha Trời, Thiên Luật vũ trụ, thực thi rốt ráo quyền con người. Nhân Quyền Dân Chủ Công Bằng Bình Đẳng xã hội tiến tới dân giàu nước mạnh tự do ấm no hạnh phúc.

Quốc sư Thục Lục càng nghe Thái Tử thuyết giáo phép trị quốc mới lạ chưa từng nghe thấy bao giờ, nhưng xem đi xét lại thì câu nào cũng có lý, có cơ sở để mà thành công Thục Lục nghĩ không lẽ lời biện minh của Thái Tử là phép trị quốc trên trời Thái Tử muốn áp dụng vào chốn nhân gian.

Quốc Sư Thục Lục lại hỏi:

   Thưa Thái Tử từ xưa tới nay khắp các nước nhỏ lớn, dù xưng Đế, xưng Vương, xưng Vua, xưng Chúa thì cách cai quản đất nước na ná như nhau, giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, giai cấp thống trị chính là Vương, Quan của đất nước đó, còn giai cấp bị trị chính là dân. Nay lại nghe Thái Tử nói trên Vương, Quan có Đạo Đức trị, Hiến Pháp trị, Luật Pháp trị, nhà nước chỉ là hiện thân, thực thi Công Lý Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, đem lại sự Công bằng, Bình Đẳng xã hội. Giai cấp Vương, Quan chỉ là đầy tớ trung thành, bảo vệ Hiến Pháp, Luật Pháp. Đạo Pháp. Thi hành Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp không thiên vị một ai, quan cũng như dân hể có tội liền bị xử như nhau, việc này có thể làm được sao? Hay chỉ là một giả thuyết mơ tưởng.

Thái Tử nói:

   Không phải giả thuyết mơ tưởng đâu đó là xã hội Thần Thánh, xã hội Công Bằng văn minh nhân loại.

Thái Tử nói:

   Đạo Đức trị, Hiến Pháp trị, Luật Pháp trị hay hơn điều lệ trị, giáo điều trị, chế độ trị. Độc tài trị. Nhất là bạo lực trị. Chỉ làm cho cuộc sống khốn khổ, dân khốn khổ thì Vương, Quan cũng chẳng được yên. Chế độ độc tài độc trị dùng bạo lực trấn áp cai trị dân chúng thì nhà tù mở rộng ra, Đạo Đức trị thì nhà tù khép lại.

Thế nào là Văn Hóa Đạo Đức trị ?

   Đạo Đức trị chính là dùng Văn Hóa Đạo pháp Chính Nghĩa giáo dục con người giảm bớt tội lỗi cũng như tội phạm, thay thế cho thể chế độc tài độc trị bạo lực đàn áp cai trị con người. đưa xã hội đi lên Văn Minh vật chất lẫn tinh thần, cái hay ở Văn Hóa Đạo Pháp Trị là ở chỗ đó.

   Văn Hóa Đạo Pháp Trị không những giảm hận thù mà còn đoàn kết dân tộc. Văn Hóa Đạo pháp trị có ánh sáng Chính Nghĩa có công năng làm cho con người bỏ ác hành thiện, giác ngộ thấy cái sai của mình, tự sửa chữa những hành vi, thói hư tật xấu hình thành nhân cách tư cách con người, đối nhân xử thế văn minh mẫu mực.

   Trình độ dân trí được nâng cao. Là nhờ có Văn Hóa Chính Nghĩa cải hóa tư duy ngăn chặn được vô lượng tội lỗi, do tà tâm sanh ra làm hại cho bản thân cho xã hội, cho non sông Tổ Quốc. Văn Hóa Đạo Đức Chính Nghĩa ăn sâu vào lòng dân, thì đem lại thái bình an lạc tận hang cùng ngõ hẻm nhân loại đi đến chân thiện hoàn mĩ, vừa xua đuổi tà ma và ác quỉ, tiến tới dân giàu nước mạnh tự do an vui hạnh phúc.

Thế nào là Văn Hóa Hiến Pháp trị ?

   Văn Hóa Hiến Pháp trị là Văn Hóa khuôn mẫu. Văn Hóa Tinh hoa Cội Nguồn khai dựng lập lên đất nước. Tổ quốc. Dân Tộc. Văn Hóa Hiến Pháp Trị chính là Văn Hóa chính nghĩa Cội Nguồn. Văn Hóa truyền thống anh linh dân tộc. (hay còn gọi là Văn Hóa Nền Quốc Đạo) Văn Hóa khuôn mẫu của đường hướng Luật Pháp, Đạo Pháp, Chính Trị. Nói chung là Văn Hóa Cội Nguồn cốt lõi nòng cốt của kim chỉ nam truyền thống anh linh dân tộc.

   Văn Hóa Hiến pháp trị là Văn Hóa truyền thống anh linhTrị. Văn Hóa Hiến Pháp trị, Luật Pháp Trị, Đạo Pháp Trị không phải là Văn Hóa Chế Độ, hay Văn Hóa truyền thống lâu đời của một Bộ Lạc, hay là Văn Hóa của Tôn Giáo Đạo giáo. Mà là Văn Hóa Hiến Pháp Thống Nhất của Đời lẫn Đạo, Văn Hóa Thống Nhất cả trăm Bộ Lạc, Văn Hóa Bách Việt Văn Lang, Văn Hóa đỉnh cao của cái Chung trong đó gắng liền cái Riêng của mỗi Bộ Lạc. Văn Hóa Chủ Nghĩa Đại Đồng của đại Dân Tộc.

   Văn Hóa Hiến Pháp Trị dựa trên nền tảng Quyền con người. Nhân Quyền. Văn Hóa của sự lấy Dân làm gốc Dân Chủ.

   Văn Hóa Hiến Pháp Trị là Văn Hóa Chủ Nghĩa của sự công bằng, bình đẳng văn minh, khác xa với Văn Hóa thể chế độc tài độc trị.

   Văn Hóa Hiếp Pháp Trị không phải là Văn Hóa phong tục tập quán lạc hậu. Mà là Hiến Pháp khuôn mẫu nền tảng của Luật Pháp. Đạo Luật kim chỉ nam cho mọi hoạt động xã hội.

   Hiến Pháp Trị chính là Văn Hóa truyền thống anh linh trị, có công năng cải đổi tư duy con người đưa con người vào một quỷ đạo chung nề nép trật tự xã hội. Hiến Pháp Trị luôn soi sáng tinh thần yêu nước thương dân, tinh thần trách nhiệm xã hội, Tổ Quốc thiêng liêng trên cá nhân của mỗi con người, gia đình, họ tộc. Hiến Pháp Anh Linh Đại Truyền Thống Dân Tộc chính là Nền Quốc Đạo Dân Tộc. Ánh sáng Hiến Pháp Văn Hóa Cội Nguồn Trị là ánh sáng soi đường cho toàn dân tộc. Nhận thức rõ Chính Nghĩa, Phi Nghĩa. (Hiến Pháp là Vua của Nhà Nước Pháp Quyền, Nhà nước lấy Quyền con người làm Nền Tản, Nhân Quyền. Lấy dân làm Gốc, Dân Chủ. Trở thành nền Quốc Đạo anh linh dân tộc

   Vì thế Hiến Pháp, truyền bá rộng rãi đến mỗi người dân soi rọi tới mỗi người dân, để dân hiểu, dân bàn, dân làm chủ, dân làm theo. Dân tôn thờ, chính quyền các cấp phải có nhiệm khai sáng và truyền đạt đến tận người dân cho dân hiểu dân làm chủ dân kiểm tra, dân làm chủ, dân tôn thờ.

Thế nào là Luật Pháp trị ?

   Luật pháp trị, là Luật Pháp bảo vệ Công Lý Công Bằng Bình Đẳng xã hội của Hiến Pháp, Đạo Pháp. Luật Pháp Trị là những điều luật khuôn phép đi vào đời sống xã hội giữ vững kỷ cương, ngăn cấm mọi hoạt động đi ngược lại Hiến Pháp, Đạo Pháp.

   Luật Pháp Trị là thừa hành những gì Hiến Pháp có, thi hành những gì Hiến Pháp cho phép những chi tiết Văn Từ, Ngôn Từ Văn Pháp trong Hiến Pháp.

   Luật Pháp Trị là những điều khoản. Luật lệ khuôn mẫu. Trở thành những Điều Lệnh, Điều Luật, Điều Lệ, đi vào trật tự khuôn phép xã hội Theo Văn Pháp Hiến Pháp Đạo Pháp.

   Luật Pháp Trị là những điều khoản của Luật Pháp. Trở thành Điều Chế, Điều Chỉnh, Điều Độ, Điều Khiển, bảo vệ Hiến Pháp, cũng như trừng trị những người vi phạm Hiến Pháp. Vi Phạm Pháp luật.

   Luật Pháp Trị  khác với Chế Độ trị, Luật Pháp trị khởi nguồn sanh ra từ Hiến Pháp, dựa trên nguyên tắc Nền Tảng quyền con người Nhân Quyền, dựa trên nguyên tắc Dân là Gốc, Dân Chủ Hiến Pháp Đạo Pháp Chính Nghĩa, Nhân Quyền, Dân Chủ  công bằng xã hội.

   Luật Pháp Trị, là Luật Pháp bảo vệ anh linh truyền thống, bảo vệ quyền con người, cũng như thực thi mệnh  lệnh của Hiến Pháp.

   Luật Pháp Trị là hiện thân quyền lực tối cao của Hiến Pháp hiện thân Độc Lập, không lệ thuộc bất kỳ ai hay một Tổ Chức, Cơ quan nào. Hể có tội liền bị xử phạt, ngay cả người đang thi hành pháp luật. Ánh sáng pháp luật có công năng giữ vững kỷ cương đất nước, kỷ cương trật tự xã hội, ngăn chặn mọi hành vi tội lỗi của con người, làm hại xã hội làm hại non sông Tổ Quốc thái bình an lạc.

   Luật Pháp Trị là Luật Pháp kỷ cương bảo vệ Nhà Nước Pháp Quyền, Nhà Nước Hiến Pháp, Luật pháp, Đạo Pháp trên hết. Nhà Nước Công Bằng Bình Đẳng Nhân Quyền Dân Chủ. Cao hơn nữa Thiên Quyền Nhân Chủ, Nhà Nước của Dân do dân và vì Dân.

   Vì thế Ánh sáng pháp luật phải đến tận tay mỗi người dân, dân làm chủ, dân thực thi pháp luật phát hiện tố giác những hành vi phạm tội đi ngược lại Hiến Pháp, Luật Pháp, dù đó bất cứ là ai, dân có đủ quyền quyết định những trọng đại của đất nước, bác bỏ những gì Chính Quyền làm sai không theo đúng Hiến Pháp, Đạo Pháp. Có đủ quyền hạn yêu cầu nhà nước bải bỏ những điều luật phi lý không nằm trong Hiến Pháp Đạo Pháp.

   Vì vậy muốn có một đất nước dân giàu nước mạnh, Độc Lập giữ vững lâu dài, thì mỗi người dân là chủ của Hiến Pháp, Đạo Pháp, Luật Pháp toàn dân thi hành công lý xã hội, công bằng văn minh, loại bỏ Chế Độ Độc Tài Độc Trị Không phù hợp với truyền thống hợp chủng nhiều dân tộc trên 50 dân tộc. Chỉ có Nhà Nước Pháp Quyền. Nhà Nước Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp trên hết. Nhà Nước Của Dân, Do Dân vì Dân. Nhà Nước Bảo vệ Quyền con người, Nhân Quyền. Lấy dân làm gốc Dân Chủ, tất cả Vua, Quan, Dân, đều sống dưới ngôi nhà chung, ngôi nhà Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Nền Quốc Đạo Dân Tộc. Thời đời sống muôn dân, cũng như sự ổn định xã hội mới được thịnh trị tự do ấm no hạnh phúc, bền vững lâu dài.

   Một nhà nước độc tài thì sống theo khuôn khổ Chế Độ. Không có Dân Chủ, Nhân Quyền, tự do.

   Một nhà nước pháp quyền thì sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp Đạo pháp dân tộc. Vương, Quan, Chính, Quyền là đầy tớ trung thành cho Đạo pháp dân tộc, Hiến pháp dân tộc, Luật pháp dân tộc, sống trong môi trường lành mạnh xã hội công bằng văn minh. Non sông Tổ Quốc Độc Lập lâu dài, không có sự âm mưu lật đổ Nhà Nước cũng như Chính Quyền mà chỉ có sự thừa kế Chính Quyền đi trước, thắp sáng Đạo pháp dân tộc, Hiến pháp truyền thống Cội Nguồn dân tộc, Luật pháp Đạo Luật dân tộc nối tiếp đời đời thế hệ nầy sang thế hệ khác cho đến tận mai sau.

Quốc sư Thục Lục càng nghe Thái Tử nói tưởng như mình đang sống trong xã hội Thiên Đàng Cực Lạc, Quyền sống, Quyền tự do, Quyền bình đẳng, Quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhân quyền được bảo vệ tôn trọng. Cuộc sống an vui hạnh phúc.

Trong khi hiện nay không một đất nước nào, Vương Quốc nào có nền Văn Minh ấy. Mà chỉ theo Phong Kiến Thần Giáo Độc Tài Độc Trị. Vương, Đế, Chúa, trên hết.

Những gì Thái Tử thuyết ra có phải đây chính là Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng được nghe trong truyền thuyết nhân gian kể, xã hội Thần Thánh. Xã hội Thiên Đàng Cực Lạc Quốc. Một xã hội có danh có lợi, có cạnh tranh. Nhưng danh lợi, cũng như sự cạnh tranh đều theo một khuôn phép nhất định không ngoài cạnh tranh Công Bằng Bình Đẳng. Tất cả mọi hoạt động xã hội. Theo Kim chỉ nam Hiến Pháp, được Luật pháp công nhận, Đạo Luật cho phép, đó là Chánh Danh, Chánh Lợi, Chánh Cạnh Tranh. Xã Hội Tiến Hóa đi lên tiến tới dân giàu nước mạnh.

Tóm Lại : Những thứ danh, lợi. Cạnh tranh bất chính đi ngược lại Đạo pháp, Hiến pháp, Luật pháp Chính Nghĩa đó là Tà Danh và Ác Lợi. Tà Danh và Ác Lợi luôn luôn tồn tại trong tân thức ác tánh, lớn mạnh trong các Chế Độ xã hội chuyên quyền Độc Tài Độc trị. Phát nguồn từ Phong Kiến Thần Giáo. Tôn thờ chủ nghĩa cá nhân tồn tại cho tới ngay nay. Và sẽ chấm dứt Không tồn tại trong Chủ Nghĩa Đại Đồng, Thiên Quyền Nhân Chủ, chủ nghĩa tối cao nhân loại con người. Cũng như chủ Nghĩa Nhân Quyền Đa Nguyên Dân Chủ. Vì trình độ dân trí xã hội nhân loại con người đã lên cao, chủ nghĩa Cá Nhân độc tài độc trị không còn phù hợp nữa. Tiến tới xã hội Văn Minh công bằng bình đẳng. Xã hội Đạo Luật nhà nước pháp quyền, Đạo pháp, Hiến pháp, Luật pháp trên hết.

*********

Hết phần 2 chương 6 mời xem tiếp phần 3 chương 6 Long Hoa Mật Tạng. Long Hoa Mật Tạng là Bộ Kinh Văn Hóa Tinh Hoa Rồng Tiên. Cội Nguồn dân tộc Bách Việt Văn Lang, nay là dân tộc Việt Nam. Một dân tộc anh linh Văn Minh tột đỉnh ở thời Quốc Tổ Hùng Vương khai dựng lập quốc. Có thể nói Văn Hóa mẫu mực trị quốc an dân có một không hai trên nhân loại con người. Những triết lý sâu xa, văn từ thậm thâm vi diệu, chỉ cần hiểu một câu, một chữ cho thông suốt, cũng đặng phước báo vô biên. Hồn Thiêng Dân Tộc che chở. Khí Thiêng Sông Núi Phù Trì. Huống chi truyền bá in ấn biên chép, đọc tụng, thì phải nói là cầu chi đặng nấy, từ nghèo chuyển lên giàu, từ giàu chuyển lên Thánh. linh ứng vô cùng. Khi mạng chung thời siêu sanh về các cõi trời hưởng phước.

 

*********

CHƯƠNG 6

PHẦN 3

ĐỜI SỐNG KHOA HỌC

Quốc sư Thục Lục thấy Thái Tử trí huệ vô biên như vậy liền nghĩ đến lời nói của vị Đạo Sĩ đón mộng, cũng như xem tướng Thái Tử thì tin chắc rằng Thái Tử chính là Chí Tôn Thiên Đế đầu thai. Vị Chí Tôn thừa kế di chí Cha Trời. Chuyển xây vận mệnh nhân loại. Quốc Sư lại nghĩ đã hỏi thì hỏi cho hết những gì khó giải quyết nhất những vấn đề nan giải của xã hội.

Quốc Sư hỏi:

   Giặc ngoại xâm đã trừ, giặc tệ nạn xã hội đã diệt nhưng dân chúng thì nghèo đói, ốm đau bệnh tật, thì ta phải làm sao đẩy lùi chúng?

Lại thêm một sự ngạc nhiên nữa đối với Thái Tử, với lối hỏi hóc búa của Quốc sư. Thái Tử nói:

   Thưa Quốc sư đây là câu hỏi khó, không dễ gì trả lời được. Quốc sư mỉm cười nếu khó quá thì thôi vậy. Thái Tử nói, đây là câu hỏi khó, phạm vi rộng lớn, không dễ gì trả lời cho hết được, từ một xã hội vô cùng lạc hậu, trình độ dân trí kém, lại bị dưới quyền thống trị của Chế Độ phong kiến, như nước Xích Quỉ ta đây còn khá, còn thống trị theo kiểu độc tài độc trị cai ngục thời miển bàn tới.

Thái Tử nói:

   Lạc Hậu, Đói Nghèo, bịnh tật là một thứ giặc, thứ giặc này khó đánh đuổi chúng ra khỏi đời sống con người, phải nói là quá khó. Muốn đánh đuổi chúng, phải có hai đội quân chủ lực.

 1: Là đội quân trí thức khoa học.

 2: Là đội quân máy móc khoa học.

   Phải chờ nền văn minh Địa Tiên ra đời phải có một sự cải cách xã hội lớn lao, không phải ai cũng làm được. Nhất là thời kỳ ngày nay, thời kỳ sơ khai khoa học vật chất ở các Cường Quốc hùng mạnh như chúng ta cũng chỉ ở giai đoạn sơ khai văn minh vật chất, dù biết rằng Nước Xích Quỷ ta nổi tiếng là văn minh lúa nước, văn minh kim loại đồng thau. Tuy ở trong thời đại Phong Kiến Thần Giáo nhưng cũng hình thành Chế Độ Quân Chủ Lập Hiến. Còn ở các Vương Quốc khác chỉ có một hai Vương Quốc gần theo kịp ta còn tất cả thì lạc hậu còn xa lắm, nếu họ theo kịp thời đại Kinh Dương Ta, thời phải mấy trăm năm nữa.

   Con đường giải thoát đói nghèo, ốm đau, lạc hậu không còn con đường nào khác hơn là con đường tiến tới làm chủ khoa học, làm chủ thiên nhiên, từng bước từng bước phát minh sáng kiến khoa học trong thế giới vật chất. Lần mò hiểu chúng, kết cấu chúng, làm chủ chúng, áp dụng chúng, biến hóa chúng thành những thứ mình cần, đa dạng hóa công cụ, sản phẩm, khoa học kĩ thuật, khoa học kiến tạo, khoa học chế tạo luôn luôn bổ sung chỉnh sửa, tiến tới mỗi ngày mỗi hoàn hảo. Liên kết Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ tạo ra máy móc khai thác điện năng, tạo ra máy móc, thay thế sức lực con người phục vụ cho xã hội, nhất là phục vụ trong nông nghiệp, trong công nghiệp. Khai Thác cho hết công dụng của thể hơi, thể lỏng, thể đặc, thể lực, thì chế tạo ra máy móc mới có hiệu quả cao, tiến xa hơn nữa là khám phá công dụng của thể lực, thể khí vũ trụ, mẹ đẻ của nền văn minh khoa học thế giới vật chất.

   Xưa kia con người ở thời Hồng Đế đào đất, đốn cây bằng cuốc đá, rìu đá, lấy lửa chỉ dựa vào sấm sét. Nhưng hôm nay con người đã biết đào đất, đốn cây, lấy lửa khác xa hoàn toàn như nước Xích Quỷ của chúng ta đây, đào đất, chặt cây bằng cuốc đồng cuốc thau, rìu đồng rìu thau, lấy lửa không cần chờ sấm sét mà dùng đá cứng ma sát mạnh vào nhau để lấy lửa, còn các bộ lạc lạc hậu thì chưa có trình độ ở mức này, chỉ có ở các Vương Quốc hùng mạnh mà thôi.

   Ở thời Hồng Đế con người chỉ biết hái, lượm để sống, săn thú, cầm, bò sát để tồn tại, lấy da che ấm nhưng hôm nay nước Xích Quỉ ta đã biết trồng trọt, chăn nuôi để sống, hái lượm săn Thú, Cầm, bò sát chỉ là phụ thuộc mà thôi, che ấm bằng tơ tằm dệt vải. Thời đại ở hang, ở động đã qua, thời đại ở nhà, ở lều thịnh hành và đang tiến tới cảnh lầu đài cung điện.

   Thế giới ấm no hạnh phúc giàu sang không ở đâu xa mà ở ngay trước mắt, chúng ta muốn có ấm no hạnh phúc lâu dài thì ít lệ thuộc vào Thiên Nhiên như thời Hồng Đế lấy lửa nhờ sấm sét. Thờ Lửa. Còn thời nay ta là chủ nhân của lửa, muốn có lửa là có lửa, chúng ta muốn có xã hội ấm no hạnh phúc thì chúng ta là Đấng Tạo Hóa thứ hai, kế theo thừa kế Tạo Hóa Tổ Tiên. Tổ Tiên tạo lập vũ trụ, thế giới vật chất, còn ta tạo lập cuộc sống, cấu kết vật chất kiến tạo lên cuộc sống ấm no, xây dựng xã hội Thiên Đàng Cực Lạc. Để làm được thế chúng ta cần hiểu rõ căn Cội của thế giới vật chất, công dụng công năng của chúng làm chủ chúng, như ta làm chủ tìm lấy lửa, biến cái chung mà chúng ta cần dùng.

   Như thời ông Cha ta VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG. VIÊM ĐẾ SÙNG LÃM với nền văn minh lúa nước, văn minh hội họa giao tiếp, làm thông điệp xã giao, ngoại giao. Chúng ta muốn giải trừ đói nghèo, lạc hậu, bệnh tật thì chúng ta phải giải trừ sự ngu dốt, tiến tới làm chủ khoa học kỷ thuật, tiến tới làm chủ Đạo pháp, Hiến pháp, Luật pháp, làm chủ xã hội, làm chủ non sông Tổ Quốc, sống trong xã hội công bằng văn minh, mang tính cách phục vụ cao.

   Nhà nước phải có chính sách thông thoáng, không gò bó sự phát triển, cá nhân tập thể ưu đãi người có tài, ưu đãi sở hửu trí tuệ, khuyến khích phát minh bảo vệ giúp đỡ họ. Nắm bắt thời cơ hội nhập kinh tế, làm trung gian Cung Cầu, cho mọi tầng lớp phát triển. Dân phát triển theo kiếu khả năng của dân, nhà nước phát triển theo kiểu qui mô của nhà nước, những cái mà dân không đủ sức làm được. Như khai thác quản lý tài nguyên Quốc Gia, xuất nhập dung hòa sản phẩm, khai mở huyết mạch giao thông, trọng yếu Đường biển, Đường sông, Đường bộ, Liên thôn, Liên xã, Liên Quận, Liên Huyện, Liên Châu, Liên Bộ, Liên Miền thông thương dọc ngang như bàn cờ, biển thông lên núi.

   Chính sách ngoại giao, giáo dục được coi như đưa lên hàng đầu. Quan quyền thời bình, thì trở thành các nhà kinh tế lãnh đạo khoa học kĩ thuật, lãnh đạo ngoại giao, làm mối giềng chổ tựa cho các thế lực trong nước, ngoài nước trao đổi kinh tế. Bảo vệ tốt, trọng tài tốt. Nhà nước, nhân dân, các thế lực kinh tế đồng có lợi. Một nhà nước không sợ các thế lực, Quân sự, kinh tế, chính trị lật đổ, là một nhà nước pháp quyền, có nền Quốc Đạo vững chắc. Truyền thống dân tộc vững vàng, như dãy núi cao mà các thế lực với không tới, vược qua không nổi.

   Với tài nguyên phong phú của từng vùng, từng quốc gia, từng đất nước. Gạo đổi lấy muối, cá đổi lấy ngô. Vải bô đổi lấy Voi Ngựa. Nhờ trao đổi sản phẩm, kiến thức khoa học nhờ đó mà tăng lên rất nhanh.

   Tôn trọng quyền phát minh, sáng kiến của mỗi người dân. Luật pháp bảo vệ họ, nhà nước khen thưởng họ, giúp đở họ. Coi họ như là chiến sĩ có công với xã hội. Đó chính là phát huy tìm năng nội lực quí báu của dân tộc. Nội lực tri thức khoa học. Nhờ nội lực tri thức nầy, đưa đất nước tới xóa đói giảm nghèo. Đẩy lùi lạc hậu. Tôm gốp tinh hoa phát minh sáng kiến, khoa học nhân loại. Truyền bá rộng rãi trong đời sống con người. Đó là thế mạnh đưa đất nước tiến lên văn minh hiện đại. Khuyến khích dân làm giàu, thì nhà nước phải hổ trợ sự phát triển đa năng của dân. Làm trọng tài cho sân chơi cạnh tranh bình đẳng. Có làm được như vậy thì đời sống ấm no hạnh phúc sẽ đến với xã hội con người. Đời sống thăng hoa giải trừ lạc hậu nghèo đói khốn khổ.

Quốc Sư Thục Lục càng nghe Thái Tử giải trình. Như mình đang lạc vào một thế giới văn minh đỉnh cao nhân loại con người thế giới thiên đàng cực lạc trần gian. Nhờ sức thông minh hiếm có của Thục Lục. Quốc Sư Thục Lục Không những thông suốt giải đáp mọi thắc mắc xưa nay của mình. Mà còn làm cho mình thấy được chân trời mới. Chân trời của sự giải thoát đói nghèo, lạc hậu.

Thái Tử tuy còn nhỏ. Nhưng có tầm nhìn rộng lớn, Của bậc đại giác ngộ. Bậc Tôn Sư lãnh đạo đất nước. Hiểu rõ sự tồn vong, của một đất nước cũng như cuộc sống đi lên xã hội. Và thật vậy con người đứng vững được là nhờ bộ xương.  Tổ Quốc đứng vững mãi là nhờ rường cột, cốt lõi của đạo đức anh linh truyền thống. Dân giàu nước mạnh là nhờ đường lối thông thoáng, Làm chỗ dựa vững chắc cho dân phát triển. Việc dân nghèo dân đói, chỉ có dân vươn lên mới giải quyết được.

Quốc Sư lại hỏi:

   Muốn độc lập kéo dài, ngoài từ bỏ con đường gia đình trị, chế độ độc tài độc trị, phong kiến thống trị, tiến tới Nhà Nước Pháp Quyền, xã hội công bằng bình đẳng. Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp trên hết. Trở thành Nền Quốc Đạo truyền thống của dân tộc tối cao. Còn Vương, quan chỉ là đầy tớ trung thành của Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp dân tộc. Ra sức bảo vệ và triệt để thi hành Hiến Pháp – Luật Pháp – Đạo Pháp dân tộc, giữ vững cán cân Công lý, Công bằng Xã Hội. Lấy Đạo trị dân, lấy Đức trị dân, lấy Công Bằng Xã Hội trị dân. Làm cho dân phát triển dân trí, chấn hưng dân khí, thấm nhuần đạo lý truyền thống, Ông Cha, thấm nhuần Đạo Đức, thấm nhuần Hiến Pháp – Luật Pháp – Đạo Pháp.  Đặc quyền lợi xã hội trên quyền lợi cá nhân. Sống vì Tổ Quốc, sống vì Đồng Bào nhân loại anh em. Cái chung là thể xác, cái riêng là tế bào, tế bào chết thời thể xác tan rã cũng chẳng còn. Cái Chung cái Riêng luôn song hành hiện hửu tuy hai mà một, tuy một mà hai. Sự trường tồn của cái chung, cũng chính là sự trường tồn của cái riêng. Ngoài những mấu chốt căn bản kể trên còn có thêm điều gì nữa không?

Thái Tử đáp:

   Quốc sư hiểu như thế là quá đủ lắm rồi nhưng có một vài điều làm sáng tỏ thêm cái chung và cái riêng.

*********

Hết phần 3 chương 6 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 4 chương 6.

*********

CHƯƠNG 6

PHẦN 4

CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG

Thái Tử nói:

   Văn Hóa Đạo pháp Chính Nghĩa truyền thống Anh Linh Dân Tộc. Văn Hóa Hiến pháp Chủ Nghĩa Đại Đồng đoàn kết dân tộc. Văn Hóa Luật pháp Bình Đẳng công bằng dân tộc là cái chung của toàn xã hội, không phải của riêng ai, cá nhân hay một tập thể nào, thuộc về Quốc Bảo Văn Hóa cái chung của toàn dân tộc, cũng như Non Sông Tổ Quốc, không của riêng ai là Tổ Quốc chung của toàn dân tộc. Chính quyền do dân bầu ra, không phải là để đàn áp cai trị dân mà là đại diện cho dân nắm vững cán cân công lý, thực thi cái chung công bằng xã hội, bảo vệ quyền lợi chung cho toàn xã hội trong đó có quyền lợi riêng của mỗi người. Quyền lợi chính đáng mà Đạo pháp, Hiến pháp, Luật pháp cho phép.

   Ở các thời phong kiến, phong kiến Thần giáo, phong kiến Địa Chủ, phong kiến Chế Độ độc tài độc trị. Dân có cái riêng nhưng chỉ là cái riêng để mà sống không những không làm chủ được cái riêng sự sống của chính bản thân mình, nói gì đến cái quyền làm chủ cái chung, không có cái quyền làm chủ non sông Tổ Quốc, không có quyền làm chủ xã hội, tất cả là của trẫm, thiên hạ Đồng Bào là của trẫm, non sông Tổ Quốc đều là của trẫm. Thử hỏi Đồng Bào nhân dân có cái gì là quyền riêng của mình đâu, vì tất cả là của Vương, của Vua, của Chúa đương thời, Vua muốn cho là cho, muốn lấy là lấy. Thậm chí Quyền sống, Quyền được sống, Quyền ngôn luận, Quyền tự do, Quyền bình đẳng, Quyền mưu cầu hạnh phúc làm gì được có những thứ Quyền ấy, mà sống trong sự thống trị của Chế Độ Điều Lệ độc tài độc trị do Vương, Vua, Chúa phê duyệt ban ra theo ý Vương, Vua. Chúa. Nếu gặp thì may mắn Vương, Vua, Chúa có chút Đạo Đức nhân tính thì còn dễ thở. Bằng gặp phải Hôn Quân, Vương, Vua, Chúa vô Đạo thì dân chúng vô cùng khốn khổ, phải nói sống như một đầy tớ nô lệ mà thôi, Vua biểu chết là chết, Vua cho sống là sống vận mệnh của mỗi người dân đều nằm trong tay của Đế, Vương, Vua, Chúa đương thời, thử hỏi dân có cái quyền đâu mà để có được hạnh phúc, nói chi đến chuyện tự do, làm chủ.

   Đã không có quyền, thì sống như nô lệ  không được làm chủ bất cứ những gì. Người dân sống dưới các thời phong kiến Thần Giáo, Phong Kiến Độc Tài Độc Trị, người dân không những mất cả sở hửu cái riêng, cũng như cái chung, sống như một đầy tớ nô lệ, họ không có cái quyền chi cả, dân không bao giờ được làm chủ xã hội, làm chủ non sông Tổ Quốc mà ngay cả bản thân, làm chủ quyền sống cũng không làm chủ được nói gì đến quyền làm chủ sở hữu tư riêng, quyền làm chủ sở hữu cái chung. Dân không có cái quyền thừa kế Truyền Thống Xã Hội, Non Sông Tổ Quốc mà bao thế hệ Ông Cha đã gầy dựng lên. Đây cũng là một sự thiệt thòi của mỗi người dân đầy bất công trong cuộc sống.

   Tạo Hóa Tổ Tiên khi khai tạo ra loài người thì cũng đã ban cho mỗi con người nhiều thứ quyền, trong đó có Quyền sống, Quyền được sống, Quyền làm chủ, Quyền tự do, Quyền bình đẳng, Quyền ngôn luận, Quyền mưu cầu hạnh phúc, những thứ Quyền ấy dưới các triều đại Phong Kiến Thần Giáo, Phong Kiến độc tài độc trị đã bị sự độc tài độc trị cướp lấy đi, không cho người dân có những thứ quyền ấy. Đây là một thiệt thòi vô cùng lớn lao cho những người được sinh ra làm người và lớn lên trong xã hội. Sống trong sự sống đầy sự vô lý, và những bất công thì xã hội con người khó mà văn minh được. Các Vương, Vua, Chúa thời nay hầu hết là chưa nắm rõ và hiểu rõ Thiên Luật, Thiên Tạng vũ trụ, chưa hiệp theo Thiên Mệnh, vì thế Thể Chế Độc Tài Độc Trị Vương, Vua, Chúa sẽ dần dần loại bỏ, một khi xã hội phát triển tiến lên đến xã hội công bằng văn minh, một xã hội mà người dân có cả sở hửu cái chung mà cũng có cả sở hửu cái riêng. Sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Nhân Quyền Dân Chủ Công Bằng Bình Đẳng văn minh.

*********

Hết phần 4 chương 6 mời xem tiếp phần 5 chương 6 Long Hoa Mật Tạng. Thời chúng ta mới thấy như thế nào là tinh hoa cuộc sống của con người. Mà Quốc Tổ đã truyền dạy cho Bách Việt Văn Lang, một dân tộc văn minh tuyệt đỉnh ở vào thời đại đó. Dần dần đi vào thất truyền âu đó cũng là cơ vận của tạo hóa vậy. Đất nước Văn Lang kéo dài độc lập rất lâu 2701 năm tất cả đều nhờ vào nền Văn Minh Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Nền Quốc Đạo Dân Tộc. Tôn trọng quyền con người Nhân Quyền, lấy Dân làm Gốc Dân Chủ. Nhà Nước Văn Lang là Nhà Nước Pháp Quyền. Nhà Nước của Dân, do Dân và vì Dân.

Truyền Thống Cha Ông thật diệu kỳ

Anh Linh Quốc Tổ sáng uy nghi

Gầy dựng non sông ngời tỏa sáng

Con cháu Tiên Rồng dậy mà đi.

 

********

CHƯƠNG 6

PHẦN 5

XÃ HỘI CÔNG BẰNG VĂN MINH

Thái Tử nhìn Quốc Sư Thục Lục rồi nói thêm rằng:

   Xã hội Công Bằng văn minh là xã hội có cả sở hữu cái chung và cũng có cả sở hữu cái riêng ai cũng như ai thuận theo Thiên Luật vũ trụ Thiên Ý Cha Trời, làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ non sông Tổ Quốc, cho đến làm chủ Đạo Pháp xã hội, Hiến Pháp xã hội, Luật pháp xã hội. Xã hội Công Bằng văn minh là xã hội cái chung và cái riêng không tách rời nhau, như tế bào và con người, con người và tế bào, tế bào tồn tại là con người tồn tại, tế bào hủy hoại con người theo đó cũng đi đời, bảo vệ con người cũng chính là bảo vệ tế bào, bảo vệ tế bào cũng chính là bảo vệ con người.

   Con người bảo vệ Đạo pháp, Hiến pháp, Luật pháp. Bảo vệ cái chung có nghĩa là bảo vệ quyền lợi riêng cho chính mình, bảo vệ xã hội, bảo vệ non sông Tổ Quốc, bảo vệ Đạo pháp, Luật pháp, Hiến pháp là tự bảo vệ mình. Vì Hiến Pháp. Luật Pháp, Đạo Pháp. Là công cụ bảo vệ quyền con người cái chung, trong đó có cá nhân cho mỗi con người được thế hiện đầy đủ các quyền mà Tổ Tiên Tạo Hóa đã ban cho họ. Con người là tế bào tạo ra sự sống xã hội. Xã hội là lẽ sống của con người, lẽ sống tồn vong hạnh phúc thì con người xã hội trở nên văn minh.

   Xã hội Công Bằng Bình Đẳng văn minh là xã hội không có sự thống trị của Chế Độ độc tài độc trị. Mà tất cả chỉ sống theo Đạo pháp, Hiến pháp, Luật pháp công bằng bình đẳng. Giai cấp Vương, Quan chính quyền chỉ là giai cấp đầy tớ trung thành của Đạo pháp, Hiến pháp, Luật pháp. Giữ vững đạo luật kỷ cương đất nước. Tiến lên thế giới Đại Đồng cũng có nghĩa là tiến sâu vào Đạo pháp công ước Quốc Tế làm sáng tỏ Quyền Con Người (Đạo Luật nhân quyền), bảo vệ tôn trọng nhân quyền là đi đúng Thiên Ý Cha Trời. Bảo vệ Cái quyền mà Tổ Tiên Tạo Hóa đã ban cho mỗi con người, những quyền bất khả xâm phạm. Bất cứ là ai cũng không có quyền cướp đoạt xâm phạm. Những kẻ tự cho mình cái quyền sanh sát thiên hạ, là những kẻ tự đào lỗ chôn mình. Những ai tôn trọng Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp mới có đầy đủ các quyền mà Tổ Tiên Tạo Hóa đã ban cho họ. Còn những kẻ độc tài độc trị chính họ đã tự đánh mất những quyền mà Tạo Hóa đã ban cho họ. Những kẻ đi ngược lại Thiên Ý Cha Trời. Thiên Luật Vũ trụ. Không sớm thì chầy cũng bị đánh đổ. Những kẻ có tư tưởng thống trị thiên hạ bằng con đường độc tài độc trị,  Là một điều sai lầm lớn dẫn đến đấu tranh giai cấp xung đột tàn sát lẫn nhau. Kết quả đều lưỡng bại câu thương không có kết quả tốt, đưa nhau xuống Địa Ngục.

Thái Tử nói:

   Muốn cho dân giàu nước mạnh, xã hội Công Bằng văn minh, Độc Lập lâu dài chỉ có con đường duy nhất là Thuận Thiên, tôn trọng quyền con người, nhân quyền cho mỗi con người mỗi Quốc Gia, mỗi dân tộc. Chúng ta có cái chung nói rộng thì toàn cầu, nói hẹp thì đất nước Xích Quỷ chúng ta phải tôn trọng cái quyền chung là Quyền Con Người, bảo vệ cái chung quyền con người toàn cầu, cũng như đất nước Xích Quỷ chúng ta. Là chúng ta đi đúng hướng hiệp với Thiên Ý Cha Trời. Thiên Luật vũ trụ. Chúng ta bảo vệ quyền con cái chung cũng có nghĩa là bảo vệ sự sống cái riêng của mỗi chúng ta. Bảo vệ sự sống tự do quyền con người nhân quyền của chúng ta, cũng có nghĩa là bảo vệ Nhân Quyền cái chung nhân loại toàn cầu những quyền bất khả xâm phạm. Nếu làm được như vậy thì còn lo chi không tiến tới xã hội dân giàu nước mạnh thế giới thái bình an lạc.

   Con đường tiến về Cội Nguồn, là con đường bảo tồn hạnh phúc lấy Đạo pháp truyền thống Chính Nghĩa dạy dân làm món ăn tinh thần trong đời sống hằng ngày, nuôi lớn trình độ dân trí, nuôi lớn tinh thần dân tộc chấn hưng dân khí. Thế hệ trước, thế hệ sau cùng đi chung một con đường truyền thống anh linh như vậy. Thì non sông Tổ Quốc không có một thế lực ngoại bang nào xâm lược nổi. Độc Lập kéo dài là đều tất nhiên.

Thái Tử luôn khẳng định:

   Một đất nước phồn thịnh, phải đạt đến cảnh giới Văn Minh Tinh Thần, đi đôi với Văn Minh Vật Chất, Giáo dục là Quốc Sách. Muốn làm được như vậy phải có Văn Hóa Nghệ Thuật, Ca Múa, Nhạc Kịch, Thể Dục, Thể Thao, Văn nghệ phong phú, võ thuật phát huy rèn luyện thân thể, đưa đẩy phong trào giáo dục văn hóa anh linh Truyền Thống lên cao. Không những đẩy lùi bệnh tật. Mà còn cho con người nhận thức Văn Hóa chính nghĩa lên một tầm cao.

   Không có cuộc sống hạnh phúc nào hơn là lấy lễ đối đãi với nhau như anh em một nhà, đối nhân xử thế tôn trọng người khác chính là tôn trọng mình. Tinh thần sáng suốt minh mẩn trong thể xác khỏe mạnh. Văn Hóa nghệ thuật, võ nghệ, Thể Dục, Thể Thao, ca nhạc, văn nghệ, phong trào lên cao không những làm cho tinh thần sảng khoái yêu đời tuổi thọ nâng cao mà còn đẩy lùi được bệnh tật, đưa nhân loại xích lại gần nhau hiểu nhau tất cả đều là bạn, quan hệ giao lưu cùng nhau đôi bên cùng có lợi.

Thái Tử nhìn Quốc Sư như tự hỏi Quốc Sư có cần hỏi thêm gì nữa không ?

Quốc Sư Thục Lục thưa:

   Thưa Thái Tử. Thái Tử đã vẽ lên một thế giới tương lai kỳ lạ, có thể nói là quá xa xăm xa lạ với cuộc sống nhân loại ngày nay, nhưng những gì Thái Tử thuyết giáo tất cả đều là hiện thực, không phải là ảo tưởng. Hôm nay tuy làm chưa được nhưng Thần tin tưởng ở tương lai, Thái Tử sẽ xây dựng lên đất nước mới, thế hệ mới do Thái Tử lập lên sau này.

*********

Hết Phần 5 chương 6 mời xem tiếp phần 1 chương 7 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Bộ Kinh tối cao có một không hai chốn nhân gian chỉ cần hiểu được thâm ý một câu, một  chữ cũng đã thấy khó lắm rồi. Huống chi hiểu cả chương cả phần kinh. Những thâm ý trong kinh vô cùng rộng lớn thậm thâm vi diệu sâu xa, Chỉ cần giảng một câu một chữ cũng đặng phước đước vô biên rồi. Thái Tử Hùng Lan chính là Quốc Tổ Hùng Vương là vị tối cao Chí Tôn Thiên Đế đầu thai đem Thiên Ý Cha Trời truyền xuống nhân gian. Để cho Nhân Loại trần gian sống theo Thiên Ý mà về trời. Đọc qua Long Hoa Mật Tạng Kinh chúng ta không khỏi tự hào vì dân tộc Việt Nam có vì Quốc Tổ tối cao như thế. Quốc Tổ đã để lại cho chúng ta cho con cháu Việt Nam hai di sản quý hiếm. Một là Tổ Quốc Non Sông. Hai là Văn Hóa Cội Nguồn Truyền Thống Anh linh Dân Tộc. Với công ơn nầy chúng ta không gì đền đáp nổi.

Theo bước Cha Ông lập đỉnh trời

Cội Nguồn Truyền Thống rạng muôn nơi

Quốc Đạo bừng lên muôn sức sống

Việt Nam ngời sáng mãi đời đời.

 

*********

CHƯƠNG 7

PHẦN 1

CẢI CÁCH ĐỔI MỚI HƯỚNG ĐI

Để quyết định một vấn đề được coi như là nhạy cảm quan trọng Quốc sư hỏi:

   Thưa Thái Tử, theo tình thế hiện nay, các Vương Quốc ở cận ta đang bành trướng dữ dội và hầu như chúng có âm mưu dòm ngó đất nước ta, trước tình thế nầy Thái Tử có mưu tính gì, kế sách gì đối phó chúng, hoặc gồm thâu chúng mở rộng đất nước ta chăng, thực hiện theo ý tưởng Văn Minh về Quyền Con Người cũng như lấy Dân làm gốc của Thái Tử?

Thái Tử đáp:

   Ta cũng có mưu tính, dự tính mở rộng phạm vi nước Xích Quỉ ta, gồm thâu Thiên Hạ nhưng không phải ở thế xâm lược mà ở thế Liên Minh Liên Kết thành một cường quốc. Sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp nền Quốc Đạo dân tộc.

   Nếu ở thế xâm lược như xưa nay các Vương Quốc đã từng làm, thắng là Vua thua là giặc, thắng thống trị, thua bị trị, kẻ theo ta thì sống, người chống ta thì chết. Đó là hạ sách ở thế gồm thâu thiên hạ. Dùng Tà Ý phi nghĩa gồm thâu thiên hạ tuy lập lên một cường quốc nhưng sớm tan rã độc lập khó mà kéo dài được.

   Muốn lập lên một cường quốc mà ở thế xâm lược gồm thâu thiên hạ thì không ổn. Vì đổ quá nhiều xương máu. Chưa nói đến trở ngại các thế lực Quốc Vương chống trả, mà ngay cả những Bộ Lạc, sống rải rác ở khắp nơi, dân tộc nào cũng có khí phách anh hùng, thậm chí có nhiều Bộ Lạc vốn yếu hơn các Bộ Lạc khác nhưng lòng bất khuất thà chết chứ không chịu đầu hàng làm nô lệ. Liều mạng bảo vệ Tổ Quốc, cũng như Bộ Lạc của họ.

   Trước đây ông Cha ta mở mang đất đai bờ cõi, theo kiểu du canh du cư, vì thời đó là thời hoang vu con người chưa được khai hóa. Không thuộc quyền sở hữu của dân tộc nào, Bộ Lạc nào, Bộ Tộc nào. Nhân loại còn trên đường Du Canh, Du Cư tuy có người tới trước khai phá nhưng lại bỏ đi nơi khác, ý thức làm chủ đất đai chưa mấy, nhưng hôm nay con người đã có ý thức làm chủ đất đai, dẫn đến tranh giành thuộc địa, mở mang cho phong kiến Địa Chủ Thần Giáo ra đời, sự độc tài độc trị tranh giành đất đai càng ngày càng lớn máu nhuộm địa cầu hận chồng lên hận, thù chồng lên thù, sự tàn bạo mỗi ngày một thêm dữ dội, oán thù cứ thế mà chồng chất lên nhau, cảnh cá lớn nuốt cá bé, chẳng khác nào Gà nuốt Dế, Chồn nuốt Gà, người ta săn Chồn xơi thịt. Nếu giả sử gồm thâu được thiên hạ lập lên cường quốc, nhưng tìm ẩn mối nguy lật đổ thôn tính lẫn nhau là rất lớn. Chẳng khác nào dã tràng xe cát biển đông.

   Nếu chúng ta dùng bạo lực xâm chiếm đất đai đàn áp các Bộ Lạc, bắt các Bộ Lạc tùng phục mình lập lên một cường quốc hùng mạnh, dù đó là ý tưởng tốt có chí hướng vĩ đại nhưng không gọi đó là chính đáng được vì ta xâm lược thôn tính các Bộ Lạc ta đang ở thế tà mạnh được yếu thua thắng là Vua, thua trở thành các Bộ Lạc nô lệ chư hầu, Độc Lập khó mà được lâu dài.

   Vì thế chỉ có con đường duy nhất là dùng gươm thiên trí huệ hàng phục các Bộ Lạc thậm chí hàng chục cho đến cả trăm Bộ lạc quy thuận ta liên minh xây dựng lên một cường quốc độc lập hưng thịnh lâu dài hàng nghìn năm. Nếu xây dựng lên một cường quốc dùng bạo lực thắng là Vua, thua buộc quy thuận làm nô lệ dưới sự cai trị Độc Tài Độc Trị của ta. Thì mối nguy tai họa rất lớn vì lòng căm hờn của các Bộ lạc đối với ta to như biển cao như núi, ở hậu lai họ chờ phước phần cũng như thế lực ta suy yếu, hay nội bộ chia rẽ lủng củng. Thì cả trăm Bộ Lạc ấy nổi lên đòi tự trị chống phá lật đổ thể chế độc tài độc trị của ta.

   Vì thế muốn xây dựng lên một cường quốc không có một đất nước nào đụng đến hay xâm lược được. Thì con đường xây dựng khai sanh lên cường quốc đó. Phải đi theo một lộ trình Văn Hóa Chính Nghĩa liên kết liên minh sức mạnh cả trăm Bộ Lạc chung nhau bảo vệ Quyền Con Người Nhân Quyền. Lấy Dân Làm Gốc Dân Chủ. Nhà nước cường Quốc đó phải là Nhà Nước Pháp Quyền, nhà nước Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp trên hết. Nhà Nước của Dân do Dân vì Dân. Công Bằng Bình Đẳng. Cả trăm Bộ Lạc sống trong ngôi nhà chung Nền Quốc Đạo. Thời lo gì dân không giàu nước không mạnh độc lập lâu dài.

   Nếu chúng ta xâm lược cả trăm Bộ Lạc. Thuận Ta thì sống, chống ta thì chết tàn sát họ, thì chúng ta nào phải con người, mất hết lương tri lương tâm còn ác hơn loài Quỉ dữ. Nếu nhân từ để chúng sống sót, thì chúng ta tự nuôi tai họa về sau, chẳng khác nào chúng ta mài đao để đó chờ ngày con dao ấy giết mình, nội giặc là một thứ giặc khó trừ, khó đề phòng, khó lường. Nếu chính sách thông thoáng thì vô tình nuôi các thế lực phản động nhanh lớn, chúng sẽ lật đổ chúng ta. Còn chính sách, giáo điều, điều lệ hà khắc, cấm đón trói buộc dự sống con người dậm chân tại chỗ không những không phát triển được xã hội, lại còn dẫn tới đói nghèo lạc hậu,  đời sống khốn khổ, trăm thứ giặc sanh ra. Giặc Dốt, Giặc Đói, nổi giặc khắp nơi thời Độc Lập kéo dài được sao.

   Tổ Quốc non sông dù có lớn đến đâu, dân có đông đến đâu, cũng chỉ là bãi chiến trường, tranh giành quyền lực lật đổ nhau, chém giết nhau mà thôi máu đổ khắp nơi thây phơi chật đất. Xâm lược chiếm đoạt đất đai thôn tính các Bộ Lạc hay các nước nhỏ lập lên cường quốc, chiếm hữu nô lệ lập lên xã hội, thống trị cường hào ác bá, độc tài độc trị. trước mắt là có nhưng sau đó thì như không, vì dùng bạo lực lập lên cường quốc chiếm Thiên Hạ nhưng không được lòng Thiên Hạ, đó là mối tai họa biến loạn về sau Độc Lập khó mà lâu dài. Một lớp vỏ bạo lực bó buộc Thiên Hạ về một mối, khác nào quả pháo chờ cơ hội là nổ, có Thiên Hạ trong tay nhưng lòng Thiên Hạ đã mất, Thái Bình Độc Lập ắt chẳng đặng bao lâu, non sông Tổ Quốc sẽ đổi ngôi thay chủ. Lập lên một Cường Quốc với bao tìm ẩn nguy cơ như thế, thì lập lên để mà làm gì. Mở màng cho hàng loạt tham quan ra đời làm lên bao chuyện xấu xa tội lỗi. Đục khoét của nhà nước, vơ vét của dân tệ nạn xã hội khắp nơi.

   Cơ nghiệp lập lên bằng bạo lực, không chân chính, rốt cuộc rồi cũng bị các thế lực phản loạn, từ trong giai cấp bị trị, giai cấp nô lệ nổi lên đánh bại. Cả đời cực khổ chiến tranh gồm thâu thiên hạ nhưng rốt cuộc được những gì, mang tiếng ác cũng như gieo hậu quả về sau. Ngôi vị Quốc Vương dùng bạo lực chiến tranh cướp lấy tạo lập lên chỉ là con Cáo già đầu trộm đuôi cướp tham lam tàn bạo, có hay ho gì, không khéo sa đọa xuống Địa Ngục linh hồn khổ mãi nữa đằng khác.

Thái Tử nói:

   Chỉ có một con đường duy nhất chinh phục Thiên Hạ, bằng con đường liên minh các Họ Tộc, Bộ Tộc, Bộ Lạc, liên minh các nước thành một khối thống nhất theo một con đường Văn Hóa chính nghĩa, không ngoài quyền con người và lấy dân làm gốc Nhân Quyền Dân Chủ lập lên một đất nước văn minh cường quốc Công Bằng Bình Đẳng ai ai cũng đươc sống trong Quyền Tạo Hóa ban cho. Tất cả chung trong một nền Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, quyền sở hửu cá nhân, quyền sở hửu tập thể được thể hiện đầy đủ.

   Cuộc sống mà ai ai cũng có quyền làm chủ xã hội, làm chủ non sông Tổ Quốc, làm chủ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp truyền thống anh linh dựng nước và giữ nước. Và cũng chỉ có Đạo pháp, Hiến pháp, Luật pháp mới thật sự đem lại cuộc sống tự do ấm no hạnh phúc.

   Ở nhà nước Pháp Quyền: Nhân Quyền Dân Chủ. Vương, Quan chỉ là đầy tớ trung thành của Đạo pháp, Hiến pháp, Luật pháp công bằng bình đẳng xã hội. Bảo vệ Đạo pháp, Hiến pháp, Luật pháp. Thi hành Đạo pháp, Hiến pháp, Luật pháp, thực thi Công Lý Bình Đẳng, bảo vệ ích lợi chung, cũng như lợi ích lợi riêng của mỗi người dân.

   Xã hội Công Bằng văn minh, là xã hội Thần Thánh. Xã hội chân thiện tiến tới hoàn mĩ. Xã hội Thiên Đàng cực lạc trần gian.

Quốc sư Thục Lục càng lúc càng sáng mắt ra hội ngộ được chân lý trị quốc an dân lập quốc Chính Nghĩa trong lòng vô cùng vui mừng. Nghĩ có thể Thái Tử sẽ làm nên nghiệp lớn và cũng chỉ có Bậc Đại giác ngộ mới tìm ra hướng đi Thần Thánh nầy.

(Và thật vậy 79 năm dựng nước Văn Lang 2.622 năm thế hệ con cháu của Vương, Quan kế tục giữ nước, xây dựng lên cuộc sống mỗi ngày mỗi thêm phồn thịnh tự do ấm no hạnh phúc. Cả dựng nước và giữ nước thời Hùng Vương là 2.701 năm, trên khắp thế giới thời đó cũng như thời nay chưa có đất nước nào kéo dài Độc Lập dài đến thế). Chỉ có nền Văn Minh Hiếp Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, Quốc Đạo Văn Lang mới được như vậy).

Đây nói về vị Quốc sư tài năng Thục Lục, tự biết mình không còn đủ tài để dạy Thái Tử nữa nên nói với Quốc Vương Kinh Dương Vương rằng:

   Khắp nước Xích Quỷ này không còn ai là đủ tài dạy Thái Tử nữa, và thật vậy thật ra tôi cũng chỉ là học trò của Thái Tử mà thôi, vì Thái Tử không phải người phàm hay Thánh Thần Đầu Thai mà là Chí Tôn Thiên Đế đầu thai. Đấng thừa hành di chí Cha Trời. Đấng Cứu Thế. Hàng triệu năm mới xuất hiện. Nghe Thái Tử thuyết giáo tôi đã ngộ ra một điều, con người có quả tim Nhân Loại, mới có đủ khả năng diều dắt Nhân Loại mà thôi. Còn quả tim vì quyền lực vì danh lợi vì cái riêng ta quá lớn, thì khó mà dìu dắt nhân loại đến bờ hạnh phúc. Cũng từ đây tên tuổi Thái Tử vang lừng hơn nữa, làm chấn động nước Xích Quỷ cùng các nước lân cận.

Kinh Dương Vương tuy tuổi đã cao nhưng Tiên phong Đạo Cốt vẩn trẻ trung uy nghi. Nay nghe Quốc sư luôn luôn miệng khen Thái Tử, đề cao tột bực, thì lấy làm vui vẻ sung sướng không gì bằng, cuộc đời Đế Vương coi như là thỏa mãn.

PHẦN THƯA HỎI

Hỏi: Thế nào là Họa, Phúc của xã hội?

Đáp: Con người là chủ của xã hội vì vậy họa hay phúc đều do con người, xã hội Thiên Đàng hay xã hội Địa Ngục, điều do con người quyết định. Nếu chúng ta biết hướng Thiện, kết tụ duyên lành, truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn, Đạo pháp truyền thống dân tộc, Hiến pháp Công Lý xã hội. Luật pháp xã hội nuôi dưỡng tinh thần Đạo Đức dân tộc, đến tận mỗi người dân, nâng cao trình độ nhân thức Đạo Đức xã hội. Thì tương lai xã hội chúng ta mới có kết quả tốt đẹp, xã hội Chân Thiện Hoàn Mĩ. Còn nếu chúng ta tán tận lương tâm làm lên bao điều tội lỗi, xem thường Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo pháp truyền thống anh linh xã hội. Phá hoại kỷ cương phép nước nhận giặc làm Cha. Thì chúng ta tự tạo ra cho xã hội chúng ta một xã hội đen tối, xã hội nhà tù, xã hội Địa Ngục. Sống chẳng yên mà chết cũng chẳng đặng yên.

Hỏi: Thế nào là nhận thức Bình Đẳng?

Đáp: Đến với Cội Nguồn, hòa mình vào dòng đời xã hội, tuân theo và lam theo Đạo pháp truyền thống dân tộc, Hiến pháp, Luật pháp xã hội thì nhận thức được ngay sự Bình Đẳng con người và sự Bình Đẳng xã hội. Nhân Loại ai ai cũng như nhau, từ một gốc mà ra, tất cả đều là Con Rồng Cháu Tiên, mỗi Tiểu Linh Hồn từ Đại Linh Hồn vũ trụ tạo ra, ví như nước sanh ra bọt nước, tất cả bọt nước đều Bình Đẳng vì tất cả bọt nước từ nước mà ra. Xã hội Bình Đẳng là xã hội Đạo pháp công bằng, Hiến pháp công bằng, Luật pháp công bằng, quả tim Công Lý xã hội, không thiên vị ai, không thân cận ai, chung cùng một nhịp đập Bình Đẳng, vì vậy quyền Bình Đẳng, nhân quyền của con người được bảo vệ, tôn trọng thể hiện đầy đủ, bất khả xâm phạm. Nếu xâm phạm là trái ý trời. Đối với kẻ chuyên quyền Độc Quyền Độc Tài tàn bạo, thời coi như chính họ đã đánh mất nhân quyền Bình Đẳng của chính họ sẽ bị Cộng Đồng xã hội nhân quyền lên án.

Hỏi: Thế nào là quan hệ tôn trọng Chủ Quyền Độc Lập?

Đáp: Không xâm phạm lẫn nhau về thuộc Địa cũng như về chính trị, đối đãi nhau trên phương diện Bình Đẳng, tôn trọng lẫn nhau, làm bạn đối tác kinh tế hai bên cùng có lợi. Tôn trọng bạn có nghĩa là tôn trọng mình, xâm phạm chủ quyền nước bạn là tự đánh đổ chủ quyền nước mình.

Hỏi: Sao gọi là Khôn? Sao gọi là Dại?

Đáp: Người khôn không bao giờ nghịch lại Thiên ý của Trời, không bao giờ chống phá Đạo pháp truyền thống dân tộc, chống phá Hiến pháp, Luật pháp công bằng Xã hội, vì chống phá như vậy nhất định sẽ sa chân vào ác Đạo, Quỉ Đạo, súc sanh Đạo, Địa Ngục Đạo, thì coi như đã sa vào Thiên La Địa Võng trùng trùng tai họa. Những kẻ tự cho mình siêu đẳng nhưng lạc mất Cội Nguồn, khác nào con thơ Lạc Mẹ Lạc Cha, chơi vơi giữa chốn hồng trần lặng hụp trong bùn nhơ cặn bã xã hội.

Hỏi: Hiến pháp có mấy loại?

Đáp: Hiến pháp xã hội có nhiều loại nhưng có ba thứ Hiến pháp được thông dụng ở đời.

1: Là Hiến pháp dựa trên quân Chủ lập Hiến tạo ra.

2: Là Hiến pháp dựa trên Dân Chủ lập Hiến tạo lập ra.

3: Là Hiến pháp căn cứ theo Văn Hóa Cội Nguồn truyền thống dân tộc. Nhân quyền, Dân Chủ, Công Bằng Bình Đẳng. Công ước xã hội. Chủ quyền Độc Lập. Hiến pháp dựng nước và giữ nước nhà nước Văn Lang. Nền Quốc Đạo Dân Tộc. Một Hiến pháp mà không một đất nước nào có, ngay cả thời văn minh hiện đại bây giờ. Hiến pháp của Chủ Nghĩa Đại Đồng Công Bằng Bình Đẳng. Tình nòi giống, nghĩa Đồng Bào chung nhau một Cộng Đồng xã hội.

*********

Hết Phần 1 chương 7 mời xem tiếp phần 2 chương 7 Long Hoa Mật Tạng Kinh.

Vinh thay Nam Việt, Việt Nam

Trổ hoa phồn thịnh đăng đàn công danh

Gió xuân tràn ngập quê hương

Non sông Tổ Quốc bình yên đời đời

Rồng Tiên tỏa sáng ngời ngời

Năm châu bốn biển hướng về Việt Nam.

 

*********

CHƯƠNG 7

PHẦN 2 

NỖI LO XA KINH DƯƠNG VƯƠNG

Một hôm Kinh Dương Vương cùng con trai là Thái Tử Hùng Lan dạo chơi nơi chốn hoa viên, để thử tài Thái Tử cũng như xem con có ý niệm gì tương lai non sông Tổ Quốc khi tình hình mỗi ngày mỗi thêm phức tạp diễn biến xấu.

KINH DƯƠNG VƯƠNG hỏi:

   Này con. Con nhận xét thế nào về nước Xích Quỷ ta, mạnh yếu ra sao? Có phải là một đất nước Hùng Mạnh, rộng lớn, có đất nước nào hơn đất nước ta không? Cha muốn nghe ý kiến nhận xét của con.

Thái Tử thưa Cha:

   Nước Xích Quỷ ta vốn nổi tiếng từ lâu. Một đất nước vừa giàu có vừa hùng mạnh, không có một Vương Quốc nào xa gần sánh kịp. Với nền văn minh lúa nước, văn minh thông Điệp Hội Họa. Đất đai rộng lớn màu mỡ phì nhiêu, dân đã đông, tướng đã giỏi, lại thêm ấm no Thịnh Trị hàng nghìn nghìn năm. Nước Xích Quỷ ta không những mạnh về tinh thần mà còn mạnh về vật chất. Hiện nay và trăm năm tới, chưa có đất nước nào hơn được đất nước ta đâu. Tuy rằng xung quanh nước Xích Quỷ ta chiến tranh, tranh giành thuộc địa đã nổ ra càng ngày càng dữ dội, cảnh cá lớn nuốt cá bé xảy ra thường xuyên ở các Bộ Lạc. Lại thêm ở bên kia bờ Bắc, Bắc sông Trường Giang đã hình thành lên nhiều Vương Quốc hùng mạnh, gần theo kịp Vương Quốc ta. Và nghe đâu các Vương Quốc hùng mạnh ấy có ý dòm ngó nước ta, đâu cũng là mối lo cho nước ta về sau.

   Đất đai màu mỡ với hai nền văn minh độc bá thiên hạ, nền văn minh lúa nước, nền văn minh giao tiếp hội họa là miếng mồi ngon cho bao kẻ tham lam đầy dã tâm, tính mưu tính kế, có cơ hội là nuốt nước Xích Quỷ ta trong tương lai là điều không tránh khỏi.

   Nước Xích Quỷ ta tuy rộng lớn nhưng không phải là tường đồng vách đá, khó mà ngăn chặn được lòng tham của con người, nhất là con người đã biến thành Lang Sói ác Quỉ.

   Trước tình thế dù cho con Hổ to lớn mạnh đến đâu mà xung quanh con Hổ toàn là Cáo Sói, đầy mưu mô xảo quyệt. Một con chúng không làm gì được nhưng cả bầy háo chiến tấn công con Hổ làm cho con Hổ kiệt sức, cuối cùng con Hổ cũng bị hạ gục. Chúng giành nhau ăn thịt mỗi con mỗi miếng, thì còn gì nước Xích Quỷ ta. Miếng mồi hấp dẫn, họa phúc khó lường, một đất nước quá béo bở, không lo xa cũng không được và con cũng đã tính tới điều này, trong tương lai nhưng con vẫn chưa tìm ra cách đối phó.

KINH DƯƠNG VƯƠNG nhìn con đầy thương yêu hết lòng khen ngợi, con tuy còn trẻ nhưng đã biết lo xa, phòng bệnh hơn chữa bệnh, chủ động vẫn hơn là bị động. Không thể tới đâu hay tới đó, nước tới chân mới nhảy. Người giỏi cờ cũng phải tính trước vài ba nước đi. Nhà kinh tế, chính trị, quân sự tài, phải tính trước 10 năm 20 năm thậm chí cả 100, 1000 năm.

*********

Hết Phần 2 chương 7 mời xem tiếp phần 3 chương 7 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Bộ kinh thuộc hàng tối cao Đại Thừa. Bộ kinh không những tối cao của sự linh thiên. Mà còn là tối đạo luật xã hội cũng như đạo luật vũ trụ. Chỉ cần hiểu một câu một chữ trong kinh thời cũng đã trang bị cho mình đi tới con đường vinh quang. Huống chi khen ngợi yêu mến Long Hoa Mật Tạng. Thì coi như đã chuyển đổi số mạng, không khác gì cá Chép hóa Rồng, không bao lâu hiển Thánh ngay tại trần thế.

 

*********

CHƯƠNG 7

PHẦN 3

DUY VẬT DUY TÂM

KINH DƯƠNG VƯƠNG vẫn giữ một thói quen là giữa tháng đến ngày rằm Trăng tròn đến lầu vọng Nguyệt để ngắm Trăng nghiền ngẫm Đạo Pháp tu thiền luyện khí. Lần này có khác Kinh Dương Vương dẫn theo Thái Tử, hai cha con Kinh Dương Vương vừa đi vừa nói chuyện. Thái Tử là người nhạy cảm, lại hay chú tâm quan sát cảnh vật. Thái Tử nghĩ mới trong nháy mắt, mọi cảnh vật hầu như thay đổi hoàn toàn. Mặt Trời vừa lặng, màn đêm buông xuống rất nhanh, Lâu đài Cung Điện, cảnh vật non sông ngập chìm trong màn đêm hết thảy.

Cảnh chiều tà nhìn quê hương Tổ Quốc xinh đẹp làm sao, còn giờ đây quê hương Tổ Quốc chỉ là màn đen u tối, sáng và tối hai cảnh giới khác biệt nhau. Cảnh Thiên Đàng và cảnh Địa Ngục. Một cảnh giới đầy sức sống muôn màu muôn sắc đẹp làm sao, người thi nhau thọ hưởng, chim thi nhau ca hát, Thú Cầm gầy tình gầy bạn, cỏ cây khoe trái, khoe hoa. Lũy tre, đồng ruộng mái lá nhà tranh rộn tiếng cười, cánh Cò trắng Lã lượng bay vui, đàn Bò, đàn Trâu vui ngúc ngoắt. Mục Đồng thổi sáo cánh Diều bay, cảnh quang vui đẹp tâm Hồn đầy sức sống.

Còn cảnh tối mê lầm lạc họa tai bay. Nhìn cảnh đêm đen Thái Tử cảm thấy nổi buồn xa xăm, cô đơn lạnh lẻo như đang ở cõi Âm Cung. Như ẩn chứa bao điều tai họa chẳng lành thầm bí. Phải chăng cõi nhân gian là cánh cửa để bước vao cõi Thiên Đàng, cũng như cõi Địa Ngục âm phủ. Phải chăng sáng và tối đã nói lên một điều. Ánh sáng Chính Nghĩa tắc đi không còn, thời u minh bóng tối trùm lấy nhân gian như báo hiệu chiến tranh sẽ xảy ra, mở rộng lan tràn khắp Địa Cầu. Ánh sáng Tâm linh Chính Nghĩa đã tắc, thì thế giới Cáo Sói Rắn Rít hiện ra, nhân loại đi vào đại nạn khốn khổ, cuộc sống đe dọa từng ngày.

Thái Tử chìm đắm trong suy nghĩ, thời ánh Trăng cũng đã lên từ lúc nào, ánh Trăng êm dịu hiền từ như người Mẹ quê hương ôm lấy những người con lạc lỏng trong đêm tối. Ánh Trăng chiếu xuống lầu đài Cung Điện sơn phết một màu bạc nhưng cũng để lại loan lổ những chỗ đen tạo ra do vật cản ánh sáng. Những cảnh tượng loan lổ chỗ đen ấy như nhắn nhủ với con người rằng. Thế lực đen tội ác ẩn mình sau lớp thiện, ánh Trăng không thể diệt nỗi chúng, và chúng cản mình che khuất ánh Trăng để bóng đen tồn tại hiện ra. Và chỉ có ánh Mặt Trời thì chúng mới chịu tan biến hoặc ẩn mình nơi hang cùng ngõ hẻm.

KINH DƯƠNG VƯƠNG nhìn Thái Tử lúc nào cũng trầm tư như vậy. Liền buông tiếng cười thở dài, tiếng thở dài của người Cha đã đánh động tư duy suy tưởng làm cho Thái Tử giật mình, mới hay mình đã đến lầu vọng Nguyệt từ lúc nào.

Kinh Dương Vương nắm tay Thái Tử như truyền hơi ấm nói lên rằng:

   Có Cha đây, Cha sẽ là ngọn Thái Sơn che chở cho con lúc Đông về.

Thái Tử được Cha dắt lên lầu vọng Nguyệt, cặp ghế Rồng ghế Phụng như cũng đã biết mình có bổn phận nâng đở Cha con Kinh Dương Vương yên nghỉ hòa mình vào cảnh giới Đêm Trăng. Xa xa tận chân Trời vừng hào quang dịu mát phát ra từ vần Trăng tròn trịa nhô lên khỏi khóm tre già. Cảnh vật thi nhau im lặng tận hưởng ánh Trăng êm ã, sau một ngày vật vã với cái nắng chang chang. Ánh Trăng đến ánh Trăng đi không mang theo sự vui buồn của nhân gian, vô tư trong sáng chẳng nhiễm chút bụi trần nào cả.

Nhưng con người thì khác hẳn, sanh ra ở đời đắm chìm gian ác, tham lam ganh ghét, hận thù làm tâm Hồn bẩn nhơ, làm hôi hám xã hội. Nhưng rốt cuộc thời được những gì, tất cả chỉ là con số 0.

Kinh Dương Vương lại nghe tiếng thở dài Thái Tử. Sự việc ở đời rốt cuộc rồi cũng thế, cuộc đời khác nào vần Trăng, lúc thời mờ lúc thời tỏ, khi tròn khi khuyết, khi đầy khi vơi. Thiên Nhiên vẩn còn chơi trò biến ảo, huống chi là cuộc sống con người luật tuần hoàn cứ lặp đi lặp lại, hết mưa rồi nắng, hết ngày tới đêm. Xuân Hạ Thu Đông cứ luân phiên chuyển hóa, hết xuân rồi lại tới xuân, xuân đi rồi xuân lại về. Chỉ có không gian lúc nào cũng rộng lớn vẩn thế, không đi không đến như như tự tại. Tuy ở sát người thế mà không mấy ai với tới cả.

Thái Tử nghĩ chốn nhân gian này khó tìm ra hạnh phúc vĩnh cửu vì trần gian chỉ là nơi cõi tạm. Những thứ hạnh phúc tạm thời, chóng đến rồi cũng chóng đi, chóng sum hợp rồi cũng chóng chia ly. Mọi sự ở đời hể có gieo thì có hưởng, họa hay phúc đều do con người triệu nó đến, tất cả đều có căn có cội.

Kinh Dương Vương nhìn con trầm tư suy nghĩ không hiểu con ta nghĩ những gì, sao lúc nào cũng trầm lặng suy tư như vậy, khổ cho con ta quá.

Thái Tử bổng lóe lên ý nghĩ liền hỏi Cha:

   Cha có từng nghe đến Quả tim Nhân Loại chưa? Cha có từng nghe đến bất chiến tự nhiên thành chưa?

Kinh Dương Vương vô cùng kinh ngạc, vì đây là lần đầu tiên nghe câu hỏi lạ, lạ đến nổi Kinh Dương Vương phải ngớ người ra.

Kinh Dương Vương nói:

   Con hỏi gì lạ vậy ở đời ai không có quả tim.

Thái Tử trả lời:

   Thưa Cha! Không phải con hỏi Quả tim con người mà ai ai cũng có, mà con muốn hỏi đến Quả Tim xã hội. Quả Tim truyền thống. Quả Tim chính nghĩa của chủ nghĩa.

Kinh Dương Vương nghe con nói như thế thì càng thêm kinh ngạc không biết trả lời sao.

Thái Tử nhìn Cha nói:

   Quả Tim Nhân Loại là Quả tim vì người mà sống, không phải vì mình mà sống. Quả tim vì mình mà sống ai ai cũng có. Còn Quả Tim vì nhân loại mà sống thì rất hiếm. Quả tim xã hội là Quả tim của mọi người, của mọi tầng lớp nhân dân, Quả Tim Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp khi quả tim ấy đập lên thì toàn xã hội như được hồi sinh trở lại, đời sống xã hội tươi vui, đâm chồi nẫy lộc đơm hoa kết trái. Thái bình Độc Lập tự do hạnh phúc. Quả tim ấy mang hơi thở truyền thống Cội Nguồn dòng máu Cha Ông làm cho Con Cháu hiện tại đoàn kết muôn người như một. Làm cho nhân loại đâm chồi Chính Nghĩa, nở hoa tự do, kết quả hạnh phúc. Nếu xã hội non sông Tổ Quốc nào toàn dân đều chung sống cùng một quả tim ấy. Quả Tim công bằng bình đẳng văn minh, thì còn lo gì không sống trong cảnh thái bình an lạc. Khi nhân loại có Quả Tim vì người không vì mình, mỗi nhịp đập của quả tim ấy là mỗi lần đem mùa xuân đến cho cuộc sống xã hội, đơm hoa kết trái sang giàu làm đẹp cho quê hương Tổ Quốc non sông.

Kinh Dương Vương nghe con nói như thế, thì kinh ngạc đến sửng sốt hỏi lại:

   Có Quả tim đó thật sao.

Thái Tử nói:

   Thưa Cha! Chỉ có Quả Tim vì Nhân Loại mới cứu nổi Nhân Loại. Quả tim của sự bất chiến tự nhiên thành. Quả tim Nhân Loại là quả tim công bằng bình đẳng không thuộc ở cá nhân riêng mình mà quả tim chung cho toàn xã hội. Nhân loại khổ là Quả tim ấy khổ, nhân loại vui là Quả tim ấy vui. Quả Tim luôn phục vụ cho cuộc sống nhân loại con người.

Kinh Dương Vương nhìn Thái Tử đầy vẻ thương yêu  nói:

   Không có Quả tim đó đâu con. Hiện nay trên toàn thế giới ngoài quả tim con người ra những bậc Vương Chúa họ còn có Quả Tim độc tài độc trị, làm gì có quả tim nhân loại.

Thái Tử nói:

   Thưa Cha! Làm Quốc Vương mà chỉ biết về mình, gia đình mình, dòng Họ mình, Tổ Quốc của mình thì vị Quốc Vương ấy chưa có Quả tim Nhân loại xã hội. Lúc nào cũng nói vì dân vì nước, vì nhân loại thế giới nhưng thật ra tất cả cũng chỉ là củng cố quyền lợi cho riêng của mình mà thôi.

Thái Tử lại nói:

   Vị Quốc Vương có Quả tim Nhân Loại, thì dân chúng chính là máu thịt của người. Nhân loại là anh em một nhà Dân chúng bị tổn thương thì chính ngài tổn thương, nhân loại khốn khổ thì người khốn khổ. Người có Quả tim vĩ đại ấy cứ mỗi nhịp đập là mỗi công bằng văn minh đem lại cuộc sống yên bình cho nhân loại.

Kinh Dương Vương như chợt hiểu nói:

   Con muốn nói đến Quả tim của Chuyển Luân Vương sao? Chỉ là huyền thoại thôi con.

Thái Tử nói:

   Không phải huyền thoại đâu Cha. Những ai hết lòng thương yêu nhân loại, thương yêu dân chúng như chính thương yêu bản thân mình người đó chính là Chuyển Luân Thánh Vương rồi. Muốn thế giới yên bình Cha ạ, chỉ có Quả tim Chuyển Luân Vương xuất hiện thì nhân loại mới được giải cứu thoát khổ.

Kinh Dương Vương nói:

   Chuyển Luân Vương chỉ là truyền thuyết không có thật đâu con. Không có cảnh bất chiến tự nhiên thành. Lập lên đất nước Tổ Quốc mà không cần tranh giành Quyền lực, không cần đụng đến gươm Đao giáo mác, chỉ có nụ cười và lời nói thay cho máu đổ đầu rơi không đánh mà thắng Thái Bình mãi mãi là chuyện chỉ có trong mơ mà thôi.

   Nếu quả thật có Chuyển Luân Vương xuất hiện thời bấy giờ, cái thời mà mạnh được yếu thua thắng làm Vua thua trở thành nô lệ thi Quả tim Nhân Loại Chuyển Luân xã hội ấy cũng đành bó tay không bao giờ dập được ngọn lửa tham lam tàn bạo đang bùng cháy dữ dội khắp Vương, Chúa đất nước, lại nữa vì trình độ dân trí hiện nay quá Lạc Hậu, lại bị các Quả tim ác Quỉ độc tài độc trị thống trị rồi, không có cảnh tự do mưu cầu hạnh phúc đâu.

   Hiện nay vận mệnh Quốc gia, non sông Tổ Quốc phải hùng mạnh có người chèo lái vững vàng, vì tình thế nhân loại hiện nay đang nỗi cơn tham lam tàn bạo sóng bạo lực dữ dội, mình không đánh họ, thời họ cũng sẽ đánh mình.

Kinh Dương Vương lại nói:

   Từ thời Hồng Đế tới thời Viêm Đế Thần Nông xuống tới thời Kinh Dương Vương Ta, kéo dài hàng triệu triệu năm với truyền thống lâu đời ấy, tinh thần đoàn kết trên dưới một lòng không có một dân tộc nào sánh kịp nhưng không có gì là tuyệt đối mãi. Gần trăm năm nay, tình thế có phần chuyển đổi, từ môn phái độc tài Thần giáo chuyển sang phong kiến độc tài Thần giáo, giáo Điều và Điều lệ cũng theo đó vượt lên chặt chẽ hơn. Cùng lúc ấy phái Duy vật giáo cũng nổi lên làm chao đảo tình thế sự của nhiều Vương Tộc trong đó có nước Xích Quỷ ta.

   Duy vật giáo suy tôn khoa học Duy Vật, luận chứng họ ca ngợi nền văn minh lúa nước cũng như nền văn minh hội họa giao tiếp thông điệp của ta, đưa nhân loại chuyển sang giai đoạn mới cũng như ca ngợi nền văn minh Tơ Tằm dệt lụa ở bên kia bờ Bắc sông Trường Giang, đem lại thật sự hữu ích cho con người. Còn phái Thần giáo thì chủ thuyết Tôn thờ Thần Linh, vì Thần Linh là chủ của thế giới phàm trần và bùa chú là một minh chứng hữu hiệu. Những ai chống trả lại liền bị Thần Linh giết chết.

   Hai giáo phái ấy mỗi ngày một lớn mạnh làm chao đảo tình hình phương Đông. Từ môn phái độc tài Thần giáo chuyển sang phong kiến độc tài Thần giáo, trường phái Duy vật bị phong kiến độc tài Thần giáo đánh bại. Nên Đại đa số học giả giáo sĩ phái Duy vật không còn trụ vững nơi phương Đông. Làm thuyết khách đi lần về phương Tây. Khi ấy phương Tây, trường phái phù thủy đang thịnh hành, là chủ nhân của giai cấp, chiếm hữu nô lệ và tiến tới thời cực thịnh của chiếm hữu nô lệ nguyên thủy. Và nghe đâu trường phái Duy vật được các phù thủy trọng dụng và nổi lên ở phương Tây xưng hùng xưng bá. Giai cấp phong kiến độc tài duy vật Địa Chủ ra đời ở Phương Tây mỗi lúc một hùng mạnh và đã lan truyền xuống phương Đông, nhất là ở các Địa phận Trung Đông. Lúc bấy giờ ở Trung Đông từ phong kiến độc tài Thần giáo đột phá đi lên, có nơi đã chuyển sang phong kiến độc tài Vua, Chúa thống trị như các nước hùng mạnh xa gần nước Xích Quỷ Ta. Vì thế giáo điều, điều lệ cũng nâng lên một tầm cao mới.

   Phong kiến độc tài Vua, Chúa, khác với Phong Kiến độc tài Thần Giáo. Phong Kiến độc tài Thần Giáo lấy giáo điều Thần Linh cai trị dân chúng. Có một số nước lạc hậu mê tín dị đoan.

   Phong Kiến độc tài Vua, Chúa lấy ý kiến triều Thần làm căn bản  đưa ra cách thức trị dân. Có nghĩa Vua Chúa nghe theo Triều Thần, không phải nghe theo giáo điều Thần Linh, như Phong Kiến độc tài Thần Giáo. Ở khu vực Trung Đông này đang lan tỏa rất nhanh, hình thành lên nhiều thế lực Phong Kiến độc tài Vua Chúa mở ra nhiều nền văn minh mới, xóa sổ lần độc tài Thần Giáo, cạnh tranh với Phong Kiến độc tài Thần Giáo. Và chiến tranh tranh giành thuộc địa ở khu vực Đông Á này thảm khốc vô cùng, chiếm hữu nô lệ thảm khốc vô cùng.

Nghe Cha kể lại sự biến động xã hội, trải qua hàng trăm năm, hàng nghìn năm có thể còn lâu xa hơn nữa, kiến thức của Cha quả thật hơn người Thái Tử lấy làm khâm phục. Có lẽ từ nơi người Cha thông thái dày kinh nghiệm này mà mình tìm thấy cái mình muốn tìm cũng nên vì nghĩ thế nên.

Thái Tử hỏi:

   Thưa Cha có phải con người ngày xưa họ thờ Cầm Thú như thờ Rắn, thờ Heo, thờ Trâu, thờ Bò, thờ Cọp, thờ Ngựa, thờ Cá, thờ Cây, thờ Đá có thật không?

Kinh Dương Vương đáp:

   Cần gì thời xưa mà ngay cả thời bây giờ cũng còn nhiều. Ở thời tiền sử có một số dân tộc lạc hậu, họ thấy loài Cầm Thú có yêu thuật họ suy tôn là Thần, rồi tôn thờ cúng bái nghe theo và làm theo những gì Thần Thú, Thần Cầm truyền dạy. Trở thành cuồng tín dị đoan làm hại cho bản thân, gia đình con cái kéo dài hàng triệu triệu năm. Nhưng lần lần các dân tộc tiến bộ, nhận thức được con người là chủ của muôn loài Cầm Thú, không còn sợ các loài Cầm Thú nữa thậm chí còn giết chết Thần Thú, Thần Cầm, những Thần hung hăng háo sát, không những thế mà còn săn bắn loài cầm loài thú to lớn để lấy thịt lấy da phục vụ cho con người, đời sống con người vì đó tiến lên một mức cao hơn. Nhân Loại tiến bộ, loại bỏ lần tôn thờ Thần Thú, Thần Cầm, chuyển sang giai đoạn thờ Thần Linh con người khám phá ra các Thần Linh con người là do sự tiến bộ tu luyện của con người mà ra, Linh Hồn tiến hóa lên các vị Thần như Thần Thổ Địa, Thần Núi, Thần Sông, Thần Biển, Thần Mưa, Thần Gió, Thần Lửa. Có những Linh Hồn tu luyện đạt đến đỉnh cao trở thành Thần Mặt Trời làm con của Trời. Những dân tộc văn minh thờ Thần Mặt Trời như Vương Tộc Long Giao ngoại của con.

   Không nói chi đến Vương Tộc Long Giao, mà ngay cả Vương Tộc Kinh Dương Vương ta cũng thờ Thần Mặt Trời. Thần hạnh phúc, Thần quyền năng những vị Thần có công hữu ích cho con người những nước lớn ở Phương Bắc như Đế Minh, Đế Lai, Đế Nghi thờ Thần Mặt Trời. Sự thờ cúng tế lễ của một số nước văn minh tiến bộ, đời sống con người vì thế phát triển. Các Triều Thần của nhiều nước cũng theo đó mà phát triển văn minh hơn. Sự tôn phong sùng kính lạy các Thần Linh con người cũng đi vào trật tự kiến lập lễ nghi, lễ nghĩa, lễ giáo, lễ vật đi vào đời sống xã hội con người. Nhân phẩm con người nhận thức theo đó ngày càng thiết thực phong phú hơn phân biệt trở thành Phong Kiến độc tài Thần Giáo, tiến tới Phong Kiến độc tài Vua Chúa. Đi vào trật tự, Quân, Dân, Cha Con, Chồng Vợ, Họ Tộc, xóm làng, xã hội Tổ Quốc vì thế nhân luân rõ ràng hơn cụ thể hơn. Có thể nói giai đoạn Phong Kiến độc tài Thần giáo đã đến thời cực thinh. Và chuyển sang Phong Kiến độc tài Vương, Vua, Chúa.

   Trường phái Duy vật tuy ra đời sau Thần giáo hàng triệu năm, hiện Thân của chủ thuyết chính trị độc tài độc trị, đối lập lại giáo trị độc tài độc trị Thần giáo, nói chung trường phái duy tâm Thần giáo. Trường phái Duy vật biện chứng đều rất lợi hại vì có cái lý đứng vững của nó làm cho con người dễ bị thuyết phục nghe theo làm theo.

   Có lần Cha cho mời hai trường phái đến để nghe thuyết giáo. Chủ thuyết Thần giáo phát triển xã hội theo hướng tinh thần, giáo dục con người theo giáo Đạo lời dạy của các Đấng Thần Linh.

   Chủ thuyết Duy vật giáo, phát triển xã hội theo đường lối phát triển đường hướng khoa học, đất nước nào làm chủ khoa học nhiều, thì đất nước đó sẽ thống lĩnh thiên hạ.

   Có một điều con nên hiểu, phái Duy vật là nhóm phái tôn thờ các nhà phát minh khoa học, Họ không phải là nhà khoa học mà họ chỉ là con chiêng sùng kính khoa học mà thôi. Cũng như các phái Thần giáo, họ không phải là các vị Thần mà Họ chỉ là con chiêng sùng kính các vị Thần mà thôi. Xét cho cùng hai trường phái này chỉ là hai trường phái Duy Tâm và Duy vật, họ chỉ là cái vỏ của Thần Linh và các nhà khoa học, cái lớp vỏ bọc phô trương vô cùng lợi hại của hai trường phái thi nhau ăn sâu vào xã hội con người. Cha là người cẩn thận vì quá hiểu rõ chúng vì chúng chưa phải là các Thần Linh, cũng như các nhà khoa học. Chỉ là trường phái Đấu Đá nhau cạnh tranh nhau mà thôi. Cha không tiếp nhận hai trường phái duy tâm, cũng như duy vật. Vì xưa nay truyền thống Anh Linh dân tộc ta chỉ tôn thờ Thần Mặt Trời con của Trời lấy Đạo Đức Nhơn Luân Hiếu Nghĩa, tôn thờ Ông, Bà, Cha, Mẹ, Tổ Tiên làm đầu, bảo vệ non sông Tổ Quốc làm trọng mà Ông Cha Ta hàng nghìn năm xây dựng nên.

*********

Hết phần 3 chương 7 mời xem tiếp phần 4 chương 7 Long Hoa Mật Tạng. Long Hoa Mật Tạng là bộ kinh, kinh văn thậm thâm sâu xa vị diệu ẩn tàng không biết là bao nhiêu là đạo pháp Chính Nghĩa. Ngay thời đại bây giờ cũng khó mà hiểu cho thấu đáo được. Huống chi là cách đây năm nghìn năm, nếu không được Quốc Tổ truyền dạy giải thích thì khó có ai hiểu nỗi một câu. Long Hoa Mật Tạng Kinh là bộ kinh Vua các Bộ Kinh. Bộ kinh không những trị quốc an dân, mà còn trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Bộ Kinh không gì quý hơn nữa. Người nào có trong tay Bộ Kinh nầy, đọc tụng hiểu được kinh văn thì coi như người đó đã tu vô lượng vô biên khiếp. Chỉ vì một nhân duyên lớn sanh xuống chốn nhân gian. Cứu nhân độ thế làm cho nhân loại yên bình, cũng như siêu sanh về thượng giới.

Có duyên gặp đặng kinh nầy

Tiêu tan tai kiếp sống đời bình an

Huống chi đọc tụng truyền kinh

Cầu chi đặng nấy ứng linh vô cùng

Hay là biên chép ấn in

Cõi trời sống mãi trường sanh đời đời

Huống chi hiểu nghĩa kinh thời

Lo gì chẳng đặng Thánh, Thần, Phật, Tiên.

 

*********

CHƯƠNG 7

PHẦN 4

TRANH GIÀNH THUỘC ĐỊA.

Kinh Dương Vương nói:

   Này con! Trường phái Duy vật bị trường phái Thần giáo đánh bại, mang hận thù đi về phương Tây. Còn nhắc nhở rằng sẽ đánh bại phái Thần giáo không xa khi xã hội Vua, Chúa phát triển.

   Các Bộ Lạc Chúa Đất ở phương Tây, đón tiếp trường phái Duy vật biện chứng vào hàng thượng khách, làm tôn sư thay thế cho phù thủy. Mở ra đường hướng chính trị thôn tính Độc Bá Thiên Hạ, tiến tới công lệ thay cho giáo Điều phù thủy. Điều lệ của Chúa Đất trước đây. Đặc ra kế sách khai thác tài nguyên thiên nhiên như Vàng, Bạc, Đồng Thau Lộ Thiên v.v… Rèn luyện lên Đao, Búa, Tên, Giáo v.v.. Từ nền phong kiến Chúa Đất chuyển sang giai đoạn sơ khai phong kiến độc tài Vua, Chúa. Các Chúa Đất lạc hậu liền bị thôn tính hoặc bị diệt trừ mở màn chiến tranh mỗi lúc một quy mô. Tranh giành nổi lên, tranh giành thuộc địa, thắng là Vua thua là giặc, thật ra mà nói giặc hay Vua cũng chẳng khác gì nhau. Những kẻ bị bắt làm tù binh với khẩu hiệu thuận ta thì sống, chống ta thì chết. Thây chất thành đống, máu nhuộm đỏ sông, từ chiến tranh, tranh giành thuộc Địa. Có chổ biến thành chiến tranh diệt chủng.

   Có thể nói nền phong kiến độc tài Thần giáo ở phương Đông đã đến hồi cực Thịnh, trở thành phong kiến Đế, Vương, Vua, Chúa thịnh hành ra đời. Thôn tính các Bộ Lạc, các Bộ Tộc trở thành cường quốc thế lực lớn lên từng ngày. Thật ra mà nói các dân tộc các Bộ Lạc, các Vương Quốc đều phát nguồn từ Hồng Bàng, Hồng Đế mà ra. Sự xưng Đế, Xưng Vương đã có từ lâu lắm rồi. Nước Xích Quỷ thời Kinh Dương Vương ta theo dòng chảy lịch sử lâu đời từ thời Hồng Đế tới bấy giờ. Thời Đại Kinh Dương Ta cũng đã kéo dài gần hai nghìn năm, cũng đã đến thời cực thịnh khó mà tránh khỏi kiếp nạn.

   Với hàng chục Bộ Tộc, Bộ Lạc, Vương Quốc lớn, Vương Quốc nhỏ, bao bọc xung quanh nước Xích Quỷ ta. Đáng ngại nhất là phương Bắc, bên kia bờ sông Trường Giang, các Vương Quốc lớn đã có mưu đồ từ lâu, thôn tính nước ta. Tuy việc chưa xảy ra nhưng cũng cần tính trước chuẩn bị khi cần. Nếu chúng ta tới đâu hay tới đó, một khi chiến tranh xảy ra, thì bị động khó đối phó kịp. Cảnh chết chóc, nhà tan cửa nát, quê hương làng xóm tiêu điều, chiến tranh, tranh giành thuộc địa là chiến tranh mạnh được yếu thua, chiến tranh diệt chủng. Địa ngục, nô lệ, tù đày đến với con người nhanh hơn tên bắn. Xã hội nhân loại đại loạn không luật lệ gì cả, giải quyết với nhau bằng gươm, đao, giáo, mác mà thôi.

   Cha đã xem kỹ Phong Thủy Địa Mộc nước Xích Quỷ ta. Chỉ có lợi cho mặt chăn nuôi, trồng trọt, đánh bắt cấy lúa. Nói chung là thuận lợi cho mặt làm giàu, đất đai phần nhiều là bằng phẳng, ít hiểm trở, sông ngòi kinh rạch chằn chịt, thông ra biển. Nước ta tuy lớn nhưng nằm ở thế bao vây, thế lực từ các dãy núi cao đánh xuống, Lĩnh Nam yêu quái đánh ra, ngoài biển đánh vào, các thế lực phương Bắc đánh vô, thì nước Xích Quỉ ta dần thu hẹp lại. Nhưng Cha vẫn chưa tìm ra giải pháp ứng phó, về lâu về dài. Theo Cha nghĩ chỉ có một cách duy nhất, muốn giữ được non sông màu mở nầy, thì phải có hai loại vũ khí, không phải là loại vũ khí Đồng Thau tầm thường mà là thứ vũ khí Bảo Bối hiện đại vũ trụ, có thể một nhát Đao nhát Búa tiêu diệt cả Đại Quân xâm lược. thứ Bảo Bối thứ hai là Bảo Bối Binh Pháp Trí Tuệ, điều khiển Thiên Hạ muôn người như một. Tập hợp sức mạnh toàn dân tộc thành một khối thống nhất, nhất hô bá ứng. Mỗi người dân là một Dũng sĩ diệt giặc, nước Xích Quỷ như một bó đũa khổng lồ không ai địch nổi nữa. Ngoại xâm kéo đến chỉ có đi mà không có về. Nước Xích Quỷ ta từ lâu lúc nào cũng phòng thủ chuẩn bị cho tình huống xấu nhất xảy ra.

Kinh Dương Vương nói:

   Phái Thần giáo thuộc Dương sẽ có lợi cho dân tộc về mặt tinh thần nhưng có hại cho dân tộc về mặt phát triển vì xu thế mê tín nô lệ Thần Quyền, đời sống vật chất, lệ thuộc Thần Linh nhiều quá. Trước bối cảnh thiên nhiên như nắng hạn, Lụt Bão, ốm đau dịch bịnh, không lo tìm ra phương pháp cứu chữa, chỉ lo cầu cạnh lễ cúng tế Thần Linh mà quên đời sống có làm mới có hưởng. Chiến đấu với bệnh tật, không ngoài tìm ra phương thuốc trị bệnh. Chiến đấu với cái đói cái nghèo, không ngoài tìm tòi phát minh khoa học biết vận dụng sức mạnh thiên nhiên làm lợi cho cuộc sống con người. Đẩy lùi lạc hậu con người không ngoài nâng cao trình độ nhận thức. Lệ thuộc nô lệ vào Thần Linh nhiều quá, không tự bảo vệ được mình, thì bảo vệ xã hội sao nổi, nói gì đến non sông Tổ Quốc. Nếu không tìm tài phát minh sáng kiến tiêu diệt đẩy lùi bệnh tật, đói nghèo, lạc hậu là mối lo chung cho toàn xã hội. Nếu không hạn chế lệ thuộc thiên nhiên cũng thời tiết, thì tai họa ập đến khó mà lường, những năm xảy ra đầy khắc nghiệt, hạn chế thất thu, dân tình đói khổ. Làm Vương một đất nước mà không giữ vững được đời sống ấm no cho muôn dân. Thì không đánh giặc, giặc cũng đánh ta.

   Một khi chiến tranh đã nổ ra. Thì Thần Linh cũng vô phương cứu chữa, không ngăn nổi chiến tranh. Thờ phụng Thần Linh là một điều tốt, hể có cảm thì có ứng. Nhưng Thần Linh không phải là Đấng tối cao Quyền Năng Vô Hạn nên Thần Linh cũng bất lực trước thiên nhiên, trước xung đột chiến tranh. Vì vậy phái Thần giáo cũng không giải quyết được gì lớn lao cho con người cho non sông Tổ Quốc nước Xích Quỷ Ta về sau. Nhất là các thế lực đang trên đà hùng mạnh dòm ngó đến đất nước ta.

   Nhưng nước Xích Quỷ ta chỉ biết lao theo quyền lực lạm dụng độc tài độc trị, làm cho ai cũng phải khiếp sợ. Theo xu hướng phái Duy vật, chỉ biết tôn thờ cái lợi trước mắt mà quên đi cái hại về sau. Đẩy tình thế vào cuộc tranh giành quyền lực thảm khốc như các thế lực tranh giành thuộc địa ở phương Tây. Có nơi đi đến cảnh diệt chủng. Theo Quốc Sư Thục Lục nước Xích Quỷ Ta, ngựa chiến nhiều quân lực phải mạnh, lương thực đầy đủ, Vũ khí sắc bén nhất là cung tên đao giáo kiếm. Phát huy giáo dục tinh thần yêu nước thì khó nước nào đánh bại được nước Ta.

Thái Tử nói:

   Thưa Cha! Quốc Sư Thục Lục là người biết lo xa các nước hùng mạnh khác chưa dám tấn công xâm lược nước ta. Là vì chúng thấy Quốc Vương nước Xích Quỷ không tửu sắc, không tham tàn bạo ác rất được lòng dân hơn hẳn những các Quốc Vương khác, lại có một vị Quốc Sư lắm tài ba khó có ai hơn được. Nhưng đó chỉ là hiện nay mà thôi còn về lâu về dài khó mà nói trước. Cuộc thế chuyển xây thay đổi bất thường.

Theo như con nghĩ:

   Một Quốc gia hùng mạnh ấm no hạnh phúc trên hẳn các Vương Quốc khác, xã hội đó có đủ hai yếu tố, văn minh tinh thần, văn minh vật chất. Văn minh vật chất là yếu tố tiến lên dân giàu nước mạnh, giàu về kinh tế, mạnh về quân lực. Văn minh tinh thần là văn minh Chính Nghĩa, nâng cao trình độ dân trí chấn hưng dân khí. Văn Minh tinh thần là Văn Minh Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp phục vụ công bằng văn minh xã hội, thì đất nước đó mới thật sự hùng mạnh, thật sự dân giàu nước mạnh, thi coi như đánh bại hơn một nữa ý chí xâm lược của các thế lực ngoại xâm. Ngăn chặn được ngoại xâm mà không cần động đến gươm đao giáo mác.

   Muốn có được xã hội như vậy không thể tìm thấy ở trường phái Thần giáo hay ở các vị Thần Linh. Cũng không thể tìm thấy ở trường phái Duy vật tôn thờ khoa học hay ở nhà khoa học mà là ở vị Quốc Vương sáng suốt, thực hiện đường lối đúng đắng thông thoáng rộng mở, lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh sẳn có nơi dân. Làm tiền đồ cho non sông Tổ Quốc, tận dụng Tinh Hoa trường phái Thần giáo cũng như trường phái Duy vật giáo làm lợi cho xã hội cho Tổ Quốc. Như con ong chăm chỉ, chỉ lấy mật không lấy hoa. Chỉ vận dụng tinh hoa Duy Tâm Thần Giáo, Duy Vật Biện Chứng. Mà không cần dùng đến phái Duy Vật, hay phái Duy Tâm. Hai trường phái nầy đều cản trở cho việc phát triển văn minh xã hội.

   Nói cho cùng Văn Minh vật chất đưa xã hội đến no cơm ấm áo, binh hùng cường mạnh, xã hội giàu sang, Tổ Quốc giàu mạnh, không sợ đói nghèo.

   Văn minh tinh thần là văn minh Văn Hóa Chính Nghĩa là rường cột trật tự xã hội, cốt lõi tạo lên nội lực non sông Tổ Quốc. Tạo lên khí thế tinh thần yêu nước, tạo lên sức mạnh đoàn kết muôn người như một sức mạnh dời non lấp biển. Cũng như con người đứng vững là nhờ cốt lõi bộ xương cứng cỏi vững vàng của con người. Tinh Thần đứng vững là nhờ cốt lõi của văn hóa truyền thống. Nếu biết vận dụng tinh hoa hai trường phái Duy tâm lẫn Duy vật thời đất nước đó là đất nước bất bại, khó đất nước nào đánh bại được. Dù cho đó là cường quốc lớn hơn gấp năm bảy lần.

*********

Hết phần 4 chương 7 mời xem tiếp phần 5 chương 7 Long Hoa Mật Tạng. Long Hoa Mật Tạng Kinh là Văn Kinh tối thượng thừa, chỉ cần nhớ một câu một chữ không quên, lại hiểu rõ ý nghĩa câu kinh ấy thời coi như không còn sa đọa xuống địa ngục. Vì sao lại có hiệu lực như vậy. Vì kinh văn Long Hoa Mật Tạng Kinh, là Kinh Văn Mật Tạng, Kinh Văn Thượng Thừa của các loại Kinh, không những tối đại linh thiên mà còn thậm thâm vi diệu. Nơi nào có Kinh Long Hoa Mật Tạng. Thời nơi đó có Hồn Thiên Dân Tộc phò trì, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, che chở. Vượt qua tất cả kiếp nạn.

Nơi nào có Kinh

Nơi đó có Quốc Tổ Vua Hùng

Hồn Thiên Dân Tộc trùng trùng

Phò trì hộ giá, Thánh, Thần chở che.

 

*********

CHƯƠNG 7

PHẦN 5

CHỦ NGHĨA THỨ BA

Kinh Dương Vương nói:

   Tinh hoa của hai trường phái đó là gì. Nếu sử dụng cả hai trường phái đó thì khó mà hòa hợp được. Vì hai trường phái ấy như nước và lửa, như âm và Dương, khó mà dung hòa hai trường phái lại với nhau. Ở phương Đông ta chưa có vị nào đủ sức kết hợp hai trường phái ấy thành một, làm lợi ích cho quốc gia xã hội.

Thái Tử nói:

   Thưa Cha! Sự sống con người là sự sống Tâm Linh và Thể xác luôn song hành, cuộc sống xã hội con người là cuộc sống tinh thần lẫn vật chất. Thần Linh và các nhà Bác Học, khoa học không thể thiếu trong đời sống xã hội, cũng như con người. Vì thế duy vật cũng như duy tâm đều quý cả nếu biết tận dụng lấy nó.

Ở đây con muốn nói là:

   Cha có thể vận dụng cái hay Tinh Hoa của hai trường phái. Trường phái Duy Tâm Thần Giáo cái hay ở đây là sự tín ngưỡng Giáo dục, giáo điều chân chính của duy tâm Thần Giáo. Kết dính nhân loại lại với nhau, đồng chung sự tôn thờ, cũng như sự tôn nghiêm trong cuộc sống. Ổn định xã hội về mặt Tinh Thần. Giáo điều của các đấng Thần Linh bao giờ cũng có hiệu quả hơn là Vương Quan truyền dạy.

   Cái lợi của Trường Phái Duy Vật là làm cho con người nhận thức về khoa học chuyên sâu về vật chất và sự đấu tranh tồn tại, mình muốn sống vững thời đứng lên từ đôi chân tự bảo vệ mình, tin vào chính mình và luôn hướng tới đạt được mục đích những gì mình muốn. Sức mạnh kết hợp tinh hoa giữa Duy Tâm cùng Duy Vật làm lợi cho xã hội. Văn Minh vật chất lẫn Tinh Thần.

Mọi vạn vật sống trên đời, sự sống bao giờ cũng song hành cả Âm lẫn Dương ở cảnh giới Trung Hòa, hòa hợp lẫn nhau đồng tiến hóa. Nếu chỉ Âm không, hay Dương không, khi đã đến thời kỳ quá độ không những khó phát triển, mà tự nó trở lại xung đột lẫn nhau hủy diệt nhau. Sự ở đời cũng cho ta thấy Âm Dương tượng hiệp vạn vật hóa sanh. Nam Nữ trao trinh sanh con cháu lưu truyền.

   Để nhận thức được rõ hơn về tinh hoa của hai trường phái, thời phải lắng nghe hai trường phái thuyết giáo, lọc lựa những tinh hoa những mặt có lợi an dân trị quốc. Cha chính là con ong chăm chỉ, tận tụy lắng nghe, khi nào nào hai đóa hoa Duy Tâm lẫn Duy vật không còn mật để hút nữa thì thưởng vàng bạc châu báu cho họ, không xài họ, lấy kiến thức của người, không lấy người. Lấy cái hay của trường phái không sử dụng trường phái. Cũng như con ong chỉ lấy mật không lấy hoa.

   Các loài hoa tuy khác nhau về màu sắc, về hình dạng nhưng Tinh của các loài hoa đồng cùng vị ngọt, không xung khắc nhau. Không những dùng mật ong trị bệnh mà còn bỗ dưỡng nữa. Không những trường phái Duy Tâm, Duy vật, còn nhiều trường phái nữa. Chúng đều có tinh hoa của chúng, ta cần nhiều trường phái, không phải dùng họ mà tôm gốp tinh hoa của họ, dung hòa thành một. Mở ra một hướng đi mới. Hướng đi trong lòng người, trong lòng nhân loại, đưa xã hội tiến lên một tầm cao. Chủ Nghĩa Đại Đồng. Chủ Nghĩa nhân quyền, Dân Chủ. Chủ Nghĩa Công Bằng Bình Đẳng xã hội.

Kinh Dương Vương càng nghe càng sáng mắt ra, hết kinh ngạc nầy đến kinh ngạc khác.

Kinh Dương nói:

   Xưa nay, Cha chưa từng nghe nói một chủ nghĩa lạ lùng như vậy. Không hiểu chủ nghĩa ấy có thực hiện được không? đưa đến dân giàu nước mạnh không? Có chống đở nổi các thế lực ngoại xâm không?

Thái Tử Nói:

   Chủ nghĩa Đại Đồng là chủ nghĩa lấy Quyền con người làm nền tảng Nhân Quyền. Chủ nghĩa lấy Dân làm Gốc Dân Chủ. Đất nước Xích Quỷ Ta không chỉ một dân tộc mà đa dân tộc (đa sắc tộc) có trên mấy mươi Bộ Lạc, mỗi Bộ Lạc điều có phong tục tập tập quán bản sắc riêng. Dân Tộc Đa Nguyên như nước Xích Quỷ ta. Không phù hợp thể chế độc tài độc trị. Mà chỉ phù hợp thể chế Đa Nguyên.

   MỘT ĐẤT NƯỚC CHUNG CÙNG ĐA BỘ LẠC, ĐA SẮC TỘC NHƯ THẾ THÌ PHẢI SỐNG DƯỚI NGÔI NHÀ CHUNG HIẾN PHÁP, LUẬT PHÁP, ĐẠO PHÁP. ĐƯỢC THIẾT LẬP TRÊN NỀN TẢNG CHUNG ĐA NGUYÊN, NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ.

   Chủ Nghĩa Đại Đồng là chủ nghĩa Đa Nguyên, Nhân Quyền, Dân Chủ. Tiến tới Chủ Nghĩa Đa Nguyên Thiên Quyên Nhân Chủ. Chủ Nghĩa bao hàm cả cái Chung lẫn cái Riêng là một. Thống nhất cùng chung quyền lợi, giữa cá nhân cũng như tập thể, giữa Tư Hữu và Công Hữu. Xã hội vừa khoa học vật chất vừa truyền thống Tâm Linh, xã hội Thần Thánh, xã hội Công Bằng văn minh. Tất cả đều sống theo Đạo Pháp Truyền Thống. Sống theo Hiến pháp Nhân quyền Dân Chủ. Sống theo Luật pháp Công Bằng Bình Đẳng. Vương, Quan là đầy tớ trung thành của Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, phải nói là tuyệt đối trung thành, truyền thống Đạo Pháp dân tộc, trung thành Hiến pháp, Luật pháp mà Quốc Vương là vị tối cao Đại Diện cho mọi tầng lớp nhân dân thể hiện sự Trung Thành đó.

   Nắm vững Cán Cân Công Lý. Thi Hành Đạo Pháp truyền thống dân tộc, thi hành nhân quyền con người, thi hành Luật pháp Công Bằng xã hội. Các cấp Chính Quyền, Vương Quan các cấp cầm cân nẩy mực, làm trọng tài cho cạnh tranh bình đẳng, đưa xã hội lên một tầm cao. Không những giữ vững Độc Lập mà còn làm khiếp đảm các thế lực ngoại xâm, một đất nước toàn dân đều là làm chủ đất nước đó. Thử hỏi nước nào mạnh hơn để mà xâm lược.

   Một đất nước mà toàn dân đều có bổn phận đối với xã hội đối với non sông Tổ Quốc, đối với truyền thông anh linh dân tộc. Tuân thủ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, thì không nói cũng biết đất nước đó hùng mạnh tới mức độ nào. Một đất nước mà có Tam Bảo Chí Tôn, chính là Nền Quốc Đạo dân tộc. Dân đã có gốc thì dân mạnh vô cùng, Chủ Nghĩa Đại Đồng đa nguyên Nhân Quyền Dân Chủ là Chủ Nghĩa thật sự  của dân, do dân và vì dân. Nhà nước lấy Quyền con người làm nền tảng lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh Dân Chủ toàn dân, thời khó khăn nào cũng vượt qua kẻ thù nào cũng đánh thắng, kinh tế, chính trị, quân sự vững như núi như non.

   Sự hưng thịnh của nền Phong Kiến Thần Giáo đã tới hồi cực thịnh suy vong, nhất là ở phương Đông chúng ta. Phía bên kia bờ Bắc thượng nguồn sông Dương Tử Trường Giang. Có Vương Quốc đã chuyển sang Phong Kiến Chế Độ Vua Chúa, kiến lập lên nhiều giáo điều, quân lực, xã hội, chính trị càng ngày càng thêm củng cố. Muốn chuyển xây tình thế chúng ta vượt lên trên phong kiến Chế Độ Vương, Vua, Chúa. Tiến tới xã hội mạnh về Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp truyền thống Chính Nghĩa, mạnh về khoa học đời sống, đưa giáo dục Văn Hóa lên hàng Quốc Sách, vượt lên trên Thần Giáo. Xóa bỏ mê tín tiến lên chánh tín khoa học, Đạo Đức đời sống Tâm Linh. Thì không còn lo sợ gì nữa.

Thái Tử Hùng Lan thấy Cha có vẻ lo lắng về tương lai luận thuyết của mình, liền nói thêm rằng:

   Thưa Cha con đã có cách và tìm ra hướng đi mới. Kinh Dương Vương nghe con nói thế liền phấn khởi tin tưởng những gì tương lai của con mình. Kinh Dương Vương khen con không những có chí lớn, mà còn biết lèo lái con thuyền vận mệnh dân tộc, tài lắm, tài lắm.

Kinh Dương Vương bất ngờ hỏi:

   Con đã tìm ra Căn Cội, Chủ Nghĩa thứ ba, Chủ Nghĩa Đại Đồng Đa Nguyên Nhân Quyền Dân Chủ rồi sao?

Thái Tử nói:

   Thưa Cha đúng vậy. Không đánh mà thắng, gồm thâu thiên hạ về một mối, đó là thượng sách. Bất chiến tự nhiên thành. Nhưng làm được điều này rất khó, phải thật sự làm chủ Tâm Linh của mình.

Thông đạt chứng ngộ đến tận cùng vũ trụ.

Tận cùng nguồn gốc của thế giới vật chất.

Tận cùng nguồn gốc nhân loại con người.

Tận cùng nguồn gốc Tâm Linh con người

   Tạo ra Chủ Nghĩa thứ ba. Chủ Nghĩa thật sự Công Bằng Bình Đẳng văn minh. Chủ Nghĩa của Nhân Loại, do Nhân Loại, vì Nhân Loại. Chủ Nghĩa của sự đoàn kết, chủ nghĩa của sự hùng mạnh văn minh vật chất, văn minh tinh thần. Chủ Nghĩa của sự Độc Lập vĩnh cửu. Chủ Nghĩa Thần Thánh. Chủ Nghĩa của sự giàu sang, tự do hạnh phúc.

   Dùng vũ lực, bạo lực, gươm đao, giáo mác, cung tên, ngựa hay voi tốt, mưu mô xảo quyệt, biết người biết ta, giành lấy thiên hạ chỉ là hạ sách mà thôi. Xây dựng cơ nghiệp hoặc bảo vệ cơ nghiệp trên đường lối, đường hướng Tà Đạo như vậy. Thì Độc Lập lâu dài không bền vững. Thời gian sẽ vùi lấp tất cả.

Kinh Dương Vương nghe nói đến bốn chữ không đánh mà thắng gồm thâu thiên hạ về một mối, bất chiến tự nhiên thành, thì hỏi:

   Điều này có thật không?

Thái Tử đáp:

   Thưa Cha có ạ; Đó là Thiên Đạo vũ trụ Văn Hóa Cội Nguồn. Chỉ có Đạo Trời mới gồm thâu muôn vật, mà chỉ có Văn Hóa Cội Nguồn mới gồm thâu được nhân loại thiên hạ. Văn Hóa Cội Nguồn là đỉnh cao Tinh Hoa của nhiều trường phái  Chủ Nghĩa thứ 3. Chính là Chủ Nghĩa Đại Đồng Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Đa Nguyên Nhân Quyền Dân Chủ thật sự Công Bằng văn minh.

   Nếu tìm đến tận cùng nguồn Cội vũ trụ, thì tất cả sẽ được chứng minh về Nguồn Cội Đa Nguyên, Nhân Quyền, Dân Chủ. Tìm cho ra sự sống đều phát nguồn từ bản thể Đại Đồng. Bản Thể Tối Cao Vũ Trụ. Và cũng tìm thấy sức mạnh vũ trụ. Sức Mạnh Cái Chung Toàn Hoàn Vũ, Vũ Trụ. Chứng minh cho được Đại Linh Hồn vũ trụ. Đại Thần Lực vũ trụ tiến hóa tạo ra thế giới vật chất vũ trụ. Đại Linh Hồn vũ trụ khởi tạo ra Tiểu Linh Hồn con người. Có làm được như vậy mới tìm ra được chủ nghĩa thứ ba. Chủ Nghĩa Tinh Hoa cả Duy Tâm lẫn Duy Vật. Chủ Nghĩa của sự bất chiến tự nhiên thành.

Kinh Vương Dương hỏi:

   Bằng cách nào con tìm ra Cội Nguồn vũ trụ? Để tìm ra Chủ Nghĩa thứ 3. Nguồn Cội của Chủ Nghĩa Đa Nguyên, Nhân Quyền Dân Chủ  Đại Đồng?

Thái Tử đáp:

   Thưa Cha! Nếu không tìm ra Cội Nguồn của Chủ Nghĩa Đa Nguyên Nhân Quyền Dân Chủ. Mà chỉ thực hiện Đa Nguyên Nhân Quyền Dân Chủ. Thì không thành Chủ Nghĩa Đại Đồng, rơi vào Tư Bản Chủ Nghĩa mà thôi. Chủ Nghĩa chưa rốt ráo Công Bằng Bình Đẳng văn minh.

   Để tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn. Trước hết ta phải nắm bắt Linh Hồn của chính mình, thu phục tâm viên, ý mã hàng phục vô lượng thức tánh trong tâm, kể cả thiện tánh, trí tánh, ác tánh, trở về tánh không, tánh không tánh, chính là tự nhiên tánh, làm chủ Tự Nhiên Tánh chân như hư không vũ trụ, như như tự tại thời hàng phục tất cả Ma Tánh, Quỉ Tánh, Phàm Tánh trong tâm linh của mỗi con người. Sự hàng phục này phải có thời gian lâu hay mau là do nổ lực quyết tâm của mình. Như người diễn xiếc hàng phục Thú Cầm, người biểu sao thì Thú Cầm làm theo vậy, khi làm chủ được vô lượng thức tánh Linh Hồn của chính mình, thì coi như chiếc chìa khóa vạn năng mở tung bí mật vũ trụ đã ở trong tay.

   Cũng như bọt nước nó đã làm chủ được nó và tự điều khiển nó xâm nhập vào bản thể của nước, tìm hiểu nước vì nước là Cội Nguồn của tất cả bọt nước, và từ nơi bản thể của nước, bọt nước sẽ tìm ra cái Văn Hóa Đa Nguyên Nhân Quyền Dân Chủ Cội Nguồn mình cần. Khi tiểu Linh Hồn con người hòa nhập vào Đại Linh Hồn vũ trụ, bước vào kho tàng tri thức vũ trụ và chọn nơi đây những tri thức bổ ích xây dựng lên Chủ Nghĩa tri thức, Chủ Nghĩa văn minh bậc nhất thiên hạ.

   Chủ Nghĩa mùa xuân, đồng vị ngọt của các loại hoa. Chủ Nghĩa ở đỉnh cao. Chủ Nghĩa của xã hội đỉnh cao tri thức, trên hẳn Chủ Nghĩa tư hữu và công hữu.

Chủ Nghĩa Đại Đồng là chủ nghĩa kết hợp lợi ích giữa cái Công và cái Tư. Chủ Nghĩa Thần Thánh. Thiên Đạo vũ trụ Văn Hóa Cội Nguồn là con đường Thần Thánh rộng lớn, xuyên suốt không gian thời gian, xuyên suốt quá khứ vị lai sẽ trở thành Nền Quốc Đạo sau này. Đệ nhất Gươm Thiên Trấn Quốc.

Kinh Dương Vương mừng rỡ hỏi:

   Con đã tìm ra Chủ Nghĩa tri thức đỉnh cao nhân loại phải không?

Thái Tử đáp:

   Thưa Cha đúng vậy. Chỉ cần kiểm chứng lại nữa mà thôi.

Sự kiểm chứng ấy Thái Tử Hùng Lan phải mất sáu năm gian khổ, mới thật sự tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn. Con đường chủ nghĩa tri thức đỉnh cao xã hội, mở ra giai đoạn lịch sử mới đưa xã hội nhà nước Văn Lang lên một tầm cao kéo dài Độc Lập 2701 năm. Thì Văn Hóa Cội Nguồn, chủ nghĩa đỉnh cao tri thức đi vào thất truyền.

*********

Hết phần 5 chương 7 mời xem tiếp phần 1 chương 8 Long Hoa Mật Tạng. Bộ Kinh tối cao có một không hai trên đời.

 

*********

CHƯƠNG 8

PHẦN 1

GIAI ĐOẠN KHÓ KHĂN MỞ MÀN TIÊN ĐẠO

Theo yêu cầu của Thái Tử. Kinh Dương Vương cho xây dựng tại khu vườn cấm một ngôi nhà khang trang, ba phòng rộng rãi thoáng mát, đầy đủ tiện nghi. Cách cung Đình không xa về hướng Tây Nam khoảng hơn năm dặm. Khu vườn cấm là khu vườn được xây dựng từ lâu, từ thời Kinh Dương Vương đời thứ năm, kiến tạo hơn 10 năm mới xong. Phải nói khu vườn cấm là khu vườn cấp cao, đa dạng thực vật hiếm lạ. Nơi đây được trồng nhiều loại gỗ quí, nhiều loại hoa quí, nhiều loài cây ăn trái quí hiếm cho quả thơm ngon bổ dưỡng. Có hơn trăm loài Chim thường bay tới đây nhất là mùa quả chín, trong đó có cả Chim Phụng Hoàng.

Khu vườn rộng chừng hơn 3 dặm tư vuông được kiến trúc tạo lập, sông, suối, ao hồ, non bộ đường đi ngan dọc lắm công phu. Khu vườn cấm là khu vườn đặc biệt không ai được đến, chỉ trừ Quốc vương, vương Hậu, vương Phi hoặc Thái Tử, Công Chúa mà thôi. Vì kiến trúc nơi đây Châu báu, ngọc ngà, vàng bạc, châu báu nhiều vô số kể.

Hàng năm được tu bổ sửa sang nên quan cảnh nơi đây ví như Tiên Cảnh Bồng Lai thượng giới, nhất là những độ xuân về. Hương Hoa ngào ngạt. Đức Kinh Dương Vương cùng gia đình đến đây du ngoạn thưởng thức vẻ đẹp phong cảnh, nghe chim hót, nghe chim ca, xem hoa nở, nghe thát reo, ăn quả ngọt, dạo chơi cả ngày cũng không thấy chán. Quả đúng nơi đây vừa thanh tịnh, vắng vẻ, vừa không sợ đói khát rất phù hợp cho con người chân tu đạt đến cảnh giới tối cao vũ trụ. Mở ra Chân Trời mới.

Từ khi Thái Tử đến khu vườn này để tu luyện, hầu tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn, Thái Tử là người văn hay giỏi võ, giỏi kế thừa chân truyền Cha mẹ. Kinh Dương Vương và Thần Long Nữ. Võ nghệ pháp thuật cao cường đi trên mặt nước như đi trên đất liền, phi thân trên ngọn cây như đi trên đường lộ. Tuy còn trẻ tuổi nhưng khó có người địch lại. Với sự thừa kế Văn Võ của Cha Mẹ Thái Tử đủ sức bảo vệ lấy mình không sợ bất cứ đối thủ nào, dù cho đó là yêu tinh quỉ dữ.

Tuy Thái Tử đã đến khu vườn cấm, nhưng Thái Tử chưa một lần dạo chơi, suốt ngày ở trong thiền phòng, tập trung tư tưởng tham thiền quán tưởng. Hầu mong nắm bắt được Linh Hồn của chính mình, sự bao hàm ý nghĩ tràn lan, không biết đâu là đầu mối, nắm bắt chỗ nào. Cũng không biết khởi đầu từ đâu. Đã hơn một tháng trôi qua mà chẳng nắm bắt được gì. Càng suy luận càng rơi vào đâu đâu, càng thêm mờ mịt, bế tắc. Thái Tử kiên nhẫn chuyển đổi tư duy quán tưởng những đối tượng cần tìm. Trước hết là Thần giáo.

Thái Tử liền tập trung quán nghiệm các giáo điều của các giáo phái Thần giáo. Không thấy chỗ nào là nắm bắt Linh Hồn, làm chủ Linh Hồn của mình cả, mà chỉ là một giáo lý nô lệ. Nô lệ Thần Linh, nô lệ Thần quyền, nô lệ cho thói hư tật xấu đầy tham vọng của mình. Rơi vào tà kiến, thờ cúng Thần Linh cũng chỉ vì sơ sệt, cầu tài được lợi, cầu quyền cầu lực, cầu vô bệnh, cầu bớt bệnh, nhờ Thần Linh ban phúc cho mình. Theo sự phán xét của Thần Linh tự trói buộc mình vào cảnh mê tín nô lệ. Theo các trường phái Thần giáo Linh Hồn không bao giờ tự chủ, làm chủ được mình, mãi mãi là con chiêng nô lệ của các Thần Linh. Mà Thần Linh nào phải Đấng tối cao vũ trụ, quyền năng có hạn, có những điều Thần Linh cũng đành bó tay như chiến tranh xung đột xảy ra Thần Linh không ngăn cản được. Đói nghèo lạc hậu Thần Linh không giải quyết được. Thói hư tật xấu trong người làm hại bản thân, gia đình, xã hội, Thần Linh đành bó tay và còn nhiều thứ Thần Linh bất lực chỉ biết đứng nhìn không làm nổi.

Thái Tử càng nghĩ càng thấy chán, vì các trường phái Thần giáo còn ở đâu xa cái mà Thái Tử cần. Đó là Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng. Cội Nguồn của Chủ Nghĩa Đa Nguyên Nhân Quyền Dân Chủ giải thoát đói nghèo giải thoát nô lệ, tiến tới giải thoát sanh tử. Làm Chủ Linh Hồn làm chủ vận mệnh của chính mình. Chủ Nghĩa của sự Công Bằng văn minh, dân giàu nước mạnh, làm khiếp đảm các thế lực ngoại xâm. Giữ vững nền Độc Lập dân tộc lâu dài.

Thái Tử thấy rõ các trường phái Thần giáo chỉ là những giáo phái tôn thờ các Đấng Thần Linh. Nhờ tu thiền luyện khí có chút ít pháp thuật thần thông, nhưng pháp thuật thần thông không làm cho xã hội Công Bằng Bình Đẳng. Cũng như nâng cao trình độ nhận thức con người hiểu biết về nhân cách đạo đức. Lại đặt ra những giáo điều bó buộc con người quá lớn. Xu hướng lệ thuộc vào Thần Linh, ỷ lại vào các Đấng Thần Linh, phó mặt cho nghèo đói, chiến tranh và lạc hậu, phó mặt cho thói hư tật xấu do con người gây ra, làm bẩn dơ xã hội.

Thái Tử nhàm chán Trường Phái Thần Giáo chuyển sang mục tiêu khác, mục tiêu pháp chú Thần quyền. Nghiên cứu tất cả Ma thuật, yêu thuật, pháp chú Thần Quyền. Thái Tử càng thấy mù xa những gì mà mình đang tìm. Càng chuyên sâu về Thần Quyền càng rơi vào Mê Tín không phải Chánh Tín. Cái Tin hướng ngoại không phải cái tin nội tâm. Vì thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa từ nội tâm mà ra, không phải vọng cầu mà có. Huống chi là làm chủ linh hồn hàng phục vô lượng vô biên duy thức trong tâm, tiến tới an định tự nhiên hội khập vào Cội Nguồn Vũ Trụ.

Mục đích tu luyện Yêu thuật Ma thuật phục vụ cho lòng tham vọng của mình, phục vụ cho sự tranh bá, tranh quyền điều khiển âm linh tứ tượng, ngũ hành bát quái. Triệu Quỉ gọi Thần dùng tâm lực, luyện bùa, luyện chú, luyện pháp thuật như đi mây về gió, sái đậu thành binh. Tuy có công năng chữa bệnh trừ tà nhưng chỉ là thứ bệnh tầm thường, còn những chứng bệnh nan y tạo ra thì bất lực vô phương cứu chữa. Nhất là những thứ bệnh tâm như thói hư tật xấu lại càng vô phương cứu chữa hơn. Dù cho có tu luyện Yêu Thuật Ma Thuật tu luyện đỉnh cao. Cũng không có tác dụng  cho việc trị quốc an dân xây dựng lên xã hội công bằng văn minh, xã hội đỉnh cao tri thức của Nhân Loại, xã hội dân giàu nước mạnh thiên đàng trần gian, xã hội văn minh Tinh Thần, văn minh vật chất.

Thái Tử nghĩ chuyên sâu về pháp chú Thần Quyền, không những không đưa linh hồn đến đỉnh Chân Như Chánh Đẳng Chánh Giác mà còn làm cho linh hồn rơi vào Tà Kiến, không mong gì làm cho nhân loại  yên bình được.

Xã hội văn minh là xã hội lấy Văn Hóa Chính Nghĩa làm đầu. Không phải lấy Ma Thuật. Yêu Thuật. Pháp Thuật làm đầu. Nếu dùng bạo lực cường bạo trị dân thì làm cho xã hội thêm trì trệ. Duy trì cuộc sống mạnh được yếu thua càng lạc hậu chậm phát triển. Đây chính là mối họa về sau dẫn đến mất nước bị các thế lực xâm lược thôn tính. Quá nhàm chán Thần Quyền. Thái Tứ loại bỏ các trường phái Thần Giáo tôn thờ Thần Linh, lẫn các trường phái pháp thuật, Ma Thuật, Yêu Thuật thần quyền, chuyển sang nghiên cứu tìm trong các trường phái Duy vật. Duy vật Thần Quyền. Duy vật luận chứng.

Duy vật Thần Quyền là trường phái Phù Thủy hưng thịnh ở phương Tây. Duy vật giáo song song với Duy Tâm Thần giáo ở phương Đông, rất dễ lạc vào tà ma ngoại Đạo.

Duy vật Thần giáo chuyên sâu vào lãnh vực vật chất, lãnh vực Cầm Thú như Đá Thiên, Ngọc Thiên, Chồn Thiên, Cáo Thiên, Rắn Thiên, Hổ Thiên, Lửa Thiên v.v…

Duy vật luận chứng là tôn phong các nhà khoa học, các nhà luận chứng vật chất đề cao vật chất. Đề cao phát minh khoa học. Nếu khám phá nắm bắt được quy luật vật chất. Kết hợp chúng sẽ trở thành Đấng tối cao vũ trụ, Phái Biện Chứng Duy Vật cho rằng làm bá chủ Vật Chất cũng có nghĩa là làm chủ thiên hạ. Thái Tử phải mất nhiều tháng quán tưởng lần mò tìm kiếm vật chất, theo chủ thuyết trường phái Duy vật biện chứng.

Thái Tử tự sắp xếp phân chia thế giới vật chất ra làm 5 phần.

1: Thể Lực

2: Thể Hơi

3: Thể Lỏng

4: Thể Đặc

5: Thể Lửa

Để hiểu rõ hơn 5 thể nói trên của thế giới vật chất vũ trụ và tìm hiểu chúng.

Thái Tử bắt đầu quán tưởng Thể Đặc, nói chung Thể Đặc là Đất Đá bụi bặm. Thể lỏng là nước. Thể hơi là khí. Thể lực là điện lực. Thể lửa là do ma sát bốn thể tạo ra. Thể Lửa hâm nóng làm cho bốn thể kết tinh. Tạo ra rong rêu Thảo Mộc. Tinh của rong rêu Thảo Mộc, hình thành lên sự sống từ đơn bào, tiến hóa lên đa bào, hình thành lên thế giới sơ căn động vật.

Thái Tử nghĩ Hình thành lên một sự sống. Ngoài linh căn linh thức cộng với tứ đại giả hợp Tinh Hoa của Đất, Nước, Khí, Lửa thành một sự sống. Như vậy một sự sống có hai phần Linh Căn và xác Thể (hay nói cho dễ hiểu một sự sống có cả linh hồn và thể xác). Thái Tử nghĩ nếu tách riêng từng thể ra thành một thể Độc Lập không có một sự tác động nào nữa, thời các Thể ấy chỉ là thể chết bất động mà thôi. Như vậy các Thể, Khí, Nước, Đất, Lửa không phải là ông chủ của sự sống, chỉ là thể thụ động của thể khác tác động vào làm cho nó động theo. Thể tác động vào chính là Linh Căn Linh Thức Linh Hồn. Chính vì sự tác động của Linh Căn linh thức chuyển động tam thể Khí, Đất, Nước, tạo ra hơi ấm truyền miên duy trì sự sống. Nếu không có Linh Căn Linh thức tác động duy trì tứ đại thời nó tự tan rã.

Thái Tử lại nghĩ: Thể Lỏng, Thể Hơi, Thể Đặc nói chung là các thể. Cũng như thể xác con người. Thể Đặc là xương thịt gân cốt. Thể Lỏng là máu huyết. Thể hơi là khí thở con người. Linh Căn Linh Hồn con người tác động vào ba thể nầy tạo ra hơi ấm gọi là tứ đại. Đất, Nước, Gió, Lửa. Xét cho cùng tứ đại giai không. Đủ nhân duyên thì nhóm họp, hết nhân duyên thời tan rã. Vì thế sự sanh tử của con người cũng không có chi là lạ. Tất cả chỉ là giả tạm sanh diệt, diệt sanh. Dù cho đó là Địa Cầu, hay càn khôn vũ trụ cũng thế mà thôi.

Thái Tử thông suốt Thể Hơi không chủ sự sống, Thể Lỏng không chủ sự sống. Thể Đặc không chủ sự sống. Thể Lửa không chủ sự sống. hợp tan, tan hợp theo nhân duyên tứ đại giai không. Tứ đại không phải chủ của sự sống. Mà chủ của sự sống là ai? Thái Tử lại tìm hiểu thêm một lần nữa. Các thể tách riêng thành thể Độc Lập, không có sự tác động nào nữa, thời các Thể cũng chỉ là thể chết bất động mà thôi.

Sanh là Linh Căn Linh Hồn nhóm họp duy trì tứ đại nuôi lớn thân thể. Tử là tứ đại tan rã Linh Căn Linh Hồn bỏ thể xác mà đi. Thể xác phàm tục chỉ là thể thụ động khi bị tác động không phải là chủ động của sự sống. Mà chủ của sự sống chính là Linh Căn Linh Hồn. Sự sống bất diệt không bao giờ chết. Theo nghiệp ác nghiệp thiện luân hồi mà thôi.

Vậy chủ sự sống là ai, tứ đại hay Linh Hồn. Nếu nói Linh Hồn là chủ của sự sống. Nhưng Linh Hồn là Vô Vi làm sao tác động vào tứ đại được? Thái Tử nghĩ Linh Hồn phải tác động qua Thể Lực. Thể Lực là trung gian nối liền sự sống Linh Hồn cùng thể xác. Nói chung là tất cả tầng lớp Thể Lực. Thể Lực con người. Thể Lực tứ đại. Tất cả đồng nhất của một thể lực Vũ Trụ. Thể lực tứ đại, thể lực con người, thể lực vũ trụ khi bị tác động thì chuyển hóa thành điện năng. Tác động vào tinh hoa Thể Khí đã cấu tạo thành hệ Thần Kinh. Năng Lượng Điện Năng là tinh hoa tinh thể tối cao của khí chất không mùi, không vị, không sắc, không hình, không tướng, nó xuyên qua tất cả không để lại dấu vết. Nó tác động vào hệ Thần Kinh làm cho Tứ Đại chuyển động theo sự sống của Linh Căn Linh Hồn. Thái Tử nghĩ ai làm chủ được Linh Căn Linh Hồn thì người đó sẽ là Đấng tối cao, Quyền năng vô hạn. Nhưng nắm bắt được Thể Lực hiểu rõ thể lực sanh ra từ đâu là cả một vấn đề. Linh Hồn và Thể Lực một hay là hai. Đỉnh tối cao của Duy Tâm cùng Duy vật đều nằm tại đây.

Thái Tử nghĩ, từ Thể Đặc lên Thể Hơi, từ Thể Hơi xuống Thể Đặc. Tuy chúng không là chủ thể, chủ động sự sống nhưng chúng chuyển thể từ dạng này sang dạng khác, theo quy luật tự nhiên. Quy luật Sanh, Trụ, Dị, Diệt, hể có sanh thời có tử. Chuyển đổi theo quy luật tuần hoàn.

Thể Hơi chuyển thành Thể Lỏng, Thể Lỏng chuyển thành Thể Đặc, sự chuyển đổi ấy phải trải qua hàng triệu triệu năm, trí huệ phàm tục khó mà nhận thấy được. Thái Tử rà đi kiếm lại, thế giới vật chất bắt đầu từ Thần Lực cho đến Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc và chúng ma sát tạo thành thể lửa Tứ Đại vũ trụ. Đất, Nước, Gió, Lửa.

Tuy Thái Tử tìm ra Nguồn Cội của Tứ Đại là Thể Lực. Thế mà vẩn chưa tìm ra cách nắm bắt Linh Hồn làm chủ Linh Hồn. Dù cho thông suốt hết thảy thế giới vật chất Vũ Trụ, cũng không thể tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn. Nguồn Cội của tất cả vạn vật tam thiên đại thiên thế giới cũng như con người. Chủ Nghĩa Đại Đồng Nguồn Cội vũ trụ Thái Tử thấy còn rất xa chưa thể với tới được. Khi nào hội nhập Cội Nguồn. Hội nhập vào kho tàng tri kiến vũ trụ, rồi từ ấy rút ra những Tinh Hoa mở đường cho nhân loại đi đến chân trời hạnh phúc, đi đến xã hội Công Bằng Bình Đẳng văn minh, xã hội Thiên Đàng Cực Lạc Quốc. Vì nổ lực tham thiền quán tưởng dài ngày nên Thái Tử Mệt lăng đùng ra và đi vào giấc ngủ ngon.

*********

Hết phần 1 chương 8 mời xem tiếp phần 2 chương 8 Long Hoa Mật Tạng. Nếu không phải đại căn đã từng làm Vua làm Chúa làm Phật, làm Thánh, làm Tiên trong vô lượng kiếp thì không thể nào thấu hiểu nỗi Kinh Văn trong Long Hoa Mật Tạng.

 

*********

CHƯƠNG 8

PHẦN 2

CĂNG THẲNG

Nhìn những món ăn toàn là cao lương mỹ vị. Thái Tử nghĩ những thứ này chỉ làm cho cơ thể béo phì, ăn sung mặc đẹp chỉ để phuc vụ cho đời sống thể xác, còn việc tìm cầu nắm bắt Linh Hồn thì khác nào mò kim đáy biển. Linh Hồn do đâu mà có?  ai sanh ra, Linh Căn Linh Hồn. Tất cả đều còn nằm trong huyền bí phức tạp vô cùng. Theo Thái Tử nghĩ, Linh Hồn là mấu chốt, để tìm ra Cội Nguồn vũ trụ, chìa khóa vạn năng để mở cánh của Cội Nguồn vũ trụ. Cánh của Cội Nguồn vũ trụ không mở được, thời Văn Hóa Cội Nguồn sẽ không bao giờ xuất hiện ở chốn nhân gian.

Nhân loại sẽ chìm trong u minh, đưa xã hội nhân loại đến chiến tranh diệt chủng, không còn cứu vãn được. Với bao nỗi suy nghĩ làm Thái Tử quên luôn cả ăn lẫn uống. Thái Tử càng ngày càng gầy đi thấy rõ, thời gian cứ thế trôi qua hơn sáu mươi ngày. Để bớt đi sự căng thẳng Thái Tử liền tản bộ dạo chơi khu vườn cấm, có lẽ đây là lần đầu tiên từ khi Thái Tử đến đây để tu luyện. Nơi đây thật vắng vẻ không một bóng người nhưng thay vào đó là sự vui đùa của những chú Chim chúng ca hát líu lo thật tự nhiên, trong sáng vô tư. Hình như chúng không mang lấy ưu phiền, không cần tính toán những gì xa xôi, nghe tiếng Chim hót như truyền cảm một tâm hồn vô tư. Thái Tử nghe tiếng Chim hót, liền tan bao nổi ưu phiền, tâm hồn sảng khoái thành một con người khác hẳn con người của sự tự do vô tư thanh nhàn thoát tục. Đi một khoảng đường, Thái Tử đã lạc vào thế giới non bộ, trùng điệp núi non, Chim kêu Vượn hú, suối lượn uốn quanh, muôn hoa rực thắm, lấn đá chen cây, Lan, Huệ thi nhau nhìn suối, Đào, Mai ngoảnh mặt nhìn mây, Tùng Bách thi nhau đua tàng khoe dáng, mặt Hồ lóng lánh. Sen đùa giỡn lá xòe ra mởn mởn xanh. Cá lượn từng đàn. Bướm nghe nhạc rừng, suối reo không ngừng, gió tìm vào Động. Nước luồng qua khe. Cảnh Quang tuyệt đẹp. Xuân vầy thêm xinh.

Tâm Hồn thanh thoảng biết bao nhiêu

Nhìn nước nhìn non ánh nắng chiều

Lung linh cành biếc xuân nẩy lộc

Hoa nhìn mây nước Chim nhẹ kêu

Cá lội tung tăng nghe nhạc suối

Tùng, Trúc, Đào Mai sắc dáng thêu

Bồng Lai Tiên cảnh nơi trần thế

Thanh thảng tự nhiên rõ mọi điều.

Nhìn cảnh quan đẹp lạ lùng không mất vẻ tự nhiên chẳng khác nào bồng lai Thiên giới, tuy do con người kiến tạo lập lên. Nhưng ẩn tàng không biết bao nhiêu là huyền cơ đạo pháp. Thái Tử xuất thần nghĩ con người là Tạo Hóa Con, sau Tạo Hóa Cha. Thái Tử lại nghĩ con người là Tạo Hóa Con, con của Tạo Hóa Cha. Tạo Hóa Cha Tạo lập lên vũ trụ. Tạo Hóa Con, tạo lập lên Thiên Đàng Cực Lạc. Tạo Hóa Cha lập lên con người. Tạo Hóa Con tạo lập lên xã hội con người. Và làm chủ những gì Tạo Hóa Cha đã lập lên. Sự thừa kế làm chủ giang san vũ trụ ấy, con người phải trở về với Cội với Nguồn đến với đấng Cha Ông.

Muốn cứu vớt thiên hạ tìm ra con đường hạnh phúc. Nhứt là hạnh phúc xã hội văn minh, xã hội Đa Nguyên Nhân Quyền Dân Chủ, Công Bằng Bình Đẳng tự do. Xã hội của sự tự giác ý thức nhận thức cao. Muốn có xã hội như thế, không phải tự nhiên mà có được, phải có con đường Chân Chính đi lên. Con đường dưới hợp lòng Dân trên thuận Lòng Trời. Chỉ có con đường như thế mới tiến tới xã hội văn minh.

Thái Tử nhìn những hòn non bộ thật mà giả, giả mà thật, cảnh quan nơi đây không phải tự nhiên mà có, mà do con người sáng tạo lập nên, giả mà thật, thật mà giả, cũng như hình và bóng, bóng của hình. Nhìn sự liên kết hòn non bộ tạo thành một dãy núi nhưng lại là những dãy núi giả. Nhìn những dãy núi giả thật, thật giả ở đây so sánh các dãy núi ở các Châu lục. Thời là những dãy núi thu nhỏ. Tuy nhỏ mà lớn, cái nhỏ không khác gì cái lớn. Thái Tử ngộ ra một điều, tiểu Linh Hồn nào khác chi Đại Linh Hồn. Bọt Nước đồng bản thể của Nước. Tuy một mà hai tuy hai mà một.

Thái Tử xuất Thần quan sát suy xét so sánh tìm ra chân tướng của sự thật và bổng nhiên hội ngộ. Thái Tử nghĩ các dãy núi của các Châu lục hùng vĩ xinh đẹp là do bàn tay Tạo Hóa Cha Trời chuyển xây Tứ Đại. Đất Nước Gió Lửa theo định luật tự nhiên tạo lập ra, giả lập lên. Cũng như các hòn non bộ giả sơn ở đây vừa xinh đẹp vừa hùng vĩ là do Tạo Hóa Con bàn tay con người, tôm gốp đất đá để tạo lập ra, giả lập tạo lên theo ý tưởng con người. Con người duy trì thì nó còn, con người không duy trì nữa theo thời gian sẽ biến mất. Sự giả lập không thật. Theo nhân duyên hiện ra hết nhân duyên tan biến trở về hư không. Trở về Thể tướng không tướng Cội Nguồn của thế giới vật chất.

Thái Tử lại nghỉ, chân tướng của Tứ Đại vốn không tướng, chỉ là nhóm họp theo nhân duyên hiện ra. Với lớp bụi vi trần theo bàn tay Tạo Hóa Cha Trời nhóm lại, tạo lập lên Đất Đá vũ trụ, chuyển xây Tứ Đại, Đất Nước Gió Lửa giả lập tạo lên núi non sông hồ biển cả, giả lập tạo lên cảnh giới Địa Cầu vũ trụ. Và con người cũng vậy, do Địa Mẫu Âu Cơ tốm thâu Tinh Hoa khí ngũ Địa, Đất Nước Gió Lửa tạo lập lên thể xác con người và thật tướng của con người cũng chỉ là Tinh Hoa vi trần cát bụi Tứ Đại, đủ duyên thì nhóm hợp, hết duyên thì tan rã.

Lại thêm một tia sáng lóe lên trong đầu Thái Tử. Trường Phái Duy Tâm, Trường Phái Duy Vật không thể nào vượt qua Thiên Thể chân tướng hư không. Chân Tướng hư không, không thể dùng mắt thường mà thấy được. Chỉ khi nào người ấy có được thanh tịnh Huệ Nhãn, thanh tịnh Pháp Nhãn. Phái Biện Chứng Duy Vật chỉ dựa vào Nhục Nhãn con mắt thường. Nên cho rằng trong hư không chỉ là sự trống không, Vạn vật sanh ra ở đời chỉ là một sự tự nhiên mà thôi. Và sự ngẫu nhiên của sự trùng lặp. Phái duy Vật biện chứng chỉ lẫn quẩn trong vòng Duy Thức cái thấy biết phân biệt chấp tướng, chấp pháp luân chuyển trong cảnh giới Vô Thường khó mà thoát ra khỏi vòng sanh tử luân hồi. Khó mà thấy rõ Cội Nguồn của thế giới vật chất.

Phái Duy Vật không bao giờ nhận ra Cội Nguồn của thế giới Vật chất vốn không tướng, mọi hình tướng đều là giả lập, giả tướng mà thôi, cho đến thể xác cũng thế. Có lẽ thế giới Linh Hồn hay chính Linh Hồn ta cũng vậy. Thật Tướng, Thật Tánh của Linh Hồn cũng chỉ là không tướng, không tánh, bản thể linh minh Diệu giác trong sạch vô vi, không ý, không thức. Nguồn Cội bản thể Linh Hồn không tánh, không tướng, không ý, không thức, thời làm gì có thói hư tật xấu, tham lam tật đố kêu căng ngạo mạn làm hại nước hại dân, những thứ tánh rác rưởi ấy làm bẩn dơ xã hội, hôi hám và đầy rẫy tội ác. Thật Tánh của Linh Hồn là Không Tánh làm gì có những thứ tánh ấy. Nếu Có cũng do Linh Hồn mê muội khởi tưởng tạo ra gieo mầm tội ác, gieo nghiệp hung dữ tạo ra những thứ tánh nhơ bẩn đó mà thôi. Những thứ tánh không tật có trong căn Cội của mỗi Linh Hồn.

Những người mê muội họ mãi duy trì những tánh xấu xa đó. Còn những người giác ngộ họ loại bỏ ngay những tánh hư tật xấu ra khỏi Linh Hồn của họ. Để khỏi bị những tánh hư tật xấu ấy làm hại bản thân, làm hại gia đình, làm hại non sông Tổ Quốc cuối cùng đọa sa xuống Địa Ngục khốn khổ mãi.

Cuối cùng Thái Tử cũng đã nhận ra chân tướng, chân tánh, bộ mặt thật của Linh Hồn (hội ngộ bổn lai diện mục, minh tâm kiến tánh) Chân Tánh Linh Căn Linh Hồn. Lòng tràn đầy niềm tin tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng tối cao vũ trụ không còn xa nữa.

Thái Tử nhìn thác nước, những bọt nước do nước sanh ra, sau đó liền tan biến trở về là nước, như đánh thức Thái Tử một điều quan trọng. Tiểu Linh Hồn con người muốn hội nhập vào Đại Linh Hồn vũ trụ, thì cũng phải giống như bọt nước kia. Tự nó tan về là nước. Linh Căn Linh Thức Linh Hồn cũng thế. Tự nó tan biến hệ ý thức trí thức phân biệt lặng yên Vô Thức Tự Nhiên. Linh Hồn không khởi ý niệm vắng lặng như như đại định thẳng đó vô tâm, vô niệm, vô ý, vô trí là phải, một niệm khởi lên là trái không thành. Tự nhiên không một niệm nào cả là đúng. Thì không bao lâu sẽ Đại Ngộ chân tâm chân tánh của mình. Tánh không là chân tánh. Tướng không là chân tướng. Ý không là chân ý. Trí không là chân trí. Tự nhiên như hư không, không phải tu chứng đắc gì cả, giống như viên Ngọc dính bẩn rửa sạch bẩn viên Ngọc sáng ra. Viên Ngọc vẩn là viên Ngọc trước sau vẫn như vậy trôi lăn vô lượng kiếp không bớt, khi thành đấng tối cao cũng chẳng có gì thêm, trước sao sau vậy. Linh Thức bọt nước tự nó trở về bản thể Linh Giác là nước, không còn là Linh Thức bọt nước nữa. Cũng như thức tánh trở về chân tánh, và luôn an trụ nơi Chân Tánh tức là Vô Trụ (vô sở trụ sanh kỳ tâm).

Cũng như không phải dính bụi mà viên Ngọc thêm, không phải rửa bụi mà viên Ngọc bớt, viên Ngọc trước sau vẫn là viên Ngọc, Vốn tự nó không nhiểm bẩn, những thứ tánh nhơ bẩn chỉ là giả tánh, không phải chân tánh.

Thế là Thái Tử đã tìm thấy Bổn Lai Diện Mục của chính mình, đạt đến cảnh giới Minh Tâm Kiến Tánh.

Muốn hàng phục Tâm Viên Ý Mã ví như người mất Ngựa đi tìm ngựa và đã tìm thấy con ngựa của mình ở phía trước và đang tìm cách nắm bắt chúng để con ngựa Ý Mã Tâm Viên theo mình trở về Cội Nguồn vũ trụ. Muốn làm được như thế phải hiểu ngựa mới hàng phục được ngựa, phải hiểu khỉ mới hàng phục được khỉ. Và sợi dây trói ngựa chính là Giới và sợi giây trói khỉ chính là Định, thay đổi món ăn của chúng là Tự Nhiên, tự nhiên là món ăn thường xuyên, để cho Ý Ngựa Tâm Khỉ thuần thục, vì thế phải nổ lực siêng năng là điều không thể thiếu. Thái Tử nghe trong tâm hồn lân lân nhẹ nhổm.

Để hàng phục Tâm Viên Y Mã, Thái Tử dùng sợi dây Giới, Định tối cao, ngăn chặn thấy nghe hay biết phân biệt ngoại cảnh lục trần. Lục trần tức là Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Thấy nghe hay biết tự nhiên khác với thấy nghe hay biết phân biệt.

Thấy nghe hay biết tự nhiên là thấy nghe hay biết không khởi tâm khởi ý phân biệt. Thấy nghe hay biết, khởi tưởng phân biệt là thấy nghe hay biết bọt nước tạo ra vô lượng ý thức. Thấy – Nghe – Hay – Biết không khởi tưởng phân biệt thì chính Linh Thức Tánh Thức chuyển hóa thành vô lượng thể tánh Như Lai. Người muốn đạt đến cảnh giới tối tuyệt đối không được khởi tưởng nhận thức phân biệt.

Thái tử loại bỏ cái thấy nghe hay biết khởi tưởng phân biệt nhận thức của bọt nước, tức là ý tưởng nhận thức huân tập chủng nghiệp của tâm viên ý mã, xưa nay rong ruổi chạy theo lục trần, bám lấy lục trần trôi lăng mãi trong vòng sanh tử. Thái Tử  buộc Tâm Viên Ý Mã phải đi theo Thiên ý tự nhiên của ông chủ. Thấy nghe hay biết tự nhiên không cho khởi tưởng, nhận thức, phân biệt Lục trần, tức là nhận thức khởi tưởng phân biệt, sắc, thịnh, Hương, vị, xúc, pháp. Nhờ cắt đứt nhân duyên Lục trần, Lục căn lần lần thanh tịnh, Lục thức lần lần trong sáng, không còn mê muội u tối nữa, theo ông Chủ trở lại Cội Nguồn.

*********

Hết phần 2 chương 8 mời xem tiếp phần 3 chương 8 Long Hoa Mật Tạng. Long Hoa Mật Tạng là những bí Mật Tạo Hóa không dễ gì nhận biết được. Chỉ cần nhận biết một câu một chữ trong kinh thời coi như đã vượt qua ức kiếp tu luyện. Thành tựu công đức vô biên.

Kinh văn vô thượng thậm thâm

Chỉ cần đọc tụng cũng lên thiên đàng

Huống chi đọc tụng nhiều lần

Coi như thành Phật, Thánh, Thần khó chi.

 

*********

CHƯƠNG 8

PHẦN 3

MƯỜI TÁM GIỚI

Lục Trần: Sắc – Thinh – Hương – Vị – Xúc – Pháp.

Lục Căn: Nhãn – Nhĩ – Tỷ – Thiệt – Thân – Ý.

Lục Thức: Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, Ý Thức.

Như vậy Thái Tử tạm thời không cho Lục Thức khởi tưởng phân biệt bám theo Lục Trần. Bằng phương pháp Đại Giới. Cắt đức nhân duyên không cho Lục Thức phân biệt Lục Trần, Đại Định. Chỉ an trụ vào Thấy – Nghe – Hay – Biết tự nhiên.

Nói một cách dễ hiểu hơn, là Thái Tử tạm thời không cho Lục Thức bọt nước Tiểu Linh Hồn của mình. Khởi tưởng phân biệt Lục Trần, bám theo Lục Trần huân tập ái dục. Lục Thức bị Đại giới tự nhiên trói chặt, Đại Định. Lục Thức đã an định. Thời lục căn thanh tịnh lần lần trong sạch, Lục căn càng thanh tịnh trong sạch bao nhiêu thời cảnh giới Thần Thông tự hiện ra bấy nhiêu. Cũng như mặt kính đã lau sạch bụi thời cảnh giới bí mật vũ trụ tự hiện ra dần. Cũng như mặt Hồ yên lặng thời trăng sao trời đất điều hiện rõ.

Từ Lục Thức phàm phu mê muội chuyển thành Lục Huệ của Bậc Đại Giác Ngộ. Trong Lục Huệ. Tự nhiên thanh tịnh pháp Huệ là cao nhất. Chính là cái thấy, nghe, hay, biết Toàn Năng Toàn Giác Cái thấy, nghe, hay, biết của bọt nước trở thành cái thấy, nghe, hay, biết của nước. Cái thấy, nghe, hay, biết tự nhiên không chấp trước, cái Thấy – Nghe – Hay – Biết của Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Sự chấp trước cái tôi cái ta không còn nữa. Trở thành Đấng Đại Từ Bi, Đại Trí, Đại Dũng. Cái thấy, nghe, hay, biết tự nhiên vũ trụ là mình, mình là vũ trụ, không phân biệt gì cả.

*********

Hết phần 3 chương 8 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 4 chương 8.

 

*********

CHƯƠNG 8

PHẦN 4

GIÁC NGỘ

Nhìn núi non trùng điệp, Chim kêu vượn hú, suối lượn uốn quanh. Hoa chen lá, đá ẩn tàng chen cây Cánh hoa lấp lánh đua nhau thi màu thi sắc. Tùng Bách thi nhau xanh mướt đua tàng, khoe tán. Đào Mai đua dáng đua xuân. Gió reo cửa Động, nước luồn qua khe, lá cành rung nhẹ, bướm nghe nhạc rừng, nước non cảnh đẹp, cảnh vật tưng bừng.

Nhưng Thái Tử có nghe như không nghe, có thấy như không thấy, có hay như không hay, có biết như không biết, Thái Tử giờ đây thấy, nghe, hay, biết tự nhiên không khởi một niệm phân biệt.

Thái Tử xuất thần liên tưởng quan sát càng thêm Đại Ngộ. Chân giả, giả chân, trong chân có giả, trong giả có chân. Trong bọt nước có bản thể của nước, trong Tiểu Linh Hồn có bản thể của Đại Linh Hồn.

Bản thể Linh giác trong sạch vô vi, vô vi mà thường vi, không tánh, không tướng, không ý không thức. Nhưng Khi bản thể Linh giác tiếp xúc với cảnh giới Lục Trần, biến sanh sáu thức, sáu thức này sanh ra dựa trên ngũ uẩn. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, rồi huân tập nghiệp lực thông qua thập nhị nhân duyên. Hình thành hành trình sanh tử. Có thể nói tốm tắc khái niệm như sau: Chỉ cần phá vỡ cắt đứt nhân duyên của chúng, thời chân tánh thanh tịnh ngay.

Chân Tánh mê không làm chủ được mình luôn chạy theo Tánh thấy, nghe, hay, biết của mình khởi ý phân biệt Lục Trần, khởi ra vô lượng nghiệp thức. Nhất là những nghiệp thức ác làm cho chân tâm chân tánh không thanh tịnh được, lao theo trần cảnh  huân tập nghiệp quả luân hồi sanh tử.

Chân Tánh mê không làm chủ được mình gọi đó là Vô Minh (1) không làm chủ thấy, nghe, hay, biết của mình khởi tâm phân biệt vô minh sanh Hành

(2) vì mê bám lấy Lục Trần khởi ý gieo nghiệp sanh ra Lục Thức

(3). Như vậy Chân Tánh là bản thể nước. Vì không làm chủ được bản thể khởi ý phân biệt sanh ra thức bọt nước ý thức, bọt nước ý thức dựa trên ngũ uẩn, sắc, thọ, tưởng huân tập quả nghiệp hành, thức thông qua thập nhị nhân duyên, luân hồi sanh tử.

Sáu thức do vô minh, tánh mê tạo ra, nên sáu thức u mê không khác nào tánh mê cả. Sáu thức từ ý thức phản tỉnh nhận thức phân biệt cảnh giới sắc chất, vì thế Danh Sắc sanh ra (4) Danh Sắc là danh từ.

Danh từ Lục Trần sanh ra liền xâm nhập vào ý thức, nhận thức, Lục Nhập (5).

Đã có Lục Nhập thời sự tiếp xúc liên tục xảy ra, Xúc (6) đã tiếp xúc liên tục cảm thụ rồi trở thành thói quen.

Thụ (7) đã trở thành thói quen trì niếu ưa thích ưu ái.

Ái (8) cái gì ưu ái ưa thích, thì bảo thủ giữ chặc không buông ra Thủ

(9). Thủ là quả nghiệp của ý thức, nhận thức, quả nghiệp đã có thì nó tiếp tục khởi sanh, dù cho đó là nghiệp dữ hay nghiệp lành, quả nghiệp đã có,

Hữu (10) đã kết quả ý thức, nhận thức đủ nhân duyên, thì liền khởi sanh,

Sanh (11) đã có sanh thời theo quy luật tự nhiên, thành, trụ, hoại, không. Sanh, lão, bệnh tử.

Tử (12) đó là chuỗi nhân duyên tạo lên vòng sanh tử theo định luật tiến hóa tự nhiên không có chi là lạ.

Muốn thoát khỏi sanh tử ra khỏi cảnh giới luân hồi thoát ra cảnh giới Mê cảnh giới ác thời cắt đức nhân duyên. Cũng như người tạo vật tạo ra cảnh giới nầy chán chê thời bỏ đi, hoặc tạo ra cảnh giới khác chơi vậy. Chán chê cảnh giới ác thời bỏ đi, tạo ra nhân duyên cảnh giới Thiện để vui chơi.

Thái Tử đã nhận ra sự huyền diệu của bộ máy huyền cơ vũ trụ, nhờ làm chủ được Linh Căn Linh Hồn của chính mình, hàng phục Tâm Viên Ý Mã đi vào cảnh tối cao Đại Định phải nói là không thể luận bàn cho hết được sự diệu dụng của nó và đây chính là chìa khóa vũ trụ mà ai ai cũng có, dùng nó để đạt đến mục đích cuối cùng. Thái Tử đã thật sự làm chủ Linh Hồn của mình, tiến đến mở cánh của Cội Nguồn. Bước vào nhà vũ trụ, làm chủ vũ trụ.

Thái Tử bỏ cái thấy, nghe, hay, biết, phân biệt của thức, bọt nước. Trở về cái thấy, nghe, hay, biết tự nhiên, phản tỉnh ra vô lượng ý giác ngộ, ý thức giác ngộ khởi sanh ra khế hiệp với Chân Tâm Chân Tánh. Liền khởi dụng Như Lai Tạng Tánh vũ trụ. Phải nói là bất khả tự nghì không thể luận bàn được nữa. Sự thấy, nghe, hay, biết tự nhiên của Thái Tử, đưa Thái Tử đến lần lần khám phá hết bí mật sự huyền vi cũng như huyền cơ của vũ trụ.

Chỉ trong chốc lác Thái Tử đã đạt đến đỉnh cao của thiền tâm, an trụ vào Chánh Định, Chánh Tư Duy, Chánh Kiến, Chánh Niệm, Chánh Nghiệp, Chánh Tuệ hay còn gọi là Chánh Giác.

Đây nói về Đức Cha Trời Long Hoa Cửu Huyền Ấn Quang Tối Thắng Như Lai, Lạc Long Quân, Đấng tối cao hiện thân của Đức Tổ Tiên, Đấng chủ quản Linh Hồn, Đấng điều hành bộ máy Huyền Cơ vũ trụ, thấy rõ người con Cả Đức Chí Tôn đầu thai xuống trần, đang dùng con mắt Huệ Nhãn thanh tịnh cùng Đại Nguyện lực phá vỡ vô minh che khuất Chân Tâm Chân Tánh, làm chủ bản thể Linh giác của mình, thì khen ngợi: Thế mới xứng là con Cả của Cha Trời.

Nói về Thái Tử đã đạt đến Chánh giác dùng con mắt thanh tịnh Huệ Nhãn. Hay còn gọi là thanh tinh Pháp Nhãn. Cái thấy, cái nghe, cái hay, cái biết bản thể linh giác của nước, không phải cái thấy, nghe, hay, biết phân biệt của thức bọt nước, phăng lần bí mật vũ trụ tìm ra Cội Nguồn và mỗi lúc Thái Tử càng tiến xa tiến xâu vào bí mật vũ trụ. Từ đây về sau tất cả mọi biến động. Dù chỉ là chiếc lá rơi, cũng làm tăng thêm sự chứng ngộ Nhìn rõ sự thật huyền ẩn của chúng, bộ mặt thật của nhân duyên và vô thường.

Mỗi bước chân của Thái Tử là mỗi bước giác ngộ. Có lẽ cảnh quan nơi đây cũng hiểu Đấng Đại giác ra đời, Đấng Cứu Thế. Nên thi nhau tỏa hương ngào ngạt. Khu rừng cấm bổng chốc rực rỡ như cảnh Bồng Lai. Trước mặt Thái Tử là chiếc Ngai Rồng bằng vàng và chiếc Ngai Phụng chạm ngọc. Nơi đây Kinh Dương Vương cùng Vương Hậu thường ngồi để ngắm cảnh xem hoa, nghe Chim hót hòa mình vào Đất Trời cảnh giới thiên nhiên.

Thái Tử ngồi lên Ngai vàng nghĩ! Có lẽ Vua Cha xem cảnh quan sắc thắm nơi đây bằng con mắt phân biệt, nhận thức cảnh quan bằng con mất hiểu biết để làm vui. Còn Thái Tử thì khác. Xem cảnh quan bằng con mắt thanh tịnh không phân biệt chi cả. Điều kỳ lạ ở đây Lục Căn, Lục Thức Thái Tử thanh tịnh đến lạ lùng. Không phân biệt. Thế mà nhận ra tất cả hương vị của mỗi loài hoa. Của mỗi âm thanh dù là âm thanh nhỏ nhất của côn trùng Thảo Mộc, xa đến mười dặm.

Điều kỳ lạ này đã đánh thức Thái Tử nhận rõ thêm, Tánh thấy, nghe, hay, biết của nước và tánh thấy, nghe, hay, biết phân biệt của bọt nước, có thể nói sự thấy, nghe, hay, biết thanh tịnh của Chân Tánh, nước, như ánh sáng Mặt Trời, còn sự thấy, nghe, hay, biết phân biệt của ý thức bọt nước ví như ánh sáng con đom đóm mà thôi. Ánh sáng trí huệ Mặt Trời đã xuất hiện, ánh sáng Bình Đẳng trong sáng vô vi, hàng triệu hàng nghìn năm mới xuất hiện một lần.

Thái Tử Hùng Lan hầu như đã nhận ra bản thể Linh giác Chân Tánh vốn trong sạch vô vi, mà thường vi, bất tăng bất giảm, không cấu nhiễm, không mùi vị, không danh sắc, không thọ tưởng hành thức, vì bản thể không cấu nhiễm của Chân Tâm trong sạch vô vi, không cấu nhiễm nên phản tỉnh đo lường phân biệt nhận biết tất cả Gọi Đó Là Bản Thể Minh Tâm. Thể Tánh Chân tâm trong sáng Vô Vi Vô Sắc thu nhiếp tất cả. Nên gọi đó là Kiến Tánh. Nhận rõ Bổn lai diện mục, minh tâm kiến tánh của chính mình, thì coi như đã trở thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Thái Tử hiểu rõ mỗi Linh Căn Linh Hồn dù trôi lăng trong sanh tử Lục Trần vẩn trong sạch không cấu nhiễm, giống như Hoa sen gần bùn mà chẳng nhiễm bùn. Nhưng vì chấp trước chạy theo cái biết phân biệt hướng ngoại của chính mình, hướng ngoại chính là chạy theo lục trần lặng hụp trong thế giới vật chất huấn tập thành nghiệp lực kết quả nghiệp thức, vì thế mà luân hồi khắp ba đường sáu nẻo.

Ánh sáng trí tuệ Mặt Trời của Thái Tử đã phá tan dần từng lớp vô minh đã từ lâu bao phủ lấy Linh Hồn. Với hành trình hướng tìm về Cội Nguồn bọt nước tan biến trở lại là nước. Linh Thức trở về Linh Giác, tánh thức trở thành Tánh Giác.

Có thể nói Thái Từ cảnh giới mê, trở về cảnh giới giác. Làm chủ Linh Căn Linh Hồn của chính mình. Từ Giả Tánh trở về Chân Tánh. Thì chiếc chìa khóa vạn năng đã có trong tay. Chỉ còn nổ lực Chánh Định, chánh Tư Duy, chánh niệm tức là Vô Niệm thì sẽ mở tung cánh cửa Cội Nguồn vào nhà vũ trụ. Tìm ra Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đa Nguyên Nhân Quyền Dân Chủ Đại Đồng. Cứu nhân loại thế gian đang lặng hụp trong khổ đau.

Đói nghèo, lạc hậu, chiến tranh, hận thù, sanh, lão, bệnh, tử. là Nguồn Cội của sự khổ. Phải nhổ tận gốc Nguồn Cội của chúng.

Nhưng có một điều đáng nói ở đây là Thái Tử như Mặt Trời xuất hiện ở mùa Đông. Thiên Ấn dù ra đời nhưng trình độ dân trí còn quá lạc hậu, lại còn truyền khẩu, không phải truyền bằng Văn Kinh, vì giấy, bút, chữ viết khi ấy chưa ra đời nên không hấp thụ được bao nhiêu lời dạy của Thái Tử sau nầy.

Khi nhân gian còn chìm trong u minh. Những cơn bão lạc hậu. Cơn bão Mê tín dị đoan, lại mê muội quyền năng tri giác tối tăm không tiếp nhận được ánh sáng Mặt Trời. Ví như người mù dù ánh sáng Mặt Trời có rọi trúng đỉnh đầu cũng không nhận thấy được. Tuy người mù không thấy ánh sáng Mặt Trời chiếu đến nhưng không vì thế mà ánh sáng Mặt Trời không cứu họ mà còn đem lại cho họ sự sống. Đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết quả nhận thức về Chính Nghĩa sống hòa bình, tự do hạnh phúc. Văn Hóa Cội Nguồn ra đời cách đây năm nghìn năm mở màn cho Thiên Ấn ra đời nên không có Kinh luân truyền lại. Chỉ lấy tâm ấn tâm truyền khẩu cho nhau, rồi đi vào thất truyền. Thiên Ấn thất truyền. Thiên Bút xuất hiện sau năm nghìn năm. Sau Công Nguyên 2 nghìn năm kể từ khi Chúa Giê Xu ra đời Thiên Ấn, Thiên Bút xuất hiện.

*********

Hết phần 4 chương 8 mời xem tiếp phần 5 chương 8 Long Hoa Mật Tạng. Bộ Kinh Thượng Thừa tối cao vũ trụ. Không có sự làm lành cầu phước báo nào hơn. Là In Ấn, biên chép truyền bá bộ kinh nầy. Dù là một câu một chữ cũng tiêu tan vô lượng tội ác cầu chi đặng nấy không sai. Huống chi là giảng dạy cho người khác nghe. Thì phước đức dù cho hưởng trăm nghìn ức kiếp cũng không hết.

Chỉ cần nghĩ đến Mật Kinh thôi

Cũng đã tiêu tan ức tội rồi

Huống chi đọc tụng hay biên chép

Vua Trời không khó, Chúa an ngôi.

*********

CHƯƠNG 8

PHẦN 5

PHÁT HIỆN NHỮNG CƠ BẢN

Vào thiền phòng đã hơn một tháng, lần này khác hơn lần trước Thái Tử chỉ ngồi yên lặng. Mình là vũ trụ. Vũ trụ cũng chính là mình. Thấy, nghe, hay, biết thanh tịnh, không một niệm khởi dù cho đó là một niệm không. Như như vắng lặng. Đây là một bí pháp Mật Tạng của thiền, định lực phát sanh từ đại định nầy, Mặt Trời Trí Huệ lần lần xuất hiện soi rọi khắp hư không vũ trụ, phát hiện lần những huyền bí mà trí thường, mắt thường không thể nào khám phá ra được.

Nhân loại phàm trần bị vô minh che mất Chân Tánh, phiền não nhiễu hại nghiệp lực xoay chuyển, luôn luôn lặng hụp trong biển khổ. Chiến tranh, nghèo đói, lạc hậu, ốm đau bịnh tật bám lấy không yên, chưa hết cái khổ này chồng lên cái khổ khác. Nên Đức Chí Tôn mới đầu thai xuống thế gian mở ra Thiên Ấn Cội Nguồn. Thái Tử Hùng Lan chính là Đức Chí Tôn Thiên Đế đầu thai. Đấng Cứu Thế ra đời. Nên ý chí trí lực có một không hai trong nhân thế không ai có thể bì kịp sánh nỗi.

Thái Tử mỗi lúc mỗi khám phá bí mật của bộ máy Tâm Linh, hàng phục Tâm Viên Ý Mã làm cho Linh Hồn, biển lặng, sóng yên Minh Tâm Kiến Tánh những gì bí mật vũ trụ mỗi lúc một rõ ràng. Huệ tâm sáng suốt tột cùng, phen lần Huyền Cơ Tạo Hóa, cũng như về mặt Tinh Thần lẫn Vật Chất vũ trụ. Bổng có cơn gió thổi mạnh làm cơ thể như muốn chao đảo. Hầu như cơn gió đánh thức Thái Tử một điều quan trọng.

Đã là con người không chỉ về mặt Tâm Linh không mà còn có cả thể xác. Muốn cứu nhân loại đưa nhân loại đến văn minh vật chất lẫn văn minh tinh thần. Không những mở ra con đường đạo đức mà còn cả con đường khoa học. Vật chất nuôi dưỡng thể xác. Đạo lý dưỡng nuôi Linh Hồn. Thái Tử nghĩ vật chất ư, có vai trò gì trong cuộc hành trình giải thoát. Thái Tử liền chuyển hướng huệ quang khám phá vật chất. Thái Tử nghĩ, thế giới vật chất vũ trụ vô tận vô biên nhưng thật ra chỉ có năm thể mà thôi.

1: Là Thể Lực vũ trụ.

2: Là Thể Hơi Khí vũ trụ.

3: Là Thể Lỏng Nước vũ trụ.

4: Là Thể Đặc Đất vũ trụ.

5: Là Thể Lửa hơi ấm vũ trụ

Và cũng chính Thể Lửa hơi ấm nầy làm cho 4 thể lực, khí, nước, đất kết tinh tạo ra sự sống Động vật, Thực vật, trong đó có thể xác con người.

Thể Hơi Chân Khí là thể trung gian giữa vô hình Linh Căn Linh Thức Thần Lực với hửu hình vật chất. Giữa vô sắc với hửu sắc. Vì thế sự sống của vũ trụ vật chất cũng như sự sống của con người. Chân Khí Thể Hơi luôn luôn đóng vai trò rất quan trọng trong sự sống con người, sự sống Trái Đất, sự sống vũ trụ. Thái Tử phân tích sự quan trọng Chân Khí Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc đối với sự sống như sau.

Người ta có thể nhịn đói cả tháng cũng không chết. Nhưng nhịn uống một tuần là chết ngay. Nhưng điều đáng nói ở đây chỉ cần nín thở vài hơi là ngủm cuộc đời. Như vậy Thể Hơi Chân Khí đối với sự sống vô cùng quan trọng. Thể hơi chân khí không những rất quan trọng trong sự sống mà còn đóng vai trò chủ lực trung gian giữa Linh Hồn và Thể Xác cũng như sức khỏe và trường thọ.

Thái Tử nhìn thấy nhân loại xem chân khí rất thường. Vì chân khí đâu đâu cũng có, không cần tìm kiếm chi cả đây là một sự sai lầm lớn, trên đời nầy không có cái gì quý hơn chân khí, kể cả vàng bạc châu báu.

Sự sống con người chỉ cần một lượng chân khí hít thở không gián đoạn là đủ nên con người nào có thấy chân khí quý hiếm gì đâu.

Còn Thiên Tiên, Địa Thiên thì khác hẳn. Tu Thiền luyện khí hít thở thu nạp tinh hoa chân khí tích lũy vào cơ thể con người càng nhiều càng tốt, không những trường thọ vô bệnh tật mà còn tích tụ được nhị xác thân. Thậm chí hiển hiện pháp thuật Thần Thông tự tại. Nhân loại phàm tục không thấu rõ được điều nầy nên xem thường tinh hoa chân khí. Chỉ hít thở theo quán tính tự nhiên duy trì sự sống. Một liều lượng chân khí vừa đủ để cơ thể sống mà thôi. Còn tập trung tư tưởng để hít thở thu nạp tinh hoa chân khí là một chuyện khác.

Thái Tử dùng huệ nhãn quan sát chân khí thấy rõ tinh hoa ngũ khí, tinh hoa kim khí, tinh hoa mộc khí, tinh hoa thủy khí, tinh hoa hỏa khí, tinh hoa thổ khí lưu chuyển cùng khắp hư không theo thể lực, thể hơi, thể lỏng, thể đặc đầy khắp không gian chỗ nào cũng có. Thái Tử nghĩ rất tiếc càng về sau con người càng làm ô nhiễm tinh hoa ngũ khí này. Chính con người làm hại con người, làm hại sức khỏe, làm hại lục phủ ngũ Tạng của họ, bệnh tật dữ dội.

Tinh Hoa Chân khí vũ trụ nếu đem phân tích thì vô số kể nhưng cốt lại thì hai vế mà thôi. Thanh khí và trược khí. Thanh khí là thể khí không bị ô nhiễm độc hại còn trược khí là khí ô nhiễm độc hại.

Thái Tử nhìn thấy các Thiên Tiên, Địa Tiên tu luyện tinh hoa chân khí không những giảm đi sự đói khác bệnh tật. Lại thêm trường thọ, trí huệ khai mở, đã thông kinh mạch mà còn làm giảm đi sức ép của vũ trụ. Giảm luôn lực hút Trái Đất, thân thể nhẹ nhàng, thân hình cân đối xinh đẹp mịn màng. Nhất là đối với Tiên Nữ.

Thái Tử nghĩ một đất nước luôn gìn giữ môi trường trong sạch chân khí không bị ô nhiễm, toàn dân ai ai cũng tu thiền luyện khí, thì làm giảm đi gánh nặng xã hội, về bệnh tật, ngu si, lạc hậu. Đất nước ấy sẽ trở thành đất nước Thần Thánh. Luyện chân khí tích tụ vào cơ thể không những chịu đựng được nhiệt độ cao, cái lạnh cũng không làm hại được. Nếu tu luyện chân khí đỉnh cao thì khỏi hẳn bệnh tật. Làm cơ bản cho mọi sự Thần Thông biến hóa và Thái Tử đã nhớ lại vì Thiên Sứ Thiên Thần Trí Huệ đã thể hiện thần thông tự tại trước Thái Tử.

Thái Tử lại dùng thanh tịnh Huệ Nhãn quan sát vũ trụ. Thì thấy rõ vô hình điều khiển hữu hình. Vô sắc điều khiển hửu sắc. Muốn khám phá sự bí mật huyền vi vũ trụ. Không có con đường nào khác hơn là phải tu thiền luyện khí. Thu hút Tinh Hoa chân khí vũ trụ tạo lập nhị xác thân. Xác thân tinh khí và thần lực. Nhờ nhị xác thân, thời Chân Tánh mới hiển lộ thần thông trí huệ như ý được. Tiến tới toàn năng toàn giác. Mở ra Thiên Ấn Cội Nguồn.

Thái Tử lại dùng Huệ Nhãn quan sát trên thể hơi chân khí vũ trụ, Thể Lực vũ trụ không đâu là không có, Thể Lực vũ trụ cũng chính là Thần Lực vũ trụ, trên Thể Lực vũ trụ là Linh giác vũ trụ, Linh giác vũ trụ gồm 2 vế, Chân Tánh và Thức Tánh, Chân Tánh ví như nước, Thức Tánh ví như bọt nước.

Một khi thể lực vũ trụ bị khuấy động thì chuyển hóa thành điện năng, khi điện năng ma sát chạm nhau, thì tạo ra chân hỏa Tam Muội không có thứ gì dập tắt được. Thứ lửa tam muội nầy thiêu rụi thế giới vật chất. Biến tinh thể Thảo Mộc thành tinh thể mặn.

Đức Chí Tôn đầu thai xuống trần không phải là để tu luyện chứng Đạo làm Phật Tổ hay vì danh lợi. Mà là Đấng cứu thế, truyền lời dạy Cha Trời xuống chốn nhân gian. Thiên Ấn vũ trụ. Muốn làm được điều này Thái Tử phải vượt qua bao khó khăn, thử thách sáng suốt phăng lần từng mối huyền vi vũ trụ. Tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ấn truyền xuống thế.

Muốn làm được việc đó Thái Tử không thể không có nhị xác thân Tinh Khí Thần, do tu thiền luyện khí mà ra. Nhị xác thân là xác thân trung thân giữa vô sắc thân và phàm thân. Vô sắc thân là Thân Thức, Thức Thân Thần Lực, với thức thân Thần Lực này các vị Đại Bồ Tát đi xuyên qua sắt thép, sành sứ, Kính, Đá xuyên qua quả Địa Cầu không để lại dấu vết, còn nhị xác thân không làm được điều đó, xác thân của Thiên Tiên, Địa Tiên nhị xác thân như trên Kinh đã nói, là xác thân do tu thiền luyện khí mà ra. Lâu hay mau đều do người tu luyện mà thành.

Để hiểu rõ hơn Thái Tử phân tích: trên xác thân phàm tục là nhị xác thân Tinh Khí Thần, Thần ở đây không phải là Chơn Thần mà là Thần Lực. Trên nhị xác thân Tinh Khí Thần, là căn thân Thần Thức Huệ Mạng Linh Hồn. Với Căn Thân Linh Căn Thần Thức Huệ Mạng Linh Hồn. Các vị Đại Bồ Tát đi xuyên qua tất cả. Sắt, thép, sành sứ, kính, kiếng, thậm chí đi xuyên qua quả địa cầu, mà không để lại dấu vết. Vì thế mất xác thân phàm tục, chẳng khác nào lột bỏ một vỏ bọc linh hồn, lớp vỏ bọc già cỗi. Không ảnh hưởng gì tới linh hồn cả. Thậm chí cả nhị Xác Thân, Tinh Khí Thần cũng thế. Chỉ có Căn Thân Huệ Mạng Linh Hồn là vô cùng quan trọng.

*********

Hết phần 5 chương 8 mời xem tiếp phần 1 chương 9 Long Hoa Mật Tạng. Có thể nói trong tam thiên đại thiên thế giới không có gì quý hơn bộ kinh nầy. Những ai ca ngợi Bộ Kinh Nầy thời những người nầy trong vô lượng kiếp, thường đứng đầu đại chúng, lời nói ai cũng muốn nghe. Huống chi là yêu quý gần gủi đọc tụng tìm hiểu ý nghĩa của kinh.

 

*********

CHƯƠNG 9

PHẦN 1

NẤC THANG ĐẦU TIÊN CHINH PHỤC VŨ TRỤ

Để tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ấn vũ trụ, Thái Tử bước lên nấc thang đầu tiên tập trung ý chí cho cuộc mở màn tu thiền luyện khí tiến sâu vào bí mật vũ trụ, cảnh giới tối cao của trí huệ. Theo sự nhân biết của Thái Tử, con người là Tiểu Thiên vũ trụ, vũ trụ thu nhỏ mà thôi. Có thể nói một cách dễ hiểu hơn, con người là Tinh Hoa vũ trụ do Tổ Tiên tạo ra bao hàm cả Âm lẫn Dương. Luyện nhị xác thân cũng thế phải biết kết hợp Tinh Hoa Âm Dương của chân khí. Âm Dương giao hóa, kỳ tích phát sanh, nhị xác thân phát triển hình thành. Ẩn tàng trong thi thể xác thịt phàm tục.

Theo tính toán nhận thấy của Thái Tử. ÂM và DƯƠNG ngày đêm, phải có thời điểm giao hợp kết tinh giao nhau sanh sanh hóa hóa.

Thời điểm kết tinh của ÂM DƯƠNG là Tý – Ngọ thời điểm giao hóa của ÂM DƯƠNG là Mẹo – Dậu.

Để tâm ý thanh tinh là nền tảng làm phát sanh Thần Lực. Ý trí trở nên mạnh mẽ thu hút chân khí vũ trụ. Tý – Ngọ – Mẹo – Dậu đưa sâu vào lục phủ ngũ Tạng tích tụ tại Đan Điền. Mỗi lần hít thở theo ý tưởng đưa chân khí vào Đan Điền là mỗi lần tích góp Tinh Khí Thần, làm tăng thể lực trong người giảm đi sự đói khát và mỏi mệt.

Để tu luyện nhị xác thân mau đạt kết quả Thái Tử tự vẽ hình người. Chấm các huyệt đạo trên người một cách thuần thục. Từ huyệt đạo trọng yếu chủ lực cho đến các huyệt đạo bình thường, 365 huyệt. Gần tương ứng với 365 ngày.

Với tư thế ngồi xếp bằng lưng thẳng đầu hơi cúi, mắt mở hí hí nhìn chót mũi. Hai chân tréo lên nhau, hai lòng bàn chân ngữa lên trời Có lúc Thái Tử ngồi xếp bằng hai chân chồng lên nhau mà thôi, hai lòng bàn tay cũng thế, với tư thế ngồi như thế. Thái Tử hướng tiểu thiên vũ trụ về Đại Thiên vũ trụ. 360 huyệt đạo thông theo hai lòng bàn chân, hai lòng bàn tay và đỉnh đầu. Ngũ thông năm cửa lớn thông thiên, thông địa của con người.

Có khi Thái Tử đan tréo các ngón tay chồng lên nhau, với tư thế ngồi tu thiền luyện khí của Thái Tử với bao ẩn tàng triết lý mầu nhiệm. Những bước đi cơ bản để rồi tiến sâu hơn trên con đường hội nhập chinh phục vũ trụ. Nhờ ý chí cương quyết hơn một tháng đầu Thái Tử dốc hết tâm trí, mọi tạp niệm đều dứt sạch, ngồi kiết già tập trung luyện khí, chỉ thấy cơ thể khỏe hơn. Còn tất cả thì không phát hiện được gì.

Thái Tử đâm lo suy nghĩ, không lẽ ta thấy sai, nên suy luận cũng sai. Phương pháp tu thiền luyện khí còn có chỗ chưa hợp lý nên tu luyện cả tháng mà chưa thấy hiệu quả. Thái Tử để hết tâm trí suy luận lại từ đầu. Không lẽ tu thiền luyện khí đến cả trăm năm mới thành thì hết đời người mất còn gì, còn đâu mở ra hướng đi mới cứu nhân độ thế.

Không lẽ phương pháp tu thiền luyện khí ta cũng như các Đạo sĩ tu thiền luyện khí của các Thần giáo. Thái Tử tự nghĩ Không thể được, sự tu luyện của các Đạo sĩ Thần giáo là sự tu luyện lần mò không nắm bắt được bí quyết tu thiền luyện khí. Cũng như sự huyền vi của tu thiền luyện khí.

Các giáo chủ Thần Giáo không làm chủ được Linh Hồn, không làm chủ được lục Căn lục Thức, cũng như thức tánh, Chân tánh của mình. Vô minh luôn luôn xoay chuyển, khó mà tiến sâu vào bí mật tu thiền luyện khí đỉnh cao của Tạo Hóa. Không đủ trí tuệ phăng lần nhân duyên bí mật đó.

Trong lúc Thái Tử để hết tâm suy luận lại từ đầu, hầu tìm ra giải pháp những chỗ chưa hợp lý. Vô tình Thái Tử nhìn thấy một chồi cây xanh mới mọc ngoài khung cửa, chồi xanh ấy rất lạ hầu như cuốn hút Thái Tử. Thái Tử tò mò tập trung tư tưởng khám phá, cả hàng giờ nào có thấy chi lạ đâu, không có gì thay đổi. Chồi cây vẫn là chồi cây.

Lúc ấy Thái Tử mới thôi tập trung khám phá chồi cây. Tiếp tục luyện tập tu thiền luyện khí, thời gian trôi qua lại thêm 1 tuần nữa, lần này Thái Tử cảm thấy cơ thể hầu như có điềm khác lạ nhưng chưa được rõ ràng lắm.

Vô tình Thái Tử nhìn ra chồi cây xanh, thì vô cùng kinh ngạc, chồi cây xanh thêm nhiều lá sum xuê. Thái Tử tự hỏi chồi xanh ra lá hôm qua, hay bữa nay? Hay là sự phát triển không dừng rất chậm. Thái Tử như bừng lên giác ngộ phải rồi, sự phát triển của chồi cây rất chậm. Trong một giờ khó nhìn thấy sự phát triển của nó mà phải nhìn hàng tuần, thì mới thấy sự phát triển của nó. Tu thiền luyện khí khác nào phải nhìn hàng tháng hàng năm mới thấy kết quả. Thái Tử nhìn chồi cây sum xuê như cảm ơn sự nhắc nhở đánh thức của người.

Đúng lúc ấy có một người xuất hiện, Thái Tử vô cùng ngạc nhiên. Thái Tử hỏi:

   Ngươi đến đây tìm ai?

Người ấy lễ phép nói:

   Tôi tìm Thái Tử.

Thái Tử nghe người ấy nói vô cùng kinh ngạc và hỏi:

   Ngươi tìm ta có chuyện gì?

Người ấy lễ phép thưa:

   Nghe Thái Tử là người thông thái, trí huệ vô biên, Cha Tiểu Thần qua đời để lại cho Tiểu Thần vật gia bảo quí hiếm, bảo vật Thần Lửa, khi nào cần thì lấy lửa, nhưng Tiểu Thần tìm mãi không tìm thấy lửa, có người bảo Tiểu Thần thử ma sát vào nhau, Tiểu Thần ma sát mãi chỉ thấy hơi nóng bốc ra mà thôi, cọ qua cọ lại cả năm cũng không thấy lửa, vật lấy lửa coi như là vật Thiên. Người nào làm chủ vật đánh lửa coi như người đó là con của Thần Mặt Trời.

Ở vào thời kỳ ấy lửa vô cùng quan trọng đối với con người và có nhiều Thần giáo thờ lửa.

Nghe chuyện lạ Thái Tử tò mò hỏi:

   Ngươi có đem theo vật chí bảo đó không?

Người ấy nói:

   Dạ có nó rắn cứng vô cùng.

  Người ấy nói xong đưa cho Thái Tử. Thái Tử cầm lấy quan sát một hồi rồi ma sát vào nhau mỗi lúc một mạnh, sự ma sát liên tục của hai thỏi đá đã bốc khói. Thái Tử vận lực lên hai bàn tay ma sát hai thỏi đá tốc độ nhanh hơn mạnh hơn, thì ánh sáng lóc lên tia lửa phát ra dữ dội. Thái Tử đưa chúng vào mồi để cháy, tức thì ngọn lửa bốc lên, nếu sơ ý không cẩn thận sẽ gây ra hỏa hoạn, tàn phá thiêu rụi núi rừng, nhà cửa sự sống của con người và vạn vật. Đốm lửa cháy rừng.

Người xuất hiện la lên:

   Có lửa rồi, thế mà tôi cọ xát chúng cả năm không có, Tôi hiểu rồi.

Người ấy nhận lại vật đánh lửa rồi biến mất. Thái Tử vô cùng kinh ngạc người ấy là Thiên Thần sao ?

Lửa Âm Dương. Lửa Lòng. Lửa Công Lý, Chân Lý. Những thứ lửa mà Thái Tử cần phải biết cách tạo ra nó, dùng nó để làm lợi ích cho cuộc sống con người, thứ ánh sáng đem về cho nhân loại bao sự sống yên vui hạnh phúc. Thái Tử là nhà khoa học vĩ đại. Luôn luôn khám phá quy luật bí mật sẳn có nơi vũ trụ làm lợi ích phục vụ cho đời sống con người. Thái Tử lấy lửa theo phương thức tự nhiên. Không có sự bí mật Thần Lửa nào cả mà chỉ áp dụng theo phương thức khoa học, khi ngọn lửa đã bốc cháy, Thái Tử nhìn lên không gian theo hướng biến mất của người xa lạ bổng nghe trên không có giọng hát vọng xuống.

Lửa Lòng, Lửa Huệ, Lửa Âm Dương

Quy luật xưa nay vốn sự thường

Huyền cơ bí mật nào xa lắm

Quanh ta đầy dẫy bí pháp vương.

Thái Tử như người tỉnh mộng, trí huệ bừng khai mở lên một đỉnh cao mới. Thái Tử giờ đây nhìn vào cái gì vật gì, cảnh quan đều nhìn thấy ẩn tàng lời dạy của Đức Cha Trời. Đấng tạo vật Đấng lập lên tất cả, vũ trụ sự sống chết cùng con người. Đấng toàn năng, toàn giác. Đấng sáng tạo và lập lên tất cả. Sự phát triển của cỏ cây, cũng như cách lấy lửa, làm tăng thêm sự giác ngộ, hiểu rõ về thành quả trên bước đường mình đi.

Niềm tin và sự quyết đoán dẫn Thái Tử đến mục đích cuối cùng. Thái Tử siêng năng tu tập không dừng nghỉ. Tý – Ngọ – Mẹo – Dậu, 4 thời 8 giờ không bỏ sót. Ý chí Thọ tưởng thu nạp chân khí đều đặng đưa sâu tận Đan Điền. Còn những giờ khác Thái Tử luôn trụ tâm thức tại Đan Điền, thở ra hít vào bằng Đan Điền, cứ thế ngày qua tháng lại hơn một năm. Hôm nay Thái Tử kiểm chứng sự thành công hơn một năm đã qua. Thì thấy rõ sự thay đổi trong cơ thể, cũng như các giác quan, nếu đem so sánh với lúc chưa tu thiền luyện khí, thì hai trạng thái khác xa như hai người ở hai cảnh giới khác nhau. Như người ốm nặng và người khỏe mạnh hay nói một cách khác một phàm một Thánh. Sự hít thở Thái Tử giờ đây khác với người thường, không phải do phổi làm chủ mà do Đan Điền làm chủ, phổi chỉ là giai phụ. Mỗi lần tham thiền luyện khí, thì nơi Đan Điền tỏa ra luồn khí nóng lan tỏa ra các huyệt Đạo xung quanh như. Hoang Du, Thủy Phân, Thiên Khu, Đại Cự, Khí Hải Quan Nguyên, rồi lan tỏa rộng ra Phúc Kết, Thương Đạo, xuống Cực Trung lên Trung Quản, Cự Huyết, Cửu Vĩ, lan tỏa ra Thủy Đạo, Xung Môn, Đại Hách, Kỳ Môn, Khí Xung lan xuống Khúc Cốt, Hội Âm, lan ra Đới Mạch, Lương Môn, Cự Liêu, Bất Dung, Chương Môn, Nhật Nguyệt, Ngũ Khu. Làm cho toàn phần bụng nóng rang. Rồi lan tỏa khắp châu thân, làm cho thân người nhẹ bổng, tuy hôm nay trời giá rét xuống đến không độ, nước như đóng băng, thế mà Thái Tử không thấy lạnh lẽo chi cả, khi Thái Tử chỉ mặc một chiếc áo mỏng. Thái Tử không cho mặc áo mỏng dễ cảm lạnh là vì Thái Tử hiểu rõ thể lực của mình giờ đây đã khác hẳn hơn trước kia, có thể chịu đựng sự nóng lạnh mà người thường không thể nào chịu nổi.

Đồ ăn thức uống được đưa đến những món cao lương mỹ vị hàm lượng bổ dưỡng cao. Nếu không luyện tập thì rất dễ bị bệnh béo phì, làm tổn thương đến các kinh mạch, nhưng lần lần Thái Tử càng phát hiện là mình không thấy đói khát. Nhất là những món ăn Động Vật dần dần không thích hợp với khẩu vị của Thái Tử. Vì các giác quan đã dần dần trong sạch. Nhất là cơ quan vị giác, khứu giác. Cũng như cơ thể lục phủ ngũ Tạng phản tỉnh khó chịu khi ăn chất Động Vật có lúc dẫn đến nôn mửa, gây khó chịu cho cơ thể. Có thể nói đây là sự phản ứng của nhị xác thân mới hình thành trong cơ thể của Thái Tử. Nếu nhị xác thân của Thái Tử hình thành lớn mạnh thì Thái Tử trở thành người ăn chay, chỉ ăn toàn Thực Vật. Điều này đã làm cho Kinh Dương Vương và Thần Long Nữ lo lắng cho sức khỏe Thái Tử vì sợ Thái Tử ốm gầy rồi mất mạng, theo quan niệm của nhân gian thường tình. Trường Chay chính là khổ hạnh, nhưng họ có hiểu đâu Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đều coi trọng việc ăn chay, vì ăn chay ẩn tàng nhiều lợi ích. Về mặt tâm linh thì Đại Từ Đại Bi, còn về mặt thể xác không những đẩy lùi bệnh tật mà còn tích tụ Chánh Khí phát Đại Dương Quang, tu luyện mau thành chánh quả. Đó là một trong trăm nghìn lợi ích, còn nhiều lợi ích nữa kể không hết. Sự dư thừa các món ăn hằng bữa của Thái Tử đã làm cho Phụ Vương cùng Mẫu Hậu lo lắng. Sao con lúc này ít ăn như thế hay có bệnh hoạn gì không? Nhưng vì có lời dặn của Thái Tử, không ai được gặp vì gặp như thế không những làm cho Thái Tử mất mạng trong lúc nhập thiền vận hành chân khí mà còn làm cho Thái Tử Động Tâm, tu luyện khó thành chánh quả.

Kinh Dương Vương và Thần Long Nữ không dấu nổi lo lắng trong lòng, liền kêu Xão Nữ thị Tỳ hỏi:

   Người thấy sức khỏe Thái Tử dạo này ra sao ? Thị Nữ ngươi thấy Thái Tử dạo này ra sao?

Nhìn nét mặt lo lắng Quốc Vương, Vương Hậu lo cho Thái Tử không phải là lo cho mình. Nhưng Thị Nữ cảm thấy lòng ấm áp như có cái gì cảm động nghèn nghẹn trong lòng.

Thị Nữ lễ phép trả lời:

   Muôn tâu Quốc Vương, Vương Hậu. Con chỉ được phép đem đồ ăn thức uống đến phòng ăn, chừng nào có hiệu lịnh Thái Tử mới được vào dọn dẹp, gần 2 năm nay tiểu Nữ chưa một lần nhìn thấy Thái Tử, thì làm sao tiểu Nữ biết Thái Tử mập ốm thế nào mà kể.

Quốc Vương và Vương Hậu Phi nghe xão Nữ thị tỳ nói thế, thì chỉ biết thở dài mà thôi. Quốc vương nghĩ vì tương lai của non sông Tổ Quốc mà con ta phải chịu bao khổ sở, Cha con xa cách, tuy ở gần mà cách nhau như hàng vạn dặm. Với bao nỗi nhớ thương. Sợ con đau ốm vì dốc sức tu luyện, tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn Thiên ẤN vũ trụ, Bình Định Thiên Hạ về một mối. Đẩy lùi chiến tranh, đẩy lùi Lạc Hậu, đói nghèo, mở ra trang sử mới, trang sử công bằng văn minh, bảo tồn độc lập lâu dài, đây là một việc làm vô cùng khó khăn mà từ xưa tới nay chưa có ai làm nỗi.

Kinh Dương Vương nghĩ phía trước còn quá khó khăn, đầy dẫy gian nan kham khổ mơ hồ không chút hy vọng. Không biết giờ này đã gần 2 năm con đã lần ra manh mối nào chưa? Để cho con có đầy đủ sức khỏe, thay thế cao lương mỹ vị nem Rồng chả Phụng bằng những Thực Vật quí hiếm, trên núi tuyết, nơi hang sâu, ngoài hang Đảo, dưới biển sâu, để tăng thêm sức khỏe. Mật ong, sữa bò, tổ yến nấu với gạo nếp, uống nước sâm nghìn năm, cộng với Linh Chi, tuyết quả, phải nói đây là những món ăn thức uống quí hiếm trong đời, trợ duyên cho người tu thiền luyện khí mau Đắc Đạo.

Nhờ trợ duyên những món ăn quí hiếm Thái Tử thể lực Chân Khí tăng tiến thần tốc. Mỗi khi tham thiền luyện khí, Chân Khí cuồn cuộn tăng lên như nước biển triều dâng, cơ thể nhẹ nhỏm, tưởng chừng như bay bổng khỏi mặt đất, không thấy mệt mỏi chi cả dù thức suốt ngày suốt đêm hàng tháng.

Trải qua một thời gian ngắn chỉ hơn 3 năm Thái Tử đã đạt đến cảnh giới, tam hoa tụ đỉnh, ngũ khí triều dâng. Hiếm thấy trong thế giới tu thiền luyện khí, trong nhân loại từ xưa tới nay. Kinh Dương Vương Cha của Thái Tử là người tu thiền khí rất siêng có hơn 70 năm cũng không hơn được Thái Tử bây giờ.

Đạt đến cảnh giới tam hoa tụ đỉnh, ngũ khí triều dâng. Không phải ngẫu nhiên mà thành tựu mau chóng đến thế mà do cơ thể Thái Tử có nhiều tướng tốt, lại thêm thông minh xuất chúng trí huệ thượng thừa, tu theo phương pháp thượng thừa, cộng với nhiều nhân duyên tốt đẹp khác nữa. Nên mới có kết quả thành tựu nhanh đến nỗi ai nghe qua cũng khâm phục, trong thế giới tu thiền luyện khí.

Thái Tử hiểu rõ, con người là Tinh Hoa vũ trụ thu nhỏ cả một sự huyền bí, khám phá bí mật con người là nền tảng chỗ tựa tiến dần khám phá vũ trụ. Linh giác vũ trụ, vật thể vũ trụ. Linh Hồn con người, thể xác con người, sợi móc xích trung gian để tồn tại, chính là Vô Cực Chân Nguyên Thần Lực vũ trụ, Thần lực con người. Thế giới vật chất cũng như thể xác con người tồn tại hay tan rã đều liên quan đến Lực này, Vô Cực Chân Nguyên Thần Lực. Vô Cực Chân Nguyên là thể lực vô vi xuyên qua tất cả không để lại dấu vết là đầu dây mối nhợ chuyển hóa hình thành ra thế giới vật chất.

Vô Cực Chân Nguyên Thần Lực vũ trụ là trung gian nối liền giữa bản thể Linh giác vũ trụ và vật thể vũ trụ, tức là bản thể Linh giác Tổ Tiên và thế giới vật chất, vật thể vũ trụ, mà thế giới vật chất có ba thể, từ bán vô vi đến hữu vi, từ thể hơi đến thể lỏng, thể đặc, có thể nói một cách dễ hiểu, Vô Cực Chân Nguyên, Thần Lực vũ trụ là trung gian nối liền giữa bản thể Linh giác vũ trụ và Chân Khí vũ trụ, siêu vô vi và hữu vô vi. Siêu vô vi là Linh giác vũ trụ. Hữu vô vi là Chân Khí vũ trụ.

Hữu vô vi Chân Khí chuyển hóa thành thể hơi vũ trụ, là trung gian giữa Vô Cực Chân Nguyên Thần Lực vũ trụ và vật chất hữu sắc Thể Lỏng.

Rồi từ vật chất hữu sắc, Thể Lỏng chuyển hóa thành nước, làm trung gian giữa hữu vô vi Chân Khí thể hơi và hữu sắc thể Đặc. Sự liên quan móc xích, từ vô hình đến hửu hình, từ vô vi đến hữu vi, từ vô sắc đến hữu sắc. Từ Thể Lực đến Thể Hơi đến Thể Lỏng đến Thể Đặc. Sự liên quan tồn tại hay tan rã của bốn thể trên, qua liên kết tiến hóa, chuyển hóa tồn tại hay hủy diệt Thái Tử thấy biết rõ ràng.

Thái Tử hiểu rõ, con người là Tinh Hoa vũ trụ, vũ trụ thu nhỏ, tiểu Thiên vũ trụ. Hiểu Tiểu Thiên vũ trụ là hiểu Đại Thiên vũ trụ, hiểu con người là hiểu vũ trụ, hiểu vũ trụ là hiểu bí mật của con người, hiểu bí mật của con người chính là chiếc chìa khóa vạn năng để mở tung vũ trụ, kho tàng tri thức nhân loại mà Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa thành tâm bảo vệ và gìn giữ. Đó chính là Văn Hóa Cội Nguồn, Thiên Ấn vũ trụ.

Thái Tử tóm thâu Tinh Hoa vũ trụ, bổ sung bồi đắp cho Tinh Hoa con người, đưa con người tiến đến giai đoạn mới, giai đoạn tiến về vũ trụ, hiểu vũ trụ và làm chủ vũ trụ. Tu Thiền luyện khí, tốm thâu Chân Khí vũ trụ, cũng có nghĩa tóm thâu vũ trụ, từ vô vi Thần Lực vũ trụ đến hữu vi hữu sắc vũ trụ cộng thêm sự ăn uống của Thái Tử, đã đầy đủ nhân duyên kết hợp bốn thể, Thể Lực, Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc, đưa Thái Tử đến thành tựu nhị xác thân nhanh chóng, Tinh khí Thần hợp nhất chuyển hóa. Nhị xác thân đã hình thành, thì những bí mật vũ trụ, bí mật con người lần lần hiển lộ. Dẫn con người từ bất ngờ này sang bất ngờ khác, hiểu con người mới làm chủ được con người. Hiểu tâm Linh mới làm chủ được Tâm Linh. Hiểu xã hội mới làm chủ được xã hội. Hiểu vũ trụ mới làm chủ được vũ trụ. Hiểu công năng của tu thiền luyện khí, thì người tu thiền luyện khí mới thu lượm gặt hái thành quả mau chóng được.

Điều đáng nói ở đây muốn tu thiền luyện khí có hiệu quả cao, thì phải làm chủ được tâm của mình, được ý của mình. Tức là hàng phục Tâm viên, ý Mã, Thân Tâm thanh tịnh, chăm chỉ tốm thâu Chân Khí và giữ Chân Khí tại Đan Điền. Tâm Điền – Khí Điền – Đan Điền. Là mật tạng vũ trụ. Ý thức làm chủ tam điền này. Thì tu thiền luyện khí thành tựu mau chóng. Nhờ thành tựu nhị xác thân mau chóng. Vì thế con người cũng tiến tới đỉnh cao mau chóng, tiến lần tới những nất thang làm chủ vũ trụ. Thái Tử hiểu rõ trong thế giới Động Vật có đến 8 muôn 4 nghìn loài, chỉ có loài người là Động vật cao cấp mà cũng chỉ có loài người mới có khả năng làm chủ vũ trụ. Trở về với Đấng Ông Cha. Đấng tạo lập lên vũ trụ. Tạo lập lên con người. Tóm thâu Tinh Hoa Chân Khí vũ trụ, được rót vào cơ thể con người. Tức thời làm tăng thêm sức mạnh, kể cả sức mạnh Thần Lực, Thể Lực, Ý Chí, mọi hiện tượng bắt đầu thay đổi, đẩy lùi đói khát, bệnh tật, nóng lạnh của thời tiết, càng lúc càng rõ rệt. Khi tu thiền luyện khí kết quả thành tựu lên cao. Không những thế người tu thiền luyện khí làm cho huyệt Đạo càng ngày càng thông suốt, da dẽ hồng hào tăng tuổi thọ, tráng kiện về thể xác, minh mẩn về tâm hồn, phán đoán chính xác, giải quyết mau lẹ. Đó là ưu điểm của người tu thiền luyện khí. Thái Tử nghĩ một dân tộc văn minh, thì dân tộc đó văn minh vật chất phải đi đôi với văn minh tinh thần, thì dân tộc đó mới thật sự văn minh. Con người muốn có hạnh phúc trọn vẹn, phải biết tu dưỡng thể xác, cũng như tu dưỡng tinh thần, nếu không phải thế thì khó mà tìm thấy hạnh phúc trọn vẹn.

PHẦN HỎI ĐÁP.

Hỏi: Đấu tranh giải phóng Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị. trả lại quyền tự do, Quyền Bình Đẳng, Quyền mưu cầu hạnh phúc. Mà Tạo Hóa đã ban mỗi con người, những quyền bất khả xâm phạm có phải là Đại Từ Đại Bi không?

Đáp: Nếu làm được như vậy đúng là Đại Từ Đại Bi. Còn nếu giải phóng dân tộc ra khỏi áp bức Độc Quyền Độc Tài Độc Trị tàn bạo, rồi lên cầm quyền cai trị không những không trả lại quyền tự do, Quyền Bình Đẳng, Quyền mưu cầu hạnh phúc, những quyền cơ bản mà Tạo Hóa đã ban cho mỗi con người. Tiếp tục con đường cũ Độc Tài Độc Trị thời cuộc giải phóng đó đối với dân mà nói là cuộc chiến tranh phi nghĩa, được là Vua, thua là giặc, dân vừa thoát ra khỏi họng cọp, liền rơi vào miệng sói và sự việc này cứ lặp đi lặp lại hai nghìn năm rồi. Một dân tộc mà mang hai chữ Đồng Bào thì dân tộc đó là dân tộc Đa Nguyên, Dân Tộc kết hợp nhiều chủng Tộc. Dân Tộc Bách Việt Văn Lang, hay 54 dân tộc anh em Việt Nam. Đã là Dân Tộc Đa Nguyên kết hợp nhiều chủng tộc như vậy. Thì không phù hợp chế độ độc tài độc trị. Mà chỉ phù hợp sống theo Hiến pháp, Luật pháp, Đạo Pháp nền Quốc Đạo dân tộc truyền thống  giữ nước và dựng nước mà thôi. Sống theo Hiến Pháp, Luật pháp,Đạo Pháp là sống Công Bằng Bình Đẳng, Quyền Tự Do, Quyền Ngôn Luận, Quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc mới thật sự thể hiện đầy đủ đi vào đời sống con người.

Hỏi: Thế nào là Đạo Lớn?

Đáp: Đạo là con đường để đi, nếu đó là con đường Văn Hóa Cội Nguồn, Văn Hóa Đại Đồng. Thì đó chính là con đường lớn, Đại Đạo ra đời. Không phân biệt Đảng phái, Đạo giáo, Tôn giáo, màu da chủng tộc, giàu nghèo, Tà Chánh, dốt ngu, Thiện ác đều đi được cả. Mỗi bước chân là mỗi bông hoa mùa xuân nở theo chân của họ.

Hỏi: Thế nào là Đức Lớn?

Đáp: Suốt đời vì nhân loại nhưng không cầu bổng lộc gì cả. Phi ân bất cầu báo, chỉ sống theo lòng từ bi bác ái, thương nhân loại khốn khổ, luôn ở ngôi Chánh Đẳng, Chánh Giác trong sạch Vô Vi. Những kẻ bỏ sức ra một đồng, muốn thâu vào bạc tỉ. Lúc nào cũng vì ngôi cao bổng lộc. Quyền thế và Địa vị, lối sống như vậy chỉ vì danh vì lợi vì chức vì quyền. Sống trên mồ hôi, nước mắt xương máu của dân, những kẻ như vậy dù giàu có đến đâu, quyền lực đến đâu cũng chỉ là kẻ thất Đức mà thôi.

Hỏi: Thế nào là người biết?

Đáp: Người hiểu biết là người thấy thiện nên theo, thấy ác nên bỏ. Tôn thờ Chính Nghĩa, tôn thờ non sông Tổ Quốc, tôn thờ Văn Hóa Cội Nguồn. Tôn trọng người chính là tôn trọng mình, sống Bình Đẳng, thường làm lợi ích cho Tổ Quốc trên lợi ích cá nhân. Hạnh phúc thiên hạ cũng chính là hạnh phúc của mình, người có ý tưởng vì nhân loại, thì lúc nào cũng làm cho nhân loại vui. Lối sống giản dị dù ở địa vị cao hay giàu sang phú quý. Cũng không phô thanh thế của mình. Người như thế chính là người Đại hiểu biết.

Hỏi: Như thế nào là người giác ngộ?

Đáp: Hòa mình tất cả hết thảy các tầng lớp xã hội nhưng trụ vững lòng thanh tịnh sống vì Chính Nghĩa không sống theo danh lợi chạy theo danh lợi. Không vì thế mà danh lợi đánh mất mà càng ngày càng lớn, ví như hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, sống trong danh lợi mà không nhiễm danh lợi. Những người nào vì nhân loại, không vì mình và cụ thể nhất là xem qua hành động của họ như Quốc Tổ Vua Hùng, như Phật, như Chúa chẳng hạn. Đó là những người Đại giác ngộ.

Hỏi: Thế nào là người ngu?

Đáp: Những kẻ thường cho mình có trí nhưng làm hại non sông Tổ Quốc, làm hại Đồng Bào anh em, làm trái lại lương tâm. Không rõ sau khi chết Linh Hồn mất hay còn, cứ làm bừa, mãi sa chân vào con đường tội lỗi, để rồi nhận lấy hậu quả thê thảm, người như thế khác nào người mù, trí mù. Không trở thành kẻ ngu mới là chuyện lạ.

Hỏi: Thế nào là tư tưởng lớn?

Đáp: Những người phát Đại Nguyện đều là những người có tư tưởng lớn, Quốc Tổ Vua Hùng là người có tư tưởng lớn, Quốc Tổ Vua Hùng phát nguyện rằng: Ta nguyện giải thoát tất cả sự thống khổ, khổ nô lệ, nô lệ bạo lực cửa quyền, nô lệ kiến thức, khổ đói nghèo, khổ lạc hậu, khổ sanh, lão, bệnh, tử, làm cho nhân loại thật sự tự do thật sự hạnh phúc. Đại Đồng Bình Đẳng ai ai cũng thể hiện đầy đủ những quyền mà Tổ Tiên Đức Cha Trời đã ban cho họ, đầy đủ trí tuệ, không có sự bí mật nào mà không biết, không có sự huyền bí nào mà không thông. Dù cho đó là sự huyền bí quá khứ lúc chưa sanh vũ trụ hoặc suốt vị lai vũ trụ bị hủy diệt và sanh vũ trụ mới và mỗi Linh Hồn tự làm chủ lấy mình. Làm chủ vũ trụ an vui tự tại. Nếu ta không đưa nhân loại tới cảnh giới đỉnh cao như vậy, thì ta chưa hội nhập vào ngôi vị Chánh Đẳng, Chánh Giác, vẫn còn tiếp tục là Đấng Cứu Thế. Tùy nhân duyên mà hiện thân hoặc đầu thai ra, ta lúc nào cũng theo sát nhân loại, lập ra nhiều phương tiện để cứu khổ cứu nạn, đưa nhân loại đến bờ giải thoát, trở thành Chánh Đẳng, Chánh Giác, ngôi vị Chí Tôn. Ngôi Vị Thế Tôn. Bắt chước Quốc Tổ làm theo Quốc Tổ là người có chí lớn. Tư tưởng lớn trong Chính Nghĩa không phải là tư tưởng xưng hùng xưng bá, đưa nhau vào con đường máu đổ đầu rơi, oan oan tương báo, nợ nợ đáo đầu, hận thù chồng chất như non như núi. Đó chỉ là tư tưởng của con người cuồng vọng háo danh, háo lợi, lợi dụng Chính Nghĩa phục vụ cho lòng tham vọng của mình, lòng tham vô đáy, vơ vét của cải, vơ vét quyền lực bao nhiêu cũng không đủ, trở thành kẻ Độc ác, Độc quyền, Độc tài, Độc trị mà nhân loại là nạn nhân của những con người này.

*********

Hết phần 1 chương 9 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 2 chương 9. Long Hoa Mật Tạng Kinh, được coi như là Bộ Kinh đại giải thoát. Giải thoát đói nghèo, giải thoát tội lỗi, giải thoát nô lệ, giải thoát ngu si, giải thoát hận thù, giải thoát địa ngục, giải thoát sanh tử luân hồi.

 

*********

CHƯƠNG 9

PHẦN 2

TU THIỀN

Tu Thiền là gì?

Nói một cách ngắn gọn dễ hiểu. Tu Thiền là làm cho tâm trí lắng yên, bình an, nhẹ nhàng thoải mái, hiệu quả của sự lắng yên tâm trí là làm phát sanh trí huệ, giống như ngọn lửa đang cháy hoặc lụn tàn, đổ thêm ngụm dầu làm cho ngọn lửa bừng sáng bốc lên cao.

Tu Thiền có hai cách:  ĐỊNH sanh THIỀN và THIỀN sanh ĐỊNH.

Định: là tập trung tư tưởng vào một điểm cố định. Chú tâm lắng suy nghĩ, làm cho tâm trí yên lặng đó là Thiền.

Sơ Thiền: là thư giãn buông thả tất cả, không vướng bận chi hết, lắng yên tâm thức bình an nhẹ nhàng, sự lắng yên Tâm Thức ấy gọi là Thiền sanh Định, cũng giống như ăn để sống, sống là do ăn Thiền sanh Định. Định sanh Thiền cũng vậy mà thôi, hể có Thiền thì sanh Định, hể có Định thì sanh Thiền. Như vậy Thiền Định là một phương pháp mật tạng vũ trụ, làm cho tâm trí bình an, nhẹ nhàng, tỉnh lặng, xóa tan đi những năm tháng lao tâm, lao trí mệt mỏi. Cũng như dừng nghĩ không cho phát sanh nghiệp quả, nhất là nghiệp quả ác.

Nói về Thiền, thì có từng bậc cao thấp khác nhau, thư giản dứt căng thẳng lo âu đó cũng là Thiền. Tiến sâu hơn nữa là buông thả tất cả tâm hồn tĩnh lặng, Đạo Thiền. Tiến sâu hơn nữa, giác ngộ Chân Tâm, Chân Tánh, an trụ Chân Tâm Chân Tánh, Chánh Đẳng Chánh Giác, tối thượng Thiền, Chánh Định, Tâm Hồn đã an trụ Chánh Định, thì coi như đã vào cảnh giới Cực Lạc.

Nói về tu thiền luyện khí, luyện Đạo, luyện Quyền, luyện pháp, không phải bây giờ mới có mà đã có từ khi con người ra đời, nếu nói con người ra đời đầu Tiên vũ trụ thời xa xưa lắm, không có số lượng nào ví dụ được, vô số vô biên. Còn nói gần thì con người ra đời trên quả Địa Cầu nầy, thì cách đây 75 triệu 600 nghìn năm, trải qua gần 5 tiểu kiếp. Còn nói gần hơn nữa, tức là đầu tiểu kiếp thứ 9 người Hồng Hoang nguyên thủy, những người sống sót cuối tiểu kiếp thứ 8. Sống qua tiểu kiếp thứ 9.

Cách đây năm nghìn năm, Quốc Tổ Hùng Vương ra đời. Ở vào thời kỳ nhân loại đã tiến hóa trên đà văn minh ý tưởng khắp đó đây, khắp vùng phương Đông đã có trên 60 giáo phái, mỗi giáo phái đều có sở trường khác nhau, nhưng nói chung mục đích là đưa con người đạt đến đỉnh cao, xưng hùng xưng bá thống trị Thiên Hạ.

Nói đến Thiền Định, thì mỗi giáo phái đều có cách tu thiền luyện Định, ở bước đầu khác nhau như phái Thần Lửa. Định sanh Thiền. Ngồi xếp bằng nhìn vào ngọn nến cách đó không xa, tập trung tinh thần, chăm chú nhìn ngọn nến không chớp mắt, sau đó nhắm mắt lại và hình dung ngọn nến ở ngay điểm chính giữa hai chân mày, với phương pháp này, phái Thần Lửa Định tâm nhờ an trụ vào ngọn nến, nhờ định Tâm mà sanh Thiền. Thiền đã sanh thì Định tâm càng thêm kiến cố, tiến sâu hơn các tu sĩ, Đạo sĩ phái Thần Lửa này vận hành ngọn lửa Tâm Linh chạy khắp Châu thân, gọi đó là luyện Đạo, rồi ứng dụng ra quyền pháp, quyền thuật và đỉnh cao của giáo phái này là ngũ thông, lẩn quẩn trong cảnh giới của Địa Tiên.

Ở vào thời kỳ này có tới hơn 60 giáo phái như phái Thần Quyền, phái Luyện Chú, phái Tuyệt Thực, phái Hít Thở, phái Luyện Đan v.v… Đỉnh cao của các giáo phái này cũng không hơn được giáo phái Thần Lửa, cũng chỉ ở cảnh giới ngũ thông cảnh giới của Địa Tiên mà thôi. Nói chung các giáo phái ở vào thời kỳ ấy hầu hết là theo phương pháp, chú tâm vào một điểm nào đó để sanh thiền. Các giáo phái này còn mãi dò dẩm trong đêm tối, lẩn quẩn trong sanh tử, khó mà thoát khỏi luân hồi lục Đạo. Bị cái thấy, nghe, hay, biết của chính mình xây chuyển, khởi tâm chấp trước phân biệt khởi nghiệp liên miên.

Còn tu thiền sanh Định là lối tu khó hơn, như phái Du già sau này thành phái Tăng già, là do quán tưởng sanh Định. Sơ căn của tu Thiền là thư giãn buông thả từ từ, cho đến buôn thả hoàn toàn, không vướng bận chi cả, giải tỏa cảm giác căng thẳng bận bịu vướng víu Tiến xa hơn nữa là dứt lần dục niệm, cội căn gốc rễ của mọi tội lỗi lầm cho tâm hồn trở nên trong sáng an lạc. Nhờ vào ý thức giác ngộ định tâm trở lại gọi đó là Thiền.

Nói tốm lại sơ căn của tu Thiền là thư giãn buông thả từ từ, cho đến lúc buông thả hoàn toàn giải tỏa cảm giác căng thẳng yên tỉnh sâu lắng thanh thỏa tâm hồn. Đó là Thiền, nhờ công năng của Thiền. Định tâm trở lại, Thiền sanh Định. Tiến xa hơn nữa. Nhờ định tâm trở lại phát hiện những cái mà xưa nay mình không nghĩ tới. Có thể nói là lầm đường lạc lối sanh tâm nhàm chán, mãi chạy theo vô thường biển khổ lúc nào cũng căn thẳng mệt mỏi và kết quả cũng chỉ là con số không. Tâm hồn sa đọa, tương lai mờ mịt. Nhìn cảnh xô bồ vật lộn với đời. Đấu đá nhau dẫn đến lưỡng bại câu thương. Chạy theo dục vọng thấp hèn xa rời Đạo Đức, làm suy thoái truyền thống Đạo Đức Cha ông đúng là khổ, càng nghĩ càng sanh nhàm chán, sự nhàm chán ấy gọi là Thiền. Nhàm chán càng mãnh liệt, thì Định Tâm càng kiên cố bấy nhiêu. Và cứ thế Định Tâm càng lớn thời trí huệ càng tăng. Trí Huệ càng tăng, thì giác ngộ càng cao. Giác ngộ càng cao, thì Thiền trở nên kiên cố. Thiền trở nên kiên cố, thời Định Tâm vững như núi như non. Trí huệ trở nên Thánh Thiện. Tối cao của trường phái này là đạt đến cảnh giới Thiên Tiên chứng lục thông đang đà đi trên con đường giải thoát. Nhưng đối với Văn Hóa Cội Nguồn thì còn xa lắm đối với các trường phái này, huống chi các trường phái Thần giáo. Bà La Môn giáo thì còn xa vời vợi Văn Hóa Cội Nguồn hơn nữa.

Còn tu Thiền của Thái Tử là sự tu Thiền của Đấng Đại giác ngộ, không có một phái nào sánh kịp. Tu Thiền luyện khí của phương pháp tối thượng Thừa, của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Đấng cứu thế. Theo nguyên lý sự sống con người vật chất nuôi thể xác. Đạo lý nuôi Linh Hồn. Theo quan niệm cuộc sống những lý luận xa vời thực tế thiếu khoa học, sẽ làm cho Linh Hồn lụn bại ngu xuẩn làm hại mình hại người. Ở đời ai cũng biết vật chất nuôi thế xác, nhưng vật chất đó tạp nhiễm chất độc hoặc ít hàm lượng chất bổ, thì kết quả sẽ ra sao khi ta ăn hoặc uống những vật chất tạp nhiễm, chất Độc đó. Có phải những vật chất độc hại ấy làm cho cơ thể ta nhiễm Độc theo phát sinh bệnh tật gầy yếu mất sức. Còn ngược lại vật chất trong sạch, không nhiễm Độc, lại dồi dào chất bổ. Sẽ làm cho cơ thể ta khỏe mạnh lạc quan yêu đời.

Như ta đã biết vật chất dưỡng nuôi thể xác Đạo lý dưỡng nuôi Linh Hồn. Chúng ta tiếp thu Đạo lý trong sáng, sẽ làm cho Tâm Hồn trong sáng Thánh Thiện. Vì Đạo là món ăn tinh Thần của Linh Hồn. Đạo Lý nói ra thì nhiều nhưng tốm lại thì có hai mà thôi. Ác và Thiện, Phi Nghĩa và Chính Nghĩa. Người tu thiền luyện khí càng lên cao thì Tâm Hồn càng hướng về Chính Nghĩa, xa cuồng loạn, thì hợp lẽ trời thuận Thiên mệnh. Nhờ thuận Thiên mệnh, muôn phước vạn lành theo cuộc sống hiện ra và tiến tới tu Thiền luyện khí của bậc đại giác ngộ.

Bằng ngược lại tu Thiền luyện khí lên cao tham cầu dục vọng xa rời Chính Nghĩa. Cuồng loạn tà Tâm, thì hậu họa không biết đâu mà lường. Theo lẽ người tu Thiền luyện khí kéo dài tuổi thọ nhưng vì Tâm Hồn hướng về nẻo ác phi Nghĩa. Cơ thể không dung hòa được Thủy, Hỏa, Phong, trong nội thể. Nặng thì tẩu hỏa nhập Ma, Tâm Hồn trở nên điên loạn ác độc tàn bạo vô cùng, đi lần đến sự hủy diệt. Nhẹ thì suy tim, suy gan, suy thận, giảm đi tuổi thọ.

Thường tu Thiền luyện khí, thì phải nương theo cảnh quan trong lành, thanh vắng yên tĩnh, sẽ làm cho tâm hồn dễ định tĩnh hơn, chỉ trường hợp những bậc Đại giác ngộ đã chứng quả Ba La Mật. Hội ngộ Chân Tánh, Thật Tánh, Thật Tướng, Thật Pháp, Thiên Tạng, Luật Tạng, Pháp Tạng vũ trụ như hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Thì dù ở chỗ nào Thân Tâm vẩn thường thanh tịnh không tu không chứng không đắc gì cả, tùy nhân duyên sanh ra đời cứu thế mà thôi. Như Quốc Tổ Vua Hùng chẳng hạn, và còn không biết bao nhiêu vị đã xuống thế, hộ trì giữ gìn Văn Hóa Thiên Ấn, Thiên Bút Cội Nguồn.

Tu Thiền luyện khí là mật Tạng vũ trụ, đưa Hành giả trở lại Cội Nguồn. Quả của tu Thiền là an lạc tâm hồn trí huệ sáng soi. Quả của luyện khí là sức khỏe dồi dào tăng thêm tuổi thọ. Tu Thiền luyện khí là Mật Tạng linh hồn, làm cho các giác quan khai mở linh hoạt nhạy bén, thông minh kỳ lạ, Thấu suốt quá khứ vị lai, khám phá ra nhiều điều kỳ thú, tiến tới cảnh làm chủ bản thân, làm chủ Tâm Linh, làm chủ vũ trụ.

Đỉnh cao của tu Thiền là nhận ra bộ mặt thật của Linh Hồn. Minh Tâm Kiến tánh làm chủ Chân Tánh, làm chủ giác Tánh, tiến tới ngôi vị Chánh Đẳng Chánh Giác, vào cảnh giới vi Diệu thậm thâm, không thể suy nghĩ hay luận bàn được nữa.

Sự tu Thiền luyện khí của Thái Tử, không giống các Đạo sĩ, Tu sĩ của các giáo phái thời đó. Dò dẫm từng bước và mỗi bước tu Thiền luyện khí, xuất hiện nhiều sự lạ cho rằng chứng Đạo hay đắc Đạo.

Thái Tử vượt qua những chứng đắc chấp trước này của các Đạo sĩ, Tu sĩ của các giáo phái, tiểu thừa, trung thừa. Thái Tử nói. Mỗi tâm Linh từ bản thể Linh giác vũ trụ đi ra, khi trở về bản thể mỗi đoạn đường là mỗi mùa xuân. Do mật Tạng tâm Linh hiện ra mà thôi, không có gì mới mẻ cả.

Các giáo sĩ, Đạo sĩ, Tu sĩ của các giáo phái, vì không hiểu Mật Tạng Tâm Linh, Thức tánh, Chân tánh của mình, có những công năng diệu dụng như vậy, chẳng khác nào kính được lau chùi sáng ra mà thôi. Cũng giống như người lực sĩ bị trói, làm giảm đi sức mạnh cũng như tài năng của mình. Tu Thiền luyện khí chính là phương pháp mở trói, khi trói đã được mở thì người lực sĩ tung bay thể hiện tài năng thấy, nghe, hay, biết của mình. Mỗi nấc thiền là mỗi lớp mở trói, mở trói cho đến khi không còn trói buộc bất cứ điều gì, thật sự tự do, thật sự giải thoát, thời liền nhận ra chân Tánh bộ mặt thật bí mật của Tâm Linh. Ông Tổ của muôn loại Thần Thông. Quyền năng vô hạn, ra khỏi sanh tử ở mãi ngôi Chánh Đẳng, Chánh Giác, tùy nhân duyên trở lại phàm trần cứu đời độ thế mà thôi.

Các Đấng Đại Giác này từ Cội Nguồn đi ra rồi trở về Cội Nguồn một cách an toàn. Nói chung tất cả Tâm Linh cũng từ Cội Nguồn đi ra nhưng vì bị trói trong nghiệp lực. Lại quên mất đường về, bị vô minh che lấp Chân Tánh của họ. Nhìn thấy cảnh bị trói trong nghiệp lực, lại quên mất đường về Cội Nguồn, thọ lãnh đủ quả khổ, vì thương nhân loại Đức Chí Tôn mới xuống trần, mở đường chỉ đường cho nhân loại, trở về Cội Nguồn vào ngôi Chánh Đẳng Chánh giác ngôi nhà chung vũ trụ. Đức Chí Tôn đầu thai xuống trần sanh ra từ bụng mẹ như bao nhiêu người khác. Nhưng ý chí, trí huệ, lòng từ bi thời khác hẳn người phàm, rồi trở thành Đấng Cứu Thế.

Trên bước đường trở về vũ trụ. Thái Tử không đi trên con đường tiểu thừa mà đi trên con đường Đại Thừa, Thượng Thừa, tối Thượng thừa. Không đi trên con đường Tiểu Đạo mà đi trên con đường Đại Đạo. Con đường Tự Do Đại Đồng Bình Đẳng. Chủ Nghĩa Đại Đồng chính là Văn Hóa Cội Nguồn. Không phân biệt Tôn giáo, Đảng phái, Chủng tộc, màu da, sang hèn, thiện ác. Ai đi trên con đường Đại Đạo Đại Đồng thượng thừa này, cứ mỗi bước chân là mỗi bông Hoa hạnh phúc, mỗi nấc thang là mỗi tầng mùa xuân.

Sự tu Thiền luyện khí của Thái Tử là phương pháp tối thượng thừa, phá vỡ nhân duyên nghiệp lực, cởi bỏ phiền não nhanh chóng. Làm chủ ý thức, làm chủ Chân Tánh, tiến tới làm chủ vũ trụ, để rồi trở thành Đấng Cứu Thế, đưa nhân loại tới bến bờ giải thoát. Phát huy Chân Tánh an trụ vào cảnh giới Đại Đồng, muôn ý thành một ý, muôn Tánh thành một Tánh, sức mạnh Tâm Linh, ý chí Tâm Linh, ánh sáng Tâm Linh bộc phát dữ dội, phá vỡ vô minh nhanh chóng. Chúng ta nên lưu ý, mỗi tâm Linh con người là cả một thế giới Tánh Linh trong đó, có thể nói có tới 8 muôn 4 nghìn Tánh Linh, mỗi Tánh Linh có vô lượng Tánh Linh đồng chủng của nó. Ví dụ Tánh Tham, không phải chỉ có một tánh tham mà có vô lượng vô biên tánh tham đồng chủng tánh của nó. Tánh sân hận, Tánh ngu si, Tánh ngạo mạn, Tánh Đa nghi, Tánh bảo thủ, Tánh ganh ghét, mỗi Tánh đều có vô lượng vô biên tánh đồng chủng tánh với nó. Mỗi tâm Linh con người là cả một Vương Quốc Tánh Linh và chỉ có Chân Tánh mới có đủ khả năng làm chủ Vương Quốc Tâm Linh đó mà thôi. Còn 8 muôn 4 nghìn tánh do ý thức phân biệt khởi tạo ra đều là giả tánh, nên mỗi sở tánh trong tâm, không đủ quyền lực thống nhất Vương Quốc Tâm Linh mà chỉ có Chân Tánh mới đủ khả năng đó.

Mỗi Vương Quốc Tâm Linh của mỗi con người khi Chân Tánh chưa xuất hiện, thì Vương Quốc Tâm Linh đó thường hay đảo lộn, lúc thế này, lúc thế kia vì không có Tánh chủ Tánh. Cũng như một đất nước không Vua, thế lực nào mạnh tạm thời thế lực đó làm Vua mà thôi, hết phước hết lực, thời thế mạnh hơn, khác tánh lên thay vậy, cứ thế lặp đi lặp lại mãi điên đảo. đảo điên luân hồi vạn nẽo.

Kết luận Vương Tánh chính là Chân Tánh mà Chân Tánh là chủ của 8 muôn 4 nghìn chủng Tánh, chủng Tánh chính là sở Tánh, sở Tánh sanh ra do Chân Tánh, lúc còn mê gọi là vô minh, Chân Tánh vọng chấp phân biệt tạo khởi ra vô lượng thức tánh vô minh, ví như nước khởi tạo ra bọt nước, nước thì chỉ có một nhưng bọt nước thời nhiều. Dứt mê chấp gọi đó là Ngộ. Chủng tánh, sở tánh biến mất, trở về Chân Tánh, bọt nước tan biến trở về là nước. Vương Tánh, Chân Tánh xuất hiện liền làm chủ Vương Quốc Tánh Linh của mình. Mỗi Niệm của Vương Tánh, Chân Tánh là mỗi Niệm giác tha, giác hạnh làm cho Vương Quốc Tánh Linh Chủng Tánh. Hội Ngộ hội nhập thống nhất thành một khối tự do, Độc Lập, Bình Đẳng. Đại Đồng.

Nhờ sự thống nhất muôn vạn thức tánh trở về một tánh chính là Chân Tánh, muôn ý trở về một ý. Nhờ thống nhất vương quốc Tâm Linh, nên Tâm Linh của Thái Tử trở nên mạnh mẽ phi thường dồn hết sức lực vào cảnh giới tu Thiền luyện khí nên tốc độ thành tựu nhị xác thân mau chóng không có mấy người tu hành theo kịp.

Hỏi: Niệm Chân Tánh có quyền lực đến thế sao?

Đáp: Đó là niệm của Chánh Đẳng Chánh giác do Chân Tánh phát ra, không những mỗi niệm có hiệu lực diệt vô lượng phiền não tội ác, còn có sức mạnh phá vỡ Địa Ngục sanh tử, hàng chục vô lượng vô biên chủng tánh sở tánh trong tâm. Chân Tánh là tánh tự nhiên. Tánh không Tánh, cũng là một thứ Tánh trong sạch vô vi mỗi niệm tánh này. Là mỗi niệm Chánh giác, diệt vô lượng vô biên phiền não, vô lượng vô biên tội ác, làm cho thế giới tâm Linh trong tâm trở nên trong sáng, phát sanh Công Đức không thể nghỉ bàn. Tánh thanh tịnh, ý thanh tịnh, trí thanh tịnh, cảnh giới tu Thiền trong tâm thức đã bước sang giai đoạn Đại Đồng, giai đoạn Tâm Tánh, ý thức, trí thức hợp nhất, liền hiển lộ Thần Thông. Giống như người lực sĩ tự mở sạch trói liền phát huy tác dụng sẵn có của mình. Như kính lau sạch bụi thì tất cả điều hiện rõ trong đó. (Minh Tâm Kiến Tánh).

Linh Hồn con người đã trải qua vô lượng ức kiếp, mỗi kiếp ví như mỗi gon tàu nối dài vô tận, thành một chuỗi nhân duyên, từ quá khứ đến hiện tại, kiếp hiện tại là Đầu Tàu. Một phần tác động bởi nghiệp lực quá khứ, một phần do dục vọng ý thức trì níu cảnh giới hiện tại lao thẳng về trước, gieo mầm Thiện, ác kết quả nhân duyên nghiệp lực, luân chuyển trong ba đường sáu nẽo. Lên thiên Đàng hay xuống Địa ngục đều kết tập nhân duyên ở kiếp hiện tại này.

Thái Tử vì quá hiểu rõ như vậy, nên mở đường cho nhân loại trở về Cội Nguồn, sống trên Thiên Đàng Cực Lạc. Nhờ hội Ngộ Chân Tánh sớm. Mặt Trời trí huệ của Thái Tử sáng soi, nên tu Thiền luyện khí thành tựu nhanh chóng. Các giác quan phát huy tác dụng hiển lộ Thần Thông. Tai, mắt, nghe, thấy khắp Địa Cầu, lần lần đến các Cung Trời.

Theo như các Đạo sĩ, Tu sĩ, giáo sĩ cho đây là chứng Đạo, thành Đạo, Đắc Đạo. Thái Tử thì lại khác, đây là chuyện bình thường không có gì lạ cả. Nên Thái Tử thấy cũng như không thấy, nghe cũng như không nghe, không khởi ý tưởng phân biệt Thân tâm luôn luôn thanh tịnh. Vì Thái Tử hiểu rõ thật Tướng vũ trụ là không tướng, thật Tánh vũ trụ là không Tánh, thật sắc vũ trụ là không sắc. Những cảnh giới Thiên Đàng. Trần gian, Địa Ngục là do Âm Dương phân định, nhân duyên kết tập, Thiện, Ác, Mê, Ngộ phân ngôi phước họa luân phiên, quả không có chi là lạ cả, còn duyên thì nhóm hết duyên thì tan. Còn phước thì giàu sang, Quyền thế, hết phước thì nghèo khó, nói chẳng ai nghe, vô thường chuyển đổi có gì mới mẻ đâu, làm chủ ý thức, làm chủ Chân Tánh, làm chủ vũ trụ đó là việc nên làm.

Tìm ra con đường cứu thế đáng quan tâm. Thái Tử hiểu rõ, con đường cứu thế không ở cõi trời, không ở nhân gian, không ở Địa Ngục mà ở ngay tâm Hồn của chính mình, Chân Tánh của mình tiến tới làm chủ vũ trụ, sống tự do Bình Đẳng, trong cảnh giới Đại Đồng an lạc hạnh phúc không còn sanh tử nữa. Cảnh quan vũ trụ đã hiện ra trước mắt nhưng Thái Tử không chú ý mà chỉ chú tâm tu Thiền luyện khí mà thôi. Càng tu Thiền luyện khí càng thấy cơ thể nhẹ nhàng như muốn bay bổng lên không, điều này cũng không có gì là khó hiểu. Theo Nguyên lý vũ trụ. Lực ép Khí, Khí ép Nước, Nước ép đất. Hay nói một cách khác. Thể Lực ép Thể Hơi, Thể Hơi ép Thể Lỏng, Thể Lỏng ép Thể Đặc, cũng vì theo nguyên lý tự nhiên trên, Trái Đất không dễ gì nổ tung được. Khi nào lực vũ trụ yếu đi, thì Trái Đất sẽ nổ.

Thân thể con người là Tứ Đại giả hợp Đất, nước, gió, lửa mà phần hơi ấm của con người, Thể Đặc là chính nên con người dù đang sống trên mặt Địa Cầu, không bị tung bay ra không gian với tốc độ quay của nó. Biết rằng với tốc độ quay của nó đã tạo ra lực hút nhưng không đáng kể so với lực ép vũ trụ. Thể Đặc bị Thể Lỏng ép, Thể Lỏng bị Thể Hơi ép, Thể Hơi bị Thể Lực ép. Mà con người là một khối Thể Đặc, thì không cách gì bay ra khỏi mặt Địa Cầu, muốn bay ra khỏi địa cầu phải hiểu bộ máy huyền vi của vũ trụ, điều khiển chúng và làm chủ chúng.

Hay nói ngược lại, Thể Lực hút Thể Hơi, Thể Hơi hút Thể Lỏng, Thể Lỏng hút Thể Đặc, sự hút, ép đó không phải do Thể Lực tự chủ mà do Thể Chủ của Thể Lực. Nói về Thể Chủ của Thể Lực vũ trụ chính là bản thể Linh giác của Tổ Tiên. Bản thể rộng lớn khắp hư không tác Động thành lập vũ trụ. Duy trì sự sống vũ trụ.

Nói về sự sống con người là do sự phản tỉnh máy động Căn Thân Huệ Mạng Linh Hồn, Linh Hồn con người, duy trì sự sống con người qua trung gian thể lực và chân khí. Căn Thân Linh Hồn theo sự nhận biết thu hút vật chất tác động qua Thần Lực. Như Thái Tử tu Thiền luyện khí là do Linh giác Thái Tử chủ trì. Tốm thâu vô cực, Thái Cực Chân nguyên vũ trụ. Chân Khí – Tinh Khí Thể Hơi – Thể Lỏng vũ trụ tích tụ vào cơ thể. Sức mạnh Thần Thông cứ thế tăng lần lên. Đạt đến cảnh giới, Di sơn Đảo Hải. Từ sức mạnh con người trở thành sức mạnh vũ trụ. Không những Thái Tử hiểu rõ sự hình thành của Thể Lực, Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc mà còn hiểu rõ sự tiến hóa, cũng như mắc xích liên hoàn ép, hút của nó. Mà các thể trung gian luôn luôn đóng vai trò quan trọng. Chẳng hạn như Thể Hơi Chân Khí vũ trụ không những là trung gian của Thể Lực và Thể Lỏng bao bọc xung quanh Trái Đất, bảo tồn sự sống cho quả Địa Cầu. Mà còn rất quan trọng trong thể xác con người, luyện khí càng nhiều sức lực càng mạnh, luyện khí càng cao thi thể càng nhẹ nhàng, làm giảm đi sức ép vũ trụ, tự nổi lần lần giống như bong bóng sắt chìm mãi ở đáy nước, bổng được bơm hơi vào tự nổi lần lên. Bong bóng tự thấy mình càng lúc càng nhẹ nhàng vì không khí bơm càng lúc càng nhiều vào cơ thể bong bóng.

Nói tóm lại. Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc đều có sự co giãn của nóng lạnh, ép, hút, lực vũ trụ, nhất là Thể Lỏng Thể Hơi có Lực đẩy phản hồi rất mạnh, chống lại Lực ép vũ trụ, không những thế, Thể Hơi Thể Lỏng tự phân định nổi chìm, nặng nhẹ khác nhau.

Giữa các tiểu kiếp, lớp Chân Khí bao bọc trái Đất dâng cao 8 muôn 4 nghìn lớp chia làm 3 phần, Thượng, Trung, Hạ. Thượng có 3 phần, Thượng Thượng – Thượng Trung – Thượng Hạ, Trung Thượng – Trung Trung – Trung Hạ, Hạ Thượng – Hạ Trung – Hạ Hạ.

Nói chung Thể Hơi gồm 3 phần, chín Địa Khí như thế, tự do phân định thứ lớp, non nhẹ thì nổi lên trên tiếp giáp với chân không vũ trụ, còn khí già thì bị ép chìm xuống tiếp giáp mặt đất. Lớp khí già là lớp khí chuyển sang Thể Lỏng Hơi Nước rồi từ hơi nước chuyển thành nước. Ba muôn lớp khí già tiếp giáp với mặt Địa Cầu, khí nóng là hơi, khí lạnh là nước. Nhất là mười nghìn lớp khí già, bị lực vũ trụ ép chìm xuống mặt Địa Cầu, khi nóng bốc hơi tạo thành cả nghìn lớp mây, khi lạnh liền chuyển thành nước rơi xuống mặt Đất gây ra lụt lội. Nhất là gần cuối tiểu kiếp gây ra các trận Đại Hồng Thủy, gây kiếp nạn cho nhân loại con người.

Thái Tử khi thành Chánh quả thuyết giáo nói rằng: Nhân Loại hiện nay ở vào giai đoạn gần cuối tiểu kiếp, chỉ còn 10 nghìn năm nữa là hết tiểu kiếp thứ 9, chuyển sang tiểu kiếp thứ 10, ba tầng chín địa lớp khí già này càng về sau càng thái chuyển thành nước, làm cho nước biển càng về sau càng dâng cao, gây ra những trận Đại Hồng Thủy diệt vong sự sống con người, nhất là những thế kỷ gần cuối tiểu kiếp, không chỉ là nước biển dâng cao và các trận Đại Hồng Thủy không đâu. Mà còn có cả Hỏa, phong, nhiệt độ nóng lạnh tăng cao bão lớn mà còn có cả Động Đất liên miên, hủy diệt nhân loại con người. Những ai còn sống sót chuyển sang tiểu kiếp thứ 10, trở thành người Hồng Hoang Bàng Cổ sơ khai.

Ở vào thời kỳ Thái Tử ra đời, ba muôn lớp khí non, hầu như cạn kiệt biến mất, chỉ còn lại mờ nhạt rất hiếm. Ở vào thời kỳ con người dần dần nặng nề, con người tu thiền luyện khí, kết tụ nhị xác thân tinh khí thần, hầu như không đạt được đỉnh cao thường thường là chỉ ở vào cảnh giới của Địa Tiên ít ai đạt đến cảnh giới của Thiên Tiên. Lớp khí non là Thái Cực Chân Nguyên, Tiên Thiên Chân Khí, lớp khí này hầu như biến đi cạn kiệt gần hết, chỉ còn lớp khí già dày đặc Hậu Thiên Chân Khí.

Hậu Thiên Chân Khí hay còn gọi là Địa Thiên Chân Khí. Ở vào thời kỳ này người tu thiền luyện khí khó có người tu luyện thành nhị xác thân Tiên Thiên mà chỉ tu luyện thành nhị xác thân Hậu Thiên, Địa Thiên mà thôi. Nên khó đạt đến cảnh giới thượng thừa, ngang tầm với Thiên Tiên được. Nhưng Thái Tử thì lại khác, vì Thái Tử chính là Đức Chí Tôn đầu thai, đã trải qua vô lượng kiếp tu hành thanh tịnh, khí Tiên Thiên lúc nào cũng tích tụ nơi tâm Hồn Thái Tử.

Căn Thân Huệ Linh Hồn Thái Tử là Căn Thân Huệ Mạng Chánh Đẳng Chánh Giác Nên hào quang nơi Tâm Thái Tử lúc nào cũng sáng soi khắp cùng Trái Đất. Hay nói một cách dễ hiểu, Tâm Hồn Thái Tử lúc nào cũng tràn đầy tìm lực, ẩn tàng khí Tiên Thiên mà không phải người nào cũng có.

Thái Tử thu nạp Chân Khí vũ trụ, hội tụ ở Đan Điền, để cho Âm khí Dương khí giao hòa với nhau kết sanh nhị xác thân. Nhị xác thân hình thành tới đâu, thời ngũ thông hiển lộ tới đó, Thái Tử càng lúc càng thấy những thứ, người thường không thể nào thấy được, tai Thái Tử nghe những tiếng mà người thường không thể nào nghe được, Thái Tử cảm nhận sự biến đổi trong đời sống xã hội mà người thường không thể nào cảm nhận được.

Thái Tử giờ đây đã thấy rõ nhân loại, nhân gian phàm trần, đang sống trên biển nước loãng, tức là phần khí già bao bọc xung quanh quả đất. Còn nước biển Đại Dương hay ở sông hồ, đó chẳng qua là do biến động của Âm Dương, nóng, lạnh, làm cho Thể Lỏng ở dạng lúc là nước, lúc là khí. Không những thế Thái Tử còn thấy rõ, ngoài quả Địa Cầu này ra còn 4 quả Địa Cầu khác, có nhân loại phàm trần đang sanh sống đông đúc, nhưng sự thấy này không phải là mục đích, mục tiêu mà Thái Tử đang tìm.

Thái Tử đang tìm là tìm Văn Hóa Cội Nguồn, Thiên Đạo vũ trụ Chủ Nghĩa Đại Đồng, mở đường cứu thoát nhân loại. Đây mới chính là mục tiêu, mục đích của Thái Tử, vì vậy Thái Tử cần phải nổ lực nhiều hơn nữa đạt đến đỉnh Quả trí huệ cao nhất, mới đủ khả năng mở ra Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo Thiên Ấn vũ trụ. Vì thế Thái Tử vẩn tiếp tục tu thiền luyện khí, kết hợp với ăn Chay, hầu mau đạt đến kết quả, nhìn Thái Tử hiện giờ da thịt mịn màng hồng hào phát sáng làm tăng thêm vẻ uy nghi tuấn tú. Đạt đến cảnh giới này, Thái Tử như hiểu ra một điều, không có sự nổ lực nào mà vô ích, nhất là sự nổ lực vì Nhân Loại lại càng cao quí hơn nữa, làm cho sức mạnh tinh thần trở nên Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi, Đại ý chí đạt đến cảnh giới phi thường. Mỗi niệm của Thái Tử là mỗi niệm chuyển Thiên Hạ về Trời.

Mọi vạn vật sanh tạo ra đều có nguồn gốc nhân duyên, nghịch thuận của nó, cũng như đất – nước – gió – lửa, Thể Lực – Thể Hơi – Thể Lỏng – Thể Đặc, nguồn gốc nhân duyên sanh ra nó. Theo nguyên lý vũ trụ hể cái gì có sanh, thì phải chuyển hóa, từ dạng này sang dạng khác và cuối cùng bị hủy diệt trở về chân không.

Nơi vũ trụ có một bản thể không sanh diệt đó là bản thể Linh giác vũ trụ hay còn gọi là bản thể Linh giác tối thượng Tổ Tiên, bất tăng, bất giảm. Không cấu nhiễm, trong sạch vô vi, thường còn mãi mãi, không sanh ra cũng không diệt đi, trước sau như một, như như thường còn, không có sự khởi đầu nên không có sự chấm dứt. Vô lượng thọ.

Chính bản thể Linh giác vũ trụ vô lượng thọ này, Tịnh thì sanh Lực, Động niệm thì sanh thức, đây là một quy luật không thay đổi, Linh giác vũ trụ an trụ Đại Định, thì sanh ra Thần Lực vũ trụ. Thần Lực sanh ra một thời gian liền chuyển đổi, trẻ, trung, già, tử. Tử là chuyển đổi qua dạng khác. Chẳng hạn, lực già chuyển ra khí, khí già chuyển ra nước, nước già chuyển ra lớp bụi phù sa vũ trụ rồi trở thành Đất, làm tăng thêm sự sống cho thế giới Thực Vật cũng như thế giới Động Vật.

Người tu Thiền luyện khí, thì phải hiểu rõ chu kỳ kết tinh, chu kỳ giao hợp chuyển hóa của Trời, Đất. Nói về ngày, đêm. Ngày là Dương, Đêm là Âm, theo quy luật của Tạo Hóa. Dương non, dương già không kết tinh mà chỉ kết tinh ở giai đoạn trung Dương mà thôi. Thời điểm kết tinh hoàn hảo nhất trong ngày là giờ Ngọ. Âm cũng thế, âm non, âm già không kết Dịch mà Kết Dịch vào giai đoạn trung âm, đỉnh cao của sự kết Dịch đó là vào giờ Tý. Còn Mẹo – Dậu là giờ chuyển giao âm Dương, vạn vật sanh sôi nẩy nở tiến hóa từ đây. ÂM – DƯƠNG kết tụ Tinh – Dịch rồi giao nhau tiến hóa, bồi đắp sự sống sinh sôi sự sống, cả nghịch lẫn thuận, cả sinh lẫn tử. Tinh, Dịch vũ trụ của thể hơi, khí, thể lỏng, nước, thể đặc, đất. Phần lớn là do hơi ấm vũ trụ tác động mà thành.

Sự kết Tinh – Kết Dịch ba thể như sau.

1: Thể Đặc: kết tụ Tinh – Dịch ở Tý – Ngọ, giao hóa chuyển hóa ở Mẹo – Dậu giao thời giữa ngày đêm.

2: Thể Lỏng: kết tụ Tinh – Dịch ở Tý – Ngọ, giao hóa chuyển hóa ở Mẹo – Dậu ở tháng.

3: Thể Hơi, khí già: kết tụ Tinh – Dịch ở Tý – Ngọ, giao hóa chuyển hóa ở Mẹo – Dậu ở năm.

Cứ 3 năm tu thiền luyện khí là một nấc thang tiến hóa lên. Tu thiền luyện khí đến 9 năm thì nhị xác thân bắt đầu hình thành, luyện tới 12 năm 1 giáp thì thành nhị xác thân. Nếu tu thiền luyện khí nửa Hoa giáp 30 năm, thì sẽ đạt đến Ngũ Khí Triều Nguyên, thêm 30 năm nữa đúng một Hoa giáp 60 năm, thì sẽ đạt đến Tam Hoa Tụ Đỉnh, nhị xác thân theo ý tưởng biến hóa vô cùng. Nói thời nói thế, như Kinh Dương Vương tu thiền luyện khí hơn 70 năm vẫn chưa thành còn ở giới pháp thuật thần thông hạn hẹp, đi trên mặt nước như đi trên đất liền, phi thân như tên bắn, Thần Lực theo ý tuôn ra thành chưởng lực. Nhưng Thái Tử thì lại khác, vì Thái Tử hiểu rõ quy luật tu Thiền luyện khí, cũng giống như người bơi rành, người mới tập bơi sự tu Thiền luyện khí ở cấp thượng thừa. Thái Tử là Ông Tổ của tu Thiền, chỉ trong vòng hơn 3 năm đã đạt đến cảnh giới Tam Hoa Tụ Đỉnh, Ngũ Khí Triều Nguyên, tiến lần đến cảnh giới Thần Thông Quảng Đại.

*********

Hết Phần 2 chương 9 mời xem tiếp phần 3 chương 9 Long Hoa Mật Tạng. Long Hoa Mật Tạng Kinh là bộ kinh tối mật hàng triệu triệu năm mới xuất hiện, nếu không phải đã tu vô lượng kiếp thờ Trời thì không dễ gì gặp được bộ kinh nầy. Bộ Kinh tối cao của Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Là báu vật Vũ Trụ quý hiếm đến nỗi luận bàn trăm nghìn kiếp cũng không thể nào hết được.

Ngâm nga vài chữ kệ kinh

Siêu sanh thượng giới đăng trình cung mây

Kinh nào hơn được kinh đây

Mật Kinh vũ trụ tối cao đất trời

Chỉ cần ca ngợi một lời

Giàu sang phú quí, cõi Trời khó chi.

 

*********

CHƯƠNG 9

PHẦN 3

GIẢI TỎA CHƯỚNG NGẠI

Đạt đến cảnh giới này, Thái Tử mới hiểu rõ thêm, sự tồn tại vũ trụ có động có tịnh tuần hoàn tiến hóa, để hòa hợp nhị xác thân cùng xác thân là một, thời phải luyện tập thể chất. Quyền pháp, thể dục, thể thao, thì kinh mạch huyệt Đạo lưu thông, thân thể cường tráng, cơ bắp rắn cứng, sức lực bền bỉ, đẩy lùi tất cả bệnh tật dù cho đó là những bệnh nan y khó chữa trị.

Thái tử nhớ lại 108 động tác với những tư thế rất khó tập, dùng để rèn luyện thể lực cơ bắp, khai thông huyệt Đạo, lưu thông khí huyết, tôi luyện ý chí, đối diện quân thù.

Kinh Dương Vương thường dạy Thái Tử: Con muốn đạt đến đỉnh cao của bậc Tôn sư thì con phải tu luyện Quyền pháp, thập bát môn võ nghệ, còn phải siêng năng luyện tập 108 thế thức thần công, nhờ vào những thể thức khó tập này sẽ làm cho con cơ thể rắn chắc dẻo dai và sức chịu đựng cao, nhanh nhẹn, Động – Tịnh vững vàng. Muốn đạt đến đỉnh cao của Thần Quyền, thì con phải tu tập đến đỉnh cao của 108 thế thức Thần Công. Muốn tu tập đỉnh cao 108 thế thức Thần Thông, thì con phải biết tu Thiền luyện khí, có tu Thiền luyện khí, thời khi luyện Thần Quyền, Đạo thuật, Kiếm thuật, Quyền thuật, chưởng pháp, kinh công, mới đạt đến cảnh giới Thân – Pháp – Ý hợp nhất, xuất thần nhập hóa, thì con đối mặt với kẻ thù, không còn lo sợ gì nữa, con như những đỉnh núi cao mà kẻ thù nhìn thấy phải khiếp sợ. Ngay như cha đây hơn 70 năm tu luyện cũng không đạt đến cảnh giới ấy.

Nhưng Kinh Dương Vương nào có hiểu, nếu tâm ý chưa rốt ráo thanh tịnh, thì dù có tu luyện đến trăm năm, nghìn năm cũng ở mức hạn nào đó mà thôi, khó mà tiến xa hơn được nữa, cũng như con người thường tục sanh ra biết ngồi, rồi đến biết đi, biết chạy. Nhưng biết bay phải mọc ra đôi cánh, tu Thiền luyện khí cũng vậy, muốn đạt đến đỉnh cao phải hội ngộ Chân Tâm Chân Tánh.

Thái Tử nghĩ, muốn đưa xã hội đến đỉnh cao Dân Giàu Nước Mạnh, Thời phải thấu hiểu căn cội vật chất (văn minh vật chất) làm chủ tinh thần đi vào tinh hoa Đa Nguyên, Nhân Quyền, Dân Chủ, Công Bằng Bình Đẳng văn minh. Và cũng không còn con đường nào khác hơn là toàn dân biết tu dưỡng Hiến pháp, Luật pháp, Đạo Đức (văn minh tinh thần).

Muốn cho cơ thể ít bệnh tật khỏe mạnh, không còn con đường nào khác hơn là cần phải lựa chọn chế độ ăn uống, siêng năng lao động, siêng năng luyện tập thể chất, thể lực, Quyền pháp, thể dục, thể thao, tu Thiền luyện khí. Muốn cho Đất Nước Tổ Quốc mãi mãi Thái Bình thịnh vượng không còn con đường nào khác hơn là phải xem Quyền con người làm trọng Nhân Quyền. Phải lấy dân làm gốc Dân Chủ và phát huy cái gốc của dân làm phát sanh Nội Lực, sức mạnh của toàn dân tộc Tinh Thần Lẫn Vật Chất. Và nòng cốt phát huy sức mạnh toàn dân tộc chính là phát huy truyền thống dân tộc, Văn Hóa Tối Cao Cội Nguồn. Văn Hóa Tối Cao Cội Nguồn chính là Hiến pháp, Luật pháp, Đạo pháp. Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Chính Nghĩa là Hiến Pháp dựng nước, giữ nước, mở màn nhà nước Văn Lang, đi vào truyền thống anh linh dân tộc năm nghìn năm chủ quyền Độc Lập.

Lại thêm một năm nữa trôi qua, trừ các giờ luyện tập. Quyền pháp. Thân pháp cho máu huyết lưu thông, nội lực hùng hậu, còn các giờ khác, Thái Tử luôn luôn làm chủ phong bế giác quan, tu Thiền luyện khí. Thái Tử chuyên tâm thu nạp Chân Khí, những gì xung quanh, cũng không cần để ý đến, dù tai có nghe lên tận các tầng trời, có nghe tận các tầng Địa Ngục. Mắt có thể nhìn thấy những vật nhỏ nhất như vi khuẩn như thể không màu sắc như gió Điện lực vũ trụ, nhìn thấy Linh Hồn nhân loại chuyển kiếp đầu thai.

Sự thấy nghe hay biết ấy đã không giải quyết được gì tương lai cho đất nước hoặc giải thoát sự khốn khổ cho nhân loại con người. Nếu chìm đắm trong cảnh ngũ thông sanh tâm chấp trước phân biệt, vui buồn theo phân biệt, Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Ngục, thời rơi vào Ma chướng ngay. Không thể nào đạt đến cảnh giới tối cao Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì chính mình bị cái Thấy, Nghe, Hay, Biết, Phân Biệt của chính mình xây chuyển, mất phương hướng làm chủ Chân Tâm Chân Tánh rơi vào Ma Chướng ngay.

Thái Tử chuyển tâm thu nạp dưỡng khí, thấy nghe hay biết khắp khắp cùng vũ trụ nhưng không khởi tưởng phân biệt chi cả, luôn luôn làm chủ, thấy, nghe, hay, biết, của mình.

Thấy nghe hay biết khắp cùng vũ trụ, khởi tâm nhận định phân biệt lúc này. Chỉ làm hại cho cuộc tiến xa hơn nữa, thấy, nghe, hay biết, khởi tưởng nhận định phân biệt lúc này, đã không giải quyết được gì. Lại rơi vào cảnh tối tăm biến hóa vô thường vũ trụ, chấp giả làm chân, thấy Rắn tưởng Rồng, thấy Ma tưởng Phật thì tai hại biết bao.

Thiên Đạo Cội Nguồn vũ trụ đâu không thấy mà chỉ thấy Ma Đạo, Quỉ Đạo, Thần Đạo mà thôi, vì các Đạo này bị cái thấy, nghe, hay, biết, phân biệt xây chuyển chưa ra khỏi kiến chấp bảo thủ, còn nằm trong nghiệp quả luân hồi, đau khổ chồng chất như biển cả núi non, chỉ khi nào hội nhập Cội Nguồn vào ngôi Chánh Đẳng, Chánh Giác. Hiểu rõ đi đến mục đích cuối cùng nhất định phải làm chủ chân tâm chân tánh, làm chủ thấy, nghe, hay, biết của mình. Mỗi Niệm Vô Niệm Tự Nhiên.

Những gì Đấng tạo lập lên tất cả, lập lên vũ trụ cùng con người và những định luật bất di bất dịch của Đấng ấy. Người tu Thiền Luyện Khí đạt đến đỉnh cao cần phải hiểu rõ. Truyền bá lại cho hậu thế, để cho hậu thế gặt hái, tiến tới làm chủ ý thức, làm chủ Linh Hồn, làm chủ vũ trụ. Làm Chủ Sanh Tử. Muốn sanh thì sanh, muốn tử thì tử tự tại.

Những lần luyện khí gần đây, Thái Tử nhận thấy trong cơ thể như có gì không ổn, hai dòng máu Nóng, Lạnh chống chỏi nhau mỗi ngày mỗi hiện rõ trong nội thể của mình. Hiện tượng này đã đánh thức Thái Tử thêm lần nữa, tu Thiền luyện khí chưa đủ để cho cơ thể tiến đến đỉnh cao mà còn phải làm cho Âm Dương hợp nhất, lưu chuyển thông suốt trong cơ thể con người.

Một xã hội tiến hóa cao, thì xã hội đó có nhiều cạnh tranh quyết liệt, những mâu thuẫn tiếp tục xảy ra trong xã hội, nếu không có cách giải quyết thì sẽ bùng nổ ra chiến tranh làm đảo lộn sự sống, cũng như thân thể. Thể xác Thái Tử đã đạt đến cảnh giới, Tam Hoa tụ đỉnh, Ngũ khí triều dâng, thời tiết bất xâm, bách Độc khó hại. Thần Lực – Khí Lực – Tinh Lực dồi dào, đáng lý ra thì không có chuyện gì xảy ra nữa nhưng không phải thế, trong nội thể tìm ẩn nóng lạnh xung đột lẫn nhau.

Điều nầy cho thấy rằng một đất nước đạt đến cảnh giới Văn Minh tối cao không phải là hết xung đột. Nếu mỗi người dân tự tách rời không đi vào quy luật chung xa rời Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Tự mình phá hủy cái chung nghiêng về cái riêng thì sự xung đột lẫn nhau khó mà tránh khỏi.

Để giải quyết bài toán khó trong nội thể, làm bài học rút ra từ đây, sau này điều hành đất nước, tháo gỡ tìm ẩn xung đột cạnh tranh dung hòa một mối, tăng thêm sự hùng mạnh của đất nước. Thái Tử để hết tâm trí tập trung suy nghĩ quán nghiệm lại từ đầu đến cuối, vì sao có hiện tượng này xảy ra như vậy, nếu không tìm ra giải pháp hóa giải cứ theo đà này tu luyện, thì chính mình làm hại cho chính mình có khi còn nguy hiểm cho tánh mạng. Còn dừng lại không tu luyện nữa, thì Thiên Đạo Cội Nguồn sẽ không tìm ra, nhân loại mãi mãi ở trong cảnh tối tăm, chiến tranh sẽ bao trùm lấy họ, Tứ Nạn, Tam Tai sẽ diệt lấy họ.

Tứ Nạn: là Đói Nghèo lạc hậu, là Binh Đao máu lửa, chiến tranh loạn lạc, là Ôn Tai Dịch họa bệnh tật xâm hại, là thời tiết khắc nghiệt Động đất liên miên hết chỗ này sang chỗ khác.

Tam Tai: là Thủy – Hỏa – Phong.

Loài người khó tránh khỏi 7 tai họa này, nếu không có cách tránh nó. Lượng theo nó, làm chủ nó thì khó mà tránh khỏi hậu họa.

Thái Tử là Đấng cứu thế, không những Thái Tử sẽ tìm ra giải pháp cứu thế mà còn hóa giải sự xung đột của các thế lực đang bành trướng trong cơ thể của Ngài. Cũng như các thế lực xung đột bành trướng nơi địa cầu.

Thái Tử nghĩ, thể xác con người là bộ máy tuần hoàn Tiểu Thiên vũ trụ, có cả Âm lẫn Dương, có cả Thượng lẫn Hạ, có hàng cả mấy trăm huyệt Đạo, mỗi huyệt Đạo là mỗi cửa ải giao thương các kinh mạch, mỗi kinh mạch là sự sống của hàng vạn tế bào, sự sống của hàng vạn tế bào thông ra mỗi đầu Lông. Hơn nữa Chân khí vũ trụ mà Thái Tử thu nạp bấy lâu nay, mỗi lúc mỗi dâng trào cuồn cuộn trong nội thể Thái Tử, tự nó phân định Âm Dương không chịu dung hòa với nhau, xung đột với nhau mỗi ngày mỗi thêm dữ dội lúc tu Thiền luyện khí. Thái Tử hầu như khám ra những điều hữu ích nữa đó là tuần hoàn. Tuần hoàn chính là tiến hóa của sự sống, con người vì xã hội, xã hội vì con người, con người vì cái chung, cái chung bảo vệ cái riêng, bảo vệ tuần hoàn chính là bảo vệ sự sống, bảo vệ sự sống cũng chính là biết vận dụng tuần hoàn Vận dụng Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp đi vào cuộc sống Dân bảo vệ Hiến Pháp. Hiến Pháp bảo vệ Dân. Cũng như người nông dân bảo vệ sự sống cây lúa, và chính sự sống cây lúa bảo vệ sự sống của người nông dân. tiến hóa xã hội đến dân giàu nước mạnh cũng chính là sự nhận thức về  Hiến pháp, Luật pháp, Đạo Pháp Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng Thiên Tạng vũ trụ. (Xem Long Hoa Thiên Tạng sẽ hiểu rõ hơn)

*********

Hết phần 3 chương 9 mời xem tiếp phần 4 chương 9 Long Hoa Mật Tạng.

*********

CHƯƠNG 9

PHẦN 4

PHĂNG LẦN GỠ RỐI.

Sự hình thành nóng lạnh trong nội thể mỗi ngày mỗi lớn để phăng lần từng mối, gỡ rối từng khúc, Thái Tử quán nghiệm lại bốn thể lớn của vũ trụ.

  1. Thể Lực
  2. Thể Hơi
  3. Thể Lỏng
  4. Thể Đặc

Rồi đưa ra luận chứng phân tích. Thái Tử nghĩ Thể Lực vô cực Chân nguyên là Thể Lực chưa phân định Âm Dương. Thể Lực vũ trụ này, xuyên qua sắc, thép, kim cương, vàng, đá, sành, kiến kính, không để lại dấu vết, chỗ nào cũng có khắp cùng vũ trụ, lực này bị khuấy Động liền tạo ra hai dòng từ trường Âm và Dương nóng – lạnh Động tịnh, khi nào từ trường Âm Dương va chạm vào nhau thì phát ra tiếng sấm và những tia lửa bắn ra gọi là sét. Thể Lực là Thể Chủ của ba thể kia, thể chưa phân định Âm Dương, thì làm gì tìm ẩn nóng lạnh dẫn đến sự xung đột nóng lạnh trong nội thể không phải do Thần lực tạo ra.

Dưới Vô Cực Chân nguyên, là Thái Cực Chân nguyên, tức là Thái Thanh Chân Khí, khí vừa mới tượng hình, do Lực già chuyển hóa sanh ra Thái Thanh Chân Khí là giai đoạn đầu phân định lưỡng nghi, Âm chưa thành Âm, Dương chưa thành Dương, cũng như một mầm cây bắt đầu nảy mầm hai nhánh, sự nẩy mầm này chỉ là giai đoạn đầu khởi điểm Âm Dương, thì làm sao xung khắc nhau được, nếu xung khắc đó mới chỉ là hiện tượng mà thôi.

Còn sự xung khắc trong nội thể thì quá rõ ràng, có thể xảy ra xung đột đến mất mạng. Thái Tử nghĩ hiện tượng này là do Âm Dương chân khí, cùng thái Âm thái Dương chân khí xung đột tạo ra mà thôi. Thái âm Thái Dương Chân Khí là do Thái Thanh Chân Khí đã già chuyển hóa sanh ra. Sự chuyển hóa này đã trờ thành quy luật, không những ở trong Chân Khí mà ngay cả xã hội cũng vậy, thời kỳ quá độ của chế độ sẽ tự nó đổi mới chuyển sang chế độ khác.

Trong vũ trụ tuổi thọ của Thể Lực, gấp 20 lần của thể khí, tuổi thọ của thể khí gấp 20 lần của thể lỏng, tuổi thọ của thể lỏng gấp 20 lần của thể đặc, tuổi thọ của thể đặc gấp 20 lần tăng giảm sẽ bị hủy hoại, cứ một lần tăng giảm trải qua 16 triệu 800 nghìn năm. Đạo pháp cũng thế đều có tuổi thọ an trụ của nó, chẳng hạn như Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng, Thiên Đạo vũ trụ, an trụ tuổi thọ là năm tiểu kiếp, 84 triệu năm, thì chuyển đến Liên Hoa Hải Tạng.

Giải quyết sự nóng lạnh xung đột trong nội thể, Thái Tử tiến đến giải pháp, dùng ý tưởng lưu dẫn chúng làm cho chúng chuyển động theo luật tuần hoàn  lưu chuyển khắp kinh mạch, dung hoàn Âm Dương tiến lên một tầm cao mới. Sự lưu dẫn chân khí theo luật tuần hoàn dung hòa Âm Dương khai thông huyệt Đạo, khai thông kinh mạch là một phương pháp vô cùng hữu hiệu. Sự xung đột nóng lạnh trong cơ thể biến mất, thay vào đó Thần Lực, Công Lực, Nội Lực tăng lên gấp 3 gấp 4 lần.

Thái Tử nghĩ dung hòa hàng trăm Bộ Lạc theo đường lối Đa Nguyên, Nhân Quyền, Dân Chủ, Công Bằng Bình Đẳng. Mà nền tảng của sự dung hòa nầy là tôn trọng Quyền con người Nhân Quyền, phải lấy Dân làm Gốc Dân Chủ. Đi vào Công Bằng Bình Đẳng. Tuy thiên hạ có muôn ý khác nhau. Nhưng chung cùng lương tâm đồng nhất quyền con người, dân là gốc, công bằng bình đẳng tinh hoa sự sống con người. Và cũng chỉ có Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp chân chính Đa Nguyên, Nhân Quyền Dân Chủ Công Bằng Bình Đẳng mới dung hòa hết thảy các tầng lớp xã hội đi vào thống nhất. Tạo lên sức mạnh nội lực dân tộc.

Thái Tử dẫn khí từ Đan Điền xuống Khí Hải, Quan Nguyên, Trung Cực, Khúc Cốt, Hội Âm chót xương cụt, hết phần bụng dưới. Rồi từ chót xương cụt, phần lưng chạy lên đỉnh đầu, Yêu Di xương cùng, Dương Quan thắt lưng, rồi tới Mệnh Môn, Thần Đạo, Chí Dương, Chân Trụ, Đào Đạo, Đại Thùy, Á Môn, Phong Phủ, Hậu Đình, Bách Hội. Bách Hội là Hội đỉnh đầu.

Thái Tử tiếp tục dẫn chân khí chạy về phía trước đỉnh đầu xuống mặt, xuống ngực, xuống bụng trên, bụng dưới trở về Đan Điền. Bách Hội. Tiền Đình. Tinh Hội. Thần Đình. Ấn Đường. Tinh Minh. Hòa Liêu. Nhân Trung. Thừa Tương. Thái Tử vận chân khí tới đây hết phần mặt rồi tiếp tục xuống cổ xuống ngực. Thừa Tương, Liêm Tuyền, Trung Quản, Thủy Phân rồi hội tụ tại Đan Điền.

Cứ thế Thái Tử vận hành càng lúc càng trôi chảy, thể xác con người là thể xác tiểu Thiên vũ trụ, nay Thái Tử vận hành Chân Khí chuyển vận chạy từ trước ra sau, từ sau ra trước, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, tuần hoàn không dứt, làm cho các huyệt Đạo thông suốt, làm cho kinh mạch thông theo, một bí pháp vô cùng quan trọng đối với cơ thể con người tiểu Thiên vũ trụ. Thái Tử khai thông cơ thể, làm cơ thể bừng lên sức sống mãnh liệt. Thái Tử dần dần chinh phục tiểu Thiên vũ trụ, làm chủ tiểu Thiên vũ trụ, tiến lần đến làm chủ Đại Thiên vũ trụ.

Nhờ chăm chú vận hành chân khí khai thông huyệt Đạo, khai thông kinh mạch, sự vận hành ấy dần dần lưu chảy thông suốt. Từ Đan Điền xuống xương cụt, theo đường xương sống chạy lên đỉnh đầu, rồi xuống tráng, xuống mắt, xuống mũi, xuống miệng, xuống cổ, xuống ngực, xuống bụng rồi trở về Đan Điền, sự tuần hoàn ấy Thái Tử vận chuyển chân khí lặp đi lặp lại.

Mới vận chuyển chân khí, Thái Tử cảm nhận như dòng khe nước nhỏ. Nhưng giờ đây khác hẳn, Thái Tử cảm nhận như một con sông lớn lưu chuyển chảy cuồn cuồn từ ÂM sang DƯƠNG từ DƯƠNG sang ÂM. Từ Hạ Thiên đến Thiên Tiên. Từ Bách Hội xuống Hội Âm, Chân khí tràn chảy đến dâu, không những khai thông huyệt Đạo kinh mạch mà còn rộng mở huyệt Đạo kinh mạch. Sự xung đột Âm Dương không còn nữa. Thay vào đó một thân thể nhẹ bổng, trào dâng sức sống Thể Lực thượng thừa.

Hình Ngồi Thiền 1.

Thái Tử từ khi tu Thiền luyện khí, tích tụ nơi Đan Điền. Huyệt ÂM GIAO. Chân khí tích tụ mỗi ngày mỗi lớn mạnh, lan tỏa rộng lớn khai thông các huyệt Đạo xung quanh, các kinh mạch theo đó cũng rộng mở cả bụng dưới lẫn bụng trên gần mấy chục huyệt Đạo nhưng ở đây chỉ kể một số huyệt Đạo chủ yếu mà thôi. Xung quanh xa gần huyệt Đan Điền như huyệt Khí Hải, Thủy Phân, Quan Nguyên, Trung Quản lên tận Cự Khuyết xuống Khúc Cốt rồi lan tỏa rộng ra hai bên khai thông một số các huyệt Đạo khác Phúc Kết, Thủy Đạo, Hoang Du, Thiên Khu, Đại Cự, Đại Hách, Kỳ Môn, Cự Huyết, Lương Môn, Bất Dung, Chương Môn, Nhật Nguyệt, Đới Mạch, Cự Liêu, Ngủ Khu, Xung Môn v.v..

Hình Ngồi Thiền 2.

f3ce4-h1

Sự khai thông này cũng giống như các Biển Hồ Bể Khí tràng đầy Khí Lực thông suốt cùng nhau tạo lên sức lực khôn lường. Huyệt Đạo khai mở, kinh mạch thông suốt, sức lực sinh khí tràn đầy. Thái Tử mỗi lần tu Thiền luyện khí thời thấy có một luồn khí nóng từ Đan Điền tỏa ra xung quanh vùng bụng dưới rồi tỏa lên khắp châu thân và gần đây Thái Tử thấy hai luồn nóng lạnh chống chỏi nhau. Và Thái Tử đã nghỉ ra phương pháp vận hành lưu dẩn Chân khí khai thông toàn bộ các huyệt Đạo – Kinh mạch châu thân.

Thái Tử dẩn chân khí bắt đầu từ ĐAN ĐIỀN xuống KHÍ HẢI xuống QUAN NGUYÊN rồi đến TRUNG CỰC. KHÚC CỐT, HỘI ÂM. Thông qua xương cụt ra sau lưng, khai thông TRƯỜNG CƯỜNG chạy lên theo đường xương sống khai thông YÊU DI. Thuộc phạm vi vùng mông, xương cùng. Chân Khí lan tỏa ra hai bên vùng mông khai thông các huyệt Đạo như Hội Dương, ở xương cụt, Hạ Liêu, Trung Liêu, Thứ Liêu, Bàng Quang Du, Tiểu Tràng Du, Bàn Hoang, Quan Nguyên Du.

Thái Tử lại tiếp tục dẩn Chân Khí chạy lên vùng eo lưng, khai thông huyệt DƯƠNG QUAN của eo lưng, thông lên MỆNH MÔN xuống sống bụng, Chân Khí lan tỏa ra hai bên khai thông các huyệt chạy dọc theo hai bên xương sống như huyệt Thận Du, Tam Tiêu Du, Đại Tràng Du, Thương Liêu, Chí Thất, Vị Du. Thái Tử lại tiếp tục dẩn chân khí khai thông lên huyệt CHÍ DƯƠNG. Đốt xương sống ngực thứ 7. Dưới đốt xương sống ngực thứ 7 thuộc Âm. Huyệt Chí Dương nằm ngay tại vùng giáp ranh đó.

 

Chân Khí chạy lên huyệt CHÍ DƯƠNG lan tỏa ra hai bên khai thông các huyệt Đạo như huyệt Đởm Du, Tỳ Du, Can Du, Cách Du, Cách Quan. Thái Tử lại tiếp tục dẩn chân khí chạy lên vùng lưng khai thông huyệt THÂN TRỤ cùng các huyệt Đạo dọc theo hai bên vùng lưng xương sống ngực như các huyệt Đạo Phế Du, Quyết Âm Du, Tâm Du, Thần Đường, Cao Hoang, Phách Hộ, Phụ Phân.

Thái Tử lại tiếp tục dẫn chân khí thông lên ĐÀO ĐẠO, ĐẠI CHÙY. Chân Khí lan tỏa hai bên xương sống khai thông các huyệt Đạo vùng lưng cũng như vùng lưng bả vai như huyệt Đại Chữ, Kiên Trung Du, Đại Trứ, Khúc Viên, rồi thông qua các huyệt Đạo lưng hai bên xương vai như huyệt, Phụ Phân, Thiên Liêu, Kiên Ngoại Du, Kiên Tỉnh, Bình Phong, Kiên Liêu, Kiên Ngưng, Thiên Tông, Phong Môn. Tức thì khai thông ra toàn bộ vùng lưng, vùng eo, vùng mông. Đại Chùy, Đào Đạo, Thân Trụ, Thần Đao, Chí Dương, Trung Khu, Tích Trung, Đại Chữ, Kiên Tỉnh, Kiên Ngưng, Phong Môn, Bình Phong, Thiên Tông, Kiên Liêu, Kiên Ngoại Du, Phong Môn, Thiên Liêu. Phụ Phân. Quyết âm Du. Tâm Du. Đốc Du. Thiên Tông, Kiên Trinh, Đại Trứ, Phế Du, Cách Du, Cam Du, Đảm Du, Tỳ Du, Tam Tiêu Du, Vị Du, Chí Thất, Mệnh Môn, Thận Du, Đại Tràng Du, Quan Nguyên Du, Tiểu trường Du, Thượng Liêu, Thứ Liêu, Dương Quan, Trung Liêu, Hạ Liêu, Bàng Quang Du, Trung Lữ Du, Bạch Hoàng Du, Thừ Phù, Yêu Di, Trường Cường.

 

Chú ý ở đây chỉ nói đại khái những huyệt Đạo chủ yếu mà Thái Tử đã khai thông toàn bộ lưng, eo, mông. Huyệt Đạo khai mở kinh mạch theo đó cũng thông suốt. Thái Tử lại tiếp tục dẫn Chân Khí thông lên 7 đốt xương sống cổ, khai thông huyệt Đạo Á môn. PHONG PHỦ. Chân khí lan tỏa ra hai bên sống cổ khai thông các huyệt như Thiên Dũ, Phong Trì, Thiên Trụ, An Miên, Thái Tử lại tiếp tục dẩn chân khí thông lên đầu, khai thông HẬU ĐÌNH rồi thông lên BÁCH HỘI đỉnh đầu, Thái Tử dừng nghỉ để cho Chân Khí hội tụ Đỉnh Đầu càng lúc càng mạnh, làm cho Huyệt BÁCH HỘI khai thông rộng mở. Bách Hội khai thông rộng mở, thì các kinh mạch chủ lực liền thông suốt, nhiệm mầu thay. Đầu óc Thái Tử trở nên minh mẩn lạ thường. Thái Tử lại tiếp tục dẩn Chân khí từ Bách Hội chạy về phía trước Đầu, khai thông TIỀN ĐÌNH, TINH HỘI rồi đến THẦN ĐÌNH. Chân khí lan tỏa rộng ra khai thông một số huyệt Đạo như Thông Thiên, Khúc Sai. Chân khí tuông xuống trán khai thông Tinh Minh, Dương Bạch xuống ẤN ĐƯỜNG. Chân khí lan tỏa khai thông Toản Túc, Ty Trúc Không, Ngư Yêu, Thái Dương. Thái Tử lại dẫn Chân khí xuống mắt xuống mũi. Khai thông huyệt Nhân Trung, chân khí lan tỏa rộng ra khai thông huyệt Thừa Khớp, Nghinh Hương, Cự Liêu, Hòa Liêu, Tứ Bạch, Khách Chủ Nhân, Hạ Quang. Thái Tử lại tiếp tục dẩn chân khí chạy xuống miệng xuống càm khai thông huyệt Thừa Tương. Chân khí lan tỏa rộng ra khai thông huyệt Địa Thương, Quyền Liêu, Đại Nghinh. Thái Tử dẫn chân khí tới đây hầu hết khai thông các huyệt Đạo chủ yếu ở phần mặt Bách Hội, Tiền Đình, Tinh Hội, Thần Đình, Thông Thiên, Khúc Sai, Tinh Minh, Dương Bạch, Ấn Đường, Toản Trúc, Ti Trúc Không, Ngư Yêu, Thái Dương, Nhân Trung, Đồng Tử Liêu, Tứ Bạch, Địa Thương, Nghinh Hương, Cự Liêu, Hòa Liêu, Quyền Liêu, Thừa Tương. Thái Tử lại dẩn chân khí xuống cổ khai thông huyệt Liêm Truyền. Chân khí lan tỏa khai thông huyệt Nhân Nghinh, Thiên Đỉnh, Thủy Đột, Khuyết Bồn.

Thái Tử lại dẫn khí xuống khai thông THIÊN ĐỘT thông xuống phần ngực chân khí tỏa ra một vùng rộng lớn. Khai thông Khí Xá, Du Phủ, Trung Phủ v.v… Khuyết Bồn, Kiên Tỉnh, Vực Trung. Thái Tử lại tiếp tục dẫn Chân khí chạy xuống khai thông huyệt ĐẢN TRUNG rồi thông xuống khai thông Cưu Vĩ. Chân khí liền tỏa ra một vùng rộng lớn khắp vùng ngực, làm thông suốt một số huyệt Đạo như huyệt Thần Phong, Nhũ Trung, Nhũ Căn, Ưng Song, Thiên Khê v.v…

Khai thông xong các huyệt Đạo ở phần ngực, Thái Tử lại dẫn chân khí khai thông các huyệt Đạo ở phần bụng trên, từ huyệt Đạo Cưu Vĩ thông xuống CỰ KHUYẾT, TRUNG QUẢN, THỦY PHÂN. Chân khí liền lan tỏa khắp vùng bụng trên, khai thông một số huyệt Đạo như huyệt Bất Dung, Kỳ Môn, Nhật Nguyệt, Lương Môn, Đới Bạch. Rồi thông xuống ÂM GIAO tức là huyệt ĐAN ĐIỀN, trở về bể nguồn nơi xuất phát. Chân khí cuồn cuộn lan tỏa xuống Khí Hải, Hoang Du, Thiên Khu, Đại Cự Y, Quan Nguyên, Trung Cực thông xuống Khúc Cốt lan tỏa khai thống hết thảy các huyệt Đạo ở bụng dưới như huyệt Đại Hách, Duy Đạo, Ngũ Xu, Xung Môn, Cự Liêu, Đại Cự, Khí Xung, Thủy Đao, Ngủ Khu v.v…

Thái Tử vận hành Chân khí tuần hoàn cứ thế mà vận chuyển khai thông huyệt Đạo kinh mạch càng lúc càng thông suốt, càng lúc nhuần nhuyễn dễ dàng. Vận hành Chân khí, khí thông huyệt Đạo, kinh mạch là một bí pháp, ẩn tàng huyền vi khó mà nói cho hết. Tuy Thái Tử đã đi hơn nữa đoạn đường tu Thiền luyện khí, vận hành khai thông huyệt Đạo, kinh mạch. Nhưng đã đưa Thái Tử đến đỉnh cao, khó có người theo kịp.

Để bước sang giai đoạn khó hơn, đòi hỏi người tu Thiền vận hành Chân khí phải tập trung ý chí tinh thần cao độ, tập trung, thấy nghe hay biết, chú tâm vào tu Thiền vận khí mà thôi.

Tổ Tiên tạo lập lên vũ trụ, thì chúng ta phải tạo lập lên sự sống con người, con cái của Tổ Tiên thay thế Tổ Tiên cai quản vũ trụ. Tổ Tiên tạo lập lên thể xác con người là thể xác hoàn hảo, anh linh tối cao, thể xác Tiểu Thiên vũ trụ,  thể xác tinh hoa hơn cả tinh hoa 8 muôn 4 nghìn loài cộng lại. Cũng không hơn được thể xác Tiểu Thiên vũ trụ con người. Linh Hồn đầu thai để được làm người là điều rất khó, đầu thai được làm người thì coi như Linh Hồn đã làm chủ bộ máy thể xác huyền vi vũ trụ. Linh Hồn nhờ làm chủ bộ máy thể xác.

 

Tiểu Thiên vũ trụ này, tiến hóa Linh Hồn phát Huệ mau chóng, đạt đến đỉnh của sự giác ngộ, làm chủ vũ trụ, lên ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác. Bộ máy thể xác con người, bộ máy Tâm Linh con người là cả kho tàng bí mật vũ trụ. Không có bộ máy nào huyền diệu hơn bộ máy Tâm Linh, bộ máy thể xác con người. Không có con thuyền nào bay vào vũ trụ, hơn được con thuyền Tâm Linh. Con thuyền tiểu Thiên Vũ Trụ, thể xác con người. Thái Tử phát huy vận dụng lèo lái con thuyền Tâm Linh, con thuyền tiểu Thiên vũ trụ bay đến tận Cội Nguồn vũ trụ, gặt hái những thành quả mà không thể ai cũng gặt hái được. Không có sức mạnh nao hơn được sức mạnh con người, dù cho đó là sức mạnh của Rồng, Voi, Sư Tử, Cọp, Báo v.v… Nhưng ít ai hiểu được điều này, nếu ai hiểu được bộ máy Tiểu Thiên vũ trụ, điều khiển và phát huy sức mạnh của nó, thì Di sơn đảo hải chỉ là việc nhỏ mà thôi. Chúng ta sẽ lần lượt thấy rõ Thái Tử phát huy sức mạnh tìm ẩn mật tạng bộ máy Tiểu Thiên vũ trụ thể xác con người ở những đoạn kinh sau.

Có thể nói Thái Tử đang phát huy tìm năng sức mạnh con người, sức mạnh tâm Linh con người, tiến sâu về bí mật vũ trụ, mở đường cứu thế, làm khiếp đảm loài Ma – Quỉ – Yêu – Tinh, đem lại hạnh phúc cho nhân loại con người, nhân loại anh em.

 

Sở dĩ con người yếu hơn loài Rồng, Voi Sư Tử, Hổ, Báo là vì con người không hiểu tiềm ẩn sức mạnh con người, cũng như sức mạnh tâm Linh, nên không tu Thiền luyện khí, tĩnh tâm thu nạp năng lượng vũ trụ. Vận hành năng lượng Vũ Trụ. Khai thông huyệt đạo kinh mạch. Vì thế bộ máy Tiểu Thiên vũ trụ thể xác con người trở nên yếu ớt, bệnh tật hoành hành thời tiết xâm hại. Cũng như một xã hội mà thiếu đi Văn Hóa Cội Nguồn lại thêm các huyết mạch giao thương, trục lộ chủ chốt chật hẹp tắc nghẽn, thời xã hội đó không nói chúng ta cũng hiểu, không những lạc hậu đói nghèo lắm điều khốn khổ. Văn Hóa Cội Nguồn lưu chảy trong tâm linh chính là Nguồn sinh khí nuôi dưỡng Tinh Thần, phát huy nội lực tiềm ẩn Tâm Linh, làm tinh thần Dân Tộc lớn mạnh, không có sức mạnh nào hơn được. Thái Tử đang nổ lực tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn, Thiên Đạo vũ trụ, Chủ Nghĩa Đại Đồng nuôi dưỡng tinh Thần phát huy đến chỗ chí linh, chí Thánh.

Nói đến con người thì ai ai cũng biết có cả phần Hồn, lẫn phần Xác. Thái Tử là nhà khoa học vũ trụ. Tu Thiền luyện khí, vận hành Chân khí khai thông huyệt Đạo, kinh mạch là ba phương án tối cao, đưa sức mạnh con người lên ngan tầm sức mạnh vũ trụ. Tiểu Thiên vũ trụ hòa nhập vào Đại Thiên vũ trụ. Thái Tử là nhà khoa học Đa năng xã hội, nhà lãnh tụ Tinh Thần vĩ đại dân tộc, không những tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn, vận hành Văn Hóa Cội Nguồn khai thông tinh thần làm cho các Bộ Tộc, Bộ Lạc, các tầng lớp xã hội, các giáo phái, các màu da. Chủng Tộc hội nhập vào Cội Nguồn, triệu người như một, tiến tới cảnh dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, kéo dài Độc Lập, minh chứng lịch sử thời Đại Vua Hùng kéo dài hơn hai nghìn bảy trăm lẽ một năm.

Sự phát triển văn minh xã hội không chỉ là sự văn minh, máy móc, vật chất mà còn phải văn minh về thể lực đi đôi với văn minh Tinh Thần, làm chủ xã hội đi đôi với làm chủ bản thân, làm chủ ý thức, làm chủ Tâm Linh của mình. Hướng về tương lai tươi sáng, sống trong bầu không khí trong lành Đại Đồng, Bình Đẳng, Công Bằng văn minh.

 

Nếu chúng ta không biết khai thông nhân loại, khai thông mọi tổ chức chính trị, mọi thành phần giai cấp xã hội, mọi tôn giáo, Đảng phái. Bằng con đường Chính Nghĩa Văn Hóa Cội Nguồn Đại Đồng Bình Đẳng, thì phải nói chúng ta đang sống trong thế giới đầy bệnh hoạn với bao nhiêu là sự bế tắc, dẫn đến bao nhiêu là xung đột, dẫn đến xã hội Địa Ngục, thế giới Địa Ngục, con người làm hại con người, đi ngược lại lời dạy của Đức Cha Trời, thì hậu quả không biết đâu mà lường. Thái Tử là nhà Đại khoa học vũ trụ, Đại khoa học xã hội Tinh Thần lẫn vật chất. Nói đến tu Thiền luyện khí là nói đến chúng ta tiến tới làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ vận mệnh xã hội. Hàng phục thói hư tật xấu, trở thành một chân Tâm trong sáng. Đại Đồng chủng tánh đạt đến cảnh giới bất sanh bất diệt. Làm chủ vận mệnh làm chủ vũ trụ. Vận hành Chân khí khai thông huyệt Đạo, khai thông kinh mạch, làm cho cơ thể tràn đầy sinh lực. Đẩy lùi mọi bệnh tật.

Vận hành Văn Hóa Cội Nguồn, khai thống trí huệ con người, thấy rõ tương lai tốt đẹp, không còn lẩn quẩn trong phạm vi nhỏ hẹp, giống như con Ếch ra khỏi đáy giếng, gà con ra khỏi lớp vỏ trứng, với cái nhìn khác xưa cái nhìn hiểu thế nào là về sự ngu dốt của mình. Người vận hành Chân khí, cũng giống như ao hồ sông rạch xưa nay bị lu lấp, tắc nghẽn, nay bổng cơn mưa kéo đến làm cho ao, hồ, sông, rạch không những đầy nước, lại khai thông dòng chảy, khai thông sức mạnh liên kết cùng nhau dẫn đến bất tận. Nói về con người đã được khai thông huyệt Đạo kinh mạch, thì sức mạnh toàn thân bất tận. Thái Tử thấy rõ điều đó.

Để tiến đến giai đoạn khó khăn hơn, đòi hỏi người tu Thiền luyện khí phải tập trung cao độ, cùng một lúc vận hành khai thông nhiều huyệt Đạo. Đây là một việc làm khó, đối với người căn cơ kém, còn đối với Thái Tử dẫn Chân khí từ Đan Điền xuống Khúc Cốt, Hội Âm, Trường Cường, rồi lan tỏa rộng ra Bế Quan, Xung Môn, Âm Liêm, Thừa Phụ xuống hai chân khai các huyệt Đạo bốn mặt, mặt sau, mặt trước, mé ngoài, mé trong. Từ Háng – Mông xuống các đầu ngón chân rồi vận khí chạy trở lên Xung Môn, Bế Quan.

Để vận hành Chân khí khai thông các huyệt Đạo có hiệu quả, Thái Tử nhớ rõ các huyệt Đạo vị trí huyệt Đạo nằm trên cơ thể một cách rõ ràng. Thái Tử vận hành Chân khí thông lên hai bên hông khai thông huyệt Cư Liêu rồi đến Ngủ Khu, Đới Mạch, Chương Môn.

Thái Tử vận hành Chân khí thông lên nách, khai thông huyệt cực tuyền, rồi thông lên bả vai khai thông huyệt Kiên Ngung, Kiên Tỉnh hai bên trên bả vai, để tiếp tục cuộc hành trình vận hành Chân khí khai thông huyệt Đạo kinh mạch Thái Tử tiếp tục dẩn Chân khí chạy xuống hai cánh tay khai thông các huyệt Đạo ở hai mặt cánh tay mé ngoài, mé trong của hai cánh tay xuống tận các đầu ngón tay rồi dẩn Chân khí trở lại, chạy lên vai khai thông hai huyệt Thiên Đỉnh ở bả vai gần giáp cổ. Để tiếp tục cuộc hành trình vận hành Chân khí, Thái Tử dẩn Chân khí thông lên cổ khai thông hai huyệt Thiên Song. Chân khí cuồn cuộn thông lên đầu, khai thông các huyệt Đạo dọc theo hai bên tai lên Bách Hội.

Chân khí từ hai huyệt Thiên Song ở cổ cuồn cuộn thông lên huyệt Thiên Dung, thông lên Ế Phong, Hoàn Cốt giáp tai, rồi thông lên Chính Cung, Nhĩ Môn, Khiếu Âm, Khúc Tấn, Giác Tôn, Thừa Linh rồi thông lên Bách Hội. Hai dòng sông Chân khí hiệp lại nhau làm cho Bách Hội khai mở một cách kỳ lạ làm thông suốt các kinh mạch nhỏ lớn khắp toàn châu thân. Thái Tử thấy cơ thể nhẹ như bong bóng Thần Lực bất tận, khí lực như Đại Dương. Lúc này Thái Tử không cần tập trung ý tưởng dẩn Chân khí nữa mà ý để đâu thời Chân khí chạy tới đó.

Chân khí theo ý Thái Tử chạy xuống trán, xuống mắt, xuống mũi, xuống miệng, xuống cổ, xuống ngực, xuống bụng rồi trở về Đan Điền và cứ thế theo luật tuần hoàn vận hành Chân khí lưu chuyển thuần thục. Ba con sông lớn thi nhau mà chảy đem Nguồn Chân khí vũ trụ bồi đắp kinh mạch, huyệt Đạo, Tế Bào nguồn Chân khí năng lượng sống vũ trụ, từ trước ra sau, từ sau ra trước, từ đầu xuống chân, từ chân lên đầu, sự tuần hoàn này Chân khí tuôn chảy đến đâu, thì các lỗ chân lông đều khai mở đến đó. Có thể nói chẳng khác gì bốn biển, năm châu, giờ đây đã được Dung Hòa, Đông Tây Nam Bắc, Trung Ương, Thượng, Hạ thành một mối, Thái Bình An Lạc Đại Đồng Bình Đẳng. Phàm, Thánh hợp nhất các thứ tệ nạn xã hội liền bị đẩy lùi hết chỗ dung thân, cũng như khai thông huyệt Đạo kinh mạch bệnh tật liền bị tiêu trừ.

Sức mạnh của một Quốc gia không phải chỉ ở một người hay một tổ chức chính trị, Đảng phái tôn giáo, không có dân thời lấy đâu có Chính Quyền, lấy dân làm gốc là đều tất yếu. Nhưng phát huy được cái gốc của dân, đó mới là điều then chốt, tiến tới xã hội văn minh, xã hội Đại Đồng Bình Đẳng mà chỉ có Văn Hóa Cội Nguồn mới là chỗ tựa vững chắc của toàn dân. Có thể nói mỗi việc làm mỗi suy nghĩ của Thái Tử, để lại cho chúng ta những Di sản quí hiếm và không cho phép chúng ta đánh mất Di sản quí hiếm mà Tiền Nhân để lại cho chúng ta thứ tài sản vô giá này.

PHẦN THƯA HỎI :

Hỏi: Thế nào là hết lòng vì dân vì nước?

Đáp: Người hết lòng vì dân vì nước là người thương yêu Đồng Bào như thương yêu máu thịt của mình, suốt cuộc đời chỉ lo cho dân cho nước mà không đòi hỏi cầu lấy Danh, Lợi, địa vị nào cả. Không bao giờ dìu dắc Đồng Bào vào cảnh anh em tương tàn, nồi da nấu thịt. Đi đầu trong mọi lĩnh vực nhân cách Đạo Đức, Trung Hiếu mãi mãi tôn thờ truyền thống dân tộc Văn Hóa Cội Nguồn. Những kẻ giả nhân giả nghĩa, giả Đạo giả Đức làm hại dân tộc, làm hại non sông Tổ Quốc, chỉ lừa dối những kẻ thiếu hiểu biết, lừa dối Thần Thánh sao được. Và cán cân Công Lý vũ trụ sẽ chuyển xây vận mệnh kẻ ấy vào Thiên La Địa La trùng trùng tai họa. Danh, tánh của những kẻ ấy sẽ được công luận lên án, đời đời bị Thiên Hạ nguyền rủa.

Hỏi: Thế nào là đặt niềm tin đúng chỗ.

Đáp: Tin Văn Hóa Cội Nguồn, truyền thống anh linh dân tộc. Tinh Hoa Truyền Thống Dân Tộc là nguồn nước Thánh Quốc Bảo Chí Tôn, Chí Thánh của dân tộc mà Ông Cha ta đã dày công vun đắp, truyền lại cho chúng ta.

Hỏi: Thế nào là lợi dụng Tôn giáo Đạo giáo phục vụ cho mưu đồ xâm lược?

Đáp: Các thế lực ngoại xâm họ thường lợi dụng học thuyết chân chính, của các Tôn giáo Đạo giáo những giáo điều của Tôn giáo Đạo giáo có lợi về mặt chính trị, họ liền áp dụng đầu độc dân tộc ta, làm cho dân tộc ta quên đi Nguồn Cội, sa ngã bị mê hoặc, làm mất đi ý chí tự cường, ý chí trung Hiếu, lu mờ truyền thống Con Rồng Cháu Tiên. Cụ thể dân tộc ta vô cùng khốn khổ phải chịu cảnh nô lệ hàng nghìn năm, sống trong chảo dầu biển lửa, sống trong kìm kẹp với hàng trăm lớp trói chính sách của quân xâm lược, dân ta phải chịu cảnh trâu cày ngựa cỡi, đói nghèo lạc hậu khốn khổ vô cùng. Các học thuyết Tôn giáo Đạo giáo một khi các thế lực ngoại xâm lợi dụng biến chúng thành con dao nhiều lưỡi, uy hiếp tinh thần dân tộc. Vì hiểu tính cách lợi hại con Dao nhiều lưỡi này mà quân xâm lược luôn luôn mang theo nó, để uy hiếp đè bẹp tinh thần dân tộc ta, nên chúng ta phải luôn luôn cảnh giác. Cảnh thực hư của các giáo điều mà chúng luôn luôn dùng những giáo điều ấy mở đường cho xâm lược. Một dân tộc Rồng Tiên bị chúng trói vào giáo điều và chúng cho đó là pháp luật, thì con Rồng biến thành con giun ngay. Chúng Ta hãy hội nhập Văn Hóa Cội Nguồn chính là diệu dược Linh Đơn một khi uống vào liền thấy rõ chân tướng của loài Hồ Ly, Cáo, Sói.

Hỏi: Giặc nội tâm. Giặc ngoại xâm. Giặc nào nguy hiểm hơn?

Đáp: Giặc nội tâm. Giặc ngoại xâm. Giặc nào cũng nguy hiểm nhưng giặc nội tâm càng nguy hiểm hơn, muốn cho dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh. Thì phải loại bỏ thói hư tật xấu ra khỏi Linh Hồn của mỗi chúng ta, giặc thói hư tật xấu là thứ giặc vô cùng nguy hiểm, đồng bọn của chúng là giặc dốt, giặc ngu si, giặc mê muội. Chúng hùa nhau tham lam, vơ vét của dân, của nhà nước, trộm cướp là thứ giặc con, đặt ra chính sách bóc lột làm cho dân khốn đốn, giặc Cha thứ giặc luôn luôn bốc mùi tàn bạo. Một xã hội ấm no Thái Bình Hạnh Phúc là một xã hội đầy lòng Chân Chính, Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa cao. Muốn hiểu rõ sự nguy hại của thói hư tật xấu giặc nội tâm, thì phải dùng đến gươm Thiên trí Huệ trong Văn Hóa Cội Nguồn, báu vật của Trời Đất, có đủ ba ánh sáng để tiêu diệt chúng.

1: Đó là ánh sáng Công Lý Chính Nghĩa Đạo Đức truyền thống dân tộc.

2: Là ánh sáng Chân Lý Đạo Pháp Thiên Đạo Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng vũ trụ.

3:  Là ánh sáng Luật pháp, công bằng xã hội.

Ba nguồn ánh sáng này một khi đã chiếu lên, tức thời u minh non sông Tổ Quốc tan biến ngay. Trả lại cho con người Tâm Hồn trong sáng, giặc nội Tâm sẽ lùi sâu vào tâm thức dần dần bị tiêu diệt, thay vào đó là một Tâm Hồn vị tha và đầy lòng quả cảm. Đẹp như Tiên và mạnh như Rồng.

*********

Hết phần 4 chương 9 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 5 chương 9.

*********

CHƯƠNG 9

PHẦN 5

GIAI ĐOẠN 3

TU THIỀN LUYỆN KHÍ

Thái Tử giờ đây, nhất cử nhất động đều phát tuôn thần lực, ai nhìn thấy cũng khiếp vía. Các lỗ chân lông đều khai mở, Chân khí thu nạp vào Đan Điền liền thông suốt đến các lỗ chân lông ngay, người tu luyện đến đây đã là kinh khiếp lắm rồi nhưng đối với Thái Tử thì chưa đạt, phải tiến lên một nấc cao hơn nữa.

Thái Tử tiến đến phương pháp hít thở theo lỗ chân lông, một phương pháp tối cao của người tu Thiền luyện khí. Lại một lần nữa Thái Tử cho ta thấy, tiến đến phương pháp hít thở theo lỗ chân lông là để phát huy sức mạnh toàn năng cơ thể con người Tiểu Thiên vũ trụ. Đây là một phương pháp hơi khó nhưng đối với Thái Tử thì không thấy khó tí nào cả, còn đường đi Thái Tử cho ta thấy, phát huy sức mạnh toàn thân, Tiểu Thiên vũ trụ, thì phải có phương pháp đối với cơ thể, binh pháp đối với xã hội. Phát huy sức mạnh toàn năng Tiểu Thiên vũ trụ, thì phải tu Thiền luyện khí, tĩnh tâm thu nạp năng lượng vũ trụ, vận hành Chân khí, khai thông huyệt Đạo kinh mạch, khai thông các lỗ chân lông, 8 muôn 4 nghìn lỗ chân lông một khi đã hít thở thu nạp năng lượng vũ trụ, thì bộ máy Tiểu Thiên vũ trụ đã hội nhập vào bộ máy Đại Thiên vũ trụ, thu hút sức mạnh vũ trụ chuyển thành sức mạnh của mình.

Phát huy sức mạnh của một Quốc gia không khác gì mấy, 80 triệu dân hay 100 triệu dân, ví như mỗi người dân là mỗi đầu Lông của Tổ Quốc, các thành phần tổ chức Đảng phái, Tôn giáo, Đạo giáo các dân tộc anh em, ví như các huyệt Đạo của Tổ Quốc và sự giao thương với nhau, ví như là các kinh mạch.

Văn Hóa Cội Nguồn chính là năng lượng sống, cả ba mặt, khoa học, Tinh Thần, vật chất, vận hành Văn Hóa Cội Nguồn, lưu chuyển khai thông, thời kinh mạch giao thương liền được thông suốt mở rộng, đời sống xã hội tiến tới đỉnh cao nhanh chóng. Một đất nước như thế, không nói chúng ta cũng hiểu, đất nước ấy không những vững mạnh về vật chất mà mạnh cả Tinh Thần và cả sức mạnh toàn xã hội Tổ Quốc. Đất nước ấy dù có nhỏ, dù ít dân nhưng khó có đất nước nào đánh bại, dù cho đó là cường Quốc dân số hơn gấp mười lần. Đất nước ấy tuy dù ít dân nhưng dân tộc ấy là dân tộc Rồng Tiên thật sự.

Đức Mẹ Trời ÂU CƠ khi sinh ra nhân loại thể xác con người, thì loài Rồng hủy bỏ thân xác loài Rồng, Linh Hồn Loài Rồng đầu thai vào con người làm chủ bộ máy Tiểu Thiên vũ trụ trước nhất, còn các loài khác lần lượt đầu thai làm chủ thể xác con người Tiểu Thiên vũ trụ kế theo sau. Một dân tộc mà sức mạnh như Rồng, đẹp như Tiên, thử hỏi thế lực nào chống nổi.

Sức mạnh của một Quốc gia mà chỉ mạnh ở Vua Quan hay của một Đảng phái, thời sức mạnh Quốc gia ấy chỉ là sức mạnh của con người bình thường, không phải sức mạnh của con người đã khai thông huyệt Đạo kinh mạch. Vì vậy sức mạnh của một Quốc gia không chỉ ở Vua Quan hay một Đảng phái thống trị mà là sức mạnh toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị và Văn Hóa Cội Nguồn chính là rường cột tạo lên sức mạnh đó.

Sức mạnh vô tận của con người là dùng Chân khí năng lượng sống vũ trụ khai thông huyệt Đạo kinh mạch, tạo lên sức mạnh Đại Đồng Tổng Thể từ vô hình cho đến hữu hình, từ Thể Lực, Thể Hơi, Thể Lỏng cho đến Thể Đặc, sức mạnh tìm ẩn của con người đã được phát huy.

Dân giàu nước mạnh, nước mạnh thì trổ Hoa Độc Lập, Hoa Độc Lập bền vững là nhờ đã kế thừa được cái quả truyền thống mỗi ngày mỗi to lên, quả truyền thống mỗi ngày mỗi to lên là nhờ Tinh Hoa Văn Hóa Cội Nguồn làm cho nó phát triển càng lớn mạnh. Lại một lần nữa Thái Tử cho ta thấy bài học Căn Cội của sự thống nhất, bài học phát huy sức mạnh toàn dân, phát huy nội lực tìm ẩn xã hội. Bài học phát huy nội lực toàn dân, đưa con người đưa xã hội tiến đến cảnh giới tối cao, cảnh giới Cực Lạc.

Trở lại vấn đề chính. Thái Tử ngoài Tý – Ngọ – Mẹo – Dậu tu Thiền luyện khí, còn các giờ khác Thái Tử tu tập hít thở theo lỗ chân lông, đầu tiên thấy hơi khó nhưng sau đó trở thành thói quen, Chân khí theo lỗ chân lông ra vào thông suốt. Thái Tử chỉ cần hít một luồng Chân khí vận dụng toàn thân, tức thời thân hình bốc cao lên khỏi mặt đất ngay. Thái Tử đã biết mình đạt đến đỉnh cao của võ thuật, quyền pháp, chưởng pháp đỉnh cao của Thiên Tiên, Địa Tiên.

Nhưng con đường tìm ra Thiên Đạo Cội Nguồn còn rất xa, vì còn phải vượt qua cảnh giới tối cao của vô minh. Đây không phải việc làm mà ai ai cũng làm nổi, phải Đại hùng, Đại lực, Đại Từ Bi, Đại trí huệ mới vượt qua nổi. Trong cảnh giới tối cao của vô minh, những cảnh giới xuất hiện càng lúc càng kỳ bí, những cảnh tượng khủng khiếp, những cảnh tượng êm đềm mãi hiện ra bất tận, nếu không làm chủ cái thấy nghe hay biết của mình, khởi tâm phân biệt chạy theo sự thấy nghe hay biết, thì tức khắc rơi vào Ma Đạo, Quỉ Đạo ngay, mắc vào bẫy lưới của Ma Vương và Đại Quỉ đã ẩn sâu tận đáy Tâm Hồn của con người, tất cả đều đã hiện ra. Cứ một đoạn đường tiến sâu vào Mật Tạng vũ trụ là mỗi lần Thái Tử đổi phương pháp tu luyện.

Nói về xão nữ Thị Tỳ, vừa đem đồ ăn thức uống rời khỏi cấm cung, thì nghe tiếng nói vọng đến từ rất xa:

   Cúc Phương cứ bảy ngày ngươi mới đem đồ ăn thức uống đến vào buổi trưa đúng Ngọ, vì ta sắp sửa nhập Thiền vào cảnh giới Đại Định, không được cho ai tới gần khu rừng cấm nhất là nơi ta đang nhập Định.

Cúc Phương khiếp vía tưởng là mình đang nằm mơ, cứ rờ tai dụi mắt chừng nhìn giõ đồ ăn cùng xe ngựa mới biết là mình không có nằm mơ. Cúc Phương nhìn quanh nhìn quất không thấy Thái Tử đâu cả, đâm ra sợ hãi, hỏi:

   Có phải Thái Tử dạy bảo tỳ nữ đó không?

Cúc Phương lại nghe tiếng nói của Thái Tử như con Muỗi vo ve:

   Ngươi không thể thấy ta được đâu vì ta đang ngồi trong thiền phòng khu rừng cấm. Thôi ngươi trở về đi, 7 ngày sau ngươi đem đồ ăn thức uống đến theo lời dặn của ta khi nảy.

Cúc Phương nghe xong càng khiếp vía, vì từ đây đến nơi Thái Tử rất xa đến mấy dặm đường, Cúc Phương bổng chuyển sợ hãi thành niềm vui, hay là Thái Tử thành Đạo rồi, có lẽ là thế.

Xão nữ Thị Tỳ Cúc Phương đem việc Thái Tử căn dặn nói lại cho Thần Long Nữ mẹ của Thái Tử cùng Kinh Dương Vương Cha của Thái Tử nghe. Nghe xong Thần Long Nữ, Kinh Dương Vương vô cùng mừng rỡ. Nghĩ con ta Đắc Đạo thật rồi ngũ thông khai mở. Kinh Dương Vương lại nghĩ Con hơn Cha là nhà có phúc, ta tu luyện đã hơn 70 năm cũng không được thế, có lẽ hơn hẳn các Đạo sĩ, tu sĩ của các giáo phái rồi. Thần Long Nữ cũng nghĩ như vậy liền nói: Đã Đắc Đạo cao đến thế còn tu luyện nữa để mà làm gì? Kinh Dương Vương hồi tưởng lại lời nói của Thái Tử trước đây thở dài nói.

Hùng Lan sở dĩ dốc sức tu luyện để tìm ra Thiên Đạo Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng, cái gì là Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng thật quá mơ hồ vời vợi, chưa bao giờ nghe nói, nói chi đến việc nhìn thấy. Thần Long Nữ nghe Kinh Dương Vương nói thế cũng thở dài theo càng lo lắng cho Thái Tử, dặn tỳ Nữ Cúc Phương rằng việc hôm nay ngươi không được nói cho ai biết. Cúc Phương vâng dạ rồi lui ra. Địa Tiên lấy Chân khí làm Đạo. Thiên Tiên thì tiến xa hơn nữa, tham thiền quán tưởng hành Đạo. Nói 1 cách dễ hiểu, Địa Tiên chú trọng về Khí. Thiên Tiên chú trọng về Pháp.

*********

Hết phần 5 chương 9 Long Hoa Mật Tạng, mời xem tiếp phần 1 chương 10.

*********

CHƯƠNG 10

PHẦN 1

PHÁP THUẬT THẦN THÔNG.

Tuy Thái Tử biết mình đã đạt đến cảnh giới tối cao vượt trên cả Thiên Tiên và Địa Tiên. Nhưng con đường tìm ra Thiên Đạo Cội Nguồn còn quá xa, vì còn phải vượt qua cảnh giới vô minh của vô lượng kiếp, đầy khó khăn gian truân nguy hiểm. Nếu không hội ngộ Chân Tánh, làm chủ thấy nghe hay biết, hàng phục tâm viên ý Mã, thì dễ mắc vào bẫy lưới của Vô Minh, Ma Vương và Đại Quỉ, rơi vào con đường tà Đạo thì nguy hiểm biết là bao. Theo sự nhận biết của Thái Tử, muốn tiến sâu vào Mật Tạng vũ trụ, thì phải hiểu rõ Duy Thức chủng Tánh, Cội Nguồn của muôn loại pháp thuật Thần Thông, pháp thuật Thần Thông biến hóa, theo căn nguyên của Duy Thức. Duy Thức là cái biết đã khởi tưởng phân biệt. Ý Thức là Thần Chủ của Lực. Lực là chủ của Khí. Khí là chủ của Nước mà Nước là chủ của Đất. Hay nói một cách dễ hiểu.

Duy Thức là do bản thể Linh giác Chân Tánh phân biệt khởi niệm tạo ra. Chân Tánh ví như Nước, Thức Tánh ví như bọt Nước. Duy Thức Tánh bọt Nước sanh ra liền làm chủ Thể Lực mà Thể Lực là chủ của Thể Khí mà Thể Khí là chủ của Thể Lỏng Nước, Nước lại là chủ của Thể Đặc Đất. Sự liên kết của Ngũ Thể.

1: Thể Thức

2: Thể Lực

3: Thể Khí (Hơi)

4: Thể Lỏng (Nước)

5: Thể Đặc (Đất)

Thành một chuỗi nhân duyên hệ thống dây chuyền liên kết móc xích cuốn hút vào nhau.

Chỉ cần ý tưởng khởi niệm chuyển động thì Thể Lực, Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc bị cuốn hút hoặc phản ép theo ý tưởng ấy ngay. Tất cả mọi suy nghĩ, mọi suy tưởng, mọi suy luận đều gọi là Duy Thức cả, pháp thuật Thần Thông, không ngoài nguyên tắc, Sắc – Thọ – Tưởng – Hành – Thức luân phiên biến hóa, tạo ra cảnh giới Duy Thức Thần Thông.

Duy Thức Thần Thông, Duy Thức Suy Luận, Duy Thức Suy Tưởng, Duy Thức Khoa Học, Duy Thức thuộc hệ nhận thức, Duy Thức thuộc hệ Vô Thức, Duy Thức thuộc hệ tưởng không phải là tưởng, phi phi tưởng xứ v.v… Nói chung những nhóm hệ Duy Thức này được Thái Tử phát huy khai thác tận dụng rốt ráo.

Duy Thức Thần Thông là loại Duy Thức pháp thuật Thần Thông biến hóa, có một sức mạnh tổng thể nối liền từ vô hình đến hữu hình, từ vô sắc đến hữu sắc, từ vô tướng đến hữu tướng, vô vi chuyển hóa hữu vi. Vì thế ý tưởng đã khai tưởng ra cảnh giới gì thì Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức ứng dụng biến hiện ra cảnh giới ấy, thu hút cuốn hút Lực khí nước đất ứng dụng theo hiện ra cảnh giới đó, gọi là pháp thuật Thần Thông.

Duy Thức Thần Thông là hệ Duy Thức Mật Tạng đa dạng biến hóa khôn lường, không thể nào luận bàn cho hết được, nếu không phải là Phật Trí, Thánh Trí thì khó mà nhận biết được. Chỉ một việc Thái Tử mới khởi tưởng về Thần Thông, thì các hệ Duy Thức khác liền hội nhập vào ý tưởng đó ngay. Giống như ánh sáng nhập vào ánh sáng, không có sự chướng ngại nào cả, hàng vạn hệ Duy Thức hội nhập vào một hệ Duy Thức không chướng ngại gì cả mà chỉ làm tăng thêm uy lực mầu nhiệm biến hóa cho pháp thuật Thần Thông mà thôi. Để hiểu thêm pháp thuật Thần Thông, vô vi chuyển hữu vi, vô hình chuyển hữu hình, sự chuyển vận đó phải qua trung gian, Thể Lực và Chân khí.

Ý Thức khởi tưởng, Duy Thức vô vi, Lực – Khí là Thể Lực vừa vô vi vừa hữu vi, Thể Lỏng, Thể Đặc thuộc hữu vi. Một khi ý Thức khởi tưởng chuyển biến thì Thần Lực Chân Khí cuốn hút chuyển biến theo, thu hút Thể Lỏng, Thể Đặc Nước Đất hiện ra cảnh giới ý tưởng của Duy Thức. Có thể nói cảnh giới ý tưởng vô vi thuộc hình, cảnh giới hữu vi chỉ là cái bóng của ý tưởng Duy Thức mà thôi. Hay nói một cách khác, cảnh giới tâm thức luôn luôn tồn tại trong tâm thức (Hình). Cảnh giới hữu vi chỉ là cái bóng của Hình, đã là cái bóng của Hình, đủ nhân duyên thì nhóm hợp theo nghiệp lực của Hình, hết nhân duyên nghiệp lực thì tan rã, từ Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc trở xuống, còn Duy Thức cảnh Hình không tan hoại nhập vào pháp Tạng Duy Thức, lưu trữ tại đây. Nói tóm lại, Linh Hồn cùng thể xác chung một nhịp sống, như bóng với hình, như hình với bóng, nối liền với nhau qua nhịp cầu trung gian Thể Lực và Thể Khí. Một khi Chân Khí Thể Lực cạn kiệt thì Linh Hồn thể xác tách đôi, Hình còn Bóng mất.

Vì vậy Linh Hồn muốn bảo tồn sự trường thọ của thể xác, thì phải tu Thiền luyện khí, người thường Tục không hiểu được điều này nên không chú trọng đến tu Thiền luyện khí, để kéo dài tuổi thọ, người thường Tục Chân Khí và Thần Lực chỉ đủ duy trì sự sống, thông qua lối hít thở theo quán tính tự nhiên bình thường. Nên đối với việc pháp thuật Thần Thông thì rất xa lạ, thật ra pháp thuật Thần Thông luôn luôn tồn tại bên họ, cũng giống như mù không nhìn thấy ánh sáng mặt trời, nhưng thật ra ánh sáng mặt trời ở ngay trên đầu họ, chẳng ảo tưởng xa xôi chút nào.

Thần Lực vũ trụ, Chân Khí vũ trụ không ở đâu xa luôn luôn tồn tại ở sát bên người nhưng ít ai nhận ra giá trị Chân Khí, Thần Lực năng lượng sống vũ trụ, sức mạnh vũ trụ, để rồi thu nạp Chân Khí, Thần Lực vũ trụ làm tăng sức mạnh con người, con người phàm tục vì không nắm bắt được năng lượng sống vô giá ấy, nên phải làm con người thường tục, thân xác nặng nề đầy rẫy bệnh tật, tiếc thay.

Thái Tử là nhà Khoa Học vũ trụ quá hiểu rõ điều này, nên việc tu Thiền luyện khí mau đạt kết quả, kết tụ nhị xác thân nhanh chóng Thần Lực, Chân Khí sung mãn đạt đến cảnh giới Tam Hoa tụ Đỉnh, Ngũ khí triều dâng, nên việc tu luyện thuật xuất Hồn ra khỏi thể xác phàm tục, Linh Hồn Thái Tử giờ đây đã có nhị xác thân, tức là cái Thân Tinh, Khí, Thần, đã kết tụ do tu Thiền luyện khí kết hợp với Tinh Thể của Thái Tử tạo ra.

Trước khi luyện tập pháp thuật xuất hồn Thái Tử ngồi xếp bằng điều hòa Chân Khí. Sau đó thì yên lặng trong cảnh giới Đại Định, rồi khởi tưởng Linh Hồn bay lên ra khỏi xác thân, rồi hạ xuống nhập vào thi thể, cứ thế Thái Tử tập đi tập lại nhiều lần, càng lúc càng thuần thục hơn cho đến khi xuất hồn nhập hồn như ý.

Để mở rộng thêm phạm vi hiểu biết về Thuật xuất hồn, đối với việc xuất hồn rất dễ đối với người tu Thiền luyện khí, nhất là những người tu Thiền luyện khí đã kết tụ nhị xác thân. Còn rất khó khăn đối với người thường tục, vì Linh Hồn người thường tục phần lớn Linh Hồn hoạt động đều nương theo thể lực, con người nương khí hít thở theo tự nhiên quán tính của con người nên khó mà xuất hồn ra khỏi thể xác phàm tục vì bị lệ thuộc vào Thần Lực, Chân Khí của thể xác, bộ máy sống tiểu Thiên vũ trụ. Vì tu Thiền luyện khí nên Linh Hồn Thái Tử không còn phụ thuộc vào Thần Lực Chân Khí sẵn có của thể xác mà còn làm cho thể xác Thần Lực, Chân Khí sung mãn đạt đến cảnh giới Tam Hoa tụ đỉnh, ngũ khí triều dâng. Lúc này Thái Tử chỉ cần một ý niệm khởi tưởng, tức thời Thần Hồn Thái Tử nhị xác thân ra khỏi thể xác phàm tục ngay. Lúc này nếu có người để ý thì không khỏi kinh ngạc, vì nơi Thiền phòng luôn có mặt hai Thái Tử, một Thái Tử ngồi Thiền, một Thái Tử đang hoạt động như bóng Ma. Thể xác phàm tục từ đây đối với Thái Tử chỉ là một lớp áo da Thái Tử thường mặt mà thôi.

Và cho đến một hôm, Thái Tử liền xuất hồn ra khỏi lớp áo da thể xác phàm tục tưởng mình bay lên không trung nhắm hướng trung Đông, Tây Tây Bắc bay đến dãy núi cao nhất vùng Tây Tạng. Nhị xác thân là thân xác Tinh Khí Thần. (Thần Lực, Chân Khí và Tinh Khí). Thể xác nầy nhẹ, không những giảm đi lực ép của vũ trụ mà còn giảm luôn lực hút của trái Đất, thân thể luôn theo ý Linh Hồn muốn nặng thì nặng, muốn bay thì bay. Đứng trên đỉnh núi của dãy núi cao nhất, có lẽ nghìn năm không có dấu chân người, có lẽ đây chính là nơi lý tưởng để cho Thái Tử tu luyện pháp thuật Thần Thông.

Thái Tử đứng trên đỉnh núi cao hớp một luồng Chân Khí, tức thời Thái Tử bổng to như người khổng lồ, nếu lúc này có người nhìn thấy họ sẽ khiếp hoảng sợ hãi ngất đi.

Đây nói về thể xác phàm tục Thái Tử vẩn luôn trong tư thế ngồi Thiền, tim vẫn đập máu vẫn lưu thông, vì sao lại có chuyện lạ như thế. Không có gì là chuyện lạ cả, thể xác con người là bộ máy sống, chỉ cần có Chân Khí là nó vẫn sống động bình thường. Thái Tử đã khai thông kinh mạch huyệt Đạo, lại khai thông các lỗ chân lông, lại tập cho bộ máy sống thể xác thu nạp Chân Khí theo lỗ chân lông, bộ máy sống thể xác tự nó hấp thu Chân Khí nên lục phủ ngũ tạng hoạt động bình thường, máu huyết lưu thông nhờ huyệt Đạo kinh mạch thông suốt. Thể xác thường không được thế, khi Linh Hồn rời khỏi thể xác, thì phổi ngừng thở không thu nạp được năng lượng sống Chân Khí vũ trụ, nên lục phủ ngũ tạng ngưng hoạt động theo, thể xác dần dần tan rã. Thể xác Thái Tử như cổ máy thu hút năng lượng sống Chân Khí vô tận, cũng giống như người tài xế đã rời khỏi xe nhưng xe vẫn còn nổ không tắt vì còn đầy đủ nhiên liệu đủ yếu tố để hoạt động.

Nói về Thái Tử ở trên đỉnh núi cao hớp một luồng Chân Khí làm cho Chân tướng trở nên to lớn dị thường. Pháp thuật Thần Thông là pháp thuật do Duy Thức ứng dụng năm nguyên tắc để biến hóa là Sắc – Thọ – Tưởng – Hành – Thức để biến hóa. Thức sắc, thức thọ, thức hành, thức biến hay nói một cách dễ hiểu, sắc thức, thọ thức, tưởng thức, hành thức và ý thức. Khởi dụng Thần Thông biến hóa, nếu không phải mắt Phật mắt Thánh thì không thấy nổi. Muốn biến thành cọp hay biến mình thành cọp trước tiên Thái Tử hình dung con cọp (Thọ) rồi khởi tưởng ra con cọp (Tưởng) hiện rõ màu sắc móng vuốt mắt mũi (Sắc) con cọp đang sống động (Hành) sau cùng là ý thức khởi động con cọp tự nhận thức ra mình là cọp (Thức biến). Cuộc hành trình pháp thuật Thần Thông như sau. Trước tiên Thái Tử hình dung con cọp, đó là sự hình dung tổng quát chưa rõ nét (Thọ Thức) thức thứ 2 liền xuất hiện. Khởi tưởng hình con cọp rõ nét hơn (Tưởng Thức) thức thứ 3 liền xuất hiện làm cho con cọp lộ rõ màu sắc đến rõ nét hoàn hảo (Sắc Thức) thức thứ 4 xuất hiện làm cho con cọp sống động (Thức Hành). Sau cùng là thức, thức thứ 5 ý thức tự nhận thức ra mình và chuyển động toàn thân theo ý muốn, tức thời thân hình Thái Tử biến mất thay vào đó là một hình thể con cọp. Để hiểu thêm về pháp thuật Thần Thông, ví như người làm bánh, có bột mới làm bánh, không có bột muốn làm bánh cũng không làm đươc, bột làm bánh ở đây là nói đến Tinh Khí Thần, người thường cũng có Duy Thức, khởi ra sắc thọ tưởng thành thức, đó chỉ là cái khuôn trống rỗng, vì thiếu bột để thành bánh. Thái Tử thời lại khác có cả khuôn lẫn bột đầy đủ chỉ cần người thợ khéo tay sẽ làm ra đủ dạng hình của bánh.

Thái Tử tu luyện thuật biến hóa chỉ trong chốc lác đã thành thục. Thái Tử chỉ khởi tưởng ra hình con cọp to lớn, tưởng mình là cọp đang vồ lấy con mồi, tức thời một lằn chớp nổi lên, Thái Tử biến đâu mất, một con cọp xuất hiện ngay sau đó, chạy nhãy một hồi, con cọp lắng yên tâm trí trở lại, hồi tưởng về mình là Thái Tử, con cọp tức thời rùng mình biến mất hiện nguyên hình là Thái Tử. Cứ như thế Thái Tử tu luyện tập đi tập lại Thần Thông biến hóa từ chậm cho đến nhanh, chỉ cần khởi tưởng liền biến hóa được ngay. Đúng là ý đã khởi thì thức đã biến ra hình dạng nào, thời Tinh Khí Thần cuốn hút theo hiện ra hình tướng đó.

Để có pháp thuật Thần Thông biến hóa cao hơn, từ biến hóa đơn tiến lên biến hóa phân thân. Thái Tử ngồi yên lặng 2 bàn tay bắt ấn cung Dần khởi tưởng ra năm con cọp lớn, theo phương vị ngũ hành. Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ. Con màu xám, con màu vàng, con màu đen, con màu trắng, con màu đỏ. Khởi tưởng cho đến khi thấy rõ năm con cọp hiện ra trong tâm thức hết sức sinh động rõ ràng từng bộ phận, sắc lông, miệng mũi, chân cẳng, móng vuốt nhất nhất sinh động rõ ràng. Lúc ấy Thái Tử đã quên mình, và chính mình là năm con cọp, với tư thế sắp vươn mình chạy nhảy. Năm con cọp liền hớp một luồng Chân Khí, đồng loạt vươn mình tung bay chạy nhảy, tức thời một lằn chớp nổi lên Thái Tử liền biến mất, thay vào đó là năm con cọp to lớn hiện ra, với khí thế hung hãn vô cùng gầm rú chạy nhảy làm vang động cả núi rừng, Chim muôn dã thú kinh hồn khiếp vía, sau một hồi chạy nhảy gầm rú, khí lực hùng hãn dần dần hạ xuống tâm ý trở lại lắng trong, năm con cọp đã nhận thức ra mình là Thái Tử, liền xả ấn rùng mình biến mất hoàn hình trở lại là Thái Tử. Cứ theo phương pháp ấy Thái Tử biến thành năm con cọp, rồi lại hoàn hình trở lại, luyện đi luyện lại mãi, luyện đến xuất thần nhập hóa, vừa khởi tưởng thời năm con cọp đã hiện ra.

Đối với người thường tục cho việc pháp thuật Thần Thông là một sự huyền bí, lắm khi còn cho đó là huyền thoại không thật có. Còn đối với người giác ngộ Chân Tánh thấu rõ Chân Tâm, cũng như người tu Thiền luyện khí, thì pháp thuật Thần Thông là đều có thật, hể dày công tu luyện thì có nó. Đối với người giác ngộ Chân Tánh, thấu rõ Chân Tâm, thì pháp thuật Thần Thông chỉ là trò ảo thuật khoa học mà thôi. Liên kết ý tưởng liên hợp Duy Thức biến hiện tạo ra cảnh giới Duy Thức vô vi, cuốn hút Tinh Khí Thần hiện ra cảnh giới hửu vi, cảnh giới Duy Thức là hình, cảnh giới vật thể là bóng, hình và bóng giống hệt nhau, liên kết giữa hữu và vô, giữa Thức, Lực và Chân Khí Tinh Khí.

Muốn đạt được pháp thuật Thần Thông phải dựa vào cơ sở yếu tố của nó. Thần Lực, Chân Khí, Tinh Khí và ý tưởng của hệ Ngũ Thức, Sắc Thức, Thọ Thức, Tưởng Thức, Hành Thức và ý thức gọi chung năm thức này là Duy Thức Thần Thông, tất cả cảnh giới trong tâm thức là do năm thức này khởi tạo ra cả, người mê lầm tưởng cảnh giới trong tâm, cảnh giới hiện thực trần gian là thật, còn người giác ngộ Chân Tánh thấu rõ Chân Tâm, cảnh giới nhân gian là do Duy Thức Chân Tâm, Chân Tánh vũ trụ tạo ra, tất cả chỉ là ảo thuật không thật. Cũng giống như năm con cọp do Thái Tử biến ra tất cả đều không thật. Thái Tử là bậc trí huệ Chánh giác, căn cốt vào hàng thượng đẳng, nên tu Thiền luyện khí chỉ có mấy năm thành tựu kết quả ít ai làm nỗi. Thái Tử nhận định, muốn tìm ra Thiên Đạo Cội Nguồn, thì việc tu Thiền luyện khí rất cần thiết, vì tu Thiền luyện khí trí huệ sẽ khai mở thì coi như đã có ánh sáng soi đường đi đến tận cùng Cội Nguồn vũ trụ, tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn cứu nhân loại thoát khổ. Muốn tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng, việc trước tiên là phải khai thông trí tuệ, như người mù đã được sáng mắt, như người điếc đã được thông tai, sau đó mới nói đến vận dụng. Lực, Hùng, Bi, Trí, Nhẫn, Dũng, Chí, Đức. Để vượt qua bao chướng ngại đến nơi đến đích. Đức tính thương người cứu dân độ thế là động lực thôi thúc Thái Tử vượt qua bao gian khổ, khám phá ra bao bí mật vũ trụ làm lợi ích cho cuộc sống con người.

Thái Tử nhận định việc khai thác tài nguyên vũ trụ, trong đó Thần Lực Thể Lực vũ trụ, Chân Khí, Tinh Khí vũ trụ năng lượng sống là quí hiếm hơn cả. Thái Tử không phải là nhà Đạo sĩ, Tu sĩ mà là nhà khoa học vũ trụ, tìm con đường cứu thế, đưa xã hội nhân loại đến đỉnh cao của sự văn minh Tinh Thần lẫn vật chất.

Theo Thái Tử một xã hội văn minh không chỉ văn minh Tinh Thần lẫn vật chất mà còn văn minh làm trong sạch môi trường, trong lành không khí. Nếu không phải thế, thì xã hội đó là sự văn minh mở đường cho xã hội bệnh hoạn rác rưởi, mùi hôi thối độc hại khắp nơi, làm thiệt hại cho dân chúng, cho nhà nước rất lớn. Xã hội văn minh là xã hội tự biết phát huy nội lực sẵn có của mình, biết khai thác tài nguyên năng lượng sống vũ trụ, bồi đắp cho xã hội con người. Theo Thái Tử phát huy Thể Lực con người, đẩy lùi bệnh tật, tăng trưởng trí huệ là cơ bản then chốt, thiết yếu nhất.

Muốn khai thông trí huệ, Thể Lực con người không chỉ học và hành. Thể Dục Thể Thao luyện quyền múa kiếm mà còn phải tu Thiền luyện khí, khai thông huyệt Đạo kinh mạch, Chân Tâm hướng Thiện, duy trì Chính Nghĩa. Phát huy sức mạnh Tinh Thần Dân Tộc, không có con đường nào khác hơn, là tiếp thu Văn Hóa Cội Nguồn, vận hành Văn Hóa Cội Nguồn lưu chuyển khai thông mọi tầng lớp xã hội các Đảng phái, Tôn Giáo, các màu da, chủng tộc, anh em tiến gần tới công bằng văn minh xã hội.

Phát huy sức mạnh phát triển vật chất xã hội không có con đường nào khác hơn là hiểu rõ tài nguyên vũ trụ. Khai thác tài nguyên Thần Lực vũ trụ, tao ra điện năng phục cho xã hội đời sống con người. Trong Thể Lực vũ trụ có Điện Lực vũ trụ. Trong Chân Khí vũ trụ có Dầu Khí vũ trụ. Điện Năng và Dầu Khí là 2 nguồn tài nguyên vô giá sống còn của máy móc, hai nguồn tài nguyên này dồi dào, thì mới làm thay đổi được bộ mặt nghèo nàn của xã hội. Ở thế gian máy móc thực dụng phục vụ con người phục vụ phát triển đời sống xã hội, còn ở Thiên Đàng máy móc thực dụng còn gọi là Bảo Bối. Nói cho cùng máy móc thực dụng thế gian hay máy móc thực dụng Bảo Bối ở Thiên Đàng. Mục đích chung cũng chỉ là để phục vụ cho con người đời sống xã hội mà thôi.

Nói về Thái Tử tu luyện pháp pháp thuật Thần Thông cũng vậy, chỉ cần biết cách khai thác tài nguyên năng lượng sống Thần Lực vũ trụ, Chân khí vũ trụ, thu nạp vào bộ máy Tiểu Thiên vũ trụ con người, khai thác Duy Thức tâm linh làm nên những điều huyền diệu của pháp thuật Thần Thông. Người thường tục sức mạnh Linh Hồn chỉ dựa vào Thể Lực sẵn có tự nhiên của thể xác bộ máy sống con người nhưng Linh Hồn con người không hiểu thế, lại còn hoan lạc phung phí Tinh – Khí lực con người dẫn đến kiệt huệ tinh khí lực nhanh chóng, làm cho thân thể nặng nề yếu ớt đầy bệnh hoạn. Đối với người tu Thiền luyện khí thời thân khẩu ý thường thanh tịnh, như cái lu không bị lủng chảy kín mít, Tinh Lực, Khí Lực, Thần Lực, dồi dào, đạt đến cảnh giới pháp thuật Thần Thông tự tại, nếu người nào biết kiềm chế hoan lạc, giảm bớt đi sự tiêu hao Tinh Lực Khí Lực Thể Lực con người, thì hạnh phúc sẽ đến với họ vì sức khỏe quí hơn vàng, những người chỉ biết ham ăn hố uống không kiêng cử gì cả, hoan dâm vô độ sẽ làm giảm tuổi thọ, bệnh hoạn lũ lượt sanh ra.

Xã hội máy móc chỉ cần dồi dào Điện năng và Dầu khí, làm hạ giá thành xuống thấp nhất, thì đời sống phát triển xã hội đó sẽ làm lên bao điều kỳ diệu. Một xã hội đã văn minh về vật chất, lại thêm văn minh về Tinh Thần, thấu triệt Văn Hóa Cội Nguồn, sự kết hợp phát triển ấy sẽ đem lại bao kết quả kỳ tích đến bất ngờ.

Sức mạnh con người nương vào sức mạnh vũ trụ, sức mạnh vũ trụ được con người khai thác một cách có khoa học. Thái Tử đã làm được việc ấy, sử dụng Duy Thức, ý tưởng biến hiện Thần Thông tài tình ảo diệu.

Cứ giáp tuần Thái Tử lại bay về thành Giang Nam Xích Quỷ khu vườn cấm để nhập xác ăn uống tu Thiền luyện khí vận động cơ thể. Quyền pháp, Chưởng pháp, cho huyệt Đạo kinh mạch khí huyết lưu thông, tiếp nối sự sống cho thể xác phàm tục hết ngày rồi lại đến ngày, Thái Tử lại xuất hồn ra đi đến nơi núi cao không dấu chân người tiếp tục tu luyện pháp thuật Thần Thông, khám phá thêm về bí mật của Duy Thức Thần Thông, hầu thấu rõ tài năng biến hóa của. Chúa Tể Ma Vương và Đại Quỷ, chúng được che đậy bởi cảnh giới vô minh.

Để tiến cao thêm pháp thuật Thần Thông hơn nữa, Thái Tử liền co tay bắc ấn cung Thìn niệm tưởng rùng mình liền hóa ra năm con Rồng to lớn và từ năm con Rồng to lớn mỗi con lại hít một luồn Chân Khí làm chuyển động cả núi non, sau đó thì mỗi con Rồng tự biến hóa ra hàng nghìn hàng trăm con Rồng, với cách biến hóa này thì Quỉ Ma khiếp đảm sợ đến mất hết hồn vía rụng rời chân tay với cách biến hóa này đừng nói Ma Quỉ mà ngay cả Thiên Tiên, Địa Tiên cũng ít người làm nỗi. Trên đỉnh núi cao hàng vạn con Rồng xuất hiện, làm khiếp đảm chim muôn vạn Thú. Thái Tử không những đạt đến cảnh giới tối cao của thuật phân thân, cả thuật phân Tánh chỉ có những bậc hiểu ngộ Chân Tánh, làm chủ Chân Tánh mới làm nổi.

Cách tu luyện phân thân, phân tướng, phân tánh, phân ý này là pháp thuật Thần Thông Chí Tôn vô thượng, nếu quên mất mình là ai thì khó mà hoàn hình trở lại, hàng vạn con Rồng sau cơn làm mưa làm gió, Thần Lực Khí Lực đã giảm sút, hàng vạn con Rồng nhận thức ra mình là Thái Tử tức thời hàng vạn con Rồng liền biến mất hiện nguyên hình là Thái Tử. Cứ thế Thái Tử hết tu luyện hóa Cọp rồi tới tu luyện hóa Rồng, hết hóa Rồng rồi đến hóa Công, hóa Phụng, hết loài này sang loài khác và sự tập luyện biến hóa như thế cũng mất cả hàng năm ròng.

Một hôm Thái Tử nhìn cây sanh cổ thụ hàng nghìn nghìn năm, nghĩ ta đã tập phép biến hoa Chim muôn, vạn Thú, con người, Thần Thánh cho đến các loài Ma Quỉ v.v… Ta chỉ dùng ấn thập nhị Địa Chi, ấn tam muội, ấn lưỡng nghi Âm Dương, chứ chưa dùng đến ấn ngũ hành, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Thế là Thái Tử dùng ấn ngũ hành để tu luyện biến hóa ra đất nước, gió lửa, cảnh quan cây cối, núi sông.

Thái Tử ngồi yên lặng với tư thế tọa thiền, ngón tay giữa ấn vào giữa lòng bàn tay, rồi ngón tay cái ấn chặt đè lên ngón tay giữa, rồi khởi tưởng ra Cội sanh, cành lá sum xuê, gốc rễ chằng chịt, giống hệt cây sanh Cổ Thụ trước mắt. Trong Tâm Thái Tử cây sanh Cổ Thụ đã hiện ra nhất nhất rõ ràng, ý thức Thái Tử liền khởi động cây sanh do sắc, thọ, tưởng, hành lập nên lúc Thái Tử nhận thức cây sanh là mình, mình là cây sanh tức thời một lằn chớp nỗi lên Thái Tử biến mất, thay vào đó là một cây sanh to lớn Cổ Thụ đã hiện ra giống hệt cây sanh Cổ Thụ kia, nếu lúc này có người xuất hiện thì không thể nào phân biệt được cây nào thật cây nào giả.

Nói về pháp thuật Thần Thông, thì không phải con người tu luyện mới có mà ngay cả Chim muôn vạn Thú, Ma Quỉ chỉ cần tu Thiền luyện khí lâu năm là có pháp thuật Thần Thông, kể cả các loài cây, cỏ sống hàng nghìn nghìn năm cũng có pháp thuật Thần Thông nhưng không được cao minh lắm.

Thái Tử vốn con người làm chủ bộ máy sống Tiểu Thiên vũ trụ, từ bộ máy sống Tiểu Thiên vũ trụ, tu Thiền luyện khí kết tụ nhị xác thân, Thân Tướng Tiên Thiên, thọ ngang trời đất. Chim muôn vạn Thú các loài Ma Quỉ làm sao sánh được, đầy đủ 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp. Nhị xác Thân là thân tướng, vừa vô vi vừa hữu vi, có thể thấy mà cũng có thể không thấy tùy tâm ứng dụng, vì cái thân ấy là cái thân tam bửu Tinh Khí Thần. Thần Lực, Khí Lực và Tinh Khí, cái thân này muốn biến, muốn hiện là đều do Duy Thức tạo ra. Như trên Kinh đã nói Duy Thức Thần Thông là Duy Thức ngũ uẩn biến chuyển, sắc thức, thọ thức, tưởng thức, hành thức, ý thức, năm Duy Thức này đều gọi là tâm thức, năm Duy Thức này đều gọi Duy Thức ảo thuật máy móc tâm linh.

Có thể ví dụ 5 thức này như sau, ví như 5 người thợ vẽ, mỗi người có 1 cái tài khác nhau đồng vẽ 1 con chim. Người thứ nhất vẽ hình con chim. Người thứ hai vẽ lông cánh sắc màu con chim. Người thứ ba vẽ sự cảm giác cái biết của con chim. Người thứ tư vẽ sự động chuyển của con chim và người thứ năm rất quan trọng vẽ ý thức, con chim tự nhận thức ra mình rồi đập cánh bay mất. Hay có thể nói rằng năm nét vẽ chung nhau tạo lập lên con chim như thật, pháp thuật Duy Thức Thần Thông là thế. Con Chim do năm thức tạo nên là Hình, còn Tinh Khí Thần theo hình hiện bóng mà thôi, đó là thể xác hay thể chất của con Chim. Khi hình biến thì bóng theo đó cũng tan theo hình, trở về căn cội của nó.

Thể Lực vũ trụ ngày nay đã được con người khai thác, bằng cách dùng lực nam chân khuấy động Thần Lực vũ trụ thu hút tạo ra hai dòng từ trường điện lực phục vụ máy móc, phục vụ con người.

Người chưa giác ngộ Chân Tánh không bao giờ hiểu được điều nầy, đã khai thác khuấy động Thần Lực vũ trụ, tức là đã động đến bản thể Linh giác của Đức Cha Trời, vì sao lại như thế Vì trên Thần Lực vũ trụ, chính là Linh giác vũ trụ, Linh giác vũ trụ có 2 phần, Trí Thân và Giác Thân. Khi chúng ta khai thác Thần Lực vũ trụ, nói theo nghĩa Đạo, khai thác Thể Lực vũ trụ nói theo nghĩa đời.

Thần Lực vũ trụ hay Thể Lực vũ trụ cũng chỉ là một, thời coi như chúng ta đã động đến Linh giác pháp Thân của Đức Cha Trời. Linh giác pháp thân vũ trụ có tánh thấy nghe hay biết tự nhiên. Khi Linh giác bị khuấy động liền trở thành Linh Thức. Linh Thức nầy sinh ra thì Tánh thấy nghe hay biết của Linh Thức cũng hiện rõ, trong điện lực hiện ra. Để hiểu thêm về Linh giác vũ trụ một khi đã bị khuấy động, liền tạo ra Linh Thức chớ không phải tạo ra ý thức, linh thức trong điện lực không có ý thức.

Người ta chỉ nghĩ vì sao điện năng lại kỳ diệu đến như thế. Phải nói là vô tận của sự kỳ diệu vì họ không hiểu trong Thể Lực vũ trụ, có Linh giác vũ trụ. Thể Lực vũ trụ bị khai thác, bị khuấy động trở thành điện lực. Thì Linh giác của Thể Lực vũ trụ theo đó biến thành Linh Thức của điện, mà Linh Thức của điện chính là Linh giác vũ trụ hiện ra. Linh giác vũ trụ đã biến thành Linh Thức của điện. Đức tính thấy nghe hay biết của Linh Thức Điện Lực cũng không có gì thay đổi so với tính thấy nghe hay biết của Linh giác của Thể Lực, vì cái tính thấy nghe hay biết liên tục không đứt đoạn hay gián đoạn, cái thấy nghe hay biết triền miên. Vì thể nó sẽ giữ mãi cảnh giới, màu sắc, hình ảnh, khi nó đã tiếp thu sao chép.

Thời nay một số đông người xem ti vi truyền hình, quên lửng hình ảnh sống động như thật hiện ra trong ti vi truyền hình, cứ ngỡ đó là người thật nào hay đâu những hình ảnh sống động đó chỉ là hình ảnh sao chép của Điện mà thôi, như trên đã nói trong Điện có Linh Thức của Điện làm nên sự kỳ diệu đó.

Nói đến cảnh giới trong Linh Thức của Điện thì có 2 phần, Linh Thức vô sắc và Linh Thức hữu sắc. Linh Thức vô sắc là Linh Thức trong sạch. Linh Thức hữu sắc là Linh Thức đã chuyển thành màu sắc, hình ảnh, cảnh quan mà ta đã thường thấy qua màn hình ti vi.

Nhìn Thái Tử đã dùng bốn Đức tính tự nhiên thấy nghe hay biết tạo lập cảnh giới trong tâm thức hiện ra cây sanh Cổ Thụ, nhưng chỉ bốn Đức tính này dù đã liên kết với nhau cũng không thể biến hóa hay sống động như thật được, vì còn thiếu một thức chủ lực chủ chốt nữa, đó là ý thức Thần Hồn của Duy Thức. Trong cảnh giới hình ảnh sống động của Điện chỉ có Linh Thức (sắc – thọ) sắc thức, thọ thức. Còn tưởng thức, hành thức, ý thức chưa có. Hình ảnh trong Điện lực chỉ là hình ảnh sao chép của Linh Thức, sắc thức – thọ thức mà thôi. Chỉ có 2 thức này mà đã làm cho Điện đa năng kỳ bí ảo diệu vô cùng, vì sắc thức – thọ thức, Linh Thức của Điện, còn có nhiều tính khác nữa như tính phân biệt, tính đo lường v.v… Huống chi Linh Hồn con người, chỉ nói đến mỗi chủng tánh, thì có đủ ngũ thức, Sắc Thọ Tưởng Hành Thức, thì diệu dụng huyền diệu biết đến dường nào, huống chi là cả một hệ thống chủng tánh Thiện, Ác, Mê, Ngộ trong tâm linh của mỗi con người.

Nhưng xưa nay mấy ai làm chủ được tánh Linh của mình đâu, tâm viên ý mã rong ruổi mãi, lúc này lúc nọ, thọ lãnh biết bao nhiêu là sự khổ. Người Đại giác ngộ luôn luôn làm chủ Chân Tánh của mình để làm nên bao nhiêu việc kỳ diệu khám phá vũ trụ chinh phục vũ trụ giang san máy móc mà Tổ Tiên đã tạo ra. Thái Tử tập Thần Thông biến hóa càng lúc càng cao cường, biến hóa ra núi ra sông hồ ao biển, để đạt đến đỉnh của Thần Thông biến hóa, Thái Tử chuyển sang giai đoạn hô phong hoán vũ, chuyển mình thành giông Bão mưa to gió lớn, sấm sét ầm ầm.

Một hôm trên đỉnh dãy núi cao Trời đang vào hạ, bổng dưng khí Trời lạnh lẽo mây đen xuất hiện phủ kín đầy Trời, cuồng phong mỗi lúc mỗi thêm dữ dội, chuyện lạ ấy là do Thái Tử tạo ra. Hôm ấy Thái Tử tưởng thân hình to lớn đến vài chục dặm và cao lên tận các tầng mây, tay tả ấn cung tốn, tay hữu ấn cung đoài. Thái Tử hớp lấy Chân khí vũ trụ, nuốt chửng vô số tầng mây, Thái Tử liền tưởng ra một cơn mưa bão, tức thời thân hình to lớn của Thái Tử biến mất thay vào đó là cơn mưa bão lụt lội khủng khiếp sấm sét ầm ầm rung chuyển cả không gian trong phạm vi hơn trăm dặm, cát bay đá chạy, cây cối ngã đổ, núi đồi sụp lở, sức tàn phá của cơn bão lụt khủng khiếp, Chim muôn vạn Thú chết vô số kể, cơn mưa bão kéo dài đến mấy giờ liền sau đó thì tạnh hẳn. Thái Tử đã trở lại nguyên hình.

Thái Tử nhìn thấy cảnh tượng đổ nát xơ xác chết chóc thời giật mình hối hận, đã gây tổn hại đến cỏ cây, sinh linh vạn vật Thái Tử còn nhìn thấy, nước nguồn đổ về khủng khiếp tràn ngập khắp nơi làm thiệt hại con người. Thái Tử nghĩ quả thật Thủy, Hỏa, Phong là tam tai của thế gian. Từ đó Thái Tử không tu luyện pháp thuật biến hóa ra Thủy Hỏa Phong nữa sợ gây tổn hại cho sinh linh muôn loài vạn vật.

Thái Tử giờ đây có thể nói đã trở thành ông Tổ của pháp thuật Thần Thông. Ánh sáng tâm Linh đã xuất hiện, như báo hiệu Mặt Trời trí huệ sắp ra đời. Bọn Ma Vương cùng Đại Quỉ vô cùng khiếp sợ trí huệ Thần Thông của Thái Tử. Chúng rủ nhau lùi dần vào bóng u minh, vì chúng biết Mặt Trời trí huệ sắp xuất hiện.

*********

Hết phần 1 chương 10 mời xem tiếp phần 2 chương 10 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Chỉ có Quốc Tổ mới có sức thần thông trí huệ vô biên phá vỡ Vô Minh nhanh chóng tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn, nhưng rất tiếc vì thời đó không có giấy bút cũng như chữ viết để lưu chép kinh văn chỉ truyền miệng cho nhau, dẫn đến tam sao thất bổn dần dần Văn Hóa Cội Nguồn biến mất không còn. Thế mà vẫn kéo dài độc lập 2701 năm, huống chi có kinh văn thì coi như độc lập muôn năm cuộc sống không khác chi trên các cõi trời. Thiên đàng cực lạc trần gian.

Văn Hóa ra đi giờ trở lại

Việt Nam vận hội khắp bốn phương

Địa Long Thánh Địa bừng tỏa sáng

Lạc Hồng Con Cháu dậy mùa xuân.

*********

CHƯƠNG 10

PHẦN 2

NHỮNG PHÚT SUY TƯ

Thái Tử nghỉ pháp thuật Thần Thông chỉ là cảnh giới của Duy Thức biến hóa mà thôi, muốn tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn, phải làm chủ Duy Thức làm chủ Chân Tánh vào cảnh giới tự nhiên Chánh Định, tiến tới đỉnh cao nhất của sự giác ngộ, hội nhập bản thể Cội Nguồn, Thức Tánh trở về Chân Tánh, bọt nước trở về bản thể nước, đi thẳng vào cảnh giới vô thức, vô ý, vô trí thấy nghe hay biết tự nhiên không một niệm khởi tưởng vào cảnh giới tự nhiên Chánh giác.

Thái Tử bay về thành Giang Nam nước Xích Quỷ khu vườn cấm, tiếp tục hành trình tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng, pháp tạng vũ trụ, cũng như lời dạy của Đức Cha Trời, truyền bá để lại thế gian. Thái Tử đã vượt qua cảnh giới Thiên Tiên, Địa Tiên nhưng Văn Hóa Cội Nguồn còn quá xa. Vì cảnh giới Thiên Tiên chỉ lanh quanh lẩn quẩn trong cảnh giới Duy Thức, huống chi là Địa Tiên.

Địa Tiên chú trọng về luyện khí, Thiên Tiên chú trọng về luyện pháp. Sau 2 giờ vận hành Chân khí, tiếp đến là hít thở bằng các lỗ chân lông, sau đó liền đi vào cảnh giới nhập định, từ đây về sau Thái Tử không xuất hồn ra khỏi thể xác Tiểu Thiên vũ trụ nữa, vì thể xác con người Tiểu Thiên vũ trụ rất quan trọng cho cuộc hội nhập trở về Cội Nguồn. Thái Tử nhập định xong các giác quan đều hướng ngược vào trong.

Có nghĩa là thấy nghe hay biết trong nội thể tiến lần lên thấy nghe hay biết trong nội tâm. Ví dụ: Tai không nghe bên ngoài nữa mà nghe ngược trở vào nội thể nghe tim đập nghe máu huyết lưu thông, sau đó nghe về tánh nghe của mình, sáu Căn vốn thanh tịnh, nên sáu Căn Thức cũng mau chóng đi vào vô thức vào cảnh giới đại định, lục thông liền khai mở tối đa.

Thái Tử liền thấy nhân loại trần gian thật đáng thương, sống mãi trong cảnh sanh già bệnh chết, sum họp để rồi chia ly, vui thì ít khổ thời nhiều, luân hồi sanh tử, khổ này chưa dứt khổ khác đã chồng lên, khổ về lạc hậu, đói nghèo, khổ về chiến tranh áp bức, khổ về tù đày nô lệ hành hạ dã man, khổ mất tự do, Quyền sống, Quyền được sống, Quyền mưu cầu hạnh phúc, đã bị kẻ quyền thế cướp đi, khi nào cần chúng lại ban cho một ít. Đây Quyền tự do, Quyền sống, Quyền được sống, Quyền mưu cầu hạnh phúc của các nô lệ ngươi đây. Nhưng thật ra chúng có bao giờ trao trả những Quyền mà Tổ Tiên đã ban tặng cho mỗi người đâu, toàn là lời bịp bợm giả dối.

Nhìn thấy cảnh con người làm khổ con người, không những khổ ở thế gian còn khổ sang Địa Ngục, cái khổ triền miên bám lấy con người, bám lấy hồn người, hồn sa địa ngục thì quyền thế còn đâu do ác nghiệp dấy khởi sa đọa vào Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh Có cảm có ứng, ác gieo ác gặt nhìn cảnh Địa Ngục Linh Hồn bị lửa đốt, Kiếm đâm, chết ở ngục này sanh qua ngục khác, cảnh khổ không sao diển tả cho hết được. Nhìn cảnh Linh Hồn bị róc thịt, lột da, nấu dầu, moi tim, rút gân vô cùng thê thảm, những cực hình dã man đau đớn nhất được đem ra sử dụng. Nghỉ mà đau lòng ai cứu lấy họ đây, lớp người trước rơi vào Địa Ngục, lớp người sau tiếp tục sa chân.

Còn cái khổ nào hơn khi đã sa đọa vào kiếp Quỉ, có ai muốn mình trở nên xấu xí như thế, đầu chẽ, mắt lồi, miệng thối, người hôi, những răng nanh trông thật gớm ghiết, mình đầy gai nhọn, da thịt xù xì còn hơn da cóc thấy mà phát tởm, phải sống nơi dơ bẩn, như Quỉ Lông Mao, chuyên ăn phân người thây thúi, sống trong cảnh giới tanh hôi, lủi thủi nơi hoang vắng bóng đêm, cô đơn tẻ nhạt hết trăm năm này sang trăm năm khác, cái khổ nào hơn đã sanh vào loài Quỉ.

Loài ngạ Quỉ còn khốn khổ hơn nữa, đầu to như núi cổ nhỏ như kim, nuốt rất khó đói khát triền miên, đói đến nổi mũi phun ra khói, khát đến nổi miệng tuôn ra lửa ôi còn cái khổ nào hơn. Những thống khổ này không ai tạo ra cho mình cả, mà do chính mình tạo ra, gieo nghiệp ác kết quả phải thọ lãnh quả báo như thế, cũng chỉ vì Lạc Đạo sai đường, không làm chủ được tánh Linh của mình, chạy theo dục vọng đê hèn luôn luôn khởi tâm dấy nghiệp ác, lặn hụp mãi trong biển khổ trầm luân, hết kiếp người rồi tới kiếp Địa Ngục, hết kiếp Địa Ngục lại sanh kiếp Quỉ, hết kiếp Quỉ lại đến kiếp súc sanh, cứ thế lanh quanh lòng vòng khốn khổ mãi.

Thái Tử dùng huệ nhãn soi rọi chốn nhân gian, thấy Thiên Đàng không có đường lên còn Địa Ngục thì muôn vạn lối để đi xuống. Ta xem chốn nhân gian có mấy ai thật sự lo cho Thiên Hạ, đưa Thiên Hạ đến con đường hạnh phúc, mà chỉ tranh giành Thiên Hạ để xưng hùng xưng bá mà thôi. Cứu Thiên Hạ thoát khổ chỉ có con người mở rộng tấm lòng từ bị. Chiến thắng dục vọng đê hèn, chiến thắng tội lỗi, làm chủ Linh Hồn, làm chủ Chân Tánh. Đem ánh sáng Cội Nguồn đến với Thiên Hạ, giải thoát Linh Hồn về Thiên giới, khỏi phải luân hồi Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Kiếp làm Súc Sanh nào có vui gì như đầu thai làm Heo, Gà, Trâu, Bò, Dê, Ngựa, Chó, Mèo v.v… Kiếp bị người xẻ thịt nấu nhừ rán mỡ, nếu sống nơi hoang dã cũng chỉ làm mồi cho Sói, Hổ, Báo mà thôi. Sự vay trả, trả vay không dứt, may nhờ chút phước thiện, mới sanh được làm người. Linh Hồn chuyển kiếp sanh ra làm người rất khó, đã được sanh ra làm người, may mắn không tật nguyền khỏe mạnh, lại có chút trí huệ mà bỏ lở cuộc hướng lành, thì uổng lắm thay. Một phen mất thân người muôn kiếp khó trở lại.

Thái Tử là nhà khoa học Tâm Linh, thấu rõ mọi ngõ ngách huyền bí của Tâm Linh, trở thành nhà tu Thiền nhập Định cừ khôi, không dính mắc hay cảm xúc trước một hoàn cảnh, dù thuận hay nghịch, dù khổ hay vui đang xảy ra. Lúc nào cũng tự tại an nhiên, không khởi tưởng phân biệt chấp trước, luôn ở vào phương tiện khách quan ngoài cuộc. Vì không khởi tưởng phân biệt chấp trước nên lục thông càng lúc càng nhiệm mầu, huệ quang càng lúc càng sáng tỏ. Có thể nói Thái Tử đã đạt đến cảnh giới của bậc Tổ Thiền. Thấy như không thấy, nghe như không nghe, luôn luôn làm chủ Chân Tánh, làm chủ thấy nghe hay biết, không khởi tưởng phân biệt Chánh Định. Lái con thuyền Tâm Linh mỗi lúc mỗi tiến sâu về Cội Nguồn Mật Tạng vũ trụ. Thái Tử nhìn thấy Thiên Đàng, nhìn thấy Địa Ngục, hai cảnh giới trái ngược nhau,. Một cảnh giới Cực Lạc, một cảnh giới cực khổ nhưng Thái Tử không lộ cảm xúc nào cả Cho dù đó là Ma Vương, Đại Quỉ tới làm hại Thái Tử. Không phải Thái Tử là nhà vô cảm mà là nhà khoa học tâm Linh, thấu hiểu Luật Thiền Định. Chỉ cần 1 niệm khởi của tâm Linh thời huệ quang giảm sút ngay không thể nào tiến sâu vào cảnh giới Mật Tạng vũ trụ được nữa. Vì Ma chướng đã khởi lên ngăn chặn.

*********

Hết phần 2 chương 10 mời xem tiếp phần 3 chương 10 Long Hoa Mật Tạng Kinh.

 

 *********

CHƯƠNG 10

PHẦN 3

NIỀM TIN ĐỨC TIN LÀ NỀN TẢNG DẨN ĐẾN MỌI SỰ THÀNH CÔNG

Con đường tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn là một việc làm vô cùng khó khăn, phải theo phương pháp độc nhất vô nhị. Biết cách làm phát sanh ngọn lửa ý thức hiểu biết cao phát huệ rồi tiến tới Đại huệ Chánh Đẳng Chánh giác. Điều trước hết là đầy đủ niềm tin Đức tin. Tin mình làm được, tin sự quyết đoán của mình, ý mong cầu giải thoát, giải thoát cho mình, giải thoát cho người, giải thoát cho toàn nhân loại.

Thái Tử sanh ra và lớn lên như bao người phàm tục, nhưng khác hơn phàm tục là lòng thương yêu nhân loại vô bờ bến, lại thêm đầy đủ Niềm tin, Đức tin và tin vào sự quyết đoán của mình. Ý tưởng lý tưởng đã vượt lên trên nhân loại phàm phu, chưa tu mà đã trở thành người Đại Thiện, chưa học Đạo mà giới luật tinh nghiêm. Tấm lòng bao la rộng mở thương yêu nhân loại, như thương yêu chính bản thân mình.

Thái Tử đã hội tụ đủ yếu tố, bản thân, gia đình, xã hội, Đức tin, Chân Thiện và giới Luật tinh nghiêm, nên Thái Tử đã mau chóng trở thành Đức Chí Tôn Quốc Tổ vừa là Đấng cứu thế vừa là nhà lãnh tụ xã hội. Thiên tài cả Đời lẫn Đạo có một không hai trong nhân loại con người. May mắn thay tốt đẹp thay cho con cháu Văn Lang ngày xưa, cho con cháu Việt Nam ngày nay. Vì vậy con cháu Việt Nam muốn đến với Tổ Tiên Cội Nguồn. Trước hết phải đầy đủ Đức tin, niềm tin và tự tin mình sẽ làm được những gì mà ông Cha ta đã làm. Đi theo Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng thì rất dễ, vì Quốc Tổ đã xây cầu đắp lộ cho ta đi. Chúng ta chỉ cần nổ lực cần mẩn làm theo, học theo lời dạy trong Kinh, làm phát sanh ngọn lửa trí huệ, để rồi hội nhập vào Cội Nguồn làm chủ lấy mình, làm chủ xã hội, tiến xa hơn nữa là làm chủ vũ trụ giang san Tổ Tiên lập lên cho chúng ta.

Thái Tử là Đấng Chí Tôn đầu thai xuống thế. Đức Chí Tôn là con cả của Đức Cha Trời. Theo lịnh của Đức Cha Trời xuống chốn nhân gian sanh vào bụng mẹ, nên đã quên kiếp trước của mình. Không biết mình là ai, tất cả phải làm lại từ đầu, mở đường khai lộ cho chúng ta đi. Nhưng việc mở đường khai lộ gian nan và đầy dẫy khó khăn mà Thái Tử từng bước từng bước hình thành xây dựng lên con đường đó. Mỗi chặng đường là mỗi Tinh Hoa Đạo học xã hội quí hiếm vô cùng. Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng là Đạo pháp Chí Tôn vô thượng. Xưa kia thời Thiên Ấn, chỉ truyền cho Quốc Vương kế vị trị quốc an dân. Nhưng thời nay đã khác Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng là của toàn nhân loại, vì tất cả nhân loại đều là con cháu nhà Trời. Thời nay là thời có cả Thiên Ấn lẫn Thiên Bút, giai đoạn cực kỳ quan trọng cho sự tiến hóa Linh Hồn đỉnh cao của nhân loại con người ở vào giai đoạn gần cuối tiểu kiếp thứ 9.

*********

Hết phần 3 chương 10 mời xem tiếp phần 4 chương 10 Long Hoa Mật Tạng. Những gì mà thế hệ nhân loại thừa kế thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng. Báu vật Long Hoa Mật Tạng, kho tàng tri kiến vũ trụ, những tinh hoa Mật Tạng vi diệu thâm thâm không thể luận bàn cho hết được những người may mắn sự thừa kế và sở hửu bộ kinh nầy. Thời coi như Cha Trời đã chọn lựa vào ngôi Thế Tôn, Chí Tôn. Chuyển đại pháp luân thay Cha Trời cứu nhân độ thế. Đưa nhân loại về trời vào ngôi nhà chung vũ trụ, sống mãi trên Thiên Đàng Cực Lạc.

Chỉ nghe một chữ Mật Kinh

Thăng hoa cuộc sống bước chân về trời

Đời đời kiếp kiếp đời đời

Hết sa địa ngục sang giàu triền miên

Huống chi đọc tụng chép in

Ra thân truyền bá cứu dân độ đời

Cháu con danh rạng sáng ngời

Ông Bà, Cha Mẹ vãn hồi siêu thăng

Chỉ cần tin nhớ một câu

Tai qua nạn khỏi biết bao phước lành

Huống chi đọc tụng thuộc lòng

Phật, Tiên, Thánh, Chúa, Tổ, Thần khó chi.

*********

CHƯƠNG 10

PHẦN 4 

GIAI ĐOẠN QUAN TRỌNG HỘI NHẬP CỘI NGUỒN LÊN NGÔI CHÍ TÔN ĐẤNG CỨU THẾ RA ĐỜI

Suốt một thời gian nhập định, Thái Tử thấy rõ Tam Thiên Đại Thiên thế giới, cũng như 18 tầng Địa Ngục, như thấy rõ trong lòng bàn tay. Nhưng Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng vẩn chưa hiện ra. Thái Tử còn phải đi thêm một đoạn đường nữa.

Để chuẩn bị cho cuộc hành trình hội nhập Cội Nguồn, Thái Tử đã trở lại ăn uống bình thường, làm tăng thêm thể chất cho xác thân phàm tục. Thật đáng sợ mỗi khi Thái Tử tập luyện thập bát môn võ thuật, chỉ có đôi bàn tay không, đôi lúc lấy cành cây thay cho Kiếm, thế mà khi Thái Tử vung lên kình lực phát ra từ cành cây làm rung chuyển khu rừng cấm, phát khiếp cả người, khiếp đảm cả yêu tinh ma quỉ, ý tới đâu thì thần Kiếm liền tới đó. Thần, Thánh cũng không chống đỡ nổi. Thái Tử từ khi vào Thiền phòng đến nay gần 6 năm, những gì Thái Tử đã đạt. Đó chỉ mới là hành trang chuẩn bị cho cuộc tiến sâu về Cội Nguồn.

Có thể nói Thái Tử giờ đây khác hẳn người thường tục. Vì có nhị xác thân ẩn tàng trong xác Thân phàm tục, tuy hai mà một, tuy một mà hai, nhị xác thân biến thì xác thân phàm tục cũng biến hóa theo. Một hôm Thái Tử tu Thiền luyện khí xong, khởi tưởng ra cảnh giới của Nước. Tức thời thân hình phàm tục của Thái Tử biến mất, thay vào đó là cảnh giới của Nước đã hiện ra trong Thiền phòng.

Vì nhớ thương con Thần Long Nữ Thứ phi Nương Nương Mẫu Hậu Mẹ của Thái Tử, không kiềm chế được lòng thương, liền hỏi Xão Nữ Thị Tỳ Cúc Phương rằng:

   Cúc Phương con có gặp Thái Tử không?

Cúc Phương nghe hỏi liền thưa:

   Thưa Mẫu Hoàng con chưa từng gặp Thái Tử lần nào nhưng hôm nay con phá lệ quyết tâm để gặp.

Vương phi nghe Cúc Phương nói thế thì mừng rỡ vô cùng, chuyện này không thể cho Kinh Dương Vương nghe được, vì Kinh Dương Vương mà nghe được sẽ quở phạt nặng, có khi còn mất cả mạng, nên bà nói:

   Nếu Quốc Vương phát hiện quở phạt thì nói là ta biểu làm như thế. Nếu Thái Tử có quở phạt con cũng nói là ta biểu con làm như vậy.

Cúc Phương nghe Thần Long Nữ Vương Phi Nương Nương nói như vậy nên lấy làm an tâm quyết gặp Thái Tử cho bằng được.

Lòng thôi thúc lại thêm tánh tò mò muốn tìm hiểu Thái Tử dạo này ra sao, tu luyện đạt tới cảnh giới nào, Cúc Phương rất thương Vương phi Nương Nương, coi Vương Phi Nương Nương còn hơn mẹ đẻ của mình nên đành đánh liều một phen, gặp mặt Thái Tử một lần dù chết cũng được.

Cúc Phương nghĩ:

   Người gì mà 7 ngày mới ăn uống một lần, có lẽ Thái Tử đã ốm đến nổi xương bọc lấy da, có lẽ giờ đây Thái Tử trông xấu xí lắm, đi đứng hết nổi nữa là khác.

Cúc Phương càng nghĩ càng thở dài:

   Đã là Thái Tử thời tiền hô hậu ủng cần gì tu luyện mệt nhọc thế này. Ôi quả là chuyện lạ đời.

Vì muốn gặp mặt Thái Tử nên Cúc Phương tới sớm hơn một ngày không theo thường lệ vào ngày thứ 7 tới sớm hơn một ngày, ngày thứ sáu mà thôi. Vì nghĩ mông lung Cúc Phương đã tới của Thiền phòng lúc nào không hay, Cúc Phương giật mình đứng lại một hồi, nhưng sau đó lên tiếng:

   Thưa Thái Tử, Tỳ Nữ cần gặp Thái Tử có chút việc.

Cúc Phương miệng thưa mà tim tưởng chừng như ngừng đập, Cúc Phương thưa đi thưa lại mãi mà Thiền phòng vẩn im phăng phắc, không có một tiếng động, dù cho đó là tiếng động rất nhỏ. Trời không lạnh mà Cúc Phương đã run lập cập.

Cúc Phương nghĩ:

   Chuyện gì thế.

Cúc Phương nghĩ:

   Hay là …

Cúc Phương không dám nghĩ thêm nữa. Tuy Cúc Phương đang run lập cập nhưng cũng đánh bạo đẩy cửa bước vào, cánh cửa vừa mở. Cúc Phương đã phải hồn xiêu phách lạc. Vì không thấy Thái Tử đâu mà chỉ thấy phòng toàn là Nước nhưng không tuôn chảy ra ngoài. Cúc Phương lấy tay dụi dụi 2 con mắt, cứ tưởng là mình hoa mắt nhưng không phải đây là sự thật. Cúc Phương liền bước vội vào phòng không thấy ngộp gì cả, lại thêm quần áo vẫn ráo khô. Cúc Phương sợ quá bước vội ra ngoài mặt tái mét không còn chút máu, quên cả đóng cửa.

Đây nói về Mẫu Hậu Mẹ Thái Tử thấy Cúc Phương về mặt mày có vẻ khác lạ, liền hỏi:

   Đã gặp Thái Tử chưa?

Cúc Phương lễ phép thưa:

   Thưa Vương Phi Tỳ Nữ chưa được gặp, vì Thái Tử bận việc nên không cho gặp.

Nhìn vẽ thất vọng của Vương Phi Nương Nương. Cúc Phương nghĩ tình mẫu tử thiêng liêng có tình nào hơn tình mẹ thương con. Cúc Phương biết ở lại lâu sẽ bị bại lộ. những nghi vấn bí mật mà mình đã thấy, liền xin phép rút lui.

Ngày thứ 7 lại đến Cúc Phương cố nén cơn sợ hãi đem đồ ăn thức uống đến cho Thái Tử, đặt vào phòng ăn, rồi ra phòng khách chờ đợi. Đây là việc làm thường xuyên gần 6 năm nay của Cúc Phương nhưng lần này khác hẳn, Cúc Phương hồi hộp vô cùng, đã đến giờ thu dọn. Cúc Phương trở lại phòng ăn với nỗi kinh ngạc, ta có hoa mắt không vì đồ ăn thức uống đã hết sạch. Đây là điều Cúc Phương chưa từng thấy, mới hôm qua ta đã đến đây, tìm kiếm Thái Tử không gặp, lại gặp chuyện kỳ quái nơi Thiền phòng Thái Tử. Hay là hôm qua Thái Tử dạo chơi khu rừng cấm. Có gì mà dạo chứ, khu rừng cấm gần 6 năm nay không người chăm sóc hoang vu sầm uất, phong cảnh đâu còn xinh đẹp như xưa, có lẽ ta đa nghi nghĩ bậy mà thôi. Thái Tử vẩn bình an không có điều gì nhưng việc ta thấy Nước Thiền phòng Thái Tử hết sức Ma quái, việc đó thời sao đây? Hay là Thái Tử đã trở thành. Cúc Phương nghĩ đến đây thời sợ hại tái mét cả mặt mày.

Một tuần nữa lại đến, Cúc Phương vẫn làm cái việc mà mình thường làm, chờ đến giờ thu dọn đĩa bát. Cúc Phương bước vào phòng ăn nhìn thấy đồ ăn thức uống vẩn còn nguyên.

Cúc Phương nghĩ: Có lẽ Thái Tử đã quên mất giờ ăn. Thấy lạ Cúc Phương bằng đánh bạo tới Thiền phòng lên tiếng gọi Thái Tử nhưng chẳng nghe Thái Tử trả lời mà chỉ nghe như là Thái Tử đang ngủ. Cúc Phương hé cửa nhìn vào suýt nữa thì chết ngất, vì Cúc Phương thấy một con Rồng to lớn khoanh tròn đang ngủ. Cúc Phương như muốn quỵ luôn tại chỗ, quên cả dọn đồ ăn thức uống, ba chân bốn cẳng lên xe ngựa trở về cung rồi sanh bệnh, nằm liệt giường mặt mày tái xanh tái mét.

Vương Phi hỏi gì Cúc Phương cũng lắc đầu, cùng lắm là nói Tỳ Nữ không biết gì hết. Thấy chuyện lạ Vương Phi cho mời nội y đến, vị nội y giỏi nhất đương triều. Nội y xem bệnh xong nói:

   Thưa Vương Phi hầu nữ Cúc Phương không có bệnh chi cả, chỉ vì quá sợ hãi sanh bệnh mà thôi.

Nội y cho mấy liều thuốc dưỡng thần, sau mấy ngày dưỡng bệnh Cúc Phương dần dần khỏi hẳn. Suy nghĩ ta chưa một lần nhìn thấy Rồng, chỉ nghe kể mà thôi, nay ta đã thấy được Rồng, ắt sẽ có điềm lành đến với ta. Cúc Phương nghĩ tới đó liền mạnh hẳn không còn bệnh hoạn gì cả, mặt mày sáng sủa tươi lên phơi phới. Cúc Phương nghĩ Thái Tử xưa nay ở khu vườn cấm làm bạn với Rồng. Cúc Phương nhớ lại nghe Vương Phi thường kể gần đây ta nhìn thấy hào quang tỏa sáng nơi khu rừng cấm. Kinh Dương Vương cũng thấy như vậy. Cúc Phương bừng sáng trí lên, hay là Thái Tử chứng quả Đắc Đạo rồi, Cúc Phương nghĩ có thể lắm chứ.

Nói về Kinh Dương Vương đêm đêm nhìn về khu vườn cấm thấy hào quang xuất hiện càng lúc càng sáng, càng rực rỡ, thì biết con mình sắp tìm ra con đường cứu thế. Ban đêm nhìn thấy hào quang, ban ngày nhìn thấy mây ngũ sắc xuất hiện càng lúc càng nhiều. Kinh Dương Vương đang ngắm nhìn mây ngũ sắc, thì nghe tiếng chân người đi đến. Kinh Dương Vương quay đầu nhìn lại thì ra đó là tiếng chân của Vương Phi Nương Nương cùng Cúc Phương. Không hiểu vì sao hôm nay Vương Phi Nương Nương nét mặt rực rỡ như mùa xuân, dưới ánh ban mai, cả Cúc Phương cũng thế. Kinh Dương Vương nhìn 2 người nói có lẽ Đông đã qua Xuân lại đến nên Vương Phi đã hết u sầu.

Vương Phi Nương Nương nói: Quốc Vương bệ hạ có khác gì tôi đâu, không bao lâu nữa ta sẽ gặp lại con. Kinh Dương Vương là bậc Chân Vương Thánh Đế Tâm Linh sáng suốt minh mẫn vô cùng. Nghe Vương Phi Nương Nương nói thế liền gật đầu nói rằng: Đúng thế Trẩm cũng nhận định nói như vậy. Văn Hóa Cội Nguồn nhất định ra đời, ta là Quốc Vương chân chính cai trị vì đất nước, ta muốn được tai nghe mắt thấy một nền Quốc Đạo đưa đất nước lên tầm cao mới ngang tầm xã hội Thiên Đàng Cực Lạc. Dù có chết cũng lấy làm thỏa nguyện, Kinh Dương Vương, Thần Long Mẫu Vương Phi Nương Nương hai người như trẻ lại. Cảnh tương lai đã hiện ra. Cảm ơn Trời Đất đã ban cho đất nước Xích Quỷ Đấng con Trời làm rạng rỡ non sông Tổ Quốc.

Nói về Cúc Phương bớt sợ hãi khi nhìn thấy bao chuyện lạ nhưng giờ đây chuyển sợ thành vui. Bằng đem chuyện thấy nghe nơi Thái Tử ở kể lại cho Kinh Dương Vương cùng Vương Phi Nương Nương nghe xong 2 người lấy làm kinh ngạc lẫn sửng sốt.

Hai người không hẹn nhau đồng nói:

   Con ta chứng quả Đắc Đạo rồi, Đắc Đạo thật rồi, Thành Công thật rồi.

Kinh Dương Vương nói với Cúc Phương:

   Những gì ngươi thấy là do pháp thuật Thần Thông biến hóa của Thái Tử mà ra.

Kinh Dương Vương dặn dò Cúc Phương:

   Ngươi không nên kể chuyện này cho ai nghe.

Lần này đến khu rừng cấm đem đồ ăn thức uống đến cho Thái Tử, Cúc Phương nghĩ Thái Tử giờ đây có thể thấy trước biết trước mọi việc, mỗi hành động bước chân của ta. Sự suy nghĩ của ta Thái Tử đều thấy rõ cả.

Cúc Phương vừa xuống xe ngựa cách đó hàng vài trăm mét, liền nghe tiếng nói như tiếng chuông ngân vọng ra:

   Cúc Phương ngươi đừng sợ, Cha ta nói đúng đấy những gì ngươi nhìn thấy là do ta biến hóa mà ra thôi.

Cúc Phương nghe xong lời Thái Tử liền ớn lạnh nổi da gà. Vì đã minh chứng suy nghĩ của mình là đúng, cuộc nói chuyện cách xa hàng 6 – 7 dặm mà Thái Tử cũng nghe được.

Cúc Phương lại nghe Thái Tử nói tiếp:

   Những gì ngươi đối với ta, công lao quả thật to lớn. Từ nay ngày nào ngươi cũng đem đồ ăn thức uống đến cho ta vào lúc giữa trưa đúng Ngọ.

Cũng như mọi khi sau giờ Ngọ, Cúc Phương vào phòng ăn thu dọn bát đĩa trở về cung thành. Đem việc Thái Tử căn dặn nói lại cho Quốc Vương cùng Vương Phi nghe.

Đây nói về nước Xích Quỷ luôn luôn được Trời ưu đãi, mưa thuận gió hòa, dân chúng luôn luôn được mùa trúng lớn, cảnh thái bình an lạc khắp nơi nơi. Khi ấy xa gần nước Xích Quỷ có nhiều Bộ Tộc nỗi lên rất hùng mạnh, nhất là bên kia phía bờ Bắc. Con cháu của Bàng Nhân Hoàng Đế có ý thôn tính nước Xích Quỷ. Kinh Dương Vương lấy làm lo lắng cho cuộc chiến tranh chống ngoại xâm này, tất cả đều trông chờ vào Thái Tử vì Kinh Dương Vương đã về già. Nay nghe Thái Tử thay đổi sự ăn uống, ngày ăn một bữa, trước đây thì một tuần chỉ ăn có một lần. Nhất là Mẹ Thái Tử hết sức vui mừng nói phải ăn uống cho nhiều mới có đủ sức để mà tu luyện. Vì muốn cho Thái Tử có da có thịt, bằng hối thúc Kinh Dương Vương cho người kiếm những đồ ăn thức uống giàu chất bổ dưỡng.

Cho tới một hôm Kinh Dương Vương, liền cho người vắt sữa Bò với những con mập nhất trong đàng. Những con Bò sữa này với chế độ ăn uống đặc biệt, nuôi chúng hết sức công phu. Cỏ non, mật ong và những bông lúa đã ngậm sữa. Sữa được vắt từ những con Bò thật khỏe mạnh đem nấu với gạo nếp thơm, pha nước Cốt Linh Chi Nhân Sâm nghìn năm được sắc lọc từ trước nấu thành một bát cháo đặc biệt dành riêng cho Thái Tử.

Nhìn bát cháo nghi ngút hương thơm, Thái Tử đã hiểu đây là bát cháo tốn nhiều công phu tâm huyết. Có lẽ đây là bát cháo quyết định sự sống còn hay tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng Thiên Đạo vũ trụ. Quả thật không sai sau khi ăn xong bát cháo, thì toàn thân lừng bừng khí lực cơ thể nhẹ bổng khác thường, bộ máy sống thể xác Tiểu Thiên vũ trụ đã phát huy thần lực đến cực điểm. Không thể để bỏ qua cơ hội này, liền đằng vân giá vũ bay lên không trung nhắm dãy núi cao xa tít bay thẳng tới.

Nói về Cúc Phương ngồi chờ ngoài phòng khách cách đó khoảng chừng 50 mét, nghĩ vẩn nghĩ vơ, chợt thấy Thái Tử từ trong phòng ăn bước ra. Cúc Phương tim đập loạn lên vì đây là lân đầu tiên Cúc Phương nhìn thấy Thái Tử, chỉ còn 50 ngày nữa là 6 năm, không thể tin được, Thái Tử giờ đây trở thành thanh niên khỏe mạnh, vóc người rắn chắc cao lớn đẹp như Thiên Thần giáng thể. Cúc Phương sít chút nữa thời kêu lên. Thái Tử không để ý gì đến Cúc Phương nhảy lên không trung biến mất. Cúc Phương ngơ ngác nhìn theo, tưởng chừng như trải qua một giấc mơ, đã qua quá giờ Ngọ sang giờ Mùi mà Cúc Phương vẫn còn ngơ ngác. Một cơn gió mạnh vụt qua làm Cúc Phương tỉnh giấc mơ trở về thực tại vào thu dọn bát đĩa trở về cung.

Nơi Hoàng Cung Quốc Vương Kinh Dương Vương cùng Vương Phi Nương Nương chăm chỉ lắng nghe Cúc Phương kể lại những gì mà Cúc Phương đã thấy. Kinh Dương Vương nghe xong ra nhiều suy nghĩ. Còn Vương Phi Nương Nương Thần Long Mẫu nói: Không lẽ con nó bay về Trời. Kinh Dương Vương làm thinh không nói gì cả.

Đây nói về Thái Tử bay đến đỉnh cao Thượng Nguồn của các con sông lớn, ngồi dưới Cội Cây Sanh Hình Rồng. Ngồi xếp bằng tam Thiền nhập Định. Phát Đại Nguyện rằng:

*- Nguyện thứ nhất: Khi ta thành Đạo thời Đạo pháp của trời sẽ tuôn chảy tưới nhuần các Châu Lục. Làm tươi trẻ Linh Hồn nhân loại, trí huệ đều được khai mở, thấu suốt Cội Nguồn vào pháp Đại Đồng Bình Đẳng tự chủ Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc.

*- Nguyện thứ hai: Khi ta thành Đạo nước pháp Chân Lý, Công Lý, Đạo Lý của Trời sẽ biến thành Nước pháp Cam Lộ, cứu khổ cứu nạn làm vơi đi bao nổi đau khổ. Khổ sinh, khổ tử, khổ già, khổ bệnh, khổ chia ly, khổ đói nghèo lạc hậu, khổ nổi hàm oan, khổ áp bức, khổ nghịch cảnh, khổ tù đày, khổ Địa Ngục, khổ dốt dại ngu si. Biến tất cả những thống khổ ấy trở thành an vui an lạc cuộc đời.

*- Nguyện thứ ba: Khi ta thành Đạo, thời Đạo pháp của Trời Linh ứng vào hàng bật nhất cầu chi đặng nấy. Chỉ cần việc ấy không trái lại lời dạy của Đức Cha Trời Chân Lý, Công Lý, Đạo Lý vũ trụ.

*- Nguyện thứ tư: Khi ta thành Đạo, thời Đạo Trời biến thành Chủ Nghĩa Đại Đồng, không phân biệt màu da chủng tộc. Các Đảng phái, tôn giáo, các tầng lớp xã hội, giàu nghèo, sang hèn, Ác Thiện, hể có cảm thì có ứng, có công thì có quả. Phàm Thánh cũng như nhau.

*- Nguyện thứ năm: Khi ta thành Đạo, thời Đạo Trời thành Đạo Đại Đồng Bình Đẳng, Luật là Thầy, Đạo là Cha, Công Lý Hiến Pháp là Vua. Phàm, Thánh toàn nhân loại, đều đầy đủ các Quyền mà Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu đã ban tặng cho mỗi con người. Như Quyền tự do, Quyền Ngôn Luận, Quyền bình đẳng, Quyền sống, Quyền mưu cầu hạnh phúc, Quyền quyết định vận mệnh của mình. Nhất là Quyền được Hiến pháp, Luật pháp, Đạo pháp, Công Lý cho phép. Còn những Quyền, Hiến pháp, Luật pháp, Đạo pháp, Công Lý không cho phép, đó không gọi là Quyền mà là đi ngược lại lời dạy của Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.

*- Nguyện thứ sáu: Khi ta thành Đạo, thời Đạo Trời sẽ biến thành những món ăn tinh thần, chuyển hóa Căn Thân Huệ Mạng có công năng giãi trừ vô lượng tội ác. Không còn sa đọa Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Sanh về Thiên giới, muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc, Lầu Đài Cung Điện đều theo ý muốn hiện ra. Sống mãi không chết không già không bệnh, không tử.

*- Nguyện thứ bảy: Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời trôi chảy không ngừng hết tiểu kiếp này sang tiểu kiếp khác. Lưu chuyển khắp ta bà thế giới, khắp năm châu bốn biển, khắp hư không vũ trụ. Làm lợi ích mãi cho nhân loại con người.

*- Nguyện thứ tám: Khi ta thành Đạo, thì Đạo trời sẽ trở thành Quốc Đạo Chính Nghĩa của mỗi dân tộc, mỗi chủng tộc, mỗi màu da. Từ Địa Ngục, Trần Gian, Thiên Đàng. Đời Đạo là một dung hòa cuộc sống, Đời vì Đạo, Đạo là Đời tuy hai mà một, tuy một mà hai. Như Lửa ánh sáng của Lửa.

*- Nguyện thứ chín: Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời biến thành vô lượng quang ánh sáng soi đường cho nhân loại thoát khổ. Anh sáng Chân Lý, ánh sáng Công Lý, ánh sáng Đạo Đức, ánh sáng vật chất khoa học, vũ trụ, ánh sáng khoa học Tâm Linh Duy Thức chủng tánh, ánh sáng Đại Đồng Bình Đẳng, ánh sáng Chính Nghĩa công bằng văn minh, ánh sáng giải thoát Chánh giác, ánh sáng toàn năng toàn giác và còn vô lượng vô biên ánh sáng không thể tính đếm không thể nghĩ bàn soi đường chỉ lối cho nhân loại con người. Thấu suốt quá khứ tột cùng vị lai.

*- Nguyện thứ mười: Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời trở thành Đại Đạo vũ trụ, Đạo Chung cho toàn nhân loại. Tam giáo Quy nguyên. Ngũ Chi hiệp nhất. Đồng Ngộ Chân Tánh. Đồng Thành Chánh Giác. Thanh tịnh hư không. Đại Đồng Bình Đẳng.

Thái Tử vừa phát nguyện xong, tức thời từ Địa Ngục, Trần Gian, Thiên Đàng, Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Ba cõi vũ trụ rung mình chấn động dữ dội, bừng sáng lên rực rỡ.

Lúc ấy nơi hư không vũ trụ phát ra tiếng nói khen rằng:

   Hi hữu thay, hi hữu thay, hi hữu thay. Cho con lớn của ta, lời nguyện của con sẽ thành hiện thực.

Nói về dưới cùng Địa Ngục, trên khắp các Tầng Trời bổng nhiên rực rở làm kinh động đến chư Thiên, chúng Quỉ Thần. Chư Thiên, Chúng Quỉ Thần tự hỏi với nhau, chuyện gì thế, chuyện gì thế, hào quang chấn động này do đâu mà ra.

Thời giữa hư không bổng nhiên phát ra tiếng nói:

   Điềm lạ này từ chốn nhân gian tạo ra. Thái Tử con Quốc Vương KINH DƯƠNG VƯƠNG.

Chư Thiên và chúng Quỉ Thần lấy làm lạ là ai thế. Thái Tử là ai thế mà có uy lực đến dường này, nghe đồn rằng Đức Chí Tôn đã sanh xuống chốn nhân gian, không lẽ tin đồn này là sự thật. Đức Chí Tôn chuyển đại pháp luân, phá tan vô minh, đẩy lùi Ma tánh, Quỉ Tánh ánh sáng Chánh giác xuất hiện ra đời, Mặt Trời Đại Huệ xuất hiện tỏa sáng. Chư Thiên Quỉ Thần quá đỗi hoan hỉ vui mừng hò reo vui sướng.

Nói về Thái Tử ngồi xếp bằng yên lặng bất động dưới Cội Sanh hình Rồng ánh sáng Chánh giác mỗi lúc một tỏa sáng, vì bản thể Linh giác đang phản bổn hoàn nguyên. Từ bọt Nước tan biến trở về là Nước. Từ thức Tánh trở về Chân Tánh. Tánh thấy nghe hay biết hướng ngược về chính mình, nghe trong tìm thức, thấy trong Linh Hồn. Thấy nghe hay biết ngược về quá khứ, nhờ an trụ Chánh giác làm chủ Chân Tánh. Quá khứ mỗi lúc một hiện rõ ra, thấy rõ mình ở cõi Long Vân trung Thiên giới xuống thế đầu thai. Ánh sáng Chánh giác càng lúc càng sáng soi tận cùng cảnh giới của vô minh.

Lúc bấy giờ bốn phương tám hướng ở dưới đất, bốn phương tám hướng ở trên không, chúng Ma và Quỉ dữ nghĩ rằng. Chúng ta sống chuyên nhờ vào bóng tối, nhờ vào sự mê muội ngu si của Linh Hồn con người, vô minh bảo bọc che chở cho chúng ta. Nay bóng tối vô minh sắp bị phá vỡ, ngu si mê muội, tối tăm, mờ ám trong Linh Hồn con người cũng dần dần tan biến mất. Thì còn gì Vương Quốc của ta. Ngu si, mê muội, tối tăm, mờ ám là Căn Cội của mọi tội lỗi, chính là Thành trì của Ác Ma và Ác Quỉ. Nay chúng thấy ánh sáng Chánh giác chiếu lên công phá thành trì của chúng.

Thành trì của chúng là vô minh che lấp Chân Tánh con người. Một khi ánh sánh Chánh Đẳng Chánh Giác chiếu lên vầng thái dương Tâm Linh xuất hiện, phá tan sự  ngu si, mê muội, mê chấp biến mất. Thay vào đó là ánh sáng Chính Nghĩa, ánh sáng Chân Lý, ánh sáng Công Lý, ánh sáng Đạo Đức, thì chúng không còn chỗ để dung thân. Chúng liền cùng nhau kéo đến không cho Thái Tử thành Đạo. Tức thời u minh kéo đến, mây đen mờ mịt, trên không dưới đất, Ác Ma, Ác Quỉ mỗi lúc một đông, chúng thi nhau phù phép, mưa to gió lớn, sấm sét ầm ầm, mỗi lúc một thêm dữ dội. Đá chạy cát bay núi đồi như muốn sụp đổ.

Cùng lúc ấy Long Thần hộ pháp, Ngũ Long xuất hiện. Trấn giữ ngũ phương ứng dụng vào Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Rồng vàng trấn thủ Trung Ương vây quanh bảo bọc Thái Tử. Rồng Đen trấn giữ hướng Bắc. Rồng Đỏ trấn giữ hướng Nam. Rồng Trắng trấn giữ hướng Tây. Rồng Xanh trấn giữ hướng Đông. Thiên Thần trấn giữ trên không. Địa Thần trấn giữ dưới đất. Mặc sức cho Ác Ma, Ác Quỉ công phá suốt 49 ngày đêm. Sấm sét giông bão ngút trời, mưa to gió lớn gào thét khủng khiếp. Thái Tử vẩn bình yên vô sự.

Nói về dân chúng khắp châu lục bị trận đại hồng thủy do Ác Ma, Ác Quỉ gây ra suốt 49 ngày đêm, thiệt hại mùa màng, chết chóc vô số kể, nước Xích Quỷ cũng không tránh khỏi thiệt hại đó, dân chúng khắp châu lục khiếp hoảng. Thành tâm cầu khẩn với Đấng Trời Cao.

Chúng con lạy Đấng Trời Cao. Người cứu giúp chúng con, chúng con đã quá khổ. Khổ đói khổ rét, khổ đau, khổ bệnh, khổ già, khổ chết, khổ chia ly, khổ chiến tranh, khổ tù đày, khổ lao dịch, khổ sai, khổ nổi oan ức, khổ mất nước nhà tan, ôi biết bao nhiêu là nổi khổ cái khổ này chồng chất lên cái khổ kia. Giờ đây chúng con lại phải hứng chịu bao cái khổ ập đến do mưa bão gây ra. Hỡi trời xanh xin người cứu lấy chúng con, xin người cứu lấy chúng con, xin người cứu lấy chúng con. Lời nguyện cầu nhân loại khắp châu lục vang lên. Tức thời từ trên dãy núi cao thượng nguồn của các con sông lớn chảy về các châu lục. Ba Đạo hào quang rực rỡ phóng lên vũ trụ phát ra tiếng sấm lớn, làm rung chuyển vũ trụ, hiện ra vô số Mặt Trời bóng đêm biến mất. Trời quang mây tạnh, ba Đạo hào quang biến mất vô số Mặt Trời biến theo, Bình Minh tỏa sáng truyền hơi ấm về cho nhân gian mở màng ngày mới.

Thái Tử suốt 49 ngày đêm, làm chủ Chân Tánh, làm chủ thấy nghe hay biết. Thức Tánh trở về Chân Tánh ví như bọt Nước tan biến trở lại là Nước. Duy Thức tánh hội nhập Cội Nguồn, huệ quang Chánh giác càng lúc càng sáng, thành trì Ác Ma, Ác Quỉ như sắp sụp đổ đến nơi. Chúng Ác Ma. Ác Quỉ càng lúc càng khiếp sợ, chúng rủ nhau kéo đến công phá dữ dội phải nói là vô cùng kinh khiếp nữa là khác, nhưng chúng không làm gì nổi. Vì có Long Thần, Ngũ Long trấn giữ Thần Thánh bảo bọc. Huệ Quang Thái Tử sáng tới đâu, thì vô minh biến tan tới đó, hào quang Chánh Giác hiện ra vô số Mặt Trời trí huệ thiêu rụi thành trì của chúng.

Cảnh giới Tổng Thể quá khứ vũ trụ vô lượng vô biên. Phật Thánh Tiên đã hội nhập Cội Nguồn. Đại Đồng Tổng Thể quá khứ vũ trụ. Cảnh giới tổng thể hiện tại vô lượng vô biên. Phật Thánh Tiên khắp cùng vô lượng vô biên vũ trụ đang chuyển Đại pháp luân. Cảnh giới tương lai tổng thể vũ trụ đều hiện ra, quá khứ tổng thể vũ trụ nhất nhất đều đã hiện ra. Trong tổng thể Đại Đồng thống nhất bản thể Linh giác tối cao vũ trụ. Tổng thể Đại Đồng Bình Đẳng hiệp nhất thống nhất quá khứ, hiện tại, vị lai vũ trụ đã hiện ra.

Như vậy quyền lực tối cao vũ trụ đã ấn chứng trao quyền cho Thái Tử, chuyển Đại Pháp Luân Ấn Bút đầy đủ. Tức thời ba Đạo hào quang từ Tâm Linh Thái Tử phóng lên hư không, theo tiếng kêu cứu cầu nguyện của nhân loại, theo luật cảm ứng của vũ trụ. Tổng thể toàn năng toàn giác Linh ứng vũ trụ, đã thọ ký kỷ nguyên vũ trụ. Kỷ nguyên vũ trụ Long Hoa ra đời, thừa hành di Chí Tổ Tiên, ban hành Thiên Tạng vũ trụ, Pháp Tạng vũ trụ, Luật Tạng vũ trụ, từ nơi Mật Tạng vũ trụ khai mở tại chốn nhân gian. Thế là Văn Hóa Cội Nguồn vũ trụ ra đời, cách đây năm nghìn năm.

Thái Tử Hùng Lan trở về ngôi vị Chí Tôn, thay mặt cho Đức Cha Trời, truyền bá chủ nghĩa Đại Đồng xuống nhân gian. Đại Đạo vũ trụ. Đưa nhân loại trở về Cội Nguồn qua sông mê đến bờ giác. Ánh sáng Chủ Nghĩa Đại Đồng đã tỏa sáng, Văn Hóa Cội Nguồn ra đời làm chấn động vũ trụ. Mặt Trời Chân Lý. Mặt Trời Công Lý. Mặt Trời Đạo Lý, bừng lên thiêu rụi lòng tà gian của lũ Ác Ma và Ác Quỉ.

Thái Tử đã hội nhập Cội Nguồn ở cương vị Chí Tôn, ở ngôi vị Chánh giác, quyền lực tối cao, quyền năng vô tận. Thay thế Đức Cha Trời chuyển Đại Pháp Luân. Nên sự thấy biết của Chí Tôn Thái Tử là sự thấy biết của bản thể Chân Tánh, vượt xa cái thấy biết của Thức Tánh. Tức là cái thấy biết bản thể của Nước, khác xa sự thấy biết của Bọt Nước.

Do sự thấy biết phát ra từ Chánh Đẳng, Chánh Giác bản thể Cội Nguồn. Nên Thái Tử đã thấy rõ tất cả, quá khứ vũ trụ, hiện tại vũ trụ, vị lai vũ trụ, cũng như tiền kiếp Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa quá khứ. Từ vô thủy quá khứ sanh ra.

Những Linh Căn Linh Hồn chuyển kiếp luân hồi liền quên mất Cội Nguồn trở thành bất giác mê muội u minh. Trải qua vô lượng kiếp tiến hóa, vô lượng kiếp tu luyện, từ bất giác mê muội u minh trở thành Hoàn giác thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Từ bọt Nước hội nhập trở về Nước, Thức Tánh trở thành Chân Tánh lên ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác. Đến khi viên mãn Đại Nguyện thì hội nhập Cội Nguồn vào tổng thể Đại Đồng Bình Đẳng ngôi vị tối cao vũ trụ.

Các vị Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ, đã hội nhập Cội Nguồn vào tổng thể Đại Đồng Bình Đẳng ngôi vị tối cao vũ trụ. Nếu việc đó cần thiết quan trọng đối với vũ trụ, thì các Ngài từ nơi quá khứ tổng thể Cội Nguồn Chánh giác sẽ hiện thân ra làm lợi ích cho toàn nhân loại con người.

Sở dĩ Đức Chí Tôn chưa hội nhập Cội Nguồn là vì nguyện lực Độ sanh của Đức Chí Tôn chưa viên mãn trọn vẹn. Đức Chí Tôn đã thề nguyện, khi nào tận Độ hết thảy nhân sinh hội nhâp Cội Nguồn vào ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác. Thì ta mới hội nhập vào ngôi vị Tổ Tiên. Đấng tối cao. Đấng lập lên vũ trụ cùng con người.

Thái Tử nhìn thấy chốn nhân gian chìm đắm trong u minh khốn khổ. Thiên Đàng không có đường lên, còn Địa Ngục rẫy đầy lối xuống, thương thay đáng thương thay. Chốn nhân gian có mấy ai thật sự lo cho Thiên Hạ, mà chỉ tranh giành Thiên Hạ để được lợi lộc mà thôi.

Chỉ có những người giác ngộ, những người thật sự thương dân, mới thật sự cứu dân thoát nạn, mà chỉ có Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng Đại Đạo vũ trụ, mới mong cứu nhân loại thoát khổ. Nhưng Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng, Đại Đạo vũ trụ cao thâm khó hiểu. Nhất là hoàn cảnh hiện nay, trình độ dân trí còn quá thấp kém, lại thêm đời sống còn quá nghèo hèn lạc hậu. Chữ nghĩa giấy mực chưa tinh vi còn quá lạc hậu thô sơ, không thể nào lưu chép Kinh Luân để lại được.

Vì thế ta phải sanh xuống nhân gian tới ba lần, và lần này chỉ là khai mở nền móng Cội Nguồn, mở màn kỷ nguyên Long Hoa vũ trụ ra đời, để lại Thiên Ấn. Lần hai tái sanh nhân gian ta sẽ để lại cả ẤN lẫn BÚT, thì Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng lưu chuyển ra đời mới có hiệu quả như mong muốn. Lần thứ ba giữa tiểu kiếp thứ 10 Đại hội Long Hoa toàn vũ trụ. Thọ Ký cõi nước Cực Lạc cho những người có công trong Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng theo Di chí Tổ Tiên. Cha Trời, Địa Mẫu.

Theo Thiên Luật vũ trụ, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa sanh xuống chốn nhân gian, thời phải sống theo luật nhân gian. Hôm nay ta vẫn còn Phụ Thân, Phụ Mẫu, Phụ Hoàng Mẫu Hậu thương yêu ta hết mực, mang nặng đẻ đau, nuôi nấng nâng niu, chăm sóc, biết bao khó nhọc. Đạo làm con phải lo báo hiếu, đền đáp công ơn sanh thành dưỡng dục.

Theo Thiên Luật trong các điều khoản báo hiếu, thì khuyên Cha Mẹ làm lành lánh dữ là cao hơn cả. Phục vụ Cha Mẹ ăn ngon, mặt ấm chỉ là bậc tiểu hiếu, khuyên Cha Mẹ làm lành lánh dữ là bậc trung hiếu, truyền Văn Hóa Cội Nguồn Đại Đạo vũ trụ để cho linh hồn Cha Mẹ về trời hưởng phước đó mới là bậc Đại Hiếu.

Vì thế Đại trung với Tổ Quốc. Đại hiếu với dân là tôn thờ Văn Hóa Cội Nguồn. Truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn cho toàn dân. Chúng ta sinh ra và lớn lên trong sự yêu thương và đùm bọc của cha mẹ. Trong sự che chở của xã hội. Theo Thái Tử, để đền đáp công ơn ấy Không có gì hơn là truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn Đại Đạo Vũ Trụ cho cha mẹ, cho nhân loại xã hội, thì coi như đã trả được tứ ân. Ân Cha Mẹ, ân Tổ Quốc, ân Thầy, ân Xã Hội.

*********

Hết phần 4 chương 10 mời xem tiếp phần 5 chương 10 Long Hoa Mật Tạng. Bộ Kinh báu vật vũ trụ. Mỗi câu mỗi chữ ẩn tàng bao huyền cơ. Mỗi câu mỗi chữ là chân lý tinh hoa của cuộc sống. Những ai làm theo tu theo thì coi như vận mệnh thay đổi. Ví như cá chép hóa Rồng, không còn là cá Chép nữa.

*********

CHƯƠNG 10

PHẦN 5

TIỀN THÂN THÁI TỬ

Thái Tử thấy rõ tiền thân kiếp trước của mình. Đức Chí Tôn Giáo Tổ, Kim Thân của ta hiện nay đang tĩnh tọa ở cung Long Vân, cõi Trời Thiên Vân trong Cửu Trùng Bảo Tháp. Chư Thiên canh phòng nghiêm ngặt.

Thái Tử vốn hiểu rõ việc Chư Thiên sanh xuống chốn nhân gian là điều không ai muốn, dù cho đó là hưởng tột đỉnh vinh hoa phú quí ở nhân gian. Sanh xuống nhân gian đồng nghĩa là sanh vào cõi u minh bể khổ tối tăm mù mịt Địa Ngục trần gian. Sanh xuống nhân gian thì dễ nhưng trở về Thiên Đàng thì rất khó, phải nói là vô cùng khó, có khi còn đọa luôn xuống cõi âm phủ, thì coi như hết đời vì đã lạc vào ba đường khổ. Vì thế Phật Thánh Tiên Thần Chúa phần đông sanh xuống chốn nhân gian thi hành phận sự. Đều cầu nguyện Đức Cha Trời hộ độ.

Những bậc cứu thế. Phần đông thường sanh vào nghịch cảnh, chịu trăm nghìn sự thống khổ, đánh thức tâm Linh hồi âm chuyển ý hướng thiện xa rời tội ác. Rất hiếm Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa sanh ra chốn nhân gian để hưởng vinh hoa phú quí vì hưởng vinh hoa phú quí sẽ dẫn dắt Linh Hồn sa đọa nhanh chóng, ác tâm dấy khởi hết mong về Trời. Hết mong trở về ngôi vị cũ.

Trường hợp Đức Chí Tôn, sanh xuống chốn nhân gian vào Dòng Dõi Quốc Vương mà không bị Danh, Lợi, Quyền thế, Bát phong, xây chuyển, Lục trần lôi kéo là điều hi hữu hiếm thấy trong đời. Cho nên nói, đang hưởng vinh hoa phú quí muốn gì được nấy. Mà chuyển tâm hướng thiện làm lành lánh dữ là điều hiếm thấy. Phải nói những người này phần lớn là các vị Đại Thánh Đại Bồ Tát, ví như Hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Với khoản thời gian quá ngắn nơi chốn nhân gian, Thái Tử phải cố gắng mới hoàn thành nổi theo di chí của Đức Cha Trời. Để rồi Trở lại Trung Trung Thiên giới.

Theo lời dạy của Đức Cha Trời Long Hoa Lạc Long Quân. Chốn nhân gian tiểu kiếp thứ 9 sắp hết, 16 triệu 800 nghìn năm sắp qua gần đến hồi kết thúc. Chuyển sang tiểu kiếp mới là tiểu kiếp thứ 10. Nếu không xuống trần mở cửa Thiên Đàng lấp đường Địa Ngục, thì nhân loại trần gian khó mà về trời. Lại sa đọa xuống các tầng Địa Phủ. Uổng công tu luyện trải qua vô số kiếp 16 triệu 800 nghìn năm.

Gần cuối tiểu kiếp thứ 9 càng về sau nhân loại càng gặp nhiều đại họa hung hiểm do bộ máy huyền cơ xoay chuyển. Động Đất, nước biển dâng cao, mưa to gió lớn, nhiệt độ tăng cao, nhiệt độ hạ thấp, nhân loại con người khó mà thoát khỏi kiếp nạn này. Giai đoạn càng về sau càng gần cuối tiểu kiếp, Động Đất diễn biến phức tạp, càng về sau càng mạnh, lan rộng toàn cầu, những thành phố lớn chôn vùi đổ nát. Nhân loại chạy đâu cho thoát những cảnh chết chóc này. Càng về cuối tiểu kiếp mực nước biển dần dần dâng cao. Làm ngập chìm lần đất đai các châu lục, cộng thêm mưa to bão lớn tàn phá cây cối, mùa màn, lở núi sụp đồi, nhân loại phàm trần làm sao chống đở nỗi đành phải bỏ mạng. Nào phải chỉ có vậy nhiệt độ tăng cao, hạ thấp nhất là những thế kỷ gần cuối tiểu kiếp, nhiệt độ tăng đến nổi con người còn sống sót phải ở lổ ở hang. Hỏa hoạn do sấm sét thường xảy ra khắp nơi cùng khắp châu lục. Nhiệt độ hạ thấp đến nổi nơi đâu cũng toàn băng giá, con người dù thích nghi lần với thời tiết nhưng vẫn có người chịu không nổi đành bỏ mạng.

Nhưng điều đáng nói ở đây, thể xác nhân loại bị hủy diệt do Động Đất, do nước biển dâng cao, do mưa to bão lớn, do thời tiết tăng cao hạ thấp, nhưng Linh Hồn nhân loại sẽ về đâu?  khi Thiên Đàng không có lối lên, còn Địa Ngục thì nhiều lối xuống.

Và vì thế Đức Chí Tôn đầu thai xuống trần mở ra con đường Đại Lộ đưa Thiên Hạ về Trời. Mà Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng Đại Đạo vũ trụ chính là con đường đưa Thiên Hạ nhân loại phàm trần về Trời. Cuối tiểu kiếp thứ 9 chuyển sang tiểu kiếp thứ 10, nhân loại những ai còn sống sót chu kỳ lặp lại khởi đầu sự Hồng Hoang người tiền sử nguyên thỉ. Rồi sau đó hàng triệu năm chuyển sang giai đoạn Hồng Nguyên rồi đến Hồng Bàng. Giai đoạn Bàng Cổ sơ khai kéo dài hàng triệu năm tiến tới Hồng Bàng xã hội. Sự tiến hóa nhân loại theo chu kỳ ở mỗi tiểu kiếp na ná giống nhau, lặp đi lặp lại mãi. Cũng giống như chu kỳ Xuân Hạ Thu Đông ở năm trước, được lặp lại Xuân Hạ Thu Đông ở năm sau. Sự trùng lặp này là sự trùng lặp theo định luật tự nhiên. Cứ mỗi tiểu kiếp gần kết thúc nhân loại đã trải qua 16 triệu 800 nghìn năm. Tôi luyện tiến hóa Linh Hồn, những Linh Hồn có Đạo có Đức lần lượt sanh về Trời. Còn những Linh Hồn vô Đạo vô Đức sẽ trở về cõi âm phủ. Còn những Linh Hồn Đại ác sẽ đọa vào Địa Ngục. Những Linh Hồn ở cõi âm phủ chờ đủ nhân duyên, đầu thai trở lại nhân gian tiếp tục tu luyện tiến hóa Linh Hồn. Để cứu vớt nhân loại gần cuối tiểu kiếp thứ 9 nên Tam Giáo lần lượt tái xuất nhân gian diều dắt nhơn sanh về Trời. Nếu không có tam giáo Phật, Thánh, Tiên ra đời, thì Linh Hồn nhân loại nhân gian sẽ lạc vào tà Ma ác Đạo, trở thành Ác Quỉ, Ác Ma cùng hung cực ác. Buộc lòng Đức Cha Trời phải tận diệt trí mạng của Ác Ma và Ác Quỉ, nếu không tận diệt thì bộ máy huyền vi vũ trụ sẽ bị Ác Ma Ác Quỉ làm đảo lộn. Đức Chí Tôn là bậc tối cao ở Thiên Giới con cả Đức Cha Trời, làm gương mẫu mở đường xuống thế trước. Cho các đàn em xuống thế sau.

PHẦN THƯA HỎI :

Hỏi: Vì sao cuối tiểu kiếp thứ 9 mực nước Biển lại dâng cao ngập chìm hầu hết các Đồng Bằng Châu Lục?

Đáp: Theo nguyên lý Tiến Hóa vũ trụ, hể có sinh thời có tử, chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Thể lực vũ trụ do bản thể Linh giác vũ trụ tạo ra, hể có sinh thời có tử, từ dạng này chuyển qua dạng khác. Thể Lực cũng vậy, Thể Lực được sanh ra thời phải đến lúc già đến lúc tử, chuyển sang qua dạng khác, giai đoạn khí. Khí già chuyển ra nước ở dạng thể hơi. Nước già sẽ chuyển thành màu mỡ lớp bụi phù sa vũ trụ và bị ép rớt xuống mặt Địa Cầu. Như trên đã nói Thể Lực già chuyển sang thể khí. Thể khí già chuyển sang thể lỏng nước. Như chúng ta đã biết hơi nước và nước là là do nhiệt độ nóng lạnh tạo ra. Gần cuối tiểu kiếp nhiệt độ nóng lanh hạ thấp, tăng cao, làm cho thể lỏng ở lúc dạng hơi, lúc ở dạng nước. Nhiệt độ trên các tầng khí quyển hạ xuống thấp, thì các tầng lớp ở dạng thể hơi, đều chuyển thành nước rớt hết xuống mặt đất, Làm giảm đi sự kìm hãm bớt sức nóng của Mặt Trời. Thế là dưới mặt trái đất nhiệt độ tăng cao làm cho Băng tuyết băng giá ở hai đầu cực Nam, cực Bắc tan chảy làm tăng thêm mực nước biển. Với hai nguyên do chính trên đã làm cho mực nước biển dâng cao làm ngập chìm hầu hết các đồng bằng của các Châu lục.

Hỏi: Vì sao giữa tiểu kiếp thứ 10 mực nước biển cạn lần lộ ra đất đai bằng phẳng rộng lớn?

Đáp: Như chúng ta đã biết hể có sanh ra thời phải có già, có tử, vì thế Thể Lỏng nào có ngoại lệ. Lớp nước già ở cuối tiểu kiếp thứ 9 chuyển sang tiểu kiếp thứ 10, thì bắt đầu thái hóa sự già cỗi, cô đọng chuyển thành phù sa. Sự chuyển hóa ấy có hai lớp, lớp nước già nằm sâu trong lòng đất, Đại Dương và lớp nước già nằm sâu, dưới lớp đáy đại dương, cô đọng chuyển thành phù sa, tạo ra lớp màu mỡ mới cho trái đất. Như chúng ta đã biết Đại Đồng Bình Đẳng là Đạo Luật của Trời, đem chỗ cao lấp xuống chỗ sâu. Cuối tiểu kiếp là những trận mưa khủng khiếp, làm lở núi sụp đồi. cũng như những trận động đất khủng khiếp, làm thay đổi lục địa, Thậm chí tách đôi lục địa ra. Những trận đại Hồng Thủy mang theo đất đá bồi lấp xuống chỗ sâu. Giữa tiểu kiếp thứ 10 Thể Lực chuyển hóa sanh ra Thể Khí (khí thiên tiên) tuổi thọ con người ở vào thời điểm ấy tăng lên 8 muôn 4 nghìn tuổi, con người sanh ra phần nhiều không cần tu thiền luyện khí cũng có Thân Thông. Thể Khí chuyển hóa thành Thể Lỏng tăng lên đỉnh điểm, đã hạn chế sức nóng của Mặt Trời, nhiệt độ Trái Đất ổn định trở lại bình thường, Cực Nam Cực Bắc quả Địa Cầu đóng băng trở lại. Những yếu tố nói trên, làm cho mực nước biển cạn lần đất đai bằng phẳng lộ ra rộng lớn. Cứ thế trải qua hàng triệu năm. Cho đến khi Hỏa Tai nổi lên tiếp nối nhau 3 nghìn năm khắp địa cầu hủy diệt muôn sanh linh cùng vạn vật, trong đó có nhân loại con người. Địa Cầu đất đai không còn bằng phẳng như thời Hồng Hoang, Hồng Nguyên, Hồng Bàng. (xem bộ kinh sau thời Hậu Đế sẽ nói rõ hơn).

Nói tóm lại. Ở kiếp giảm của tiểu kiếp. Nhân loại trần gian trải qua ba lần kiếp nạn hủy diệt.

Kiếp nạn thứ 1 là Thủy Nạn ở cuối tiểu kiếp kéo dài 1 nghìn năm. Chuyển sang tiểu kiếp mới, tiểu kiếp tiếp theo.

Kiếp nạn thứ 2 là Hỏa Nạn ở gần giữa kiếp giảm núi lửa phụt lên chỗ nầy đến chỗ khác, khắp địa cầu kéo dai 3 nghìn năm tạo ra vô số núi non lồi lõm Đại Cầu không còn bằng phẳng như trước nữa.

Kiếp nạn thứ 3 là Phong Tai tiếp theo ở vào giai đoạn Hồng Đế sau thì Hồng Bàng vài triệu năm kéo dài 2 nghìn năm. Nhân loại sống sót qua kiếp nạn Phong Tai. Trở thành người nguyên thỉ thời ăn lông ở lỗ. Và đến giai đoạn Thủy Tai ở cuối tiểu kiếp. Chuyển qua tiểu kiếp mới. Trở thành người Thỉ Tổ Hồng Hoang.

*********

Hết phần 5 chương 10 mời xem tiếp phần 1 chương 11 Long Hoa Mật Tạng.

 *********

CHƯƠNG 11

PHẦN 1

THIỆN CÒN – ÁC MẤT

THIỆN SIÊU – ÁC ĐỌA

Những Linh Hồn quá ác hủy báng lời dạy trong kinh văn sẽ bị huyền cơ xoay chuyển đi vào tận diệt. Hủy bỏ trí mạng, ý mạng, trở về tánh giác u minh, sống theo cảm giác, cảm tính, tức là tính giác của loài cây cỏ, côn trùng, thảo mộc, rồi lần lần tiến hóa tu luyện chuyển lên loài Cầm Thú, trải qua vô lượng vô biên số kiếp, chờ đủ nhân duyên Linh Hồn mới được đầu thai làm người uổng thay, uổng thay.

Vì thương Nhân Loại sai đường Lạc Đạo, nhất là giai đoạn cuối tiểu kiếp nên Đức Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống trần mở ra Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ truyền lại chốn nhân gian. Kế theo sau đó Phật giáo, Thánh giáo, Tiên giáo xuống trần mở đường dẫn dắt nhân loại về Trời, lập công với Đức Cha Trời. Hoàn thành tâm nguyện Đại Nguyện.

Những người làm theo lời dạy của Đức Chí Tôn Thái Tử, thì siêu sanh làm Vua làm Chúa các tầng Trời, đúng như những gì Đức Cha Trời truyền dạy. Nghe lời Đức Cha Trời dạy bảo thì trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa làm chủ vũ trụ. Những Linh Hồn nghịch lại lời dạy của Đức Cha Trời, trở thành Linh Hồn Đại ác. Thì sẽ bị Đức Cha Trời hủy diệt ý căn trí căn, tức là mạng căn linh hồn trở về tánh giác u minh, sống theo cảm giác, cảm tính. Ác ý ác trí đã bị hủy diệt. Thuận theo Thiên Ý Cha Trời Thiện căn phước báo nên nói là còn. Nghịch lại Thiên Ý Cha Trời Linh Căn Huệ Mạng bị hủy diệt nên nói là ác mất. Những kẻ chống phá Văn Hóa Cội Nguồn nhất định Linh Căn Huệ Mạng bị hủy diệt. Chỉ còn linh giác như loài cỏ cây.  Những Linh Hồn làm ác là do hoàn cảnh tạo ra. Như chiến tranh như hận thù, nhân loại tận diệt lẫn nhau. Thì không bị Đức Cha Trời hủy diệt, nên nói Thiện siêu lên thiên đàng,  ác sa  đọa xuống các tầng địa phủ.

Những gì Quốc Tổ nói ra, chính là Thiên Ý Cha Trời. Đã là Phật, Thánh, Thần, Chúa , thì nhất nhất tuân theo. Thiên ý Cha Trời cũng chính là Thiên Luật vũ trụ. Phạm luật Trời thì nhất định bị huyền cơ xoay chuyển muôn điều tai họa ập đến. Không trừ bất cứ một ai. Dù cho đó là vị vua hùng mạnh nhất trần gian cũng bị cơ trời xoay chuyển tận diệt.

*********

Hết phần 1 chương 11 mời xem tiếp phần 2 chương 11 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Long Hoa Mật Tạng Kinh là Bộ Kinh tối Thượng Thừa Mật Tạng. Những tinh hoa đi đến thành công, là kim chỉ nam cho đạo trị Quốc An Dân thái bình thịnh vượng dân giàu nước mạnh an lạc. Mỗi lời trong kinh là mỗi Thiên Ý Cha Trời. Nói tóm lại : Con đường lên trời nhanh nhất chính là thuận theo Thiên Ý Cha Trời. Con đường sa địa ngục nhanh nhất chính là nghịch lại Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa nhanh nhất, chính là thuận theo Thiên Ý Cha Trời. Làm ăn giàu sang bậc nhất, cũng chính là lập công với trời Đại Phú do thiên, tiểu phú do cần, mưu sự ở người nhưng thành sự ở Trời, mưu sư tại nhơn thành sự tại Thiên. Trời không ban phúc đến dù tài giỏi cho mấy cũng chẳng được gì.

*********

CHƯƠNG 11

PHẦN 2

VÌ SAO TỔ TIÊN SANH TẠO GIỐNG NGƯỜI

Vì Đức Tổ Tiên muốn có con cháu cai quản trông coi thế giới vũ trụ do mình sáng tạo lập ra. Nên Đức Khai Hóa Tối Thượng Tổ Tiên tốm thâu Tiên Thiên Chân Khí Tinh Hoa Chơn Dương, Chơn Âm vũ trụ. Rồi hiện ra hai người một Nam một Nữ đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, Cốt Tiên, Cốt Rồng hai đấng Cha Trời và Địa Mẫu.

Vì sao gọi Đức Cha Trời là Long Hoa Cửu Huyền, Ấn Quang Tối Thắng Như Lai?

LONG:  Là nói Tinh Cốt ÂM DƯƠNG vốn hình Rồng. Cốt lõi xương sống con người hình chữ S. Tinh Cốt Đức Cha Trời là Cốt Long. Hay gọi là Cốt Rồng.

HOA:  Là nói lên Thân Tướng của Đức Cha Trời là Tinh Hoa Tiên Thiên vũ trụ, kết tụ Thân Tướng đủ 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp thuộc Dương Tướng Nam Đức Cha Trời.

Như Vậy Long Hoa đồng nghĩa là Tiên Rồng. Hội Long Hoa chính là hội Tiên Rồng. Truyền Thống Anh Linh Dân Tộc Việt Nam.

CỬU: Là nói lên Thân thể của Đức Cha Trời gồm đủ chín khiếu. Hai mắt, hai mũi, hai tai, miệng, lỗ tiểu, lỗ tiện, là Chín.

HUYỀN: Là nói Thân thể của Đức Cha Trời là Tinh Hoa Đại Thiên vũ trụ được thu nhỏ. Tiểu Thiên vũ trụ. Đại Thiên vũ trụ. Tiểu Thiên vũ trụ. Liên quan mật thiết, tương thông với nhau. Nhỏ mà Lớn. Lớn mà Nhỏ, không khác nhau, đại thiên vũ trụ thu nhỏ gọi đó là huyền.

ẤN QUANG: ẤN là dấu ấn Tổ Tiên hiện ra Đức Cha Trời. Độc nhất Vô Nhị có một không hai. Quyền năng vô hạn. Quyền uy Tối Thượng. QUANG là soi sáng cùng khắp.  Chỉ đường cứu khổ con cháu. Lên ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác, làm chủ vũ trụ.

TỐI THẮNG: Là nói lên không ai hơn được Đức Cha Trời. Không có việc gì mà Đức Cha Trời không biết. Không có việc gì mà Đức Cha Trời không làm được. Cho đến hủy diệt vũ trụ, lập lên vũ trụ mới.

NHƯ LAI: NHƯ là nói lên Đức Cha Trời mãi mãi thường còn, trước sao sau vậy không thay, không đổi. Quá khứ, hiện tại vị lai như nhau. LAI là kéo dài vô lượng thọ, không diệt thường còn. Lúc nào nhân Loại cần đến Đức Cha Trời, liền có sự cảm ứng ngay.

Long Hoa Cửu Huyền Ấn Quang Tối Thắng Như Lai là tên của Đức Cha Trời. Hay còn gọi đấng Cửu Huyền Ông Cha Nhân Loại.

Vì Sao Gọi Đức Mẹ Trời Là Tiên Cơ Đức Mẹ Địa Mẫu Dưỡng Sanh Như Lai?

TIÊN: Là nói đến Tổ Tiên hiện thân ra tốm thâu Tiên Thiên Chơn Âm Chân Khí hiện ra thể tướng phụ nữ đầu tiên vũ trụ đủ 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp. ÂM TƯỚNG.

CƠ: Là nói lên sự cơ cảm, ứng dụng cơ mật liên quan đến vũ trụ. Mật thiết liên quan đến Nhân Loại con người.

ĐỨC: Là nói tấm lòng thương nhân loại vô tận, bao la vô bờ bến lúc nào cũng cứu khổ cứu nạn nhân loại con người. Những người con trong lòng Mẹ vũ trụ.

MẸ: Là nói lên Người Mẹ Vũ Trụ, người Mẹ sanh ra Nhân Loại con người.  Đấng sanh thành. Nói xa hơn nữa Đấng sanh ra vũ trụ. Sanh ra Trời Đất. Sanh ra Linh Hồn Nhân Loại, sanh ra thể xác con người. Mẹ là Đấng sanh thành sanh ra tất cả. Đức Mẹ chính là Tổ Tiên hiện thân ra.

ĐỊA MẪU: Là nói lên tất cả sự sống đều do Mẹ tạo ra. Mẹ là Mẫu. Mẫu là Mẹ. Sự sống toàn vũ trụ là sự sống do Mẹ. Mẫu tạo ra. Sự sống Linh Hồn, sự sống thể xác. Đều ở trong lòng Địa Mẫu cả. Phật Thánh Tiên Thần Chúa. Nhân Loại phàm trần. Quỉ Ma toàn vũ trụ cũng sanh sống trong lòng Địa Mẫu mà thôi. Ví như Bọt Nước sống trong nước dù cho đó là Bọt Nước, bọt nước ác hay bọt nước thiện. Bọt nước chỉ tồn tại trong bản thể của nước. Rời khỏi bản thể của nước, Bọt nước sẽ không còn tồn tại.

DƯỠNG SANH: Là nói lên sự sanh ra sự sống, Dưỡng nuôi sự sống. Để cho sự sống luôn luôn được tồn tại tiến hóa.

NHƯ LAI: Là nói Đức Mẹ Địa Mẫu trường tồn theo thời gian. Trước sau không hề thay đổi như như thường còn mãi mãi tận cùng vị Lai (Bất Diệt).

Nhân Loại con người cầu nguyện Đức Mẹ Địa Mẫu đều được Linh ứng ngay. Nếu lời cầu nguyện đó hiệp với Văn Hóa Cội Nguồn phải nói là cầu chi đặng nấy. Đức Tổ Tiên lập lên vũ trụ. Rồi hiện thân ra con người. Đó là Đức Cha Trời Long Hoa Cửu Huyền Ấn Quang Tối Thắng Như Lai và Tiên Cơ Đức Mẹ Địa Mẫu Dưỡng sanh Như Lai. Một Âm một Dương, một Nam một Nữ, một Cha một Mẹ. Cha Trời Chủ Quản thế giới vũ trụ Linh Hồn, Địa Mẫu Chủ Quản thế giới vũ trụ vật chất, vì vậy phước Đức do Cha Trời ban, giàu sang do Mẹ Địa Mẫu thưởng.

Để có người thừa kế cơ nghiệp, trông coi vũ trụ. Nên Tổ Tiên hiện thân ra Đức Cha Trời. Đức Địa Mẫu, sanh con đẻ cháu, lưu truyền nòi giống Rồng Tiên. 100 người con đầu tiên ấy, chính là Ông Bà Tiên Tổ tối cao của Nhân Loại con người ngày nay. Thái Tử chính là 1 trong 100 người con của Âu Cơ Địa Mẫu sanh ra tại núi Long Hoa chốn Hồng Trần. Cách đây 75 triệu 600 nghìn năm. Những người con của Địa Mẫu Âu Cơ. Hiện đang thống lãnh Tam Thiên Đại Thiên thế giới, làm chủ vũ trụ.

*********

Hết phần 2 chương 11 mời xem tiếp phần 3 chương 11 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Cửu Huyền Thất Tổ là Tổ Tiên của 100 họ. Nói cho cùng muôn họ đều chung hai đấng Cửu Huyền. Tất cả là con cái của Cha Trời Mẹ Trời. Cho đến Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Cũng chỉ là con cái của Đức Cha Trời Mẹ Trời. Đại Đồng Bình Đẳng. (xem Kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa sẽ rõ hơn)

Muôn họ đều chung một Cửu Huyền

Cha Trời, Địa Mẫu đấng Rồng Tiên

Ứng linh cùng khắp muôn vạn cõi

Chuyển xây hoàn vũ đấng Thiêng Liêng

Một niệm thành tâm lòng tưởng nghĩ

Tiêu tan tội lỗi sống bình yên

Huống chi thờ phụng đèn hương khói

Cầu chi đặng nấy phúc vô biên.

*********

CHƯƠNG 11

PHẦN 3

THIÊN ẤN RA ĐỜI

Để hiểu thêm về hai chữ Tổ Tiên –  Tiên Tổ.

Khai Hóa Tối Thượng Tổ Tiên khác với Ông Bà Tiên Tổ.

Ông Bà Tối Cao Tiên Tổ, của Nhân Loại con người, được sanh ra trước Tiên, tại ngọn núi Long Hoa cách đây 75 triệu 600 nghìn năm. Chữ Tiên của ngôi vị Ông Bà Tiên Tổ sanh ra trước Tiên. Không phải Tổ Tiên.

Như vậy Tổ Tiên và Ông Bà Tiên Tổ, hai ngôi vị khác nhau. Ông Bà Tiên Tổ, thuộc ngôi 3 không phải ngôi 1 ngôi 2 ba ngôi tối cao vũ trụ. Theo thứ tự an bày sắp xếp như sau.

Ngôi 1:  Khai Hóa Tổ Tiên. Vô Vi.

Ngôi 2: Cha Trời –  Địa Mẫu. Hữu Vi. Chánh Thân Chánh Mẫu.

Ngôi 3: Ông Bà Tối Cao Tiên Tổ, đầu tiên nhân loại con người.

Ngôi 4: Ông Bà, Cao Đời, Cao Tằng, Cao Tổ, Cao Tông. Cũng như Cha Mẹ hiện tiền. điều mang giai phụ. Phụ Ông, Phụ Bà, Phụ Thân, Phụ Mẫu.

Ngôi 5:  Con Cái, Cháu, Chắt, Chút, Chít.

Với trách nhiệm Ông – Bà – Tiên Tổ. Có bổn phận, cứu vớt con cháu đang sắp đi vào đại nạn nơi chốn nhân gian, giai đoạn gần cuối tiểu kiếp. Ông Bà Tiên Tổ, Lần lượt xuống trần cứu với nhân loại Cháu con. Và người mở màn đầu Tiên xuống trần Chính là Đức Chí Tôn Giáo Tổ. Đầu thai làm con Quốc Vương Kinh Dương Vương cách đây năm nghìn năm.

Nhân Loại dù đã trải qua tu luyện tiến hóa linh hồn gần 16 triệu 800 nghìn năm ở tiểu kiếp thứ 9. Nhưng trình độ dân trí còn quá thấp kém, còn quá lạc hậu. Nhất là lạc hậu về khoa học vật chất, lạc hậu về khoa học tinh thần, lạc hậu về khoa học xã hội, lạc hậu về Đạo Đức xã hội. Nói chung là trình độ dân trí còn quá thấp. Nên đời sống xã hội Thời Quốc Tổ dựng nước Văn Lang đầy dẫy thống khổ khó khăn. Hầu hết lạc vào tà Ma ác Đạo, gieo nhân ác, bỏ nhân lành. Kết quả bao giờ cũng thảm khốc. Nhân tính con người còn nặng tính Dã Thú. Tàn sát chém giết lẫn nhau không ngừng nghỉ. Mạnh được yếu thua, xác người thi nhau ngã gục.

Thái Tử sau khi hội nhập Cội Nguồn. Thời đã tìm ra Thiên Ý Cha Trời. Thiên Luật Vũ Trụ. Chủ Nghĩa Đa Nguyên Nhân Quyền Dân Chủ Đại Đồng. Nhưng nhìn thấy trình độ dân trí còn quá thấp. Cũng có đôi lúc Thái Tử sinh ra ngán ngẩm cho cảnh trần thế, nhất là trình độ lạc hậu của Nhân Loại con người. Theo lời Đức Cha Trời dạy thời ta phải đầu Thai xuống chốn nhân gian tới ba lần, mới hoàn thành di mệnh của Đức Cha Trời giao phó. Nay ta đã hiểu, vì sao Đức Cha Trời lại dạy ta như vậy. Vì hiện nay trình độ dân trí còn quá thấp, lại thêm chữ viết ở vào cảnh giới sơ khai, chưa hoàn hảo khó diễn ý khai cơ lưu chép kinh luân.

Thiên Bút còn ẩn. Thiên Ấn ra đời duy trì Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng Đại Đạo vũ trụ. Thái Tử nghĩ tuy ta là Đức Chí Tôn Thiên Đế. Nhưng đã đầu thai làm người phàm tục ta phải sống như người phàm tục, gần gũi nhân loại mới diều dắc được nhân loại. Hiện giờ ta đã trở về ngôi vị Chí Tôn quyền năng vô hạn. Nhưng ta phải sống theo lối người trần. Quyền năng có hạn. Cũng ốm cũng đau cũng bệnh cũng già cũng chết, cũng ra công khó nhọc xây dựng nước non, cũng phải chiến đấu với Yêu Tinh Quỉ Dữ mở mang bờ cõi. Nói chung ta phải là tấm gương trong sáng, nhân ái, cần cù, gian khổ cho nhân loại soi chung. Hiện nay nhân loại trên toàn thế giới phương Đông cũng như phương Tây. Cuộc chiến tranh Thần Giáo kéo dài hơn trăm nghìn năm. Để phù hợp với tình hình nhân loại. Nhất là 62 giáo phái Thần Giáo. Đang cạnh tranh khốc liệt. Để phù hợp Thiên Cơ Bộ Máy Huyền Vi của Tạo hóa. Thái Tử theo trình độ dân trí mà chuyển đại pháp luân đem Thiên Ấn truyền lại cho hậu thế. Lấy tâm truyền tâm. Lấy khẩu truyền khẩu. Lấy ý truyền ý. Lấy vật truyền vật, đi vào đời sống xã hội. Thiên Bút chưa ra đời. Vì khi ấy chưa có giấy bút cũng như chữ viết còn quá thô sơ, nên không thể lưu chép kinh luân được. Nên nói Thiên Bút còn ẩn chưa ra đời.

*********

Hết phần 3 chương 11 mời xem tiếp phần 4 chương 11 Long Hoa Mật Tạng.

Mật Tạng đại kinh quá nhiệm mầu

Kinh Văn nghĩa lý thật cao sâu

Có duyên gặp đặng nên truyền tụng

Giải khổ bình an dứt vạn sầu.

*********

CHƯƠNG 11

PHẦN 4

SỰ ĐẶC TÊN

Tuy sự việc đã xảy ra cách đây 75 triệu 600 nghìn năm. Nhưng Thái Tử vẩn thấy rõ như ở trước mắt. Đức Cha Trời, Mẹ Trời. Sau khi sanh con và nuôi con khôn lớn. Một hôm Đức Cha Trời nói với Mẹ Trời rằng: Hôm nay các con đã lớn. Hai Ta dẫn con tham quan những gì mà Tổ Tiên khai tạo ra.

Bà dẫn lấy 50 Nữ làm quen với núi rừng. Còn ta dẫn 50 Nam làm quen với biển Đảo. Thái Tử nhớ lại chuyện xưa Cha Trời Mẹ Trời dẫn con cái tham quan những gì mà Tổ Tiên tạo ra. Thái Tử cảm thấy bùi ngùi như mới xảy ra gần đây. Thái Tử nhớ có một lần 50 anh em cùng đi với Đức Cha Trời. Bổng nhiên gây gổ đánh nhau, cũng bởi gì màu da khác biệt. Đức Cha Trời thấy vậy liền quở: Các con không nên đánh lộn nhau. Các con tuy khác màu da. Nhưng các con là anh em một nhà. Cùng chung trong một Bào Bọc. Cùng một Mẹ sinh ra. Mẹ các con là Mẹ Trời. Nên việc sanh con cũng có khác ứng dụng vào Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ. Nên các con có nhiều sắc da như vậy.

Cha Trời chỉ vào anh em da Trắng nói: Các con thuộc hành Kim (Bạch Ngọc). Cha Trời lại chỉ vào anh em da Đen nói: Các con thuộc hành Thủy (Kim Ngọc). Cha Trời lại chỉ vào anh em da Chàm nói: Các con thuộc hành Mộc (Bích Ngọc). Cha Trời lại chỉ vào anh em da Đỏ nói: Các con thuộc hành Hỏa (Xích Ngọc). Anh em da Vàng vô cùng hồi hộp chờ nghe Đức Cha Trời truyền chỉ. Đức Cha Trời nhìn anh em da Vàng, rồi nhìn lên không gian vũ trụ nói các con thuộc hành Thổ Trung Ương (Hồng Ngọc).

Các con phải chịu nhiều gian khổ, tương sanh tương khắc do Kim – Mộc – Thủy – Hỏa gây ra. Nếu các con không hiểu nhau hòa thuận cùng nhau, thời các con khó mà về trời sanh xuống các tầng địa phủ hết thảy. Da Vàng phải có trách nhiệm đoàn kết anh em. Chỉ có đoàn kết anh em thời các con mới được về trời. Cha Trời chỉ anh em da vàng nói năm màu da anh em sau phải nhờ vào các con.

Sau lần dạy bảo của Đức Cha Trời, năm màu da anh em đoàn kết chung sống với nhau, không còn gây sự nữa. Trải qua một thời gian. Có lẽ Cha Trời Địa Mẫu thấy con cái của mình đã biết hòa cùng nhau cũng như hòa mình vào non sông biển Đảo. Nên Đức Cha Trời Đức Địa Mẫu dẫn con về một chỗ. Nơi Đồng Bằng phía Đông Bắc dãy núi Long Hoa.

Đức Cha Trời dạy sự sống phát triển của các con chính là nơi Đất Bằng. Không phải quá cao hay quá thấp. Đức Cha Trời chỉ về phương Nam có dãy núi cao chọc Trời to lớn rộng dài xa thăm thẳm uốn lượn, dáng hình như một con Rồng khổng lồ đang vươn mình bay về vũ trụ rồi nói. Dãy núi cao chọc Trời kia là dãy núi Long Hoa. Nơi Cha Mẹ sanh tạo ra các con.

Hôm nay là ngày Cha Mẹ chia tay với các con trở về hội nhập vào Cội Nguồn bản thể tối cao vũ trụ. Các con ghi nhớ lời Cha dạy:

– TÊN CỦA CHA LÀ : LẠC LONG QUÂN.

– TÊN CỦA MẸ LÀ : ÂU CƠ.

Khi nào các con thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Thời các con sẽ biết tên thật của Cha của Mẹ cũng như uy danh của Cha của Mẹ. Khi các con lâm nạn. Các con hãy tưởng nhớ đến tên của Cha Mẹ. Lạc Long Quân và Âu Cơ thời các con sẽ tai qua nạn khỏi. Các con hãy nhớ lấy. Khi các con trưởng thành, trải qua nhiều kiếp. Các con tự tìm về Cội Nguồn, thì các con mới hiểu rõ Cha Mẹ là ai, từ đâu đến. Tên thật của Cha Mẹ là gì. Tộc Danh Cha Mẹ.

Đó là điều bí mật, các con tự khám phá tìm hiểu vậy. Dặn dò dạy bảo con cái xong. Đức Cha Trời Lạc Long Quân. Cùng Mẹ Âu Cơ. Từ từ bay lên hai tòa sen báu, vẫy tay chào tạm biệt các con. Hai tòa sen báu có lẽ cũng buồn lây, nên hào quang kém đi phần rực rỡ. Hai tòa sen báu từ từ bay lên không trung xa dần xa dần rồi biến mất. Đàn con thơ ngơ ngác nhìn theo cho đến khi Cha Mẹ mất hút vào chốn xa xăm. Để lại sự Mồ Côi Mồ Cút, với bao nỗi khó khăn về cuộc sống. Thái Tử buông tiếng thở dài từ lâu đã hiểu rõ. Cha Trời Lạc Long Quân. Mẹ Âu Cơ chỉ là tên sau khi có con. Còn Tộc danh Cha Trời là Long Hoa Cửu Huyền. Uy Danh Cha Trời là Ấn Quang, Tối Thắng Như Lai. Còn tên Lạc Long Quân, hay Âu Cơ là tên sau khi Cha Mẹ Trời đã sanh con. Và chúng ta ngày nay cũng không khác mấy. Tên Tộc và tên sau khi sanh con. Nếu người có chức có quyền còn có tên uy danh. Như Bí Thư, Chủ Tịch, Tổng Thống vân. và ..

Thái Tử cũng hiểu quá rõ. Đức Cha Trời. Mẹ Trời. Mới thật là Chánh Thân Chánh Mẫu. Cha Mẹ sanh ra Nhân Loại con người Ông Bà Tiên Tổ tối cao nhân loại (Xem Bộ Kinh Long Hoa Thiên Tạng ) nói rõ hơn.

Còn Cha Mẹ chốn nhân gian. Chỉ là Cha Mẹ kế tục phụ diễn lưu truyền nòi giống con người, đóng vai Phụ Thân Phụ Mẫu mà thôi. Vì vậy quyền quyết định vận mệnh của nhân loại con người ở vai chính. Chánh Thân Chánh Mẫu. Cha Trời Mẹ Trời. Không phải ở vai phụ, phụ Thân phụ Mẫu phụ diễn lưu truyền nòi giống con người chốn nhân gian. Vận mệnh của một Quốc gia cũng thế. Mưu sự ở người. Thành sự ở Trời.

Không có một ai cải Trời mà thành. Và cũng không có một ai làm quan, làm vua, cũng như đại giàu sang mà không có Thiên Ý ban cho. Nên nói mưu sự tại nhơn thành sự tại Thiên. Thuận Thiên giả tồn nghịch Thiên giả vong. Thuận theo ý Trời thì tồn tại, nghịch lại Ý Trời thì lụn bại tiêu  vong.

Một đất nước mà thuận theo Thiên Ý Trời. Không những Độc Lập kéo dài, mưa thuận gió hòa, ăn nên làm ra, dân giàu nước mạnh. Còn những người cuồng ngông đi ngược lại Thiên Ý. Không bao lâu biến thành những Chú Hề tuồng đời, để cho đời sau diễu cợt châm biến, chế giễu, phê phán.

Quy thuận Cội Nguồn, cũng giống như bọt Nước Quy thuận về Bản thể Nước. Thời Bọt Nước ấy tức khắc liền được phát huy sự to lớn. Bọt Nước đi ngược lại bản thể của Nước, là tự mình hủy diệt lấy mình. Đó là định luật xưa nay không gì thay đổi. Nghịch lại Thiên Ý không phải là những Chú Hề tuồng đời sao.

*********

Hết phần 4 chương 11 mời xem tiếp phần 5 chương 11 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Chỉ cần nghe một câu một chữ thoáng qua lỗ tai thời cũng đã vượt qua nhiều kiếp nạn. Huống chi đọc qua một phần, một chương. Lại tin theo làm theo thời những người nầy đi đứng mằm ngồi đều được Phật, Thánh, Tiên, Thần, chúa gia hộ phù hộ, Quốc Tổ bảo bọc, Hồn Thiên Dân Tộc phù trì, Làm gì cũng thuận buồm xuôi gió. Con cái hiển đạt công danh. Vậy mới biết không còn cái lợi nào hơn, là Đọc Kinh, Tin Kinh, Làm Theo Kinh.

Có duyên gặp đặng kinh nầy

Coi như thoát khỏi cuộc đời gian truân

Tin Trời, Trời cứu trời ban

Tin Kinh thời được đăng đàng cung mây

Lời kinh vi diệu thậm thâm

Linh Thiên ứng hóa linh thông diệu kỳ

Chỉ cần một chữ nhớ ghi

Cũng thời qua khỏi họa tai khốn cùng

Niềm tin là cội phúc lành

Tin Kinh, Kinh cứu, tin Trời, Trời ban.

*********

CHƯƠNG 11

PHẦN 5

TẤT CẢ CHỈ LÀ MỘT

Thái Tử hội nhập Cội Nguồn đến nơi tột cùng thật tướng, thật tánh tối cao vũ trụ. Tối Cao Đại Linh Hồn vũ trụ chỉ có một. Còn Tiểu Linh Hồn vũ trụ, thì hằng hà sa số vô tận vô biên không thể tính đếm, hay luận bàn cho hết được, Đại Linh Hồn, Tiểu Linh Hồn, vốn là một. Ví như Nước sanh ra bọt nước. Bọt nước cũng chính là nước.

Cội Nguồn của Bọt Nước Chính là Nước. Cội Nguồn của Tiểu Linh Hồn là Đại Linh Hồn. Tiểu Linh Hồn hội nhập Cội Nguồn. Ví như Bọt Nước tan biến trở về là Nước. Hội nhập vào bản thể của Nước. Bản thể Độc Lập Tự Do Đại Đồng Bình Đẳng. Không có sức mạnh nào hơn sức mạnh Đại Đồng tổng thể Linh giác vũ trụ, phát huy sức mạnh Đại Đồng. Sức mạnh Tổng thể là sự phát huy sức mạnh cao nhất, không còn sức mạnh nào hơn nữa. Sức mạnh khai Thiên lập Địa, sức mạnh đời non lấp biển.

Thái Tử hội nhập Cội Nguồn trở lại ngôi vị Tổ Tiên. Tức là hội nhập tổng thể Linh giác Đại Đồng Bình Đẳng tối cao vũ trụ. Liền thấu đạt hết thảy quá khứ – hiện tại – vị lai của vũ trụ. Mật Tạng vũ trụ hiện rõ.

Tất cả Tiểu Linh Hồn đang sanh sống khắp cùng vũ trụ, cũng chính là Đại Linh Hồn của Tổ Tiên Khai Hóa khai tạo sanh ra. Tiểu Linh Hồn vũ trụ, đại Linh Hồn vũ trụ ở hai dạng khác nhau Nước và Bọt Nước. Chánh giác và bất giác, Thức Tánh và Chân Tánh. Tiểu Linh Hồn và Đại Linh Hồn tuy hai mà một, tuy một mà hai. Đại Linh Hồn Tổ Tiên Chánh giác Nước Tiểu Linh Hồn, Cháu con, Thức giác Bọt nước, Bọt Nước cùng Nước không khác nhau. Chỉ khác nhau ở chỗ Mê hay Ngộ. Một Biết mình là ai, một không biết mình từ đâu sanh ra.

Những Tiểu Linh Hồn biết mình từ đâu sanh ra. Biết như thế gọi là Ngộ. Những Tiểu Linh Hồn không hiểu mình từ đâu sanh ra như thế gọi là Mê. Nếu tất cả Tiểu Linh Hồn Đồng hội Ngộ Chân Tâm Chân Tánh, từ bọt Nước, trở về nguyên căn là Nước. Hội nhập Bản thể Cội Nguồn. Đại Đồng Bình Đẳng. Thì tất cả trở thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Trở về ngôi vị Tối Cao Khai Hóa Tổ Tiên. Đại Linh Hồn tối cao vũ trụ. Đấng lập lên tất cả, lập lên vũ trụ và hiện thân ra con người.  Linh giác Tối Cao vũ trụ là Thiên Thể Tiên Thể Linh Giác Đại Đồng Bình Đẳng. Thống nhất.

*********

Hết phần 5 chương 11 mời xem tiếp phần 1 chương 12 Long Hoa Mật Tạng Kinh.  Long Hoa Mật Tạng Kinh là bộ kinh tối thượng thừa. Phải là người thượng Căn thượng Cốt mới thấu hiểu được kinh văn. Đã là Mật Tạng thì những bí mật vũ trụ đều nằm trong kinh văn. Nói chi hiểu hết Long Hoa Mật Tạng. Chỉ cần hiểu được một phần một chương cũng đã là hi hữu lắm rồi. Không còn sa đọa nơi tam đồ khổ nữa. Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh.

Về Trời nào có khó chi

Chỉ cần đọc tụng nhớ ghi một lời

Giảng thông câu chữ suốt thời

Thành Tiên thành Thánh xa vời nữa đâu

Huống chi truyền bá kinh luân

Ra công giảng giải cho người khác nghe

Người nầy muôn vạn kiếp sau

Đứng đầu đại chúng làm vua cõi trời

Mới hay kinh quý tuyệt vời

Có kinh là có những gì ước mong.

*********

CHƯƠNG 12

PHẦN 1

CHỦ NGHĨA ĐẠI ĐỒNG

Nguồn gốc sự sống. Nguồn gốc Linh Hồn. Nguồn gốc con người. Nói chung là nguồn gốc Nhân Loại. Cội Nguồn Nhân Loại Vốn từ Bản Thể Linh Giác Tối Cao Vũ Trụ Nguồn gốc Độc Lập Tự Do, Đại Đồng, Bình Đẳng sanh ra. Bản thể Linh giác tối cao vũ trụ. Tiên Thể Khai hóa Tổ Tiên. Không những Tiên Thể. Đại Đồng Bình Đẳng. Mà còn là Tiên Thể Độc Lập. Tự Do. Tối Cao vũ trụ. Đức tính Bình Đẳng. Độc Lập. Tự do, là Đức tính tự nhiên, sẳn có trong bản thể Linh giác tối cao Tiên Thể vũ trụ.

Như chúng ta đã biết. Bản thể Linh giác tối cao Tiên Thể vũ trụ. Chính là Đại Linh Hồn vũ trụ. Như chúng ta đã hiểu. Tiểu Linh Hồn có ra là từ Đại Linh Hồn phần Thức tạo ra. Ví như Bọt Nước có ra là từ bản thể của Nước. Như vậy Tiểu Linh Hồn đều phát xuất từ một nguồn gốc Đại Linh Hồn. Đại Đồng Bình Đẳng.

Cũng như Nhân Loại con người phát xuất từ trong Bọc Trứng Mẹ Âu Cơ. Nhân Loại Đồng Bào. Và đã nói lên nhiều cái chung. Cái chung ở đây là cái chung theo Luật Tự Nhiên. Theo Thiên Mệnh do Trời sắp xếp. Cái Chung ở đây là Chung Cội Chung Nguồn. Chung Tổ Tiên, Chung Cha Trời – Địa Mẫu. Chung vũ trụ, Chung Địa Cầu. Chung truyền thống Nhân Loại Tức là Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng. Chung nước chung non và còn nhiều chung chung khác v.v…

Khác với cái chung do chế độ Phong Kiến Thần Giáo, Phong Kiến Vua Chúa chế độ độc tài độc trị đặc ra trói buộc Thiên Hạ về một nhốm một khối. Nhất là sự trói Thiên Hạ về một nhốm một khối theo sự Độc quyền Độc Tài Độc trị. Theo điều lệ tham vọng thống trị thiên hạ đặc ra cái chung tốm thâu của cải vật chất làm giàu cho một nhốm người. Cột trói con người vào một cái chung bị trị. Mất hết quyền Bình Đẳng, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Mà Tổ Tiên đã ban tặng cho mỗi con người. Cái chung của sự trói buộc, là cái chung của điều lệ. Đi ngược lại Thiên mệnh bản thể Linh giác tối cao của vũ trụ. Cũng tức là đi ngược lại Thiên ý của Đức Cha Trời. Nên kết cuộc thường không mấy tốt đẹp.

Chủ Nghĩa Đại Đồng Bình Đẳng là Chủ Nghĩa theo luật tự nhiên, quy luật chung tự nhiên của vũ trụ. Chủ Nghĩa Đại Đồng là Nguồn Cội của các Chủ Nghĩa. Chủ Nghĩa của sức mạnh, không có sức mạnh nào hơn.

Chủ Nghĩa Đại Đồng Bình Đẳng là Chủ Nghĩa đỉnh cao cảu Phật Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Chủ Nghĩa của sự trường tồn và sự vĩnh cửu. Chủ Nghĩa Đại Đồng Bình Đẳng là chủ nghĩa Cội Nguồn, chủ nghĩa tối cao Thiên Đạo Đại Đạo vũ trụ.

Chủ Nghĩa Đại Đồng Bình Đẳng, là chủ nghĩa con đường mùa xuân Thuận Thiên, được Cha Trời bảo bọc dưỡng nuôi, chóng lớn chóng thành. Nên Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng Bình Đẳng, tồn tại rất lâu kéo dài qua 5 tiểu kiếp, gần trăm triệu năm mới mãn. Tiếp theo sau là Chủ Nghĩa Liên Hoa Hải Tạng ra đời.

*********

Hết phần 1 chương 12 mời xem tiếp phần 2 chương 12 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Muốn hiểu cho thấu đáo Long Hoa Mật Tạng Kinh, phải tưởng niệm đến Cha Trời Mẹ Trời. Cha Lạc Long Quân, Mẹ Âu Cơ. Cũng như tưởng niệm đến Quốc Tổ Vua Hùng, thì những gì thậm thâm vi diệu trong kinh mới hiện ra.

Muốn cho thấu hiểu kinh luân

Thành tâm kính bái Âu Cơ Mẹ Trời

Muốn cho hiểu được văn từ

Thành tâm kính bái Cha Trời Long Quân

Muốn cho thông suốt Mật Kinh

Thành tâm lễ lạy anh linh Vua Hùng.

*********

CHƯƠNG 12

PHẦN 2

DI TRUYỀN TÍNH

Bản thể Linh giác tối cao vũ trụ. Là Bản thể Độc Lập. Tự Do. Đại Đồng Bình Đẳng. Thể Tánh nầy trước sau không hề thay đổi. Khi Bản thể Linh giác tối cao vũ trụ. Chân Tánh Sanh ra Thức Tánh vũ trụ. Thời Di Truyền Tánh không thay đổi.

Có thể nói Linh giác Chân Tánh sanh ra Linh Thức Thức Tánh. Linh giác. Linh Thức Thể Tánh y nhau. Cũng như nước cùng bọt nước thể tánh như nhau. Thể tánh nước sao thể tánh bọt nước cũng như vậy.

Cũng như huyết thống Cha sao Con vậy. Hay nói một cách dễ  hiểu. Đại Linh Hồn vũ trụ. Thể Tánh Độc Lập. Tự Do. Đại Đồng. Bình Đẳng. sinh ra Tiểu Linh Hồn. Thời Tiểu Linh Hồn cũng có những Đức Tánh trên. Mất tự do. Mất Độc Lập. Mất Công bằng Bình Đẳng Là con người liền thấy khổ. Có cơ hội là đấu tranh giành lại cho bằng được. Những quyền mà Tạo Hóa đã ban cho mỗi con người, những quyền bất khả xâm phạm. Hay nói một cách khác những đức tánh Độc Lập Tự Do Công Bằng Bình Đẳng từ Đại Linh Hồn vũ trụ, di truyền sang Tiểu Linh Hồn vũ trụ. Một khi nhân loại mất Độc Lập mất Tự Do mất Công Bằng Bình Đẳng. Thì nổi lên đấu tranh giành lại. Dù phải hi sinh đến thân mạng tính mạng của mình.

Vì vậy con đường đi đến sự thống nhất chung, văn minh hiện Đại. Thời không có con đường nào khác hơn. Đó là con đường Độc Lập Tự Do Công Bằng Bình Đẳng. Để thực hiện được con đường Độc Lập Tự Do Công Bằng Bình Đẳng, không còn con đường nào khác hơn. Là con đường Đa Nguyên Nhân Quyền Dân Chủ. Tiến lên cao hơn nữa là con đường Đa Nguyên Thiên Quyền Nhân Chủ, Chủ Nghĩa Đại Đồng. Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Đại Đồng, Đại Đạo vũ trụ. Chủ nghĩa cao nhất không còn chủ nghĩa nào cao hơn nữa.

Tiến đến xã hội văn minh mà thiếu đi Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng Đại Đạo vũ trụ. Thì xã hội ấy chỉ là cái xác xã hội, thiếu đi cái Hồn xã hội. Xã hội khói mây, hợp để rồi tan, tan rồi hợp, cuộc sống đảo lộn mãi. Mà giai cấp khốn khổ nhất cũng chỉ là giai cấp Nông Dân, Công Nhân. Xã hội thật sự văn minh hiện Đại là xã hội thật sự tự do, Công Bằng, Bình Đẳng.

Xã hội pháp quyền Tự Do, Công Bằng, Bình Đẳng. Chỉ đến với Nhân Loại tiến bộ trình độ Dân Trí cao  hội nhập Văn Hóa Cội 1 Nguồn. Làm chủ bản thân. Làm chủ Công Lý. Làm chủ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp tất cả phục vụ cuộc sống, phục vụ Cội Nguồn. Chung trong nền Hiến Pháp Đại Đồng, Luật Pháp Đại Đồng. Đạo Pháp Đại Đạo vũ trụ.

Như chúng ta đã biết. Bản thể Linh giác Tối Cao Đại Linh Hồn vũ trụ. Thể tính thống nhất, Độc Lập, Tự Do, Đại Đồng Bình Đẳng. Thời Tiểu Linh Hồn cũng có những đức tính y như Đại Linh Hồn. Vì Nước bọt Nước cũng chỉ là một. Vì vậy Văn Hóa Cội Nguồn là kim chỉ nam nói lên cái Quyền thiêng liêng mà ai ai cũng có, không bao giờ mất đi, không bao giờ thay đổi tồn tại song song với Linh Hồn. Đời này sang đời khác, hết kiếp này sang kiếp khác. Chủ Nghĩa Đại Đồng Đa Nguyên Thiên Quyền Nhân Chủ là Chủ Nghĩa bảo vệ cái quyền mà ai ai cũng có từ Đại Linh Hồn vũ trụ duy truyền sang.  Những thứ quyền được bảo vệ trong Hiến Pháp Luật Pháp, Đạo Pháp.

Những quyền cơ bản nếu nói rộng thời 8 muôn 4 nghìn điều. Nói gọn thời 36 quyền chính 72 quyền phụ. Những quyền cơ bản trong đạo luật con người. Quyền con người những quyền bất khả xâm phạm.

(XEM BỘ LONG HOA LUẬT TẠNG SẼ RÕ).

 * Thiên Mệnh Quyền có 3.

 1: Quyền Đại Đồng Thống Nhất.

 2: Quyền Chủ Quyền Độc Lập. Không xâm phạm lẫn nhau.

 3: Quyền Tự Do Công Bằng Bình Đẳng. Tôn trọng lẫn nhau.

 * Nhân Quyền có 4.

 1: Quyền tự do ngôn Luận.

 2: Quyền Mưu cầu hạnh phúc.

 3: Quyền Con Người.

 4: Quyền Bổn phận làm Người.

 * Xã Hội Quyền có 3.

 1: Quyền Công bố Hiến pháp. Luật pháp. Đạo Pháp

 2: Quyền Công Tố, Phán Xét, Phân Xử.

 3: Quyền thay Trời. Thay mặt Nhân Loại hành sự.

Những quyền trên là những quyền cơ bản trong 36 quyền chính Thiên Luật vũ trụ. Thuận Thiên Luật thì tồn. Còn Nghịch Thiên Luật thì vong. Mất.

Thái Tử hiểu rõ Nhân Loại hiện nay. Trình Độ Dân trí còn quá thấp rất dễ hiểu lầm lẫn lộn giữa Tà Quyền và Chánh Quyền giữa Phi Nghĩa và Chính Nghĩa. Quyền Chính Nghĩa là thứ quyền có từ Đức Cha Trời. Trao xuống cho Nhân Loại con người. Ví như Nước có quyền gì thời trao xuống cho bọt nước những quyền ấy.

Ví dụ nước có tính gì, thì bọt nước có tính ấy. Nước có tính tự do bình đẳng, thời bọt nước cũng có tính tự do bình đẳng. Cha sao con vậy. Nước sao bọt nước vậy. Di truyền không thay đổi. Bảo vệ những thứ quyền mà Đức Cha Trời Di truyền xuống con cái của Trời, con cái của Trời tức là Nhân Loại con người. Những quyền thiêng liêng từ Cha sang con tồn tại song song với sự sống Linh Hồn con người. Không mất đi và cũng không bao giờ thay đổi.

*********

Hết phần 2 chương 12 mời xem tiếp phần 3 chương 12 Long Hoa Mật Tạng.

 

 *********

CHƯƠNG 12

PHẦN 3

QUYỀN TRONG LUẬT

LUẬT TRONG QUYỀN

Thái Tử hiểu rõ trình độ dân trí hiện nay còn quá thấp. Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng, Thiên Đạo vũ trụ lại quá cao thâm, khó mà truyền bá cho dân chúng. Nhân Loại hiểu. Dạy một đường hành một nẻo hiểu lệch ý nghĩa của Đạo. Hoặc sanh tâm hủy báng, thì tai họa đại nạn không biết đâu mà lường. Nguy hại khốn khổ biết là bao.

Đừng nói chi cho nhiều với tám chữ trong Cội Nguồn: Đa Nguyên, Nhân Quyền, Dân Chủ, Tự Do. Với trình độ Dân trí hiện giờ không mấy người hiểu nổi kể cả Vương, Quan, Vua, Chúa, nói gì đến dân chúng. Cội Nguồn Nhân Quyền là gì? Vì sao lại có từ Dân Chủ. Vào thời đó không mấy ai hiểu nổi.

Thái Tử dạy rằng: Nhân Quyền. Chính là những Quyền Tạo Hóa ban cho mỗi con người, những Quyền bất khả xâm phạm. Những Quyền bất khả xâm phạm trở thành Nhân Luật xã hội.

Thái Tử nói: Quyền tự do đi đôi với luật tự do. Quyền Con Người Nhân Quyền. Cũng như Quyền Tự Do Mưu Cầu Hạnh Phúc không phải tới bây giờ mới có. Mà có từ khi Nhân Loại ra đời. Những Quyền mà Cha Trời đã dạy cho con cái. Thiên Ý nằm trong Thiên Luật vũ trụ. Những ai Thấu hiểu Cội Nguồn thì hiểu rõ Thiên Luật vũ trụ.

Thiên Luật vũ trụ cũng chính là Thiên Ý Cha Trời. Thiên Ý Cha Trời là những định Luật vũ trụ trước sao sau vậy không gì thay đổi dù trải qua hằng hà sa số kiếp. Thiên Ý Cha Trời chính là phát Nguồn từ Bản Thể Cha Trời Luật Tạng Cội Nguồn vũ trụ. Thái Tử là Đấng Cứu Thế. Đấng Toàn Năng Toàn Giác không vì trình độ mê muội lạc hậu thấp kém của dân chúng mà chịu thua về Trời. Nên Thái Tử lập ra phương nhiều phương tiện. Tùy căn bệnh con người, căn bệnh xã hội, căn bệnh thời cuộc mà cắt thuốc chữa trị.

Để phù hợp trình độ, căn bệnh, lạc hậu xã hội, cũng như sự ngu si mê muội con người Thái Tử truyền Luật trước không truyền quyền khi con người hiểu luật tới đâu thì quyền được nâng lên tới đó. Ở vào thời kỳ này tình thế chỉ phù hợp Truyền Thiên Ấn. Lập ra Nhà Nước pháp Quyền. Luật là Thầy. Đạo là Cha. Hiến pháp là Nhà chung cho toàn xã hội. Vua cũng Quan. Chỉ là Đấng Tôi Trung Chí Hiếu. Bảo vệ Hiến pháp – Luật pháp – Đạo pháp. Đầu tàu dẫn dắt Thiên hạ Đồng Bào đi theo. Ở vào thời ấy Thiên Ấn chỉ truyền xuống cho hàng Quốc Vương kế vị. Còn hàng Vương, Quan, chỉ nghe những gì truyền lại mà thôi. Không thể nào hiểu rõ sự đúng sai trong lời truyền dạy ấy. Sự truyền khẩu kéo dài hàng trăm năm, cho đến cả nghìn năm dẫn đến tam sao thất bổn. Thiên Ấn Cội Nguồn dần dần biến mất. Thời đại Hùng Vương theo đó cũng chấm dứt luôn. Bách Việt Văn Lang tan rã. Bắc Văn Lang, Trung Văn Lang rơi vào Phương Bắc, chỉ còn lại Nam Văn Lang. (xem Văn Lang chiến sự 3 chiến sự 4 sẽ nói rõ hơn).

*********

Hết phần 3 chương 12 mời xem tiếp phần 4 chương 12 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Những bí mật trải qua hàng nghìn năm lần lần theo kinh hiện ra, những gì mà dân tộc Việt Nam cần biết. Để rồi đi theo bước Cha Ông. Xây dựng lại một nước Việt Nam giàu về vật chất mạnh về tinh thần. Dân Giàu Nước Mạnh. Xã Hội Công Bằng, Dân Chủ, Văn Minh. Rạng rỡ khắp năm châu.

*********

CHƯƠNG 12

PHẦN 4

ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI

Sau khi Thành Đạo hội nhập vào Cội Nguồn. Những đường hướng được vạch ra thông suốt. Thái Tử liền đằng vân trở về khu vườn cấm. Mở màn cho cuộc Mưa Pháp, giáo hóa độ sanh.

Đây nói về Cúc Phương, từ khi thấy Thái Tử xuất hiện. Đằng vân bay lên không trung biến mất. Cúc Phương vô cùng kinh dị nghĩ Thái Tử trở thành Thần Tiên rồi. Ngày nào Cúc Phương cũng đem đồ ăn thức uống đến cho Thái Tử, trong cảnh mưa to gió lớn. Nhưng ngày nào cũng vậy Thái Tử đều vắng bóng. Sấm chớp ầm ầm liên miên bất tận. Tuy ở rất xa nhưng Cúc Phương tưởng chừng như Trời Đất sắp sụp đổ đến nơi. Cúc Phương nghe nói Nước tràn về ngập xóm ngập Làng. Và hôm nay là ngày thứ 50. Tuy mưa to gió lớn đã dứt. Suốt 49 ngày đêm không thấy ánh sáng Mặt Trời hay trăng sao gì cả. Chỉ nghe thấy sấm chớp ầm ầm mưa to gió lớn làm khiếp đảm dân chúng Đồng Bào khắp các Châu Lục.

Nhìn ánh Bình Minh rực rỡ. Chim chóc vui đùa bay nhảy líu lo. Cây cối như muốn đâm chồi nảy lộc. Bầu Trời trong xanh. Nhìn núi ôm mây, nhìn cây ôm gió. Non sông đất nước hôm nay sao mà đẹp thế ánh bình minh vàng hồng đem hơi ấm về cho trái đất quê hương. Sưởi ấm hàng vạn con tim qua bao ngày âm u lạnh giá.

Cúc Phương với bao ý nghĩ miên man. Tay xách giỏ đồ ăn tiến về Bảo tháp nơi ở của Thái Tử. Bổng Cúc Phương nhìn thấy Thái Tử. Cúc Phương hầu như chết lặng trước sự bất ngờ này. Cúc Phương quá vui mừng quên đi mình là hầu Nữ, chạy tới nắm tay Thái Tử hỏi han như cách đây 8 – 9 năm về trước khi Thái Tử còn nhỏ. Thái Tử luôn luôn coi Cúc Phương như người Thân ruột thịt của mình.

Cúc Phương nhìn Thái Tử không cầm được giọt nước mắt hỏi:

   Thái Tử vẩn khỏe mạnh chứ.

Thái Tử chỉ cười gục đầu.

Đến lúc này Cúc Phương mới thấy mình quá vô lễ vội thả bàn tay nắm lấy tay Thái Tử ra, quỳ xuống sợ hãi thưa:

   Hầu Nữ thật đáng chết, hầu nữ thật đáng chết, xin Thái Tử quở phạt nặng.

Thái Tử nói:

   Ta mà phạt Cúc Phương ư. Chưa kể lúc ta còn nhỏ, Cúc Phương cực khổ chăm sóc cho ta biết chừng nào. Huống chi sáu năm ròng rã Cúc Phương lại khổ vì ta. Với công lao ấy. Cúc Phương được hưởng phước báo ba họ đều được giàu sang. Còn riêng Cúc Phương sau khi mãn kiếp. Hồn sanh thiên giới hưởng phước. Thân Nữ sẽ chuyển thành Thân Nam làm Vua ở cõi Trời.

Lời thọ ký của Thái Tử vừa dứt. Cúc Phương trí huệ bổng tăng lên vùn vụt liền chứng quả Thánh, thông hiểu Đạo Luật, vào ngôi vị Thánh Hiền. Cúc Phương lạy tạ Thái Tử trở lại hoàng cung đem lời Thái Tử căn dặn nói lại cho Quốc Vương và Vương Phi nghe.

Nói về Quốc Vương Kinh Dương Vương cùng Vương Phi Thần Long Nữ, sáu năm xa cách Thái Tử, thương nhớ con không gì diễn tả cho hết. Nhưng vì Quốc Gia Đại Sự, vì tương lai của Nước Xích Quỉ. Mà Mẹ con, Cha con phải đành xa cách lẩn nhau. Biết rằng từ Hoàng Cung đến khu rừng cấm không xa lắm. Nhưng vì sự tịnh tu của Thái Tử hết sức nghiêm ngặt có sự yêu cầu chặt chẽ, gắt gao, đối với những qui định đã đề ra. Nên tất cả mọi tình cảm đều gạt bỏ ra ngoài. Chỉ cầu mong cho Thái Tử mau tìm ra con đường cứu thế. Văn Hóa Cội Nguồn, Đại Đạo vũ trụ. Không đánh mà giặc cũng phải đầu hàng. Hàng phục Bách Tộc mà không cần động đến gươm đao giáo mác. Đây quả là điều khó tin. Nhưng Kinh Dương Vương nghĩ rằng Thái Tử sẽ làm được.

Theo Kinh Dương Vương nghĩ. Thái Tử đi tìm Văn Hóa Cội Nguồn vũ trụ cứu thế độ nhân. Đây là việc tìm kiếm đầy mơ hồ rất khó khăn có khi hết đời cũng không tìm ra được. Nhưng vì Thái Tử đã quyết nên không thể ngăn cản. Chỉ cần một chi phối nhỏ lúc vận hành Chân Khí, cũng sẽ đưa Thái Tử đến chổ mất mạng. Đạo quả không thành còn mất luôn người con duy nhất nối nghiệp Đế Vương Cha Ông. Kinh Dương Vương luôn tin tưởng bản lĩnh tài năng Thái Tử,  kiên nhẫn chờ đợi. Không bao giờ làm kinh động đến Thái Tử và sự chờ đợi đó cũng đã đến.

Với bộ dạng phấn khởi hất tấp đáng yêu của hầu Nữ Cúc Phương. Cô ấp a ấp úm nói tiếng được tiếng mất, làm cho Vương Phi phải phì cười: Hôm nay ngươi làm sao thế Cúc Phương. Vương Phi nói cà rởn hay là ngươi đã gặp Thái Tử rồi. Không ngờ Cúc Phương lại gật đầu. Cái gật đầu của Cúc Phương.

Vương Phi đang ngồi đứng phất dậy hỏi:

   Ngươi nói thiệt không?

Đến lúc này Cúc Phương đã lấy lại được sự bình tỉnh:

   Thưa Vương Phi hầu Nữ không những gặp được Thái Tử. Mà còn được nghe Thái Tử dạy bảo nhiều điều.

Vương Phi hỏi:

   Thái Tử dặn bảo những gì?

Thưa Vương Phi:

   Thái Tử dặn bảo hầu Nữ rằng. Hãy nói Vua Cha thông báo rộng rãi trong nước ngoài nước biết là ta đã Thành Đạo. Và ta rất muốn gặp các Quan Đại Thần, Vua Cha cùng Mẫu Hậu.

Nghe được lời nầy Vương Phi Thần Long Nữ, nước mắt cứ tuôn trào lẩm bẩm sự chờ đợi của ta đã đến. Sáu năm rồi, sáu năm xa cách, và lác nữa đây ta sẽ gặp lại con.

Nói về Quốc Vương Kinh Dương cùng các quan Đại Thần. Đang bàn kế sách đánh đuổi Giặc Hồ đang nổi dạy đánh phá biên cương hết sức hung dữ. Tướng của ta là Hầu Dung đã tử nạn. Em Hầu Dung là Hầu Hòa lên thay. Cấp báo về Cung chi viện quân binh tiêu diệt bọn chúng. Nghe đâu Hồ Nhất Quỉ, Hồ Nhị Quỉ, Hồ Tam Quỉ thần thông pháp thuật kinh người. Nghe đến giặc Hồ thì ai ai cũng đều khiếp sợ. Tình thế non sông Tổ quốc mỗi ngày một thêm bất ổn, nhất là tình hình ở biên giới. Kinh Dương Vương triệu tập cuộc họp bất thường. Cuộc họp vô cùng quan trọng nên đủ mặt bá quan văn võ. Trong lúc Quốc Vương cùng các quan đang bàn cách đối phó với ngoại xâm, nhiều tình huống phức tạp, về lâu về dài, một con Mãnh Hổ dù mạnh đến đâu cũng không thể đánh bại bầy Chó Sói được. Nhất là đàn Chó Sói nổi tiếng hung dữ.

Nước Xích Quỷ là một đất nước béo bở, không những về Ngư Nghiệp mà cả về Nông Nghiệp. Giàu có về tài nguyên khoáng sản Cũng như vàng, bạc, đồng, thau, ngọc ngà châu báu không có một đất nước nào sánh kịp theo kịp. Một đất nước béo bở như thế. Thì ai chẳng muốn là của riêng mình. Vì thế bày cáo sói ở bên kia biên giới lúc nào cũng mài nanh, mài móng vuốt, chờ cơ hội là xông vào xé xác. Có những đàn Cáo Sói vì quá thèm khát miếng mồi béo bở, nên đã đem quân xâm lấn biên cương. Nhưng chúng nào có hiểu một con mãnh hổ khôn, không bao giờ hành sự lỗ mãng, nên Kinh Dương Vương, cùng bá quan văn võ bàn tính thật kĩ trước khi hành sự.

Bổng tiếng chân người dồn dập cùng tiếng nói cười vang động dậy lên. Chuyện gì thế, chuyện gì thế. Nhưng nào có ai trả lời được. Thời bổng nhiên hương thơm ngào ngạt lan tỏa đến cung thành. Không phải hương thơm từ người phụ Nữ. Mà hương thơm của Mùa Xuân muôn hoa đua nở. Mùi hương này Kinh Dương Vương nghe rất quen, à phải rồi mùi hương này từ khu rừng cấm sao chúng nó bay đến đây được. Tiếng à của Kinh Dương Vương và lời xác nhận của Kinh Dương Vương. Làm cho bá quan văn võ càng thêm ngơ ngác. Hương thơm từ khu vườn cấm lan tỏa đến đây vương quan không lấy gì làm tin lắm, nhưng không ai dám cải vì Quốc Vương đã nói thế. Trong khi các Vương Quan còn đang ngơ ngác cho mùi hương lan tỏa bay đến. Cùng lúc ấy với dáng dấp vội vã Vương Phi Nương Nương cùng một số cung phi mỹ nữ xuất hiện, làm cho hội trường sôi động hẳn lên.

Theo luật lệ của Nước Xích Quỷ. Trong lúc bàn cơ mật Quốc gia. Không phận sự miễn vào. Nhất là đàn bà con gái không được đến. Hoặc nơi tôn nghiêm thờ tự các đời kế vị Quốc Vương. Trừ Hoàng Hậu, Vương Phi thì không ai được vào. Đó là Luật Lệ có ra từ thời Tiên Đế Long Lang Sùng Lãm. Nói về Vương Phi Mẫu Hậu Nương Nương được tin con Đắc Đạo chuẩn bị hồi cung thời còn chuyện hệ trọng nào hơn nữa. Bằng làm náo động cả hoàng cung, náo động cuộc hội họp bí mật Quốc Gia vô cùng hệ trọng. Khi Long Lang Sùng Lãm lên ngôi Quốc Vương. Hoàng Đế. Có một số cơ mật Quốc gia, bị giặc khai thác mua chuộc thông tin từ phụ nữ. Nên Quốc Vương Sùng Lãm ban hành lệnh cấm. Đàn bà con gái không được tham gia hội hộp cơ mật Quốc Gia. Kể cả nơi thờ tự tôn nghiêm thờ tự các đời Tiên Đế Kế vị Quốc Vương. Khi Long Lang Sùng Lãm lên ngôi Quốc Vương Hoàng Đế. Thường có các giống Chim quí như Chim Hồng Lạc bay đến đậu khắp kinh thành. Non Sông Đất Nước yên bình, âu ca thịnh trị, Thái Bình an lạc. Long Lang lên ngôi Quốc Vương lấy niên hiệu là Kinh Dương Vương. Đời thứ nhất. Từ đó về sau cứ mỗi lần giống Chim Hồng Lạc xuất hiện, là dân chúng được mùa trúng lớn và cho người vẽ giống Chim này ở các nơi thờ tự. Đến đời Lộc Lang tức là Kinh Dương Vương đời cuối. Chính là vị Kinh Dương Vương đương thời. Có bổ sung thêm vào điều luật cho phép Vương Phi. Hoàng Hậu. Tham gia vào cơ mật Quốc Sự. Cũng như có quyền hành lễ nơi thờ tự các thời Tiên Đế. Các quan về dự họp thấy Chim Hồng Lạc bay đậu khắp cung thành, lại thấy Mây ngũ sắc xuất hiện càng lúc càng nhiều. Kinh Dương Vương cùng bá quan văn võ lấy làm mừng rỡ. Điềm lành đã xuất hiện nhất định đánh tan quân giặc xâm lấn biên cương. Đang lúc hội họp bàn kế sách đánh giặc bổng thấy mùi hương muôn hoa đua nở xuất hiện, hương thơm ngào ngạt. Khi hít vào cảm thấy sức khỏe tăng lên, mọi sự mỏi mệt đều biến mất. Thật là kì diệu hàng nghìn năm chưa thấy một lần. Vua Quan ở thời Kinh Dương Vương cũng như các thời Tiên Đế. Bao giờ cũng đặc niềm tin vào Trời Đất. Ở Điện thờ Thần Mặt Trời cũng như thờ Trời, lúc nào cũng Hoa Quả trầm hương nghi ngút.

Nói về Kinh Dương Vương. Thấy Vương Phi cùng cung phi Hầu Nữ xuất hiện rầm rộ. Thời liên tưởng nghĩ ngay đến Thái Tử. Không hiểu đã xảy ra chuyện gì. Vương Phi đến bên Kinh Dương Vương nói nhỏ một hồi. Chỉ thấy Kinh Dương Vương sắc mặt tươi hẳn lên vì mừng rỡ. Hỏi lại với vẻ mặt mừng vui sung sướng.

Kinh Dương Vương nói:

   Có thiệt không?

Vương Phi quay sang Cúc Phương ngươi nói:

   Ngươi nói lại cho Quốc Vương rõ lời dặn bảo của Thái Tử đi.

Cúc Phương vâng dạ quì xuống tâu: Muôn tâu Quốc Vương Thái Tử dặn Hầu Nữ rằng thế là Cúc Phương kể rõ đầu đuôi sự việc tai nghe mắt thấy cùng lời dặn bảo của Thái Tử cho các quan văn võ tướng cùng Đức Vua Kinh Dương nghe. Kinh Dương nghe tới đâu thì nước mắt rơi tới đó, các quan văn tướng võ cũng vậy. Tức thời từ cuộc họp chống ngoại xâm, chuyển sang cuộc họp làm theo lời dặn của Thái Tử. Chuyện giặc ngoại xâm gác lại một bên, vì ai cũng hiểu Thái Tử là con Trời đầu thai xuống thế. Thái Tử đã tìm ra phương pháp dẹp loạn ngoại xâm và Thái Tử đã thành công, thời còn chuyện gì vui sướng hơn nữa. Nhất là vị Quốc Sư đa tài lúc nào cũng ca ngợi Thái Tử. Vị Quốc Sư Thục Lục đa tài nổi tiếng khắp thiên hạ. Có một số nước muốn xâm lược nhưng kiên dè vị Quốc Sư lớn tuổi già nua nầy và ngoại bang chỉ còn chờ thêm vài năm nữa Thục Lục già nua sức yếu là họ tấn công sang bằng nước Xích Quỷ. Thục Lục mừng rở khi nghe Thái Tử đã tìm ra con đường chống giặc hàng phục các thế lực Thù địch mà không cần động đến gươm đao giáo mác.

Quốc Sư Thục Lục chấp tay cung Kính tâu với Quốc Vương rằng:

   Chúc mừng Hồng phúc Quốc Vương bệ hạ. Lớn hơn Đại Ngàn biển cả. Thì ngoại xâm không đánh cũng tự rút lui. Thái Tử là bậc con Trời sanh xuống chốn nhân gian. Không có những gì mà Thái Tử làm không được. Có lẽ Thái Tử sắp chuyển Thiên Hạ bước sang giai đoạn mới. Giai đoạn văn minh hơn nữa.

Kinh Dương Vương nở nụ cười nói với các quan:

   Lớp sau phải hơn lớp trước đó mới là cái phúc của nước nhà. Có lẽ chúng ta cũng cần đổi mới tiến lên mở đường cho thời đại mới. Như cây xanh Đại Thụ vươn mình lớn mãi đơm hoa kết trái.

Cuộc họp chống ngoại xâm chuyển thành cuộc  họp làm theo lời dặn của Thái Tử. Thế là thông tin nhanh chóng được lan truyền đến khắp hang cùng ngỏ hẻm truyền rằng. Thái Tử là Đấng Con Trời Đầu Thai xuống Thế. Thái Tử là Đấng Cứu Thế thay Trời hành Đạo. Thần Thông Quảng Đại vô biên. Nếu không tin thì hãy đến Kinh Thành sẽ rõ. Lời truyền tụng ấy dần dần nhanh chóng lan qua các Nước lân cận. Lan khắp 62 giáo phái. Các giáo phái chân chính thì vui mừng, các giáo phái ác Đạo thì khiếp đảm. Họ thi nhau lặng lội đường xa kéo về Nam Kinh Xích Quỷ càng ngày càng đông.

*********

Hết phần 4 chương 12 mời xem tiếp phần 5 chương 12 Long Hoa Mật Tạng.

 

 *********

CHƯƠNG 12

PHẦN 5

NHƠN ĐẠO THÀNH

THIÊN ĐẠO CŨNG LÀ ĐÂY

Các quan có ý muốn theo Quốc Vương, Vương Phi. Đến khu rừng cấm ra mắt Thái Tử. Nhưng vì Kinh Dương Vương chưa có lời cho phép. Các quan văn võ lấy làm buồn lắm. Kinh Dương Vương là người tinh ý thấy bá quan văn võ lòng buồn rười rượi.

Quốc Vương nói:

   Các quan ai muốn đi thăm Thái Tử thì đi với Trẩm.

Các quan văn, võ nghe lời cho phép ấy thì còn gì vui sướng hơn. Lòng tò mò muốn biết 6 năm tịnh tu Thái Tử tìm ra được những gì. Vị Quốc Vương tương lai của họ.

Nói về Thái Tử Hùng Lan sau khi dặn dò Cúc Phương. Thái Tử đi dạo khu vườn cấm chuẩn bị cho cuộc họp khai hội Long Vân chốn nhân gian. Truyền chỉ lời dạy của Đức Cha Trời. Thái Tử dạo xong một vòng rồi trở về Bảo Tháp. Ngồi xếp bằng nhập định dùng thiên nhãn soi xét nơi hoàng cung. Thấy cảnh Cha Mẹ thương con như vậy hết sức cảm động buôn tiếng thở dài. Tình Phụ Tử thiêng liêng, không có lời nào diễn tả cho hết được. Lòng Cha Mẹ thương con như biển cả núi non.

Ta tuy là Đấng Chí Tôn Thiên Đế anh cả của Phật Thánh Tiên Thần Chúa. Lại là con cả của Đức Cha Trời. Long Hoa Cửu Huyền. Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Hai Đấng tối cao vũ trụ Tổ Tiên hiện ra. Nhưng hiện nay ở chốn nhân gian ta là Thái Tử. Con của Quốc Vương Kinh Dương Vương và Vương Phi Thần Long Nữ. Nên ta phải giữ tròn cái Đạo Cha con. Nhơn Luân Hiếu Nghĩa. Để cho Thiên Hạ lấy đó làm gương noi theo gìn giữ Đạo Hiếu. Cha Mẹ phụ Thân, phụ Mẫu là Ngôi trời thứ 2. Bất hiếu với phụ Thân phụ Mẫu. Đồng với nghĩa là bất hiếu với Trời. Một trọng tội khó mà dung tha. Và ta cũng thế phạm tội Bất hiếu thì cũng bị sa đọa như thường. Đạo hiếu là truyền thống tốt đẹp nhất của nhân loại con người. Dù ở Địa Ngục, Âm Phủ, Trần Gian, Thiên Đàng. Đạo Hiếu vẩn đứng hàng đầu như nhau. Muốn Thành Thiên Đạo. Thì Nhơn Đạo vẩn là cái gốc. Mất cái gốc Nhơn Đạo thời Thiên Đạo, Tiên Đạo, Thánh Đạo, Phật Đạo. Không có cơ sở để thành vì vậy Nhơn Đạo thành rồi thì Thiên Đạo, Tiên Đạo, Thánh Đạo, Phật Đạo cũng chính là đây.

Tiếng ngựa, xe, rầm rầm rộ rộ mỗi lúc một gần. Thái Tử hiểu rõ Cha Mẹ cùng bá quan văn võ sắp đến. Đoàn xe, ngựa, gồm mấy trăm người dần dần xuất hiện. Để tỏ lòng hiếu thảo Thái Tử đã quì sẳn tận cổng ngõ đón mừng Cha Mẹ. Kinh Dương Vương cùng các Quan từ xa xa thấy vần hào quang kỳ lạ tỏa sáng từ cổng ngõ nơi bảo tháp. Vừa đến nơi các quan thấy Thái Tử. Đang quì trước ngõ. Đón mừng Cha Mẹ. Nhìn thấy cảnh Thái Tử hiếu thuận như vậy, bá quan văn võ ai nấy cũng cảm động rơi nước mắt. Đức Vua và Vương Phi nhìn cảnh người con yêu quí của mình hiếu thuận như vậy, thời cầm lòng không được nước mắt tuôn trào hối hả bước đến nắm lấy tay Thái Tử nói khổ cho con quá. Đở Thái Tử đứng dậy Kinh Dương Vương cùng Thần Long Nữ mừng khôn xiết nhìn Thái oai vệ như Thiên Tiên giáng Thế. Thấy Cha Mẹ thương yêu mình như vậy Thái Tử cầm lòng chẳng đặng nên bùi ngùi rơi lệ. Có lẽ vì hào quang, vì dáng vẻ uy nghi, vì sự hiếu thuận. Cũng như sự Lễ độ, khiêm cung của Thái Tử. Đã làm cho các quan sửng sốt. Các Quan giờ đây mới biết có phúc vì gặp phải một Đấng anh Linh phi thường, có một không hai trên đời. Ai nấy cũng thi nhau thành kính, sùng kính. Đồng loạt xuống xe, xuống ngựa quì gối khom mình hành lễ. Chúng Thần Tham Kiến Thái Tử. Rồi quì mãi không đứng dậy Kinh Dương Vương thấy thế nói với các Quan. Các khanh miễn lễ đứng dậy đi. Các Quan đồng thanh nói: Chúng Thần đứng dậy không được. Dù biết rằng đã cố hết sức mình. Trong số các quan một nửa là quan võ, dở nổi nghìn cân. Thế mà bất lực trước một sức mạnh siêu nhiên vô hình. Kinh Dương Vương lấy làm lạ, khi thấy các quan có người mặt nhăn mày nhéo, có người sợ hãi kinh hoàng. Đức Vua Kinh Dương Vương như chợt hiểu ra, Thái Tử đã biểu diễn thần công ra mắt các Quan, ra mắt Cha Mẹ, minh chứng cho sự thành công Đắc Đạo của mình. Kinh Dương Vương nói với Thái Tử con để cho các Quan đứng dậy đi. Tức thời Thái Tử chuyển sang Thần Lực nâng đở các Quan dậy. Các Quan có muốn quì cũng không thể nào quì được. Có một số Quan không tin điều này xảy ra trước mắt, nên cố gắng ráng sức trì níu quì mãi. Nhưng không thể nào làm được. Bị một lực vô hình nâng đở đứng lên. Quốc Sư là một trong số người trì níu ấy để thử tài Thái Tử cố sức không đứng dậy.

Thái Tử hỏi:

   Quốc Sư, Quốc Sư thấy thế nào.

Nghe Thái Tử hỏi Quốc Sư giật mình. Quốc Sư đến trước mặt hành lễ thưa:

   Chúc mừng Thái Tử, Thái Tử quả thật đã tìm ra con đường cứu thế rồi. Mừng thay cho Nước Xích Quỷ ta.

Các quan cũng đều đồng thanh nói như thế. Các Quan vừa chúc tụng xong, thì lạ thay Hào quang phát ra từ Thái Tử biến đâu mất. Vương Phi Thần Long Nữ từ đầu đến giờ cứ nhìn mãi hào quang ngũ sắc năm màu của Thái Tử đẹp làm sao bổng dưng hào quang biến mất.

Vương Phi lấy làm tiếc hỏi Thái tử:

   Hào quang bao bọc xung quanh con trông thật đẹp mắt lắm, sao bổng dưng biến đi đâu mất.

Kinh Dương Vương cùng các quan cũng nghĩ như thế.

Thái Tử nói:

   Thưa Phụ Hoàng cùng Mẫu Hậu hào quang ấy không phải chỉ mình con có đâu, ở cõi thiên đàng chư Thiên đều có hào quang đẹp mắt như vậy. Nhất là những vị đã siêu sanh về Trời xác thể Kim Thân. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Kim thân phóng ra hào quang rực rỡ theo ý muốn của tâm lực chính mình. Chư Thiên vốn cũng là người phàm, hành thiện sanh về Thiên giới sống trong giàu sang, tự do an lạc.

Thái Tử vừa nói xong. Th toàn thân Thái Tử phát ra muôn Đạo hào quang rực rỡ gấp trăm nghìn lần hào quang lúc nảy trông đẹp mắt vô cùng. Bá quan văn võ cung phi mỹ Nữ, Kinh Dương Vương cùng Vương Phi. Tất cả đều say sưa để nhìn. Bổng hào quang xuyên suốt không gian vũ trụ rồi từ từ trong suốt. Từ Địa Ngục, Trần Gian, Thiên Đàng, ba cõi thông suốt liên quan với nhau. Những người có mặt trong lúc nầy, nương theo hào quang trong suốt của Thái Tử. Thấy rõ sự sống nơi cõi Âm Phủ, những gì khốn khổ nơi địa ngục cũng đã hiện ra.

Những kẻ trung với Ma thì thành Ma. Những kẻ trung với Quỉ thì thành Quỉ. Những kẻ trung thành đi theo kẻ ác, kết quả là cả bè phái thi nhau xuống Địa Ngục chịu những cực hình khủng khiếp. Như bị lửa đốt, giao đâm, Kiếm chém, tên bắn. Nấu dầu xẽ thịt, đau đớn, đói khát khủng khiếp.

Những kẻ thật sự trung với Nước hiếu với Dân, bảo vệ Đạo Pháp Chính Nghĩa, cứu dân thoát cảnh đói nghèo, thoát đời bệnh tật, dạy người làm lành. Trung theo lẽ thiện. Trung theo lời dạy của Đức Cha Trời, lên ngôi vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.  Làm chủ vũ trụ giang san mà Tổ Tiên, Cha Trời tạo lập ra. Sống trong Châu Báu ngọc ngà, lầu đài cung Điện nguy nga tráng lệ hơn cõi trần gian muôn vạn lần, tưởng ăn có ăn, tưởng mặc có mặc, tất cả đều theo ý tưởng biến hiện ra.

Thiện – Ác đều theo luật nhân quả, gieo giống gì trổ ra giống ấy. Gieo ác xuống Địa Ngục, âm phủ. Gieo Thiện lên thiên đàng Cực Lạc. Cũng một lòng trung mà kẻ lên Tiên, lên Phật, lên Thánh. Kẻ xuống Địa Ngục thành Quỉ, thành Yêu, thành Tinh, thành Ma. Vì lòng trung đặt không đúng chỗ. Anh Hùng Lạc Đạo đem lòng Trung phục vụ cho cái ác. Tôn thờ phi nghĩa ác đạo.

Kinh Dương Vương. Cùng Bá Quan văn võ buôn tiếng thở dài. Đúng là anh hùng lạc Đạo hết mong về Trời. Ai sanh ra cũng có lòng Trung Hiếu dù ít hay nhiều. Nhưng lòng Trung Hiếu sai đường lạc Đạo, thì uổng lắm thay. Bá quan văn võ. Chứng kiến cảnh kỳ diệu nầy hết sức vui mừng.

Các Quan chấp tay hướng về Thái Tử nói:

   Nay chúng Thần như con ếch rời khỏi đấy giếng. Thấy được Trời cao Đất rộng là gì. Như người mù vừa được sáng mắt. Chúng Thần Nguyện đem lòng Trung Hiếu đời đời theo phò Văn Hóa Cội Nguồn Đạo Pháp Chính Nghĩa.

Thái Tử nghe Bá Quan văn võ đã phát nguyện. Liền thu hào quang trí huệ chiếu xuống đỉnh đầu những người có mặt thọ ký quả vị. Tức thời tùy theo lòng trung hiếu lớn hay nhỏ thành tựu vô lượng trí huệ công đức. Chứng Thánh quả. Tiên quả, Phật quả. Riêng Quốc Vương Kinh Dương Vương cùng Vương Phi Thần Long Nữ. Khai mở chân tánh. Hiển Thánh tại chỗ hào quang trí huệ tỏa ra.

Các quan thấy vậy đồng quì lạy chúc tụng rằng:

   Chúng Thần nguyện đời đời kiếp kiếp theo phò Thánh Thượng cùng Thánh Mẫu.

*********

Hết phần 5 chương 12 mời xem tiếp phần 1 chương 13 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Là Bộ kinh tối thượng thừa theo thời xưa thời chỉ truyền xuống người kế vị. Nhưng thời nay đã khác Long Hoa Mật Tạng Kinh không của riêng ai mà là của chung toàn nhân loại. Những ai có duyên thời làm chủ Long Hoa Mật Tạng. Những người trì kinh Mật Tạng, giảng giải kinh Mật Tạng là những Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đầu thai xuống trần cứu khổ nhân loại, lập công trong Văn Hóa Cội nguồn, lên ngôi Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ, Thần Tổ, Chúa Tổ. (xem Kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa sẽ nói rõ hơn). Những ai gặp được những người nầy thành tâm lễ bái cúng dường ca ngợi công đức. Thì muôn vạn kiếp sau giàu sang phú quý thuộc hàng bật nhất. Cũng như gia đạo bình yên, họa lớn biến thành họa nhỏ tai qua nạn khỏi.

Chí Tôn đã xuống cõi trần

Lo gì chẳng đặng dự phần công lao

Lập công ra sức cứu dân

Hồn Linh chuyển hóa siêu sanh thiên đàng

Long Hoa Mật Tạng giữ gìn

Sớm hôm tu học đăng trình cao bay

Việt Nam con cháu Rồng Tiên

Theo chân Quốc Tổ làm nên nghiệp trời

Văn minh tột đỉnh cao vời

Việt Nam đất Việt sáng ngời muôn năm.

*********

CHƯƠNG 13

PHẦN 1

LONG THẦN HỘ PHÁP

Từ đầu đến cuối Bá Quan văn võ đã chứng kiến một sự việc hi hữu hiếm thấy trong đời chưa nghe ai kể chưa nghe ai nói hàng nghìn nghìn năm chưa thấy bao giờ. Các Quan văn võ lại chứng kiến Quốc Vương, Vương Phi hiển Thánh, hào quang phát ra từ Đỉnh Đầu. Đồng quì xuống chúc tụng ca ngợi Quốc Vương, Vương Phi:

   Thánh Hoàng vạn tuế. Thánh Mẫu vạn tuế.

Quốc Vương Kinh Dương Vương phất tay nói:

   Các khanh hãy đứng dậy bình thân miễn lễ.

Các Quan văn võ vừa đứng dậy. Thì không rõ tự bao giờ. Một tốp người đã đứng đó sát một bên các Quan văn võ. Người nào người nấy, tướng Mạo quái dị khác thường, làm cho các quan văn võ giật cả mình.

Số người quái dị nầy đồng chấp tay hướng về Quốc Vương và Vương Phi hành lễ. Rồi quay sang Thái Tử quì lạy nói:

   Chúng Thần là Thiên Thần Hộ Pháp, xin ra mắt Chí Tôn Điện Hạ Thái Tử.

Thái Tử nói:

   Miễn lễ.

Quốc Vương Kinh Dương Vương hỏi:

   Các Thần từ đâu tới.

Các Thiên Thần đáp:

   Chúng Thần là Thiên Thần Hộ Pháp, ở khắp vũ trụ xuống trần từ lúc Chí Tôn đầu thai xuống thế. Chúng Thần luôn luôn ở bên mình Thánh Hoàng bệ hạ, luôn luôn ở bên mình Thánh Mẫu Nương Nương. Lúc nào cũng phò trì Chí Tôn Điện Hạ Thái Tử. Nhưng chúng Thần ẩn thân không lộ diện, vì sợ lộ huyền cơ. Chúng Thần là Thiên Thần Hộ Pháp. Bảo hộ người Chân Chính, Chân Tu. Vì Chí Tôn cho phép, nên chúng Thần mới hiện thân ra. Chúc phúc Thánh Hoàng Bệ Hạ, Thánh Mẫu Nương Nương. Công lao hộ pháp của chúng Thần nay đã viên mãn quả Thánh đã thành.

Nói xong các Thiên Thần Thiên Long hộ pháp liền hiện tướng phước báo. Thân tướng cao lớn uy nghi xinh đẹp lạ thường, hào quang sáng chóa, rực rỡ cả một khung trời. Thiên Thần chấp tay đảnh lễ Đức Chí Tôn rồi biến mất.

Các quan triều đình chứng kiến cảnh hi hữu nầy liền phát tâm bảo hộ chánh pháp, tức thời ai nấy trí huệ tăng lên gấp chục lần minh mẫn khác thường.

Đến lúc này Quốc Sư mới lên tiếng:

   Xin mời Thánh Hoàng Bệ Hạ, Thánh Mẫu Nương Nương, Chí Tôn Thái Tử Điện Hạ hồi cung.

Thế là đoàn người hồi cung lên đường với bao niềm hân hoan vô bờ bến. Không thể nào diễn tả cho hết được.

*********

Hết phần 1 chương 13 mời xem tiếp phần 2 chương 13 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Kinh Văn Long Hoa Mật Tạng là Kinh Văn rất linh thiên, chỉ cần hủy báng một câu một chữ thì không tránh khỏi tại họa giáng xuống. Quốc Tổ Hùng Vương là chủ anh linh Hồn Thiên Dân Tộc hơn năm nghìn năm Văn Hiến. Hồn Thiên Dân Tộc đông vô số vô biên không thể tính đếm cho hết được. Từ khi lập nước Văn Lang đến bây giờ trải qua năm nghìn năm, Nhà nước Văn Lang vẫn tồn tại trong thế giời Vô Hình. Những Vương, Quan anh linh chưa về Trời vẫn thống lãnh cai quản Hồn Thiên dân tộc tới bây giờ. Hữu hình trần gian bao thời đại thay đổi, hết triều đại nầy đến triều đại khác, hết chế độ nầy đến chế độc khác nhưng nhà nước Văn Lang ở cõi Vô Hình không gì thay đổi. Chế độ Cộng Sản, Quốc Gia chỉ ở cõi đời mà thôi. Khi chết đi linh hồn Cộng Sản, Quốc Gia nhập vào Hồn Thiên Dân Tộc, dưới sự cai quản điều hành Nhà Nước Vô Hình Văn Lang. Nhà Nước Vô Hình Văn Lang đang điều khiển Hồn Thiêng Dân Tộc hằng hà sa số bảo hộ Kinh Luân. Những người hủy bán kinh luân sẽ bị Hồn Thiên Dân Tộc sát hại. Dù cho đó là ai Bí Thư, Chủ Tịch, Tổng Thống cũng bị tai họa như thường. Con Cháu Tiên Rồng Việt Nam hãy nhớ kĩ những lời nói trên.

*********

CHƯƠNG 13

PHẦN 2

UY DANH XUẤT HIỆN QUÂN GIẶC TỰ LÙI

Tin con Trời xuống thế chuyển đại pháp luân được truyền đi khắp Bộ khắp Châu, Quận, Huyện. Tận hang cùng ngõ hẻm, rồi lan truyền qua các nước lân cận. Đối với quân xâm lược đây là tin sét đánh làm cho quân giặc choáng váng, đảo lộn tình thế. Những thông tin đã uy hiếp tinh thần của chúng. Nào là con Trời xuống thế, nào là Quốc Vương, Vương Phi hiển Thánh. Nào là Thái Tử chứng quả Chánh giác, Thần Công cái thế có một không hai trên đời.

Ba anh em Hồ Nhất Quỉ, Hồ Nhị Quỉ, Hồ Tam Quỉ. Liền cỡi mây cỡi gió đến Nam Kinh Xích Quỷ xem thật hư ra sao. Chúng nghe dân chúng khắp kinh thành truyền tụng không ngớt, chúng càng nghe càng sợ hãi. Chúng nhìn về phía hoàng Cung, thấy ba đạo hào quang phóng lên không trung làm chúng càng thêm khiếp vía. Tai nghe mắt thấy chúng càng thêm khiếp sợ. Mộng tưởng xâm lược coi như tắc ngúm bụi tàn.

Thơ rằng:

Tiếng sấm uy Linh, rền sông núi

Ngoại xâm khiếp vía, thất hồn Kinh

Tam Quỉ lui binh, bò lết trốn

Chẳng cần Đại Chiến, tổn hao binh

Một Đạo hào quang, trùm nhân thế

Thiên La Địa Võng diệt yêu Tinh

Vũ trụ hư không, muôn ức cõi

Cội Nguồn vận chuyển chấn rung rinh.

Còn những Vương Quốc hùng mạnh. Như Đế Minh, Đế Nghi, Đế Lai. Là những Vương Quốc hùng mạnh có dã tâm lớn. Lâu nay cứ dòm ngó nước Xích Quỉ. Vì nước Xích Quỉ nổi tiếng giàu có đất đai phì nhiêu, ruộng nhiều lúa tốt. Ngọc Ngà, Châu Báu, Vàng Bạc đầy kho, miếng thịt nước non béo bở như thế, không mơ không mộng sao được. Nghe con Trời xuống thế không khỏi hoang mang nhưng vẩn chưa tin là vì chưa tận mắt thấy.

Có một số nước như nước Đột, nước Cù, nước Ngu. Đem quân xâm lấn biên cương ở các thời Tiên Đế Kinh Dương Vương. Nhưng lần nào cũng thất bại. Các thời Kinh Dương Vương, vị vương nào cũng anh minh Thần dũng. Quân sự, chính trị, kinh tế lúc nào cũng ở đỉnh cao, Nhân tài không thiếu. Do đó nước Đột, nước Cù, nước Ngu đem quân xâm lấn biên cương liền bị tiêu diệt mất gốc. Nước Xích Quỷ càng thêm mở rộng. Ngoại ban khiếp vía, nhờ thế nước Xích Quỷ Độc Lập mãi kéo dài hơn hai nghìn năm. Kinh Dương Vương thời cuối là vị Vương hiền, chuyên tâm tu niệm Thần Thông Pháp Thuật Cao Cường. Các thế lực ngoại xâm khó mà nuốt cho trôi. Nay lại nghe cũng như chứng kiến con Trời xuống thế ba anh em Hồ Quỉ không đánh mà lui khiếp sợ đến nổi kéo quân bỏ chạy sợ bị tiêu diệt tận gốc không còn chổ dung thân.

Ba anh em con nhà Húc Đế. Chỉ có Đế Lai là mạnh hơn cả còn Đế Nghi, Đế Minh thì yếu hơn. Đế Lai thu hút nhân tài khắp chốn. Lại thêm Đế Nương sanh ra một kỳ Nữ. Tài ba xuất chúng có một không hai trên đời. Nhân hạnh Đức hạnh hơn người nỗi tiếng là thông minh bật nhất Thiên Hạ. Còn sắc đẹp thì đến nổi hoa nhường Nguyệt thẹn. Ai nhìn thấy cũng ngây ngất thần hồn. Lại thêm pháp thuật thần thông quảng Đại. Đi mây về gió vô cùng lợi hại. Người con gái tài sắc vẹn toàn ấy tên là Phụng Cơ. Nghe đâu Phụng Cơ chính là Vương Mẫu đầu thai xuống trần cứu thế. Phụng Cơ Đức – Hạnh – Tài – Sắc không ai bì kịp, nên không biết bao nhiêu bậc anh tài mơ ước làm chủ đóa hoa Thiên Hương nầy anh hùng, hào kiệt, kỳ nhân Dị Sĩ tài ba xuất chúng khắp mọi nơi lần lượt đến ra mắt Đế Lai hầu mong làm được con rể. Vì vậy mà thế lực Đế Lai mỗi ngày mỗi mạnh. Kinh Dương Vương khi chưa hiển Thánh lấy làm lo sợ việc này.

Nhưng hôm nay thì khác. Kinh Dương Vương cùng Vương phi Hiển Thánh. Có thể biết trước mọi việc xảy ra. Lại thêm bá Quan văn võ ngộ Đạo trí huệ tài năng hơn người. Chỉ cần bấy nhiêu thôi cũng đủ làm khiếp đảm quân thù xâm lược. Huống chi còn có Thái Tử trí huệ Thần Thông quảng đại vô biên. Chí Tôn xuất hiện quân giặc tự lùi. Hàng phục Thiên Hạ nhân loại, không cần động đến gươm đạo giáo mác. Đẩy lùi Ma, Quỉ, không cần động đến quân binh. Hàng phục các giáo phái Thần Giáo không cần động đến tay chân. Cội Nguồn Thiên Đạo Vũ Trụ xuất hiện. Là Bất chiến tự nhiên thành. Vì thế Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng là Chủ Nghĩa đỉnh cao trí tuệ đêm lại sự yên bình cho toàn nhân loại con người, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh.

*********

Hết phần 2 chương 13 mời xem tiếp phần 3 chương 13 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Long Hoa Mật Tạng kinh là Quốc Bảo Chân Kinh. Kinh tạng tối cao Truyền Thống Anh linh dân tộc. Long Hoa Mật Tạng xuất hiện. Là cả năm nghìn năm Hồn Thiên Dân Tộc ứng theo phò trì. Khí thiên sông núi bảo bọc. Nên nói Long Hoa Mật Tạng là Bộ Kinh tối đại linh thiên. Chỉ cần một lời ca ngợi cũng đã tai qua nạn khỏi. Huống chi là  đọc tụng, biên, chép, truyền bá cho người. Phước đức người nầy không biết đâu mà lường. Trên đầu có Cha Mẹ Trời phù hộ, đi đứng nằm ngồi đều có Hồn Thiên Dân Tộc bảo bọc che chở.

Long Hoa Mật Tạng đại tối linh

Thành tâm đọc tụng, chép ấn in

Lập công truyền bá trong nhân thế

Hiển Thánh tại trần, nhớ đừng quên.

*********

CHƯƠNG 13

PHẦN 3

LONG VÂN ĐẠI HỘI

Nói về Kinh Dương Vương, cùng Vương Phi Nương Nương Thần Long Nữ Hiển Thánh vào ngôi Tam Hoàng vũ trụ.

1: Thiên Hoàng

2: Địa Hoàng

3: Nhơn Hoàng

Kinh Dương Vương từ ngôi phàm lên ngôi Thánh, từ ngôi vương lên ngôi Hoàng. Thánh Hoàng cũng là ngôi vị Thiên Tôn cai quản Thánh Chúng ở Thiên giới. Vương Phi Thần Long Nữ. Từ ngôi Thần lên ngôi Thánh. Từ Mẫu Hậu lên ngôi Mẫu Hoàng. Mẫu Hoàng cũng là ngôi vị Thiên Tôn cai quản Thánh Chúng ở Thiên Giới.

Theo Thiên Luật vũ trụ. Ngũ Đế an vị như sau.

Thanh Đế phương Đông.

Bạch Đế phương Tây.

Hắc Đế phương Bắc.

Xích Đế phương Nam.

Còn Hoàng Đế Thiên Hoàng thì ở trung ương Hạ Thiên vũ trụ.

Kinh Dương Vương sau khi Hiển Thánh hồi phục tiền kiếp ngôi vị Ngọc Hoàng Thiên Hoàng của mình. Tức là ngôi vị Ngọc Hoàng Thượng Đế Thiên Tôn Đầu Thai. Theo huyền cơ hành sự. Còn Thần Long Nữ cũng chính là Đức Mẫu Hoàng Thiên Mẫu đầu thai. Hiển Thánh hồi phục ngôi vị cũ. Nên Kinh Dương Vương và Vương Phi Nương Nương, có đủ Quyền năng gọi Thần Triệu Thánh đến dạy bảo sai bảo. Nơi vũ trụ có vô lượng ngôi vị Thiên Tôn. Thế Tôn. Tức là các vua Trời. Các Thánh Tổ, Phật Tổ. Thánh Chúa, Thần Tổ. Đông vô lượng vô biên.

Còn ngôi vị Chí Tôn thì hiếm thấy xuất hiện. Có thể nói ngôi vị Chí Tôn là ngôi vị Độc Nhất vô nhị. Thừa hành theo Di Chí Tổ Tiên. Cha Trời Địa Mẫu. Ban hành Hiến Pháp Cội Nguồn. Luật Pháp Cội Nguồn. Công Pháp Bình Đẳng Đạo Luật vũ trụ. Mở hội Long Vân. Mở hội Long Hoa. Mở hội Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng vũ trụ.

Nói về các Bộ, các Châu, các Quận, các Huyện. Các Bộ Tộc lân cận, các nước lân bang. Không phân biệt giáo phái. Nay Quốc Vương Kinh Dương Vương thông báo rộng rãi mời tham dự Đại Hội Long Vân. Tin tốt đẹp nầy đã làm nô nức đến các anh hùng hào kiệt, giáo sĩ Đạo sĩ, các bộ Lạc xa gần hùng mạnh. Từ đồng bằng cho đến tận núi cao. Khắp sông hồ cho đến tận biển Đảo. Đại diện cả trăm Dân Tộc. Toàn là những vị có võ nghệ cao cường. Pháp thuật Thần Thông quảng đại. Từng đoàn người kẻ cỡi Voi. Người cỡi Cọp, cỡi Sư Tử, cỡi Đại Bàng, cỡi Tê Giác, đi đến đâu thời làm kinh động dân tới đó, từ Đại Ngàn thượng Nguồn đổ về mỗi lúc một đông. Dân chúng hai bên đường sợ hãi phải đóng cửa. Các Tu sĩ, Đạo sĩ của các giáo phái Thần giáo, cỡi gió đạp mây đến dự Đại Hội Long Vân. Các vị đứng đầu các Bộ Lạc cỡi Ngựa Thần phi qua biển Đảo, qua sông qua suối qua núi qua đồi đến Xích Quỷ Nam Kinh dự hội.

Nói về các Giáo sĩ, Đạo sĩ, Tu sĩ của các giáo phái Thần giáo. Những vị Thần giáo có pháp thuật. Đi mây về gió. Đi trên mặt nước như đi trên đất liền. Có những vị Đạo sĩ luyện Đạo tới mức tên bắn không thủng. Đao Kiếm chém không đứt. Có người phun ra lửa thổi ra băng, quả thật tài cao ít có trong đời. Các Ngài là những Giáo sĩ, Đạo sĩ, Tu sĩ, Thần giáo danh cao vọng trọng. Mỗi vị từng là giáo phái Thần giáo mỗi phương. Được các Đế Vương, Quốc Vương trọng dụng. Tình hình chuyển hóa thế sự thay đổi có thể nói nền phong Kiến Thần giáo đã đến hồi cực thịnh, ở khắp các Châu Lục. Phương Đông gọi các Ngài là Thần giáo. Còn phương Tây gọi các Ngài là Phù Thủy. Thần giáo hay Phù Thủy, phân làm hai trường phái.

1: Trường phái Duy Tâm giáo trị Thần Giáo

2: Trường phái Duy Vật giáo trị Phù Thủy.

Hai trường phái nầy chê trích lẫn nhau ganh ghét lẫn nhau. Như Nước với Lửa giao tranh với nhau trải qua hàng triệu năm, gây chiến tranh chết chóc xảy ra khắp chốn khắp nơi.

Đến thời VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG. Đồng thời PHỤC HY (hay còn gọi là Hiên Viên). Thì khoa học Luận chứng ra đời. Ở đời cái gì cũng vậy. Hể có hình thời có bóng, có Chân thời có Giả. Khoa học luận chứng ra đời. Cũng có cái bóng theo đuôi của nó. Cái Bóng theo đuôi Khoa Học. Chính là Duy vật biện chứng. Làm cho Nhân Loại nhầm lẫn giữa giả khoa học và chân khoa học tưởng nhầm bóng là hình. Coi các nhà Duy Vật Biện Chứng là các nhà Khoa Học. Và sự nhầm lẫn nầy dẫn đến tai hại hàng nghìn năm sau. Đến dự Đại Hội Long Vân có cả một số nhà khoa học luận chứng. Lẫn cái bóng của khoa học luận chứng là các nhà Duy vật biện chứng. Các nhà Duy Vật Biện Chứng chỉ có nói hay gạt giỏi khó mà phát minh ra khoa học mới, chỉ dựa vào phát minh của người khác ca ngợi sự hiểu biết của mình. Nên rất khó đưa đời sống xã hội lên cao.

Thái Tử giờ đây quá hiểu rõ trường phái Duy vật biện chứng nầy. Đến dự Đại Hội Long Vân có cả người tốt lẫn người xấu. Có người đến dự hội với lòng đầy ác ý. Chờ cơ hội là hạ nhục Thái Tử ngay.

Nơi Đền Rồng bá Quan văn võ đến chầu đông đủ. Quốc Vương Kinh Dương Vương nay trông thật oai vệ, ai nhìn thấy cũng phải kính nể khiếp sợ. Tuy tuổi đã cao, nhưng lời nói trầm hùng phát ra đầy uy lực. Nhìn thấy các quan an vị chỗ ngồi.

Kinh Dương Vương truyền phán rằng:

   Các khanh hãy tấu trình công việc chuẩn bị cho ngày hội đã đến đâu.

Quốc Sư Thục Lục là người đầu tiên tấu trình trước, Quốc Sư tâu:

   Muôn tâu Thánh Hoàng, việc tuyển chọn người Tài Đức qua các cuộc khảo thí gắt gao ở các Bộ, các Châu, các Quận, các Huyện. Những thí sinh đủ tiêu chuẩn đã về đến kinh thành, chờ ngày dự hội Long Vân.

Kinh Dương Vương khen:

   Quốc Sư làm khá lắm.

Quốc Sư vừa vào vị trí chỗ ngồi. Thời có 1 vị quan bước ra tâu rằng:

   Muôn tâu Thánh Hoàng, việc Thánh Hoàng giao cho Hạ Thần. Tốc hành sửa sang nới rộng khu vườn cấm thành khu đại hội Long Vân trước ngày 20 tháng 2 ngày sinh của Thái Tử. Và chuẩn bị cho khai Hội Long Vân ngày 2 tháng 3 năm Ất Sửu .

1: Khu hội họp

2: Khu ăn uống, khu giải lao

3: Khu ở nghỉ

4: Khu vệ sinh

5: Khu đàm thoại

6: Khu tịnh dưỡng

7: Khu an ninh

Tất cả đều hoàn tất.

Kinh Dương Vương khen:

   Khanh làm khá lắm.

Vị Quan tiếp theo là võ quan vương Thống Soái thưa:

   Muôn tâu Thánh Hoàng việc Thánh Hoàng giao cho hạ Thần. Điều động mười vạn tinh binh. Trấn giữ Đông – Tây – Nam – Bắc khu vườn cấm. Một vạn tinh binh thần dũng võ công cao cường trấn giữ hội trường, tất cả đều bố trí hoàn tất.

Kinh Dương Vương khen:

   Khanh làm khá lắm.

Vị quan tiếp theo là Vương Công Hầu. Vương Công Hầu là vị vương quan đứng đầu các Quan văn thưa:

   Muôn tâu Thánh Hoàng, việc Thánh Hoàng giao cho hạ Thần. Hạ Thần đã làm xong. Hạ Thần sắp xếp Dân Tộc nào theo Dân Tộc nấy, có 64 Dân Tộc, cộng thêm 36 dân tộc anh em nước Xích Quỷ lên đến cả 100 Bộ Tộc.

Kinh Dương hỏi:

   Nhiều Dân Tộc đến thế sao?

Bẩm Thánh Hoàng:

   Đúng là đông Dân Tộc như thế. Những người đến dự hội toàn là cấp cao mỗi Dân Tộc.

Kinh Dương Vương khen:

   Công Hầu Vương khanh làm khá lắm.

Vương Công Hầu hành lễ:

   Tạ ơn Thánh Hoàng.

Tiếp đến là vị quan Tham mưu trưởng Vương Hầu thưa:

   Muôn tâu Thánh Hoàng có việc này rất hệ trọng. Có một số các giáo phái Thần giáo, không chịu vào khu vườn cấm tự do sinh hoạt ăn ở trong thành cũng như ngoài thành.

Kinh Dương Vương nghe tấu trình như thế. Liền lên tiếng hỏi bá Quan văn võ:

   Các khanh có ý kiếm xem xét giải quyết sự việc này bằng cách nào.

Quốc Sư thưa:

   Muôn tâu Thánh Hoàng, các giáo sĩ, Đạo sĩ, Tu sĩ, phần lớn là sống tự do, các Ngài ít chịu ràng buộc trong khuôn khổ. Nhất là sự quản lý dưới sự kiểm soát của chế độ độc quyền độc tài độc trị nhà nước.

1: Vì các Ngài thường là Tôn Sư của các giáo phái, xưa nay ít tùng phục vương, quan.

2: Là các Ngài thường là Quốc Sư của các nước.

3: Là các Ngài Đại đa số đều có pháp thuật cao cường, không dễ gì quản thúc họ được.

   Chúng ta không nên cản trở quyền tự do của họ, vì họ đến đây dự hội theo lời thông báo của Thánh Hoàng. Chúng ta có cách quản lý họ, theo kiểu tự do của họ. Cho quan tướng giả dân theo dõi kiểm soát họ mà thôi. Đây là phương kế hay nhất, vừa bám sát theo dõi hành động của họ, chủ động trong mọi tình huống xảy ra.

Kinh Dương Vương khen:

   Kế sách này hay lắm, khanh y theo đó mà làm.

Thấy sự gián đoạn tấu trình. Kinh Dương Vương hỏi:

   Còn vị quan nào tấu trình nữa không?

Tức thời có vị quan Tổng giám sát tấu trình rằng:

   Muôn tâu Thánh Hoàng. Phái Duy vật biện chứng, lén lén lút lút. Không chịu vào khu vườn cấm. việc này xử lý làm sao?

Kinh Dương Vương nói:

   Phái Duy vật biện chứng vốn là cái bóng nhà khoa học, biện minh rất giỏi. Coi Trời bằng nắp vung, coi Thiên Hạ cũng chỉ là loại khỉ, vượn mà thôi. Với cái lý vô Thần chết là hết. Mạnh là Vua thua là giặc. Đó chính là chân lý công bằng trào lưu tiến hóa của xã hội. Xã hội Độc quyền Độc Tài Độc trị chính là xã hội văn minh tồn tại. Vì vậy ở phương Tây, trường phái Duy vật biện chứng, đánh bại Phù Thủy giáo. Làm cho các Phù Thủy Thần giáo càng ngày càng bị đào thải ngôi vị Quốc Sư. Các học giả giáo sĩ Duy vật biện chứng lên thay thế, tạo ra những thế lực Độc quyền Độc Tài Độc trị. Bành trướng chiếm hữu nô lệ. Chiếm hữu thuộc Địa. Chiếm hữu Tài nguyên sông núi cũng như sự giàu có của dân. Cạnh tranh với phong kiến Độc Tài Độc Trị Thần giáo. Nhưng luôn bị Độc Tài Độc Trị phong kiến Thần giáo chính phái đánh bại. Giáo phái Duy Vật Biện Chứng hiện đang có mặt khắp mọi nơi. Sự thành công của trường phái Duy Vật. Là nắm bắt thời cơ biến động tâm lý xã hội, rồi phát động phong trào đấu tranh lật đổ Chính quyền Độc chiếm thiên hạ. Sự thành công của trường phái Duy Vật Biện Chứng là phép ẩn. Ẩn sau thành tựu khoa học. Ẩn sau Chính nghĩa. Ẩn sau trào lưu bất mãn phẩn nộ dân chúng. Luôn kích động sự mơ ước của Dân kích động dân dấy lên phong trào khởi nghĩa lật đổ chính quyền, giành lấy thiên hạ về mình. Đã gọi Duy Vật Biện Chứng là cái bóng của Khoa Học. Đã gọi là cái Bóng Khoa Học thời chân tướng của trường phái Duy Vật Biện Chứng là cái bóng trống rỗng không thực tế. Nhưng những người thiếu hiểu biết dễ lầm tưởng bóng là hình. Tưởng rằng các nhà Biện Chứng Duy Vật là các nhà Khoa Học. Nên chạy theo cái bóng để rồi lại bị cái bóng trói chặt. Đến khi vỡ lẽ thì chuyện đã rồi.

Bá quan văn võ ồ lên phái Duy Vật Biện Chứng lợi hại như thế sao?

Kinh Dương Vương nói:

   Ta đã từ lâu hiểu rõ giáo phái nầy. Là giáo phái vô cùng lợi hại. Giáo Phái của Chủ nghĩa chiến tranh và sự tàn bạo. Cái bóng của trào lưu của Khoa Học. Nhân loại xã hội mơ tưởng gì thời phái Duy vật biện chứng hiện ra cái đó. Nhân loại xã hội, mơ ước giải thoát nô lệ, giải thoát tự do, giải thoát sự đói nghèo, thì phái Duy vật biện chứng hiện ra cái sự mơ ước đó nên dân chúng để tin theo và làm theo. Dưới sự thống trị Độc Tài Độc Trị phong Kiến Thần giáo đã kéo dài hàng triệu năm. Vì thế Nhân Loại cứu mãi nghèo khổ, trình độ dân trí thấp. Vừa thấy cái bóng Tự Do. Khoa Học, mà trường phái Duy Vật Biện Chứng tạo ra bằng ngôn từ và sự ảo tưởng được lồng ghép Chính Nghĩa xuất hiện, như một chủ nghĩa cứu tinh. Liền được dân chúng đồng tình yêu mến ưa thích ùa theo như nước lở. Nhưng vì chạy theo cái bóng của Khoa Học nên rốt cuộc không đem lại được gì, sa chân lún sâu vào hố thằm. Đó là hố tội ác, mà cái bóng Tự Do, bóng chính Chính Nghĩa, bóng Khoa Học, đã dẫn đường cho họ.

   Nay ta đã hiểu thấu về trường phái Duy Vật Biện Chứng những lời Thái Tử nói với ta cách đây hơn sáu năm. Hể cái gì có hình thì có bóng của nó. Hình lớn thì bóng lớn. Thiên hạ nhân loại thi nhau lầm mãi. Và chỉ có ánh sáng Chánh Đẳng Chánh Giác Huệ Quang Mặt Trời vũ trụ, mới đủ sức đưa trình độ dân trí lên cao, nơi tâm hồn của họ tự có huệ quang, nhìn thấy rõ cái bóng tự do, khoa học Chính Nghĩa kia. Cái bóng Tự Do, cái bóng Khoa Học, cái bóng Chính Nghĩa, tự biến mất và nhân loại sẽ nhìn thấy thật sự Tự Do, thật sự Khoa Học, thật sự Chính Nghĩa sẵn có trong mỗi Linh Hồn con người và khi ấy con người mới hiểu. Và tự bảo vệ quyền Tự Do, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền làm chủ khoa học, quyền làm chủ Chính Nghĩa. Quyền làm chủ Hiến Pháp Đại Đồng, Luật Pháp Đại Đồng. Luật Pháp Công Bằng Bình Đẳng. Các quyền cơ bản con người được tôn trọng ai cũng như ai, trong cái Chung có cả cái Riêng của mỗi con người. Có nghĩa bảo vệ Quyền Lợi Chung, trong đó có Quyền Lợi Riêng của chính mình.

   Vì ngày hội sắp đến chỉ còn ba ngày nữa là Thái Tử khai mở Đại Hội Long Vân. Mở ra trang sử mới. Đánh dấu mở đầu cho lịch sử Con Rồng Cháu Tiên ra đời. Tiến tới xã hội Văn Minh, Công Bằng, Bình Đẳng. Thay cho chế độ Độc Tài, Độc Trị. Chỉ có Hiến Pháp là Vua. Luật pháp là Thầy. Công Lý là lẽ sống công bằng văn minh của xã hội văn minh loài người.

Kinh Dương Vương nói tiếp:

   Trên có Trời, dưới có Đất. Chính giữa có tam giáo Phật Thánh Tiên. Thì còn lo chi cái Ác lấn cái Thiện, phi nghĩa đời nào thắng được Chính nghĩa mà lo. Mặt Trời đã mọc ánh sáng Thái Dương rực rỡ Thì ánh sáng trăng sao tự biến mất lu mờ. Kinh Dương Vương lại nói: Ánh sáng Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ xuất hiện, Thì ngay cả ánh sáng Phật Thánh Tiên Thần Chúa còn phải lu mờ. Huống chi là ánh sáng mờ ảo của tà giáo. Phái Duy Vật Biện Chứng chỉ là cái bóng đen của Khoa Học. Khi ánh sáng Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng xuất hiện thì tự nó tan biến mất.

Quốc Sư Thục Lục tâu:

   Muôn tâu Thánh Hoàng chúng Thần đã chứng kiến ánh sáng Văn Hóa Cội Nguồn do Thái Tử hiển lộ Thần Thông. Quả thật ánh sáng Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng là thứ ánh sáng mà không thứ ánh sáng nào sánh nổi. Ánh sáng của sự quyền năng vô hạn, quyền lực vô biên. Và chỉ còn vài ba ngày nữa chúng ta lại chứng kiến ánh sáng Văn Hóa Cội Nguồn ấy.

Kinh Dương Vương thấy không còn chuyện gì để bàn nữa bãi triều ai lo việc nấy. Khu vườn cấm hôm nay trùng trùng điệp điệp cả 100 dân tộc anh em. Người Kinh lẫn người Thượng. Người Hoa lẫn người Khơ, Chăm. Là những dân tộc anh em đông dân nhất, hơn các dân tộc anh em khác. Những dân tộc anh em có mặt. Họ là những tinh hoa thời Đại của các tầng lớp xã hội. Thành phần Địa vị cao, từng đoàn người bước vào hội trường thẳng đến vị trí đã được sắp xếp. Nhìn hội trường khu vườn cấm hôm nay hàng vạn vạn người đông đúc, trật tự trên bãi cỏ xanh mượt bằng phẳng. Lấy bầu Trời làm mái che. Lấy cỏ xanh làm bàn ghế. Địa cuộc do Thiên Tạo nhưng có bàn tay con người tài hoa cải biến, làm cho quan cảnh nơi đây vừa đẹp vừa thoáng mát dễ chịu vừa ý lòng người.

Đầu giờ Thìn đã đến nhìn cảnh người trùng trùng điệp điệp chật khu đầy bãi. Nhưng cảnh quang vẩn trật tự, yên lặng đến lạ thường, hàng vạn vạn cặp mắt đổ dồn về phía bảo đài, như chờ đợi một sự kiện thiêng liêng sắp xảy ra hàng triệu năm mới có 1 lần. Trên Bảo Đài rộng lớn được kiến tạo sắp xếp thành ba phần từ thấp đến cao. Phần trên cao Bảo Đài được sắp xếp bề thế trang nghiêm. Ngai Rồng, Ngai Phụng như nói lên Thánh Hoàng. Hoàng Mẫu sẽ ngự giá trên ấy. Tầng kế thấp hơn có tòa Thái Cực phận định lưỡng nghi, được đặt ngay chính giữa. Bao hàm Thiên Địa Âm Dương, gồm đủ bốn phương ngũ hành, Bát Quái. Tòa Thái Cực được cấu tạo bằng bảy báu vàng, bạc, kim cương, trân châu, pha lê, xà cừ, hổ phách. Có mùi gỗ quí chiên đàng hương lan tỏa hàng trăm bước vẩn còn nghe thơm ngát. Hai hàng ghế được sắp xếp hai bên tổng cộng 108 chiếc. Không hiểu dành riêng cho những ai. Còn tòa Thái Cực không nói nhưng ai cũng hiểu. Đó chính là dành riêng cho Thái Tử Đăng Quang lên ngôi Chí Tôn thuyết giáo.

Còn tầng dưới nhất sát mặt đất là tầng trống không. Từ nơi bảo tháp trên bảo Đài hai hàng bá Quan văn võ đang hộ giá Thánh Hoàng ngồi vào Ngai Rồng. Hộ giá Mẫu Hoàng ngồi vào Ngai Phụng, kèn trống nổi lên với lời ca điệu nhạc hùng tráng. Ca ngợi Lòng quả cảm của sự đoàn kết của con người. Ca ngợi Đức Cha Trời.

Kinh Dương Vương Thánh Hoàng. Vương Phi Mẫu Hoàng an vị xong, trên Ngai Rồng Ngai Phụng. Tức thời 2 đạo hào quang từ Thánh Hoàng, Mẫu Hoàng phóng lên vô cùng đẹp mắt. Bổng trên không trung Tiên Nữ xuất hiện. Bay lượng vô cùng đẹp mắt. Đàn ca sáo thổi. Ca ngợi công Đức Chí Tôn. Đàn sáo Du hương, lời ca trầm bổng. Ca ngợi Đấng cứu thế chuyển Đại pháp luân. Mở cửa Thiên đàng, lấp đường Địa Ngục, giải thoát nô lệ, giải thoát áp bức, giải thoát lạc hậu, đói nghèo. Trả lại những quyền thiêng liêng mà Đức Cha Trời đã ban tặng cho mỗi con người không ai có quyền cướp đi. Cũng như không ai có quyền xâm phạm. Quyền sống của mỗi con người Quyền Thiêng Nhất. Trong những Quyền thiêng liêng ấy có Quyền tự do, quyền Bình Đẳng. Quyền mưu cầu hạnh phúc, Quyền tự do ngôn luận và nhiều thứ quyền khác 36 quyền chính 72 quyền chính phụ, 8 muôn 4 nghìn điều luật những quyền mà Cha Trời có đều đã ban cho mỗi con người, những quyền bất khả xâm phạm. Tiên Nữ bay lượn trên không rải hương hoa ca ngợi không dứt.

Trên Bảo Đài bổng một Đạo hào quang rực rỡ Thái Tử từ từ xuất hiện ai nấy đều bị cuốn hút bởi hào quang cũng như vẽ đẹp uy phong siêu phàm của Đấng cứu thế. Các Tiên Nữ biến mất. Khi Thái Tử đã an tọa trên tòa Thái Cực. Thái Tử dùng thần lực phát ra tiếng nói, tuy âm thanh vừa đủ nghe nhưng lại vang xa hàng chục hàng trăm dặm đường ai nấy cũng đều nghe rõ. Điều này làm cho phái Duy vật biện chứng một phen thất sắc kinh hồn. Trên đời nầy có chuyện lạ như thế nầy sao?  Phái Duy Vật Biện Chứng càng nghĩ càng sợ. Thái Tử là người hiểu rõ tình thế nhân loại hiện tại xu thế ác đến chín mơi phần trăm. Muốn cho nhân loại tin vào Chính Nghĩa. Không có con đường nào khác hơn là dùng cái Tài pháp thuật thần thông để hàng phục các Ác. Thị hiện pháp thuật đại Thần Thông hàng phục Tánh kêu căn tự cao, tự phụ, tự đại, tự tôn, đa nghi và dối trá. Những tánh xấu nầy, vừa hại người, hại mình, làm hại xã hội.

*********

Hết phần 3 chương 13 mời xem tiếp phần 4 chương 13 Long Hoa Mật Tạng Kinh.  Ở vào thời cách đây năm nghìn năm. Trước Phật Thích Ca hai nghìn năm trăm năm. Là thời kỳ hưng thịnh của pháp thuật thần thông. Trên 64 giáo phái điều có pháp thuật thần thông, không những thế các vị tu thiền luyện khí trên núi phần đông đều có pháp thuật thần thông cao. Nghe con Trời xuống thế là chuyện chưa từng có trên đời. Các Giáo Phái nghĩ không lẽ có Trời thiệt hay sao? Nên mới có con Trời xuống thế. Để xem thiệt hư phần lớn các vị Thần Giáo thuộc hàng tổ sư có tài trí cao pháp thuật thần thông vào bậc thượng đẳng, đằng vân giá vũ bay đến nước Xích Quỷ xem thiệt hư thế nào.

Ngày xưa pháp thuật thần thông

Mới mong cứu thế độ dân an lành

Ngày nay dân trí cao vời

Độ dân cứu thế khác thời ngày xưa

Thần Thông Trí Huệ vô biên

Mới mong độ thế chuyển xây vận thời

Ngày xưa pháp thuật lẫy lừng

Yêu tà khiếp sợ hết còn hại dân

Ngày nay Trí Huệ thâm thâm

Yêu Ma khiếp vía hết mong hại đời

Gươm Thiên Trí Huệ nhà trời

Chuyển xoay, xoay chuyển vận thời chuyển xoay.

*********

CHƯƠNG 13

PHẦN 4

HÀNG PHỤC

Thái Tử hiểu rõ những người có mặt hôm nay là những bật kỳ tài. Phần đông là các bậc Tôn Sư của các Giáo Phái. Khát vọng muốn tìm hiểu về những mới lạ thực hư của Thái Tử ra làm sao. Thái Tử từ nơi Tòa Thái Cực bay lên không trung thị hiện pháp thuật Thần Thông khai ngộ tri kiến. Thái Tử đi đứng trên hư không như đi trên đất bằng. Khi Thái Tử nằm thì bụng phóng ra lửa, lưng phun ra khói. Thái Tử chuyển sang tư thế ngồi xếp bằng. Tức thời Hoa sen báu hàng nghìn cánh bổng xuất hiện ra, nâng đở thân hình của Thái Tử. Muôn Đạo hào quang từ tòa sen báu phóng ra rực rỡ. Sau đó muôn Đạo hào quang biến thành mây ngũ sắc, trông thật ngoạn mục kỳ lạ ảo diệu đẹp mắt vô cùng. Có người kinh hãi. Có người thán phục. Có người khiếp đảm sợ quá gan mật teo lại.

Bất thình lình tòa sen báu biến mất. Thân hình Thái Tử bổng to lớn hơn cả cung thành cao hơn các tầng mây. Thái Tử chuyển mình làm rung rinh địa chấn. Sau đó Thái Tử biến mình thành cây sanh to lớn tàng lá che khắp khu rừng cấm. Từ cây sanh muôn đạo hào quang phóng ra rực rỡ bổng nghe tiếng sấm trên hư không. Cây sanh khổng lồ biến mất. Ngũ Long Ngũ Phụng hiện ra bay lượn trên không. Hào Quang từ ngũ Long ngũ Phụng phóng ra muôn màu muôn sắc rực rỡ cả không gian. Trường phái Duy Vật Biện Chứng ngơ ngác, tưởng là mình đang nằm mơ. Có người sợ quá muốn ngất xỉu. Thái Tử hiện ra ngồi trên tòa Thái Cực. Thái Tử há miệng một Đạo hào quang phóng ra ngũ Long ngũ Phụng đang bay lượn trên không liền thu mình nhỏ lại bay hết vào miệng Thái Tử. Hàng vạn quả tim hồi hộp, khiếp đảm ngạt thở, đờ người ra, có người véo vào mặt có phải mình đang mơ hay không. Pháp thuật thần thông gì kì lạ tới mức không thể ngờ, không thể tin. Nhưng đây là sự thật, phái Duy Vật Biện Chứng đầu óc trở nên trống rỗng. Như đang lạc vào cảnh giới xa lạ, như đứa trẻ con nhìn biển cả mênh mông. Không những giáo phái Duy Vật Biện Chứng, mà ngay cả các Chính Phái Thần Giáo cũng khiếp đảm. Các Bộ Lạc xưa nay có ý  muốn phản lại nước Xích Quỷ thì sợ muốn vỡ mật. Các giáo phái Tà Giáo vô cùng khiếp vía, đến mức hoảng loạn tinh thần.

Những thành phần tới dự hội Long Vân có ý xấu. Nhất là những thành phần có mộng xâm lược. Chứng kiến cảnh Thần Thông pháp thuật kỳ diệu càng lúc càng hoảng sợ, sợ hãi đến mức tâm thần rối loạn. Khiếp nhược trở nên yếu đuối hèn nhát. Muốn lẩn trốn ra khỏi hội trường Long Vân nhưng không thể nào trốn ra được, vì có Thiên Long hộ pháp Chư Thiên trấn giữ. Quân binh kiểm soát.

Nói về Thái Tử sau khi thu hút Ngũ Long, Ngũ Phụng vào miệng liền biến đi đâu mất. Trong không gian bốn phương tám hướng đồng phát ra tiếng nói như tiếng sấm:

   Các Ông các Ngài các Thầy đừng sợ. Đó chẳng qua là pháp thuật Thần Thông tạo ra mà thôi. Khi nào các Ông, các Thầy, các Ngài hiểu rõ thể xác con người, thể xác bộ máy Tiểu Thiên vũ trụ. Bộ máy sống. Bộ máy tối cao huyền vi. Không có bộ máy nào tối cao huyền vi hơn nữa. Làm chủ được bộ máy Tiểu Thiên vũ trụ. Hòa nhập vào bộ máy Đại Thiên vũ trụ. Làm chủ vũ trụ thì đạt đến đỉnh cao của pháp thuật Thần Thông. Bộ máy Tiểu Thiên vũ trụ chính là bộ máy sống thể xác con người. Bộ máy Tinh Hoa vũ trụ thu nhỏ. Làm chủ được bộ máy sống Tiểu Thiên vũ trụ. Thì có nghĩa là làm chủ được vũ trụ. Cả vô hình lẫn hữu hình. Như các ông thấy đó. Thân của ta hiện giờ là Thân vũ trụ vì Tiểu Thiên vũ trụ với Đại Thiên vũ trụ giờ đây cũng chỉ là một. Các ông lúc này không thể nhìn thấy được tướng Thân và pháp Thân của ta. Tướng Thân của ta đã phân hóa vào tứ Đại vũ trụ. Còn pháp Thân Chân Tánh của ta là pháp Thân siêu vô vi. Các ông nghĩ gì, tưởng gì ta đều thấy rõ. Cũng như cá sống trong nước. Cá nghĩ tưởng gì nước đều thấy rõ và hiểu rõ. Linh Hồn của các Ông là Tiểu Linh Hồn. Đang sống trong Đại Linh Hồn vũ trụ. Chúng ta làm gì nghĩ gì Đức Cha Trời đều hiểu rõ thấy rõ. Không có có thể qua mặt được Đức Cha Trời.

Nói về Chí Tôn Thái Tử sau khi hả miệng hớp lấy Ngũ Long Ngũ Phụng, rồi biến đi đâu mất. Trên không trung bốn phương tám hướng đồng phát ra tiếng nói:

   Làm chủ được Chân Tánh. Làm chủ được Tiểu Thiên vũ trụ Thì coi như làm chủ Đại Thiên vũ trụ. Thị hiện Thần Thông không thể nghĩ bàn. Quyền lực vô biên, Quyền năng vô hạn. Thay thế Đức Cha Trời chuyển Đại pháp luân. Làm chủ Chân Tánh, làm chủ Duy thức, làm chủ thấy, nghe, hay, biết. Hội nhập Cội Nguồn. Làm chủ bộ máy Huyền Cơ vũ trụ. Theo Thiên Luật hành trì cứu dân Độ thế. Vũ trụ vô vi, vũ trụ hữu vi như hình với bóng liên quan mật thiết với nhau. Hữu vi pháp tướng. Như tứ Đại giả hợp. Đất nước gió lửa. Sắc, thinh, hương, vị, xúc tướng. Bán hữu vi. Như Duy Thức, Sắc Thức, Sắc Tánh. Thì Phật Thánh Tiên Thần Chúa có thể nhìn thấy được. Còn Chân Tánh siêu vô vi. Thì không thể nào dùng Thiên Nhãn, Thánh Nhãn, Pháp Nhãn, Huệ Nhãn mà thấy được. Thấy được Chân Tánh, thì coi như thấy được pháp thân toàn năng toàn giác của Đức Cha Trời khắp hư không vũ trụ. Chỗ nào cũng có. Như ta đây có tới ba thân. Một là Chân Tánh thanh tịnh pháp Thân. Thân tướng Đức Cha Trời với thân tướng vô tướng của ta là một. Hai là Tánh Thức, Thân Thức, Pháp Thân Duy Thức căn thân huệ mạng linh hồn. Ba là thân tướng xác phàm tứ Đại giả hợp. Ta có ba thân như thế, nhưng Căn Thân Huệ Mạng Linh Hồn là vô cùng hệ trọng.  Thiên Thần Thánh Chúng sẽ nói cho chúng hội các ông rõ.

Các vị Thiên Thần Thánh Chúng đang an tọa trên Bảo Đài nơi 108 cái ghế. Tức thời nơi Đại Hội hàng vạn vạn cặp mắt đổ dồn lên Bảo Đài nơi 108 cái ghế nhưng nào có thấy Thiên Thần Thánh Chúng gì đâu. Nhưng kì diệu thay Thiên Thần Thánh Chúng từ 108 cái ghế đã hiện ra. Không hiểu Thiên Thần Thánh Chúng an tọa ngồi trên 108 chiếc ghế tự bao giờ. Để phá tan sự nghi ngờ của chúng hội Thiên Thần Thánh Chúng nói:

   Chúng tôi ngồi ở đây đã lâu, khi vừa mới khai hội. Nghe Đức Chí Tôn chuyển Đại Pháp Luân khai thị ngộ nhập tri kiến Văn Hóa Cội Nguồn Chủ Nghĩa Đại Đồng Thiên Đạo vũ trụ. Cho Chúng Hội, hội nhập Cội Nguồn vào pháp Hội Bình Đẳng vũ trụ. Lên ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác.

Lúc bấy giờ Chúng Hội. Có vị Đạo Tổ pháp hiệu Cao Tông là Tổ Sư của Thần giáo. Chấp tay hướng về Thiên Thần Thánh Chúng hỏi rằng:

   Thưa Thiên Thần Thánh Chúng. Chúng tôi pháp nhãn yếu kém. Không thấy được Đức Chí Tôn hiện đang ở đâu, xin Thiên Thần Thánh Chúng nói cho chúng tôi hiểu, hiện giờ Chí Tôn Thái Tử đang trụ nơi đâu.

Thiên Thần Thánh Chúng đáp:

   Thân tướng Chí Tôn Thái Tử hiện đang ở khắp chỗ. Chỗ nào cũng có. Nhưng chỉ thấy phần hữu vi sắc tướng. Tứ Đại Đất – Nước – Gió – Lửa. Còn phần Thân Thức Căn Thân Huệ Mạng Linh Hồn không thể nào thấy được. Huống chi là pháp Thân Chân Tánh của Đức Chí Tôn. Chúng tôi lại càng không thể nào thấy được. Vì pháp Thân Chân Tánh của Đức Chí Tôn. Chính là pháp Thân Chân Tánh của Đức Cha Trời pháp Thân Linh giác tối cao vũ trụ.

Thiên Thần Thánh Chúng nói xong. Thì trên hư không bốn phương tám hướng lại phát ra tiếng nói:

   Khen thay cho các Thiên Thần Thánh Chúng các ông nói rất đúng. Vì hiện giờ ta đã an trụ vào Cội Nguồn. Tam Thân ta Đồng hóa vào Đại Thiên vũ trụ. Thân tướng vũ trụ. Muốn có thì có, muốn không thì không, vô tướng, hữu tướng. Vô sắc, hữu sắc đều do Chân Tánh làm chủ. Quyền năng vô hạn, Quyền lực vô biên, tỳ theo tâm ý mà chuyển biến. Nên các ông không thể nào thấy được pháp Thân vô tướng vô Tánh của ta. Nhưng ta thì thấy rõ pháp tướng pháp Tánh của các ông. Cũng như các Thiên Thần ẩn thân tàn hình ngồi trên 108 cái ghế bây giờ đã hiện ra. Các vị Tổ Sư, Đạo Sĩ, Tu Sĩ, 64 giáo phái Thần giáo. Phần lớn đều có pháp thuật, có thuật Nhãn nhìn xuyên đá xuyên tường, thế mà không nhìn thấy Thiên Thần Thánh Chúng. Các Thiên Thần muốn cho ai thấy là chỉ người đó mới được thấy, còn người khác thì không.

Các Tôn Sư của 64 giáo phái Thần giáo. Cùng tám Tông giáo trong Bát Quái giáo sanh tâm nghi ngờ lời nói của Đức Chí Tôn Thái Tử, nghĩ các Thiên Thần Thánh Chúng có pháp thuật Thần Thông đến chỗ tối cao không thể nghĩ bàn, mà cũng không thấy được Chí Tôn Thái Tử thật khó tin. Nếu ẩn là ẩn, thì ai cũng không thấy. Nếu hiện ra thì ai cũng thấy. Chỉ trừ người mù mà thôi.

Trên không trung bốn phương tám hướng lại phát ra tiếng nói:

   Các ông nghi ngờ lời nói của ta cũng phải thôi. Vì các ông nghĩ rằng các Thiên Thần Thánh Chúng ở Thiên giới Thần Thông pháp thuật tối cao không như ở chốn nhân gian, mà còn không thấy được Ta. Ta có thể ví dụ, pháp thuật thế gian, pháp thuật Thiên Đàng, cũng như pháp thuật của Ta như sau.

   Pháp thuật thế gian ví như em bé sinh ra biết ngồi biết lật. Pháp thuật Thiên Đàng ví như em bé biết đi, biết đứng, biết ngồi, biết chạy, biết bay, biết nhảy. Còn Pháp Thuật Thần Thông của Ta phải nói là đến chỗ vi diệu khó luận khó bàn. Các ông thử nhìn lại xem các ông có nhìn thấy Thiên Thần Thánh Chúng nữa không.

Các Tổ Sư, Đạo Sĩ, Tu Sĩ của các Tông giáo, giáo phái đồng thanh nói:

   Chúng tôi không nhìn thấy Thiên Thần Thánh Chúng.

Trên không trung lại phát ra tiếng nói:

   Chỉ các ông là không thấy Thiên Thần Thánh Chúng thôi còn tất cả chúng hội đều nhìn thấy Thiên Thần Thánh Chúng rõ cả. Các vị Thiên Thần Thánh Chúng vẫn ngồi yên tại chỗ.

Bổng cả chúng hội vang lên:

   Lạ quá Thiên Thần Thánh Chúng lại biến mất. Chúng tôi không thấy Thiên Thần Thánh Chúng nữa.

Nhưng lạ thay các giáo sĩ, Đạo sĩ, Tu sĩ thời lại thấy Thiên Thần Thánh Chúng ngồi trên 108 cái. Nhìn thấy pháp thuật Thần Thông kì diệu của Thiên Tiên, thế mà vẫn chưa đạt đến cảnh giới tự tại vô ngại. So với Chí Tôn Thái Tử thì còn thua xa. Các vị Tổ Sư của các giáo phái Thần giáo. Như người trong đêm nhìn thấy ánh sáng mặt Trời. Tánh Tự Cao, Tự Đại, Tự Phụ, Tự Tôn, cống cao ngạo mạn bị diệt trừ. Huệ quang khai mở hiểu rõ pháp thuật Thần Thông. Chỉ là Duy Thức ảo thuật, ngũ uẩn biến hóa. Pháp thuật Thần Thông không phải là Đạo giải thoát. Mà Đạo pháp giải thoát chính là Đạo làm chủ Linh Hồn của chính mình, làm chủ Chân Tâm Chân Tánh của chính mình. Phát tâm rộng lớn tận độ nhân loại con người trở về Cội Nguồn vào pháp Bình Đẳng vũ trụ. Gieo nhân lành, để rồi hưởng quả tốt. Làm chủ thấy nghe hay biết. An Nhiên tự tại, vô ngại. Tùy theo trình độ dân trí mà khởi dụng phương tiện độ sanh.

Các Tổ Sư, Đạo Sĩ, Tu Sĩ của các giáo phái Thần giáo, giáo phái Tông giáo đồng thanh nói:

   Chúng tôi như người mù vừa được sáng mắt, thấy rõ Đạo giải thoát, giải thoát Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, giải thoát phiền não tội lỗi, giải thoát luân hồi sanh tử. Chúng tôi hôm nay coi như đã có cha Tiểu Linh Hồn chúng Tôi, hướng về Đại Linh Hồn vũ trụ. Bọt Nước hướng về bản thể Nước. Nhân Loại hướng về Đức Cha Trời. Con Cháu hướng về Tổ Tiên và chúng tôi đã được Tổ Tiên khai huệ. Cha Trời dìu dắt không còn bơ vơ như trước đây nữa. Chúng tôi cảm ơn Thiên Thần Thánh Chúng, cảm ơn Đức Chí Tôn. Khai ngộ tri Kiến dìu dắt chúng tôi hội nhập vào Cội Nguồn.

Trên không trung lại phát ra tiếng nói lớn:

   Hi hữu thay, hi hữu thay, lời nói của các ông ẩn chứa vô tận phước Đức. Từ đây đến vô tận kiếp tột cùng vị lai. Các ông mãi mãi là con của Đức Cha Trời chuyển vô lượng số kiếp đại họa thành số kiếp an lạc. Vào ngôi Phật, ngôi Thánh, ngôi Tiên, ngô Thần, ngôi Chúa làm chủ vận mệnh, làm chủ vũ trụ, giang san mà Tổ Tiên đã khai lập ra. Cho con cái Tổ Tiên cai quản. Các Ông cũng đã thấu rõ Đời, Đạo cũng chỉ là một. Đời trong Đạo. Đạo trong đời. Những ai bỏ Nội Tâm, không làm chủ Nội Tâm, chạy theo Ngoại Cảnh, dù có Thần Thông pháp Thuật đến đâu. Cũng không thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa được. Muốn làm chủ được Nội Tâm hàng phục Tâm Viên Ý Mã không ngoài con đường hành thiện. Nhất là phát tâm cứu khổ cứu nạn nhân loại con người. Giảm bớt chiến tranh cũng như hành ác.

   Cái Lý mầu nhiệm của Văn Hóa Cội Nguồn là Đời Đạo chỉ là một. Đạo trong Đời. Đời trong Đạo. Giúp Dân thoát nghèo. Giúp Dân thoát khổ, nắm vững cán cân công lý vũ trụ. Công Bằng cuộc sống, văn minh xã hội. Làm rường cột cho Trời. Duy trì Công Đạo Chính Nghĩa, đẩy lùi Phi Nghĩa. Dù sống ở Thiên Đàng Cực Lạc hay sống ở trần gian. Làm Quan nơi Địa Ngục. Chúng ta vẫn mãi mãi làm theo Di Chí Tổ Tiên Cha Trời Lạc Long Quân, Địa Mẫu Âu Cơ. Duy Trì Công Đạo Chính Nghĩa. Sống theo Thiên Ý Cha Trời Thiên Luật Vũ Trụ.

   Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa Đại Đồng Thiên Đạo vũ trụ. Văn hóa tối cao Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nhân Loại con người Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa đỉnh cao Thiên Ý Chính Nghĩa Văn Hóa của sự giác ngộ. Sự sống gắn liền với Độc Lập tự chủ, tự do Bình Đẳng. Công bằng xã hội Quyền Sống, Quyền Tự Do, Quyền mưu cầu hạnh phúc, không đi ngược lại Công Lý Chính Nghĩa Thiên ý của Đức Cha Trời.

PHẦN THƯA HỎI :

Hỏi: Nhân Loại con người do ai sanh ra?

Đáp: Do hai Đấng Tiên Rồng sanh ra.

Hỏi: Hai Đấng Tiên Rồng Cha Trời Địa Mẫu do ai sanh ra?

Đáp: Không do ai sanh cả vì hai Đấng Tiên Rồng là hiện Thân của Đức Khai Hóa Tổ Tiên. Hay còn gọi là Đấng Tạo Hóa hiện ra.

Hỏi: Vậy Tổ Tiên ở đâu sanh ra?

Đáp: Tổ Tiên là Đấng Tối cao, không còn ai cao hơn nữa để mà sanh ra Tổ Tiên. Pháp Thân Tổ Tiên rộng lớn như hư không bao trùm vũ trụ. Hay nói một cách dễ hiểu. Tất cả Tam Thiên Đại Thiên thế giới vũ trụ. Đều ở trong lòng Tổ Tiên, giống như cá sống trong nước.

Hỏi: Hai Đấng Tiên Rồng sanh ra nhân loại trần gian phàm trần cách đây bao lâu ?

Đáp: Cách đây khoảng 75 triệu 600 nghìn năm.

Hỏi: Tổ Tiên hiện thân ra Cha Trời Địa Mẫu với mục đích gì?

Đáp: Tổ Tiên hiện Thân ra hai Đấng Tiên Rồng. Trước thì sanh con đẻ cái. Sau thì giao cho con cái cai quản điều hành vũ trụ, giang san Tổ Tiên đã tạo ra. Còn có mục đích Tổ Tiên hiện Thân ra Đức Cha Trời, Đức Địa Mẫu, là để cai quản thế giới Linh Hồn, thế giới vật chất. Cha Trời cai quản thế giới Linh Hồn vũ trụ, Địa Mẫu cai quản thế giới vật chất vũ trụ.

Hỏi: Tổ Tiên có phải là con người không?

Đáp: Tổ Tiên không phải là con người. Con người là sự hiện Thân của Tổ Tiên.

Hỏi: Bản thể Tổ Tiên thế nào?

Đáp: Bản thể Tổ Tiên vô vi vô tướng vô tánh, pháp thể rộng lớn như hư không chỗ nào cũng có. Mắt nhìn không thấy, tay rờ không đụng, giống như thể lực vũ trụ chỗ nào cũng có, nhưng mắt thường không thể nào thấy được, không thể nào rờ được. Huống chi bản thể Tổ Tiên còn trên cả thể lực, đừng nói là con mắt thường. Ngay cả con mắt Phật Thánh Tiên Thần Chúa còn thấy chưa hết, huống chi chúng ta còn mang xác tục hồn trần. Tuy chúng ta không rờ không đụng, mắt không thấy Tổ Tiên. Nhưng Tổ Tiên nghe ta nói, nghe ta suy nghĩ, hiểu ta đang làm gì. Nói chung mọi ý tưởng ý nghĩ của chúng ta Tổ Tiên thấy nghe hay biết một cách rõ ràng.

Hỏi: Bản thể Tổ Tiên có phải là vật chất không?

Đáp: Bản thể Tổ Tiên siêu vật chất, vật chất là do Tổ Tiên tạo ra. Siêu vật chất Không đồng nghĩa là không vật chất, cái không trống rỗng không có gì cả. Cái không ở đây là cái không mà có.

Ví dụ không thấy không khí, nhưng có không khí. Không thấy điện nhưng có điện. Nói cho cùng không thấy, không phải không có.

Bản thể Linh giác Tổ Tiên siêu vật chất, không màu sắc, không mùi vị, không hình tướng vô vi mà thường vi không Tánh mà có Tánh. Thật Tánh Tổ Tiên là Tánh Thanh tịnh không tất cả Tánh. Thể Tánh Tổ Tiên Như Lai trước sau không hề thay đổi. Thế giới Vũ Trụ trước hủy diệt. Thế Giới Vũ Trụ sau sanh ra. Rồi hủy diệt cho đến vô tận vô biên vũ trụ hủy diệt. Tổ Tiên trước sau vẫn là Tổ Tiên không hề thay đổi, cho đến tận cùng vị lai cũng không hề thay đổi, Tổ Tiên vẫn là Tổ Tiên. Thường còn mãi mãi.

Hỏi: Muốn tìm Tổ Tiên thì tìm nơi đâu?

Đáp: Muốn tìm Tổ Tiên, dù đi hết cõi Trời, cõi Phật, cõi Thánh, cõi Tiên cũng không thể nào tìm thấy Tổ Tiên được. Vì sao thế, vì Tổ Tiên vẫn ở bên ta. Có thể ví dụ chúng ta là cá đang sống trong lòng Đại Dương. Dù cho cá đi đến đâu cũng không ra khỏi nước được dù ở Địa Ngục hay các cõi Thiên Đàng đối với Tổ Tiên cũng thế mà thôi. Chúng ta không cần tìm Tổ Tiên vì Tổ Tiên luôn luôn ở bên ta. Nhưng ta không thấy đó thôi.

Hỏi: Làm sao thấy được Tổ Tiên?

Đáp: Phải trở về với Cội Nguồn. Có nghĩa Bọt nước tìm về Nguồn Cội của mình là Nước. Bọt Nước và Nước khác nhau không? Nếu nói là khác thì không đúng. Vì Bọt Nước là do Nước tạo ra. Nếu nói là giống thì cũng sai. Vì bọt Nước và Nước thể tướng lại khác nhau. Vì một là Bọt còn một là Nước. Có thể nói Linh Hồn Tổ Tiên ví như Nước. Còn Linh Hồn chúng ta ví như Bọt Nước. Như chúng ta cũng biết. Bọt nước là do nước tạo ra. Linh Hồn Tổ Tiên là Chân Tánh. Linh Hồn của chúng ta là Thức Tánh, vọng tưởng huân tập không ngừng luôn luôn dấy khởi nghiệp lực. Còn Linh Hồn Tổ Tiên Thanh Tịnh vô thức tự nhiên. Muốn thấy được Tổ Tiên. Thì Tiểu Linh Hồn hội nhập về Cội Nguồn Đại Linh Hồn. Từ Thức Tánh hội nhập về Chân Tánh, an trụ vào Đại Định tâm như không, Tánh như không, ý như không. Thấy nghe hay biết tự nhiên, không khởi ý phân biệt. Lâu ngày dài tháng. Nghiệp lực ý thức tiêu dần. Hội ngộ Chân Tánh liền thấy Tổ Tiên. Bọt Nước tan biến trở về là Nước.

*********

Hết phần 4 chương 13 mời xem tiếp phần 5 chương 13 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Những căn bản trong kinh là Sống Tự Do. Nhưng không vi phạm Hiến Pháp, Luật Pháp. Đạo Luật, công bằng xã hội. Không đi ngược lại Thiên Ý Cha Trời Thiên Luật Vũ Trụ.

*********

CHƯƠNG 13

PHẦN 5

VÔ VI ĐIỀU KHIỂN HỮU VI

VÔ HÌNH ĐIỀU KHIỂN HỮU HÌNH

Bản thể Linh giác Chân Tánh của Đức Khai Hóa Tổ Tiên. Siêu vô vi vô hình. Có nghĩa mắt thường không nhìn thấy, ví như điện lực không nhìn thấy, không khí không nhìn thấy nhưng có mà không có nghĩa có mà không thấy. Bản thể Khai Hóa Tổ Tiên không nhìn thấy đó điều khiển vũ trụ, khắp thế giới hữu vi hữu hình. Linh giác Chân Tánh của Đức Tổ Tiên, siêu vô vi vô hình chỗ nào cũng có khắp tất cả hư không vũ trụ. Điều khiển vũ trụ, thế giới hữu vi hữu hình. Qua trung gian Duy Thức Tánh, Tánh Thức. đi đôi với Thần Lực và Chân Khí. Ý tưởng Chân Tánh hình thành, thì thế giới vật thể hữu vi liền chuyển biến theo Ý Tưởng. Từ vô tướng hữu vi chuyển thành hữu tướng hữu vi, từ vô sắc chuyển thành hữu sắc.

Nói tóm lại ý tưởng Khai Hóa Tổ Tiên Chân Tánh vũ trụ khởi niệm sanh ra. Huân tập, Thể Lực – Thể Hơi – Thể Lỏng – Thể Đặc Thể Lửa vũ trụ. Ngũ Đại, phát động bộ máy huyền vi vũ trụ đi vào tuần hoàn. Hình thành lên vô số định luật. Gọi đó là Thiên Luật, Thiên Ý Cha Trời. Thì thế giới hữu vi, hữu tướng, hữu Tánh hình thành theo Thiên Ý ra đời. Cho đến khi Chân Tánh vũ trụ thanh tịnh. Không một niệm khởi tưởng. Thức Tánh không có. Duy thức không thành lập. Thì thế giới vũ trụ tan hoại trở về không. Vật Chất hữu thể trở về vô tướng. Chân Tánh Vũ Trụ vô tánh, vô tướng, vô pháp. Vô Tánh, Vô Tướng, Vô Pháp chính là Thật Tánh, Thật Tướng, Diệu pháp Cội Nguồn vũ trụ. Vật Chất vô tướng vô sắc chính là thật tướng thật sắc  của Vật Chất. Vô Tướng Vô Sắc.

*********

Hết phần 5 chương 13 mời xem tiếp phần 1 chương 14 Long Hoa Mật Tạng Kinh.

 

 ********

CHƯƠNG 14

PHẦN 1

ĐỊNH LUẬT

Nơi Pháp Hội Long Vân trên hư không bốn phương tám hướng lại phát ra tiếng nói:

   Chân Tánh sanh ra Thức Tánh ví như Nước sanh ra Bọt Nước. Cũng giống như Thần Lực vũ trụ, bị khuấy động, chuyển thành Điện Lực vũ trụ. Rồi từ Điện Lực vũ trụ tan biến trở về Thần Lực Vũ Trụ. Cũng như Nước sanh ra Bọt Nước rồi Bọt Nước tan biến trở về là Nước. Tuy Diện Lực khác với Thần Lực nhưng cùng một bản thể. Vì điện lực từ Thần Lực bị khuấy động sanh ra. Điện lực không bao giờ mất đi mà chỉ tan biến trở về Thần Lực vũ trụ.

   Chân Tánh Khai Hóa Tổ Tiên ví như Nước. Thức Tánh Linh Hồn Nhân Loại ví như Bọt Nước tuy khác nhau. Nhưng đồng cùng Bản Thể là Nước. Hay đồng cùng Chân Tánh Vũ Trụ cũng vậy. Nguồn Cội Thức Tánh của mỗi Linh Hồn là Vô Tánh. Thật Tướng của mỗi Linh Hồn là Vô tướng. Thế giới Hữu tướng hữu sắc là do Chân Tánh Linh Giác vũ trụ tạo ra. Căn cội Chân Tánh sanh ra Thức Tánh là do Tánh thấy nghe hay biết tự nhiên của Chân Tánh, khởi tưởng sanh ra, niệm tưởng phân biệt tạo ra Tánh Thức hiểu biết. Thức Tánh Hiểu Biết Chính Là Căn Thân Huệ mạng Linh Hồn. Sự Sống Của Linh Hồn. Làm chủ Chân Tâm Chân Tánh thì làm chủ được Thần Thực. Một khi Thần Lực bị chuyển động liền khởi sanh điện lực. Ở trong con người gọi là Điển Lực. Ở ngoài con người gọi là Điện Lực. Những Linh Hồn có Kim Thân thì Điển Lực rất mạnh. Những Linh Hồn chỉ có Khí Thân thời điển lực rất yếu. Thần Lực vũ trụ không phải là Thần Thức nên không làm chủ được mình. Bị lôi kéo tác động bởi Thần Thức Linh Hồn con người. Bị lôi kéo tác động bởi lực Nam Châm. Thần Lực vũ trụ chuyển thành Điện Lực vũ trụ. Thần Lực con người chuyển thành điển quang con người. Khi Điện Lực vũ trụ thoát khỏi sự lôi kéo của thế lực tác Động, thì Điện Lực vũ trụ trở về bản nguyên Thần Lực vũ trụ ngay. Điển quang con người cũng thế.

   Chân Tánh không có nghiệp. Nên không có sanh tử luân hồi. Thức Tánh vì chấp mê nên có nghiệp kết tập sanh tử luân hồi. Chuyển sang từ sự sống nầy qua sự sống khác. Đã gieo nhân gì thì kết quả nấy, vô vi nhân quả kết tập, thì hữu vi nhân quả hình thành. Nhân nào quả nấy. Dù cho hưởng phước. Dù cho đại họa. Dù ở Thiên Đàng hay ở Địa Ngục. Dù có pháp thuật thần thông không thể nghĩ bàn. Người bình thường. Kẻ ốm đau bệnh tật. Chân Tánh vẫn là Chân Tánh không hề thay đổi, trước sao sau vậy, siêu vô vi, bất tử trường tồn. Như Ta đây chẳng hạn. Thể xác tứ Đại đã phân hóa vào hư không. Nhưng Linh giác Chân Tánh của ta không hề thay đổi. Khi nào ta muốn hiện nguyên hình thì thân tướng Tiểu Thiên vũ trụ thể xác con người sẽ hiện ra. Làm chủ sanh diệt thì coi như đã vào ngôi vị Tạo Hóa Chí Tôn. Thừa hành Di Chí Tổ Tiên chuyển Đại pháp Luân Đại Đồng Bình Đẳng vũ trụ. Mở ra chu kỳ mới chu kỳ Long Hoa Đại Đạo vũ trụ.

Các Thiên Thần Thánh Chúng nghe Chí Tôn Thái Tử khai thị tri kiến. Liền giác ngộ hội nhập Cội Nguồn. Hiểu rõ thế nào là Chân Tánh. Hiểu rõ thế nào là Thức Tánh. Hiểu rõ thế nào là làm chủ thấy nghe hay biết. Thế nào là khởi tâm phân biệt chấp trước. Cái thấy nghe hay biết phân biệt của Thức Tánh là cái thấy nghe hay biết hữu hạn. Còn thấy nghe hay biết. Không khởi tâm phân biệt của Chân Tánh. Thấy nghe hay biết tự nhiên là sự thấy nghe hay biết vô hạn. Cái thấy nghe hay biết toàn năng toàn giác, thấy biết toàn vũ trụ.

Các Thiên Thần Thánh Chúng hội ngộ Chân Tánh Cội Nguồn. Thấy rõ pháp Thân Chân Tánh Tổ Tiên Như Lai. Rộng lớn như hư không vô tận vô biên chỗ nào cũng có.  Dù ở trên Thiên Đàng hay ở chốn nhân gian. Cũng như ở Địa Ngục. Sự sống cũng như sự chết đều ở trong lòng Đại Linh Hồn vũ trụ Chân Tánh của Tổ Tiên. Ví như các loài Cá sống trong lòng Đại Dương. Chết cũng ở trong lòng Đại Dương. Cho nên Cá làm gì Cá nghĩ gì. Cá chết Cá luân hồi vào chốn nào. Đại Dương Nước đều nghe thấy rõ cả. Chỉ cần Cá nghĩ đến Nước. Kính mến Nước. Cầu nguyện Nước gia hộ. Thì Nước sẽ bao bọc, che chở cho Cá. Chỉ đường khai tâm mở trí cho Cá. Thì những con Cá khôn ấy có chỗ nương tựa vững vàng. Có thể nói là muốn chi được nấy. Cầu chi đặng nấy.

Các Thiên Thần Thánh Chúng Đồng thuyết kệ rằng:

Tổ Tiên Giàu Nhất

Tổ Tiên Quyền lực

Tổ Tiên là Nước

Chúng con là Cá

Cá Cầu giàu có

Tổ Tiên Liền cho

Cá Cầu ấm no

Tổ Tiên ban phát

Cá Cầu Huệ pháp

Liền được khai thông

Cá Cầu Phật Tiên

Liền được như ý

Cá Cầu Chánh lý

Tổ Tiên ban hành

Cá Cầu sự lành

Tổ Tiên ban phúc

Cây Không mất gốc

Cây mãi xanh tươi

Con còn có Cha

Hết lo khốn khó

Tổ Tiên khắp chốn

Tổ Tiên Linh Thiêng

Tổ Tiên Quyền Năng

Cầu Chi được nấy

Chúng Con đã nghe

Chúng con đã thấy

Tột cùng vị lai

Tất cả hiện rõ.

Lúc bấy giờ từ nơi hư không. Đức Chí Tôn Thái Tử nương vào Thần Lực của Đức Cha Trời chuyển Đại pháp Luân làm cho Chúng Hội. Thiên Thần Thánh Chúng thấy vô tận vô biên số kiếp của mình trôi lăn luân hồi khắp nẻo. Cũng nhìn thấy gần cuối tiểu kiếp nhân loại kết thúc bởi đại họa. Động Đất. Mưa to gió lớn. Chôn vùi nhà cửa, lầu Đài phố xá. Nhiệt độ nóng lạnh tăng cao hạ thấp, hủy diệt sự sống Động Thực vật. Mực nước biển dâng cao ngập chìm các Đồng Bằng châu lục. Nhân Loại còn lại một số ít người sống sót. Chuyển qua tiểu kiếp mới. Trở thành người nguyên thủy. Hồng Hoang Bàng Cổ sơ khai. Lại cũng nhìn thấy rõ. Trái Đất sanh ra Trái Đất hủy diệt. Những Linh Hồn có Đạo có Đức sanh về Trời. Những Linh Hồn vô Đạo vô Đức thì luân chuyển vào không gian lơ lửng tối tăm mù mịt. Chờ cho Quả Địa Cầu hình thành trở lại. Sau bốn tiểu kiếp, 70 triệu năm đầu thai vào loài Thú Cầm. Bò Sát. Chờ cho loài người ra đời mới được đầu thai làm người trở lại để tu luyện tiến hóa Linh hồn. Lại cũng nhìn thấy rõ vũ trụ hình thành, vũ trụ hủy diệt, vô lượng vô biên. Phật Thánh Tiên. Hội nhập Cội Nguồn vào pháp Thân Đại Đồng Bình Đẳng. Lại cũng thấy rõ Phật Thánh Tiên từ nơi quá khứ Cội Nguồn Chân Tánh vũ trụ hiện ra. Lên ngôi Chí Tôn giáo hóa Thiên Chúng mở cửa Chân Tánh. Đón nhận nhân loại Chư Thiên trở về Cội Nguồn.

Chúng Hội Long Vân. Chư Thiên Thần Thánh nhờ nương theo thần lực của Đức Cha Trời. Nương theo huệ lực của Đức Chí Tôn Thái Tử. Hội Ngộ Cội Nguồn Đại Đạo vũ trụ, khai mở Thiên Nhãn, Huệ Nhãn, Pháp Nhãn rốt ráo. Lúc bấy giờ nơi pháp hội Long Vân, chúng hội đồng loạt Hiển Thánh, Hiển Phật, Hiển Tiên.

Các Thiên Thần Thánh Chúng Đồng phóng ra vô lượng hào quang thuyết nói kệ rằng:

Chí Tôn Con Trời

Chí Tôn Cứu Thế

Chí Tôn Khai Hóa

Mở cửa Cội Nguồn

Mở cửa Thiên Đàng

Lấp đường Địa Ngục

Giải trừ Mê Muội

Lấp đường Ngạ Quỉ

Giải trừ tội lỗi

Lấp đường súc sanh

Giải trừ ác căn

Làm cho thế gian

Sáng bừng Chân Lý

Đời Đạo Thuần Tuý

Một Cội một Nguồn

Chủ Nghĩa Đại Đồng

Mở ra tại thế

Sống đời thực tế

Nhân Quyền tự do

Sống đời ấm no

Sống theo Công Lý

Nhân Loại Thành Thánh

Nhân Loại Thành Tiên

Tam giáo quy nguyên

Đâu đâu cũng Phật

Thế Thiên Hành Đạo

Đâu đâu cũng Chúa

Nhân Loại Nhân Thế

Khai tâm Khai huệ

Đồng thệ đồng nguyện

Khai trí Khai Đức

Chí Tôn bậc nhất

Cứu khổ thế Nhân

Chí Tôn Thiên Đức

Chí Tôn Thiên Ân

Chí Tôn là Cha

Chí Tôn là Thầy

Với công ơn nầy

Không đền đáp nổi.

Thiên Thần Thánh Chúng Đồng phóng quang thuyết kệ xong. Đồng bay lên không trung hóa ra vô số vô biên Châu báu ngọc ngà cúng dường Đức Chí Tôn. Rồi biến mất nơi không trung.

Nói về nơi Hội Trường Long Vân có hơn 2 vạn người. Tới đây dự hội không có ý tốt. Nhưng giờ đây ai nấy như đều trải qua một cơn mê, lạc lối. Lâu nay sống trong cảnh u tối, gieo bao tội ác, hại người hại mình, sống mất Bình Đẳng, sống độc tài tàn bạo, sống theo dục vọng đê hèn, sống như loài chùm gởi. Đeo bám vào sức sống yếu ớt của Dân, sống như cây mất gốc, sống như sống mất Nguồn, sống theo trào lưu vô thường của tạo hóa, sống trong chiến tranh, binh đao máu lửa thù hận. Chìm đắm trong Địa Ngục. Mà cứ ngỡ đó là Thiên Đàng. Nay chúng tôi mới hiểu thế nào. Lưới Trời lồng lộng nhưng mảy lông cũng không lọt. Hư không vũ trụ chính là pháp tướng Chân pháp của Trời. Một Niệm khởi nghĩ thì trời đã hay đã biết. Nay chúng tôi không dám nghĩ quấy nữa mà thành tâm quy hướng Cội Nguồn.

Trên không trung lại phát ra tiếng nói:

   ÁC và THIỆN. Là do Chân Tánh tạo ra. Chân Tánh là chủ nhân của Ác và Thiện. Chân Tánh ngả về Thiện, thì phước lành sanh ra khắp nơi khắp chốn. Chân Tánh ngả về Ác, thì Đại họa sanh ra khắp lối khắp nơi. Làm chủ Chân Tánh là làm chủ cả họa lẫn phúc. Không còn Đọa Lạc vào sanh tử nữa. Làm chủ Chân Tánh là làm chủ vận mệnh của mình. Cả vô vi lẫn hữu vi, muốn không là không, muốn có là có. Tất cả đều ứng theo Chân Tánh của mình, vô lượng kiếp ác đại họa. Chuyển thành phước Đức hết thảy. Làm chủ Chân Tánh, không ngả theo ác tánh thức tánh nữa. Thời ác căn lần lần bị hủy diệt, không còn tồn tại trong Chân Tánh của mình. Linh Căn Chân Tánh Viên Ngọc như ý chân tâm của mỗi con người nhờ hành thiện phát ra vô lượng ánh sáng minh quang làm thanh tịnh thế giới vũ trụ. Thế giới Đại Đồng Bình Đẳng.

Thái Tử nói xong thời hiện nguyên hình. Ngồi trên tòa vô cực Châu Báu. Có Ngũ Long Ngũ Phụng Rồng Tiên bao bọc xung quanh. Chúng Hội Long Vân lúc này Thiện căn đã lớn, phần đông đã hội nhập Cội Nguồn. Có người đã khai mở Thiên Nhãn, Huệ Nhãn, Pháp Nhãn. Thành tựu phước Đức không thể nghĩ bàn. Có người đã làm chủ Chân Tánh, làm chủ Thần Lực, làm chủ Chân Khí Thần Thông pháp thuật vô biên.

*********

Hết phần 1 chương 14 mời xem tiếp phần 2 chương 14 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Sự hiển linh Long Hoa Mật Tạng không thể nghĩ bàn, chỉ cần đọc tụng một chương một phần, một câu một chữ thì cũng đã giải trừ vô số tai họa. Huống chi là đọc trọn bộ kinh nghiền ngẫm, suy ngẫm sự vi diệu trong kinh. Thì những người nầy chính là Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa sanh xuống chốn nhân gian cứu khổ nhân loại anh em lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn.

Quốc Tổ anh linh dậy khắp cùng

Chỉ cần một niệm hiểu Kinh Luân

Cũng được siêu lên trời hưởng phước

Huống chi truyền bá cứu thế nhân

Lập công khai mở đời Thánh Đức

Việt Nam tỏa sáng ức muôn năm

Con cháu Tiên Rồng rền thế giới

Cội Nguồn sống dậy hết tối tăm.

*********

CHƯƠNG 14

PHẦN 2

SỰ SỐNG CHẾT CỦA THỂ XÁC

CŨNG CHỈ LÀ LỚP ÁO DA (TỨ ĐẠI)

LINH HỒN MẶC RA MẶC VÀO MÀ THÔI

Thái Tử dùng pháp Nhãn thấy chúng hội đã chứng được sơ quả Văn Hóa Cội Nguồn, khởi đầu bước vào Thiên Đạo vũ trụ Thiên Ý Cha Trời, Thiên Luật vũ trụ, tiến về Chủ Nghĩa Đại Đồng. Nên thuyết giáo dạy rằng, sở dĩ Nhân Loại, nhân gian lạc mất Cội Nguồn. Nên không được Đức Cha Trời Chiếu Cố. Lạc loài bơ vơ trong sanh tử luân hồi. Chịu không biết bao nhiêu là thống khổ. Sự sống chết của thể xác. Cũng như chiếc áo mặc vào cởi ra của Linh Hồn. Áo Địa Ngục. Áo Súc Sanh. Áo Ngạ Quỉ. Linh Hồn mặc vào cởi ra là chuyện thường tình trong luân hồi sanh tử. Nếu làm chủ Chân Tánh, thì sanh tử cũng chỉ là chuyện thường tình chẳng có gì là lạ. Những chiếc áo Da. Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh ấy. Cũng chỉ là trò ảo thuật của Duy Thức sanh tử nhân quả luân hồi mà thôi. Làm chủ Chân Tánh là làm chủ cả sanh lẫn tử, tự nhiên tự tại, vô lượng thọ không còn cái thọ nào hơn nữa. Làm chủ Chân Tâm Chân Tánh là làm chủ pháp thuật Thần Thông. Quyền năng vô hạn. Quyền lực vô biên, không thể suy nghĩ, luận bàn cho hết được.

Thái Tử nói xong liền thị hiện Thần Thông pháp thuật cho chúng hội xem. Thái Tử biến hóa ra hàng nghìn hàng vạn Thái Tử. Rồi từ mỗi Thái Tử biến hóa ra hằng hà sa số Phật Thánh Tiên Thần Chúa. Thánh cởi Rồng, Phật ngồi tòa Sen, Tiên ngồi tòa Thái Cực, Thần cởi Hổ, Chúa cởi Mây rợp cả bầu trời. Chúng hội Long Vân lại một phen nữa chứng kiến cảnh Thần Thông pháp thuật hội nhập Cội Nguồn làm chủ Chân tâm Chân Tánh, hòa nhập vào Thiên Đạo Đại Đồng Bình Đẳng vũ trụ. Một loại thần thông mà chúng hội chưa từng nghe chưa từng thấy bao giờ. Nay chứng kiến cảnh pháp thuật thần thông do Chân Tâm, Chân Tánh biến hiện.

Toàn thể Long Vân Đại Hội hướng về Chí Tôn Thái Tử thưa rằng:

   Chúng tôi đã tin và cũng sơ ngộ về Chân Tánh Cội Nguồn Đại Đạo vũ trụ. Xin Đức Chí Tôn mở lượng từ bi truyền dạy Văn Hóa Cội Nguồn. Thiên Đạo vũ trụ cho chúng hội nghe. Cũng như Thiên Ý Cha Trời, Thiên Luật Vũ Trụ chủ Nghĩa Đại Đồng cho chúng tôi hành theo, làm theo gìn giữ tôn thờ.

Chí Tôn Thái Tử khen:

   Các ông xứng đáng là con Hồng Cháu Lạc con dân vũ trụ. Giữ gìn truyền thống ông Cha. Thừa kế những gì Tổ Tiên tạo lập lên vũ trụ. Sự Hiện Thân Khai Hóa Tổ Tiên, hiện thân ra Đức Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Sanh con đẻ cái lưu truyền nòi giống con người đến bây giờ. Nhân Loại những người con, người cháu hướng về Cội Nguồn sẽ được Tổ Tiên Cha Trời, Địa Mẫu chấp nhận. Ban cho trí huệ, phước Đức không thể nghĩ bàn. Từ đây vô lượng kiếp sau. Các ông sẽ là Vua là Chúa, làm Vua làm chúa khắp các tầng Trời, giáo hóa vô lượng vô biên Thiên Chúng, vào ngôi Chánh Đẳng Chánh giác.

Thái Tử nói xong thì từ trên đỉnh đầu Thái Tử phóng lên không trung ba đạo hào quang chiếu xuống Đỉnh Đầu Chúng Hội Long Vân. Lấy Tâm Truyền Tâm, Lấy Ý Truyền Ý, Lấy Khẩu Truyền Khẩu. Thiên Ấn ra đời Ấn chứng chúng Hội sẽ làm Vua làm Chúa khắp tầng Trời.

Những học sĩ Duy vật biện chứng. Lâu nay tôn thờ khoa học Luận Chứng. Nhưng không dám tin vào đôi tai, đôi mắt của mình, mơ hay là tỉnh cũng không rõ. Các học sĩ Duy Vật tự kiểm soát lại thần trí của mình. Thì thấy mình vẩn minh mẫn sáng suốt. Liền nghĩ:

   Thật ra Thái Tử là ai? Từ đâu đến?

Dù biết rằng Thái Tử chính là con của Quốc Vương. Kinh Dương Vương.

Thái Tử biết ý nghĩ các Học sĩ giáo phái Duy vật. Liền hỏi:

   Nầy các học sĩ các ông muốn tìm hiểu lý lịch của ta chớ gì?

Các Học sĩ các giáo phái Duy Vật biện chứng khiếp hồn khiếp vía vì Thái Tử hiểu rõ tâm ý của Họ, Phái Duy Vật lấy lại sự bình tỉnh rồi đồng thưa rằng:

   Thưa Chí Tôn Điện Hạ quả đúng như vậy, chúng tôi muốn biết Tiền Thân, Chí Tôn điện hạ Thái Tử từ đâu sanh đến nhân gian.

Lời thỉnh cầu của các Học sĩ Duy Vật Biện Chứng xong. Nhưng chưa hết khiếp sợ. Vì những ý nghĩ ở trong đầu chưa nói ra, Thái Tử đã nghe thấy hiểu rõ quả thật đáng sợ Quả thật là Đấng Đại trí, Đại giác, Đại Linh Thiên ra đời.

*********

Hết phần 2 chương 14 mời xem tiếp phần 3 chương 14 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Chúng ta xem tới đây mới thấy thế nào là Thần Thông trí tuệ. Thế nào là làm chủ Chân tâm Chân Tánh. Thế nào là hội nhập Cội Nguồn. Thế nào là đồng hóa Tiểu Thiên Vũ Trụ hiệp vào Đại Thiên Vũ trụ. Thế nào là Kim Thân nhị xác thân con người. Thế nào là biến sức mạnh con người thành sức mạnh vũ trụ. Một khi Thần Lực con người hiệp với Thần Lực Vũ Trụ. Thì trở thành Thần Thông vô hạn không thể nghĩ bàn. Long Hoa Mật Tạng Kinh, là bộ kinh tối mật vũ trụ, quý hiếm không có sự quý hiếm nào bằng. Chỉ cần hiểu thấu một phần một chương, coi như không còn sa đọa nơi địa phủ. Rốt sau đều thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

*********

CHƯƠNG 14

PHẦN 3

TIỀN THÂN THÁI TỬ HÙNG LAN

Thái Tử liền nói:

   Nầy Chúng Hội Long Vân cũng như các Học sĩ trường phái Duy Vật. Tiền Thân của ta là Đức Giáo Tổ Chí Tôn Thiên Đế. Con lớn của Đức Cha Trời. Long Hoa Cửu Huyền. Lạc Long Quân và Mẹ Trời Đức Địa Mẫu Âu Cơ. Kim Thân ta hiện giờ đang ở tại Ngũ Đài Bảo tháp nơi cung Long Vân. Tầng Trời thứ 18 tính từ Hạ Thiên tầng trời thứ 1 Trời Tứ Thiên Vương trở lên đến cõi Thiên Vân Phước Quả. Nếu tính từ các tầng trời Trung Thiên Giới bắt đầu từ cõi trời Phạm Chúng trở lên thì cõi Thiên Vân Phước Quả là tầng trời thứ 11 Cung Long Vân. Là cung làm theo Thiên Ý Cha Trời. Trung tâm điều hành vũ trụ, làm theo Thiên Luật Vũ Trụ Thiên ý của Đức Cha Trời.

   Nơi chốn nhân gian tiểu kiếp thứ 9 sắp hết. Chỉ còn mười nghìn năm nữa là kết thúc tiểu kiếp thứ 9. Chuyển sang tiểu kiếp thứ 10. Nhân Loại càng về gần cuối tiểu kiếp càng đi vào cảnh diệt vong. Không những chiến tranh loạn lạc. Mà còn bởi Đất – Nước – Gió – Lửa chuyển đổi giai đoạn cuối, lập lại tiểu kiếp mới. Nên Nhân Loại đi vào kiếp nạn diệt vong càng về cuối tiểu kiếp càng mạnh. Bởi cảnh Động Đất, Nước dâng, Bão to, Mưa Lớn, Ôn Tai Dịch Họa. Nhiệt độ tăng cao, hạ thấp đến nổi hủy diệt lần sự sống, Động, Thực vật. Trong đó có Nhân Loại con người. Sự sống thân xác con người lần lần bị hủy diệt hàng loạt. Nhưng Linh Hồn nhân loại sẽ về đâu?

   Không lẽ sa đọa hết xuống Địa Ngục Âm Phủ, chịu cảnh khốn khổ hàng triệu triệu năm hoặc sanh vào loài Quỉ dữ, súc sanh. Nên ta vâng lệnh Đức Cha Trời. Đầu thai xuống trần làm con của Kinh Dương Vương, phá vỡ màn u minh trở thành Đấng Cứu thế. Như các ông đã thấy. Vì đã sanh vào bụng Mẹ, mang lấy xác thân phàm tục và ta cũng như các ông quên hết kiếp trước của mình, sống theo kiếp sống trần gian. Cứ tưởng là cuộc sống mới bắt đầu nhưng nào phải thế. Vì sự sống của mỗi Linh Hồn là vô tận. Để tìm hiểu về sự sống của Linh Hồn ta phải gạt bỏ tất cả làm lại từ đầu. Và quyết tâm tìm ra sự thật bí Mật của vũ trụ. Sự sống sanh ra ở đời ai cũng như ai không biết mình là ai từ đâu đến. Thậm Chí có những trường phái, như trường phái Duy Vật Biện Chứng thì càng mù mờ về Linh Căn Linh Hồn của chính mình. Như các ông lúc nào cũng mơ mơ hồ hồ cho rằng chết là hết, đây là sự sai lầm lớn. Theo Thiên Luật gieo nhân ác để rồi Linh Hồn nhận lấy quả báo Địa Ngục. Ngạ Quỉ, Súc Sanh thọ cảm trôi lăng sanh tử không biết bao nhiêu là quả khổ?

   Không có ai gieo nhân Ác mà gặt quả Lành. Những người gieo Ác mà còn gặt những sự lành. Là nhờ nhân lành Ông Bà Cha Mẹ gieo ra. Cũng như kiếp trước có gieo phúc lành kiếp nầy thọ hưởng gặt hái. Nhưng sự ở đời phúc lành hưởng mãi cũng hết, thì quả báo ập đến, có ăn năng cũng không còn kịp.

   Trải Qua 6 năm gian khổ tu luyện phá vỡ vô minh. Hiển Lộ Chân Tánh, trở về ngôi vị cũ. Thực hiện theo di Chí của Đức Cha Trời. Mở ra Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ. Chủ Nghĩa Đại Đồng. Đưa Nhân Loại qua sông Mê đến bờ giác. Chủ Nghĩa Đại Đồng là con đường Đại Đạo vũ trụ, là nhịp cầu nối liền từ Địa Ngục trần gian đến các cõi Thiên Đàng. Hội nhập Cội Nguồn đến với Đấng Cha Ông.

Để chứng minh tiền Thân của mình. Thái Tử từ nơi Đỉnh Đầu phóng một Đạo hào quang xuyên suốt không gian vũ trụ, chiếu đến cõi Trời Thiên Vân. Hào Quang bổng trở nên trong suốt, thu nhiếp toàn cõi Thiên Vân, hiện ra trước mắt Chúng Hội. Chúng Hội nhìn thấy cõi Thiên Vân thì không khỏi sững sốt. Vì Đất Đai cõi Thiên Vân không những bằng phẳng mà toàn là vàng Ngọc Châu báu, Hào quang rực rỡ. Cây Báu, Đường Sá, Ao Hồ, Lầu Đài, Cung Điện nguy nga tráng lệ. Cấu trúc toàn là Kim Cương ngọc ngà, trân châu, vàng, bạc, san hô, pha lê xây cất hiện đại cổ kính trang nghiêm, hoa văn lộng lẫy Hơn hẳn trần gian gấp vạn nghìn lần. Chư Thiên, Thiên Tiên. Sống trên Vàng Ngọc Châu Báu. Như nhân loại trần gian sống trên Đất Đá. Nhân Loại Chư Thiên sống trên sự giàu có. Muốn gì có nấy không như chốn trần gian. Chúng Hội Long Vân thấy Thiên Chúng sống trên sự giàu có, sống trên Vàng Ngọc Châu Báu cũng là sự bình thường. Cũng như con người trần gian sống trên mặt đất. Cái quý của Thiên Chúng chính là Đạo Đức cũng như Trí Huệ. Các bậc có đức cao, trí huệ lớn đều là những bậc Phật Tổ Tổ Tổ, Thánh Tổ Tổ Tổ, Tiên Tổ Tổ Tổ. Chư Thiên sống trong hạnh phúc. Hòa Bình. Độc Lập. Tự Do. Tôn trọng lẫn nhau. Quyền Độc Lập tự chủ. Quyền tự do ngôn luận. Quyền Bình Đẳng xã hội. Quyền mưu cầu hạnh phúc. Quyền sống Nhân Quyền. Được bảo vệ tôn trọng tuyệt đối. Tiên hiểu Lễ, Hậu hiểu Văn. Được coi như là lẽ sống nhân cách của xã hội Tiên Thiên. Khoa học sáng kiến nghệ thuật, vận dụng. Bảo Bối được đưa lên hàng đầu công lao gốp phần cho các ngày lễ hội. Dâng cúng Tổ Tiên, Cha Trời.

Chúng Hội như được thấy Chân Lý lẽ sống tột đỉnh của Nhân Loại con người. Lẽ sống tột đỉnh Thiên Đàng Cực Lạc Quốc. Những điều Chúng hội hết sức chú ý ở đây. Vua Trời, Dân Trời Chư Thiên cùng sống chung trong Hiến Pháp Đại Đồng Bình Đẳng. Quyền Độc Lập tự chủ. Quyền tự do Ngôn Luận. Quyền Bình Đẳng xã hội. Quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc. Quyền Tự Nguyện. Quyền sở hữu trí tuệ. Sở hữu khoa học. Sở hữu thừa kế. Quyền sống Nhân Quyền. Được vua Trời, tướng Trời, Quan Trời bảo vệ tuyệt đối. Quyền Con Người ở trần gian gọi là Nhân Quyền. Ở Thiên Đàng gọi là Thiên Quyền. Nhân Quyền Thiên Quyền cũng chỉ là một mà thôi cũng như phần Gốc và phần Ngọn. Hiến pháp Nhân Quyền, Thiên Quyền là Hiến Tạng tối cao vũ trụ. Hiến Tạng Đại Đồng Bình Đẳng. Hiến Tạng Thiên ý của Đức Cha Trời Thiên Luật Vũ Trụ, VÀ CHỈ CÓ THIÊN Ý CỦA ĐỨC CHA TRỜI, THIÊN LUẬT VŨ TRỤ mới là Hiến Tạng tối cao vũ trụ. Được Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa gìn giữ. Tôn thờ mãi mãi. Hiến Tạng Công Bằng văn minh, Cực Lạc.

Tất cả Nhân Loại Chư Thiên, Trần gian phàm tục, đều là Con Cái của Đức Cha Tời lưu truyền nòi giống cho đến ngày nay. Đời sống của Phật, Thánh, Tiên,Thần, Chúa là đời sống không lạc Cội lạc Nguồn. Vì thế Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa luôn ở cảnh giới bất tử, tự do, tự tại an vui. Làm chủ Chân Tánh, làm chủ vũ trụ. Còn Nhân loại Nhân gian phàm trần, lạc mất Cội Nguồn, lại không làm chủ được Chân tâm Chân Tánh. Trôi lăn theo dục vọng nghiệp lực theo guồng máy sanh tử, gieo giống nào trổ quả nấy, nên thường qua lại trong Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, hết sức là thống khổ.

Chúng Hội nương theo Thần Lực Thái Tử, tai nghe, mắt thấy, đời sống Xã Hội Thiên Đàng Cực Lạc. Nhân Quyền được tôn trọng rốt ráo như vậy. Thì ai cũng là Vua là Chúa, tranh nhau nữa để mà làm gì. Vàng, Bạc, Ngọc Ngà Kim Cương, Châu Báu thì thiếu chi không khác gì đất đá, cát, bùn, nơi chốn nhân gia.

Còn ở nhân gian thời khác hẳn, tranh nhau Vàng, Bạc, Ngọc Ngà Châu Báu. Lại quá lạc hậu về ý thức cuộc sống, về nhận thức Quyền Con Người, cũng như về khoa học Vật Chất, nhân cách đối xử, ứng xử. Có thể nói cuộc sống con người trần gian tuy làm người nhưng chưa qua khỏi lớp Thú Cầm. Chỉ biết hơn thua, đấu đá, sát phạt lẫn nhau. Còn tệ hại hơn nữa sinh ra bao thói hư tật xấu. Buôn Thần bán Thánh. Lạm xưng độc tôn, độc trị. Chà đạp Quyền Thiêng Liêng mà Tổ Tiên, Cha Trời đã ban tặng cho mỗi con người. Mà còn thậm tệ hơn nữa. Dùng bạo lực đàn áp Quyền Con Người. Những quyền thiêng liêng nhất. Quyền Độc Lập, Quyền Tự Do, Quyền Bình Đẳng, Quyền Mưu cầu hạnh phúc, Quyền sống, nói chung là những căn bản Quyền Con Người Nhân Quyền.

Chúng Hội Long Vân so sánh xã hội trần gian, xã hội Thiên Đàng Cực Lạc Quốc. Trình độ Dân trí cách nhau quá xa. Không những trình độ dân trí còn quá lạc hậu mà ngay cả guồng máy nhà Nước cũng lạc hậu đồi trị không kém. Chẳng khác con thú nầy lừa con thú kia vào kế bẫy để rồi quật ngã ăn thịt mà thôi. Được là Vua thua là Giặc. Giặc với Vua chẳng qua cũng chỉ là một thứ. Trò hề tuồng đời với nhau mà thôi. Làm gì có Công Lý. Làm gì có Nhân Quyền. Làm gì có Công Bằng xã hội. Khi nhân loại trần gian ở vào giai đoạn hiện nay. Chỉ là Phong Kiến Thần Giáo Độc tài Độc Trị. Phong kiến Vua Chúa Độc tài Độc Trị. Có lẽ nhân loại trần gian trải qua một thời gian lâu xa nữa hàng nghìn nghìn năm khi ấy Hiến Pháp Nhân Quyền mới ra đời. Luật Pháp Nhân Quyền đi vào cuộc sống. Công lý Bình Đẳng văn minh xã hội được thực hiện. Còn Nhân Loại con người hiện nay trình độ dân trí còn quá thấp. Thiên Đạo Cội Nguồn vũ trụ chưa ra đời thời Nhân loại biết đâu mà đi.

Chúng Hội Long Vân ngán ngẫm cho sự thế. Nhưng rồi bừng lên niềm hi vọng, phải rồi Chí Tôn Thái Tử, sẽ lập lên cõi Nước như vậy và chúng tôi sẽ là công dân cõi Nước ấy. Khi chúng hội nghĩ như thế. Tức thời cõi Thiên Vân biến mất. Hiện ra cõi Nước Văn Lang. Có Đức Vua Hùng Ngự trị cảnh sống chẳng khác gì Thiên Đàng Cực Lạc. Hiến pháp là Vua. Luật pháp là Thầy. Công Lý Bình Đẳng xã hội là lẽ sống an lạc của Xã Hội Văn Lang. Vua Hùng chỉ là Đại Diện tối cao cho sự trung thành. Bảo vệ Hiến Pháp. Luật Pháp. Đạo pháp Công lý Bình Đẳng xã hội Văn Lang mà thôi. Chúng Hội Long Vân ngập tràn niềm vui và cũng đã thấy rõ. Cửa Thiên Đàng chính là cõi nước Văn Lang. Chúng Hội thấy mình đang lột xác thật sự, từ ác chuyển sang thiện, từ mê chuyển sang ngộ, từ phàm phu chuyển lên Thần Thánh Phật Tiên. Cánh cửa Cội Nguồn đã mở. Chúng hội đã đi trên con đường an lạc tâm hồn an lạc cuộc sống.

Khi ấy nơi Long Vân Hội có ba vị Đạo Tổ của nhiều giáo phái Thần giáo, Thiền giáo, Tài cao học rộng pháp thuật Thần Thông thuộc hàng bật nhất đương thời. Pháp hiệu là Cao Tằng, Cao Tổ, Cao Tông. Ba vị Đạo Tổ Nương theo Thần Thông trí Huệ Chí Tôn Thấy Tánh thành Phật Hiển Thánh tại chỗ. Hào Quang trí tuệ rực rỡ. Muốn lập Công Đức trong Văn Hóa Cội Nguồn. Thiên Đạo vũ trụ. Liền chấp tay hướng về Chí Tôn Thái Tử thưa rằng:

   Bần Đạo hôm nay mới xóa sạch sự mê chấp về Duy Thức, sự chấp trước về danh từ, ngôn từ. Cũng Như hiểu rõ Sanh Tử luân hồi. Tu hành lạc vào Ngoại Đạo. Muốn thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Mà Tâm Ý hướng ngoại tìm cầu bên ngoài, dù tu vô lượng kiếp cũng không thể nào thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa được nói gì đến làm chủ Chân Tâm Chân Tánh lên ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác. Muốn thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Thời phải hướng về nội tâm, hiểu rõ lương tâm, làm chủ Tâm Viên Ý Mã, thu nhiếp Tánh Thức tận độ nhân loại hội nhập Cội Nguồn. Mới mau vào ngôi vị Thế Tôn, Chí Tôn. Nên Bần Đạo chúng tôi đã hội đủ Đức Tin vào ngôi Chánh giác Chánh Đức.

1:  Là tin có Đức Khai Hóa Tổ Tiên Đấng tối cao. Đấng lập lên vũ trụ. Hiện thân ra Đức Cha Trời. Long Hoa Cửu Huyền. Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Sinh con đẻ cái lưu truyền nòi giống cho đến ngày nay.

2:  Là tin Đức Chí Tôn Thái Tử. Là Đức Giáo Tổ, Thiên Giáo, con lớn của Đức Cha Trời. Đức Địa Mẫu Âu Cở xuống trần chuyển Đại pháp Luân. Mở cửa Cội Nguồn, hiển lộ Chân Tâm Chân Tánh. Cho chúng hội, hội nhập, giải thoát ngu si mê muội, giải thoát thống khổ, giải thoát sanh tử.

3:  Là tin luân hồi. Nhân quả, gieo giống nào thời trổ ra giống nấy, ác gieo thời ác gặt, thiện gieo thời thiện gặt. Mọi sự kết quả đều có nguyên do không phải tự nhiên mà có.

4:  Là tin có Thiên Đàng Cực Lạc là nơi tột thế hạnh phúc, muốn gì được nấy, sống trong cảnh Đại Đồng, Độc Lập, Tự Chủ, Tự Do Ngôn Luận, Bình Đẳng Xã Hội. Mưu cầu hạnh phúc. Là Chân Lý là lẽ sống của Chư Thiên. Thiên Quyền, Nhân Quyền thể hiện đầy đủ trong lẽ sống ấy.

5:  Là tin có Địa Ngục là nơi tột thế đau khổ. Khổ giam cầm. Khổ đói khát. Khổ bị gươm Đao hành hình. Khổ bị phanh thay xẽ thịt. Khổ bị nấu, cưa, mổ bụng, lột da. Khổ bị đốt thiêu, chết đi sống lại cả muôn vạn lần. Cái khổ nào hơn cái khổ muốn sống cũng không được, muốn chết cũng không xong, cái khổ của cùng cực sự khổ.

6:  Là tin có đường giải thoát, áp bức thống khổ, giải thoát luân hồi sanh tử. Con đường tối cao giải thoát ấy chính là Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Đại Đồng Thiên Đạo vũ trụ. Con đường hội nhập Cội Nguồn, làm chủ Chân Tánh đến với Đấng Ông Cha.

7:  Là tin có hằng hà sa số Thánh, hằng hà sa số Phật, hằng hà sa số Tiên, hằng hà sa số Thần, hằng hà sa số Chúa. Là những người đã biết đến với Đấng ông cha và được Đấng ông cha ban cho cõi nước làm chủ cõi nước mà ông cha đã khai lập ra. Thế giới cõi nước Thiên Đàng Cực Lạc.

8:  Là tin có bộ máy huyền vi vũ trụ chuyển động theo luật tuần hoàn. Sanh, Trụ, Dị, Diệt. Từ không sang có. Rồi từ có trở về không. Bánh xe lịch sử tuần hoàn vũ trụ, cứ lặp đi lặp lại mãi. Hiểu thì ra khỏi. Không hiểu thì Linh Hồn sẽ khốn khổ, sanh tử lẩn quẩn luân hồi trong bộ máy tuần hoàn huyền vi vũ trụ.

9:  Là tin Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Không ai ban cho không từ đâu đến. Mà do Chân Tánh hành thiện mà ra. Hiểu Thiên Luật là Thánh. Hiểu Chân Tánh là Phật. Hiểu rõ khoa học Dịch Lý, Khoa học vật chất là Tiên. Bảo hộ Văn Hóa Cội Nguồn là Thần là Chúa. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa có ra là do Tâm Tánh hành thiện mà ra, không ai ban cho cũng không ai có quyền cướp đi. (Tâm Tánh hay còn gọi là Chân Tâm Chân Tánh). Chân Tâm Chân tánh của mỗi con người là Cội gốc để thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.  Làm chủ Chân Tâm Chân Tánh, lại phát nguyện cứu khổ nhân loại anh em cũng có nghĩa là Thành Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ, Thần Tổ. Từ trong mỗi Linh Hồn con người chúng Ta. Thể xác có quả tim để sống. Linh Hồn có Tâm Tánh để chủ trì họa phúc. Quả tim sự sống của Linh Hồn chính là Chân Tâm Chân Tánh. Người ngộ Chân Tâm Chân Tánh, làm chủ Chân tâm Chân Tánh. Thì Linh Hồn của người đó đã làm chủ Quả tim bất tử Linh Hồn. Sự diệu dụng của quả tim Chân tâm Chân Tánh này. Không thể luận bàn, nghĩ bàn cho hết được. Vì quả Tim Chân Tâm Chân Tánh nầy là Quả Tim Chánh Đẳng Chánh Giác. Quả tim Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ. Thần Tổ, Chúa Tổ.

10:  Là tin hể cảm là có ứng. Nhân Loại cảm nghĩ đến Đức Cha Trời, tưởng nghĩ đến Đức Cha Trời. Tùy lòng tin mạnh yếu. Mà pháp thân Cha Trời ứng hóa đáp lại mạnh yếu phù hộ che chở cứu khổ cứu nạn. Sự tồn vong thành bại, mỗi chế độ, mỗi Tôn giáo, giáo phái, mỗi con người. Đại sự đều do Thiên ý Đức Cha Trời. Thuận ý Trời thời Đại nghiệp tồn tại được lâu. Nghịch lại ý Trời. Như cây mất gốc tự héo tàn hủy diệt. Xin Đức Chí Tôn hiện thần thông chứng minh mười niềm tin thấy biết ấy của Bần Đạo. Làm cho chúng hội, khai ngộ tri kiến Cội Nguồn. Làm kim chỉ nam cho Con Dân của Nước Văn Lang sau nầy thấy đường trở về cực lạc, cũng như thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Sự hiển hiện thần thông làm rõ 10 niềm tin của Bần Đạo là đúng không sai. Để cho chúng hội lấy đó làm cơ sở đem lại không biết bao nhiêu là lợi ích. Nguyện Đức Chí Tôn chứng giám cũng như khai thị tri kiến cho.

Đức Chí Tôn Thái Tử khen rằng:

   Ông quả là hàng trí huệ thuộc hàng bật nhất. Đạo hạnh Đức Độ hơn người. Chỉ trong phút chốc ông trở thành vị Phật Đại Bồ Tát, Đại Từ, Đại Bi, Đại Trí, Đại Đức. Thần Thông trí huệ. Phương tiện hóa Độ Thiện xão không thể nghĩ bàn, không thể luận bàn cho hết được. Vì lợi ích chúng hội nên Ông mới thưa thỉnh Ta như vậy. Mười niềm tin của Ông mở ra tia sáng soi đường cho nhân loại hiện nay và mai sau. Thấy rõ con đường hạnh phúc, con đường mùa xuân đầy hoa thơm quả ngọt. Tránh đi con đường đầy chông gai, đầy nguy hiểm. Con đường dẫn tới Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Con đường đọa lạc sanh tử luân hồi khốn khổ. Việc ông thỉnh cầu quá lớn. Bản thân ta không đủ sức Thần Lực thị hiện Thần Thông để chứng minh hiện rõ 10 điều ông yêu cầu. Nhưng trên ta còn có Ba Ngôi Tối Cao Chí Tôn vô thượng. Đó là Ngôi Tổ Tiên. Ngôi Cha Trời. Ngôi Địa Mẫu, sẽ trợ lực cho ta. Ta sẽ chứng minh điều ông thưa thỉnh.

Đức Chí Tôn vừa nói xong. Tức thời trên không trung vũ trụ, phát ra tiếng sấm lớn sau đó tiếng nói của Đức Cha Trời rằng:

   A ĐA con lớn của ta. Con hãy nương vào Thần Lực của Cha. Chứng minh Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Thiên Quyền Nhân Chủ Đại Đồng. Đại Đạo vũ trụ cho chúng hội xem.

Khi ấy nơi chúng hội Long Vân có người suy nghĩ rằng:

   Tổ Tiên là ai? Cha Trời Địa Mẫu là ai? Mà có quyền năng như vậy xin Đức Chí Tôn dạy cho.

Thái Tử hiểu rõ lời thỉnh cầu của chúng hội. Liền nói rằng:

   Các ông muốn hỏi ta Ba Đấng Tối Cao ấy là ai chăng?

Chúng hội đáp rằng:

   Thưa Đức Chí Tôn chúng tôi đang nghĩ như vậy.

Thái Tử nói:

   Còn ai vào đó nữa. Đó là Tổ Tiên của chúng ta. Đấng tối cao. Đấng lập lên vũ trụ. Lập lên tam thiên đại thiên thế giới. Lập lên 28 tầng trời. Lập lên 18 tầng địa phủ. Lập lên Đất Trời, lập lên sự sống. Lập lên nhật Nguyệt Tinh Tú. Thiên Hà, Ngân Hà. Đất Nước gió lửa. Lập lên Địa Cầu, Núi non, sông, hồ, Biển cả. Côn trùng Thảo Mộc. Muôn loài vạn vật. Tổ Tiên chúng ta là Đấng tối cao, không còn Đấng nào hơn nữa. Đấng Quyền năng vô hạn. Quyền lực vô biên.

   Đấng Lập lên ba Giới Tâm Linh. Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới. Đấng lập lên ba cõi Thiên Đàng, Trần Gian, Địa phủ. Tổ Tiên Khai Hóa chúng ta sau khi lập lên vũ trụ xong. Thì hiện thân ra con người Đức Cha Trời và Địa Mẫu. Sau khi sanh con đẻ cái. Đức Cha Trời xưng Danh là Lạc Long Quân, Đức Mẹ Trời xưng là Âu Cơ. Cha Trời chủ quản thế giới Linh Hồn. Mẹ Trời Âu Cơ chủ quản thế giới vũ trụ vật chất. Ba Đấng tối cao nầy Quyền năng vô hạn, Quyền lực vô biên. Không có việc gì mà làm không được. Cho đến hủy diệt vũ trụ thành lập vũ trụ mới.

*********

Hết phần 3 chương 14 mời xem tiếp phần 4 chương 14 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Văn Hóa Cội Nguồn ra đời trước Phật Giáo 2500 năm, trước Thiên Chúa 3000 năm. Cách đây 5000 năm. Chúng Quỉ, Thần, Phù Thủy ở vào thời kỳ nầy rất hưng thịnh. Phần lớn các Vua Chúa là giáo chủ Thần Giáo. Duy trì giáo điều Độc Tài Độc Trị.

*********

CHƯƠNG 14

PHẦN 4

CẢM ỨNG

Thái Tử nói rõ Tổ Tiên Khai Hóa cho Chúng Hội nghe xong, liền yên lặng bất động. Chúng hội Long Vân suy nghĩ. Chỉ có Đức Chí Tôn mới đủ uy Đức thỉnh cầu Ba Đấng tối cao ấy. Còn những người như chúng ta thì khó mà thỉnh cầu Linh Ứng lên ba đấng Tối Cao.

Thái Tử hiểu rõ ý nghĩ Chúng Hội liền nói:

   Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời của chúng ta. Đối với Nhân Loại ai cũng như ai đều là con cái của Trời, đối với nhân loại năm màu da anh em hết sức bình đẳng. Cho đến Vua. Quan. Dân, giàu, nghèo, tàn tật, ác, thiện, ngu dốt, thông minh, có Đạo, không Đạo, Nam Nữ già trẻ. Hể có lòng tin Đức tin. Cầu nguyện đều được linh ứng như nhau.

Chúng hội nghe Đức Chí Tôn Thái Tử nói thế. Liền tin ngay niệm Đức Tổ Tiên Cha Trời, Mẹ Trời. Chúng con muốn được chứng minh 10 niềm tin chứng thấy của Cao Tằng. Lời cầu nguyện của Chúng hội Long Vân vừa dứt. Thì có tiếng sấm lớn vang lên từ vũ trụ hư không. Một Đạo hào quang chiếu xuống tòa Kim Cang Thái Cực. Nơi Chí Tôn Thái Tử đương ngồi. Thì lạ thay, lạ thay tòa thái cực Kim Cang ấy bổng dưng to lớn gấp mười lần. Chí Tôn Thái Tử cũng vậy. Tòa Thái cực Kim Cang tiếp nhận ánh sáng của Đức Cha Trời xong. Liền phát ra muôn Đạo hào quang rực rỡ xuyên suốt quá khứ cách đây hàng vạn vạn tỷ năm. Khởi đầu sự hình thành vũ trụ. (XEM BỘ KINH LONG HOA THIÊN TẠNG SẼ NÓI RÕ HƠN). Chúng Hội nương theo hào quang xuyên suốt quá khứ, hàng vạn vạn tỷ năm.

*********

Hết phần 4 chương 14 mời xem tiếp phần 5 chương 14 Long Hoa Mật Tạng Kinh.

 

 *********

CHƯƠNG 14

PHẦN 5

KHỞI ĐẦU HÌNH THÀNH VŨ TRỤ

Chúng hội Long Vân nương theo hào quang của Đức Cha Trời xuyên suốt về quá khứ. Hàng vạn vạn tỷ năm khởi đầu sự hình thành vũ trụ. Lạ thay thế giới vũ trụ hiện tại, chúng hội không hiểu biến mất tự bao giờ. Mà chỉ thấy hư không rộng lớn vô tận vô biên. Nhờ thần lực của Đức Cha Trời Chúng hội thấy rõ Thể Lực, Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc. Cùng khắp hư không chỗ nào cũng có. Bổng hư không cuồng phong nỗi dậy càng lúc càng mạnh. Mạnh đến nổi làm cho Thể Lực, Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc cuồng xoáy khủng khiếp. Thể Lực cuồng xoáy tạo ra từ trường ÂM – DƯƠNG Điện lực. Âm Dương Điện Lực va chạm vào nhau tóe lửa. Hư không khắp cùng sấm sét, ầm ầm dồn dập liên miên không dứt. Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc. Cuồng xoáy kinh khiếp. Ma sát va chạm vào nhau liên miên, liên tục phát ra ngọn lửa không dứt. Cộng thêm sấm sét làm cho nhiệt độ tăng cao kinh khiếp. Thi nhau thiêu đốt Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc. ÂM THANH, MÀU SẮC, MÙI, VỊ, HÌNH TƯỚNG XÚC, PHÁP, thi nhau ra đời Tinh Khí, Tinh Nước, Tinh Đất thi nhau kết tụ, càng lúc càng nhiều đầy dẫy hư không. Tinh khí nhiều nhất. Tinh nước ít hơn. Tinh đất cỏn con, vừa mới sanh ra đã bị lửa điện, lửa khí, lửa nước, lửa đất thi nhau thiêu đốt. Tinh khí, Tinh nước, Tinh đất, càng tôi càng luyện càng lúc càng sáng.

Theo nguyên lý Động Tịnh hư không vũ trụ. Thời Thể Lực, Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc sanh ra. Thể Đặc là thể sanh sau cùng ít hơn Thể Lỏng, Thể khí. Cội Nguồn vũ trụ hư không khởi động tạo ra Phong Luân cuồng phong hư không vũ trụ. Ở vào giai đoạn. Tinh Khí Thể Hơi. Tinh Nước Thể Lỏng. Tinh Đất Thể Đặc ra đời. Lúc Chân Tâm Chân Tánh hư không vũ trụ ở giai đoạn khởi động chuyển hóa. Làm cho Thể Lực, Thể Khí, Thể Nước, Thể Đất chuyển động theo Phong Luân cuồng phong nổi dậy khắp hư không vũ trụ mỗi lúc một khủng khiếp. Thể Lực, Thể Khí, Thể Lỏng, Thể Đặc, Ma sát xung đột va chạm vào nhau tạo ra chân hỏa. Lửa Điện, Lửa Khí, Lửa Nước, Lửa Đất. Thi nhau bốc cháy đỏ rực cả hư không vũ trụ. Nhiệt Độ vì thế tăng cao làm cho Thể Lực, Thể Khí, Thể Lỏng, Thể Đặc kết tinh. Thể Lực kết tinh hiếm quý, Thể Khí kết tinh nhiều nhất Thể Lỏng ít hơn. Thể Đặc kết tinh càng ít hơn nữa. Tinh Lực, Tinh Khí, Tinh Nước, Tinh Đất ra đời, liền bị lửa Điện, lửa khí, lửa nước, lửa đất. Thi nhau thiêu đốt tôi luyện. Nhưng Tinh của bốn thể không bị hủy diệt mà càng tôi càng luyện càng sáng, càng tỏa hào quang. Tinh Lực, Tinh Khí, Tinh Nước, Tinh đất, chuyển hóa thành Châu báu cũng như kim loại.

Theo nguyên lý tạo hóa. Tịnh là Âm, Động là Dương. Nhẹ sáng nổi lên trên là Dương. Nặng tối chìm xuống dưới là Âm. Nơi hư không vũ trụ lúc bấy giờ chỉ là hư không Chuyển động Phong Luân cuồng phong khủng khiếp. Bão Lửa dậy trời, sấm sét ầm ầm âm thanh xuất hiện. Mùi, vị, màu sắc, ra đời. Vật chất tượng hình Pháp Tướng dần dần hiển lộ càng lúc càng nhiều.

Chúng Hội Long Vân nhờ nương theo thần lực của Đức Cha Trời. thấy rõ tất cả. Lực Già chuyển hóa thành Khí Non, kết tinh thành Chất Kim Cương, Khí Trung Khí Già kết thành Chất Vàng – Ngọc – Châu Báu. Cho đến Bạc – Đồng – Thau – Sắt, thép, kẽm, chì v.v… Những tinh khí này sanh ra, liền bị thiêu đốt dữ dội. Nhưng không bị hủy diệt mà càng tôi luyện thiêu đốt thì càng sáng ra. Dương Tinh kim loại thì nổi lên trên. Thành Lập 28 tầng Trời toàn là Kim Cương Ngọc Ngà Vàng Bạc Châu Báu.

Âm Tinh kim loại Nặng thì chìm xuống dưới thành lập 18 tầng Địa Phủ. Còn Trần Gian ở giữa Vật chất lẫn lộn cùng nhau. Vàng, Bạc, sắt, thép, đất đá kết tụ thành Địa Cầu.

Cứ như thế trải qua một thời gian khá lâu. Nhưng chúng hội nào có biết sự phân chia tự nhiên đó kéo dài trải qua 3 trăm 36 triệu năm. Nhưng chúng hội nghĩ thời gian trải qua đó chỉ hơn 1 giờ. Chúng hội Long Vân nhờ thần lực của Đức Cha Trời nhìn thấy hư không vũ trụ Mây Kim Tàng chính là Tinh Thể Vàng Bạc Kim Cương Ngọc ngà Châu Báu cuồng cuộn bốc lên cao sáng chóa, rộng khắp khôn lường cao khoảng 30 ức vạn dặm hình thành lên 28 tầng trời Châu Báu. Mỗi tầng trời rộng lớn vô tận vô biên, Làm sáng rực rỡ hư không vũ trụ.

Chúng hội Long Vân lại nhìn thấy mây đen cuồng cuộn khắp hư không vũ trụ pha lẩn ánh sáng đó là mây Âm Trì nặng đục chìm xuống dưới rộng khắp khôn lường dài khoảng 18 ức vạn dặm, hình thành lên 18 tầng âm phủ. Mỗi tầng Địa Phủ rộng lớn vô tận vô biên.

Giữa 28 tầng Trời và 18 tầng Âm Phủ phần lớn là do Trung Khí Kết Tinh. Nên Tinh Khí cũng không bốc lên quá cao hay chìm xuống quá thấp. Hình thành lên thế giới. Núi Non Tu Di. Thiên Hà, Ngân Hà, Nhật Nguyệt, Tinh Tú. Bảy núi vàng. Biển Hương Thủy Ngũ Hành Địa Chi hổn hợp. Biển khí mặn. Bọc ngoài cùng bể khí mặn là lớp  Địa Luân Hạ Thiên Vũ Trụ.

Ngoài lớp Địa Luân. Là lớp Kim Luân.

Ngoài lớp Kim Luân. Là lớp Thủy Luân.

Ngoài lớp Thủy Luân. Là lớp Phong Luân.

Ngoài lớp Phong Luân. Là hư không.

Thần lực hư không tác động vào Phong Luân duy trì thế giới. Và Sau cùng là hình thành bốn Châu lớn giữa biển khí mặn, gọi là bốn Châu Địa Cầu trần gian. Bốn Châu lớn Địa Cầu trần gian này là bốn Châu sinh sôi sự sống. Con người đầu tiên nơi vũ trụ.

Biển khí Mặn vô cùng rộng lớn bao bọc Đông Tây Nam Bắc, Núi Tu Di, cũng như Năm Non. Bảy Núi. Giữa biển khí Nước Mặn hình thành lên bốn Châu lớn sự hình thành như sau.

*********

Hết phần 5 chương 14 mời xem tiếp phần 1 chương 15 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Long Hoa Mật Tạng Kinh là kinh văn Tối Thượng Thừa. Nếu không phải là Bậc Thượng Căn thì khó mà thấu hiểu Kinh Văn trong kinh.

*********

CHƯƠNG 15

PHẦN 1

HÌNH THÀNH ĐỊA CẦU

Nhờ Thần Lực của Đức Cha Trời. Chúng hội Long Vân nhìn thấy sự hình thành lên bốn Châu Địa Cầu Lớn Trần Gian sau cùng, như sau. Giữa biển khí Nước Mặn. Đông Tây Nam Bắc. Bao bọc vòng quanh, Tu Di năm non, bảy núi, cùng biển khí nước thơm Hương Thủy. Trong biển khí rộng lớn khí nước mặn càng về sau càng lúc càng đông đặc thành Nước. Rồi trở nên trong xanh, chuyển sang trong trắng. Chuyển sang trong Đỏ. Chuyển sang trong Đen. Chuyển sang trong Vàng. Rồi hình thành lên lớp màu mỡ ngũ sắc. Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Lớp màu mỡ ngũ sắc chuyển lần đến thể Đặc.

Nguyên nhân vì sao biển khí nước trở nên mặn như vậy, kỳ lạ như vậy. Vì Khí Chất nhất là khí chất đã chuyển sang Khoáng Chất như lớp bụi màu mỡ vũ trụ. Khoáng Chất Vô Cơ. Khoáng Chất Hữu Cơ. Bị bốn thứ lửa thiêu đốt nhất là lửa điện lửa khí. Khoáng Chất càng bị thiêu đốt chuyển hóa ra mặn. Sự Cấu kết Khoáng Chất Có nhiều nguyên do. Nhưng gốc vẫn là 2 nguyên do chính.

Một là: Phong Luân hình thành vũ trụ đã chấm dứt, sấm sét gió lửa đã yên, nhiệt độ tăng cao giảm xuống. Phần lớn do sự tác động của Nhật. Nguyệt. Tinh Tú. Thiên Hà, Ngân Hà tạo ra. Làm cho biển khí nước mặn kết tinh ngũ khí.

Hai là: Do quy luật tiến hóa của tạo hóa. Do không còn cuồng phong hư không vũ trụ, sấm sét gió lửa chấm dứt, hư không rộng lớn trong suốt. Biển Khí nước mặn yên tỉnh. Khí nước mặn không còn cuốn theo cuồng phong thiêu đốt khủng khiếp nữa. Theo định luật tự nhiên tiến hóa. Khí già chuyển hóa thành Nước. Nước già chuyển hóa thành lớp màu mỡ phù sa mùn đất. Thời gian chuyển hóa này chúng hội nào có biết đã trải qua 16 triệu 800 nghìn năm. Nhưng chúng hội nghĩ sự chuyển hóa đó chỉ là nửa giờ.

Lúc bấy giờ trong giữa biển khí nước mặn Đông Tây Nam Bắc. Sóng dữ bổng nổi lên cuồng cuộn. Sóng cao lên càng lúc càng dữ tới tầng Trời số 1 rồi đến tầng Trời số 2 số 3, 4, 5 cuối cùng là tầng trời số 6. Khí Nước Mặn bao phủ nhấn chìm hết thảy các ngọn núi kể cả Tu Di Sơn sau đó thì hình thành bốn cơn lốc xoáy tròn dữ dội. Đến khi Phong Luân càn khôn lắng yên biển khí nước mặn trở lại bình thường. Nơi Trung Tâm vòng xoáy hình thành lên bốn quả cầu lửa mỗi lúc một lớn dần rồi trở thành quả cầu lửa to lớn khôn cùng. Sau đó không còn thấy lửa nữa lần chuyển sang màu xám tro mỗi lúc một to lần. Điều kỳ lạ nầy, chúng hội nhờ thần lực của Đức Cha Trời nên thấy rõ. Trong cuồng phong cơn xoáy lốc ấy là do Thể Lực ép Thể Khí, Thể Khí ép Thể Nước, Thể Nước ép Thể Đặc. Thể Đặc bị cơn lốc xoáy lần lần bị cuốn hút ép xuống trung tâm xoáy tròn, làm cho quả cầu Thể Đặc càng lúc càng lớn to lên. Lực ép xoáy tròn xuống trung tâm quá lớn, làm cho tứ thể phát lửa thành quả cầu đỏ, sức ép ấy ấy một nắm tay cả trăm triệu tấn, tác động xuống mặt Địa Cầu làm cho quả cầu lửa đỏ Thể Đặc không thể nào bung bể ra được, dù biết rằng bốn Quả Địa Cầu đang quay tròn vùn vụt. Bốn Quả Địa Cầu càng lúc càng lớn thời biển khí nước mặn càng lúc càng trong suốt ra.

Chúng hội Long Vân nhìn thấy lực ép của vũ trụ. Tác động xuống mặt Địa Cầu tạo lên lốc xoáy ép xuống cả trăm triệu tấn, phạm vi chỉ bằng một nắm tay thì không khỏi kinh khiếp. Thể Đặc luôn luôn bị ép không thể nào bung ra không gian được, Thể Lực ép Thể Khí, Thể Khí ép Thể Lỏng, Thể Lỏng ép Thể Đặc. Sự ép có hệ thống dây chuyền liên miên bất tận ấy, làm cho Quả Địa Cầu quay tròn mãi. Thể Đặc Khoáng Chất Vô Cơ, Hữu Cơ bị ép xuống kết cấu thành bốn Châu quả Địa Cầu. Thể Lỏng bị ép xuống tiếp giáp với mặt đất bao bọc xung quanh bốn Quả Địa Cầu tạo lên 8 nghìn tầng mây. Nhất là tầng lớp Thể Lỏng nước già đã bị ép xuống mặt Quả Châu Địa Cầu thành nước ao hồ sông suối, đại dương, khi bị tác động nóng thì bốc hơi bay lên hóa thành mây. Khi bị tác động lạnh hóa thành nước liền bị ép rớt xuống mặt địa cầu thành những cơn mưa đại hồng thủy. Làm nguội lầm quả địa cầu, cũng như Nước Lửa giao tranh làm cứng vỏ địa cầu.

Chúng hội Long Vân nhìn thấy bốn Châu Quả Địa Cầu như bốn quả bom nổ chậm vì trong ruột Địa Cầu phát hỏa cực mạnh nhưng nổ không được vì lực ép vũ trụ tác động xuống mặt Địa Cầu quá lớn, mạnh hơn lực nổ cả triệu lần. Không biết bốn Châu Quả Địa Cầu trần gian sẽ nổ giờ nào. Khi lực ép vũ trụ yếu hơn lực nổ hoặc cân bằng thì cũng đã nguy rồi. Chúng hội cũng đã thấy rõ bốn quả Địa Cầu nổ tung ở những lần trước thành tro bụi, phá hủy chân khí sự sống lên tới 6 tầng Trời cõi Dục. Hủy diệt tất cả sự sống. Mười tầng Âm Phủ.

Chúng hội Long Vân nhờ nương theo Thần Lực của Đức Cha Trời nhìn thấy rõ bốn Châu quả Địa Cầu kết cấu toàn là mùn chất màu mỡ vũ trụ. Do sự nóng lạnh tôi luyện kết dính trở thành Đất Đá. Chúng hội cũng thấy rõ Thể Khí đã phân hóa ngũ hành. Khi chuyển hóa thành Thể Lỏng. Thì Thể Lỏng cũng ngũ hành và Thể Đặc cũng thế ngũ thổ. Khi nóng lạnh tôi xung đột tôi luyện chất mùn kết dính trở thành đất đá. Đất Đá cũng có năm màu chính thức. Năm màu Chính thức pha trộn lẫn nhau thành ra cả trăm màu, nhất là thời kỳ giai đoạn gần cuối tiểu kiếp. Mưa to, bão lớn, động đất, nhiệt độ tăng cao, giảm thấp. Núi lửa, làm đảo lộn biến động Địa Cầu.

Có đều chúng hội rất để ý là Kim Cương, Ngọc Ngà Vàng Bạc Châu Báu ở bốn Châu Địa Cầu rất ít. Đồng thau sắc thép kẽm chì thì nhiều hơn. Nhưng chẳng là bao nhiêu so với Đất Đá. Địa Cầu Trần Gian không như các tầng Trời đất báu Kim Cương ngọc ngà châu báu như Đất Đá chốn nhân gian. Chúng Hội Long Vân cũng nhìn thấy rõ Đồng – Thau – Sắc – Thép – Kẻm – Chì hình thành lên 18 tầng Địa Phủ.

Chúng Hội Long Vân cũng nhìn thấy rõ. Bốn Châu Địa Cầu cõi nhân gian là bốn cõi trần gian giả tạm kết cấu hổn tạp Mùn, Đất Đá, Đồng, Thau, Sắt, Thép, Chì, Nhôm. Ngọc Ngà, Vàng, Bạc, Trân Châu, Kim Cương thì rất hiếm, không như trên các tầng trời. Chúng hội Long Vân nhìn thấy tuổi thọ của mùn đất ngắn hơn tuổi thọ của Kim Cương ngọc ngà châu báu đến cả hàng vạn tỉ triệu năm. Và vì thế bốn Châu quả Địa Cầu nổ tung hủy diệt thành tro bụi, thời Vàng Bạc Kim Cương Châu Báu những mảnh bụi lưu chuyển trong không gian và chúng được dồn ép kết cấu thành lập địa cầu mới trở lại.

Chúng Hội Long Vân cũng thấy rõ. Mỗi khi địa cầu mới thành lập. Thì sự sống tiến hóa nhanh hơn những quả địa cầu trước hàng trăm nghìn lần. Cho đến cả hàng triệu lần. Nhưng có một điều chú ý ở đây ở đây. Địa Cầu nổ tung Địa Cầu lặp lại đến trăm lần thời nổ tung cả Hạ Thiên Thế Giới. Nhật Nguyệt. Tinh Tú không còn nữa.

*********

Hết phần 1 chương 15 mời xem tiếp phần 2 chương 15 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Long Hoa Mật Tạng Kinh là bộ kinh Mật Tạng bí mật vũ trụ. Hàng triệu triệu năm chưa xuất hiện một lần. Nếu không phải hàng thượng căn, thượng trí. Thì khó mà hiểu nổi Kinh Văn trong kinh. Nhưng đừng lo vì có Quốc Tổ Anh Linh, cũng như Cha Trời, Mẹ Trời  khai sáng trí huệ cho chúng ta, để chúng Ta thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Tận độ Nhân Loại anh em về trời, sống mãi trong thiên đàng cực lạc.

Đã có Cha Trời sợ lo chi

Cũng như Quốc Tổ ở sát bên

Nhất tâm đọc tụng in ấn chép

Liền được rõ thông nghĩa lý kinh

Hữu duyên hữu phước thời làm chủ

Phật, Tiên, Thánh, Chúa đã kề bên

Cõi Trời trước mắt nơi an nghỉ

Trường Sanh bất tử đã gọi tên.

*********

CHƯƠNG 15

PHẦN 2

HÌNH THÀNH SỰ SỐNG

Chúng hội Long Vân chú ý điều khác lạ ở đây là mỗi lần hình thành Địa Cầu mới. Sự sống phát triển Địa Cầu mới rất nhanh gấp hàng vạn hàng triệu lần Địa Cầu trước. Màu xanh rong rêu không bao lâu thời phủ khắp mặt Địa Cầu. Rồi từ màu xanh rong rêu. Tiến hóa lên màu xanh cây cỏ. Rồi từ cây cỏ tiến hóa lên loài Thảo Mộc Cổ Thụ. Và chính sự sống của loài Thực Vật ra đời. Như loài cỏ cây, cổ thụ nầy kết Tinh. Thu hút Tinh Khí Trời Đất, Tinh Khí, Tinh Nước, Tinh Đất mãnh liệt hơn. Hình thành lên sự sống của thế giới Động vật. Từ sự sống Đơn bào, tiến lần lên sự sống đa bào. Từ sự sống đa bào tiến hóa lên Côn Trùng. Từ Côn Trùng tiến hóa kết cấu Căn Thân Huệ Mạng. Tức là cái Biết hình thành Căn Thân Huệ Mạng có ý thức nhận thức. Căn Thân Huệ Mạng Linh Hồn.

Nhờ Thần Lực Đức Cha Trời chúng hội Long Vân thấy rõ Linh giác tối cao vũ trụ, xâm nhập vật chất chuyển thành Linh Thức, hình thành lên sự sống rong rêu, tiến hóa lên loài cây cỏ, tiến hóa lên loài cây Cổ thụ. Linh thức xâm nhập hấp thụ tinh thể Thảo Mộc. Cấu tạo lên sự sống động vật. Từ sự sống đơn bào tiến hóa lên sự sống đa bào. Từ sự sống Đa Bào thu hút tinh thể Trời Đất. Tinh Khí, Tinh Nước, Tinh Đất. Chuyển hóa thành năng lượng hơi ấm. Chuyển động theo hệ tuần hoàn. Theo Định luật tự nhiên vũ trụ. Như chúng ta đã biết trong khí có tinh của khí. Trong nước có tinh của nước. Trong đất có tinh của đất. Trong Thảo Mộc có tinh Thảo Mộc. Khi tinh thể chuyển động thời chuyển hóa thành năng lượng sống hơi ấm. Vì vậy sự tiến hóa của loài Thực Vật, cũng như loài Động Vật càng về sau càng lớn. Từ rong rêu tiến hóa lên Thảo Mộc rồi trở thành cổ thụ.

Từ Linh giác Khai Hóa Tổ Tiên xâm nhập vào Vật Chất, chuyển lần thành linh thức sơ căn Thảo mộc, xâm nhập vào tinh thể Thảo Mộc. Thu hút Tinh thể Trời Đất. Tinh Khí, Tinh Nước, Tinh Đất. Hình thành lên sự sống của thế giới Động vật sơ khai Căn Thân ý Thức Sơ Căn Sự Sống Linh Hồn Hình Thành. Từ sự sống đơn bào, rồi tiến lên sự sống đa bào, do môi trường sống khác nhau nên Tạo ra sự sống đa dạng các chủng loại côn trùng.

Với thời gian tiến hóa nầy trải qua một thời gian rất lâu xa. Kể từ rong rêu tiến hóa lên Thảo Mộc, Cổ Thụ. Hình thành lên sự sống Động vật. Đơn bào Đa bào. Tiến hóa lên Côn Trùng. Tiến hóa lên muôn loài Bò Sát sơ khai Cầm Thú sơ khai. Thì cũng đã trải qua hai tiểu kiếp 33 triệu 600 nghìn năm.

Sự tiến hóa Côn Trùng. Tiến lên loài Bò sất, Cầm, Thú. Càng về sau càng chậm chạp trải qua 17 tiểu kiếp. Hết kiếp thành các loài Côn trùng, tiến hóa lên các loài Cầm – Thú – Bò Sát. Mới đến đỉnh. Không còn tiến hóa được nữa. Thời gian trải qua 286 triệu 400 nghìn năm. Chuyển sang kiếp trụ. Loài bò sát. Cầm. Thú. Không còn tiến hóa được nữa. Trở nên tàn sát lẫn nhau càng về sau càng khốc liệt. Sự tàn sát cấu xé, ăn nuốt lẫn nhau, tranh giành thế lực. Nhất là những con đầu đàn, càng xấu xé quyết liệt hơn. Sự cấu xé tàn sát khốc liệt. Động đến Tổ Tiên khai hóa Như Lai. Kéo dài hơn 5 tiểu kiếp ở kiếp trụ. Trải qua thời gian là 84 triệu năm. Làm động đến Tổ Tiên khai hóa Như Lai và vì thế Tổ Tiên như Lai mới hiện thân ra Đức Cha Trời. Long Hoa Cửu Huyền. Lạc Long Quân cùng Địa Mẫu Âu Cơ. Cho đến giữa tiểu kiếp thứ 5, Cha Trời, Mẹ Trời mới bay đến cõi nhân gian. Nam Thiện Bộ Châu. Quả Địa Cầu ở giữa biển nước mặn phía Nam núi Tu Di. Đáp xuống dãy Núi Long Hoa. Đỉnh Ấn Thiên, sinh con đẻ cái Nhân Loại con người ra đời. Còn ba Châu trần gian kia là Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Bắc Cô Lô Châu. Do con cái của Trời bay đến đó sanh con đẽ cái lưu truyền nòi giống.

Con Trời ra đời liền khống chế 8 muôn 4 nghìn loài động vật. Làm chủ quả Địa Cầu. Tu luyện tiến hóa Linh Hồn trở thành Phật Thánh Tiên Thần Chúa. Bay về vũ trụ làm chủ các tầng Trời. Còn con cái của Phật Thánh Tiên Thần Chúa ở lại chốn nhân gian, tiếp tục tu luyện tiến hóa Linh Hồn. Nhưng nào có dễ dàng, tu luyện sai đường lạc lối. Thiện căn mất gốc ác Tánh sanh ra. Độc Tánh sanh Độc khí. Hợp với các tầng cõi Âm Phủ. Nên sa đọa xuống các tầng Địa Phủ khốn khổ vô cùng.

Chúng hội Long Vân nhìn thấy rõ Thiên Luật vũ trụ cũng chính là Ý Cha Trời. Thiên Ý Cha Trời cũng chính là Thiên Ý Hóa Công của nhiều định luật vũ trụ. Nhân Loại Nhân gian hướng về Cội Nguồn thiện căn lành sanh ra thì khí lành liền xuất hiện nơi tâm tánh của họ. Thiện nhiều hay Thiện ít, phù hợp với các tầng Trời. Khi mãn kiếp số trần gian tỳ theo căn lành nhiều hay ít phù hợp tầng nào Linh Hồn siêu sanh lên tầng Trời đó để ở. Còn những người làm ác, ác căn tuỳ nhiều hay ít ác khí sanh ra tuỳ ác nhiều ác ít, phù hợp với các tầng Âm Phủ, khi mãn kiếp số trần gian hồn liền sa đọa xuống các tầng Âm Phủ. Luân hồi mãi trong thế ác Đạo, Mê Muội, Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh.

May lắm mới được sanh trở lại làm người. Tiếp tục tu hành tiến hóa Linh Hồn. Nhân Loại nòi giống Tiên Rồng sanh con đẻ cái hết tiểu kiếp này sang tiểu kiếp khác. Hết tiểu kiếp trụ rồi chuyển sang kiếp hoại. Hết kiếp hoại, trải qua hàng nghìn triệu năm thời bốn Châu Địa Cầu nổ tung. Ngọn lửa khủng khiếp thiêu hủy sự sống nhân loại. 6 tầng Trời và 10 tầng Âm Phủ. Chư Thiên vì đã biết trước, chuyển lên các tầng trời cao hơn để ở.

Khi ấy nơi Long Vân hội trên hư không Đức Cha Trời bổng phát ra tiếng nói: Bốn quả Địa Cầu trần gian nổ đi lập lại đến thứ 100 là toàn vũ trụ nổ tung. Trải qua một thời gian lâu xa thì vũ trụ hình thành trở lại vũ trụ mới.

Chúng hội Long Vân lần lượt chứng kiến cảnh bốn Châu quả Địa Cầu nổ tung 67 lần. Rồi lặp lại hình thành lên quả Địa Cầu 68. Chúng hội Long Vân nhìn sự hình thành bốn Châu Địa Cầu 68 không khác gì sự hình thành Địa Cầu trước. Nhưng chúng hội thấy khác ở đây là sự sanh sôi nảy nở sự sống nhanh chóng. Tiến hóa nhanh chóng hơn những Châu Địa Cầu trước. Chỉ cần đến tiểu kiếp thứ 17 là các loài Cầm, Thú, Bò Sát tiến hóa đến chỗ cùng cực không còn tiến hóa được nữa. Trở nên tàn sát lẫn nhau. Càng về sau càng khốc liệt. Sự tàn sát cấu xé ăn nuốt lẫn nhau, tranh giành thế lực. Nhất là những con đầu đàn, càng xấu xé quyết liệt hơn. Sự tàn sát cấu xé ăn nuốt lẫn nhau, càng về sau càng khốc liệt dữ dội. Trải qua hơn 8 tiểu kiếp 142 triệu năm. Có lẽ Tổ Tiên đã thấy sự lẩn quẩn trong vòng Bò Sát, Thú Cầm khốn khổ. Không còn tiến hóa lên được nữa. Nên mới hiện thân ra Con Người sanh con đẽ cái lưu truyền nòi giống cứu vớt Linh Hồn của chúng và cho đến giữa tiểu kiếp thứ năm. Chúng hội mới thấy Tổ Tiên, hiện Thân ra Đức Cha Trời Mẹ Trời, Long Hoa Cửu Huyền Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Bay xuống chốn nhân gian. Hạ chân xuống dãy núi Long Hoa. Đỉnh cao của Thiên Ấn lẫn Thiên Bút. Sanh con đẻ cái tại đây. Địa Cầu Nam Thiện Bộ Châu. Lần thứ 68. (sinh con lần thứ 68). Đánh dấu sự kiện lịch sử trọng đại vũ trụ, Nhân loại ra đời và tồn tại cho tới ngày nay và đã trải qua hơn 4 tiểu kiếp. Nhân Loại Con Cháu Tiên Rồng đang ở tiểu kiếp thứ 9, kiếp giảm, tiến tới giai đoạn trên con đường tiến về lần cuối tiểu kiếp thứ 9, và còn hơn 10 nghìn năm nữa kết thúc tiểu kiếp. Chuyển sang tiểu kiếp thứ 10. Sự kiện lịch sử trọng đại vũ trụ, Nhân Loại ra đời. Lần 68 tại dãy núi Long Hoa. Đỉnh cao của Thiên Ấn lẩn Thiên Bút cách đây 75 triệu 600 nghìn năm và tồn tại cho tới ngày nay đã trải qua hơn 4 tiểu kiếp.

Chúng hội Long Vân nhờ Thần Lực của Đức Cha Trời. Chứng kiến tai nghe mắt thấy Cha Trời Mẹ Trời sanh con đẻ cái. Sanh Thành Dưỡng Dục, công lao trời biển tình tiết cảm động Dòng giống Tiên Rồng ra đời, uy linh và tốt đẹp biết bao. Tất cả Nhân Loại là con cái nhà Trời. Chung một Tổ Tiên khai hóa. Đấng tạo lập lên vũ trụ. Tạo lập lên sự sống và hiện thân ra Cha Trời Mẹ Trời, sinh ra nhân loại lưu truyền nòi giống Tiên Rồng cho đến ngày nay.

Kìa 28 tầng Trời Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Những người thành tựu căn lành đều sanh lên các tầng Trời để ở. Mỗi tầng Trời có vô lượng vô biên cõi nước Phật, nước Thánh, nước Tiên. Sự sống ở Thiên Đàng là sự sống Nhân Quyền. Thiên Quyền bình Đẳng, sống hòa thuận. Quyền Độc Lập Tự Chủ, Quyền tự do Bình Đẳng, Quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc, Quyền tự do Ngôn Luận. Quyền sống con người. Nhân Quyền. Thiên Quyền, được bảo vệ tôn trọng tuyệt đối. Bất khả xâm phạm những Quyền Thiêng Liêng mà Tổ Tiên, Cha Trời đã duy truyền trong mỗi Linh Hồn con người. Cuộc đấu tranh, tranh giành quyền lợi, tranh giành thế lực. Tham lam hận thù chồng chất, độc tài cai trị, dẫn đến lạm quyền tàn bạo. Rốt cuộc rồi chẳng được gì, gieo ác gặt ác. Không những khốn khổ ngay chốn nhân gian mà còn nơi cõi Âm Phủ.

*********

Hết phần 2 chương 15 mời xem tiếp phần 3 chương 15 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Những gì bí mật nơi vũ trụ đều nằm hết nơi Kinh Văn Long Hoa Mật Tạng. Vì thế mỗi lời Kinh hàm ý vô lượng nghĩa vi diệu thậm thậm. Chỉ cần thấu hiểu được một câu coi như là quá quý rồi, huống chi là hiểu nhiều câu thì phải nói là đã có nhân duyên, hay nói rõ hơn là đã tu vô lượng kiếp nên mới hiểu được Văn Kinh Long Hoa Mật Tạng. Những người như thế là Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa xuống trần cứu nhân độ thế.

Những ai gặp được Mật Kinh

Coi như chuyển số đăng trình cung mây

Hữu duyên hữu phước là đây

Hết muôn tai họa đắp xây an lành

Chỉ cần kinh kệ nằm lòng

Lo gì chẳng được về Trời an vui.

*********

CHƯƠNG 15

PHẦN 3

THIÊN LUẬT

Theo Thiên Luật. Thiện căn Thiện Tánh, thì sanh về các tầng Trời. Ác căn Ác Tánh sanh về các tầng Âm Phủ. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa cũng không thể nào cứu vớt được. Chúng hội Long Vân nhờ thần lực Đức Cha Trời nhìn thấy rõ. Sau khi 100 người con của Đức Cha Trời Lạc Long Quân. Mẹ Trời Âu Cơ. Ông Bà Tổ đầu Tiên của Nhân Loại con người. Hay còn gọi là (Ông Bà Tối Cao Tiên Tổ) còn Đấng tối cao Tổ Tiên, không có hai chữ Ông Bà kèm theo phía trước mà chỉ hai chữ Tổ Tiên mà thôi. Không có sự nhầm lẫn Ông Bà Tiên Tổ với Tổ Tiên là một. Mà hai Ngôi vị khác nhau. Ông Bà Tổ Đầu Tiên khác với Tổ Tiên ngôi vị tối cao vũ trụ. Sau khi Ông Bà Tổ Đầu Tiên của Nhân Loại con người. Bay về các tầng Trời làm chủ Tam Thiên Đại Thiên thế giới, làm chủ vũ trụ.

(Xem Kinh Long Hoa Thiên Tạng sẽ nói rõ hơn).

Nhất là ở những giai đoạn mạc pháp. Thì chốn nhân gian Nhân Loại rơi vào cảnh tối tăm Lạc Nguồn mất Cội, Thiên Đàng ít người lên, Địa Ngục nhiều người xuống. Là vì ác căn ác tánh sanh ra càng lúc càng nhiều, có lúc trở thành phong trào ác. Chiến tranh cướp bóc tàn sát xảy ra khắp nơi khắp chốn. SỰ HÌNH THÀNH XÃ HỘI ÂM PHỦ, Chúng hội Long Vân nhờ nương theo Thần lực của Đức Cha Trời. Nhìn thấy nhân loại trần gian. Những người Thiện Căn, trong tâm thường có thiện Khí. Báo hiệu những người nầy khi mãn số trần gian Linh Hồn siêu sanh về trời. Tùy theo căn lành nhiều hay ít. Thượng căn, Trung căn, Hạ căn mà sanh lên các tầng Trời cao thấp để ở. Từ một người sanh lên, rồi nhiều người sanh lên. Rồi hình thành lên xã hội Thiên Đàng, xã hội đời sống nhân thiện. Xã hội Đại Đồng, xã hội Nhân Quyền Thiên Quyền Bình Đẳng, xã hội Thiên Đàng Cực Lạc Quốc.

(Xem Bộ Long Hoa Đại Cương sẽ nói rõ hơn).

Còn những người tạo nhiều nghiệp ác, ác căn ác tánh sanh ác khí. Thượng ác Đại ác, Trung ác, ác, vì Tâm Tánh ác căn sanh ác khí. Nên không phù hợp với các tầng Trời mà chỉ phù hợp với các tầng Âm Phủ. Từ một người ác sanh xuống, rồi nhiều người ác sanh xuống. Tạo thành xã hội âm phủ, xã hội toàn là những Linh Hồn ác. Xã hội đâm chém, đói khát, tàn sát, hận thù, cướp bóc. Xã hội không những tàn sát mà còn ăn thịt lẫn nhau đến ghê rợn. Mạnh giết yếu, hổn độn xoay vần tàn sát lẫn nhau kinh khiếp. Thậm chí khó có giờ bình yên an nghỉ. Xã hội Địa Phủ Hình thành vô số Chúa Ngục. Địa Ngục.

Chúng hội Long Vân nhờ Thần Lực của Đức Cha Trời nên thấy rõ ràng. Sự hành hình lên xã hội Địa Ngục, chém giết, chặt đầu, lột da, mổ bụng, nấu dầu, cưa xẻ, thiêu đốt, ôi thôi không biết bao nhiêu là hình phạt, tàn khốc khố khủng khiếp không kể xiết. Nhất là âm phủ từ tầng thứ 10 trở lên. Thì sự tàn sát ở đây gấp trăm gấp nghìn lần. Chúng hội Long Vân có người đã khiếp hoảng, sợ quá đến hồn xiêu phách lạc. Nhưng sau đó bình tỉnh trở lại là nhờ thần lực của Đức Cha Trời hộ trì.

Chúng hội Long Vân như bị thu hút bởi những sự việc kỳ bí liên tục xảy ra làm cho chúng hội càng tiến tới Đại giác Đại Ngộ. Chúng hội Long Vân nhìn thấy mỗi lần tiểu kiếp đi qua là mỗi lần Nhân loại trần gian đi vào Đại họa, hủy diệt gần hết do Động Đất, Mưa to, Bão lớn, Nhiệt độ tăng cao hạ thấp. Nước biển dâng cao, số người sống sót trở thành người nguyên thỉ Hồng Hoang đầu tiểu kiếp mới. Tiếp tục sanh con đẽ cháu lưu truyền nòi giống Tiên Rồng. Chúng hội Long Vân nhìn thấy tiểu kiếp thứ 9 cũng gần sắp hết và Nhân Loại con người cũng sắp đi vào Đại họa như các tiểu kiếp trước. Hào quang Đức Cha Trời chuyển sang hiện rõ cảnh giới Đại Hội Long Vân. Nơi tầng Trời Thiên Vân, cõi Long Vân. Chúng hội nhìn thấy nơi cõi Long Vân, Phật Thánh Tiên Thần Chúa toàn là các vị Tổ Tổ Tổ, các vị Vua Trời, đông vô số vô biên, không thể tính đếm không thể nghĩ bàn, dù cả trăm nghìn kiếp cũng không hết, vị nào vị nấy xinh đẹp vô cùng hào quang rực rỡ, pháp thuật Thần Thông vô biên không thể nghĩ bàn. Những lần Đại hội trên các cõi Trời là những lần đại hội Cứu Thế Lập Công dâng lên Đức Cha Trời.

Chúng hội Long Vân nương theo thần lực của Đức Cha Trời thấy rõ về quá khứ Mật Tạng vũ trụ đã hiện ra. Chúng hội hầu hết thành tựu mười Đức Tin mà Cao Tằng, Cao Tổ, Cao Tông đã thỉnh cầu lên Đức Chí Tôn thị hiện Thần Thông chứng minh mười niềm tin của Cao Tằng, Cao Tổ, Cao Tông cho chúng hội xem, để chúng hội hội nhập 10 niềm tin ấy. Chí Tôn Thái Tử vì Thân mang phàm tục không đủ sức thị hiện Thần Thông hiện rõ quá khứ như thế. Nên cầu nguyện Đức Cha Trời giúp sức. Thị hiện rốt ráo Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Đại Đồng. Thiên Đạo vũ trụ, vào pháp Bình Đẳng an lạc cuộc sống.

*********

Hết phần 3 chương 15 mời xem tiếp phần 4 chương 15 Long Hoa Mật Tạng Kinh.

********* 

CHƯƠNG 15

PHẦN 4

CÔNG ĐỨC

Lúc bấy giờ nơi chúng hội Long Vân có nhà khoa học. Các nhà luận chứng khoa học. Cao Đại Thành là nhà Khoa Học nổi danh thời đó ai nghe danh cũng đều kính nể.

Cao Đại Thành Thấy hào quang của Đức Cha Trời biến mất. Liền chấp tay hướng về Chí Tôn Thái Tử thưa rằng:

   Chúng tôi là nhà khoa học xưa nay tưởng đâu là mình đã sáng mắt hiểu rõ về vũ trụ, nhưng thật ra chẳng hiểu được bao nhiêu cả. Đối với Cha Trời. Đối với Chí Tôn chỉ là hạt bụi trong chốn hư không. Hôm nay mới thật là người sáng mắt. Thấy được Cội Nguồn. Thấy rõ những gì bí mật trong vũ trụ từ Linh Căn Tâm Linh, đến Cội Nguồn vật chất quả là duyên phước hi hữu, sanh ra làm người gặp hội Long Vân ngày nay. Nếu không có ánh sáng Văn Hóa Cội Nguồn. Thì làm gì xóa tan tội lỗi. Thành tựu công đức nhanh chóng như vậy thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa chỉ trong vòng ngửa úp lòng bàn tay. Nay giới khoa học chúng tôi nguyện Xin Đức Chí Tôn dạy bảo cho.

Đức Chí Tôn Thái Tử khen:

   Ông quả là nhà khoa học thông minh sáng suốt thuộc hàng bật nhất. Lời ông vừa hỏi. Không những làm lợi ích cho chúng hội mà còn làm lợi ích cho bao thế hệ mai sau. Công Đức của ông không thể nghĩ bàn, không thể luận bàn. Thấy nghe đó mới chỉ là học. Còn hành động tu luyện mới thật sự đi vào kết quả của sự thấy nghe, (Chánh Kiến) phải đi đôi với chánh Tư Duy, Chánh Niệm đi vào Chánh Nghiệp. Thì việc Thấy, Nghe, Hay, Biết, Phân Biệt nhận thức hôm nay mới có hiệu quả. Vì lời nói của ông không những có giá trị, mà còn tăng Công Đức lớn lao không thể nghĩ bàn, luận bàn, ta sẽ vì lời hỏi của ông mà nói.

   Để có được lợi ích lớn mau thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, cũng như làm vua các tầng trời. Không đi con đường nào nhanh hơn là con đường thờ phụng ba Ngôi Tối Cao.

1:  Là Kính lạy Khai Hóa Tổ Tiên, Kính lạy Đức Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Phụng Thờ ba ngôi tối cao vũ trụ.

2:  Là Ngợi Khen Công Đức Tổ Tiên. Có công lập lên vũ trụ. Lập lên con người. Lập lên sự sống toàn vũ trụ. Khen ngợi Đức Cha Trời, Đức Địa Mẫu. Có công sanh ra nhân loại con người. Có công dạy bảo. Có công dưỡng nuôi. Công phù hộ. Công che chở. Công lao ấy dù cho ca ngợi tán thán, tán tụng ngợi khen vô lượng ức kiếp cũng chưa nói hết được công lao sanh thành, dưỡng nuôi, dạy bảo, phù hộ, che chở, dìu dắt của Đức Cha Trời, Mẹ Trời.

3:  Là rộng tu cúng dường Tổ Tiên, Cha Trời Lạc Long Quân, Địa Mẫu Âu Cơ. Bảo tồn xây dựng Văn Hóa Cội Nguồn lời truyền dạy của Cha Trời Mẹ Trời. Chủ Nghĩa Thiên Quyền Nhân Chủ Đại Đồng. Thiên Đạo vũ trụ. Tồn tại phát triển mãi ở thế gian. Làm lợi ích cho toàn Nhân Loại. Thế hệ này sang thế hệ khác.

4:  Chia sớt san sẻ trí huệ cũng như sự giàu có. Cho người khốn khổ thiếu may mắn trong cuộc sống xã hội.

5:  Là truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Thiên Quyền Nhân Chủ Đại Đồng. Thiên Đạo vũ trụ, rộng rãi. Không phân biệt, giáo phái, Tôn giáo, Đảng phái chính trị, giàu nghèo, Vua quan, dân giả, màu da, chủng tộc, tà chính, thiện ác v.v…

6:  Là phò trì Chính Nghĩa Thiên ý Cha Trời, Thiên Luật Vũ Trụ Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Thiên Quyền Nhân Chủ Đại Đồng Thiên Đạo vũ trụ. Chủ Nghĩa Thiên Quyền, Nhân Chủ chính là Hiến Tạng Đại Đồng Bình Đẳng Vũ Trụ. Luật Tạng Đại Đồng Bình Đẳng. Công Lý Nhân quyền xã hội Bình Đẳng.

7:  Là thay thế Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu thế Thiên hành Đạo. Thi hành Hiến pháp Đại Đồng Bình Đẳng. Luật pháp Đại Đồng Bình Đẳng, Công Lý Nhân Quyền xã hội Bình Đẳng.

8:  Tất cả việc làm nói trên không vì mục đích danh lợi cá nhân. Mà là vì Thiên ý Cha Trời, vì cuộc sống Bình Đẳng, vì Nhân Loại anh em, vì xã hội phục vụ.

   Những người dẫn đầu cốt cán làm các điều trên. Thường sanh làm Vua các tầng Trời. Cõi nước giàu sang thuộc hàng bật nhất. Thiên chúng trung hiếu sống thuận hòa. Nếu tái sanh chốn nhân gian thì làm Vương, làm Vua, làm Chúa, các nước lớn chốn nhân gian. Thái Bình an lạc. Còn những người tu theo, làm theo dù chỉ được một ngày cũng sanh về Thiên giới hưởng phước. Huống chi làm theo tu theo ba năm, mười năm, cả đời. Không những bản thân được siêu sanh về cõi Trời tầng Trời. Thông minh bật nhất, ngôn luận vô ngại biện tài. Ông Bà Cha Mẹ đều được siêu sanh. Con Cháu nhiều đời làm quan làm tướng, vọng tộc hào hùng ít ai bì kịp. Mà còn thành Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ. Còn những người chỉ cần ca ngợi những người tu theo làm theo. Thì không sa đọa vào ba đường ác. Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Thường sanh vào gia đình Tôn quí giàu có, danh tốt  rền vang.

*********

Hết phần 4 chương 15 mời xem tiếp phần 5 chương 15 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Trên bước đường gặt hái vô lượng công đức. Phước báo và an vui.

*********

CHƯƠNG 15

PHẦN 5

GIEO TRỒNG CÔNG ĐỨC

TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

Khi ấy nơi Chúng hội Long Vân có vị Đạo Sĩ thuộc Dòng Dõi Bà La Môn. Tên là Hửu Chí chấp tay hướng về Chí Tôn Thái Tử thưa rằng:

   Chúng tôi lâu nay tu theo mê tín dị đoan. Thờ Bò, Thờ Heo, Thờ Trâu, Thờ Rắn, quên mất mình là Con Người Dòng Giống Tiên Rồng chúa tể của muôn loài vạn vật. Nên tâm ý tối tăm lạc vào mê tín dị đoan, cứ ngỡ đó là Chánh Đạo. Lại nữa trí huệ mờ nhạt thấy đó liền quên đó. Xin Đức Chí Tôn Thái Tử. Thuyết giáo sơ lược lại cảnh giới mà Đức Cha Trời đã thị hiện quá khứ Mật Tạng Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Thiên Quyền, Nhân Chủ, Đại Đồng Thiên Đạo vũ trụ mà chúng tôi chưa hội nhập được.

Thái Tử khen:

   Ông quả là người có lòng Đại từ Đại bi. Không phải là ông không hội nhập được Văn Hóa Cội Nguồn mà là ông đã thấy được một số đông người ở hội Long Vân, vì căn cơ thấp kém, mê tín dị đoan đã ăn sâu vào tâm thức linh hồn con người. Nên đã khiếp hãi những cảnh giới Mật Tạng vũ trụ. Nên không nhớ được những gì cảnh giới đã hiện ra tăm tối mê mờ. Vì lòng từ bi, vì muốn lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn nên ông mới thưa thỉnh ta như vậy. Ta sẽ vì ông mà tóm tắc tùy theo căn cơ mà thuyết giảng.

Chí Tôn Thái Tử thuyết rằng:

   Thuở Trời Đất Khai Thiên Lập Địa. Tổ Tiên phân hóa lập lên 3 cõi. Thiên Đàng, Trần Gian và Âm Phủ. Thiên Đàng là cõi Thượng Thiên. Nơi kết tụ nhiều Tiên Thiên Chân Khí. Tinh Khí. Hình thành lên đất báu. Đất vàng, Đất bạc, đất kim cương, đất Trân Châu, Đất pha lê, đất san hô, đất xà Cừ. Những người làm lành thời sanh lên đất báu để ở. Lập lên các cõi Thiên Đàng Cực Lạc. Còn 18 tầng Âm Phủ là cõi Hạ Hạ giới. Kết Tụ bởi trược chất âm khí tinh khí. Hình thành lên Đất sắt, đất thiếc, đất kẽm, đất chì, tanh hôi nồng nặc. Những người làm ác thời Đọa xuống các cõi âm phủ để ở. Rồi lập lên vô số vô biên Địa Ngục, giam cầm tàn sát lẫn nhau, cực kỳ đau khổ. Giữa Thiên Đàng và Địa Phủ. Đó là cõi giới trần gian giả tạm. Nhưng lại là cõi chính thức trường đời tu luyện tiến hóa Linh Hồn. Thiện thì siêu sanh lên Thiên Đàng Cực Lạc. Ác thời sa đọa xuống các tầng Địa Phủ. Cõi Trần Gian tuy là cõi tạm nhưng vô cùng hệ trọng cho việc tiến hóa Linh Hồn cũng chính là nơi Tổ Tiên hiện thân Cha Trời Địa Mẫu. Lạc Long Quân và Âu Cơ, sanh ra Nhân Loại con người. Ông Bà Tiên Tổ đầu tiên của chúng ta, cũng như toàn thể nhân loại con người. Tổ Tiên lập cõi trần gian sau cùng. Là cõi trường thi tu luyện biến hóa Linh Hồn. Thiện thì sanh lên, ác thì đọa xuống. Thiện thì phước, Ác thì họa, Thiện thời vui, Ác thời khổ. Đó là định luật cũng chính là Thiên Ý Cha Trời. Nhân loại con người tự mình quyết định vận mệnh của mình. Lên Thiên Đàng hay xuống Địa Phủ, khổ hay vui là do mình cả.

   Thuở khai Thiên lập Địa, các tần Trời không có con người. Các tầng Âm Phủ cũng vậy, đất đai hoang vu vắng vẻ. Chỉ có chốn Dương gian Trần tục là nơi muôn sự sống ra đời trước nhất. Từ rong rêu, tiến hóa sự sống lên Thảo, Mộc, Côn trùng, tiến hóa lên Bò Sát, Cầm. Thú và sự tiến hóa của loài Bò Sát, Cầm Thú đến tận cùng tột đỉnh không còn tiến hóa được nữa. Trải qua hơn trăm triệu năm vẩn ở mãi lớp Bò Sát, Thú, Cầm. Tàn sát lẫn nhau càng về sau càng dữ. Linh hồn các loài Thần Thú, Thần Cầm, Thần Bò Sát sanh xuống cõi Âm Phủ tiếp tục tranh đấu với nhau. Mảng kiếp Âm Phủ sanh về trần gian, đầu thai vào loài Thú, Cầm, Bò Sát trở lại. Tiếp tục tàn sát ăn nuốt lẫn nhau, sự tiến hóa Thần Cầm, Thần Thú, Thần Bò Sát. Tổ Tiên thấy chúng không còn tiến hóa được nữa, cứ mãi đầu thai qua lại ăn nuốt lẫn nhau. Nên Khai Hóa Tổ Tiên hiện thân ra Đức Cha Trời Long Hoa Cửu Huyền Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Bay đến quả Địa Cầu chốn trần gian sanh con đẻ cái lưu truyền nòi giống Tiên Rồng con người Tiểu Thiên Vũ Trụ. Đầy sức mạnh trí tuệ, uy quyền cao sang xinh đẹp hoàn mỹ.

   Trải qua bao thế hệ. Con Cháu Tiên Rồng, lần lần quên mất Cội Nguồn, sai đường lạc lối, sa chân vào con đường tội lỗi. Càng về sau ác căn ác tánh chồng chất như non như núi. Những ác căn ác tánh hiểm độc, gian manh, xão quyệt. Bất Nhân, Bất Nghĩa, Bất Trung, Bất Hiếu. Tham Lam, tàn bạo, lật đổ lẫn nhau máu đổ đầu rơi không biết bao nhiêu mà kể. Điều đáng nói ở đây là đi ngược lại Thiên Ý Cha Trời, Thiên Luật Vũ Trụ. sai phạm không biết bao nhiêu là tội lỗi, nghịch lại Thiên ý của Đức Cha Trời. Linh hồn liền sa đọa xuống các tầng Âm Phủ chịu vô số vô biên hành hình thảm khốc. Lại bị các loài Thần Thú sát hại. Như Thần Thú Đầu Trâu, Mặt Ngựa, Thần Cẩu, Thần Kê. Chúa Tể cõi Âm. Những Thú Cầm sống gần người nơi chốn nhân gian.

   Những kẻ hại dân, hại nước làm suy hoại nền Đạo Đức dân tộc, không tội ác nào không làm. Khi chết đi Linh Hồn liền bị sa đọa xuống cõi âm các tầng Địa Phủ. Từ người nầy đến người khác hết người nọ đến người kia. Mỗi ngày một thêm đông, hình thành lên xã hội Đao Phủ Âm Phủ. Xã hội Đao phủ là xã hội máu tanh, xã hội chứa đựng những thành phần tội lỗi hiểm ác, xã hội tàn sát. Không ngừng nghỉ không kể gì đến người thân, anh em, chồng vợ, cha con. Xã hội chỉ biết cấu xé chém giết ăn nuốt lẫn nhau. Còn khủng khiếp hơn loài Cầm Thú, Bò Sát giành ăn nơi chốn nhân gian. Những Linh hồn sanh xuống các tần âm phủ, thường là bị các loài Thần Thú, Thần Cầm, Thần Bò Sát, sát hại. Nếu không bị các loài Thần Thú sát hại. Thời những Linh Hồn ác ấy cũng tự hại lẫn nhau. Cõi âm phủ là nơi hội tụ những thành phần tội lỗi hung ác, xảo hoạt, hiểm độc, xã hội âm phủ càng đông thời sự tàn sát chém giết nhau càng kịch liệt, vì sự đói khát ăn thịt lẫn nhau. Máu đổ đầu rơi xé thịt banh da đớn đau không có một giây ngừng nghỉ, hàng triệu năm nầy đến hàng triệu năm khác. Tiếng gào thét đau đớn thảm thiết từ nơi các tầng Địa Phủ, các cõi Địa Ngục. Làm kinh động đến Trời. Cha Trời truyền dạy Phật Thánh Tiên Thần Chúa, xuống chốn nhân gian truyền dạy Kinh Giáo, mở cửa Thiên Đàng lấp đường Địa Phủ. Thoát khỏi luân hồi sanh tử. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa an vui tự tại. Sống mãi trên các tầng trời. Những người có công lớn trong Văn Hóa Cội Nguồn Hiện thân làm Vương, làm Vua, làm Chúa, khắp các tầng Trời. 

   Tiếng gào thét đau đớn thảm thiết. Từ nơi các tần âm phủ, các cõi âm phủ. Làm kinh động đến Cha Trời. Cha Trời truyền dạy Phật Thánh Tiên Thần Chúa xuống các tầng âm phủ. Hiện thân làm Vương, làm Vua, làm Chúa, làm Quỉ. Di trì Công Đạo trật tự công bằng gieo ác gặt ác, gieo Thiện gặt Thiện dưới sự cai trị quản lý của Phật Thánh Tiên Thần Chúa. Nơi cõi âm phủ có 18 tầng, mỗi tầng có vô số Địa Ngục. Từ tầng thứ nhất âm phủ đến tầng thứ 10. Đều do Phật Thánh Tiên Thần Chúa cai quản chủ trì, xét tội luận tội theo luật Công Bằng Thiên Luật của tạo hóa.

   Từ tầng Địa Ngục thứ 10 đến tầng Địa Ngục thứ 15. Tội nhân tự hành xử lấy nhau vì Linh Hồn ở các tầng này là những Linh Hồn Đại ác. Nên không có Phật Thánh Tiên Thần Chúa chủ trì. Chỉ theo luật. Lấy Độc trị Độc. Lấy Ác diệt Ác. Các Linh Hồn tội nhân tự hành xử lấy nhau. Như các ông đã nhìn thấy sự tàn sát lẫn nhau ở các tầng Địa Phủ nầy quá đổi khủng khiếp tàn khốc dã man gào thét đau đớn. Đầu rơi máu đổ thịt banh da xé ăn nuốt xà ngầu, tơi bời hổn loạn, không có một giây ngừng nghỉ, hàng triệu năm nầy, đến hàng triệu năm khác. Một xã hội Địa Ngục như vậy ai nhìn thấy cũng phải kinh hoàng khiếp vía. Những kẻ đại gian ác phải chịu cảnh khốn khổ khủng khiếp nơi tầng địa phủ thứ 10 trở xuống, Linh Hồn lúc nào cũng gào thét đau đớn trải qua hàng triệu năm.

Từ Địa Ngục vô gián từ tầng 11 đến tầng 15 dưới Địa Ngục vô gián tầng 16, 17, 18 là Địa Ngục Chiêu Cảm. Ở ba tần cuối cõi âm phủ là những Linh Hồn cùng hung cực ác. Có 5 tội ác lớn.

1:  Là giết Ông giết Bà, hại Cha hại Mẹ.

2:  Là hủy báng lời dạy của Đức Cha Trời. Lời dạy của Phật Thánh Tiên.

3:  Là hại đến Phật Thánh Tiên Thần Chúa, những người đang thi hành di mệnh Thiên ý lời dạy của Đức Cha Trời.

4:  Đốt, bỏ hủy hại Kinh Luân, pháp vương, lời dạy của Đức Cha Trời, lấp đường siêu thoát, mở con đường Địa Ngục.

5:  Là đập phá nơi thờ phụng Phật Thánh Tiên Thần Chúa.

Đủ 5 tội trên là đọa vào Địa Ngục vô gián chiêu cảm. Không có ngày để đầu thai dù đó là đầu thai làm súc sanh hay ngạ quỉ. Địa Ngục vô gián Chiêu Cảm là Địa Ngục do ác nghiệp tâm thức tạo ra, ác nghiệp trong tâm tự hành xử lấy mình. Cảnh giới cùng hung cực ác ấy là trong tâm thức cứ hiện ra. Mỗi chủng tánh là mỗi đao phủ, tàn sát lẫn nhau thấy mà ghê khiếp. Lại chiêu cảm thấy mình rơi vào Đao ngục, rừng Đao, biển Kiếm hiện ra, lao tới, đâm chém, chặt, bằm, ghê rợn chết đi sống lại muôn ức triệu lần hãi hùng ghê thảm. Lại chiêu cảm thấy mình lặn hụp trong biển nước đen ngồm, mùi xú uế tanh hôi nồng nặc. Loài rắn dữ. Cá dữ thi nhau mà cắn, mà xé, mà nuốt. Tiếng đau đớn thét la khủng khiếp. Chết đi sống lại chẳng biết bao lần. Kéo dài hành xử hàng triệu triệu năm. Lại chiêu cảm thấy mình rơi vào biển lửa, bị lửa thiêu đốt chết đi sống lại muôn ức triệu lần. Kinh khiếp đến vỡ hồn bạc vía, sấm chớp ầm ầm đánh xuống liên miên không một giây ngừng nghỉ. Trải qua hàng triệu, triệu năm ác căn đã hết, huệ căn không còn. Nên không thể nào làm người, làm thú, làm quỉ được nữa, vì căn mạng trí thức ý thức đã bị hủy diệt. Trở về kiếp Thảo Mộc, Cổ Thụ để tu luyện tiến hóa ý thức trí thức căn mạng Linh Hồn.

   Nói tóm lại. Linh Hồn đã sa đọa xuống cõi âm. Dù là cõi âm gần dương gian nhất cõi âm tầng số 1. Thì cũng đã khốn khổ rồi. Không còn được tự do. Mất hết tất cả quyền thiêng liêng mà Tổ Tiên, Cha Trời – Địa Mẫu đã ban tặng cho mỗi Linh Hồn con người. Những kẻ hành ác tự mình tước bỏ những quyền Thiêng Liêng ấy. Những Con Người hành thiện hướng về Chính Nghĩa mới phát huy tiếp nhận những quyền Thiêng Liêng ấy. Đó là quyền Độc Lập tự chủ, Quyền Tự Do Bình Đẳng, Quyền Tự Do Ngôn Luận, Quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc, Quyền Sống, Quyền Con Người. Nhân quyền Bình Đẳng xã hội v.v… Đúng là một đời làm ác, muôn kiếp phải khốn cùng. (Một ngày làm thiện, muôn kiếp an vui Cực Lạc. Thái Tử Hùng Lan thuyết giảng, xã hội Thiên Đàng là xã hội Chân Thiện, nơi chốn nhân gian một người làm lành, thì ở chốn Thiên Đàng lên một ông chủ mới. Những người có tấm lòng từ thiện, suốt đời vì Dân vì Nước hi sinh cho việc Đại Nghĩa, lập công vì Công Lý Chính Nghĩa, phát huy Chính Nghĩa, truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Đa Nguyên, Thiên Quyền, Nhân Chủ, Đại Đồng Thiên Đạo vũ trụ. Cao hơn Chủ Nghĩa Đa Nguyên, Nhân Quyền, Dân Chủ mấy bậc).

   Những người vì nhân loại, vì nước, vì dân thật sự không phải vì chức quyền, cũng như độc tài độc trị tham vọng làm bá chủ. Khi mãn thân phàm tục. Liền sanh lên Thiên giới. Thân tướng xinh đẹp ai cũng muốn ưa nhìn. Hào quang rực rỡ được Thiên Chúng suy tôn vào hàng Vua Trời.

   Ở Thiên giới ít có người ác hại người, hại dân, hại nước. Nên Thiên giới không có chiến tranh, vì không có chiến tranh nên không có sự đổ nát kiến trúc xây dựng xã hội. Thiên đàng cực lạc là thiên đàng Lầu Đài Cổ Kính nguy nga tráng lệ, vật dụng đồ dùng toàn bằng bảo bối, quí hiếm. Lầu Đài Cung Điện, phố xá, ao hồ, đường sá. Kiến trúc xây dựng cấu tạo toàn bằng bảy báu, vàng, bạc, kim cương, trân châu, pha lê, san hô, xà cừ. Nên muôn Đạo hào quang, phát ra từ Lầu Đài Cung Điện, ao hồ, đường sá, cây báu đẹp mắt vô cùng. Không có cảnh vui sướng nào hơn là cảnh sanh sống ở Thiên Đàng. Không có cảnh nào khổ hơn là cảnh sống đọa đày nơi âm phủ.

   Nhờ Thần Lực của Đức Cha Trời, chúng hội Long Vân tận mắt chứng kiến hai cảnh sống khác nhau. Thiên Đàng và Địa Ngục.

Một bên tự do Cực Lạc.

Một bên tra tấn cực hình.

Một bên đói khát triền miên.

Một bên cuộc sống vàng son, tưởng ăn có ăn, tưởng mặc có mặc.

Một bên trường sanh bất tử.

Một bên bị hành xử chết đi sống lại không biết bao lần.

Chúng hội Long Vân tường tận chứng kiến Thiên Đàng Địa Ngục hai nẻo hai cảnh khác xa, khổ vui siêu đọa nhất nhất đều thấy. Lại thêm được nghe Chí Tôn Thái Tử thuyết giáo đã sáng lại càng sáng thêm. Đã rõ lại càng rõ thêm. Chúng hội Long Vân vượt qua sông mê đến bờ giác. Tâm Linh của mỗi con người đã tỏa hào quang trí huệ giác ngộ phàm Hóa Thánh, Hóa Phật, Hóa Tiên. Hóa Thần, Hóa Chúa. Mãn thân phàm tất cả chúng hội đang có mặt đều về Trời.

PHẦN HỎI ĐÁP :

Hỏi: Có 1 người bình thường học hành chỉ biết đọc biết viết. Nhưng lại tinh thông cả kim lẫn cổ. Thấu suốt Văn Hóa Cội Nguồn lịch sử nhân loại, viết lên Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Thiên Quyền Nhân Chủ Đại Đồng, Thiên Đạo vũ trụ. Người bình thường ấy là ai?

Đáp: 1. Không học mà biết. Không Tu mà Đạo Đức nhân cách trí huệ thuộc diện phi phàm. Nếu ai thuộc diện như thế. Không Đức Chí Tôn, cũng Đức Thế Tôn con Trời, đầu thai xuống trần.

Đáp: 2. Người bình thường đó chỉ là cái xác phàm. Còn Linh Hồn là ai? Thì phải nương theo hành động cũng như lời dạy của Ngài. Nếu đó là lời dạy tối cao có cơ sở chính luận khoa học, thì có thể suy đoán người bình thường đó là ai.

Đáp: 3. Hoặc là sự tái sanh của người xưa tiếp nối lời dạy thất truyền của Ngài. Truyền chỉ lời dạy của Đức Cha Trời, Đấng Cứu Thế lại xuất hiện.

Đáp: 4. Chỉ có 3 điều nói trên để suy luận người không học, không tu mà hiểu tất cả. Còn những điều không hiện thực thì không có cơ sở để nhận xét suy luận.

Hỏi: Các Dị Nhân ngày xưa thường thường là những người đạt đến cảnh giới vô sư trí. Không có thầy dạy mà thành tài. Có thể nói ngồi trong nhà mà biết ngoài xã hội. Không đi đến đâu mà tỏ rỏ sạch trơn, thường thường là vậy. Thời nay xuất hiện vĩ nhân có giống vậy không?

Đáp: Nói đến các vị kỳ nhân vĩ nhân ra đời. Thời xưa cũng như thời nay rất đặc biệt khác thường. Tùy vào thời cuộc của trào lưu xã hội đương thời xuất hiện sinh ra. Nếu trào lưu Nhân Loại đã tiến hóa đến chổ lấy Dân làm gốc. Nhân quyền làm chuẩn. Thời vĩ nhân ra đời thuộc giai cấp Dân, cuộc sống bình thường. Nhưng lại có tư tưởng rất lớn, có thể nói tư tưởng ấy không thể nghĩ bàn. Đi đôi với tư tưởng chính là trí huệ cũng không thể nghĩ bàn. Đạo Đức không thể nghĩ bàn. Chính các Ngài mới hiểu được các Ngài, Phật Tổ mới hiểu được Phật Tổ. Chí Tôn Mới hiểu được Chí Tôn. Vì các Ngài là những Đấng cứu thế  không thể nghĩ bàn hàng triệu, hàng vạn, hàng nghìn năm, mới xuất hiện một lần.

Hỏi: Các đây 5 nghìn năm. Có vị Quốc Tổ Hùng Vương ra đời. Thuyết giáo lịch sử Văn Hóa Cội Nguồn Nhân Loại Con Hồng Cháu Lạc, Con Rồng Cháu Tiên. Nhưng từ đó đến tận bây giờ, không còn ai thuyết giáo Tiên Rồng được nữa. Dù đã trải qua thời gian quá lâu xa hàng nghìn năm. Biết bao nhiêu là nhân tài, giáo sư, tiến sĩ, Đạo sĩ, tu sĩ, bác học. Cũng không ai thuyết giáo, truyền dạy, khám phá ra Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Thiên Quyền Nhân Chủ  Đại Đồng, Thiên Đạo vũ trụ. Nhưng hôm nay lại xuất hiện người dân bình thường. Nhưng lại có tài thuyết minh về Văn Hóa Cội Nguồn, Nguồn Cội Nhân Loại Con Hồng Cháu Lạc, Con Rồng Cháu Tiên. Mà từ xưa tới nay không ai thuyết minh hay như thế. Theo thuyết luân hồi thì người xưa có thể trở lại hay không?

Đáp: Việc chết đi Linh Hồn đầu thai trở lại, là chuyện quá bình thường không có chi là lạ. Từ thời xưa nay đã quá nhiều chứng tích chết rồi đầu thai trở lại khắp mọi nơi. Còn Quốc Tổ Hùng Vương có trở lại chốn nhân gian hay không. Đó là điều ai nghĩ sao thì nghĩ. Nói có cũng được nói không cũng xong, vì đã có cái quyền tự do ngôn luận.

*********

Hết phần 5 chương 15 mời xem tiếp phần 1 chương 16 Long Hoa Mật Tạng Kinh. Long Hoa Mật Tạng Kinh là những Kinh Văn Mật Tạng Vũ Trụ. Chỉ có Đức Chí Tôn nương theo Thần Lực Cha Trời mới thấu rõ Mật Tạng Vũ Trụ, truyền dạy Mật Tạng để lại Kinh Văn cho nhân loại con người. Nắm bắt chìa khóa vạn năng mở cửa Thiên Đàng bước vào vũ trụ, làm chủ vũ trụ.

Hướng về nội Tâm làm chủ Linh Hồn

Cứu nhân độ thế đạt đỉnh trí khôn

Thành Phật, Thánh, Tiên còn gì hơn thế

Ngu si hành ác tai họa gieo khắp

Thiên Đàng mất lối Địa Phủ đọa sa

Những ai chấm dứt mê si

Đọa sa chấm dứt vượt lên đỉnh trời.

*********

CHƯƠNG 16

PHẦN 1

TRONG MUÔN NGHÌN BỐ THÍ

BỐ THÍ PHÁP LÀ CAO HƠN HẾT

Hay tin Thái Tử Đắc Đạo Tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn. Mở hội Long Vân thuyết giáo. Các Bộ Tộc Bộ Lạc thi nhau hội về mỗi ngày mỗi đông. Những trận mưa pháp trút xuống Bình Đẳng không phân biệt màu da, chủng tộc, Giáo Phái, Bè Phái, Tôn Phái, Vương Quan, Dân, Nam, Nữ, già, trẻ đều Bình Đẳng như nhau. Hể nghe nhớ Giáo Pháp đều được lợi ích. Những trận mưa pháp hết đợt này tới đợt khác, bình đẳng trút xuống chúng hội Long Vân làm cho Linh Hồn mỗi chúng hội sanh sôi nẩy nở thiện căn, đơm hoa ý thức kết quả giác ngộ trí huệ. Thành tựu căn thân huệ mạng Thánh Hiền, thành Tiên, thành Phật, Thành Thần, Thành Chúa.

Chí Tôn Thái Tử Hùng Lan, vì muốn cứu khổ cứu nạn. Bá Tánh Đồng Bào, chúng hội Long Vân, liền cầu nguyện Đức Cha Trời chuyển Đại pháp luân. Mở cửa Cội Nguồn, lấp đường Địa Ngục, khai mở trí huệ. Tạo phúc cho nhân loại Con Rồng Cháu Tiên. Hiện tại cũng như về sau thoát khổ. Nhờ Thần Lực của Đức Cha Trời. Chúng hội thấy rõ quá khứ Tổ Tiên khai lập vũ trụ, Thiên Đàng, Trần Gian và Địa Ngục. Ác Thiện, Họa Phúc, điều thấy rõ. Chúng hội Long Vân thức tỉnh nhàm chán điều ác, quay về nẻo Thiện, nương theo Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Thiên Quyền Nhân Chủ Đại Đồng Thiên Đạo vũ trụ. Chúng hội từ bến mê chuyển sang bờ giác an trụ vào ngôi Phật, ngôi Thánh, ngôi Tiên, ngôi Thần, ngôi Chúa. Có lẽ Đức Cha Trời thấy chúng hội Long Vân đã đến bờ giác ngộ giải thoát. Nên hào quang Đức Cha Trời biến mất. Hư không vũ trụ trở lại bình thường.

Thái Tử giờ đây trở thành Đức Chí Tôn Cốt cách uy nghi, thân tướng bất phàm. Trí tuệ thần thông quảng đại. Tiếng nói ngân vang như chuông Khánh, âm thanh vang xa hơn mười mấy dặm đường, còn nghe rõ. Khí Thiên sông núi, tỏa khí phun sương làm cho cây cối hương hoa tươi thắm. Thiên Địa ứng Linh biến thành mây ngũ sắc là đà bay đến hội Long Vân che nắng che mưa. Cho chúng hội Long Vân yên tâm nghe kinh nghe giáo, hội nhập Cội Nguồn.

Đức Vương, Kinh Dương Vương. Biết đây là cơ hội hiếm có. Lại thêm tuổi già cũng sắp xa trần thế. Nên muốn lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Thiên Quyền Nhân Chủ Đại Đồng. Thiên Đạo vũ trụ. Tỏ chút lòng thành công lao dâng lên Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Bằng nói với Thái Tử rằng:

   Cha rất muốn nghe. Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Thiên quyền Nhân Chủ Đại Đồng Thiên Đạo vũ trụ. Con hãy vì Cha vì Mẹ mà thuyết giáo.

Thái Tử hiểu ý của phụ Thân phụ Mẫu. Bằng nói với phụ Thân, phụ Mẫu rằng:

   Cha Mẹ có lòng Đại Từ Đại Bi như vậy. Trên vì Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Dưới vì trăm họ bá tánh muôn dân Đồng Bào. Nhờ công Đức nầy Phụ Hoàng, Phụ Mẫu. Khi Cha Mẹ mãn kiếp trần gian sanh về Thiên giới. Cha là Chuyển Luân Thánh Vương, Mẹ là Chuyển Luân Vương Mẫu. Thiên Chúng đông vô số vô biên giàu sang bật nhất.

Kinh Dương Vương cũng như Vương Phi Thần Long Nữ. Nghe Thái Tử nói thế hết sức vui mừng.

Nói về Chúng hội Long Vân có mặt. Nghe Đức Chí Tôn thọ ký cho Đức Vua Kinh Dương Vương và Vương Phi Nương Nương, ngôi vị tối cao như vậy, liền tỉnh ngộ. Trước mặt chúng ta đây là Đức Giáo Tổ Chí Tôn Thiên Đế, theo Thiên ý Đức Cha Trời Chuyển Đại Pháp Luân tổng trì thay quyền Đức Cha Trời. Nhiệm vụ chuyển đại pháp luân Tổng Trì Đà La Ni chu kỳ Long Hoa Mật Tạng, Pháp Tạng, Thiên Tạng, Hiến Tạng, Luật Tạng vũ trụ ra đời. Nên mới có đủ quyền năng Thọ Ký như vậy. Vì thấu hiểu giác ngộ quyền năng Tối Cao của đức Chí Tôn. Chúng hội Long Vân đồng loạt quì xuống chấp tay hướng về Chí Tôn Thái Tử và xin nguyện làm con dân của Thái Tử sau nầy.

Chí Tôn Thái Tử thấy vậy mỉm cười nói:

   Các ông sau nầy thay ta điều hành đất nước Văn Lang. Lần lượt thay ta chuyển Đại Pháp Luân khắp các cõi Trời, tầng Trời.

Chúng hội Long Vân nghe Chí Tôn Thái Tử thọ ký như thế. Mừng vui kể xiết. Còn những người mới đến. Kém Đức ít phước, thì sanh tâm ngờ vực không hiểu chi cả. Chỉ biết cầu phước cầu lành, cầu giàu sang phú quí, cầu tai qua nạn khỏi mà thôi.

Thái Tử thọ ký xong liền yên lặng. Rồi cung kính lễ phép thưa với Vua Cha cùng Mẫu Hậu:

   Thưa Phụ Vương, thưa Mẫu Hậu. Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Thiên Quyền Nhân Chủ  Đại Đồng Thiên Đạo vũ trụ. Là Chủ Nghĩa Đạo Pháp tối cao thượng thừa vô thượng vũ trụ. Đạo pháp tối cao khoa học. Nói lên những điều thực tế đúng theo Thiên Luật Vũ Trụ. Thiên Ý Cha Trời. Chỉ rõ chân giả. Thiện Ác. Công Bằng. Thiên Quyền. Nhân Quyền. Nhân Quả, họa phúc của mỗi con người, mỗi gia đình. Họ Tộc, xã hội, nhà nước. Tồn vong và sự hủy diệt, được phơi bày ra ánh sáng.

Thưa phụ Vương thưa Mẫu hậu :

   Tạo Hóa Tổ Tiên sanh ra nhân loại con người, đồng thời cũng ban cho mỗi con người những quyền bất khả xâm phạm, những quyền ban cho đó chính là THIÊN QUYỀN, thiên quyền được ban cho con người làm chủ NHÂN CHỦ, Thiên Quyền Nhân Chủ, chính là Chủ Nghĩa Đại Đồng Thiên Đạo Vũ Trụ. Cao hơn Chủ Nghĩa Đa Nguyên, Nhân Quyền, Dân Chủ mấy bậc. CHỦ NGHĨA THIÊN QUYỀN NHÂN CHỦ ĐẠI ĐỒNG LÀ CHỦ NGHĨA ĐA NGUYÊN VÌ PHẬT, THÁNH, TIÊN, THẦN, CHÚA CÙNG MỘT GỐC. NĂM MÀU DA ANH EM CÙNG MỘT CỘI NGUỒN. Chủ Nghĩa Đa Nguyên Thiên Quyền, Nhân Chủ Chủ Nghĩa Đại Đồng Là Chủ Nghĩa đỉnh cao Nhân Loại con người. Không còn chủ nghĩa nào cao hơn nữa. Chủ Nghĩa của Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Chủ Nghĩa của sự Chân Thiện Hoàn Mĩ.

Thưa Phụ Vương cùng Mẫu hậu:

   Về sau những người có duyên nghe được những lời nầy chỉ cần nghe đến ĐA NGUYÊN, THIÊN QUYỀN, NHÂN CHỦ, ĐẠI ĐỒNG, THIÊN ĐẠO VŨ TRỤ thoáng qua lỗ tai cũng vượt qua bao kiếp nạn. Huống chi là thuộc trong lòng. Những người như thế không những không sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, mà tái sanh nơi đâu cũng nắm quyền lực trong tay. Chốn nhân gian chỉ là Châu Địa Cầu giã tạm. Ngôi trường chung của Nhân Loại tu luyện tiến hóa Linh Hồn. Tất cả chỉ là trường đời giả tạm. Đã gọi là trường đời giả tạm. Thời cuộc sống nhân duyên cũng chỉ là giả tạm mà thôi. Nhưng Đạo Đức. Ác Thiện. Tình Cảm thì không giả vì thuộc phạm vi Linh Hồn, không phải phạm vi vật thể vật chất. Tất cả Linh Hồn đầu thai đến chốn nhân gian, không mang gì theo, chỉ mang theo họa phúc, ngu dốt hay thông minh mà thôi. Khi bỏ xác phàm ra đi cũng chẳng lấy được gì dù cho đó là Địa vị Vua Chúa, vàng bạc châu báu giàu nhất thế gian. Linh Hồn ra đi cũng không mang theo được. Chỉ mang theo họa phúc, ngu dốt, thông minh hay giác ngộ mà thôi. Đến tay không chẳng vàng chẳng bạc, giàu nghèo, địa vị danh lợi chốn nhân gian đều là giả tạm. Giả tạm cuộc sống thế gian. Mượn tạm thể xác. Cũng như giàu nghèo của cải vật chất. Thể xác chỉ là lớp áo thịt da sanh già bệnh tử, không thể sống mãi được, mượn rồi phải trả đó là Thiên Luật tự nhiên. Mượn của trần gian phải trả lại trần gian trước khi Linh Hồn ra đi.

   Chỉ có tấm lòng Vàng Ngọc, tận tụy lo cho dân, lo cho nước, yêu Nhân Loại, yêu Đồng Bào. Thành Kính người có công dựng Nước, giữ Nước. Hiếu kính đối với Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, giữ gìn truyền thống Chính Nghĩa, Văn Hóa Cội Nguồn. Chủ Nghĩa Đại Đồng. Thiên Đạo vũ trụ. Loại bỏ thói hư tật xấu làm nhơ bẩn tâm hồn. Hại Dân hại Nước, làm khổ Nhân Loại, làm khổ Đồng Bào anh em, làm khổ bao thế hệ mai sau vì truyền bá văn hóa độc hại. Đây mới chính là kho báu, kho tàng vàng ngọc của mỗi Linh Hồn. Những người giác ngộ. Thì phải biết gìn giữ tấm lòng vàng ngọc. Đừng để đánh mất kho báu ấy, vì kho báu ấy Linh Hồn đi đến đâu thời kho báu theo đến đó. Sự giàu sang, Quyền uy, phú quí. Chính là biết giữ gìn kho báu Đạo Đức tri thức này. Linh Hồn dù đi đến cõi nào. Cũng được Nhân Loại sùng kính, suy tôn, vì thế Danh lợi không cần tìm kiếm hay tranh giành, tự nó đến. Chỉ có Linh Hồn và kho tàng Đạo Đức tri thức Linh Hồn. Mới chính thật là của mình mãi mãi là của mình. Hết kiếp nầy đến kiếp khác. Người biết tu tâm tích Đức làm cho kho báu tri thức Đạo Đức càng nhiều lên là người Đại khôn ngoan thuộc hàng bật nhất Nhân Loại. Còn những kẻ chỉ biết tham lam tàn bạo vơ vét của Dân, tham ô của Nhà Nước, làm cho nhân thế khốn khổ, Đồng Bào khốn cùng. Những kẻ ấy không những kho tàng Đạo Đức tri thức Châu Báu biến mất. Thay vào đó là cửa vào Địa Ngục, cửa vào ngạ quỉ, cửa vào súc sanh. Là hạng người ngu.

Thưa Phụ Vương, Thưa Mẫu Hậu:

   Đạo làm Cha làm Mẹ nơi chốn nhân gian là sanh con đẻ cái lưu truyền nòi giống con người. Nòi giống Tiên Rồng do Chánh Thân Chánh Mẫu. Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ sanh ra. Tất cả Cha Mẹ hiện nay, thuộc ngôi thứ tư, tức phụ Thân phụ Mẫu. Nơi Thiên Đạo vũ trụ. Ngôi Trời thứ 2 thay thế Cha Trời Địa Mẫu sanh con đẻ cái lưu truyền nòi giống Tiên Rồng. Đi đôi với Di Giáo lời dạy của Đức Cha Trời. Thì Đạo làm Cha làm Mẹ mới được vuông tròn nơi Thiên Đạo vũ trụ không còn đọa lạc nơi Âm Phủ mà sanh về Thiên giới hưởng phước. Theo Thiên Luật Phụ Thân, Phụ Mẫu chốn nhân gian. Thuộc ngôi Trời thứ 2 thay thế Cha Trời, Địa Mẫu sanh con đẻ cái lưu truyền nòi giống con người. Nhưng không thể nào quyết định vận mệnh toàn phần cho con cái được. Mà chỉ trông chờ vào phúc Đức của Ông Bà Cha Mẹ mà thôi. Chuyển họa thành phúc. Chuyển nghèo thành giàu. Người thay đổi vận mệnh xã hội, số mệnh con người. Chỉ có Đức Cha Trời, Đức Địa Mẫu. Đấng Cha Chung Mẹ Chung toàn nhân loại mới đủ cái quyền chuyển số mệnh vận mệnh cấp thời. Mà không cần trải qua thời gian gieo trồng theo luật nhân quả. Dù ở Địa Ngục, hay ở Thiên Đàng, hoặc ở Trần gian. Dù cho đó là Phật Thánh Tiên Thần Chúa. Cũng không quyết định thay đổi vận mệnh xã hội, vận mệnh con người cấp thời, mà phải thuận theo Cơ Trời Huyền Cơ. Huống chi chỉ là người phàm tục ỷ quyền, ỷ thế, hung tàn, bạo ác tự cho mình thay đổi được vận mệnh xã hội, vận mệnh con người sao. Chỉ có gieo nhân ác để rồi gặt quả ác báo mà thôi.

   Theo Thiên ý Cha Trời, Thiên Luật Vũ Trụ. Ngay cả con cái của Thượng Đế, hể phạm tội, thì bị quả báo như thường, huyền cơ xoay chuyển. Thượng Đế cũng không cứu nổi. Đành phải bó tay trước nhân quả báo ứng Thiên Luật vũ trụ, gieo giống gì gặt giống nấy. Đó là lẽ Công Minh huyền diệu của bản thể Linh giác tối cao vũ trụ cán cân Công Lý Hóa Công không thiên vị bất cứ một ai, hể gieo ác thì phải gặt ác. Trừ khi biết hóa giải quả báo ấy. Từ đại họa chuyển sang đại phước. Hành Thiện trừ đi hậu họa. Hành đại Thiện dứt trừ được đại hậu họa, chuyển sang Đại Phúc. Đó là định luật dù cho trải qua hàng vạn triệu năm cũng thế mà thôi.

Thưa Phụ Vương, thưa Mẫu Hậu:

   Thật Tướng Đức Cha Trời, Đức Địa Mẫu. Thân tướng như hư không, vô tướng chỗ nào cũng có. Mắt phàm không thể nào thấy được. Chỉ có các vị Phật Tổ, Thánh Tổ có con mắt thanh tịnh pháp nhãn, mới thấy rõ pháp thân Linh giác tối cao cùng khắp của Đức Cha Trời, Mẹ Trời. Cũng chính là pháp thân Bình Đẳng Đại Đồng tối cao Linh giác Thanh Tịnh Tổ Tiên. Chư Thiên chốn Thiên Đàng, cũng như chốn nhân gian, người trần mắt tục. Thì khó mà thấy được Đấng Trời xanh. Chỉ người ngộ Chân Tâm Chân Tánh. Làm chủ Chân Tâm Chân Tánh thời mới tiếp cận được pháp thân tối cao Linh giác Đức Cha Trời. Tuy chư Thiên có Thiên Nhãn, cũng như người trần tục không nhìn thấy được Pháp Thân của Đức Cha Trời. Vì Pháp Thân Đức Cha Trời cũng chính là Pháp Thân Khai Hóa Tổ Tiên Pháp Thân Vô Vi trong sạch khắp hư không chỗ nào cũng có lúc nào cũng ở ngay trước mắt không phải tận ở xa. Những người hướng về Cội Nguồn tôn thờ ba Ngôi Tối Cao Vũ Trụ  thành tâm cầu Nguyện điều được linh ứng ngay. Vì Pháp Thân Cha Trời Mẹ Trời ở ngay trước mắt.

   Cha Mẹ chốn nhân gian. Cũng như Cha Mẹ cõi chư Thiên. Tu Thân tích Đức. Nhất là lập công. Trì Kinh, giảng Đạo, Bố thí, cúng dường. Ca ngợi, tán thán công Đức Cha Trời, Địa Mẫu. Nhờ có công như vậy.  Không cầu Cha Trời Mẹ Trời Lạc Long Quân, Địa Mẫu Âu Cơ. Chuyển đổi số mệnh cho Bản Thân, Gia Đình Con Cái, Ông Bà Cha Mẹ. Thoát khổ. Chuyển đổi số mạng từ họa sang phước, từ nghèo sang giàu, từ ngu dốt trở thành thông minh. Có một điều cần nên chú ý. Nếu đã Thành Tâm cầu nguyện thì tuyệt đối tin tưởng vào Quyền Năng của Đức Cha Trời Mẹ Trời thời nhất nhất đều được linh ứng ngay. Không còn gì nghi ngờ gì nữa. Nếu đã thành tâm cầu nguyện mà còn ngờ thời không Linh.

Thái Tử nói:

   Ngay cả Ông Bà Cha Mẹ, vì lo cho con cái, đi vào con đường phạm tội như núi như non. Hiện đang sa đọa bị giam giữ nơi Cõi Âm Phủ Địa Ngục, chịu nhiều sự thống khổ. Con Cháu ở chốn nhân gian, muốn cứu ông bà Cha Mẹ ra khỏi Địa Ngục. Thì phải tu thân tu tâm. Tích Đức làm nhiều việc Phúc Thiện. Rồi đem Công Đức phúc Thiện ấy. Cúng dường lên Đức Cha Trời Địa Mẫu. Cầu siêu thoát cho Cha Mẹ Ông Bà nhiều đời nhiều kiếp, thì được siêu thoát ngay. Theo Thiên Luật vũ trụ. Con cháu khuyên Ông Bà, Cha Mẹ, hướng thiện, làm lành, lánh dữ. Tạo điều kiện cho Ông Bà, Cha Mẹ đến nơi giảng đường nghe thuyết giáo. Đến nơi thờ phụng Tổ Tiên. Cha Trời Địa Mẫu, dâng hương Hoa, Quả cúng dường. Thì coi như đã đạt đến đỉnh cao của Con Cháu Đại Hiếu.

   Còn Con Cháu xúi dục Ông Bà Cha Mẹ đi vào con đường ác, thì coi như đã phạm tội đại nghịch đại bất hiếu. Theo Thiên Luật những con cháu Đại Nghịch nầy. Nếu không sớm ăn năng sám hối sửa chữa. Thời tai họa giáng xuống triền miên. Không những một đời mà còn nhiều đời mang tai họa.

   Cha Mẹ sanh con cái. Không dạy điều lành mà dạy điều dữ. Thì gia đình xào xáo, Cháu Con bất hòa, anh em ly tán. Khi chết đi sanh vào ác đạo. Nếu may mắn sanh làm người trở lại là nhờ công đức con cháu cầu nguyện siêu thoát. Nếu được sanh làm người nhưng ác nghiệp nặng quá thời tiệt luôn đường con cái.

Thưa Phụ Vương, thưa Phụ Mẫu:

   Đức Cha Trời, Thân tướng hư không, đó chính là thật tướng của Đức Cha Trời. Thân tướng rộng khắp chỗ nào cũng có. Còn 32 tướng tốt 80 vẽ đẹp Thân tướng con người, chỉ là sự hiện tướng, sanh con đẻ cái. Sau đó thời biến mất, trở về thật tướng hư không vũ trụ. Thật Tướng của Đức Cha Trời, chính là vô tướng, rộng khắp hư không chỗ nào cũng có, nên mới che chở cho khắp nhân loại làm lành nghe theo lời Trời Dạy.

   Nhưng vì Pháp Thân Linh giác Cha Trời Mẹ Trời tối cao siêu vô vi không màu sắc không mùi vị. Nên người thường khó mà thấy được, biết được. Dù Pháp Thân Cha Mẹ Trời ở ngay trước mắt. Ví Như con người đang sống trong điện lực vũ trụ, cũng như sống trong không khí. Nhưng không nhìn thấy điện lực vũ trụ, không nhìn thấy không khí, biết rằng điện lực vũ trụ, cũng như không khí bao bọc quanh ta. Như Cá sống trong Nước, không bao giờ rời khỏi nước. Nếu rời khỏi Nước thời không còn sống.

Thưa Phụ Vương, thưa Mẫu Hậu:

   Nhân Loại con người đang sống trong Linh giác tối cao pháp Thân Linh giác Đức Cha Trời. Cũng như loài Cá đang sanh sống trong lòng Nước Đại Dương, Cá nghĩ gì, Cá muốn gì, Cá làm gì, Nước đều thấy rõ nhưng nước vẫn yên lặng. Con người cũng thế tất cả Nhân Loại đang sanh sống trong Lòng pháp Thân Linh giác tối cao của Đức Cha Trời. Nhân loại nghĩ gì, muốn gì, làm gì, Đức Cha Trời thấy rõ biết rõ. Nhưng Cha Trời vẩn lặng thinh. Vì mắt phàm không nhìn thấy được pháp thân Linh giác tối Cao Đức Cha Trời. Nên lạm dụng sát sanh giết người bừa bãi. Nhất là những Chế Độ, Độc Tài, Độc Trị. Càng lạm dụng quyền chức giết người bừa bãi, hơn nữa. Nhất là thời Đại phong kiến Thần giáo. Độc Tài Độc trị, cai trị bá tánh muôn dân bằng gươm đao giáo mác. Làm cho bá tánh muôn dân vô cùng khốn khổ sống như nô lệ, sống như tù đày. Đàn áp Quyền tự do, Quyền bình đẳng, Quyền mưu cầu hạnh phúc con người. Những quyền mà Cha Trời Tạo Hóa đã ban cho. Sự đàn áp bằng bạo lực, bằng uy quyền không mấy đem lại kết quả. Chỉ làm cho hận thù chồng lên hận thù. Vay trả, trả vay không ngừng nghỉ. Thảm cảnh nầy đang xảy ra khắp toàn cầu.

   Đức Cha Trời thấy rõ biết rõ. Nhưng vẫn làm thinh, vì đã có bộ máy huyền vi Công Lý Định Luật xoay chuyển. Trả lại công bằng cho những người bị hại. Ý Dân là ý Trời. Khi nào ý Dân hơn quá nửa. Thời Cán Cân Công Lý công bằng vũ trụ sẽ nghiêng về ý Dân. Chế Độ, Độc Tài, Độc Trị, sẽ ra đi và biến mất theo đại đa số ý dân.

Thưa Phụ Vương, thưa Phụ Mẫu:

   Xưa nay chốn Nhân gian, phần lớn Nhân Lo