BÁO TIÊN RỒNG

NHÂN THẬP ĐẠI CƯ SỸ

VĂN LANG CHIẾN SỰ 3

QUỐC BẢO CHÂN KINH

VĂN LANG

CHIẾN

SỰ

3

THIÊN ẤN     THIÊN BÚT

GÒ HỘI

ĐỨC PHỔ     QUẢNG NGÃI

2013

Nguyễn Đức Thông

 

LỜI MỞ ĐẦU

Nói về Quốc Tổ Hùng Vương. Cùng Bách Việt khai dựng lập lên nước Văn Lang hùng mạnh rộng lớn. Giết chết ba con Yêu Tinh Quỉ dữ. Mộc Tinh, Ngư Tinh, Hồ Tinh, cùng vô số Tướng Lĩnh Yêu Tinh. Cũng như con cái, cháu, chắt, chút, chít, của ba con Chúa Tể Yêu Tinh lên đến hàng vạn vạn.

Vì thế con cháu Văn Lang là mối thù truyền kiếp của chúng có cơ hội là chúng hãm hại. Không bằng cách nầy cũng bằng cách khác. Nhất là ở các giai đoạn thời kỳ cuối các thời Hạ Hùng Vương. Thời kỳ mạc pháp Văn Hóa Cội Nguồn không còn. Nền Quốc Đạo biến mất, các quyền cơ bản con người cũng mất theo. Nước Văn Lang rơi vào cảnh tối tăm, dân chúng lạc vào tà ma ác đạo.

Nguy hiểm nhất là Linh Hồn ba con chúa tinh ác Quỷ cũng như con cái cháu chắt của chúng đầu thai làm người không những ở Phương Bắc Nhà Chu, mà còn đầu thai ở Bắc Văn Lang, có cơ hội là chuyển xây tình thế hãm hại con cháu Tiên Rồng nhân loại Đồng Bào nói chung, con cháu Văn Lang nói riêng. Gây ra bao thảm cảnh tan thương chết chóc chiến tranh loạn lạc cùng khắp. Nhất là cảnh chiến tranh tương tàn nồi da nấu thịt ở dân tộc Văn Lang. Chúng không để yên cho Bách Việt Văn Lang  hưởng thái bình an lạc nhất là những cuộc nổi lên nội chiến kinh hồn. Dân tộc Văn Lang con cháu Tiên Rồng, con dân Quốc Tổ Vua Hùng phải chịu cảnh Đồng Bào nồi da nấu thịt. Ác Quỷ giành lấy chính quyền biến dân tộc Văn Lang thành dân tộc nô lệ dưới sự dày xéo nanh vuốt của chúng.

Sức mạnh của Loài Ác Quỷ là chúng đầu thai làm người Phương Bắc chuyển xây tình thế xua quân xâm lược Phương Nam. Làm cho đất nước Văn Lang đầu rơi máu đổ. Chiến Tranh đói nghèo lạc hậu khốn khổ vô cùng. Nhất là sự lừa dối cũng như sự độc tài độc trị tàn bạo cai trị thảm khốc của chúng.

Có khi chúng sanh ra trên đất nước Văn Lang. Rồi tạo lên cảnh nồi da nấu thịt. Như Cha Con Doãn Thường chẳng hạn nổi lên chiếm lấy Bắc Văn Lang, biến Bắc Văn Lang trở thành Trung Thổ Trung nguyên. Nước Văn Lang Bắc Nam chinh chiến. Dân tộc Bách Việt Văn Lang con cháu Tiên Rồng con dân Vua Hùng tàn sát lẫn nhau. Gây ra cảnh Đồng Bào tương tàn. Cha con anh em, dòng họ chém giết lẫn nhau nhà tan cửa nát.

Chúng đầu độc Văn Hóa ảo tưởng, nhất là Văn Hóa mê tín dị đoan, chúng nhập đồng nhập xác nói ra những điều xàm bậy làm mê muội con người. Lũ ác Quỉ lạm dụng ngôn từ trau chuốt bóng bẩy đầu độc dân chúng nhất là văn hóa Thần Quyền tôn thờ Thần Thú, Cầm Thú, Thần Vật  làm cho dân chúng quên Cội quên Nguồn. Quên đi truyền thống Nguồn Cội anh linh Tiên Rồng Dân Tộc. Làm cho xã hội luôn đi vào hổn loạn xuống cấp đạo đức chỉ biết tranh hơn, tranh thua hận thù tham lam tàn bạo. Chậm phát triển dẫn đến đói nghèo lạc hậu.

Chiến tranh triền miên dân chúng luôn rơi vào cảnh khốn khổ nhiều mặt tinh thần lẫn vật chất, nhất là về mặt độc tài độc trị hết sức tàn bạo. Với phép thuật thần thông đa ngôn xảo ngữ của các loài Yêu tinh Quỉ dữ đầu thai chuyển kiếp làm người chúng gây ra không biết bao nhiêu thảm cảnh chiến tranh nồi da nấu thịt. Như Cha Con Doãn Thường chẳng hạn, đã đánh lừa được lòng ham muốn của con người. Đánh lừa được Bách Việt Bắc Văn Lang. Nhất là những giai cấp khốn khổ chạy giặc từ Phương Bắc di cư sang Bắc Văn Lang. Bọn ác Quỉ Cha Con Doãn Thường đêm trăm nghìn cái lợi dụ dỗ dân chúng. Lợi thì như núi non biển cả nhưng không còn cái răng để mà ăn. Vì mất tất cả không những về vật chất mà còn lẫn cả tinh thần, thậm chí những quyền cơ bản con người như quyền sanh sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc không còn. Chỉ biết than trời khóc đất.

Những loài ác Quỉ sanh ra làm người lợi dụng lòng tin nơi chúng dân. Chúng hiện thân ra như một đấng con Trời lên ngôi Thiên Tử. Chúng muốn dân chết là chết, cho dân sống là sống không ai dám cải chỉ biết răm rắp nghe theo tin theo. Nhưng chúng không hiểu một điều, đã là Thiên Tử con Trời thời không tàn sát sanh linh nhất là con người. Luôn đem lại sự công bằng bình đẳng cho con người bảo vệ những quyền thiêng liêng con người mà Tạo Hóa đã ban cho. Những quyền bất khả xâm phạm.

Thiên Tử Con Trời thời sống theo Thiên ý Cha Trời Thiên luật Vũ Trụ không tạo ra cái cảnh nồi da nấu thịt, mà luôn đem lại hòa bình thịnh vượng cho muôn dân. Thiên Tử Con Trời không có cảnh đi xâm lược mà luôn luôn tôn trọng chủ quyền độc lập của nhau hòa hiếu lẫn nhau. Thiên Tử Con Trời cũng có sự cạnh tranh nhưng sự cạnh tranh công bằng bình đẳng thi đua tiến hóa vương lên đỉnh cao của thời đại theo khuôn khổ Hiến Pháp Luật Pháp, Đạo Pháp chân chính cho phép. Không phải cạnh tranh hủy diệt lẫn nhau, thôn tính lẫn nhau. Thiên Tử Con Trời không có cảnh độc tài độc trị độc bá thiên hạ tranh giành thiên hạ, biến thiên hạ vào cảnh nô lệ, cướp  đất đai thuộc địa gây ra cảnh chiến tranh đầu rơi máu đổ.

Những kẻ đầy lòng dã tâm tham vọng mưu đồ xưng vương xưng bá không phải Thiên Tử con Trời, mà chỉ là Yêu Tinh Quỉ dữ đầu thai. Bành trướng tham tàn ác bá độc tài độc trị chém giết đồng loại đây chỉ là những kẻ ngụy Thiên Tử tự xưng là con Trời hầu lừa bịp dân chúng.

Thật ra những Thiên Tử tự xưng giả hiệu nầy chỉ là những kẻ thắng xưng là Vua thua cho là Giặc Xem đi xét lại Giặc với vua cũng chỉ là một thứ chẳng khác gì nhau. Những Thiên Tử tự xưng giả hiệu con Trời  đầy rẫy trong thời đại Phong Kiến. Nhất là thời đại Phong kiến Thần Giáo. Phong Kiến Địa Chủ, Phong Kiến Vua, Chúa. Nhờ vào phép thuật tu luyện hàng nghìn năm trở thành đa ngôn xảo ngữ lừa dối con người dẫn con người vào con đường tối tăm không biết đâu là phải trái Thiện ác.

Như Cha Con Doãn Thường chẳng hạn sử dụng từ ngữ bóng bẩy lời nào cũng có lợi cho dân. Để đánh lừa được lòng ham muốn con người. Biến giả thành chân. Che đậy  lớp võ bọc bên ngoài. Che đậy sự tham lam tàn bạo nanh vuốt của loài ác Quỉ. Chúng gây ra cho con cháu Tiên Rồng Bách Việt Dân Tộc Văn Lang bao cảnh chiến tranh nồi da nấu thịt, hết nô lệ nầy đến nô lệ khác, hết thời kỳ khốn khổ nầy đến thời kỳ khốn khổ khác làm tiêu tan đất nước Văn Lang Từ thời gần cuối Nhà Chu. Kéo dài cho đến ngày nay hơn hai nghìn năm mấy trăm năm.

Sự lạm sát của những loài Ác Quỉ giết hại con người quá lớn. Làm kinh động đến các Tầng Trời. Phật – Thánh – Tiên – Thần – Chúa. Vì thương nhân loại Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đầu thai xuống trần. Diệt trừ Yêu Tinh Quỉ dữ trừ hậu họa cho con người. Nhưng diệt được ác quỉ nầy thì liền mọc ra ác Quỉ khác. Thái bình thịnh trị không được bao lâu thì chiến tranh loạn lạc trở lại. Làm khốn khổ con cháu Tiên Rồng. Dân Tộc Văn Lang hết nghìn năm nầy đến nghìn năm khác.

Nhất là các thời kỳ cuối thời Hạ Hùng Vương. Từ thời thứ 13 Hùng Việt Vương: Tuân Lang từ năm 569 đến năm 506 trước công nguyên. Trở xuống đến thời Hùng Duệ Vương: Huệ Lang thứ 18 cuối thời Hạ Hùng Vương vào năm 306. Rồi đến thời Âu Lạc  vào năm 258 trước công nguyên. Khốn khổ kéo dài cho đến tận ngày nay.

Trong các cuộc chiến tranh xâm lược bành trướng quân thù. Thời chiến tranh xâm lược Văn Hóa là độc hại nhất Nguy hiểm nhất. Nhất là thứ Văn Hóa làm cho con người mất đi tự chủ. Mất đi truyền thống anh linh dân tộc Lạc Cội Lạc Nguồn. Làm cho dân tộc rã rời đoàn kết. Đạo đức xuống cấp đánh mất lương tâm con người. Làm cho con người không phân biệt được đâu là đúng sai nữa. Thậm chí anh em tàn sát nhau mà vẩn cho là đúng, mà còn cho đó là vinh. Cái vinh đáng sợ làm sao một nhát đao chém xuống anh em vui mừng chiến thắng. Sự sai lầm nào cũng phải có ngày tỉnh ngộ chấm dứt, sự khô cằn nào cũng phải có ngày đâm chồi nẩy lộc. Dân tộc Việt Nam khốn khổ bao nhiêu thì vui sướng lại bấy nhiêu.

Văn Hóa Cội Nguồn xuất hiện thì Chân – Giả, Trắng – Đen, Chính Nghĩa – Phi Nghĩa sáng tỏ. Mặt Trời Văn Hóa Chánh Đẳng Chánh Giác ra đời thì nhân loại mới đi vào ổn định bình yên kéo dài rất lâu có thể nói thế giới nhân loại đi vào cảnh thiên đàng cực lạc trần gian nói chung Việt Nam nói riêng trong một niềm vui thái bình thịnh trị an lạc. Trên mảnh đất Địa Long Vũ Trụ  hình chữ S tức là nước Việt Nam Con Cháu Rồng Tiên sẽ nở hoa Chánh Đẳng Chánh Giác. Tiến tới Chủ nghĩa Thiên Quyền Nhân Chủ đại đồng Long Hoa hội tụ. Rồng Tiên Tỏa Sáng ra đời. Quốc Tổ Vua Hùng. Dân tộc Việt Nam. Nước Việt Nam chóa ngời rạng danh khắp cùng thế giới.

Việt Nam chữ S đất phù sa

Nằm giữa Âm – Dương Cốt Long Hoa

Thánh Địa anh linh từ muôn thuở

Bừng lên rực rỡ khắp hà sa

Văn Hóa Rồng tiên Đường Chính Nghĩa

Cội Nguồn tỏ rạng Cội Ông Cha

Bổn phận thế thiên hành phụng sự

Thái bình an lạc khắp Âu Ca.

*     *     *

Sống trên Địa Cốt Long Hoa

Phải là Thiên Sứ cho nhà Rồng Tiên

Trời ban Đất Việt  Linh Thiêng

Tiên Rồng nòi giống uy quyền từ đây.

*         *         *

Ở cuối thời đại Kinh Dương Vương. Hùng Vương Quốc Tổ ra đời từ Văn Hóa Phong Kiến Thần Giáo. Chuyển sang giai đoạn Văn Hóa Cội Nguồn Thánh Giáo. Trong triều nội Vua không làm theo ý các Triều Thần. MÀ CHỈ LÀM THEO HIẾN PHÁP, LUẬT PHÁP, ĐẠO PHÁP điều hành đất nước. Có nghĩa là xóa bỏ đi Độc Tài Độc Trị không làm theo ý kiến cá nhân, cũng như nghe Triều Thần mà chỉ làm theo HIẾN PHÁP, LUẬT PHÁP, ĐẠO PHÁP. Nền QUỐC ĐẠO bí mật của Triều Đại Văn Lang. Nền Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Không truyền xuống dân, mà chỉ truyền xuống Vương Quan lấy đó để trị dân, dạy dân. Ở vào thời đó chữ viết còn quá thô sơ lạc hậu. Nên không thể lưu chép thành Kinh Văn được. Nên dẫn đến tam sao thất bổn HIẾP PHÁP, LUẬT PHÁP, ĐẠO PHÁP, dần dần biến mất. Nước Văn Lang mất đi nền Văn Hiến Quốc Đạo Văn Lang liền trở về thời Phong Kiến Thần Giáo. Như thời đại Kinh Dương Vương chẳng khác gì Phong Kiến Thần Giáo, cũng như Phong Kiến Vua, Chúa ở Phương Bắc kéo dài hơn 10 nghìn năm trong các thời kỳ Phong Kiến.

Nói tóm lại : Phong Kiến Thần Giáo độc tài độc trị. Phong Kiến Vua Chúa độc tài độc trị là những lập luận giáo điều của mỗi cá nhân các Triều Thần mà Vua thường nghe theo và làm theo. Còn Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa Thánh Giáo không dựa trên ý tưởng riêng mỗi người để tâu lên vua. Mà là nền HIẾN PHÁP, LUẬT PHÁP, ĐẠO PHÁP. THIÊN LUẬT TẠO HÓA không ai có quyền tự đặt ra hoặc hủy diệt đi. THIÊN LUẬT TỰ NHIÊN VŨ TRỤ chính là nền Quốc Đạo dân tộc Văn Lang. Mà các Vua Hùng lấy đó thay nhau làm nền tảng cho sự trị quốc. Đã là Thiên Tử con Trời thì phải thuận theo Thiên Luật vũ Trụ, Thiên Ý Cha Trời sống theo Văn Hóa Cội Nguồn, luôn bảo vệ quyền con người quyền thiêng liêng Tạo Hóa đã ban cho. Sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp công bằng bình đẳng ai cũng như ai. Không có cảnh độc tài độc trị tóm thâu quyền lực lạm sát vô tội.

**************

PHẦN 1

Sau thời Phù Đổng Thiên Vương hơn ba trăm năm mươi năm thời Cha Con Doãn Thường, nổi lên làm một cuộc chính trị tài tình nuốt trọn toàn bộ Bắc Văn Lang. Bắc Văn Lang chính là nước Xích Quỷ ở thời Kinh Dương Vương. Cha Con Doãn Thường nổi lên chiếm lấy Bắc Văn Lang Chia cắt đất nước Văn Lang ra làm hai.

Bắc Văn Lang Cha Con Doãn Thường cai quản thống trị. Chỉ còn lại Trung – Nam Văn Lang Hùng Việt Vương. Tuân Lang, đời thứ 13 Hạ Hùng Vương cai quản thống trị từ năm 569 đến năm 506 trước công nguyên. Mở ra thời đại đen tối cho con cháu Tiên Rồng. Đất nước Văn Lang đi vào cảnh Bách Việt nồi da nấu thịt. Cha Con Doãn Thường nổi lên chiếm lấy Bắc Văn Lang xưng là Việt Vương.

Vì dân tộc Văn Lang là dân tộc Bách Việt, muốn hợp lòng dân thì Cha Con Doãn Thường phải xưng Việt Vương, Vua Việt, thì dân chúng bách Việt mới theo về che chở bảo vệ. Có thể nói Cha Con Doãn Thường rất thông minh lại có mưu đồ lớn nuốt trọn nước Văn Lang lật đổ thời đại Hùng Vương, thay thế thời đại Việt Vương. Vì thế Hùng Việt Vương, Tuân Lang đời thứ 13 Hạ Hùng Vương khốn đốn trước sự khôn ngoan của Cha Con Doãn Thường nổi lên chiếm lấy Bắc Văn Lang. Mà không cách gì lấy lại Bắc Văn Lang được.

Cha Con Doãn Thường có nguồn gốc Ông Cha từ Phương Bắc di cư đến đất Cối Kê Bắc Văn Lang sanh sống trải qua 30 đời. Đến đời Doãn Thường thời dòng họ Vũ nổi lên chiếm lấy Bắc Văn Lang xưng Việt Vương, không phải dòng dõi Vua Hùng. Bắc Văn Lang chính là nước Xích Quỷ chín đời Kinh Dương Vương nối tiếp nhau trị quốc một đất nước giàu có không những giàu có về vàng bạc ngọc ngà châu báu, mà giàu có về lương thực nhất là văn minh lúa nước. Cũng vì sự giàu có nầy mà luôn gặp phải mối họa về xâm lược của các thế lực ngoại xâm. Cũng như những tay lòng đầy dã tâm tham lam nổi lên chiếm lấy Bắc Văn lang nước Xích Quỷ làm của riêng cho mình như Cha Con Doãn Thường biến Bắc Văn Lang thành một thuộc địa Việt Trung Nguyên, sau nầy Việt Trung Nguyên chuyển đổi thành Trung Quốc.

Vì Sao Bắc Văn Lang trở thành Việt Trung Nguyên ?

Là vì cha con Doãn Thường nổi lên chiếm lấy Bắc Văn Lang xưng Vương ở giữa. Nam có Hùng Vương. Bắc có Chu Vương. Giữa có Việt Vương. Kể từ khi Cha Con Doãn Thường nổi lên chiếm toàn bộ Bắc Văn Lang, thì danh từ thuộc địa Việt Trung Nguyên mới ra đời. Từ đó Bắc Văn Lang dần dần biến mất thay thế danh từ Trung Nguyên. Bắc Văn Lang không còn nữa. Chỉ nghe đến danh từ Trung Nguyên mà thôi.

Bắc Văn Lang vốn là nước Xích Quỷ giàu có trù phú vô cùng dân số lại đông lên nhanh chóng không có nơi nào sánh kịp. Là do dân Phương Bắc di cư đến ở vào các thời kỳ Nhà Hạ, Nhà Thương, Nhà Ân, Nhà Chu. Phương Bắc không ổn định như Phương Nam Văn Lang chiến tranh loạn lạc triền miên. Dân chúng lánh nạn chiến tranh di cư đến Bắc Văn Lang sanh sống đông vô số đây chính là cơ hội thuận lợi cho Cha Con Doãn Thường có nguồn gốc Phương Bắc nổi lên chiếm lấy Bắc Văn Lang.

Hùng Việt Vương, Tuân Lang, rất khó tiêu diệt được vì Cha Con Doãn Thường quá khôn khéo biết dùng hình ảnh Quốc Tổ Hùng Vương làm bức bình phong che chắn cho sự dã tâm nổi lên chiếm lấy Bắc Lang xưng Việt Vương. Cha Con Doãn Thường trở thành dân tộc Văn Lang Bách Việt, trải qua nhiều đời. Nên Hùng Việt Vương, Tuân Lang không thể liệt Cha Con Doãn Thường là giặc ngoại xâm được. Mà chỉ coi Cha Con Doãn Thường là quân phản loạn.

Trong khi phần lớn dân Bắc Văn Lang đồng tình ủng hộ cuộc nổi dậy cha Con Doãn Thường. Vì cho Cha Con Doãn Thường là dòng giỏi các Vua Hùng tái sanh chấn hưng lại nước Văn Lang xóa bỏ độc tài độc trị cũng như tham quan ô loại đem lại sự công bằng bình đẳng cho muôn dân, như thời Quốc Tổ dựng nước. Nên Hùng Việt Vương, Tuân Lang khó mà đánh bại được.

Chỉ còn một cách là Nam Bắc phân tranh mà thôi cũng từ đây dân tộc Bách Việt Văn Lang nội chiến đầu rơi máu đổ nồi da nấu thịt Nam – Bắc phân tranh vô cùng khốc liệt. Loài ác quỉ chưa vì thế mà dừng tay tiếp tục hãm hại dân tộc Văn Lang con cháu Tiên Rồng hơn hai nghìn năm.

Ở vào thời điểm nầy Phương Nam Hùng Vương. Phương Bắc Nhà Chu. Không khác gì nhau. Duy trì chủ nghĩa Phong Kiến Thần Giáo. Có nghĩa Vua nghe theo Triều Thần. Làm Theo Triều Thần. Cũng cố sự Độc Tài Độc Trị. Cha Con Doãn Thường khôn ngoan hiểu rõ sự thống khổ của dân dưới thể chế Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị của chủ nghĩa Phong Kiến Thấn Giáo đã trải qua hàng nghìn nghìn năm.

Cha Con Doãn Thường nghiên cứu rất kỷ về thời đại Hùng Vương dựa trên cơ sở nào mà kéo dài sự độc lập lâu như vậy. Và đã phát hiện sự kéo dài sự Độc Lập đó. Không phải dựa trên cơ sở Phong Kiến Thần giáo nghe theo triều Thần, lấy cơ sở Triều Thần trị quốc. Mà là có một nền HIẾN PHÁP, LUẬT PHÁP, ĐẠO PHÁP rõ ràng. Vua, Quan, Dân đều sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp đó. Tức là nền Quốc Đạo Dân Tộc ai cũng như ai Bình Đẳng, Xã Hội Công Bằng Dân Chủ Văn Minh. Một nhà nước lấy Dân làm Gốc, Dân Chủ: Dân có quyền, khác với thể chế Phong Kiến Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị. Thể chế của sự xin cho. Mà là Nhà nước của Dân do Dân và vì Dân. Như thời Quốc Tổ Vua Hùng dựng lên Nhà Nước Văn Lang.

Nhưng Cha Con Doãn Thường lại không hiểu một điều Quốc Tổ Vua Hùng khai dựng lên Nước Văn Lang rộng lớn hùng mạnh. Không phải dựa trên chiến tranh gươm đao giáo mác. Tàn sát lẫn nhau mạnh được yếu thua. Thắng là Vua, thua là Giặc xem đi xét lại giặc với Vua cũng chỉ là một thứ. Mà là dựng nước Văn Lang rộng lớn hùng mạnh dựa trên Quyền Con Người Công Bằng Bình Đẳng Văn Hóa Cội Nguồn trở thành nền Quốc Đạo dân tộc thịnh trị 2701 năm. Văn Hóa Mặt Trời Chánh Đẳng Chánh Giác. Văn Hóa Chủ Nghĩa Thiên Quyền Nhân Chủ Đại Đồng. Văn Hóa Công Bằng, Bình Đẳng, Tự Do Dân quyền văn minh. Vua TỐI CAO của Nước Văn Lang không phải là người khai lên Nước Văn Lang, mà chính là nền HIẾN PHÁP, LUẬT PHÁP, ĐẠO PHÁP. Nền quốc Đạo Dân Tộc VUA, QUAN, DÂN đều tôn thờ. Đây là điều bí mật kéo dài Độc Lập của Nước Văn Lang. Cha Con Doãn Thường không thể nào với tới nổi. Những bí mật cao siêu như vậy. Cứ Nghĩ Vua là trên hết, mà không hiểu có một thứ trên cả Vua. Đó là Thiên Luật Vũ Trụ. Cũng Chính là Thiên Ý Cha Trời, cũng chính là Lương Tâm con người, hiện thân HIẾN PHÁP, LUẬT PHÁP, ĐẠO PHÁP mà Quốc Tổ Vua Hùng dùng nó để khai dựng lập lên Nước Văn Lang.

Quốc Tổ Vua Hùng khai dựng lên nước Văn Lang không phải bằng vũ lực thắng là Vua thua cho là giặc. Mà bằng con đường Văn Hóa Cội Nguồn cũng chính là nền Hiến Pháp nền Quốc Đạo dân tộc. Văn Hóa Chánh Đẳng Chánh Giác tối cao Vũ Trụ. Văn Hóa mặt trời trí tuệ soi sáng cho Bách Việt Văn Lang. Mất Văn Hóa Cội Nguồn thì dân tộc Văn Lang cũng theo đó mà tan rã. Bóng u minh trùm xuống chiến tranh loạn lạc triền miên. Yêu Tinh Quỉ dữ đầu thai làm người chuyển xây tình thế tàn hại con người nói chung dân tộc văn Lang con cháu Tiên Rồng lạc vào con đường ác đạo hầu hết sa đọa xuống các tầng Địa Phủ. Và cho đến khi nào dân tộc Việt Nam sắp đi vào đại họa diệt vong mất nước thời anh linh Quốc Tổ Vua Hùng sẽ xuất hiện cứu nguy dân tộc Việt Nam tiêu diệt ba con chúa quỉ không cho chúng ngự trị hình chữ S Địa Long Vũ Trụ tức là nước Việt Nam ngày nay.

**************

PHẦN 2

Ông Bà Cha Con Doãn Thường khởi nguồn từ dòng dõi Vua Vũ. Con thứ hai của Vua Thiếu Khang đời Nhà Hạ. Phương Bắc. Đến đời Vua Kiệt Nhà Hạ. Vua Kiệt đắm say tửu sắc, lại bất trí, không biết dùng người tài. Nghe lời dua mị của nịnh thần. Chinh phạt các nước. Vua Vũ bị Vua Kiệt Nhà Hạ tri sát. Vua Vũ dẫn gia quyến vợ con, người thân cũng như các quan tướng có trên cả trăm người trốn vào Phương Nam giả làm dân thường đến Bắc Văn Lang Sanh Sống rải rác nhiều nhất là ở đất Cối Kê.

Vua Vũ đến ở Bắc Văn Lang đất Cối Kê, mang theo vàng bạc châu báu nhiều vô số kể. Nên Vua Vũ mua rất nhiều ruộng đất trở nên giàu có không khác gì những người giàu có nhất Bắc Văn Lang. Không những thế Vua Vũ còn giúp đở những các quan tướng đi theo mình ở rãi rác khắp đất Bắc Văn Lang cũng trở nên giàu có. Nhờ sự giàu có chỉ nội trong đời Vua Vũ đã nhập tịch dòng họ con cháu thành dân Bắc Văn Lang chính thống. Theo số đông dân Lạc Việt – Âu Việt, Vua Vũ truyền bá những người đi theo mình, cắt tóc, xăm mình, trở thành dân Âu, dân Việt. Nhưng không sống theo phong tục tập quán của người Âu Việt, Lạc Việt. Mà duy trì lối sống dung hòa Bách Việt lối sống hòa hợp lôi kéo có sự mưu đồ của riêng mình. Lối sống bí mật hình lên nghiệp Vương trong tương lai về sau trong các thời Con Cháu.

Trong thời điểm ấy ở Phương Bắc Thành Thang thì nhà Hạ là người nhân đức trung hậu. Nên các nhân tài theo về rất đông. Còn Vua Kiệt thì hoang dâm vô độ, độc ác vô cùng phải nói là mất hết nhân tính con người. Tàn Sát các nước, giết hại trung thần. Bị Thành Thang đánh đổ lập lên Nhà Thương. Vua Vũ không muốn trở về đất Bắc vì thấy Bắc Văn Lang đất Giao Chỉ trù phú giàu có vô cùng có thể làm nên nghiệp bá bằng nuôi mộng cho đời sau.

Sao gọi là nuôi mộng cho đời sau ?

Có nghĩa là duy trì dòng tộc theo Văn Hóa trung hòa hơi nghiêng về phương Bắc. Hàng năm đều tổ chức hội đồng hương, luôn giúp đở người Phương Bắc đi cư đến Bắc Văn Lang để ở. Có nghĩa là nuôi lớn cái gốc tự trị cũng cố thế lực Xã Hội, cho đến khi hội tụ đủ thời cơ thời thì nổi dậy Xưng Vương.

Vua Vũ cùng những quan tướng trung thần đi theo Vua Vũ đến nơi đất mới Bắc Văn Lang người nào người nấy trở nên giàu có. Không kém gì người giàu có ở bản địa dân chính gốc Bắc Văn Lang. Đến thời thứ 20 con cháu Vua Vũ có người đã làm đến Quan Trị Huyện. Đến đời thứ 30 thời con cháu Vua Vũ phần lớn là Quan Tri Huyện, có người làm đến Quan Tri Phủ. Các Con Cháu các Quan Tướng theo Vua Vũ phần nhiều là có địa vị Xã hội ở khắp đất Bắc Văn Lang và chỉ còn hội đủ thời cơ thời nổi lên xưng Vương Xưng Bá.

Đến thời thứ 31 thời con cháu của Vua Vũ là Doãn Thường, làm đến chức Tri Phủ Lạc Giang Giao Châu. Sông Lạc.

Thấy tình thế Bắc Văn Lang mất gốc Văn Hóa Cội Nguồn, Nền Quốc Đạo không còn. Nhà nước Văn Lang trở thành nhà nước Phong Kiến Thần Giáo. Nhà nước của sự Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị, Quan chức nhà nước Văn Lang phần lớn là quan lạc Cội Lạc Nguồn chỉ biết cũng cố quyền lực không chăm lo mấy đến dân trở thành tham quan nổi lên khắp nước. Nhất là Bắc Văn Lang, tham Quan không những đắm say tửu sắc. Chỉ biết vàng bạc châu báu của cải vật chất. Không những thế trở thành mê tín dị đoan chạy theo Văn Hóa Phương Bắc. Chỉ biết Quyền Lực, Tham ô hối lộ, dẫn đến làm hại dân hại nước. Nhất là Thể Chế Phong Kiến Thần Giáo Độc Tài Độc Trị càng ngày càng hà khắc của các vương quan tha hóa. Bách Việt Bắc Văn Lang dân chúng chán ghét Vương Quan nhà nước Văn Lang vô cùng. Không trông mong gì nhà nước Văn Lang chỉ biết nghe theo dua nịnh mơ ước có sự thay đổi, chỉ cần có một tia lửa thương dân nổi lên, thời dân ủng hộ ngay, đây chính là cơ hội cho Con Cháu Vua Vũ. Doãn Thường nổi lên xưng Vương.

Bắc Văn Lang ở vào thời kỳ nầy như quả mít chín mùi của sự bùng nổ chiến tranh. Chỉ cần một tia lửa đấu tranh nổi lên đem lại quyền lợi cho dân tức thời bùng cháy chiến tranh ngay, không cách gì dập tắc được. Nhất là Văn Hóa Cội Nguồn đã mất, Non sông Tổ Quốc Văn Lang bao trùm màng u minh. Sự đoàn kết của dân tộc không còn. Một dân tộc mất đi nguồn gốc truyền thống anh linh, đương nhiên dân tộc Văn Lang phải héo cành rũ ngọn. Cội Nguồn dòng nước truyền thống không còn đương nhiên là lòng dân đã cạn, không còn nghĩ gì đến non sông tổ quốc nữa. Mạnh ai nấy đi theo chí hướng riêng. Tất cả phần đông đều rơi vào con đường ác đạo. Có thể nói là phản bội lại non sông Tổ Quốc.

Anh hùng lạc đạo không biết đâu là đúng sai nữa, cảnh nồi da nấu thịt diễn ra. Giết hại nhau để rồi lên quan lên tướng. Lấy sự chém giết nhau cho đó là vinh quang vinh dự Thiên Đàng mất lối Địa Ngục rộng mở. Thời kỳ như vậy gọi là thời kỳ mạc pháp. Chiến Tranh loạn lạc triền miên. Hận thù chồng chất oán trả oán, thù trả thù chém giết lẫn nhau không biết bao giờ chấm dứt. Một dân tộc mất Cội mất Nguồn  khó mà tiến hóa để vươn lên. Con Đường Đại Lộ Công Bằng Bình Đẳng Dân Chủ Văn Minh không còn, thay vào đó là con đường Phong Kiến Thần Giáo bảo thủ Độc Tài Độc Trị. Làm cho cuộc sống không tiến hóa được, dẫn đến đói nghèo lạc hậu.

Người dân như sống trong một nhà tù lớn. Khát vọng tự do. Cha con Doãn Thường hiểu rõ điều nầy tạo lên bánh vẽ công bằng tự do, tất cả quyền lợi đem về cho dân tuy rằng chỉ là những lời lừa phỉnh không thật. Nhưng hiệu quả vô cùng dân chúng tin theo nghe theo làm theo. Cha Con  Doãn Thường dựa vào phần lớn dân chúng ủng hộ đồng tình góp công góp sức làm lên một cuộc cách mạng long trời lở đất. Chiếm lấy Bắc Văn Lang phản bội lại thời đại cuối các Vua Hùng.

Theo như những gì Quốc Tổ dạy: Sự Sống của một dân tộc Văn Minh là sự sống có gốc của dân tộc đó. Sự sống mất gốc dân tộc là sự sống chết, nguy cơ trùng trùng. Nô lệ là chuyện không sao tránh khỏi dẫn đến mất luôn đất nước là chuyện không sớm thì chiều.

Dân tộc Văn Lang cũng bởi gì mất đi Văn Hóa Cội Nguồn dẫn đến không biết bao nhiêu là tai hại một đất nước Văn Lang rộng lớn nếu mất đi nền Quốc Đạo dân tộc thời khó mà đoàn kết được Bách Việt. Dẫn đến mất đi Bắc Văn Lang. Rồi đến Trung Văn Lang. Chỉ còn lại Nam Văn Lang. Nếu còn tiếp tục không khôi phục lại Văn Hóa cội Nguồn. Truyền thống dựng nước Ông Cha có hơn năm nghìn năm văn hiến thời Nam Văn Lang hình chữ S nước Việt Nam cũng không thể nào giữ nổi bị giặc phương Bắc nuốt trọn.

Cha con Doãn Thường mọc ra nổi dậy chiếm lấy Bắc Văn Lang cải đổi thành Việt Trung Nguyên. Đến thời Việt Vương Câu Tiễn dâng hai tay cho người Phương Bắc. Ở vào thời Chu Nguyên Vương nhà Chu. Chu Nguyên Vương phong cho Câu Tiễn làm bá chủ ở Phương Đông. Câu Tiễn cuối đầu vân mệnh.

Gương còn đó sờ sờ trước mắt

Quên Cội Nguồn khó thoát tai ương

Hỡi Việt Nam con cháu Rồng Tiên

Gương lịch sử đừng quên luôn nhớ

Về Cội Nguồn dựng xây truyền thống

Đâm lộc cành kết quả sai hoa

Theo con đường Truyền Thống Ông Cha

Khôi phục lại hào hùng dân tộc

Khôi phục lại văn minh Độc Lập

Nền Quốc Đạo như vầng Nhật Nguyệt

Mãi sáng soi con cháu Việt Nam.

Văn hóa Phong Kiến Thần Giáo Độc quyền, Độc Tài, Độc Trị không phải bây giờ mới có. Mà đã ra đời hơn 10 nghìn năm trước công nguyên tồn tại mãi ở Phương Bắc. Văn hóa của sự bành trướng tranh hùng tranh bá, chém giết lẫn nhau. Thôn tính lẫn nhau. Vô cùng tàn khốc. Nếu ai thông suốt về sử ở Phương Bắc thời đều cảm nhận được điều nầy, sự bành trướng tranh hùng tranh bá thôn tính lẫn nhau. Ăn nuốt lẫn nhau chém giết lẫn nhau thủ đoạn tàn độc, thứ Văn Hóa nầy lan tràn đến đâu thời chiến tranh tàn khốc đến đó. Sự đem lại kết quả cho Văn Hóa nầy là hận thù. Thủ đoạn, tàn độc. Nếu bị nhiễm nặng có thể nói không còn lương tri mất đi nhân tính con người.

Không như Văn Hóa Cội Nguồn văn Hóa Chính Nghĩa làm cho nhân loại con người Hiễn Thánh, Thánh Thiện. Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa trí tuệ. Văn Hóa của sự  đoàn kết, hòa bình, thịnh vượng. Có thể nói Văn Hóa Cội Nguồn Chính Nghĩa là Văn Hóa mùa xuân trăm hoa đua nở. Văn Hóa mở ra cánh cửa Thiên Đàng cực lạc.

Văn Hóa Phong kiến Thần Giáo Độc Tài Độc trị tồn tại mạnh ở Phương Bắc gieo rắc tranh hùng tranh bá thứ Văn Hóa Mùa Đông tàn phá văn minh tinh thần làm cho con người càng trở nên ác độc. Độc tâm độc tánh hiểm ác vô cùng. Nói đến Văn Hóa Phong kiến Thần Giáo là nói đến cái độc nói chung là không gì không độc. Hiểm độc, ác độc, tàn độc, tuy có nhiều Thánh nhân ra đời.

Như Khổng Tử làm giảm bớt đi cái độc của Phong Kiến Thần Giáo, Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị. Đưa con người đến Thánh Thiện nhưng xem ra như hạt Muối bỏ xuống ao hồ. Không mấy kết quả. Mà còn trở thành một thứ vũ khí để cho các nhà Độc Tài độc Trị Phương Bắc lợi dụng làm chính trị. Đầu độc làm hại các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam. Rơi vào cảnh nô lệ.

Quốc Tổ Hùng Vương khai dựng lên nhà nước Văn Lang nhà nước của dân do dân và vì Dân nhà nước tam quyền phân lập không có sự độc tài độc trị nhà nước của Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo pháp. Nhà nước Pháp quyền. Nhà nước của sự công bằng bình đẳng. Sự kéo dài độc lập thời đại Hùng vương 2701 năm Thượng Hùng Vương 23 đời. Hạ Hùng Vương 18 đời tổng cọng thời đại Hùng Vương có 41 đời.

Văn Hóa Cội Nguồn không những là Văn Hóa sáng soi Đạo đức con người, Đạo đức xã hội. Mà còn là kim chỉ nam cho sự phát triển xã hội Văn Hoá Cội Nguồn hiển linh trở lại sáng soi dân tộc Việt Nam, có thể nói dân tộc Việt đã đến thời kỳ chuyển sang giai đoạn  thời đại Thánh Đức.

Văn Lang chính sử sách còn ghi

Bách việt anh linh có lạ gì

Đài linh vó ngựa Nam – Trung – Bắc

Cội Nguồn Văn hóa một đề thi

Văn Lang Bách việt

Tàn sát lẫn nhau

Nguyên cớ vì đâu?

Cội Nguồn biến mất

Đi vào nội chiến

Trăm khổ nghìn sầu

Những ai quên mất Cội Nguồn

Lạc vào ác đạo hết đường hồi quy

Thiên đàng đã mất lối đi

Muôn đời sa đọa âm ty nghìn trùng.

***************

PHẦN 3

Ở vào thời Phong Kiến Thần Giáo thời Nhà Chu. Chu Vũ Vương. Chu Thành Vương. Chu Mục Vương. Chu Di Vương. Đến thời Chu Lệ Vương thì nội triều Phong Kiến Thần Giáo con cháu Nhà Chu tranh giành quyền lực. Anh Em chém giết lẫn nhau, triều chính hỗn loạn.

Chu Lệ Vương chạy trốn sang đất Trệ. Các Quần Thần Phong Kiến Thần Giáo Nhà Chu trong cảnh triều ca không Vương. Bằng hợp nhau thi hành chính sự Cộng Hòa điều hành đất nước Phương Bắc Nhà Chu đi đến hỗn loạn. Các Trấn Chư Hầu nổi lên tranh bá lẫn nhau. Thôn tính lẫn nhau chiến tranh loạn lạc. Phong Kiến Thần Giáo Quần Thần Nhà Chu, lập Chu Tuyên Vương chỉnh đốn lại Nhà Chu.

Khi ấy ở nước Tề. Tề Lệ Công được lập. Lệ Công vô cùng bạo ngược. Nghe lời xàm tấu nịnh hót tham quan ô loại. Nội chính thì giết Trung Thần. Ngoại chính thì chinh phạt các nước làm cho Phương Bắc chiến tranh thôn tính lẫn nhau ăn nuốt lẫn nhau dữ dội. Mạnh được yếu thua thắng là Vua. Thua là giặc. Xem đi xét lại giặc với Vua cũng chẳng khác gì nhau. Ai có nhiều nhân tài biết đội lớp nhân nghĩa. Mưu mô xảo quyệt hơn thì thắng. Xưng Vua, Xưng Chúa. Xưng Bá.

Không như phương Nam nước Văn Lang dân chúng sống theo Thánh Đức Thánh Giáo. Sống Theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp nền Quốc Đạo dân tộc thái bình an lạc. Kéo dài hơn mấy nghìn năm.

Đều đáng chú ý ở đây : Thánh Đức, Thánh Giáo khác với Phong Kiến Thần Giáo Là ở chỗ Thánh Đức Thánh Giáo. Vua, Quan, Dân, đều sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Nền Quốc Đạo dân tộc. Còn Phong Kiến Thần Giáo là Triều Thần bao hàm cả Trung Thần, Nịnh Thần tâu lên Vua. Vua nghe theo đó mà hành sự. Mới có cảnh Nịnh Thần hãm hại Trung Thần. Trung Thần can gián Vua Làm Bậy liền bị xử tử. Còn Thánh Đức Thánh Giáo không phải như thế. Tất cả Vua, Quan, Dân đều sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công Bằng Bình Đẳng Văn Minh. Chỉ bỏ tù hoặc xử tử những người có tội vi phạm luật pháp. Dù cho đó là Vương, Quan. Những người vi phạm Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp thì bị xử theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công đạo của nhà nước Vương, Quan, Dân phạm tội đều bị xét xử Công bằng Bình Đẳng trước Pháp Luật như nhau.

Phương Bắc Nhà Chu theo chủ nghĩa Phong Kiến Thần Giáo độc tài độc trị, khác Phương Nam Thánh Đức Thánh Giáo thời Hùng Vương đa nguyên đa sắc tộc Bách Việt Tộc Văn Lang công bằng bình đẳng dân chủ tự do. Vì thế Phương Bắc không thể nào sánh kịp chiến tranh loạn lạc. Các nước thôn tính lẫn nhau tranh giành dân chúng. Tranh Giành đất đai quyền lực, làm cho dân chúng khốn đốn, thảm cảnh đói rét, chết chóc xảy ra khắp nơi không ít dân chúng trốn chạy di cư vào Nam tức là Bắc Văn Lang. Có lúc chỉ trong vòng có mấy ngày lên đến cả vạn người. Bắc Văn Lang vì thế dân số tăng lên nhanh chóng không sao đếm xuể. Thậm Chí các Châu Quận, Huyện, không còn kiểm soát được nữa. Đành để cho dân chúng Phương Bắc tràn qua di cư sống vô gia cư khắp trên Bắc Văn Lang.

Nước Tề đến thời Tề Hoàng Công Phong Kiến Thần Giáo vô cùng hưng thịnh. Phương Bắc tranh bá khóc liệt hơn nữa. Tề Hoàng Công nhờ có các bậc Triều Thần tài giỏi  không những thu phục các nước mà còn biết trọng dụng nhân tài. Mộng bành trướng xưng hùng xưng bá lúc nào cũng trổi dậy mạnh mẽ Tề Hoàng Công nhờ có Thấp Bằng, Cao Hề, Bão Thúc Nha cùng Quảng Trọng bày kế hay, mưu lược giỏi đánh nước Kỷ, nước Lỗ, nước Đàm. Cứu nước Yên, đánh nước Vệ, nước Thái, Nước Sở, Nước Trần. Nước Tấn.

Tề Hoàng Công phía Nam chinh phạt Nam đến đất Thiệu Lăng, tây Nam đến Hùng Sơn. Ở phía Bắc đánh Sơn Nhung, Ly Chi, Cô Trúc. Phía Tây đánh Đại Hạ đến núi Thái Hàng, núi Ty Nhĩ hơn cả trăm nước không ai dám chống lại Tề Hoàng Công.

Cuộc chiến chinh phạt nước nầy, thu phục nước kia. Xóa sổ nước nọ, cứu nước nầy, giúp nước kia. Có thể nói lúc bấy giờ Phương Bắc là bãi chiến trường. Dân chúng Phương Bắc càng bị chiến tranh bao nhiêu, thì càng di cư vào Nam Bắc Văn Lang càng nhiều bấy nhiêu. Không những dân chúng mà còn có cả những Vua, những Tướng đang bị truy sát.

Cùng thời ấy đến thời Triệu Xuyên nước Tấn giết Vua của mình là Di Cao. Tấn Linh Công, Triệu Thuẫn cũng có phần. Triệu Thuẫn có công lập Tấn Thành Công lên thay thế. Nên Tấn Thành Công bỏ qua còn phong cho con cháu Họ Triệu làm quan lớn. Đến thời Tấn Cảnh Công, Đồ Ngạn Giả lật ngược tình thế kể tội Triệu Xuyên. Triệu Thuẫn mưu sát Di Cao, Tấn Linh Công ở tại Đào Viên. Dòng Họ Triệu bị tru di cửu tộc. Quan Binh truy sát con cháu Triệu Xuyên, Triệu Thuẫn chết không biết bao nhiêu mà kể. Số còn sống thì trốn chạy khắp nơi có người trốn sang nước Tống. Một số trốn vào Nam. Tức là Bắc Văn Lang sanh sống.

Trải Qua nhiều đời được sự giúp đở con cháu của Vua Vũ. Dòng họ Triệu trở nên hưng thịnh giàu sang trở thành quyền thế trong đó có Triệu Tế Gia. Khi Cha Con Doãn Thường Con Cháu Vua Vũ ra đời như một anh hùng nổi dậy đứng lên chiếm lấy Bắc Văn Lang, cải đổi thành nước Việt Trung Nguyên thì con cháu Họ Triệu làm đến Tướng Soái thống lãnh đại quân Trung Nguyên chống trả lại quân Văn Lang.

Thời hậu Hùng Vương, từ thời thứ 13 hậu Hùng Vương trở xuống đất nước Văn Lang trở thành nội chiến chia cắt Bắc Nam. Bắc Văn Lang đã bị Cha Con Doãn Thường nổi dậy chiếm lấy lập lên đất nước Việt Trung Nguyên.

Với tình thế lúc bấy giờ nước Văn Lang Văn Hóa Cội Nguồn mai một thất truyền biến mất. Nền quốc đạo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp chân chính không còn. Thay vào đó là niền Phong Kiến Thần Giáo do triều Thần đề xướng giúp Vua. Theo thể chế Độc quyền độc tài độc trị không còn Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp nữa Mà nghe theo Triều Thần. Vua anh minh sáng suốt thì còn khá còn Vua hôn quân vô đạo lại nghe Nịnh Thần. Thì tai hại nước nhà không sao xiết kể.

Có thể nói ở vào giai đoạn từ thời Hùng Việt Vương trở xuống không khác gì nền Văn Hóa Phong Kiến Thần Giáo Phương Bắc Độc Tài, Độc Trị. Dưới thể chế Độc Tài, Độc Trị Phong Kiến Thần Giáo xin cho nầy. Càng làm cho đất nước Văn Lang suy tàn. Tham quan mọc ra như nấm. Chỉ biết vơ vét của dân làm giàu, mua quan bán chức không kẻ gì đến non sông Tổ Quốc. Lòng dân càng ngày càng oán hận.

Văn Hóa Phong Kiến Thần Giáo là Văn Hóa độc hại, Văn Hóa của sự tranh bá tranh hùng mạnh được yếu thua, thắng là vua thua là giặc Văn Hóa Phong Kiến Thần Giáo làm cho đất nước Văn Lang suy yếu dẫn đến chiến tranh loạn lạc không khác gì Phương Bắc. Sự độc hại của Phong Kiến Thần Giáo là mê tín dị đoan, cầu cạnh Thần Linh. Xin Xăm bói quẻ. Lôi kéo lòng người đi theo con đường Tà Giáo. Thổi bùng lòng tham tranh danh đoạt lợi bất chấp mọi thủ đoạn thôn tính tiêu diệt lẫn nhau.

Phong Kiến Thần Giáo khác với Phong Kiến Thánh Giáo là xa con đường Chính nghĩa Công Bằng Bình Đẳng. Không có Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Công đạo Chánh Nghĩa chân chính xã hội. Mà chỉ theo thể chế độc tài độc trị. Nước Văn Lang không còn nền Quốc Đạo dân tộc. Có nghĩa là Văn Hóa Cội Nguồn biến mất Tự Do Dân Quyền Văn Minh thời dựng nước không còn.

Thay vào đó là nhà nước Phong Kiến Thần Giáo Độc Tài Độc Trị. (Chủ nghĩa Phong Kiến Thần Giáo là chủ nghĩa cạnh tranh hủy diệt khốc liệt. Mạnh được Yếu thua. Thắng là Vua thua là Giặc. Xem đi xét lại Giặc với Vua cũng chỉ là một thứ). Theo quy luật tự nhiên của Tạo Hóa. Nơi nào có áp bức thời nơi đó có đấu tranh. Nơi nào chạy theo Thần Quyền thì nơi đó lòng dân hỗn loạn Cha Con Doãn Thường đã hiểu rõ tình thế xã hội thời bấy giờ cơ hội thuận lợi nổi dậy chiếm lấy lòng dân. Chiếm lấy Bắc Văn Lang. Đất Nước Văn Lang liền rơi vào cảnh chiến tranh nội chiến tàn khốc.

Đồng Bào Bách Việt Văn Lang con cháu Tiên Rồng rơi vào cảnh nồi da nấu thịt tàn sát lẫn nhau. Văn Hóa Cội Nguồn nền Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp chính nghĩa Quốc Tổ Hùng Vương dùng nó dựng nước, giữ nước, trị quốc kéo dài độc lập 2701 năm là vầng Thái Dương của non sông Tổ Quốc. Soi sáng cho dân tộc Văn Lang Thái Bình thịnh vượng An Lạc yên vui. Đánh mất Văn Hóa Cội Nguồn nền Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp dân tộc là đánh mất tất cả. Dân Tộc Văn Lang rơi vào cảnh tối tăm.

Non Sông Tổ Quốc mất gốc. Bách Việt Văn Lang lạc Cội lạc Nguồn Dân tộc Văn Lang liền tan rã sự đoàn kết chia bè rẽ phái nổi dậy xưng bá xưng hùng chém giết lẫn nhau. Không khác gì Phương Bắc chiến tranh hỗn loạn dân chúng không lúc nào yên. Một dân tộc mà nguồn gốc dựng nước, giữ nước mù mờ. Không rõ ràng, sự thừa kế không có thì rơi vào con đường ác Đạo hỗn loạn tối tăm ngay.

Bằng chứng cụ thể nền Văn Hiến Văn Hóa dựng nước không còn. Nước Văn Lang liền đi vào suy yếu. Dân Chúng Bắc Văn Lang nổi loạn. Cha Con Doãn Thường nổi dậy chiếm lấy bắc Văn Lang. Đất nước Văn Lang liền bị chia cắt. Bách Việt Văn Lang rơi vào nội chiến. Kết quả của sự nội chiến là đưa dân tộc Văn Lang đến con đường nô lệ ngoại bang. Mất lần đất đai chiến tranh triền miên khốn khổ mấy nghìn năm.

Cây mất gốc héo cành rũ ngọn

Nước mất nguồn nước cạn nước khô

Sử kinh chép lại sáng soi

Mất Nguồn lạc Cội nát tan cơ đồ

Chiến tranh lạc hậu khốn cùng

Lệ nô, nô lệ hết còn tự do.

**************

PHẦN 4

Ở vào thời gần cuối thời Hùng Việt Vương : Tuân Lang. Đời thứ 13 Hạ Hùng Vương Từ năm 569 đến năm 506 trước công nguyên uy lực Vua Hùng suy yếu là do Văn Hóa Cội Nguồn đã biến mất Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp chân chính không còn cũng ra đi.

Nền Văn Minh Tự Do, Công Bằng Bình Đẳng. Quyền con người lấy dân làm gốc không còn. Dần dần thay vào đó là nền Phong Kiến Thần Giáo Độc Tài Độc trị. Theo thể chế xin cho. Bóng đêm bao phủ trùm xuống nước Văn Lang tham quan mọc ra như nấm. Mua quan, bán chức xảy ra thường xuyên.

Nhất là Bắc Văn Lang sự mua quan bán tước lại càng lộ liễu mua quan bán tước công khai. Lại thêm tình hình lúc bấy giờ bất ổn vì nạn di cư dân chúng Phương Bắc lánh nạn chạy giặc vào Bắc Văn Lang mỗi ngày mỗi đông. Đến nổi không còn kiểm soát được nữa.

Khi ấy ở Đất Cối Kê, Lạc Giang Châu, nơi con sông Lạc, sông Kinh. Có một gia đình rất đông con cháu, giàu có nhất Lạc Giang Châu có tới trăm thương đoàn buôn bán giao dịch hầu khắp Trung – Bắc Văn Lang. Vị giàu có đó tên là Việt Tế Gia.

Ông là người tôn thờ Văn Hóa Phương Bắc Phong Kiến Thần Giáo. Tôn thờ thuật Xin Xăm, Bói Quẻ, Nhập Đồng, Nhập Bóng. Mê Tín dị đoan tôn thờ các loài Thần Thú. Việt tế Gia là dòng giõi Vua Vũ từ Phương Bắc thời Nhà Hạ di cư đến Đất Cối Kê để ở.

Việt Tế Gia duy trì được gia phả dòng họ trên ba mươi đời. Nên hàng năm đến ngày giỗ tổ Vua Vũ. Không những các chi nhánh dòng họ, mà còn nhiều dòng họ khác liên quan đến Ông Tổ Vua Vũ cũng đã đông đến lên hàng nghìn nghìn người. Ngoài Dòng Họ Vũ ra còn có Dòng Họ Triệu con cháu Triệu Tế Bá Gia đông vô cùng. Không ít con cháu các chi nhánh Dòng Họ Triệu làm đến Bố Chánh Đại Nhân Quan Huyện. Rải rác khắp Bắc Văn Lang.

Thế lực Việt Tế Gia Họ Vũ ở vào thời điểm nầy phải nói là không ai dám đụng đến. Vì đại đa số con cái cháu chắt đang nắm chính quyền Từ Châu Bộ, đến Huyện, Xã. Không những thế mà còn Ông Trùm kinh tế Thương Gia khắp Bắc – Trung Văn Lang. Nên mọi sự biến động xảy ra trên nước Văn Lang đều hiểu rõ như trong lòng bàn tay. Nhất là Bắc Văn Lang.

Việt Tế Gia có rất nhiều bà Vợ. Nhưng Hồ Mị Nương là khôn lanh hơn cả trẻ đẹp hơn mấy bà vợ kia. Nên Việt Tế Gia nâng niu chiều chuộng hết mực. Hồ Mị Nương không thích ăn thịt mà thích ăn các loài cá lạ.

Một hôm Hồ Mị Nương nghe nói dân chài bắt được con Thuồng Luồng Đất. Xẻ thịt đêm ra chợ bán. Nghe nói ăn thịt được Thuồng Luồng Đất hên lắm lại trị được bá bệnh nhất là bệnh khó có con. Liền cho người mua về thật nhiều phơ khô để dành mà ăn.

Một hôm Hồ Mị Nương nằm mộng thấy một con quái thú Thuồng Luồng bốn chân đầu Sói mình Sấu đuôi Rồng đến chụp Mị Nương. Mị Nương sợ quá ré lên trong lúc canh đêm, làm kinh động cả nhà. Việt Tế Gia hỏi Mị Nương kể lại giấc chiêm bao ấy. Việt Tế Gia lấy làm kinh sợ vì Hồ Mị Nương thấy con quái thú trong giấc chiêm bao chính là Con Quái Thú Thuồng Luồng Phòng Phong mà dòng họ Vũ đã thờ trong cổ miếu có hơn 30 đời.

Không bao lâu Hồ Mị Nương mang thai rồi sanh ra một cậu con trai kháu kỉnh. Trong lúc sanh ra cậu bé trời đất nổi cơn thịnh nộ bất thường mưa gió nỗi lên ầm ầm cây cối ngã đổ chết chóc không biết bao nhiêu người. Với điềm lạ ấy nên Việt Tế Gia đặc tên cho con là Doãn Thường.

Doãn Thường lớn lên không thích xu thế giàu, mà thích làm Chính Trị. Điều nầy làm Việt Tế Gia đặc nhiều hi vọng vào Doãn Thường. Doãn Thường rất thông minh học một biết mười học đâu nhớ đó, ăn nói khôn khéo, có tài hùng biện nên rất được nhiều người nghe. Lại thêm có sức mạnh không ai bằng. Doãn Thường không đi theo còn đường làm giàu của Việt Tế Gia. Mà chỉ đi theo con đường Chính Trị. Thu thập võ nghiệp giao du học hỏi khắp nơi nhờ nhân duyên lớn Doãn Thường gặp được một đại Ma Đầu học được Ma Đao tuyệt học Đao Pháp.

Doãn Thường trở thành sát Thủ đệ nhất sát Đao không ai sánh được. Tuy Doãn Thường không đi theo con đường làm giàu của Việt Tế Gia. Nhưng tất cả mưu lược thủ đoạn trong kinh doanh thì Doãn Thường hơn hẳn Việt Tế Gia rất xa. Nên Việt Tế Gia rất hài lòng về việc nầy.

Doãn Thường thường nói với Việt Tế Gia:

   Không có kinh doanh nào hơn là kinh doanh buôn quan bán tước. Không có cái lợi nào hơn là cái lợi gồm thâu thiên hạ làm thống lĩnh.

Việt Tế Gia nghe Doãn Thường nói thế thời sửng sốt nói:

   Con muốn làm vua.

Doãn Thường nói:

   Làm Vua, làm Chúa, làm Bá thì có gì hay. Chỉ có xưng Vương mới là thượng sách.

Việt Tế Gia nghe Doãn Thường nói thế thì tái cả mặt không phải vì sợ. Mà vì nghe Doãn Thường có tư tưởng lớn quá. Ở vào thời điểm hiện tại chỉ có hai chúa Vương. Đó là Nam có Chúa Tể Hùng Vương. Bắc có Chúa Tể Chu Vương muốn trở thành một vị Chúa tể Chúa Vương nữa thì còn khó hơn lên trời.

Có một hôm Việt Tế Gia nói:

   Doãn Thường theo con tình hình hiện tại con nghĩ Phương Nam có Chúa Tể Hùng Vương mạnh, hay Phương Bắc Chúa Tể Chu Vương mạnh.

Doãn Thường nghe cha hỏi liền trả lời:

   Thế Lực Hùng Vương kéo dài hơn mấy nghìn năm, nay đã đến thời kỳ suy yếu. Nền Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp đã thất truyền. Tham quan mọc lên như nấm làm cho dân than oán khắp nơi. Tự đánh mất lòng dân đồng nghĩa là báo hiệu đi vào sụp đổ. Hơn nữa Văn Hoá Cội Nguồn không còn Đạo Đức suy đồi dẫn đến mê tín dị đoan không khác gì Phương Bắc. Khó mà đoàn kết được sức mạnh toàn dân tộc. Còn Phương Bắc Nhà Chu thì còn tệ hại hơn nữa. Chúa Vương nhà Chu nền Phong Kiến Thần Giáo đã đến hồi cực thịnh. Vua Quan tửu sắc dâm loạn ăn chơi trác tán, chỉ biết quyền lực. Độc Tài Độc Trị tham lam tàn bạo nghe theo dua nịnh nay ngã theo nước nầy, mai ngã theo nước kia. Tề mạnh thì ngã theo Tề. Tấn mạnh thì ngã theo Tấn. Sở Mạnh thì ngã theo Sở. Làm cho Phương Bắc các nước xâu xé lẫn nhau. Chiến tranh triền miên dân chúng khốn khổ vô cùng. Tạo ra dòng người di cư vào Nam như nước lũ. Đây chính là cơ hội cho dòng dõi Vua Vũ Ta đầy đủ yếu tố phản loạn lại nhà nước Văn Lang tạo lên nghiệp Vương. Tình thế Bắc Văn Lang bây giờ vô cùng hỗn độn không thể kiểm soát tình hình được nữa. Cướp bóc nổi lên khắp nơi Vương, Quan thời chỉ biết bê tha trong tửu sắc. Kẻ thì quá giàu người thì quá nghèo. Tuy chỉ là Bắc Văn Lang nhưng dân số đông vô cùng. Hai Phần là dân bản gốc, một phần là dân di cư từ Phương Bắc vào. Tuy hai phần dân bản gốc Văn Lang nhưng dân chúng phần đông cũng đã chán chê triều đại Hùng Vương không đem lại lợi ích gì cho dân. Làm Vua mà chỉ nghe theo Nịnh Thần. Trung Thần luôn bị hãm hại, nhân tài vì thế mà không muốn ra giúp nước. Nhất là Bắc Văn Lang chỉ thấy bọn tham qua sách nhiễu vơ vét của dân làm giàu cho bản thân. Không kể gì đến truyền thống anh linh dân tộc. Đi ngược lại lời dạy của Quốc Tổ Vua Hùng. Vì không còn Quốc Đạo nhà nước Văn lang. Sự mất gốc nầy dẫn đến tôn thờ Phong Kiến Thần Giáo không khác gì Văn Hóa Phương Bắc. Đây chính là cơ hội cho chúng ta làm nên nghiệp lớn. Chúng ta chỉ cần khôn khéo dựng Quốc Tổ Hùng Vương dậy. Trước thì làm bình phong che chắn cho chúng ta. Sau là dân chúng theo về, không nghi ngờ gì chúng ta cả chúng ta cứ nói là tôn thờ Quốc Tổ Vua Hùng, thì toàn thể dân chúng Bắc Văn Lang sẽ đi theo chúng ta. Nhưng thật ra chúng ta đi theo một hướng khác. Biến Bắc Văn Lang thành đất nước Trung Nguyên. Xưng Vương ở giữa.

Việt Tế Gia nghe Doãn Thường đưa ra đường hướng khôn khéo như vậy thì khen rằng:

   Con quả là có mưu trí hơn người.

Nhưng lại hỏi:

   Làm thế nào mà thành nghiệp Vương nhanh chóng được?

Doãn Thường đáp:

   Thưa Cha. Đối với những người có chí lớn. Tất nhiên chẳng có gì là khó, chỉ là hiểu rõ Thiên Thời. Hiểu rõ Địa Lợi. Và biết cách lấy lòng dân, dung hòa hết thảy các tầng lớp Xã Hội. Lôi kéo các đại Môn Phái Võ Gia. Thu phục lợi dụng Tà Ma Ác Đạo. Mua Quan, bán tước. Đưa con cháu tiến sâu vào ngôi vị Chính Quyền nắm bắt mọi thông tin hằng ngày. Có tài tháo vác trăm mưu nghìn kế, chuyển xây tình thế có lợi lần về Mình, bất lợi lần về Địch. Suy đoán hành động đúng lúc. Biết làm cho người ta Mê Hoặc. Biết làm cho người ta Khiếp Sợ. Công Danh Lợi Lộc là thiên đàng của sự ham muốn. Vì mấy ai không ham danh, ham lợi. Tự Do là Thiên Đàng mơ ước của các tầng lớp khốn khổ. Nhất là những giai cấp đang bị đàn áp, bóc lột, sách nhiễu, những tù nhân tội lỗi những kẻ vô gia cư. Vì vậy chỉ cần có danh từ tự do là những giai cấp thống khổ ấy liều chết mà đi theo rồi. Dù đó chỉ là Bánh Vẽ. Dù biết rằng đó chỉ là bánh vẽ Tự Do nhưng cũng hiệu quả không sao tưởng tượng được. Cộng thêm lời ru Công Bằng, Bình Đẳng. Thì dân chúng khốn khổ như uống phải mật ngọt, ai là không  mơ ước ai mà không đi theo. Nhưng thật ra chỉ có nền Quốc Đạo Văn Hóa Cội Nguồn mới thật sự có nền Dân Chủ Tự Do, Công Bình Bình đẳng mà thôi, nhưng đã bị thất truyền không còn dấu vết nữa. Nhưng chúng ta chỉ cần chỉ cần có bánh vẽ lấy dân làm gốc cộng với khẩu hiệu Công Bằng Tự Do thì chúng ta đã thành công cướp lấy Bắc Văn Lang xưng Vương rồi hầu hết các tầng lớp dân chúng ủng hộ đi theo chúng ta. Tuy biết đó chỉ là lời nói suông ngôn từ nhưng cũng có hiệu quả như thường dấy lên một phong trào tự trị không có một thế lực nào đánh bại nổi. Vì dễ cỡ nào không ai theo cũng chịu, nhưng việc khó đến đâu mà có dân chúng theo về thì dời núi lấp sông cũng dễ như trở bàn tay. Vì sao dựng dậy Quốc Tổ cũng như khẩu hiệu Công Bằng, Bình Đẳng, Tự Do lại hiệu quả như thế? Vì muốn chiếm lấy Bắc Văn Lang không thể không lợi dụng Quốc Tổ, vì chỉ có lợi dụng Quốc mới lôi kéo dân chúng đi theo mình phản lại nhà nước Văn Lang. Với khẩu hiệu Công Bằng, Bình Đẳng chính là thiên đàng mơ ước sự sống của tất cả tần lớp dân chúng. Nhất là dân chúng đang sống trong khốn cảnh độc tài độc trị của chủ nghĩa phong kiến Thần Giáo. Thử hỏi mấy ai trên thế gian nầy không ưa thích Tự Do Công Bằng Bình Đẳng. Nhưng Có vị Vương nào, vị Chúa nào đem lại Tự Do, Công Bằng Bình Đẳng đâu. Chỉ trừ Quốc Tổ Vua Hùng mà thôi. Mà chỉ thấy Độc Tài, Độc Trị muốn dân chết là chết, muốn dân sống là sống. Mạnh được yếu thua được là Vua thua là Giặc. Xem đi xét lại Vua với Gặc, Giặc với Vua nào có khác gì. Dân chúng mãi mãi không bao giờ có Tự Do. Không bao giờ có Công Bằng Bình Đẳng thật sự. Chỉ khi nào Quốc Tổ Hùng Vương sống dậy thì may ra mới có Tự Do, Công Bằng, Bình Đẳng thật sự. Nhưng điều đó sẽ không bao giờ có vì chết rồi có ai sống lại được đâu. Chúng ta chỉ cần dựng dậy Quốc Tổ Vua Hùng có bánh vẽ Tự Do. Bánh vẽ Công Bằng, Bình Đẳng thì được Thiên Hạ chiếm lấy Bắc Văn Lang dễ dàng. Nhưng giữ được Thiên Hạ thì khó vô cùng. Quốc Tổ Vua Hùng về trời đã mang theo bí mật về Nhân Quyền Dân Chủ, Tự Do, Công Bằng, Bình Đẳng. Nghe nói Vua Hùng chưa phải là tối cao của nước Văn Lang. Mà tối cao của Nước Văn Lang chính là Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo pháp nền Quốc Đạo Dân Tộc. Nền Quốc Đạo Dân Tộc chính là Văn Hóa Cội Nguồn, chủ Nghĩa Đại Đồng. Quốc Tổ Vua Hùng dùng Văn Hóa Cội Nguồn dựng nước Văn Lang. Không dùng đến bạo lực mạnh được yếu thua, thắng là Vua thua cho là Giặc. Nhưng Văn Hóa Cội Nguồn chủ nghĩa Đại Đồng Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Nhân Quyền đã thất truyền không còn dấu vết gì nữa. Quốc Tổ Vua Hùng gồm thâu Bách Tộc dựng lên Bách Việt Văn Lang theo phương pháp Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Có nghĩa Quốc Tổ Vua Hùng hàng phục Thiên Hạ khai dựng lên nước Văn Lang không phải bằng con đường bạo lực. Mạnh được yếu thua thắng là Vua thua là giặc. Mà bằng con đường Văn Hóa Cội Nguồn đêm lại thật sự Tự Do, Công Bằng, Bình Đẳng cho Xã Hội. Nên mới kéo dài Độc Lập lâu như thế. Nhưng phương pháp dựng nước ấy đã thất truyền rồi không còn dấu viết gì nữa. Cha Con chúng ta tuy không có Văn Hóa Cội Nguồn nhưng nổi dậy chiếm lấy bắc Văn Lang không khó. Chỉ cần tạo lên Hiến pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp giả hiệu. Công Bằng, Bình Đẳng, Dân Chủ, Tự Do giả hiệu, thì coi như nghiệp Vương đã thành không ai có thể hiểu được sự cao thâm huyền diệu lừa dối nầy. Mà cứ tưởng Cha Con Ta tôn thờ Quốc Tổ, đem lại sự Tự Do, Công Bằng Bình Đẳng cho người dân Bách Việt Văn Lang. Bách Việt Văn Lang sẽ đi theo chúng ta chống lại nhà nước Văn Lang. Sự lừa dối tinh vi nầy khó mà nhìn thấy. Nếu phát hiện nhìn thấy thì coi như mọi chuyện đã rồi.

Với mưu đồ bất chính Cha Con Doãn Thường lúc nào cũng nói làm theo di chí Quốc Tổ Vua Hùng. Nhưng thật ra đó chỉ là lớp vỏ bọc bên ngoài che đậy dã tâm mưu mô xảo quyệt của mình. Chân giả, giả chân không ai phân biệt nổi một mối họa của nước Văn Lang đã bùng lên, làm cho dân Văn Lang trở thành nồi da nấu thịt, Bách Việt Văn Lang Đồng Bào tàn sát lẫn nhau.

Cha Con Doãn Thường chỉ cần thực thi kế sách. Chiếm lĩnh Bắc Văn Lang một cách dễ dàng không đổ bao nhiêu giọt máu. Với Bánh Vẽ Dân Chủ Tự Do, Công Bằng Bình Đẳng, những Thần chú khẩu hiệu khôn khéo. Không có gì quý hơn Tự Do. Quý hơn Công Bằng Bình Đẳng, Quyền con người được bảo vệ. Quyền được sống, Quyền Tự Do Quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhà nước của Dân do dân vì dân. Dân chúng Bách Việt nghe mùi mẩn lao vào như những con thiêu thân.

Cha con Doãn Thường còn phù phép những danh từ nghe thật sướng tai, làm cho Bách Việt Bắc Văn Lang chết mê chết mệch. Tất cả là Do Dân. Tất cả là vì Dân. Tất cả là của Dân. Vương, Quan chỉ là công bộc phục vụ cho Dân. Dân là Chủ. Dân có quyền quyết định tất cả. Vì Dân là cái gốc của Nhà Nước. Dân còn là Nhà Nước còn, Dân mất là Nhà Nước mất. Với những câu Thần Chú như thế Dân Chúng chỉ còn biết đi theo nghe theo mà thôi.

Có thể nói Cha Con Doãn Thường đã hiểu được phần nào pháp thuật trị quốc của Quốc Tổ Vua Hùng. Nhưng không có Văn Hóa Cội Nguồn trong tay mà thôi. Cha Con Doãn Thường chỉ nhờ vào những bánh vẽ Dân Chủ, Tự Do, Công Bằng, Bình Đẳng. Nhờ vào những Thần Chú Tất cả là vì dân. Nhà Nước của Dân. Vương Quan chỉ là Công Bộc của Dân. Nhờ Thần Chú hiệu nghiệm nầy Cha Con Doãn Thường thổi một luồn Ma Thuật vào tâm hồn người dân Bách Việt làm cho người dân Bách Việt Bắc Văn Lang chỉ biết cuối đầu tuân theo.

Cha Con Doãn Thường nổi lên chiếm lấy Bắc Văn Lang lập lên đất nước Trung Nguyên. Nước Văn Lang liền bị chia cắt Bắc Nam. Hùng Việt Vương : Tuân Lang đời thứ 13 Hạ Hùng Vương khó chiếm lại Bắc Văn Lang. Dẫn đến mất luôn Bắc Văn Lang rơi vào Nhà Chu Phương Bắc thời Chu Nguyên Vương. Chu Nguyên Vương nhà Chu phong cho Câu Tiễn làm Bá Chủ ở Phương Đông. Câu Tiễn cuối đầu vân mệnh Bắc Văn Lang rơi vào Phương Bắc từ đó.

Nói về Việt Tế Gia nghe Doãn Thường phân tích tỉ mỉ về sự lợi hại nổi dậy cướp lấy Bắc Văn Lang phản lại nhà nước Văn Lang với những câu mị chú vô cùng lợi hại liền thức tỉnh thực hiện theo mưu đồ của Doãn Thường. Thực hiện tạo ra những chiếc Bánh Vẽ Tự Do. Bánh Vẽ Công Bằng, Bình Đẳng. Bánh Vẽ Độc Lập Dân Tộc. Tất cả là của Dân. Do Dân. Vì Dân. Nhà Nước Của Dân. Vương, Quan chỉ là Công Bộc của Dân. Để thực hiện mưu đồ Nghiệp Vương Việt Tế Gia tung ra những khẩu hiệu bánh vẽ và những câu Mị Chú đầy hiệu quả. Phải nói là vô cùng hiệu quả. Và thật vậy không ai là không mơ ước đến Tự Do, Công Bằng, Bình Đẳng. Tự Do Mưu Cầu Hạnh Phúc. Không ai là không mê với câu Mị Chú. Tất Cả là của Dân Do Dân. Và Vì Dân. Không ai là không sung sướng khi nghe những câu Mị Chú nầy. Nhà Nước của Dân. Thì không ai là không hết mình. Cố mà xây dựng lên Nhà nước của Dân. Vương, Quan chỉ là Công Bộc của Dân. Nghe rất êm tai, mát lòng Dân Chúng.

Trong khi ấy từ phương Nam đến Phương Bắc. Tất cả người Dân sống dưới thể chế Độc Tài, Độc Trị. Không có một chút Tự Do, Công Bằng, Bình Đẳng gì cả. Vua, Quan, muốn dân chết là chết, muốn dân sống là sống. Nơi nào cũng thấy đàn áp bóc lột không nói là thê thảm. Dưới thể chế Độc Tài Độc Trị, người Dân sống trong thể chế nhà tù rộng lớn. Mất hết tất cả những quyền cơ bản con người. Không khác gì cuộc sống nô lệ.

Bổng xuất hiện những Bánh vẽ Tự Do Công Bằng, Bình Đẳng. Tất cả là của Dân, Do Dân Và Vì Dân. Nhà Nước của Dân. Vương, Quan là Công Bộc của Dân. Dân là Chủ. Thử hỏi người Dân nào không mê cứ ngở đó là Thiên Đàng trần gian, như thời Quốc Tổ dựng nước những quyền con người được thể hiện đầy đủ. Không có cảnh người bóc lột người mà tất cả đều là tự nguyện. Những chiếc bánh vẽ Cha Con Doãn Thường tung ra mà mỗi người Dân khao khát từ lâu. Đã là khát khao thì chỉ cần nghe thấy dù đó chỉ là lời nói liền chạy theo ngay. Cũng như người khác nước miễn cần có nước để được uống đâu còn nghĩ đến nước đục nước trong, chỉ cần nghe có nước liền chạy tới đâu cần nghĩ gì đến sự đánh lừa.

Lòng khao khát Tự Do Công Bằng Bình Đẳng từ lâu. Chỉ cần nghe thấy có sự Tự Do Công Bằng Bình Đẳng ra đời liền chạy theo ngay. Cha Con Doãn Thường đúng là tổ sư của tâm lý học hiểu tình hình dân chúng như hiểu trong lòng bàn tay của mình. Tạo ra một cuộc đánh lừa Bánh Vẽ khôn khéo như vậy. Lại thêm trăm mưu nghìn kế. Trong đó có một kế sách chủ lực là Mua Quan, Mua chức, Mua quyền. Con Cháu dòng họ Việt Tế Gia vốn có nhiều người làm Quan Tri Huyện.

Để thực hiện mưu đồ lớn. Việt Tế Gia bỏ ra vô số vàng, bạc, ngọc ngà, châu báu mua chức Quan Tri Phủ Lạc Giang Giao Châu cho Doãn Thường. Nhờ chức Quan Tri Phủ nầy, Cùng những Quan Tri Huyện trong dòng họ. Bao che cho tất cả mọi hoạt động bí mật. Thậm chí luyện tập quân binh trong Châu Phủ cũng như các Nha Huyện chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy cướp lấy Bắc Văn Lang. Thời cơ chín mùi Bắc Văn Lang đi vào loạn lạc cướp bóc hoành hành nổi dậy khắp nơi. Hơn chín mươi phần trăm Dân Bắc Văn Lang nhanh chóng đi theo phong trào Dân Chủ Tự Do do Cha Con Doãn Thường khởi xướng lãnh đạo. Làm lên một cuộc cách Mạng long trời lở đất. Chiếm lấy Bắc Văn Lang Biến Bắc Văn Lang thành Trung Thổ, Trung Nguyên nước Văn Lang trở thành Nam Bắc phân tranh. Chiến tranh triền miên không ngày chấm dứt. Nguyên do là bỡi lạc Cội lạc Nguồn mất đi văn Hóa Cội Nguồn màn u minh xuống nước Văn Lang.

Lạc Nguồn Lạc Cội khổ từ đây

Chinh chiến đao binh kiếp nạn đầy

Nhìn thấy đau lòng sa giọt lệ

Văn Lang khốn khổ xót thương thay

Nồi da nấu thịt vì lạc lối

Tài giỏi làm gì chân chặt tay

Rồng mất Cội Nguồn Rồng hóa Rắn

Dân lạc Cội Nguồn biến đắng cay.

Thời Kinh Dương Vương khai khẩn ra đất Giao Chỉ. Lớn nhỏ dọc theo chín con sông. Giết chết không biết bao là Thuồng Luồng khai sanh ra Nước Xích Quỷ. Trải qua được chín đời. Đến đời thứ mười thời chuyển qua niên đại Hùng Vương. Nước Xích Quỷ mở rộng về Phương Nam. Trở thành Nước Văn Lang. Nước Xích Quỷ trở thành Bắc Văn Lang. QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG KHAI SANH RA NƯỚC VĂN LANG vào năm 2959 trước công nguyên. Nối truyền được 40 đời. Cộng thêm đời Quốc Tổ dựng nước là 41 đời. 23 đời Thượng Hùng Vương. 18 đời Hạ Hùng Vương. Đến thời Hạ Hùng Vương thứ 13, HÙNG VIỆT VƯƠNG, TUÂN LANG từ năm 569 đến năm 506 trước công nguyên.

Vào thời điểm năm 545 trước công nguyên. Cha Con Doãn Thường nổi lên cướp lấy Bắc Văn Lang. Biến Bắc Văn Lang thành Trung Thổ Trung Nguyên. Xưng Vương ở giữa. Bắc Văn Lang từ đó dần dần biến mất. Những di tích Văn Hóa Văn Lang bị xóa đi. Thay thế vào đó những di tích Văn Hóa mới. Văn Hóa Trung Nguyên Trung Thổ. Thậm chí cả tên núi non, đất đai, sông, hồ, cũng cải đổi thành tên mới. Ở vào thời Kinh Dương Vương. Thì Sông Trường Giang Chính Là Sông Dương Tử. Chi nhánh ngược lên phía Bắc của sông Dương Tử là Sông Trường. Khi sông Dương Tử chuyển thành sông Trường Giang. Thì chi nhánh phía Bắc sông Trường Giang, không còn gọi là Sông Trường mà gọi là Sông Hán. Sông Kinh, Sông Âu, Sông Lạc đều ở Bắc Văn Lang phía nam sông Trường Giang.

Nói tóm lại: Phương Bắc xâm chiếm đất Văn Lang tới đâu thì những di tích Văn Hóa Văn Lang bị xóa sạch. Thay vào đó là những Văn Hóa mới theo Phương Bắc. Nên sử sách Trung Quốc không ghi chép nguồn gốc nước Văn Lang. Đây là một âm mưu lớn lâu dài Phương Bắc hầu nuốt trọn nước Văn Lang.

**************

PHẦN 5

Phương Bắc thời Nhà Chu. Hết thời hưng thịnh Nhà Tề thôn tính hàng phục các nước. Đến thời Nhà Tấn hùng mạnh chinh phục các nước. Từ thời Tấn Huệ Công xuống tới Tấn Hoài Công. Tấn Mục Công. Tấn Văn Công. Tấn Cảnh Công. Tấn Lệ Công. Tấn Điệu Công. Tấn Bình Công. Tấn Chiêu Công. Thời Nhà Chu Phương Bắc cũng đã trải qua nhiều đời Vua. Chu Vũ Vương. Chu Thành Vương. Chu Mục Vương. Chu Di Vương. Chu Lệ Vương. Chu Tuyên Vương. Chu Ung Vương. Chu Hoàn Vương. Chu Trang Vương. Chu Ly Vương. Chu Huệ Vương. Chu Tương Vương. Chu Định Vương. Chu Giãn Vương. Chu Linh Vương đến Chu Cảnh Vương Nhà Chu. Thì Phương Bắc xảy ra không biết bao nhiêu là chiến tranh biến loạn, binh đao máu lửa. Hết thời kỳ Tề hưng thịnh. Đến thời kỳ Tấn ra oai các nước đánh nhau chiến tranh loạn lạc kéo dài mấy trăm năm dân chúng Phương Bắc điêu linh khắp nơi. Trong cảnh binh đao máu lửa Vua, Quan vơ vét thậm tệ phục vụ cho chiến tranh. Dân chúng đói rét cơ cực  khốn cùng. Không ít dân chúng bỏ Phương Bắc. Bỏ xứ ra đi lánh nạn vào Phương Nam. Tức là Bắc Văn Lang sanh sống. Có thời điểm dân chúng Phương Bắc chạy lánh nạn chiến tranh di cư vào Bắc Văn Lang, chỉ trong vòng bảy ngày lên đến cả vạn người. Phải nói con số di cư vào Bắc Văn Lang mỗi ngày mỗi kinh khủng. Đến nổi chính quyền địa phương Châu, Quận, Huyện. Giải quyết nạn đi cư không nổi, đành để cho phần lớn sống sanh sống vô gia cư tràn lan khắp Bắc Văn Lang. Làm cho Bắc Văn Lang đi vào hổn loạn. Ở vào thời điểm nầy.

Hùng Việt Vương, Tuân Lang. Lên Ngôi Quốc Vương Hoàng Đế Trị Vì Thiên Hạ Thay Cha Là: Hùng Vũ Vương, Đức Hiền Lang. Từ năm 569 đến năm 506 trước công nguyên. Đến năm 545 thời Bắc Văn Lang có biến động. Cha Con Doãn Thường nổi dậy. Cùng dân chúng Bách Việt Văn Lang nổi dậy làm lên một cuộc cách mạng long trời lở đất.

Cha Con Doãn Thường chiếm lấy hai phần Bắc Văn Lang. Như Bắc Giang Giao Châu. Lạc Giang Giao Châu. Dương Giang Giao Châu. Quý Linh Giao Châu. Xích Linh Giao Châu. Hợp Giao Châu. Kinh Giang Giao Châu. Động Đình Châu. Diêm Hồ Châu. Giao Giao Minh Châu. Ninh Giao Châu. Tam Giang Châu, Thượng Tây Giang Châu. Uất Lang Việt Châu. Lâm Giang Tây Châu. Quế Giang Giao Châu. Liễu Giang Châu. Lạc Trung Châu. Hạt Linh Châu. Kiến Giao Châu. Phúc Hải Châu. Lâm Giang Tây Châu. Định Giao Châu.

Cùng thời điểm ấy Tây Bắc Văn Lang Dân Chúng nổi dậy chiếm lấy Cương Châu xưng Vua Cương Việt. Cướp lấy Ngô Châu xưng là Ngô Việt. Cướp ấy Di Châu xưng Vua Di Việt. Cướp lấy Liêu Châu xưng là Liêu Việt. Cướp ấy Hung Châu xưng là Hung Việt. Cướp Lấy Lưu Châu xưng là Lưu Việt. Cướp Lấy Phù Châu xưng là Vua Phù Việt. Cướp Lấy Lỗ Châu xưng là Lỗ Việt. Cướp Lấy Mân châu xưng là Vua Mân Việt. Cướp lấy Ngung Châu xưng là Ngung Việt. Cướp lấy Nô Châu xưng là Vua Nô Việt.

Cũng cùng thời điểm ấy Đông Bắc Văn Lang Dân Chúng nổi dậy chiến Đông Hải Châu xưng là Vua Đông Việt. Chiếm lấy Đông Bắc Hải Châu xưng là Vua Hải Việt. Chiếm lấy Nam Hải Giao Châu xưng là Vua Giao Việt. Dạ Loan Châu xưng Loan Việt. Chiếm lấy Thất Khê Châu xưng Vua Khê Việt. Chiếm lấy Đình Hải Châu xưng Vua Điền Việt. Chiếm lấy Cái Hải Châu xưng Vua Lạc Việt. Chiếm lấy Hạ Giang Châu xưng Vua Lang Việt. Thế dân nổi dậy như nước vỡ bờ chiếm lấy toàn bộ Bắc Văn Lang.

Doãn Thường là nhà Quân Sự Chính Trị tài năng lỗi lạc hiểu rõ tình thế xã hội. Hiểu rõ nguyện vọng của dân. Hiểu rõ tâm lý của dân. Và cũng hiểu rõ nói láo là mẹ đẻ của chính trị dẫn đến thắng lợi thành công. Với câu khẩu hiệu tất cả đấu tranh là vì Dân giải phóng bóc lột cho Dân. Giải phóng nô lệ cho Dân. Đem Lại quyền sống quyền tự do cho Dân. Ai cũng có đất ruộng để cày. Lập lên Nhà Nước của Dân do Dân vì Dân. Quân Đội của Dân Vì dân mà chiến đấu vì dân mà quên mình, bảo vệ độc lập tự chủ xóa bỏ nô lệ. Lập lên một Xã Hội, Công Bằng, Bình Đẳng, Dân Chủ, Văn Minh. Thoát khỏi ách Độc Tài Độc Trị, Thoát khỏi thể chế xin cho, thoát khỏi tham quan tàn bạo. Lập lên nước Việt Trung Nguyên dân giàu nước mạnh thay thế cho nhà nước Văn Lang. Nhà Nước độc tài độc trị. Đi ngược lại di chí Quốc Tổ Vua Hùng. Tất cả ngôn từ văn từ như một liều thuốc bổ. Dân chúng theo Cha Con Việt Tế Gia như nước vỡ bờ.

Ngày 3 tháng 2 năm 545 trước công nguyên Cha Con Doãn Thường triệu tập các Vua Việt hội nghị tại Đất Cối Kê nơi đền thờ Vua Vũ từ thời Nhà Hạ đến Phương Nam đến Đất Cối Kê lập nghiệp. Hơn mấy mươi Vua Việt ở Đông Bắc Văn Lang. Tây Bắc Văn Lang, đều tới dự hội đông đủ. Gọi là Hội Liên Minh Việt Bắc Văn Lang. Nơi Đất Cối Kê đền Thờ Vua Vũ. Doãn Thường như một vị anh hùng biện tài vô ngại thuyết phục các Vua Việt mới nổi lên đòi tự trị liên minh thành một khối. Trở thành một Nhà Nước mới. Nhà Nước Trung Thổ Việt Trung Nguyên.

Bài hùng biện của Doãn Thường trước các Vua Việt như sau:

   Thưa các chư vị Anh Hùng chúng ta là những người khát khao Tự Do, khát khao Công Bằng, Bình Đẳng. Giành lại Quyền Sống. Quyền Tự Quyết. Quyền Tự Do Mưu Cầu Hạnh Phúc. Xây dựng lên một Nhà Nước Trung Lập Nhà Nước Của Dân, Do Dân, và vì Dân. Loại bỏ chế Độ Độc Tài Độc Trị. Sống Theo Hiến Pháp, Luật Pháp. Ai cũng như ai Bình Đẳng. Như thời Quốc Tổ Vua Hùng dựng lên Nhà Nước Văn Lang. Các Vua Hùng thời nay không làm theo lời dạy Quốc Tổ. Trở thành Nhà Nước Độc Tài Độc Trị. Nhà Nước không lấy dân làm gốc. Không Ai sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Mà sống theo thể chế Độc Tài Độc Trị, thể Chế của sự xin cho. Thể chế của sự bóc lột thậm tệ. Không làm đúng những gì Quốc Tổ Vua Hùng đã dạy. Chúng ta là con cháu Tiên Rồng. Chúng ta đi theo lời dạy Quốc Tổ Vua Hùng. Sống Tự Do Công Bằng Bình Đẳng. Không phải sống dưới ách thống trị cường hào nô lệ. Muốn thực hiện một Nhà Nước Trung Lập Việt Trung Nguyên Tự Do. Công Bằng. Bình Đẳng, Công Minh như thời Quốc Tổ Vua Hùng. Thì chúng ta phải liên minh đoàn kết bầu lên Minh Chủ Việt Vương. Lập lên Nước Việt Trung Nguyên. Nam Có Hùng Vương. Bắc Có Chu Vương. Chính Giữa Có Việt Vương. Cách đây hơn ba trăm năm mươi năm về trước. Phương Nam ở vào thời Hùng Huy Vương. Phương bắc ở vào thời Chu Di Vương. Bắc Văn Lang cũng đã nổi lên đòi tự trị chiếm lấy các Châu Bộ. Hình thành lên cả trăm Vua Việt nhưng rốt cuộc đã bị thảm bại bị trước thế lực xâm lược Ân Mao Vương, Hung Di Vương. Hồ Vương. Thôn tính giết sạch. Nếu còn sót vị Vua Việt nào thì Hùng Huy Vương cho quân truy quét diệt tận gốc. Đây là bài học cho chúng ta. Với địa thế Bắc Văn Lang trở thành Nước Việt Trung Thổ Trung Nguyên. Đất đai phì nhiêu rộng lớn. Sông Hồ Kinh Rạch chằng chịt. Dân số đông không kém Nam – Bắc là mấy. Chúng ta sẽ có một đội quân hùng mạnh Nam đánh bại thế lực Hùng Vương. Bắc đánh bại thế lực Chu Vương. Vì sao lại nắm chắc như thế. Vì Thế lực Hùng Vương đang trên đà suy yếu. Tham Quan mọc lên như nấm. Mạnh ai nấy lo túi riêng của mình. Nhất là đánh mất Văn Hóa Cội Nguồn không làm đúng như những gì lời dạy Quốc Tổ. Đánh mất lòng tin của muôn dân. Tuy Thế lực Hùng Vương còn rất mạnh. Nhưng chúng ta không phải là ngoại xâm. Mà là những người người Dân bất mãn với thể chế Độc Tài Độc Trị không làm theo lời dạy quốc Tổ Vua Hùng. Trở thành Nhà Nước Độc Tài Độc Trị không khác gì Nhà Nước Phương Bắc những Vương, Quan, tham lam tàn bạo. Đã đánh mất lòng tin của Dân Chúng. Nên Dân Chúng không ít người bỏ Hùng Vương mà theo chúng ta. Còn Phương Bắc Nhà Chu cũng đã đến thời suy yếu Con Cháu Nhà Chu Tàn Sát Lẫn Nhau. Không kể gì tình anh em ruột thịt. Chỉ biết tranh giành đị vị quyền lực. Ăn nuốt lẫn nhau. Các trấn Chư Hầu cũng chẳng khác chỉ tranh hùng tranh Bá. Mạnh được yếu thua. Thắng là Vua thua là Giặc. Lúc nầy Sở Linh Vương đang thời hưng thịnh tranh hùng tranh Bá dữ dội. Các nước Phương Bắc lo sợ luôn ở vào thế chiến tranh. Sở Linh Vương cậy thế hùng cường đánh hết nước nầy đến nước khác chiến tranh dữ dội. Con cái Sở Vương tranh ngôi thôn tính lẫn nhau. Sở Bình Vương giết chết ba anh lên ngôi càng thêm hổn loạn. Nói chung Phương Bắc chiến tranh tàn khóc ai lo phận nấy khó mà làm gì được chúng ta. Thời cơ đã giúp chúng ta làm lên nghiệp lớn. Nếu Chúng Ta biết đoàn kết lập lên một Nhà Nước Việt Trung Nguyên hùng mạnh. Trong tương lai một là nuốt trọn nước Văn Lang. Hai là nuốt trọn Phương Bắc. Làm lên một lịch sử Trung Nguyên hào hùng long trời lở đất.

Các Vua Việt mới nổi lên tự trị nghe có lý nếu không chung nhau đoàn kết thành một Nước Việt Trung Thổ Trung Nguyên hùng mạnh thì phía Bắc sẽ bị Ngô, Sở, đánh vào thôn tính. Phía Nam Vua Hùng đánh ra tiêu diệt Chẳng khác gì thời Phù Đổng Thiên Vương cách đây hơn ba trăm năm mươi năm về trước. Hơn năm mươi Vua Việt muốn tồn tại thì phải đoàn kết đại đoàn kết như một bó đũa khổng lổ không ai bẻ nổi. Sự nhận thức về sự tồn tại, các Vua Việt đồng tôn Doãn Thường lên làm Việt Vương.

Doãn Thường khôn khéo nói:

   Mỗ Tôi tuy được các Đại Anh Hùng tín nhiệm tôn phong lên làm Việt Vương. Nhưng Mỗ tôi giới thiệu một người tài trí có công lớn trong cuộc khởi nghĩa thắng lợi nầy đó là Việt Tế Gia (Cha của Doãn Thường).

Thế Là Việt Tế Gia được các Đại Anh Hùng toàn Bắc Văn Lang suy tôn lên Làm Việt Vương. Đầu Mùa Thu năm 545 trước Công Nguyên Nhà nước Việt Trung Nguyên ra đời. Tạm Thời sử dụng Kinh Đô Kinh Dương Vương làm Kinh Đô Trung Thổ Trung Nguyên. Việt Vương Tế Gia nhờ có Doãn Thường cũng cố Triều Chính nhanh chóng. Việt tế Gia lập Doãn Thường làm Thế Tử nối ngôi Vương.

Gian đảng âm mưu cướp đất rồi

Vẽ vời bịa chuyện cứu dân ôi

Văn Lang miền Bắc còn đâu nữa

Xưng Vương xưng Chúa trổ hung tôi

Khổ ải trùm lên dân khốn khổ

Lạc Nguồn lạc Cội Cáo Sói xơi

Nước non, non nước đầy binh lửa

Văn Lang máu đổ cảnh đầu rơi.

**************

PHẦN 6

Nói về Con Cháu Triệu Xuyên. Triệu Thuẫn liên quan đến tội giết Vua. Bằng trốn vào Nam đến Bắc Văn Lang sanh sống trải qua nhiều đời trở thành dân Văn Lang Hàng năm đều dự hội đồng hương nơi đền thờ Vua Vũ nên được Con Cháu Vua Vũ giúp đở có người trở thành Triệu Bá Gia giàu có nhất nhì Bắc Văn Lang.

Con Cháu Triệu Xuyên đến đời Triệu Phàn thì giàu có nổi tiếng Bắc Văn Lang trở thành Triệu Bá Gia. Có ba người con tài năng vô song Văn Võ song toàn. Triệu Quân. Triệu Hàn. Triệu Anh. Việt Vương Tế Gia phong Triệu Phàn Bá Gia chức Thượng Quân Nguyên Soái thống lãnh 10 vạn quân cùng ba người con làm chủ Tướng trấn giữ Đông – Nam Trung Thổ Trung Nguyên tức là Đông, Nam Bắc Văn Lang chống trả lại thế lực Hùng Việt Vương, Tuân Lang, đời thứ 13 Hạ Hùng Vương.

Việt Vương Tế Gia phong cho Triệu Công Con Cháu nhiều đời Triệu Thuẫn. Chức Trung Quân Nguyên Soái thống lãnh 10 vạn quân cùng hai Con phong làm Chủ Tướng. Triệu Côi. Triệu Chi. Trấn giữ Tây Nam Trung Thổ Trung Nguyên. Tức là Tây Nam Bắc Văn Lang.

Việt Vương Tế Gia phong Phạm Đổ Chinh chức Tân Quân Nguyên Soái thổng lĩnh 10 vạn quân. Cùng hai phó Chủ Tướng là Chũng Hầu. Giá Chữ. Trấn giữ chánh Nam Trung Nguyên, tức là Chánh Nam Văn Lang.

Việt Vương Tế Gia phong con Chư Hạo, Chư Mạnh Hùng Trung Quân Nguyên soái, cùng hai con Chư Kế Dĩnh. Chư Tôn Quá làm Đại Tướng thống lãnh 10 vạn quân trấn giữ Tây Bắc Trung Nguyên tức là Tây Bắc Văn Lang.

Việt Vương Tế Gia phong Linh Việt Hàn Tân Quân Nguyên Soái. Thống Lãnh 10 vạn quân cùng hai Con là Linh Cô Phù. Linh Quang Dũng. Trấn giữ Trung Bắc Trung Nguyên, tức là Trung Bắc Văn Lang.

Việt Vương Tế Gia phong cho Thường Thọ Quá chức Thượng Quan Đại Phu thống lĩnh 7 vạn quân, cùng con là Thường Thọ Chí trấn giữ Đông Bắc Trung Nguyên tức là Đông Bắc  Văn Lang.

Việt Vương Tế Gia phong cho tất cả các Vua Việt. Tây Trung Nguyên. Đông Trung Nguyên, tức là Tây Văn Lang Đông Văn Lang thành các Trấn chư hầu dưới sự điều khiển Nhà Nước Việt Trung Nguyên. Thế là nhà nước Việt Trung Nguyên ra đời bài bản vô cùng hùng mạnh.

Với chính sách đổi mới Bắc khác Nhà Chu. Nam khác Vua Hùng. Lập lên một nhà nước Việt Trung Nguyên mới lạ. Nhà Nước lập lên bằng danh từ bóng bẩy. Sống trên danh từ nói một đường làm một nẻo. Nói Tự Do nhưng lại quản lý cuộc sống con người chặt chẽ. Nói lấy dân quyền làm gốc nhưng thật ra dân không có cái quyền gì cả. Nói tất cả là của dân nhưng thật ra tất cả là của Nhà Nước dân trắng tay không ai có một tất đất nào làm công khoán trắng của Nhà Nước Độc Quyền Độc Tài. Độc Trị của một nhóm người. Người dân chỉ là công cụ nô lệ. Có thể nói Nhà Nước Việt Trung Nguyên là Nhà Nước lạm dụng danh từ sống trên danh từ. Nhà Nước ảo không có gốc Nhân Quyền chỉ tạo lên Bánh Vẽ Dân Chủ Tự Do, bánh vẽ lấy Dân Làm Gốc. Lừa đảo lòng ham muốn của dân. Đem tất cả cái lợi về cho dân nhưng toàn là những bánh vẽ  không bao giờ ăn được chỉ nghe cho sướng tai. Chỉ thấy trên lời nói. Trên giấy tờ thế mà cũng tạo lên sự chú ý Dân Chúng Phương Bắc cũng như Phương Nam.

Một số lớn Dân Chúng cả hai phương Nam – Bắc cho rằng Nhà Nước Việt Trung Nguyên ra đời mới thật sự là Nhà Nước của Dân do Dân và vì Dân. Và Họ muốn theo về Nhà Nước Việt Trung Nguyên. Vì thế nhà nước Việt Trung Nguyên càng về sau càng lớn mạnh sự đánh lừa khôn khéo nầy cũng đem lại những kết quả ban đầu. Nhưng về sau Dân Chúng phát hiện hiểu ra Tự Do, Công Bằng Bình Đẳng, Dân Chủ, Nhân Quyền, Dân là cái gốc của Nhà Nước. Nhà nước của Dân do Dân vì Dân. Tất cả chỉ là chiếc Bánh vẽ để lừa. Nhưng khi hiểu ra thì tất cả đã muộn. Cha con Doãn Thường cũng chẳng khác gì các Vua Nhà Chu. Các nước Phương Bắc Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị. Quản lý gắt gao mọi sự sống của Dân quản lý chặt chẽ hơn nữa. Tất cả người dân như đang sống trong một nhà tù lớn. Không có tự do hay Công Bằng, Bình Đẳng, Dân quyền gì cả. Mà tất cả sự sống của dân chỉ là sự sống nô lệ. Trước đây nô lệ cho những Địa Chủ, Phú Nông. Nay Toàn dân trở thành nô lệ cho Nhà Nước. Nhà Nước Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị. Nhà Nước của sự xin cho bóc lột sức lực của muôn dân một cách khéo léo không Nhà Nước nào bằng. Như con đĩa hút máu người mà không thấy đau.

Khi dân biết được mưu đồ khai dựng sự nghiệp Việt Vương của Cha Con Doãn Thường, thì mọi chuyện đã rồi. Ý Vua là Ý Trời thuận thời sống, chống là chết. Tất cả tài sản của Dân Chúng chính là tài sản của Nhà Nước. Khi cần thì Nhà Nước lấy. Với một thể chế xin cho Nhà Nước Việt Trung Nguyên làm gì thì làm tàn bạo còn hơn Nhà Nước Văn Lang ở các thời cuối Hậu Hùng từ thời Hùng Việt Vương, Tuân lang trở xuống. Cũng như Phương Bắc Thời Mạc Nhà Chu.

Nói chung Phương Bắc. Phương Nam. Việt Trung Nguyên, cá mè một lứa cũng Độc quyền. Độc Tài, Độc Trị chẳng khác gì nhau. Tham quan tàn bạo. Thắng là Vua, thua là Giặc xem đi xét lại Giặc với Vua cũng chẳng khác gì nhau. Nhà Nước Việt Trung Nguyên không tồn tại được lâu, như triều đại Hùng Vương kéo dài độc lập 2701 năm. Trong khi Cha Con Doãn Thường cướp lấy Bắc Văn Lang lập lên nhà nước Trung Nguyên độc lập tự chủ chỉ trên dưới 70 năm.

Đến thời Việt Vương Câu Tiễn tùng phục Nhà Chu vào năm 496 trước công nguyên. Vua Nguyên Vương Nhà Chu, phong Bá cho Việt Vương Câu Tiễn. Trở thành (Việt Bá Vương) làm chủ Phương Đông. Việt Vương Câu Tiễn cuối đầu dâng Việt Trung Nguyên cho Nhà Chu.

Bắc Văn Lang trở thành đất Phương Bắc. Tức thời Bắc Văn Lang nhà nước Việt Trung Nguyên lại chuyển sang một giai đoạn mới. Giai đoạn Trung Quốc trở thành trấn chư hầu Nhà Chu. Việt Trung Nguyên trở thành đất Bắc nhập về Phương Bắc. Bắc Văn Lang mất từ đây.

Nước Văn Lang chỉ còn lại Miền Trung, Miền Nam. Không cách gì lấy lại Bắc Văn Lang được nữa triều đại Việt Vương Tế Gia. Đến thời Nhà Tần thì coi như hủy diệt không còn. Thay thế vào đó là Triệu Việt Vương.

Nói tóm lại lịch sử Bắc Văn Lang bị Cha Con Doãn Thường cướp, trở thành Trung Thổ Việt Trung Nguyên đến thời Việt Vương Câu Tiễn, tùng phục Nhà Chu, Bắc Văn Lang Trung Nguyên nhập về Phương Bắc chuyển thành Trung Quốc. Tất cả những di tích Văn Hóa. Cũng như danh nhân những người có công với đất nước Văn Lang bị xóa sạch. Thay thế vào đó là Văn Hóa Phương Bắc. Thờ phụng những người có công ăn cướp Bắc Văn Lang lập lên nhà nước Việt Trung Nguyên mà thôi. Chỉ còn sót lại những di tích Viêm Đế Thần Nông.

Ông Tổ sáng lập lên nền Văn Minh lúa nước. Từ năm đời niên đại Viêm Đế Thần Nông. Truyền xuống niên đại Kinh Dương Vương chín đời. Đến đời thứ mười thời chuyển sang niên đại Hùng Vương 41 đời. Thượng Hùng Vương 23 đời. Hạ Hùng Vương 18 đời.

Cha Con Doãn Thường cướp lấy Bắc Văn Lang biến thành Trung Thổ Việt Trung Nguyên. Thì không những Văn Hóa truyền thống Văn Lang bị xóa sạch. Mà những di tích 41 đời Hùng Vương. Cũng như các Công Thần có công chống ngoại xâm giữ nước, cũng đều bị xóa sạch, thay thế vào đó là Văn Hóa Trung Nguyên mới sáng lập. Cũng như những danh nhân có công cướp lấy Bắc Văn Lang lập lên nhà nước Trung Nguyên.

Cha con Doãn Thường làm như thế là làm cho Bắc Văn Lang sẽ dần dần biến mất không còn tồn tại nữa. Đến thời Việt Vương Câu Tiễn tùng phục Nhà Chu theo về Phương Bắc. Thì Trung Nguyên Bắc Văn Lang lại tiếp tục xóa sạch những di tích Văn Lang còn sót lại. Di Tích Chín đời Kinh Dương. Chỉ còn sót lại Thời Viêm Đế Thần Nông. Kể từ khi nhà nước Việt Trung Nguyên ra đời. Thì nước Văn Lang chỉ còn Trung Văn Lang, Nam Văn Lang mà thôi.

Về sau có thơ rằng :

Doãn Thường cướp lấy Văn Lang

Xưng Vương xưng Đế nối nhau đời đời

Nào hay Phương Bắc nuốt rồi

Cáo già đã giả con trời còn chi

Tiếng đời để lại bia ghi

Phản non hại nước mấy khi trường tồn

Thảm thương con cháu Tiên Rồng

Lạc Nguồn Lạc Cội mắc vòng khốn nguy

Thiên Đàng đã mất lối đi

Hồn sa Địa Phủ Âm Ti nghìn trùng.

Khi cha con Doãn Thường lên ngôi Việt Vương biến Bắc Văn Lang thành Trung Thổ Việt Trung Nguyên. Thì những di tích Văn Hóa Văn Lang từ thời Kinh Dương Vương đến thời Đại Hùng Vương đều xóa sổ không cho dân chúng nhắc tới nữa. Thay thế vào đó một số di tích Văn Hóa mới. Văn Hóa thời đại Trung Nguyên. Thờ phụng những người có công nổi dậy chiếm lấy Bắc Văn Lang. Thay đổi một số tên sông. Chẳng hạn như sông Dương Tử, đổi tên thành sông Trường Giang. Một số tên núi. Thay đổi tên Châu. Bộ. Thay đổi tên Kinh Đô. Kinh Đô Xích Quỷ thành Kinh Đô Trung Nguyên. Nói chung là thay đổi hầu hết, danh từ mới thay cho danh từ cũ.

Văn Hóa Truyền Thống Văn Lang dần dần biến mất không còn. Đều đáng nói ở đây Cha Con Doãn Thường biến Nước Xích Quỷ, Bắc Văn Lang thành Trung Thổ Trung Nguyên. Xảo ngôn Truyền Bá đất Trung Nguyên là do công lao Vua Vũ khai lập ra. Thế hệ đời sau mắc lừa cho rằng công lao Vua Vũ, thực là to lớn. Dẫn nước chín con sông, làm cho chín Châu có thể ở được. Con cháu Vua Vũ. Đến thời Việt Vương Câu Tiển, đánh bại nước Ngô. Trả đất lại cho nước Sở. Trả đất lại cho nước Lỗ. Mà nước Ngô đã chiếm lấy.

Việt Vương Câu Tiễn hòa hảo với các trấn chư hầu đất Bắc. Như Tề, Tấn, Vân Vân . . . cùng một số trấn chư hầu khác hội hộp ở Từ Châu. Tùng phục theo Nhà Chu. Vua Nguyên Vương Nhà Chu. Phong Cho Việt Vương Câu Tiễn VIỆT BÁ VƯƠNG làm chủ phương Đông. Việt Vương Câu tiễn cuối đầu dâng Việt Trung Nguyên cho Phương Bắc. Tức thời đất việt Trung Nguyên lại chuyển sang một giai đoạn mới không còn độc lập tự trị nữa mà trở thành TRUNG QUỐC.

**************

PHẦN 7

Nói về Cha Con Doãn Thường từ khi lên ngôi Vương luôn cũng cố bộ máy Độc Tài Độc Trị. Một cách hiệu quả. Kiểm soát quản lý vận hành chặt chẽ vững bền không sơ sót. Luôn luôn phát huy sức mạnh cơ sở hết đem cái lợi ảo nầy ra đến cái lợi ảo khác cuốn hút người dân chạy theo. Tất cả cái lợi ảo đều từ chính sách ban ra nhưng không bao giờ thực hiện được. Chỉ đọc ra cho Dân nghe sướng tai mà thôi.

Cha Con Doãn Thường mở ra thật nhiều trường học nhưng có học mà không đi vào cuộc sống học toàn Văn Từ đồi trụy có lợi cho việc mưu phản lại nhà nước Văn Lang chẳng ra đâu, càng học càng dốt. Chuyên moi móc những cái xấu của Vua Quan nhà nước Văn Lang, tán tụng việc làm phản loạn của mình cho là việc làm chính nghĩa.

Những ai nói lên sự thật liền bị chém đầu hoặc bị cô lập cho đến chết. Tuy mở rộng con đường giáo dục nhưng để ca tụng cuộc cách mạng thần thánh của mình. Mở trường lớp dạy dân nhiều nhưng học toàn là những chuyện mê tín những cuộc tình lãng mạn trai gái. Hầu làm cho dân chúng quên truyền thống dân tộc anh linh hơn mấy nghìn năm.

Nói tóm lại có học nhiều nhưng không đâu vào đâu cả càng học nhiều thì càng mờ mịt không có tôn chỉ mục đích nào cả. Các vị tu Tiên trên núi thường nói (Chính sách ngu Dân đã được thực hiện). Dân Bắc Văn Lang dần dần quên Cội quên Nguồn, nhưng cơ trời đã thế khó mà cứu vãn được. Tương Lai của người Dân Bắc Văn Lang. Không phải đi đến no cơm ấm áo. Mà là sống trên văn từ bóng bẩy. Bằng cấp hư danh. Làm mê hoặc lòng ham muốn của con người mà thôi.

Có thể nói không có Nhà nước nào họp hành nhiều như Nhà Nước Việt Trung Nguyên hầu như ngày nào cũng họp. Mục đích là để bôi trơn bộ máy. Khởi động liên tục đè bẹp những ý tưởng phản loạn. Diệt mầm họa trong trứng nước không cho có cơ hội suy nghĩ đúng sai tạo phản. Cha Con Doãn Thường tạo ra một thể chế kiểm soát gắt gao chặt chẽ không những quản lý về vật chất không cho dân chúng giàu sang. Mà còn quản lý cả tinh thần ý nghĩ của dân chúng. Cha con Doãn Thường thực hiện chính sách như vậy, cứ nghĩ làm như thế Nhà Nước Trung Nguyên sẽ được bền vững lâu dài. Nào hay đâu lại dẫn đến mau sụp đổ.

Cha Con Doãn Thường nào hiểu, sự tồn tại của chế độ chính là phát triển Tiến Hóa Xã Hội. Sự tồn tại của Xã Hội chính là cái mới thay thế cho cái cũ. Sự tồn tại của Nhà Nước chính là Công Bằng Bình Đẳng. Sự bảo thủ độc tài độc trị, kìm hãm sự phát triển xã hội, kìm hãm quyền tự do của con người, chính là đi vào con đường tự sanh tự diệt. Không cần đánh đổ nó cũng tự sụp đổ. Sự tiến hóa loại bỏ cái cũ lỗi thời, tiến đến cái mới non trẻ, tiến hóa loại bỏ tự nhiên, không có sự mâu thuẫn xung đột nào cả đó chính là sự trường tồn văn minh xã hội. Sự củng cố Độc Quyền. Độc Tài, Độc Trị. dù cho có tài tình tinh vi đến đâu cũng dẫn đến sự xơ cứng của thể chế bảo thủ Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị dẫn đến Nhà Nước Trung Nguyên đi vào xóa sổ. Chỉ khi nào thật sự đi vào quy luật tự nhiên cái mới liên tục phát triển thay cho cái cũ lỗi thời mới đi vào tồn tại lâu dài.

Cha Con Doãn Thường không những không làm được điều đó có thể nói là chưa phát hiện ra điều đó. Mà chỉ tạo ra những chiếc bánh vẽ lừa gạt dân chúng mà thôi. Nên không thể trụ vững lâu dài được cuối cùng cũng bị Phù Sai đánh bại. Về sau Câu Tiễn tuy diệt được Phù Sai nhưng cuối đầu trước Nhà Chu. Được Nhà Chu Chu Nguyên Vương phong Bá. Bá Vương Câu Tiễn Trung Nguyên không còn tự chủ Độc Lập được nữa thuộc về Phương Bắc. Việt Trung Nguyên chuyển sang một giai đoạn mới giai đoạn trở thành Trung Quốc. Việt Trung Nguyên sát nhập về Phương Bắc thời Chu Nguyên Vương, hàng năm phải chịu sự cống nạp cho Nhà Chu. Bắc Văn Lang coi như biến mất không còn từ đây.

Đây nói về nơi Kinh Đô Văn Lang. Ngày 20 tháng 3 năm 545 trước công nguyên Hùng Việt Vương, Tuân Lang, đời thứ 13 Hạ Hùng Vương vô cùng tức giận khi nghe tin Cha Con Doãn Thường nổi dậy cướp lấy Bắc Văn Lang.

Trước Vương Triều Hùng Việt Vương quát hỏi triều thần:

   Cha Con Doãn Thường là ai mà ghê gớm như vậy nổi loạn chiếm lấy Bắc Văn Lang.

Hầu Tôn Vương nghe Quốc Vương hỏi liền bước ra báo cáo rằng:

   Muôn tâu Quốc Vương bệ Hạ Cha Con Doãn Thường là con cháu 31 đời Vua Vũ thời Nhà Hạ. Di cư đến Huyện Cối Kê Lạc Giang Giao Châu sanh sống. Nhập cư thành dân Bách Việt Văn Lang, trở thành dân Văn Lang chính thống. Giàu có thuộc bậc nhất Bắc Văn Lang. Doãn Thường làm quan đến chức Quan Tri Phủ Lạc Giang Giao Châu. Dòng họ Vũ có Âm Mưu chiếm đoạt Bắc Văn Lang từ lâu, nhưng không mấy ai phát hiện được. Khi phát hiện được thì đã bị Cha Con Doãn Thường nổi dậy cướp mất Bắc Văn Lang rồi.

Hùng Việt Vương nghe xong nổi giận đùng đùng hét lớn:

   Lũ cướp nước hại dân hại nước kia phải tiêu diệt cho bằng được không để cho một tên sống sót. Các Khanh hãy hiến kế cho Trẫm để Trẫm nhanh chóng cho người quét sạch Cha Con Doãn Thường trừ hậu họa.

Hầu TônVương nghe xong bằng tâu rằng:

   Muôn Tâu Quốc Vương Bệ Hạ. Cha Con Doãn Thường đã có âm mưu dã tâm chuẩn bị từ trước lôi kéo dân chúng nổi dậy chiếm lấy Bắc Văn Lang thế lực rất mạnh. Trung Văn Lang đang trong cơn hỗn loạn không phân biệt được phải trái trắng đen. Có người cho rằng Cha Con Doãn Thường là các Vua Hùng tái sanh lập lên nhà nước Việt Trung Nguyên. Nên dân chúng theo Cha Con Doãn Thường như nước vỡ bờ không có cách gì ngăn cản lại nổi thế lực phản loạn như cơn bão không những chiếm lấy Bắc Văn Lang mà còn tràn vào trung Văn Lang. Châu Phủ, Thục An Kim. Anh Kỳ. Thạch Trung Sơn. Kỳ Thọ ra sức chống trả. Không cho Quân nổi loạn tiến vào Trung Văn Lang. Tình thế vô cùng cấp bách.

Hùng Việt Vương nghe Hầu Tôn Vương tâu như vậy lấy làm kinh hãi nói:

   Các Khanh có kế sách gì chống trả lại thế lực quân phản loạn không?

Hùng Việt Vương Tuân Lang, hỏi đi hỏi lại đến mấy lần thấy dưới triều các Quan Tướng làm thinh.

Hùng Việt Vương than:

   Các khanh thường ngày khoe tài khoe giỏi, cái tài cái giỏi bay đi đâu hết rồi.

Từ chỗ ngồi Hầu Lạc Vương đứng dậy nói:

   Bẩm Quốc Vương Bệ Hạ. Cha Con Doãn Thường nổi lên làm loạn chiếm lấy Bắc Văn Lang nhanh chóng như vậy. Là có sự đồng tình phần lớn dân chúng Bắc Văn Lang. Nhất là thành phần dân chúng Phương Bắc lánh nạn chiến tranh di cư vào Bắc Văn Lang sanh sống đều theo Cha Con Doãn Thường. Chưa kể tình trạng dân chúng di cư qua Bắc Văn Lang làm ăn bất hợp pháp chưa nhập tịch thành dân Văn Lang trên hai triệu người. Nghe Đâu các bang phái ác ma tà giáo cũng gia nhập theo quân phiến loạn Cha Con Doãn Thường. Thế lực quân phản loạn phải nói là rất hùng mạnh nếu không có kỳ tích nhân tài xuất hiện thì khó mà dẹp quân phản loạn nhanh chóng được.

Hùng Việt Vương nghe Hầu Lạc Vương báo cáo như vậy thì không khỏi lấy làm lo lắng.

Hầu Thừa Vương từ chỗ ngồi đứng dậy nói:

   Bẩm Quốc Vương Bệ Hạ. Quân phiến loạn Cha Con Doãn Thường là quân nội loạn. Không phải là quân xâm lược có sự đồng tình của dân chúng đã cấu kết thành sức mạnh được sự che chở của muôn dân Bắc Văn Lang khó mà đánh tan một ngày hai ngày được. Đáng lý ra tiêu diệt mầm phản loạn ngay từ đầu, giờ đây thì đã muộn khó mà tiêu diệt vì dân chúng Bắc Văn Lang đã lập Cha Con Doãn Thường làm Việt Vương Tế Gia có nghĩa là Dân Chúng Bắc Văn Lang đã có Quốc Vương mới, dân chúng Bắc Văn Lang phò cha con Doãn Thường chống trả lại nhà nước Văn Lang nên khó mà tiêu diệt nhanh chóng được. Lại nữa Cha Con Doãn Thường không phải là quân xâm lược mà là quân loạn tặc phản loạn nổi dậy quyết lật đổ nhà nước Văn Lang lập lên thời đại mới, thời đại Việt Trung Nguyên. Đã có cái gốc mưu đồ quá lớn Bá Tánh muôn dân Bách Việt Bắc Văn Lang vì thế mà tin theo. Thế lực vô cùng vững chắc. Không như cách đây hơn ba trăm năm mươi năm về trước ở thời Phù Đổng Thiên Vương. Các Bộ Lạc Bách Việt Văn Lang nổi lên đòi trự trị chỉ là ảnh hưởng Văn Hóa Phương Bắc không có thống nhất tổ chức. Mạnh ai nấy xưng Vua, xưng Chúa. Còn cuộc nổi dậy của Cha Con Doãn Thường là có âm mưu từ trước, đường đi nước bước đều có sự tính toán chu đáo nội cái việc mua Quan bán Tước ở Bắc Văn Lang không ai phát hiện ra. Nội sơ Con Cháu dòng họ của Việt Tế Gia có hơn mười Quan Tri Huyện. Một Qua Tri Phủ. Chưa nói đến Con Cháu của Triệu Xuyên. Triệu Thuẫn có đến năm Quan Tri Huyện. Cho thấy dòng họ Vũ, dòng họ Triệu có âm mưu từ trước phải nói là rất lâu đời nhưng không tài nào phát hiện được. Khi phát hiện được thời Bắc Văn Lang đã về tay Cha Con Doãn Thường phải nói là một cuộc loạn tặc phản loạn tài tình hết sức chu đáo. Chỉ còn cách là dốc toàn lực lượng đánh một trận. Một là lấy lại Bắc Văn Lang. Hai là…

Hầu Lạc Vương dừng lại không nói. Hùng Việt Vương Tuân Lang hỏi:

   Sao khanh không nói tiếp.

Hầu Lạc Vương nói:

   Bệ Hạ cho phép thời Thần mới nói.

Hùng Việt Vương nói:

   Khanh cứ nói.

Hầu Lạc Vương nói:

   Bẩm Quốc Vương Bệ Hạ Cha Con Doãn Thường biết lợi dụng hình ảnh Quốc Tổ che chở cho mình một lá bùa hộ mệnh không ai phá nổi. Cha con Doãn Thường, thường nói CÁC VUA HÙNG CÓ CÔNG DỰNG NƯỚC DÂN TỘC BÁCH VIỆT VĂN LANG CHÚNG TA CÙNG NHAU GIỮ LẤY NƯỚC. Dân chúng Bắc Văn Lang cho rằng Cha Con Doãn Thường mới thật sự làm theo di chí Quốc Tổ. Nên ra sức bảo bọc như tường đồng vách sắt khó mà đánh bại ngay được. Chỉ còn cách là chờ thời cơ thuận lợi chiếm lấy lại Bắc Văn Lang ngoài hai cách đó không còn cách nào hơn.

Hùng Việt Vương nghe xong nổi giận quát:

   Khanh có biết Bắc Văn Lang là vựa lúa lớn nhất nước Văn Lang Không? Mất Bắc Văn Lang là có nghĩa chúng ta suy yếu mà còn trở nên nghèo đói khó mà trở nên hùng mạnh được nữa.

Hầu Lạc Vương sợ hãi nói:

   Thần đã biết tội.

Hùng Việt Vương nói:

   Bằng mọi giá phải chiếm lại cho bằng được Bắc Văn Lang không để mất Bắc Văn Lang được.

Bằng ra lệnh cho Văn Khánh đại Tướng Quân Thống Soái thống lãnh 30 vạn quân đến Vân Giao Châu kết hợp với quân Kỳ Thọ đang cố thủ tại Quang Hải Châu kết hợp với quân Thạch Trung Sơn đang cố thủ tại Bạch Lang Châu. Kết hợp với quân Anh Kỳ đang cố thủ tại Tiên Châu kết hợp với quân Thục An Kim đang cố thủ tại Âu Tây Châu. Tiến đánh thẳng ra Bắc dốc toàn lực bắt Cha Con Doãn Thường đem về trị tội. Thần Tuân Lịnh.

Đây nói về Thống Soái Văn Khánh thống lãnh 30 vạn quân đến Vân Giao Châu. Tức thời chia làm ba đạo quân. Đạo quân cánh Tả do Chủ Tướng Lê Quang thống lãnh 8 vạn quân tiến thẳng đến Âu Tây Châu. Đạo quân cánh hữu do Huỳnh Trung Kỳ thống lãnh 8 vạn quân tiến thẳng đến Quang Hải Châu. Còn đạo quân chủ lực Văn Khánh thống soái thống lãnh 14 vạn quân tiến thẳng đến Bạch Lang Châu. Tiên Châu.

Đây nói về Thục An Kim đang là Tri Phủ Âu Tây Châu nghe hung tin Cha Con Doãn Thường nổi dậy cướp lấy Bắc Văn Lang thì vô cùng kinh hãi tình thế vô cùng nguy cấp liền huy động lực lượng quân binh trấn giữ cố thủ tại Âu Tây Châu. Chỉ hơn bảy ngày sau ở trên thành bốn Cha Con Châu Phủ Thục An Kim nhìn ra hướng Bắc thấy quân phản loạn chia ra nhiều đạo quân tiến về Âu Tây Châu cờ xí gươm giáo trùng trùng không bao lâu thì quân phản loạn bao vây thành Âu Tây Châu.

Đứng trên thành nhìn xuống thấy cờ Vua Lưu Việt. Cờ Vua Phù Việt. Cờ Vua Lỗ Việt. Cờ Vua Nô Việt. Cờ Vua Ngung Việt. Cờ Vua Mân Việt. Cờ Quân Việt Trung Nguyên. Quân phản loạn bắt loa kêu gọi mở cửa thành đầu hàng bỏ Hùng Vương. Theo Việt Vương.

Châu Phủ Thục An Kim đứng trên thành chửi:

   Các ngươi đều là con cháu Tiên Rồng. Con Dân Bách Việt Văn Lang cùng chung một Quốc Tổ Vua Hùng. Sao đi theo Cha Con Doãn Thường làm Phản.

Các Vua Việt nghe Thục An Kim nói thế làm thinh. Triệu Công Phi ngựa tới nói:

   Họ Thục An kia ngươi nói sai rồi kẻ thức thời mới là trang anh hùng tuấn kiệt phải nhận biết thời thế ngọn gió Nam chấm dứt thì ngọn gió Bắc ra đời. Hiện nay tình thế thay đổi nước Văn Lang không còn như thời Quốc Tổ Vua Hùng, mà là nhà nước Văn Lang Vương, Quan, Thần, Tướng ai vì túi nấy. Bỏ bê dân chúng, mặc cho lê dân khốn khổ. Vua Hùng chỉ lo chọn cho nhiều cung phi mỹ nữ. Để cho Vương Quan lộng hành làm bậy đánh mất hết lòng tin muôn dân. Cơ Trời đã báo hiệu khí số niên đại Vua Hùng mấy nghìn năm đã sắp kết thúc rồi còn gì. Theo Ta nghĩ chim khôn tìm cây mà đậu, người khôn tìm chúa mà thờ. Khí số nên đại Vua Hùng đã hết. Cơ Trời ấn định Việt Vương ra đời.

Các Vua Việt hùa theo Tướng Soái nói:

   Đúng chúng tôi là dân Bách Việt. Đương nhiên phải đi theo Việt Vương không theo Hùng Vương nữa.

Thục An Kim nghe những lời trái tai đó quát lên như sấm nổ:

   Thằng Triệu Công hỗn láo kia ai thì không biết lý lịch của ngươi. Nhưng đối với ta thời ta quá rõ. Tổ Tông ngươi là Triệu Xuyên. Triệu Thuẫn khi còn ở Nước Tấn đã mưu phản giết vua Di Cao Tấn Linh Công. Đến đời Tấn Cảnh Công. Đồ Ngạn Giả lật ngược tình thế. Dòng Họ Triệu các ngươi bị tru di cửu tộc. Quân Binh truy sát. Ông Cha ngươi trốn qua Bắc Văn Lang sinh sống Vua Hùng không xử tệ với dòng Họ Triệu các ngươi. Cho nhập quốc tịch Dòng Họ Triệu các ngươi trở thành dân tộc Văn Lang. Các ngươi không những không biết ơn manh tâm theo cha con Doãn Thường làm phản tội đáng chết. Với cái tội phản loạn thì chết chẳng được toàn thây rồi. Còn xúc phạm uy linh Quốc Vương tội đáng tru di cửu tộc. Bỏ gươm giáo xuống tự sát kết liễu đi.

Cha Con Triệu Công, nghe Châu Phủ Thục An Kim chửi hay quá sợ lay động lòng quân sĩ. Bằng hét lớn:

   Thời đại ngày nay kẻ thắng thời là Vua, kẻ thua là Giặc Ai thờ chủ nấy. Trên chiến trường chỉ có sức mạnh gươm đao giáo mác. Kẻ nào mạnh thời thắng, kẻ nào yếu thời thua. Kẻ thắng chính là vua, người thua chính là giặc. Đó là lẽ thường ở đời mau đầu hàng Việt Vương Tế Gia đi thì sống chống lại thì chết.

Về sau thơ rằng :

Bách Việt Văn Lang chẳng còn gì

Chỉ còn tranh bá giết nhau đi

Chính nghĩa gì đâu rời Cội Gốc

Lạc Nguồn lạc Cội khốn với nguy

Cội Nguồn Văn Hóa đã mất đi

Hiểm họa đao binh nạn kể gì

Chiếm tranh loạn lạc đầy sóng gió

Đồng Bào tàn sát có kể chi

Thương ôi lạc Cội đành tan nát

Văn Lang binh lửa dậy trời mây

Kiếp nạn trùm lên đầu dân chúng

Văn Lang khốn khổ, khổ từ đây

Quốc Đạo Văn Lang đã mất rồi

Nước nhà loạn lạc khổ ôi ôi

Trước mắt u minh buông trùm xuống

Yêu Tinh Quỉ Dữ chúng nốt xơi

Anh hùng lạc đạo ngơ với ngác

Hiếu trung, trung hiếu lạc chơi vơi

Thắng Vua, thua Giặc hề một lũ

Thi nhau chém giết máu đầu rơi.

**************

PHẦN 8

Đây nói về Lê Quang Chủ Tướng, thống lĩnh 8 vạn quân tiến thẳng đến Âu Tây Châu. Còn cách Âu Tây Châu mười dặm liền cho quân thám tính. Thì biết Quân Phản loạn đang bao vây thành Âu Tây Châu. Liền chính đốn quân ngũ chia là ba đạo quân. Đạo Quân cánh hữu hai vạn quân từ phía đông đánh bọc lên thành Âu Tây Châu. Do tướng La Thông chỉ huy. Đạo quân cánh tả hai vạn quân từ cánh Tây đánh bọc xuống thành Âu Tây Châu. Do Tướng Sơn Tây chỉ huy. Còn đạo quân chủ lực Lê Quang Chủ Tướng trực tiếp chỉ huy đánh thẳng vào quân địch chính Nam Âu Tây Châu đang bao vây cửa Nam thành Âu Tây Châu.

Nói về Quân Phản loạn Việt Trung Nguyên Ba Cha Con Triệu Công đang dồn quân phía Nam thành Âu Tây Châu tìm cách tấn công thành.

Thì nghe quân thám báo về báo:

   Quân Văn Lang đã kéo đến bao vây tấn công chúng ta.

Tức thời ba Cha Con Triệu Công bày binh bố trận sẵn sàng giao chiến với quân Văn Lang. Triệu Công thông báo cho hai cánh quân đang bao vây Đông – Tây thành Âu Tây Châu. Cánh Quân loạn tặc phản loạn bao vây Đông thành Âu Tây Châu do Vua Lưu Việt. Phù Việt trược tiếp chỉ huy. Cánh quân loạn tặc phản loạn bao vây phía Tây thành Tây Âu Châu do Vua Lỗ Việt. Vua Nô Việt chỉ huy.

Nói về ba Cha Con Triệu Công dàn binh bố trận đâu vào đấy thời thấy xa cát bụi mù mịt.

Trên thành Âu Tây Châu quân binh đang reo hò:

   Quân chủ lực Văn Lang đến rồi. Quân Văn Lang đến rồi.

Tiếng quân binh reo hò vang dậy trời đất. Triệu Công kinh hãi quân Văn Lang đến nhanh như thế sao liền ra lệnh không tấn công thành Âu Tây Châu nữa mà chuẩn bị nghinh chiến.

Nói về Chủ Tướng Lê Quang thấy quân phản động Trung Nguyên trùng trùng lớp lớp ước tính trên mười vạn quân Lê Quang không ngờ quân phản loạn Việt Trung Nguyên đông như vậy. Trong khi mình chỉ có bốn vạn quân. Nhưng nhìn thấy thành Âu Tây Châu chưa mất khí thế chiến đấu vững mạnh. Lê Quang nghĩ quân Âu Tây Châu từ trong thành đánh ra, thì có thể đánh thắng được quân phản loạn Việt Trung Nguyên. Bằng thúc quân vượt lên xông tới giao chiến. Quân Văn Lang hò hét dậy trời người ngựa gươm đao giáo mác ào ào lao tới xáp chiến với quân Việt Trung Nguyên hai bên giao tranh long trời lở đất. Triệu Công cũng không thua kém thúc quân tiến tới sẵn sàng đánh trả khí thế hừng hực. Triệu Công thấy Chủ Tướng Văn Lang thân cao bảy thước cỡi con ngựa Bạch. Đầu đội Kim khôi mình mang giáp sắt oai phong lẫm liệt cầm thanh đại đao to lớn ước nặng đến trăm cân thì biết đây là một dũng Tướng có sức mạnh kinh người.

Nói về Lê Quang nhìn thấy Triệu Công tuy lớn tuổi mình cao bảy thước oai phong lẩm liệt cỡi con ngựa đen. Đầu đội kim khôi, mình mang giáp đồng tay cầm đại đao ước lượng nặng không kém gì cây đại đao của mình thì biết đã gặp kỳ phùng địch thủ. Lê Quang định phóng ngựa lên giao chiến với Triệu Công

Tướng Mạnh Hổ nói:

   Chỉ là một con Lợn già cần gì đến mãnh Hổ, để Thuộc hạ lấy đầu cho rồi.

Lê Quang nói:

   Tướng quân hãy cố hết sức bình sanh.

Mạnh Hổ hiểu ý nói:

   Thuộc hạ quyết lấy cho được thủ cấp của giặc.

Mạnh Hổ mình cao sáu thước cỡi con ngựa xám mình mặt giáp sắt tay cầm trường đao to lớn ước nặng tám mươi cân phi ngựa tới hét lớn:

   Quân phản loạn mau ra đây cuối đầu chịu chết.

Triệu Côi thấy Tướng Văn Lang hung dữ như vậy liền nói với Triệu Công:

   Để con ra giết quách đi cho rồi.

Triệu Côi nói xong phóng ngựa lao ra chém một giáo mạnh như thiên lôi giáng. Mạnh Hổ múa đao lên đở ken đinh tai nhức óc. Hai bên đánh nhau khói bụi mù mịt giáo đao chém qua chém lại ầm ầm ngựa người xáp tới lao vào bật ra, xáp lại đánh nhau cát bụi mù trời kinh khiếp.

Đúng là:

Hai Hổ đánh nhau kinh hồn

Cát bay đá chạy Giáo Đao ầm ầm

Ngựa người lao tới rầm rầm

Đao như thác đổ bão gầm Giáo tuôn

Đánh cho trời đất chuyển rung

Đánh cho non núi đổ nghiêng dậy trời

Tám mươi hiệp đã qua rồi

Bất phân thắng bại kinh thời khiếp kinh.

Nói về Tướng Nhị Beo thấy Mạnh Hổ chưa hạ gục được Triệu Côi bằng nói với Lê Quang:

   Để tôi ra hiệp sức giết chết tướng địch cho rồi.

Nhị Beo nói xong liền phóng ngựa lao ra, tức thời có tiếng quát như sấm nổ:

   Có ta đây đừng hổn láo.

Một bóng người phi ngựa lao ra chém tới Nhị Beo. Nhị Beo múa thương chống trả choang một tiếng đinh tai nhứt óc.

Nhị Beo quát:

   Phản tặc xưng tên rồi chịu chết.

Triệu Chi quát:

   Ông Nội ngươi đây nộp mạng đi.

Triệu Chi múa giáo chém tới như mưa. Nhị Beo múa đao chống trả quát:

   Thằng phản loạn giặc con Ông Cố Tổ ngươi đây mau về chầu Âm Phủ.

Trường thương mạnh Hổ đâm chém như mưa sa bão táp thế là hai bên xáp lá cà đánh nhau như sấm sét cát bụi mịt trời.

Nhìn trận chiến mà đau xót dạ

Cảnh tương tàn Bách Việt Văn Lang

Cũng cùng con cháu Rồng Tiên

Cớ sao nên nổi đảo điên tranh giành.

Lê Quang đứng xem trận chiến tấn công trước giành phần chủ động liền chỉ kiếm lên trời hết lớn:

   Tử chiến.

Tức thời ngựa hí vang trời quân reo dậy đất quân Văn Lang ào ào xông tới.

Triệu Công cũng chỉ Đao lên trời hét lớn:

   Xông lên tử chiến.

Hai bên như nước vỡ bờ  ào ào lao vào nhau xáp lá cà chém thôi là chém.

Thơ rằng :

Ôi thôi trận đánh kinh hồn

Giáo Đao Thương Kiếm ầm ầm dậy non

Đầu rơi máu đổ xương tan

Thi nhau ngã gục máu loang đất bằng

Còn chi Con Cháu Tiên Rồng

Còn Chi Bách Việt trường tồn còn chi

Ngựa Người dẫm đạp lên nhau

Thây phơi thịt xẻ nát tương nát nhừ

Đồng bào cùng một Cuội Nguồn

Chỉ vì Lạc Cội tranh giành giết nhau

Văn Lang một Cội trước sau

Giờ đây chém giết khiếp kinh hãi hùng

Nam Bắc tranh bá ầm ầm

Văn Lang binh lửa dậy trời từ đây

Kìa Chiến trận quân vây lớp lớp

Kìa Gươm Đao gào thét dậy non

Văn Lang ơi hỡi Văn Lang

Từ đây đành phải nát tan cơ đồ

Nhìn trận chiến khắp cùng  thây chất

Tiếng hò reo tàn sát kinh thiên

Văn Lang Bách Việt Anh Em

Nồi Da nấu thịt thảm thê đất trời.

Đây nói về La Thông Tướng Quân thống lĩnh hai vạn quân đánh bọc từ phía đông lên thành Âu Tây Châu gặp phải một đội quân hùng mạnh hơn hai vạn quân trấn giữ người chỉ huy là Vua Lưu Việt. Vua Phù Việt.

La Thông phi ngựa tới quát:

   Lưu Việt, Phù Việt hai ngươi là Bách Việt Văn Lang sao lại phản lại nhà nước Văn Lang.

Vua Lưu Việt nói:

   Ta với Ngươi giờ đây ai thờ chủ nấy.

Từ xa Vua Phù Việt phi ngựa lao tới chém La Thông với sức mạnh sấm sét. La Thông múa trường thương chống trả choang choang đinh tia nhức óc.

La Thông Quát:

   Loạn Tặc phản loạn xem đây.

Tức thời La Thông múa trường đao phi ngựa chém tới như mưa. Vua Phù Việt múa giáo chống trả một còn một mất. Vua Phù Việt thấy không hạ gục được La Thông bằng phi ngựa thoát ra cuộc chiến phất cờ hiệu lệnh tấn công vào quân Văn Lang. Thế là quân loạn tặc phản loạn Trung Nguyên ào ào xông lên càng quét quân Văn Lang như thác đổ.

La Thông nào chịu kém chỉ kiếm lên trời hét lớn:

   Quét sạch những tên phản loạn cho ta.

Thế là Quân Văn Lang ầm ầm xông tới hai bên xáp chiến long trời lỡ đất. La Thông múa trường Thương phi ngựa lao tới đâm chém Vua Lưu Việt tới tấp. Vua Lưu Việt ra sức chống trả. Đường Thương La Thông như rồng bay phụng múa kỳ bí làm cho Vua Lưu Việt chống đở muốn hụt hơi. Vua Phù Việt thấy Vua Lưu Việt yếu thế liền phi ngựa xông vào xáp chiến. Nhưng đã trễ Vua Lưu Việt bị La Thông đánh trúng một thương ngã nhào xuống ngựa bị thương rất nặng đứng dậy không nổi. La Thông nhanh như chớp bồi thêm một thương nữa Vua Lưu Việt chết tốt.

Vua Phù Việt lấy làm kinh khiếp định quày ngựa bỏ chạy La Thông liền phi ngựa rượt theo đánh trúng một thương như trời giáng Vua Phù Việt trào máu ngã nhào xuống ngựa hồn du Địa Phủ.

Thơ rằng :

Sống thác là thường lý

Phù du cũng một đời

Nhưng chết cho có nghĩa

Linh Hồn mới thảnh thơi

Đằng nầy cái chết theo quân phản loạn

Hồn du địa Phủ tàn đời

Khó mong trở lại làm người

Cũng vì lạc Cội lạc Nguồn mà ra.

Quân Văn Lang thắng thế reo hò vang dậy ào ào xông tới chém quân phản loạn Trung Nguyên như chém chuối. Quân phản loạn Trung Nguyên lớp chết lớp bị thương bỏ chạy về hướng Bắc. Quân Văn Lang không truy sát tiến lên bao vây đánh bọc hậu vào mười vạn quân của ba Cha Con Triệu Công.

Khi ấy ở núi  Phù Vân có năm vị tu Tiên đắc Đạo tên là Phù Vân Đạo Sĩ. Nhìn thấy Bắc Văn Lang hung khí đầy trời liền co tay bấm quẻ không khỏi thở dài nói:

   Văn Lang đi vào kiếp nạn. Ý trời đã vậy khó mà cứu vãn, Tiên Thánh như chúng ta cũng đành bất lực. Bắc Văn Lang không bao lâu nữa sẽ rơi vào tay Nhà Chu sát nhập về phương Bắc.

Thơ rằng :

Ngán thay cho cõi Hồng Trần

Thịnh suy, suy thịnh xoa vần lao đao

Mặt Trời Văn Hóa mất đi

Văn Lang suy sụp còn chi cơ đồ

Từ đây chinh chiến bão bùng

Thần Tiên lánh nạn về Trời nương thân

Yêu Tinh xuất hiện chuyển xây

Giả chân, chân giả khó thay cho đời

Anh hùng lạc đạo đã rồi

Nước non, non nước ngập trời đao binh

Văn Lang ơi hỡi Văn Lang

Non sông Bách Việt tương tàn lẫn nhau

Nhìn thế cuộc thấy lòng đau

Đồng Bào một cội thi nhau tương tàn

Bỡi vì lạc Cội lạc Nguồn

Tranh giành chém giết hận thù triền miên.

**************

PHẦN 9

Đây nói về Tướng Sơn Tây thống lĩnh hai vạn quân nhanh chóng đánh bọc từ phía tây Âu Tây Châu đánh xuống. Bổng thấy hơn một vạn quân phản loạn cờ xí rợp trời xông ra chặn đánh.

Tướng quân loạn tặc phản loạn là Vua Nô Việt mình cao sáu thước đầu đội kim khôi mình mang giáp đồng cỡi con ngựa màu nâu tay cầm trường giáo nặng khoảng 60 cân cản đường quát:

   Tướng Văn Lang kia mua xuống ngựa quy hàng thì sống bằng chống trả thì chết.

Sơn Tây quát:

   Ta là Tướng Văn Lang mà quy hàng bọn giặc cỏ làm loạn các ngươi. Lão Tổ ngươi đã đến sao không mau xuống ngựa đầu hàng.

Vua Nô Việt cả giận phi ngựa lao tới chém Sơn Tây một giáo mạnh như trời giáng. Sơn Tây múa trường đao chống trả, choang choang đinh tai nhức óc. Hai bên đã thử sức biết đối thủ không thua kém gì mình.

Sơn Tây quát:

   Thằng cháu giặc cỏ ngươi có mắt như mù thờ Yêu Tinh, Quỉ Dữ cha con Doãn Thường đã gặp ta thì coi như tới số xem đường đao lão tổ của ngươi đây.

Tướng Sơn Tây nhanh như tia chớp múa đao pháp kình phong tuôn ra ù ù chém vào Vua Nô Việt như sấm sét.

Vua Nô Việt cũng ra oai không kém hét lên một tiếng:

   Xem đường giáo của sư gia đây.

Tức thời múa giáo vù vù cát bay đá chạy phi ngựa lao tới chém ầm ầm vào Sơn Tây hai con hổ đánh nhau một còn một mất đao giáo choảng nhau liên miên bất tận. Hai bên càng đánh càng hăng cát bụi mịt trời.

Về Sau có thơ rằng :

Một bên con Hổ Văn Lang

Một bên con Hổ Trung Nguyên thét gầm

Hai bên giao chiến ầm ầm

Đao qua Giáo lại đùng đùng dậy non

Đường Đao chơm chớp trời Nam

Giáo tuôn sấm sét dọc ngang đất trời

Giáo – Đao trăm hiệp qua rồi

Bất phân thắng bại ai nào thắng ai

Cát bay đá chạy kinh thiên

Rền trời rền đất đảo điên rền trời

Xem đi xét lại nực cười

Tranh Giành chém giết hết rồi anh em

Nước non gặp lúc tối đen

Anh hùng lạc đạo hết mong về trời.

Trong lúc hai con Hổ chiến đấu hăng say thời quân Vua Lỗ Việt Trung Nguyên từ sau đánh bọc tới quân Văn Lang trước sau bị địch bao vây Phó Tướng Sơn Tùng tức tốc điều khiển một đạo quân chống trả lại thế đánh bọc hậu của Vua Lỗ Việt. Quân Lỗ Việt từ sau bọc hậu đánh tới liền thấy quân Văn Lang dạt ra hai bên như vòng cung.

Từ trong vòng cung xuất hiện một tướng quân Văn Lang oai phong lẫm liệt quát lên như sấm:

   Có Tướng Nam nhà trời đây quân phản loạn khó mà chạy thoát.

Vua Lỗ Việt nhìn thấy Sơn Tùng oai phong lẫm liệt như thế cũng hơi ngán. Nhưng ở vào thế cỡi cọp không đánh cũng không được. Liền thúc quân xông tới giao chiến. Sơn Tùng nghĩ muốn thắng giặc phải giết tướng trước. Quát lên một một tiếng phi ngựa lao tới chém Vua Lỗ Việt một đao sấm sét. Vua Lỗ Việt múa đao chống trả choang một tiếng đinh tai nhức óc. Vua Lỗ Việt cánh tay tê nhứt như muốn gãy kinh hồn bạc vía phi ngựa bỏ chạy. Sơn Tùng phi ngựa phóng theo vớt một đao bay đầu.

Quân loạn tặc phản loạn Trung nguyên thấy Vua Lỗ Việt chết liền đạp lên nhau bỏ chạy. Quân Văn Lang không rượt đuổi mà quay ngược trở lại tấn công vào Quân Vua Nô Việt. Quân Nô Việt chống không lại quân binh rối loạn Bị quân Văn Lang xông tới chém tới tấp.

Vua Nô Việt hét lên một tiếng đánh bậy một giáo rồi phi ngựa bỏ chạy như bị tên quân Văn Lang bắn chết. Quân Văn Lang thắng thế hò hét vang trời dậy đất thi nhau rượt theo chém quân Trung Nguyên như chém chuối thây phơi lớp lớp thê thảm chưa từng thấy.

Về sau có thơ rằng :

Anh Em cùng một nước non

Bất đồng chí hướng máu loang chiến trường

Bỡi gì lạc mất Cội Nguồn

Tranh giành chém giết hãi hùng biết bao

Mất đi truyền thống Cha Ông

Như cây mất gốc như sông mất nguồn

Yêu Tinh Quỉ Dữ lộng hành

Bày ra cuộc chiến tranh giành hại nhau

Chúng dân khốn khổ lao đao

Lạc Ngồn lạc Cội lạc vào hiểm nguy

Bắc Nam máu đổ đầu rơi

Cũng vì Lạc Cội ôi thôi lạc Nguồn

Từ đây khốn khổ vô cùng

Binh đao máu lửa ngập tràn khắp nơi

Đúng sai, sai đúng là đâu

Cũng vì lạc Cội xé xâu tan tành.

Đây nói về ba Cha Con Triệu Công đang chiến đấu hăng say. Thúc 10 vạn quân tiến lên đè bẹp quân Văn Lang, quân Văn Lang chỉ có bốn vạn khó mà chống cự cho lại, quân phản loạn Việt Trung Nguyên ào ào xông lên lấy thịt đè người. Trận thế đang nghiêng về quân loạn tặc phản loạn, quân Văn Lang yếu thế hơn thấy rõ. Triệu Côi, Triệu Chi, áp đảo tướng Mạnh Hổ, Tướng Nhị Beo.

Triệu Côi, Triệu Chi múa giáo vù vù chém tới tấp nhác nào nhát nấy như trời giáng. Tướng Mạnh Hổ, Tướng Nhị Beo ra sức chống đở yếu thế thấy rõ sắp bị đánh bại tới nơi còn Chủ Tướng Lê Quang ra sức đánh với Triệu Công.

Triệu Công tuy lớn tuổi nhưng võ nghệ cao cường múa trường đao như sấm sét chém tới như mưa. Lê Quang múa đao chống trả thế đao chém tới ầm ầm trận chiến kinh hồn cát bay đá chạy không ai chịu thua ai. Quân Văn Lang đang trong lúc yếu thế có thể nói là sắp bị đánh bại tới nơi. Trong lúc nguy cơ ấy.

Bổng nghe chiêng trống vang trời quân reo dậy đất. Hai bên cánh tả, cánh hữu phía sau lưng quân loạn tặc phản loạn. Quân Văn Lang đánh thốc tới thế mạnh như chẻ tre dưới sự chỉ hủy của Tướng La Thông. Tướng Sơn Tây.

Mười vạn quân phản loạn Trung Nguyên tức thời rối loạn. Cùng lúc ấy bốn Cha Con Tri Phủ. Thục An Kim, Thục An Chu, Thục An Hãn, Thục An Ngưu ở trên thành Âu Tây Châu nhìn thấy hai cánh quân phản loạn Đông – Tây  do các Vua Việt chỉ huy đã bị hai cánh quân Văn Lang đánh bại. Liền mở cổng thành thống lĩnh hơn một vạn quân xông ra hiệp cùng hai cánh quân Văn Lang từ phía sau đánh bọc tới, dồn ép quân phản loạn Việt Trung Nguyên vào giữa tiêu diệt.

Thơ rằng :

Binh hùng tứ phía bao vây

Quân reo dậy đất cờ bay rợp trời

Quân Nguyên bị đánh tơi bời

Chỉ vì phản lại Vua Hùng tan thây.

Triệu Công đang hăng say chiến đấu với Chủ Tướng Lê Quang. Bổng thấy quân binh rối loạn thì chưa hiểu là chuyện gì.

Cùng lúc ấy một tướng giặc phi ngựa tới nói lớn:

   Bẩm Nguyên soái mau cho quân mở đường rút lui, quân Văn Lang đang bao vây tứ phía dồn ép quân ta vào giữa tiêu diệt.

Triệu Công nghe nói thất kinh hét lớn:

   Bắn pháo lệnh rút lui.

Lê Quang quát lên như sấm nổ:

   Chạy đâu cho thoát.

Liền phi ngựa đến chém Triệu Công tới tấp. Vị tướng giặc mới đến múa giáo chận đánh Chủ Tướng Lê Quang. Triệu Công phi ngựa thúc quân binh phá vòng vây Tướng Giặc múa giáo ra sức đánh với Lê Quang bổng hét lên một tiếng chém tới Lê Quang một giáo mạnh như sấm sét bất thình lình phóng ngựa chạy dài. Chủ Tướng Lê Quang không rượt đuổi theo mà thúc quân binh xông lên chém giết quân loạn tặc phản loạn Trung Nguyên như chém chuối. Quân loạn tặc phản loạn Trung Nguyên kinh hồn bạc vía người ngựa đạp lên nhau mà chạy. Quân Văn Lang lao theo chém thôi là chém.

Thơ rằng :

Tế Gia Yêu Quỉ ra đời

Làm cho Bách Việt đứng ngồi không yên

Ngư Tinh chuyển hóa xưng vương

Mở màn chinh chiến nát tan cơ đồ

Văn Lang binh lửa dậy trời

Chỉ vì tranh Bá của loài Yêu Tinh

Ôi thê thảm còn chi Bách Việt

Thây ngã nhào kết cuộc thảm thê

Văn Lang con cháu Rồng Tiên

Lạc Nguồn Lạc Cội đảo điên cơ đồ

Quỉ Yêu xây chuyển lộng hành

Chia bè rẽ phái tranh giành hại nhau.

Nói về ba Cha Con Triệu Công thúc quân binh phá vòng vây chạy về Phù Châu. Quân Văn Lang rượt đuổi theo chém giết tơi bời. Ba Cha Con Triệu Công chạy thục mạng bán sống bán chết. Thì thấy một đạo quân xuất hiện biết đó là quân của mình vô cùng mừng rỡ. Đạo quân trước mặt nhanh chóng đến nơi. Thì ra đó là vợ của Triệu Côi Phù Châu con của Vua Phù Việt. Đang trên đường vận chuyển lương thực. Phù Châu thấy Cha Chồng và Chồng thất trận thảm thê. Đằng sau quân Văn Lang đuổi theo chém giết rất dữ.

Phù Châu nói:

   Để con chặn đứng quân Văn Lang lại cho.

Nói xong Phù Châu phi ngựa về phía trước thấy quân Văn Lang trùng trùng lớp lớp hò hét rượt đổi quân phản loạn Trung Nguyên chém giết ầm ầm dậy trời dậy đất.

Phù Châu phi ngựa tới hét lớn:

   Quân Văn Lang khốn kiếp kia xem đây.

Liền rút ra một cái quạt niệm chú quạt liền ba cái. Tức thời cuồng phong nổi dậy ầm ầm mù trời mịt đất cát bay đá chạy cây cối ngã đổ. Quân Văn Lang bị cuồng phong đánh bật trở lại kinh hồn bạc vía rút lui không còn đuổi theo quân phản loạn nữa. Rút hết về Âu Tây Châu. Triệu Công điểm lại quân binh, đi tiêu hơn bốn vạn. Xây xẩm mặt mày. Chưa kể các Vua Việt bỏ mạng, cánh Đông cánh Tây quân binh các Vua Việt chết hơn phân nửa

Phù Châu nghe nói Cha mình Vua Phù Việt đã bỏ mạng khóc sướt mướt nói:

   Để con đem quân giết sạch quân Văn Lang báo thù.

Triệu Công thở dài can:

   Quân Văn Lang xảo trá Lắm khó mà đánh bại lúc nầy được phải chờ cơ hội khác. Ngay lúc bây giờ đây là cũng cố lại lực lượng ngăn chặn không cho quân Văn Lang tiến ra Bắc.

Bằng ra lệnh cho Triệu Côi thống lĩnh hai vạn quân đến Phù Châu kết hợp với quân Phù Việt cũng cố thành trì trấn giữ không cho quân Văn Lang tiến ra Bắc. Triệu Chi thống lĩnh hai vạn quân đến Lâm Giang Tây Châu kết hợp với quân Lâm Việt cũng cố thành trì trấn giữ không cho quân Văn Lang tiến ra Bắc. Triệu Công thống lĩnh hai vạn quân đến Uất Lang Việt Châu kết hợp với quân Lang Việt cũng cố thành trì trấn giữ không cho quân Văn Lang tiến ra Bắc.

Tan nát nước nhà do mất Cội

Chiến chinh loạn lạc bởi lòng tham

Truyền thống Ông Cha vừa quên lãng

Binh đao máu lửa dậy tràn lan

Khốn khổ muôn dân vì đâu hỡi

Độc tài độc trị họa diệt vong

Hãy theo Quốc Tổ thời dựng nước

Pháp Quyền Dân Chủ náo nương thân.

Muốn xây dựng lên một đất nước thật sự Tự Do, Công Bằng, Bình Đẳng. NHÂN QUYỀN Dân Chủ Văn Minh. Thì phải xây dựng lên Nhà Nước Pháp Quyền, dựa trên nền tảng Quyền con người nhà nước Pháp Quyền của Dân do Dân và vì Dân. Đằng nầy Cha Con Doãn Thường không hiểu gì về nhà nước Pháp Quyền mà chỉ dựa trên Văn Từ lừa dối mà thôi.

Cha con Doãn Thường chủ thuyết xây dựng lên nhà nước Pháp Quyền bằng con đường bạo lực. Đấu tranh bằng bạo lực thắng là Vua thua là giặc. Thì không thể nào lập lên một nhà nước Pháp Quyền chân chính được. Mà chỉ lập lên nhà nước độc quyền, độc tài, độc trị vì muốn lập lên một nhà nước Pháp Quyền thật sự của dân, do dân, vì dân thì cuộc dấu tranh đó lập lên nhà nước Pháp Quyền, không phải là cuộc đấu tranh thắng là Vua thua là Giặc. Mà là cuộc đấu tranh Văn Hóa về quyền con người. Chỉ Có Ở Thánh Chiến, không có ở phàm chiến, thần chiến. Nhà nước Pháp Quyền phải lập trên nền tảng Quyền con  người. Nhân Quyền công bằng bình đẳng. Vì thế  lập lên nhà nước Pháp Quyền không phải nhà nước thắng là Vua, thua cho là Giặc, nhà nước Độc Tài, Độc trị.

Có thể nói Cha Con Doãn Thường vẽ ra chiếc bánh Tự Do, Công Bằng, Bình Đẳng, Dân Chủ, Dân Quyền, Văn Minh. Nhà Nước Pháp Quyền của Dân do Dân và vì Dân. Lừa dân quả thật là tài tình. Dân Bắc Văn Lang vì mê chiếc Bánh Vẽ hợp lòng dân nầy. Nên Dân Bắc Văn Lang sẵn sàng đi theo Cha Con Doãn Thường. Cướp lấy Bắc Văn Lang lập lên nhà nước Trung Nguyên Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị quản lý Dân chúng còn chặt chẽ hơn Phương Bắc Nhà Chu. Phương Nam Vua Hùng.

Dân Chúng sống trong một nhà tù rộng lớn dưới sự kiểm soát quản lý gắt gao của nhà nước Trung Nguyên. Tất cả ruộng đất đều về tay nhà nước Trung Nguyên Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị. Với một thể chế xin cho dân chúng không những sống không có Tự Do như những gì Cha Con doãn Thường đã nói. Mà còn sống trong cảnh bóc lột thậm tệ.

Dân Chúng khi hiểu ra sự lừa đảo của Cha Con Doãn Thường thì tài sản hết sạch tất cả đều là của nhà nước Trung Nguyên. Dân chúng được nhà nước Trung Nguyên chia cho có ruộng đất để canh tác làm ăn. Nhưng chỉ là nô lệ khéo làm công cho một địa chủ lớn là nhà nước Độc Tài Độc Trị. không có dư chỉ đủ sống mà thôi.

Theo những gì Quốc Tổ Vua Hùng Dạy: Muốn có một đất nước thật sự Tự Do. Công Bằng, Bình Đẳng, Nhân Quyền Dân Chủ Văn Minh. Thì nhà nước Văn Lang thời Mạc Pháp Phải tự xóa bỏ Độc quyền, Độc Tài, Độc Trị. Tiến tới nhà nước Pháp Quyền. Nhà nước Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp là Vua của nước Văn Lang. Nền Quốc Đạo Dân Tộc. Còn Vương, Vua chỉ là người Đại diện tối cao của nước Văn Lang. Bảo vệ thi hành Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp nền Quốc Đạo Dân tộc. Thì nhà nước đó mới thật sự là nhà nước Pháp Quyền. Nhà nước của Dân do Dân và vì Dân. Nhà nước Công Bằng Dân Chủ Văn Minh.

Cha Con Doãn Thường chỉ là xảo ngôn lừa đảo. Mưu đồ cướp lấy Bắc Văn Lang mà thôi. Khi chiếm lấy được Bắc Văn. Thì lộ bộ mặt Chồn Cáo lộ ra Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị. Tạo lên thể chế xin cho Tàn Bạo vô cùng. Và cuối cùng cũng đưa đến sự nhanh chóng hủy diệt. Đất nước Trung Nguyên không còn của Trung Nguyên mà Trở Thành Trung Quốc Phương Bắc. Những di tích Văn Hóa Văn Lang xóa sạch không còn. Thay vào đó là di tích Văn Hóa Phương Bắc.

Điều đáng nói ở đây Dân Tộc Văn Lang đánh mất Văn Hóa Cội Nguồn nền Quốc Đạo dân tộc. Chạy theo Văn Hóa Phương Bắc. Đánh mất bản Sắc Văn Hóa Truyền Thống Dân Tộc. Thì nguy cơ mất nước sắp đến. Anh Hùng Lạc Cội. Chia bè rẽ phái nổi lên đòi tự trị tranh giành đất đai chém giết lẫn nhau. Tạo ra cảnh nồi da nấu thịt Anh Em tàn sát, tranh bá tranh hùng. Cuối cùng cũng rơi vào tay các thế lực ngoại xâm. Cũng như Cha Con Doãn Thường dâng Bắc Văn Lang cho Phương Bắc Nhà Chu, Thời Chu Nguyên Vương.

Gương lịch sử thời xưa cũng như thời nay ở vào thời nào Dân Tộc Văn Lang. Hay Dân Tộc Việt Nam. Mà đánh mất Văn Hóa Cội Nguồn làm phai mờ truyền thống anh linh dân tộc. Chạy theo Văn Hóa ngoại lại cũng chính là lúc thời kỳ dẫn đến sự đen tối nhất. Dân chúng không còn đoàn kết được nữa dẫn đến chia bè rẽ phái chém giết lẫn nhau xưng hùng xưng bá. Cũng là lúc các thế lực ngoại xâm có cơ hội xâm lược đất nước Văn Lang hay đất nước Việt Nam. Bài học xương máu từ lịch sử Ông Cha. Mỗi lần cây mất gốc thì héo cành rũ ngọn. Mỗi lần nước không nguồn thì sông cạn đồng khô. Nói tóm lại: Cứ mỗi lần quên đi Quốc Tổ Vua Hùng. Quên đi truyền thống anh linh dân tộc. Là mỗi lần kiếp nạn xảy ra, binh đao máu lửa chém giết lẫn nhau, đói nghèo lạc hậu. Đạo đức xuống cấp thậm chí dẫn đến không còn lương tri nhân tính làm những điều tội lỗi không sao tưởng tượng được.

************** 

PHẦN 10

Đây nói về Chủ Tướng Huỳnh Trung Kỳ thống lĩnh 8 vạn quân nhanh chóng đến Quan Hải Châu. Khi đại quân chỉ còn cách Quang Hải Châu mười dặm thì cho quân binh dừng lại. Huỳnh Trung Kỳ liền cho đội quân thám báo trinh sát đến Quang Hải Châu xem xét tình hình.

Đội quân Thám Báo đi không bao lâu thời trở về báo:

   Bẩm Chủ tướng Quân phản loạn Trung Nguyên đang tấn công Quang Hải Châu, tình thế vô cùng nguy cập.

Huỳnh Trung Kỳ nghe xong liền ra lệnh:

   Tô Vũ nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân thống lĩnh hai vạn quân đánh thẳng xuống cửa Tây Hải Châu. Tuân lệnh.

   Chu An nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân thống lĩnh hai vạn quân nhanh chóng từ cánh đông đánh bọc lên cửa phía đông thành Hải Châu. Tuân lệnh.

Còn Huỳnh Trung Kỳ thống lĩnh bốn vạn quân đánh thẳng vào cửa chính Nam nơi có hơn 10 vạn quân chủ lực quân phản loạn Trung Nguyên.

Đây nói về Tri Phủ Quang Hải Châu. Kỳ Thọ cùng ba người con là Kỳ Lộ, Kỳ Hội, Kỳ Duyên cố thủ Quang Hải Châu không chịu đầu hàng quân loạn tặc phản loạn.

Ở trên thành chửi rủa bốn cha con Triệu Phàn:

   Thằng giặc Triệu Phàn kia. Ngươi theo Cha Con Doãn Thường cướp lấy Bắc Văn Lang xưng Vương. Xưng Chúa Phản bội lại non sông Tổ Quốc. Phản bội Quốc Tổ Vua Hùng tội ngươi đáng phanh thây xẻ thịt. Mau bỏ gươm giáo xuống quy hàng may ra còn mạng sống.

Triệu Phàn cười ha hả nói:

   Thằng Kỳ Thọ ngu dốt kia thời đại Hùng Vương sắp hết rồi. Toàn là một lũ tham quam chỉ lo tửu sắc vơ vét của dân phá tan đất nước Văn Lang. Ông trời nổi giận mới sanh ra Chúa mới ra đời. Doãn Thường là Quốc Tổ đầu thai trở lại cứu dân tộc Bách Việt Văn Lang thoát khỏi bọn tham quam để lo cho dân cho nước sống được tự do ăn no mặc ấm. Mau thức thời mở cổng thành quy hàng, thì còn cái đầu để mà nhìn con nhìn cháu. Bằng không thì con gà con chó cũng không còn.

Kỳ Thọ nghe Triệu Phàn nói Doãn Thường là Quốc Tổ đầu thời râu tóc dựng đứng lên quát như sấm nổ:

   Thằng Triệu Phàn kia ngươi dám hổn láo đến Anh Linh Quốc Tổ. Quốc Tổ nào đầu thai tiêu diệt con cháu các Vua Hùng của mình. Chỉ có loài Ác Quỉ đầu thai cướp giang san Quốc Tổ thì có. Ta lạ gì Ông Cha ngươi ở phương Bắc đã từng giết Vua Nhà Tấn đại nghịch Ác Đạo. Đã bị tru di cửu tộc. Nếu không nhờ Phương Nam Văn Lang che chở thời làm gì dòng họ Triệu Ngươi hưng thịnh như ngày hôm nay. Không biết ơn các Vua Hùng có công dựng nước, có công giữ nước để cho ngươi hưởng lạc mà còn tạo phản. Theo ác quỉ manh tâm cướp lấy giang sang các Vua Hùng.

Triệu Phàn quát:

   Ta không cướp lấy giang san Vua Hùng mà là thay thế Quốc Tổ Vua Hùng tiêu diệt lũ tham quan các ngươi đã quên hết Cội Nguồn chạy theo Văn Hóa Phương Bắc bán đứng truyền thống đất nước Văn Lang. Nếu không giết sạch lũ tham quan các ngươi để các ngươi sống chỉ làm dơ bẩn đất nước Văn Lang mà thôi.

Kỳ Thọ quát:

   Các ngươi không cướp lấy giang san Vua Hùng thời Bắc Văn Lang, là Bắc Văn Lang. Sao các ngươi thay tên đổi xứ thành Trung Thổ, Việt Trung Nguyên.

Triệu Phàn thua lý quát lớn:

   Nơi trận địa chỉ nói chuyện bằng gươm đao ta hạn cho Cha con Kỳ Thọ ngươi trong vòng ba ngày quy thuận Việt Vương Tế Gia thì sống. Bằng chống lại Việt Vương Tế Gia thời chết.

Kỳ Thọ nhìn lên trời than rằng:

Cướp nước nhờ lối xảo ngôn

Lừa dân nhờ lối khéo khôn dụng  từ

Chánh Tà lẫn lộn mơ hồ

Làm cho dân chúng lầm đường Tà Ma

Vua Hùng thời bỏ lánh xa

Yêu Tinh Quỉ Dữ ngợi ca tôn thờ

Văn Lang đen tối mịt mờ

Ôi thôi non nước dậy thời binh đao.

Ba ngày trôi qua không thấy Cha Con Kỳ Thọ mở cửa thành đầu hàng. Triệu Phàn liền ra lệnh cho các chư hầu Vua Việt, Vua Giao Việt, Vua Loan Việt, Vua Khê Việt tấn công cửa Tây Thành. Vua Điền Việt, Vua Lạc Việt, Vua Lang Việt tấn công cửa Đông thành. Còn Bốn Cha Triệu Phàn thống lĩnh 10 vạn quân đánh trực vào cửa chính Nam thành.

Quan Hải Châu không lớn lắm thành cũng chẳng cao. Đứng trên thành nhìn xuống thấy quân giặc đông như kiến chuẩn bị tấn công thành. Trong khi trong thành chỉ hơn một vạn quân. Quan Tri Phủ Kỳ Thọ nhìn lên trời thở dài.

Kỳ Duyên nhìn thấy Cha thở dài như vậy nói:

   Thưa Cha bọn phản động dã tâm hiểm độc. Chúng muốn cướp lấy giang san Quốc Tổ Vua Hùng biến Bắc Văn Lang thành Trung Thổ Việt Trung Nguyên. Tội phản nghịch đã rõ. Con Cháu Rồng Tiên không bao giờ đầu hàng chúng. Lũ phản nghịch Phản bội đất nước Văn Lang dù cho mạnh đến đâu cũng không có gì là nao núng chỉ còn một hơi thở là xông lên chiến đấu quyết một còn một mất với quân phản loạn bất lương nầy.

Kỳ Thọ nhìn đứa con gái thân yêu của mình nói những lời đầy chính nghĩa dũng cảm như thế lòng cảm thấy rất vui.

Kỳ Thọ nói:

   Nếu cuộc chiến quyết tử hôm nay là cuộc chiến chống ngoại xâm thì hay biết mấy. Nhưng đây chỉ là một cuộc chiến Bách Việt Văn Lang tàn sát lẫn nhau không vẻ vang gì. Một cuộc chiến phải nói là vô cùng đau đớn nầu da nấu thịt. Nhưng không còn cách nào để lựa chọn đành phải tử chiến với quân loạn tặc phản loạn bảo vệ thành quả mà Ông Cha ta đã gầy dựng lên. Đất nước Văn Lang của Quốc Tổ Vua Hùng quyết không thể rơi vào tay quân loạn tặc phản loạn được. Không để cho Cha Con Doãn Thường cướp lấy thêm một tất đất nào nữa.

Kỳ Lộ cũng nói:

   Sợ gì quân phản loạn sẵn sàng tử chiến với chúng.

Kỳ Hội cũng nói:

   Non Sông Tổ Quốc nầy nào phải của Cha Con Doãn Thường khai dựng lập nên mà có từ thời Kinh Dương Vương dựng Nước Xích Quỷ, Văn Lang rồi đến bây giờ. Cha Con Doãn Thường muốn cướp lấy giang san Văn Lang phải dẫm lên xác chết của chúng ta. Những kẻ phản loạn chúng chỉ lợi dụng hình ảnh Quốc Tổ làm bức bình phong che chắn tội ác phản loạn của chúng mà thôi tội ác bọn phản loạn đã rõ. Kẻ nào theo quân cướp nước thời coi như phản bội lại Ông Cha. Giết sạch chẳng tha. Dù chúng có mạnh đến đâu cũng không có gì đáng sợ. Chết Vinh hơn sống nhục. Chúng con sẵn sàng chiến đấu tới hơi thở cuối cùng. Nước Văn Lang chỉ có Quốc Tổ Vua Hùng là vì Quốc Tổ duy nhất khai dựng nước Văn Lang mà thôi. Không Trung Thổ Việt Trung Nguyên gì cả.

Kỳ Thọ nghe các con nói những lời chính nghĩa như vậy lấy làm tự hào khen:

   Các con quả không mất đi dòng máu Tiên Rồng. Dòng máu anh hùng bất khuất.

Kỳ Thọ thấy các con anh dũng sẵn sàng chiến đấu tới hơi thở cuối cùng liền phất cờ hiệu lệnh sẵn sàng tử chiến.

Khẩu hiệu được truyền ra:

   Văn Lang là đất nước Văn Lang. Kẻ nào cướp lấy kẻ đó sẽ bị tiêu diệt.

Thơ rằng :

Quên mình thề giết quân Nguyên

Dù cho ngã gục tiến lên sẳn sàng

Dù cho quân giặc trùng trùng

Theo gương Phù Đổng lẫy lừng năm xưa

Đánh cho lũ giặc khiếp kinh

Đánh cho phản loạn nát tan phen nầy

Gươm đã sẳn trong tay tử chiến

Nào hò reo liều chết huy sinh

Tiến lên Tử chiến, tiến lên diệt thù.

Triệu Phàn thấy Cha Con Kỳ Thọ ngoan cố không chịu đầu hàng mà còn sẵn sàng tử chiến liền phất cờ hiệu lệnh thổi còi tức thời pháo lệnh tấn công đã bắn lên trời. Quân phản loạn reo hò dậy trời dậy đất ào ào bắt thang trèo lên thành. Có sự yểm trợ của đội quân xạ tiễn, tên bắn lên thành như mưa.

Quân binh Quang Hải Châu trên thành ra sức chống trả. Nhưng tình hình khó chống cự được lâu Quan Hải Châu sắp rơi vào tay quân phiến loạn. Trong lúc quả chuông treo sợi tóc thành Hải Châu mất đến nơi.

Bổng quân phiến loạn nghe quân binh trên thành Hải Châu reo hò vang dậy:

   Quân cứu viện đến rồi, quân cứu viện đến rồi.

Tinh thần quân binh dân cao chống trả quyết liệt. Nói về quân phiến loạn thấy quân Văn Lang kéo tới từ phía sau đánh thốc lên như vũ bão. Gươm đao giáo má dậy trời. Quân loạn tặc phiến loạn chưa lấy được thành bị quân Văn Lang đánh tới tấp nên có bề yếu thế. Quân binh trên thành liền chiếm lại ưa thế. Phản công dữ dội la hét dậy trời.

Bắt sống Triệu Phàn

Bắt sống Triệu Phàn

Đi theo bè lũ quỉ yêu tinh

Một bọn phản nòi quân khác máu

Quét sạch chúng đi tiến lên tiến lên.

Nói về Tô Vũ thống lĩnh hai vạn quân nhanh chóng tiến thẳng đến cửa Tây Hải Châu đánh từ phía sau địch đánh tới làm cho quân giặc rối loạn. Vua Giao Việt, Vua Loan Việt, Vua Khê Việt không còn sức đâu mà tấn công thành, bằng quay sang điều khiển quân binh chống trả lại quân Văn Lang từ sau đánh tới.

Cùng lúc ấy cửa Đông Hải Châu trận chiến đã xảy ra dữ dội Vua Điền Việt, Vua Lạc Việt, Vua Lang Việt thúc quân binh chống trả lại quân Văn Lang từ phía Đông bọc sau  đánh tới như vũ bão. Vua Giao Việt, Vua Loan Việt, Vua Khê Việt huy động quân binh toàn lực lượng chặn đứng quân Văn Lang tràn tới như nước vỡ bờ. Vua Giao Việt thấy Tướng Văn Lang cỡi con ngựa đen múa trường đao chém quân phản loạn như chém chuối. Liền cỡi ngựa xông tới múa giáo chém tới.

Chu An thấy vua Giao Việt chặn đánh mình, liền quát lên như sấm nổ hét lớn:

   Quân phản loạn nạp mạng.

Phi ngựa múa đao chém tới Vua Giao Việt. Vua Giao Việt múa giáo chống trả. Đường đao Chu An như rồng bay phụng múa chém tới như mưa sa bão táp. Vua Giao việt đánh không lại sắp bị đánh bại tới nơi. Vua Lạc Việt từ xa thấy thế phi ngựa đến trợ lực giao chiến. Hai người đánh một đao giáo dậy trời.

Khi ấy nơi miếu Thổ Thần gần đó cách không xa trận chiến có một số Anh Linh Tướng sĩ ở các thời Vua Hùng nhìn thấy cảnh Bách Việt Văn Lang chém giết dậy trời thì không khỏi thở dài. Bổng một hồn thiên anh linh Tướng Sĩ ngân bài thơ rằng:

Thời mạc vận Văn Lang nội chiến

Thôn tính nhau chém giết lẫn nhau

Chiến trường máu đổ đầu rơi

Thắng thua, thua thắng biển trời thê lương

Văn Lang ơi hỡi Văn Lang

Vì đâu nên bỡi chiến tranh thế nầy

Chiến trường bỏ mạng khắp đầy

Thắng thua, thua thắng cuộc hề loạn li.

Nói về Phó Tướng Lý Hạo thúc quân binh Văn Lang xông lên chém quân loạn tặc phản loạn ầm ầm. Vua Việt Lang thúc quân loạn tặc phản loạn chống trả. Chiến trường ngựa hí quân reo gươm đao giáo mác dậy trời, hai bên xáp lá cà thi nhau mà chém. Thây người thi nhau ngã gục thê thảm hãi hùng.

Nơi Miếu Thổ Thần các Anh Linh Tướng Sĩ nói:

   Dân tộc Bách Việt Văn Lang tàn sát lẫn nhau, chúng ta khó mà giúp bên nào vì tất cả là Đồng Bào anh em chúng ta, dù biết rằng đó là quân loạn tặc phản loạn. Thôi thì mặc cho huyền cơ số phận dân chúng Văn Lang vậy.

Thơ rằng :

Nguồn Cội mất  nước non nguy khốn

Cảnh Đồng Bào chém giết lẫn nhau

Chiến tranh loạn lạc biết bao

Thây phơi chật đất núi sâu hận thù

Bỡi lạc Nguồn chia bè rẽ phái

Bởi tham tàn xưng bá xưng vương

Chiến trường mạnh được yếu thua

Thắng Vua, thua Giặc còn chi đạo trời

Gươm đao gào thét hãi hùng

Văn Lang Bách Việt chiến trường thây phơi

Sự thật là thế ai ơi

Sử Kinh để lại cho đời soi xem.

Nói về Lý Hạo thấy Vua Việt Lang hung dữ thúc quân loạn tặc phản loạn chống trả lại quân Văn Lang chém quân Văn Lang tới tấp. Lý Hạo hét lên một tiếng như sấm nổ phi ngựa lao tới chém Vua Việt Lang. Vua Việt Lang múa giáo chống trả. Hai bên đánh với nhau một mất một còn giáo đao choảng nhau đinh tai nhức óc. Lý Hạo giả thua bỏ chạy Vua Việt Lang đổi theo, bất ngờ Lý Hạo quay ngược trở lại chém một đao, Vua Lang Việt tránh không kịp nhào xuống ngựa hồn du Địa Phủ.

Quân Văn Lang thắng thế hò hét xông lên chém quân loạn tặc phản loạn tơi bời. Quân phản loạn tặc phản loạn đạp lên nhau bỏ chạy thây người ngã gục lớp lớp.

Thơ rằng :

Ôi thôi sanh mạng còn gì

Văn Lang Bách Việt kể gì giết nhau

Nhìn xem mà thấy lòng đau

Đầu rơi máu đổ vứt thây khắp cùng

Cũng vì tranh bá tranh hùng

Hồn sa Địa Phủ hết còn siêu sanh.

Muốn cứu vãn đất nước thoát khỏi sự kìm kẹp của ngoại bang cũng như tránh khỏi cuộc binh đao máu lửa nội chiến. Tìm lại con đường Độc Lập Tự Do, Công Bằng, Bình Đẳng, Nhân Quyền Dân Chủ Văn Minh. Không phải bằng con đường bạo lực mạnh được yếu thua. Thắng xưng là Vua, thua cho là Giặc. Xem đi xét lại Giặc với Vua cũng chỉ là một thứ. Mà  giải quyết  bằng con đường Văn Hóa. tránh con đường chém giết lẫn nhau. Tranh Hùng Tranh Bá. Mạnh ai cũng tự cho mình là chính nghĩa. Mà là tất cả đồng trở về Cội Nguồn TÔN THỜ QUỐC TỔ vun đắp cái gốc Cội Nguồn Dân Tộc lên cao. Thì Tự nó nở cành xanh ngọn tự nó giải quyết tất cả mọi mâu thuẫn. Giải quyết tất cả mọi xung đột giải, quyết đói nghèo lạc hậu. Khi sức mạnh tinh thần đoàn kết toàn Dân Tộc đã có. Chính nghĩa đã sung đầy tự đứng vững trên đôi chân của chính người Đại Việt. Nội Lực hùng mạnh. Thì màn đêm ách thống trị ngoại bang sẽ tan biến không còn. Hãy đi theo con đường Quốc Tổ. Con đường bất chiến tự nhiên thành. Nghĩa là mỗi người dân Việt Nam tôn vinh Cội Nguồn, TÔN THỜ QUỐC TỔ Phát huy truyền thống anh linh dân tộc. Thì kiếp nạn dân tộc sẽ tai qua nạn khỏi. Bỏ mất cội Nguồn, quên đi truyền thống anh linh dân tộc, thì bóng u minh sẽ trùm xuống non sông Tổ Quốc ngay. Yêu tinh quỉ dữ sẽ nhân cơ hội nầy mà đầu thai làm người khởi động bộ máy chiến tranh. Lôi kéo con cháu Tiên Rồng vào cảnh nồi da nấu thịt. Như Kinh Văn đã nói trên.

**************

PHẦN 11

Nói về Chu An một mình đánh với Vua Điền Việt, Vua Lạc Việt. Có vẻ hơi yếu thế nếu kéo dài trận chiến sẽ bị Vua Điền Việt, Vua Lạc Việt đánh bại. Chu An trổ hết thần oai uy dũng quyết một còn một mất đường đao chém tới véo véo kinh hồn. Vua Điền Việt, Vua Lạc Việt múa giáo quyết hạ gục Chu An trận chiến càng lúc càng dữ dội.

Bổng từ xa một dũng Tướng phi ngựa tới hét lớn chém Vua Điền Việt. Vua Điền Việt bận lo chống đở đao pháp Chu An chém tới như mưa nên không tránh kịp đao pháp bất ngờ chém tới liền trúng một đao ngã nhào xuống ngựa chết tốt. Vua Lạc Việt kinh khiếp định bỏ chạy nhưng không còn kịp bị Chu An chém một đao ngã nhào hồn lìa khỏi xác.

Quân Văn Lang thắng thế như nước vỡ bờ ào ào lao tới chém quân loạn tặc phản loạn như chém chuối. Thây phơi như rạ quân loạn tặc phản loạn thi nhau bỏ chạy bán sống bán chết. Quân Văn Lang không đuổi theo mà đánh bọc hậu lên cửa Nam thành dồn đại quân loạn tặc phản loạn Trung Nguyên vào giữa.

Cùng lúc ấy Tô Vũ xua quân đánh xuống cửa Tây như thác lũ. Vua Giao Việt thấy Tôn Vũ uy dũng vô song múa trường đao như mưa sa bão táp chém quân loạn tặc phản loạn như chém chuối. Vua Giao Việt múa song chùy phi ngựa xông tới đánh Tô Vũ. Hai Hổ giao tranh kẻ đao, người chùy đánh với nhau cát bay đá chạy bụi đất mịt mù.

Bổng nghe một tiếng quát như sấm nổ. Vua Khê Việt múa cặp búa chém tới Tô Vũ  thế là ba con Hổ đánh nhau chí tử. Tô Vũ một mình đánh không lại hai người chém bậy một Đao rồi bỏ chạy.

Bổng một tiếng quát như sấm nổ:

   Có phó tướng Hầu Bưu đây.

Hầu Bưu liền chặn đánh Vua Việt Khê. Vua Việt Khê ủy sức mạnh múa cặp búa ù ù chém tới. Hầu Bưu múa thương chống đở hai bên đánh nhau long trời lở đất. Tô Vũ quày ngựa trở lại múa trường đao chém vào Vua Giao Việt như mưa. Vua Giao Việt múa Song Chùy chống trả hai bên đánh nhau mù trời mịt đất.

Bổng một người xuất hiện Tô Cẩn con trai lớn Tô Vũ dương cung bắn một phát Vua Giao Việt trúng tên ngã nhào xuống ngựa Tô Vũ dớt một đao bay đầu. Tô Cẩn lại dương cung bắn một phát nữa Vua Khê Việt trúng tên ngay cổ ngã nhào xuống ngựa Hầu Bưu dớt cho một thương Vua Việt Khê hồn du địa phủ.

Vua Lang Việt kinh hồn bạc vía phi ngựa bỏ chạy. Quân Văn Lang thắng thế ào ào lao tới chém quân phản loạn tặc phản như chém chuối chết la chết liệt, quân phản loạn đạp lên nhau bỏ chạy. Quân Văn Lang không đuổi theo từ phía Tây bọc xuống cửa Nam đánh bọc sau lưng quân chủ lực loạn tặc phản loạn của địch đánh tới ép mười vạn quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên vào giữa.

Thơ rằng :

Giáo, đao, xối xả ầm ầm

Tên bay chùy nện đùng đùng khiếp kinh

Văn Lang kiếp nạn bủa vây

Đầu rơi máu đổ giết nhau tương tàn

Đồng Bào thê thảm Khốn cùng

Văn Lang ơi hỡi còn gì Văn Lang

Truyền thống mờ mịt nát tan

Còn đâu yên ổn cháu con Lạc Hồng

Truyền thống lệch lạc phai mờ

Tương tàn chém giết hãi hùng biết bao

Hỏi Trời hỡi tại làm sao

Cội Nguồn vứt bỏ biết bao khốn cùng

Nước non chinh chiến kinh hoàng

Tranh giành quyền lực để rồi hại nhau.

Đây nói về Chủ Tướng. Huỳnh Trung Kỳ thống lĩnh bốn vạn quân tiến thẳng đến cửa Nam Quang Hải Châu còn cách hơn mười dặm thời dừng lại. Cho quân trinh sát đi dọ thám.

Không bao lâu thì quân dọ thám trở về báo:

   Bẩm Chủ Tướng, Quang Hải Châu sắp bị tấn công.

Huỳnh Trung Kỳ nhanh chóng điều động quân binh:

   Trương Nhân Tướng Quân nghe lệnh: Có thuộc hạ Tướng Quân tức tốc thống lĩnh một vạn quân nhanh chóng đánh vào cánh tả quân chủ lực loạn tặc phản loạn. Tuân Lệnh.

   Bảo Đồng Tướng Quân nghe lệnh: Có thuộc hạ Tướng Quân tức tốc thống lĩnh một vạn quân nhanh chóng đánh vào cánh hữu quân chủ lực loạn tặc phản loạn. Tuân lệnh.

Huỳnh Trung Kỳ nhanh chóng thống lĩnh hai vạn quân đánh thẳng vào trung đạo cửa Nam quân loạn tặc phản loạn hí thế hừng hực.

Đây nói về Triệu Phàn ra lệnh tấn công Quang Hải Châu cửa thành sắp bị phá vỡ Quang Hải Châu sắp bị hủy diệt.

Triệu Phàn ngửa mặt lên trời cười ha hả:

   Những kẻ chống lại bổn soái thì con gà con chó cũng không còn.

Triệu Phàn nghĩ là mình sẽ chiếm được Quang Hải Châu hơn tiếng nữa. Bất ngờ thấy quân binh trên thành Hải Châu reo hò vang dậy:

   Quân Văn Lang đến rồi, đền rồi.

Quân binh trên thành phản công dữ dội. Triệu Phàn chưa hiểu nép tẻ gì cả thì có một tướng phi ngựa đến báo:

   Bẩm Thượng Quân Nguyên Soái quân Văn Lang đã tấn công cửa Đông cửa Tây rồi quân ta đang chống trả quyết liệt.

Triệu Phàn nghe xong vô cùng kinh hãi. Triệu Phàn nghe chiêng trống nổi dậy vang trời hình như quân Văn Lang bủa vây tứ phía.

Triệu Phàn chưa biết xử trí ra làm sao thời thấy một tướng lĩnh khác phi ngựa tới báo:

   Bẩm Nguyên Soái quân Văn Lang đang tấn công vào cánh hữu cánh tả quân ta như vũ bão.

Triệu Phàn thất kinh hét lớn ra lệnh cho Triệu Quân mau thống lĩnh quân binh chống trả lại quân cánh tả Văn Lang. Triệu Quân nhanh chóng cùng mấy viên tướng phi ngựa đến cánh tả thì thấy quân Văn Lang như nước vỡ bờ ào ào xông tới chém giết ầm ầm.

Triệu Phàn không ngờ quân Văn Lang không những hùng mạnh mà còn kéo đến tấn công nhanh chóng như cơn bão lốc. Liền ra lệnh Triệu Hàn cùng một số tướng lĩnh điều khiển quân binh chống trả lại quân cánh hữu Văn Lang như cơn bão đánh thốc tới.

Triệu Phàn chưa kịp trở tay thì quân Văn Lang từ Trung Đạo chính diện ào ào kéo đến như nước vỡ bờ, gươm đao giáo mác chiêng trống dậy trời dậy đất, cờ xí lớp lớp. Triệu Phàn không còn cách nào hơn là thúc quân giao chiến.

Cùng lúc ấy Triệu Anh phi ngựa tới nói:

   Thưa Cha quân Văn Lang đánh bại quân ta cửa Đông Cửa Tây rồi đang đánh bọc hậu đánh tới rất mạnh. Không những thế quân Hải Châu từ thành tràn ra kết hợp với quân Văn Lang bao vây vây tứ phía đánh tới tấp rất mạnh quân ta chống đở không nổi.

Triệu Phàn kinh hoảng bắn pháo lệnh rút lui chạy về Hạt Linh Giao Châu. Quân Văn Lang rượt đuổi chém giết tơi bời. Bốn cha con Triệu Phàn chạy bán sống bán chết ngã gục la liệt khắp dọc đường.

Triệu Phàn khiếp vía than rằng:

   Thôi hết rồi.

Triệu Phàn vừa than xong thì trên hư không bổng xuất hiện một con quái vật đầu Sấu đuôi Rồng Quái Vật Thuồng Luồng hóa ra một trận cuồng phong đen trời mịt đất che chở cho quân loạn tặc phản loạn. Quân Văn Lang bị trận quái phong đánh bật trở lui vô cùng khiếp đảm. Cũng may lúc ấy trên hư không bổng vang lên tiếng sấm lớn. Con thuồng luồng khiếp sợ biến mất. Quân Văn Lang liền thoát kiếp nạn của trận cuồng phong quái ác khủng khiếp ấy.

Nói về Huỳnh Trung Kỳ, Tô Vũ, Chu An thúc quân rượt đuổi quân phản loạn Trung Nguyên, không ngờ bị cuồng phong chặn đứng.

Thì than rằng:

   Cơ trời không cho ta tiêu diệt quân loạn tặc phản loạn Trung Nguyên.

Thời biết rằng Bách Việt Văn Lang rơi vào cảnh đại họa vì kiếp nạn Yêu Tinh Quỉ Dữ không sao tránh khỏi. Huỳnh Trung Kỳ bằng thu quân trở lại Quang Hải Châu địa đầu Trung Văn Lang tiếp giáp với Bắc Văn Lang. Đóng quân trấn giữ tại đây không cho quân loạn tặc phản loạn Trung Nguyên tiến quân chiếm đánh Trung Văn Lang.

Thơ rằng :

Nước loạn vì đâu phải có căn

Nào phải tự nhiên có chị Hằng

Mất Nguồn lạc Cội sanh nguy biến

Nước non đen tối họa kiếp chen.

Nói về Triệu Phàn bị quân Văn Lang đánh tả tơi thu quân chạy bán sống bán chết. Nếu không nhờ trận cuồng phong đẩy lùi quân Văn Lang thì không biết sẽ thảm họa ra sao thở dài nói:

   Quân Văn Lang quả là lợi hại không dễ gì đánh bại được.

Triệu Phàn điểm quân lại thời đi tiêu hơn hai vạn. Chưa kể cánh Đông, cánh Tây thiệt mạng hơn phân nửa. Các Vua Việt đều bỏ mạng tại sa trường. Chi bằng cố thủ Đông Nam Bắc Văn Lang vững chắc thì hay hơn.

Liền kêu Triệu Quân đến nói:

   Con điểm hai vạn quân đến trấn thủ Lạc Trung Giao Châu. Kết hợp với quân Lạc Việt cũng cố thành trì. Không cho quân Văn Lang tiến ra địa phận Bắc Văn Lang.

Triệu Quân theo lệnh Triệu Phàn nhanh chóng điểm hai vạn quân đến Lạc Trung Giao Châu.

Triệu Phàn gọi Triệu Hàn đến nói:

   Con điểm hai vạn quân nhanh chóng đến Liễu Giang Châu. Kết hợp với quân Liễu Việt cũng cố thành trì vững chắc không cho quân Văn Lang tiến ra Bắc Văn Lang.

Triệu Hàn liền nhanh chóng điểm hai vạn quân đến trấn thủ Liễu Giang Châu.

Triệu Phàn cùng Triệu Anh thống lĩnh bốn vạn đến Hạt Linh Giao Châu, kết hợp với quân Linh Việt cũng cố thành trì ngăn cản quân Văn Lang không cho quân văn Lang tiến ra Bắc Văn Lang.

Nói về các vua Việt tử nạn con lên thay thế trấn thủ Nam Hải Giao Châu, Dạ Loan Châu, Thất Khê Châu, Đình Hải Châu, Cái Hải Châu, Hạ Giang Châu. Quyết phò Cha con Doãn Thường chống trả lại Hùng Vương. Vì cho rằng Hùng Việt Vương Tuân Lang, không làm theo di chí Quốc Tổ chỉ lo cũng cố quyền lực Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị của mình không lo gì đến dân chúng Bách Việt Văn Lang nữa cần loại bỏ thay thế Quốc Vương mới. Và Cha Con Doãn Thường là Thần tượng để cho dân chúng tôn thờ.

Phần đông dân chúng Bách Việt Bắc Văn Lang vì nghe theo lời lừa phỉnh của Cha Con Doãn Thường cho rằng Thời Đại Hùng Vương đã mạc phải thay thế thời đại mới. Dân chúng Bắc văn Lang nghĩ Cha Con Doãn Thường là hiện thân của Minh Quân không khác gì Quốc Tổ thời dựng nước Văn Lang. Nhưng dân chúng Bắc Văn Lang nào có hiểu. Một sự âm mưu lớn của Dòng Họ Vũ đã trải qua nhiều đời. Kể từ khi Vua Vũ từ phương Bắc thời Vua Kiệt di cư đến đất Bắc Văn Lang. Mưu đồ làm Vương nước Văn Lang.

Đây nói về Đồng Bào dân chúng Bách Việt Văn Lang vô cùng khốn khổ bởi chiến tranh chia cắt Bắc Nam dân chúng qua lại không được. Có những người Mẹ nhớ con ở Bắc. Người Ông người Cha nhớ con ở Nam ngày đêm ràng rụa nước mắt.

Trong số người nhớ con ấy có một vị kỳ nhân tài trí vô cùng tên là Văn Bát không theo quân loạn tặc phản loạn, cũng không ra giúp cho Vua Hùng vì chán ngán thế sự anh em Bách Việt Đồng Bào tương tàn lẫn nhau.

Sau có thơ rằng :

Nghĩ đời mà ngán cho đời

Từ đây Nam – Bắc tương tàn giết nhau

Nghĩ đời càng nghĩ càng đau

Văn Lang đất Bắc còn đâu một nhà

Biến thành Trung Thổ mất rồi

Tranh Giành chém giết dân tình đảo điên

Rồng Tiên ơi hỡi Rồng Tiên

Lạc Nguồn Lạc Cội đảo điên cơ đồ

Đồng bào chung một Cội Nguồn

Quên đi Nguồn Cội tranh giành hại nhau

Thánh Thần trông thấy đớn đau

Thắng thua, thua thắng nhục vinh cuộc hề

Chia bè nổi loạn ê chề

Lạc vào Ác Đạo linh hồn còn chi

Muôn đời vạn kiếp vùi chôn

Khắp nơi Địa Phủ dập dồn nạn tai

Ác gieo Ác gặt chuyển xây

Khổ chồng lên khổ biết bao khốn cùng

Quên Nguồn quên Cội lạc đường

Nước non, non nước ngập tràn binh đao.

Ở vào thời Quốc Tổ Hùng Vương dựng nước không có sự Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị. Mà tất cả đều sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Dân Tộc. Sự hiện thân của Nhà nước chính là sự hiện thân Công Lý. Thực thi Công Lý đem lại sự Công Bằng, Bình Đẳng, Văn Minh của Xã Hội. Từ bỏ Độc quyền, Độc Tài, Độc Trị. Đó là cái phúc cho toàn Dân Tộc, tránh đi bao tai họa lặp đi lặp lại tranh danh đoạt lợi binh đao máu lửa. Xây dựng lên Nhà Nước Pháp Quyền. Nhà Nước của Dân do Dân và vì Dân. Như từ buổi khai dựng lập lên nước Văn Lang. Hai chữ Đồng Bào thiêng liêng. Bách Việt Văn Lang sống trong Công Bằng, Bình Đẳng. Không có Sự Độc Quyền, Độc Tài, Độc Trị. Mà sống theo Nhân quyền Dân Chủ Văn Minh. Nhà Nước thật sự của Dân do Dân và vì Dân. Là Nhà nước Pháp Quyền. Tất cả đều sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp. Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp nền Quốc Đạo dân tộc. Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Luật Vũ Trụ, Thiên Ý Cha Trời chính là Kim Chỉ Nam cho sự phát triển xã hội, tiến tới dân giàu nước mạnh Nhân Quyền, Dân Chủ, Công Bằng, Bình Đẳng Văn Minh.

**************

PHẦN 12

Đây nói về Văn Khánh Thống Soái. Theo lệnh Hùng Việt Vương, Tuân Lang. Thống Lĩnh 30 vạn quân tiến về Bắc Văn Lang tiêu diệt quân phản tặc phản loạn Cha Con Doãn Thường dấy loạn chiếm Bắc Văn Lang biến thành thuộc địa Trung Nguyên. Đại quân đi đến Vân Giao Châu  thời chia ra làm ba đạo quân chủ lực.

Đạo quân cánh tả do Chủ Tướng Lê Quang chỉ huy, thống lĩnh 8 vạn quân tiến thẳng đến Âu Tây Châu.

Đạo quân cánh hửu do Chủ Tướng Huỳnh Trung Kỳ chỉ huy thống lĩnh 8 vạn quân  tiến thẳng đến Quang Hải Châu.

Còn đạo quân chủ lực Văn Khánh thống soái thống lĩnh 14 vạn quân trực tiếp chỉ huy tiến tới Tiên Châu, Bạch Lang Châu quyết tiêu diệt cho được quân loạn tặc phản loạn. Khi đại quân chỉ còn cách Tiên Châu hơn 10 dặm thì thống soái Văn Khánh cho đại quân dừng nghỉ. Thống soái ra lệnh cho đội quân thám báo xem xét tình hình Tiên Châu và Bạch Lang Châu rồi mới tiến quân.

Đội quân thám báo đi không bao lâu thời trở về báo:

   Bẩm thống soái Bạch Lang Châu đã bị quân phản loạn Trung Nguyên chiếm mất rồi. Còn Tiên Châu thì quân phản loạn Trung Nguyên đang bao vây trùng trùng lớp lớp có lẽ chuẩn bị tấn công đến nơi.

Văn Khánh nghe xong liền điều động quân chủ lực chia làm hai đạo quân. Một đạo quân tiến đánh lấy lại thành Bạch Lang Châu. Một đạo quân tiến đánh quân phản tặc loạn đảng Tiên Châu.

   Chủ tướng Võ Hầu nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân thống lĩnh 7 vạn quân tới Bạch Lang Châu ngay trong đêm tối nay nhân lúc quân phản loạn mới chiếm được thành còn hỗn loạn chưa ổn định. Bất ngờ tiến quân vào thành quét sạch tiêu diệt quân loạn tặc phản loạn. Tuân Lệnh.

   Lương Minh nghe lệnh. Có thuộc Hạ. Tướng quân thống lĩnh 2 vạn quân nhanh chóng bọc lên phía Tây thành Tiên Châu đánh xuống sau lưng quân loạn tặc phản loạn. Tuân Lệnh.

   Lưu Hà nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân thống lĩnh 2 vạn quân bọc từ phía Đông thành Tiên Châu  đánh bọc lên sau lưng địch. Tuân Lệnh.

Còn thống soái Văn Khánh thì thống lĩnh 3 vạn quân nhanh chóng bất ngờ đánh thẳng vào sau lưng địch vào cửa chánh Nam Tiên Châu.

Đây nói về quân phản loạn tặc phản loạn. Quan Đại Phu Chủng Hầu. Cùng Quan Trung Lang Giá Chữ thống lĩnh 5 vạn quân đánh chiếm Bạch Lang Châu. Chủng Hầu, Giá Chữ dùng loa kêu gọi Cha con Thạch Trung Sơn đầu hàng.

Chủng Hầu lớn lối kêu gọi rằng:

   Quân Bạch Lang Châu cùng Quan Tri Phủ nghe đây. Niên Đại Hùng Vương sắp hết. Niên Đại Việt Vương Tế Gia ra đời. Thần linh ứng cơ dạy như thế. Các quẻ ứng nghiệm không sai mau thức thời bỏ thời đại Hùng Vương mà theo thời đại Việt Vương Tế Gia. Thì cái đầu trên cổ vẩn còn. Không chừng còn được làm quan trở lại. Còn bằng trái lại cơ trời thời không ai còn sống sót.

Ở trên thành Thạch Trung Sơn thấy quân loạn tặc phản loạn phát loa kêu gọi quân Bạch Lang Châu đầu hàng với lời lẽ vô đạo đức như vậy cũng như lợi dụng vào Thần Linh Ứng Quẻ hết sức lợi hại những người nhẹ dạ cả tin sẽ ngã lòng theo.

Thạch Trung Sơn bằng phát loa nói rằng:

   Lời kêu gọi bọn loạn tặc phản loạn các ngươi chỉ là lời Ma lời Quỉ nói những lời bất Trung bất Nghĩa. Phản dân hại nước. Các ngươi sẽ bị quả báo cho những sự sai lầm phản phúc theo loạn tặc Phản Loạn Cha Con Doãn Thường. Các ngươi sẽ bị trời tru đất diệt.

Chủng Hầu, Giá Chữ chỉ Thạch Trung Sơn quát:

   Thằng Thạch Trung Sơn ngu si kia. Không biết thức thời là gì cả. Việt Vương Tế Gia là đấng con trời sanh xuống. Nay mai sẽ làm chủ nước Văn Lang. Xóa bỏ Độc Tài, Độc Trị, xóa bỏ bè lũ tham quan hại dân hại nước. Dân chúng sẽ được tự do an hưởng thái bình.

Thạch Trung sơn quát lớn:

   Hai thằng Chủng Hầu, Giá Chữ ngu dốt kia ngươi là con cháu Tiên Rồng. Con Dân Văn Lang theo loạn tặc. Phản bội lại truyền thống anh linh Dân Tộc. Phản bội lại Vua Hùng thì coi như hết đời rồi mau quay đầu lại là bờ bến bằng không, không còn cái đầu để mà thấy vợ con.

Chủng Hầu, Giá Chữ nghe Thạch Trung Sơn nói thế cười ha hả nói:

   Ta không cần biết là ai đúng ai sai ai Tà ai Chính Chỉ cần thắng là vua thua là giặc. Bắc Văn Lang nay thuộc về Việt Vương Tế Gia. Không còn của Hùng Vương nữa Bắc Văn Lang trở thành đất Việt Trung Nguyên, không còn là đất Văn Lang, nói cho đúng là nhà nước Văn Lang sẽ xóa sổ thay vào đó là nhà nước Việt Trung Nguyên ra đời.

Thạch Trung Sơn nghe Chủng Hầu, Giá Chữ nó thế thì vô cùng tức giận hét lớn:

   Bọn phản loạn mất hết lương tâm lương tri kia ta không thể nói bằng lý lẽ với các ngươi được nữa chỉ nói bằng gươm, đao, giáo, mác mà thôi. Trung Sơn Ta nhất quyết không đầu hàng sẵn sàng quyết tử với quân phản loạn tặc phản loạn các ngươi.

Liền ra lệnh cho quân binh ráng ra sức cố thủ cung thành chờ quân Văn Lang đến cùng. Không ngờ tối hôm ấy vào lúc nửa đêm bổng nghe quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên tràn vô thành như nước vỡ bờ. Các cửa thành đã mở toan quân binh trong thành không chống cự lại nổi thi nhau ngã gục có số đầu hàng.

Khi ấy trong thành có năm vị Bố Chánh Đại Nhân Tri Huyện trong đó có Bố Chánh Tri Huyện Bảo Trung chạy tới chỗ Cha Con Tri Phủ Thạch Trung Sơn nói:

   Cha Con Hồ Phỉ, Hồ Lũ, Hồ Bão phản rồi.

Thấy tình thế vô cùng nguy cập mau trốn đi. Tri Phủ Thạch Trung Sơn không kịp di chuyển vợ con. Bằng theo đường hầm bí mật thoát ra khỏi thành Bạch Lang Châu nương theo đồi gò trốn vào rừng. May sao gặp được quân Văn Lang như đã nói trên.

Chủng Hầu, Giá Chữ chiếm được thành đang thúc quân ráo riết tìm Cha Con Thạch Trung Sơn. Hồ Phỉ bắt cả gia quyến của Thạch Trung Sơn đến giao nạp cho Chủng Hầu, Giá Chử.

Chủng Hầu, Giá Chữ nhìn thấy hai người con gái xinh đẹp hỏi:

   Hai người con gái nầy là ai?

Hồ Phỉ nghe hỏi cuối đầu khôm lưng nói:

   Bẩm nhị vị Quan Đại Phu. Hai người con gái nầy chính là hai con dâu của Thạch Trung Sơn.

Giả Chữ, Chủng Hầu vốn là tay háo sắc, thấy thứ Nữ Chân Kiều da trắng như tuyết, lưng eo, ngực lớn, mông nở. Thời có vẻ thèm khát vô cùng khen Hồ Phỉ không hết lời.

Giá Chữ, Chủng Hầu ra lệnh giam tất cả bọn chúng lại. Nhất là hai cô nầy cho ăn uống tử tế tắm rửa sạch sẽ để nhị quan gia thưởng thức.

Mặt trời buông xuống nhưng tiếng quân binh loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên vẩn sùng lục khắp nơi. Tìm những tên quân binh đang trốn trong kẹt cửa xó nhà lôi ra chém giết. Đàn bà con gái trong thành bị quân binh hãm hiếp thê thảm vô cùng. Chúng thi nhau vơ vét châu báu cướp của giết người. Những ai đầu hàng theo quân loạn tặc phản loạn thời chúng tha. Còn tất cả thì bị giết sạch.

Giá Chữ, Chủng Hầu đang hãm hiếp Thứ Nữ, Chân Kiều vô cùng thích thú.

Thơ rằng :

Con người đó cũng con người đó

Lạc Cội Nguồn đã hóa Yêu Tinh

Hung tàn bạo ác vô biên

Mất đi nhân tính trở nên hung tàn

Lạc Cội Nguồn linh hồn hóa quỉ

Mất lương tâm chẳng nghĩ Ông Cha

Cuồng dâm phản loạn ác tà

Hung sùng ác sát kể gì anh em

Đời ăn cướp còn chi chính nghĩa

Phản non sông hí hửng xưng danh

Mặt dày đến hết chỗ chê

Làm quân loạn tặc cũng khoe anh hùng

Luật nhân quả khó mòng chạy thoát

Ác gieo ra quả báo đến nơi

Chạy đâu thoát khỏi cơ trời

Xương tan thịt nát để rồi mà xem.

Đây nói về Chủ Tướng Võ Hầu. Thống lĩnh 7 vạn quân kéo đến Bạch Lang Châu, chỉ còn 8 dặm nữa thời tới Bạch Lang Châu Võ hầu liền cho quân dừng lại im hơi lặng tiếng ra lệnh cho đội quân thám báo đến Bạch Lang Châu dọ thám xem xét kỷ tình hình. Chờ cho trời tối mới tiến quân tấn công quân phản loạn đang chiếm lấy Bạch Lang Châu.

Nói về quân thám báo chia nhau nhiều hướng lặng lẽ âm thầm phi thân trong màn đêm đến Bạch Lang Châu. Đội Trưởng thám báo là Vũ Tùng đang phi thân vùn vụt nương theo những lùm cây thì phát hiện có người ẩn núp. Vũ Tùng ra lệnh cho quân thám báo nhanh chóng bao vây tóm cổ chúng, đội quân thám báo là những người không những võ nghệ cao cường mà thuật kinh công cũng siêu đẳng, tuy trời đã xẩm tối nhưng những người thám báo hành động lợi hại vô cùng họ tóm được ngay ba người ẩn núp trong bụi rậm trên đồi gò cao.

Vũ Tùng hỏi gì ba người ấy cũng không nói liền cho người trói lại dẫn đến gặp Chủ Tướng Võ Hầu. Chủ Tướng Võ Hầu nhìn ba người tuy ăn mặt theo kiểu nông dân nhưng không che được vẻ oai phong của bậc công hầu khanh tước liền sinh nghi hỏi:

   Ba ngươi làm gì lén lút ẩn núp trong bụi rậm.

Ba người nghe Võ Hầu hỏi vẫn làm thinh không nói. Vũ Tùng thấy vậy nổi nóng nói:

   Có lẽ chúng là ba tên quân dọ thám của quân loạn tặc phản loạn dùng tra tấn cực hình may ra chúng mới chịu khai.

Ba người bị bắt nghe Vũ Tùng nói họ là quân loạn tặc phản loạn thì hai con mắt sáng lên chăm chăm nhìn Võ Hầu. Võ Hầu linh cảm ba người nầy không phải là quân dọ thám loạn tặc liền nhỏ dọng lễ phép hỏi:

   Ba vị là ai? Vì sao lại lẫn trốn trong bụi rậm?

Người lớn tuổi nghe Võ Hầu hỏi lần nầy không làm thinh nữa mà hỏi lại:

   Các Ngài là quân binh ở nơi nào?

Võ Hầu nghe người lớn tuổi hỏi liền nói:

   Bổn chủ tướng cho các ngươi biết cũng không sao. Ta chính là Chủ Tướng của quân Văn Lang.

Ba người nghe xong liền quỳ lạy nói:

   Chúng tôi là Tri Phủ trấn giữ Bạch Lang Châu.

Võ Hầu quá bất ngờ hỏi trong ba vị:

   Ai là Tri Phủ đại nhân Thạch Trung Sơn?

Người lớn tuổi nói:

   Tôi chính là Thạch Trung Sơn.

Võ Hầu nghe xong liền đứng dậy bước tới mở trói cho ba người chấp tay xin lỗi mời ba người ngồi.

Thạch Trung Sơn giới thiệu người áo đen nói:

   Người nầy chính là Quan Tri Huyện Bảo Trung còn người nầy chính là con trai của tôi Thạch Kế.

Võ Hầu nghe xong lấy làm mừng, liền hỏi:

   Tình hình quân loạn tặc phản loạn mạnh yếu ra sao?

Tri Phủ Thạch Trung Sơn nói:

   Tình hình Bạch Lang Châu vô cùng hổn loạn. Quân loạn tặc phản loạn đang sùng lục tri sát chém giết khắp nơi.

Võ Hầu hỏi:

   Quân loạn tặc phản loạn hiện đang ở trong thành bao nhiêu?

Quan Tri Huyện Bảo Trung nghe Võ Hầu hỏi liền trả lời thay cho Quan Tri Phủ Thạch Trung Sơn:

   Bẩm chủ tướng quân loạn tặc ở trong thành phỏng chừng ba vạn, còn hơn hai vạn chúng đang bao vây kiểm soát các cổng thành ra vào, cũng như sự truy sát khắp nơi của chúng. Mỗi cổng thành quân loạn tặc canh giữ ước lượng hơn 5 nghìn quân.

Thạch Trung Sơn nói xen vào:

   Tôi còn hai người con đang lẫn trốn trong rừng chủ tướng cho phép tôi đi tìm chúng nó.

Võ Hầu nói:

   Tri Phủ đại nhân cứ tự nhiên hành động.

Thạch Trung Sơn đi tìm không bao lâu thời gặp được hai con, người con lớn tên là Thạch Công, người con út tên là Thạch Thừa, người nào người nấy anh dũng vô song. Võ Hầu nhìn thấy không khỏi khen thầm.

Võ Hầu giờ đây đã nắm rõ tình hình quân phản loạn liền lên kế sách tấn công lấy lại thành Bạch Lang Châu ngay trong đêm nay:

   Trương Hoài nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân thống lĩnh 2 vạn quân cùng Thạch Công, Thạch Thừa, nhanh chóng bất ngờ tấn công vào cửa Tây hạ gục hơn năm nghìn quân phản loạn, thần tốc tiến vào thành quét sạch quân phản loạn ngay trong đêm nay. Tuân Lệnh.

   Nguyên Tôn Chí nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân thống lĩnh 2 vạn quân cùng với Tri Huyện Đại Nhân Bảo Trung, Tri Phủ Đại Nhân Thạch Trung Sơn nhanh chóng bất ngờ đánh vào cửa Đông xóa sổ hơn năm nghìn quân phản loạn thần tốc tiến vào thành hốt trọn ổ không cho một tên loạn tặc phản loạn chạy thoát. Tuân Lệnh.

Còn Võ Hầu thống lĩnh 3 vạn quân bất ngờ thần tốc đánh vào cửa chính Nam Bạch Lang Châu.

Đây nói về Trương Hoài thống lĩnh 2 vạn quân cùng Thạch Công, Thạch Thừa. Nhanh chóng bí mật di chuyển quân binh trong đêm. Dưới ánh trăng lờ mờ ảm đạm quân Văn Lang đã tiến sát sau lưng quân loạn tặc phản loạn chỉ hơn nữa dặm mà chúng không hay biết gì hết. Năm nghìn quân phản loạn đang bao vây cửa phía tây thành Lang Châu chỉ chăm chăm đến dân chúng, bắc dân chúng những người chúng cho là quân binh Bạch Lang Châu giả dạng dân trốn thoát.

Cùng lúc ấy cánh quân phía Đông Nguyên Tôn Chí cùng Tri Phủ Thạch Trung Sơn, Tri Huyện Bảo Trung Thạch kế cũng đã áp sát quân giặc, chờ lệnh tấn công mà thôi. Cùng lúc ấy Võ Hầu cũng đã thống lĩnh 3 vạn quân áp sát quân loạn tặc phản loạn. Quân loạn tặc tuy có cảnh giác đề phòng nhưng cũng không phát hiện Quân Văn Lang áp sát chỉ chờ lệnh là tấn công tiêu diệt quân loạn tặc phản loạn.

Võ Hầu vừa nghe cánh Tây quân Văn Lang động chuyện tức thời ra lệnh tấn công. Quân Văn Lang bất ngờ ập tới tiêu diệt quân loạn tặc phản loạn như bão lũ xơi vài miếng năm nghìn quân phản loạn chết sạch không còn một tên.

Cùng lúc Nguyên Tôn Chí ở cánh Đông nghe quân Văn Lang ở cánh Nam động chuyển liền ra lệnh tấn công. Hơn năm nghìn quân phản loạn Trung Nguyên chẳng kịp trở tay bị quân Văn Lang xơi một phát chết sạch thây phơi như rạ. Cánh quân Văn Lang phía tây ra tay trước khi thấy quân loạn tặc phản loạn chỉ lo ăn uống trâu, bò, dê, heo. Cũng hãm hiếp đàn bà con gái. Chúng đang hưởng lạc thì bổng nghe như một trận đại hồng thủy ập tới chém xối xả vào chúng. Quân loạn tặc phản loạn chưa kịp trở tay thời bị một đao đầu lìa khỏi cổ. Hai vạn quân Văn Lang ập tới chỉ cần đốt một phát là năm nghìn quân binh loạn tặc phản loạn chưa kịp kêu la thì hồn du địa phủ. Ba cánh quân Văn Lang đồng loạt tràn vào thành như cuồng phong vũ bão. Quân loạn tặc phản loạn trong thành không chút đề phòng vừa hãm hiếp phụ nữ, vừa quay heo, nướng gà, nấu bò, mổ trâu. Bổng thấy quân Văn Lang như từ dưới đất chui lên, từ trên trời nhảy xuống chém bọn chúng như chém chuối chết không kịp ngáp, bay đầu thủng ruột không kịp trở tay.

**************

PHẦN 13

Đây nói về Giá Chữ, Chủng Hầu là hai tay háo sắc thấy thấy Thứ Nữ, Chân Kiều. Tướng người mảnh mai xinh đẹp da trắng như tuyết, mông nở, ngực đầy, thì lao tới mà mân mà mê, mà ve mà vuốt Thứ Nữ, Chân Kiều càng kháng cự càng thì hai tên háo sắc lại càng thích thú. Hai tay đại gian đại ác như hai con mèo vờn chột, chúng vờn cho đã rồi mới xơi.

Hai tên quỉ dữ đang hì hục hãm hiếp Chân Kiều, Thứ Nữ bổng nghe quân reo dậy đất chiêng trống dậy trời. Gươm Đao giáo mác ầm ầm thì kinh hãi hỏi:

   Chuyện gì thế? Chuyện gì thế?

Nhưng nào có ai trả lời chỉ nghe gươm đao giáo mác dậy trời. Chủng Hầu phóng xuống giường từ trong nhà chạy ra mặt mày hớt hãi vừa mặc quần vừa chạy vừa nói không ra lời: Chuyện gì thế? Chuyện gì thế?

Chủng Hầu chưa hết khiếp sợ thời quân binh đã ập tới. Một vị tướng xuất hiện chặn đầu Chũng Hầu cho quân binh bắt lại. Vị Tướng xông vào trong nhà thấy Thứ Nữ trần truồng nằm trên giường thời hiểu rõ tất cả.

Thứ nữ vừa nhìn thấy vị Tướng quân mới đến thì khóc ròng nói:

   Hắn hãm hiếp thiếp rồi.

Thạch Công hỏi:

   Hắn là ai?

Thứ nữ khóc lóc nói:

   Hắn là Chủng Hầu.

Thạch công hỏi:

   Thằng khốn từ trong nhà mới chạy ra đó sao?

Thứ Nữ nói:

   Chính hắn.

Thạch Công nói:

   Đưa thằng khốn ấy vào đây.

Chủng Hầu lúc nầy mặt không còn chút máu. Thứ Nữ lúc nầy đã mặt lại áo quần cầm con dao tới nói:

   Ta xẻo thịt mầy.

Thế là Thứ Nữ xẻo hết miếng thịt nầy đến miếng thịt khác, cắt mũi, cắt tai, móc mắt. Chủng Hầu đau đớn không chịu nổi.  Hành hạ đã đời Thứ Nữ liền đâm cho mấy nhát Chủng Hầu hồn du địa phủ. Thứ Nữ liền tự sát chết luôn. Thạch Công đau đớn vô cùng bằm Chủng Hầu ra trăm mảnh.

Đây nói về Giá Chữ đang hãm hiếp Chân Kiều nghe quân binh ập tới gươm giáo dậy trời thì kinh hải: Chuyện gì thế? Chuyện gì thế?

Còn đang trần truồng thì một người xông vào chém một nhát đứt lìa cánh tay, người ấy chém một nhát nữa rụng luôn một cánh tay nữa, người ấy xếnh cho một đá ngã nhào xuống đất.

Chân Kiều nhìn thấy người đến cứu mình chính là Thạch Thừa. Liền khóc lớn:

   Hắn làm hại thiếp rồi.

Thạch Thừa uất khí xông lên hỏi:

   Hắn Là Ai?

Chân Kiều nói:

   Hắn là Giá Chữ.

Thạch Thừa nói:

   Thì ra là thằng khốn nầy.

Định băm ra thành từng mảnh. Chân Kiều bận xong áo quần nói:

   Để thiếp xử lý cho.

Chân Kiều rút kiếm của Giá Chữ tới móc mắt mổ ruột moi gan đã đời rồi tự sát luôn. Thạch Thừa đau đớn vô cùng lấy kiếm băm Giá Chữ ra làm trăm mảnh.

Nói về quân Văn Lang mau chóng lấy lại thành Bạch Lang Châu tiêu diệt quân phản loạn hầu như chết sạch. Chỉ còn một số ít người giả làm quân binh Lang Châu trốn chạy. Trong số người trốn chạy ra Bắc có Cha Con Hồ Phỉ, Hồ Lũ, Hồ Bão. Chạy đến huyện Lang Chi thì trời sắp mưa.

Ba Cha Con Hồ Phỉ liền chạy đến gốc cây cổ thụ to lớn tránh mưa. Nghĩ là đã thoát nạn nhìn lên trời cười ha hả nói:

   Nghe nói Quốc Tổ Vua Hùng linh thiên lắm. Thật ra chỉ là lời đồn đại phao tin. Cha Con ta phản bội lại Quốc Tổ hại con cháu Văn Lang chết như rạ nhưng nào có ai làm gì được Cha Con Ta đâu.

Cùng lúc ấy trên không trung sấm chớp nổi lên ầm ầm một tia sấm chớp khủng khiếp đánh xuống chỗ cây cổ thụ tiếng nổ vang dội. Ba Cha Con Hồ Phỉ bị tia sấm chớp đánh trúng cháy đen cháy thui hồn phách tan biến khó tụ lại được vì Linh Căn Huệ Mạng đã bị hủy diệt hàng trăm triệu năm cũng chưa khôi phục căn thân huệ mạng linh hồn luân hồi mãi trong côn trùng thảo mộc.

Về sau có câu thơ rằng :

Trên đầu luôn có Thần Linh

Nghe lời hổn láo ngạo kinh Vua Hùng

Thần Linh nổi giận đùng đùng

Nổi cơn sấm sét giết loài yêu tinh

Cha Con Hồ Phỉ cháy đen

Phách hồn tan biến khó mong hoàn hồn

Sử Kinh chép lại để đời

Những ai phản lại giống nòi dè răng.

Đây nói về Lương Minh, cùng hai phó tướng là Ba Ra và Hê Na theo lệnh Văn Khánh thống lĩnh 2 vạn quân nhanh chóng bọc lên phía Tây thành Tiên Châu đánh bọc xuống sau lưng quân phản loạn, trong lúc cánh Tây quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên đang tập trung lực lượng tấn công thành Tiên Châu nên không hay biết gì cả. Chỉ lo loan tin là thành Bạch Lang Châu đã chiếm lấy được rồi. Cùng lúc ấy đạo quân của Lưu Hà cùng hai phó tướng là Hơ Tu và Ê Ran, thống lĩnh 2 vạn quân từ cánh Đông bọc lên cũng đã áp sát sau lưng quân giặc. Nhưng quân giặc cũng không hề hay biết gì cả. Cùng lúc ấy thống soái Văn Khánh thống lĩnh 3 vạn quân áp sát quân giặc từ phía sau lưng cửa chánh Nam Phải nói Quân Văn Lang dưới sự chỉ huy của Văn Khánh di chuyển quân binh thần tốc. Cũng như áp sát quân loạn tặc phản loạn, nhưng quân loạn tặc phản loạn không hay biết gì cả.

Đây nói về Phạm Đổ Chinh Tân Quân Nguyên Soái thống lĩnh hơn 6 vạn quân tiến đánh thành Tiên Châu. Thành Tiên Châu khó đánh hơn thành Bạch Lang Châu nên quân phản loạn Trung Nguyên chưa có cách gì chiếm được. Chúng ngày đêm kêu gọi Cha Con Tri Phủ Anh Kỳ đầu hàng. Tri Phủ Anh Kỳ có bốn người con hai trai, hai gái đều là anh hùng hảo hán. Hai người con trai mạnh như voi nhanh như hổ, võ nghệ cao cường con trai lớn là Anh Võ, con trai nhỏ là Anh Quyền. Hai người con gái võ nghệ cũng cao cường. Một người là Xuân Cẩm. Một người là Kim Thu.

Bốn cha con Anh Kỳ nghe quân phản loạn ngày đêm kêu gọi đầu hàng thời sôi gan quát lớn:

   Quân phản loạn theo Cha con Doãn Thường kia. Chúng bây không còn là con người nữa mà là một lũ ác quỉ nổi lòng tham cướp lấy Bắc Văn Lang. Các ngươi sẽ bị băm nát ra tương, ở đó mà lớn lối kêu gọi đầu hàng.

Phạm Đổ Chinh biết Cha Con Anh Kỳ thà chết không chịu đầu hàng. Liền hợp các tướng lĩnh lại nói chuẩn bị quân binh tối nay đến giờ Dậu tấn công Tiên Châu. Quân Tiên Châu không đầy một vạn nhưng tinh thần chiến đấu hừng hực dâng cao không hề khiếp sợ quân loạn tặc phản loạn tấn công.

Cha Con Kỳ Anh chuẩn bị dầu sôi lửa bỏng. Cung tên đá lớn đánh trả lại quân công thành. Phạm Đổ Chinh là tay cáo già thông thạo nhiều loại binh pháp. Nên Phạm Đổ Chinh tấn công thành bằng hỏa Công theo hướng có lợi chiều gió. Tạo ra những cung lớn bắn dầu bắn lửa lên thành đốt cháy tả tơi rồi mới cho quân binh bắt thang leo tường tấn công với sự yểm trợ của đội quân xạ tiễn. Quân Văn Lang ẩn mình trong đêm không xa chờ cho quân phản loạn tấn công thành Tiên Châu là từ phía sau đánh bọc tới.

Giờ Dậu đã đến còi hụ nổi lên, cũng như pháo lệnh tấn công quân loạn tặc phản loạn đã bắn lên trời tức thời quân phản loạn Trung Nguyên hò reo dậy đất. Dưới ánh trăng lờ mờ lửa bắn lên thành đỏ rực lửa gặp gió bốc cháy ngùn ngụt. Lửa cháy lan trên thành nhanh chóng. Những chảo dầu trên thành đang nóng để chống trả lại quân phản loạn leo tường không ngờ bị lửa phủ cháy phản ngược trở lại đốt cháy quân Tiên Châu.

Trên thành quân binh hổn loạn. Lửa cháy đỏ trời Phạm Đổ Chinh ra lệnh tấn công tức thời quân binh loạn tặc phản loạn ào ào xông tới bắc thang leo lên thành đen nghịt. Có đội quân yểm trợ bắn tên lên thành như mưa. Thành Tiên Châu đang trong lúc nguy kịch. Thì bổng thấy quân phản loạn kinh hãi rối loạn vì quân văn Lang từ sau lưng đánh thốc tới như vũ bão chiêng trống ầm ầm quân reo dậy đất.

Phạm Đổ Chinh kinh khiếp:

   Chuyện gì thế? Chuyện gì thế?

Một vị tướng phi ngựa chạy tới kinh hãi nói lớn:

   Bẩm Nguyên Sói quân Văn Lang bao vây trùng trùng lớp lớp từ sau đánh bọc tới như nước vỡ bờ thế mạnh đời non lấp biển.

Phạm Đổ Chinh xây xẩm mặt mày chưa kịp đối phó làm sao. Thì có một tướng khác phi ngựa tới báo:

   Bẩm nguyên soái mau cho quân phá vòng vây trốn chạy.

Phạm Đổ Chinh liền ra lệnh mau phá vòng vây chạy về Huyện Đức Nam, Bộ Hợp Phố, Đức Châu. Quân Bắc Việt Trung Nguyên thi nhau bỏ chạy dẫm đạp lên nhau thê thảm vô cùng.

Khi ấy trên hư không có vị Đại Tiên trên đường chu du qua Đông Hải nhìn thấy cảnh ấy thở dài ngâm bài thơ rằng:

Thê thảm nào hơn thảm cảnh nầy

Thăng trầm họa phúc mãi chuyển xây

Hết thịnh tới suy âu là thế

Văn Lang kiếp nạn Quỉ chuyển xây

Huyền cơ Tạo Hóa nào tránh thoát

Nội chiến dậy trời giáo gươm bay

Ba nghìn năm nữa tai kiếp hết

Văn Lang Bách Việt sải cánh bay.

Nói về Anh Kỳ trên thành Tiên Châu thấy Quân Văn Lang đánh bọc sau lưng quân loạn tặc phản loạn đánh tới liền cho bắn pháo lệnh ám hiệu lên không cho biết thành Tiên Châu chưa mất làm tăng thêm khí thế chiến đấu quân binh.

Lương Minh cho người bắn pháo lệnh đáp trả lại. Anh Kỳ biết chắc là quân Văn Lang đang tấn công quân phản loạn bằng thống lĩnh quân binh mở cửa thành xông ra chém giết quân phản loạn chém thôi là chém quân phản loạn chết lớp lớp người ngựa đạp lên nhau bỏ chạy chết thôi là chết. Quân Văn Lang từ bốn phía đánh thốc tới gươm đao giáo mác dậy trời.

Phạm Đổ Chinh xua quân phá vòng vây chạy về Huyện Đức Nam, giáp ranh với Huyện Lộc Điền, Hợp Phố Đức Châu. Quân Văn Lang rượt đuổi hơn 20 dặm gần đến Bàu Sen núi Bà phía Nam Huyện Lộc Điền. Thời trời bổng nổi lên một cơn mưa khủng khiếp mưa xuống như trút mấy giờ liền. Nước tràn ngập đồng ngập sá quân Văn Lang đành phải rút trở về Tiên Châu.

Văn Khánh nhìn lên trời thở dài nói:

   Không lẽ đây cũng là ý trời kiếp nạn Văn Lang phải mất Bắc Văn Lang.

Văn Khánh rút quân về Tiên Châu trong lòng luôn lo nghĩ là khó mà chiếm lấy lại Bắc Văn Lang. Vì huyền cơ kiếp nạn Văn Lang như vậy. Con người không thể làm gì khác hơn là tận lực tri thiên mệnh mà thôi. Chiếm lấy lại Bắc Văn Lang được hay không còn phải chờ huyền cơ Tạo Hóa Cơ Trời.

Nói về Phạm Đổ Chinh nhờ trận mưa mà quân Văn Lang không truy đổi nữa. Cho người điểm lại quân binh thời chỉ còn hơn ba vạn thì thở dài xây xẩm mặt mày hơn 10 vạn quân giờ đây chỉ còn hơn ba vạn. Liền viết thư cho người về Kinh Đô Việt Trung Nguyên tức là Kinh Đô Xích Quỷ Bắc Văn Lang xin thêm quân trấn giữa Lộc Điền, Diêm Hồ Châu, Ninh Giao Châu. Không cho quân Văn Lang tiến ra Bắc.

Văn Khánh tuy thắng trận nhưng không thể tiến sâu ra Bắc Văn Lang được. Vì Bắc Văn quân phản loạn đã cũng cố các thành trì vững chắc. Lại thêm quân lực hùng mạnh trong hai cánh Quân Tây – Đông. Lê Quang, Huỳnh Trung Kỳ cũng chỉ giải tỏa sự bao vây của quân phản loạn ở Quang Hải Châu và Âu Tây Châu mà thôi. Có Lẽ ý trời Bắc Văn Lang rơi vào tay giặc. Chỉ còn cách trấn thủ địa đầu Trung Văn Lang, không cho quân phản loạn Trung Nguyên xâm chiếm Trung Văn Lang mà thôi. Bằng cho quân binh cũng cố lại thành Bạch Lang Châu, cũng cố lại thành Tiên Châu. Không cho quân phản Bắc Văn Lang tiến vào. Cũng từ đây Nam Bắc Phân Tranh quân Văn Lang. Quân Việt Trung Nguyên giao tranh khốc liệt. Quân Văn Lang tiến ra Bắc cũng không nổi. Quân Trung Nguyên tiến vào cũng không được. Kéo dài hơn bảy mươi năm.

**************

PHẦN 14

Đây nói về Việt Vương tế Gia, thì còn điều khiển hơn trăm thương đoàn, buôn bán giao thương khắp đất nước Văn Lang. Có buôn lậu Sắt Thép từ Kinh Đô Văn Lang giao thương với Phương Bắc. Tích gốp được một số thép tốt thượng hạn để dành tinh luyện thành kiếm báu. Ở vào thời ấy có Âu Giã Tử. Là người rất giỏi về luyện kim, luyện kiếm. Được Việt Vương Tế Gia mời đến tiếp đãi trọng hậu. Còn ban cho một chức quan.

Việt Vương Tế Gia nói:

   Ta có một số thép rất tốt mua được từ Kinh Đô Văn Lang, ngươi có thể tinh luyện cho Ta thành năm kiếm báu được không?

Âu Giã Tử nói:

   Bẩm Đại Vương. Hạ dân xem qua thép tốt ấy như thế nào mới biết luyện được hay không.

Việt Vương Tế Gia liền cho người mang ra một bao thỏi thép. Mỗi thỏi thép nặng hơn cân, được hơn năm mươi thỏi. Âu Giã Tử liền bốc lên một thỏi xem thử thì không khỏi biến sắc mặt nói:

   Bẩm Đại Vương đây là những thỏi thép quý vô giá, những người có phúc lớn mới gặp được. Những thỏi thép nầy có từ thời luyện kim Cao Tổ, Cao Tông. Công thức luyện kim nầy đã thất truyền không còn ai biết nữa. Nếu đem rèn chế thành mũi tên thời bắn thủng cả áo giáp sắt, Áo giáp đồng lợi hại vô cùng. Nếu đem luyện thành kiếm báu thì chém sắt như bùn. Còn nếu luyện thành Thần Kiếm thì phải có vàng tinh luyện nguyên chất, cũng như phải có Tinh Khí Thần con người đồng trinh nam nữ kết hợp thì mới luyện thành.

Việt Vương Tế Gia nghe xong liền cho người tìm đủ những thứ ấy. Âu Giã Tử liền chọn ngày lành tháng tốt khởi động sai các đồng nam đồng nữ cả thảy trăm người kéo bễ quạt than lửa cháy đỏ rực nhiệt độ rất cao nấu vàng nấu thép chảy ra nước bảy lần bảy 49 ngày đến ngày cuối cùng luyện thành Thần Vật.

Thời khắc quan trọng tức thời năm nam năm nữ đồng trinh tự nguyện nhảy vào lò luyện kim phút chốc tiêu tan tất cả. Tức thời hào quang từ trong lò luyện kim sáng lên rực rỡ hóa thành Thần Vật.

Âu Giã Tử mừng rỡ reo lên:

   Thành rồi, thành rồi.

Âu Giã Tử liền làm ra năm thanh Thần Kiếm. Một là Trạm Lư, hai là Bàn Sính, ba là Ngư Trường, bốn là Can Tương, năm là Hiệp Gia.

Việt Vương Tế Gia khi còn làm thương gia giàu có thường sang nước Ngô buôn bán Sắt, Đồng giao thương ra mắt Vua Thọ Mộng. Nên cũng có quen biết với Vua Ngô.

Vua Ngô Thọ Mộng khi ấy có bốn người con. Người con Trưởng là Chư Phàn. Người con thứ hai là Dư Tế. Người con thứ ba là Di Muội. Người con thứ tư là Quý Trát. Vua Thọ Mộng lúc nào cũng dòm ngó Việt Trung Nguyên nhưng không biết làm sao đánh chiếm được Việt Trung Nguyên tức là Bắc Văn Lang.

Bắc Văn Lang đất đai trù phú không nơi nào bằng. Lại có nền Văn Minh lúa nước từ thời Viêm Đế Thần Nông truyền lại. Nước văn Lang nhờ nền Văn Minh lúa nước nầy mà dân giàu nước mạnh. Việt Vương Tế Gia trị vì thiên hạ không bao lâu thời qua đời Việt Vương Doãn Thường lên thay thế.

Việt Vương Doãn Thường là nhà Quân Sự Thiên Tài lại biết lo xa. Sợ Thọ Mộng đem quân xâm chiếm Bắc Văn Lang. Bằng sai sứ giả đem ba thanh kiếm báu dâng hiến cho Vua Thọ Mộng cầu hòa. Khi ấy Vua Thọ cũng đã già không bao lâu thì mất.

Người con lớn Chư Phàn lên thay thế. Thời lúc nào cũng muốn chiếm lấy Bắc Văn Lang. Vì Bắc Văn Lang Việt Trung nguyên là miếng mồi quá béo bở. Không những giàu có về vàng, bạc, ngọc ngà, châu báu. Nhất là giàu về lúa gạo, ngô, khoai, củ, quả ăn không hết. Mà còn giàu có về nguồn sông nước Thủy Sản, giàu có về Biển Cả Hải Sản, giàu có về Sơn Hào rừng núi. Chiếm lấy được Bắc Văn Lang chẳng khác gì ngồi trên đống vàng ngọc ngà châu báu. Ngồi trên Sơn Hào, Hải Vị. Muốn gì được nấy nhất là nền văn lúa nước. Nền văn minh sắt, thép. Thì không có một nước nào bằng.

Chư Phàn ăn cũng mơ ngủ cũng mơ tìm mọi phương cách chiếm cho được Bắc Văn Lang. Chư Phàn nghĩ Cha Con Doãn Thường đã tận lực chống trả lại quân Văn Lang sức lực suy yếu.  Chỉ cần khỡi binh xâm lấn liền chiếm được Việt Trung Nguyên.

Không ngờ quân Trung Nguyên khó đánh vô cùng. Bị quân Trung Nguyên đánh bại. Uất khí nổi lên sanh bệnh rồi chết. Chư Phàn chết.

Dư Tế lên thay cũng đem quân xâm chiến Trung Nguyên Bắc văn Lang. Nhưng đều bị thất bại. Hao quân tổn tướng. Trong khi ấy các nước Phương Bắc dòm ngó nước Ngô có nhiều nước đem quân xâm lấn nước Ngô. Dư Tế ra sức chống trả lấy làm sầu não sanh bệnh chết.

Di Muội lên thế. Thường đem quân xâm lấn biên giới Việt Trung Nguyên. Nhưng bị quân Việt Trung Nguyên Doãn Thường đánh bại. Từ đó Việt – Ngô như nước với lửa thường đánh nhau luôn trên chuyến tuyến biên giới của hai bên. Di Muội tốn không biết bao nhiêu là công sức hao quân tốn lương cũng không chiếm nổi đất biên giới  Bắc Văn Lang sanh bệnh rồi chết.

Đáng lý Vua Ngô Di Muội trước khi lâm bệnh phải nhường ngôi cho Công Tử Quang. Con Chư Phàn. Đằng nầy không nhường ngôi cho Công Tử Quang. Mà lập người con Di Muội là Vương Liêu lên làm vua.

Công Tử Quang là con của Chư Phàn. Có ý muốn giết Vương Liêu. Nhưng chưa biết phải làm sao. Thời Vận may Công Tử Quang gặp Ngũ Tử Tư bỏ nước Sở chạy trốn đến nước Ngô. Công Tử Quang trọng dụng Ngũ Tử Tư cho làm thượng khách quý của mình. Nhờ Ngũ Tử Tư bày kế giết Vương Liêu.

Năm 525 trước công nguyên. Tháng tư, ngày Bính Tý. Công Tử Quang đặt ngầm binh sĩ mang áo giáp ở nhà hầm. Mời Vương Liêu đến uống rượu Vương Liêu tuy có đề phòng. Chuyên Chư mang thức ăn lên dâng cho Vương Liêu bắt ngờ lấy Ngư Trường kiếm chém sắt như chém bùn đâm Vương Liêu một nhát thủng áo giáp đang mặt chết tốt.

Công Tử Quang lên làm Vua Ngô tức là Hạp Lư. Hạp Lư lên làm Vua nước ngô thèm khát Bắc Văn Lang Trung Nguyên còn hơn Cha, Chú của Y chiến tranh Việt – Ngô càng thêm dữ dội hơn nữa.

Đây nói về Hạp Lư Vua Ngô ở bên kia phía Bắc Sông Trường Giang vô cùng lo lắng vì Việt Trung Nguyên càng ngày càng lớn mạnh. Phần thì sợ Việt Trung Nguyên tấn công. Phần thì sợ Sở tấn công. Nam thì sợ Việt Trung Nguyên vượt Trường Giang sang đánh. Đông thời sợ Sở vượt sông Hán Thủy tiến đánh.

Lư Hạp liền kêu Ngũ Viên tới nói:

   Ta có được ngươi như cá được nước ngươi có cách gì làm cho Nước Ngô ta hùng mạnh. Nam ngăn được Việt Trung Nguyên. Đông chặn được Sở.

Ngũ Viên nói:

   Muốn làm được như vậy thì phải làm cho lúa thóc đầy kho. Sửa sang lại thành quách. Thu nạp binh sĩ. Luyện tập binh mã.

Hạp Lư liền nghe theo lời Ngũ Viên chọn nơi đất tốt xây Thành Trì. Thấy phía Đông Bắc núi Cô Tô khí thế hưng vượng tức thời cho quân binh đắp thành trì không bao lâu Ngũ Viên đắp xong một thành lớn rộng bốn mươi bảy dặm gọi là Thiên Đô.

Chia làm tám cửa như sau:

Bàn Môn và Xà Môn ở phía Nam.

Tề Môn và Bình Môn ở phía Bắc.

Lâu Môn và Tượng Môn ở phía Đông.

Xương Môn và Tư Môn ở phía Tây.

Thành quách đắp xong. Ngũ Viên đón Lư Hạp vào Thiên Đô ở đấy. Rồi ra sức tuyển mộ quân binh lên đến hàng vạn vạn người ngày đêm thao luyện quân binh diễn tập chiến trận. Lại cho đắp một cái thành nữa ở phía nam Phượng Hoàng Sơn đề phòng Việt Trung Nguyên tiến quân sang đánh nước Ngô.

Lúc bấy giờ Bá Hi nước Sở sợ tội chạy trốn nghe nói Ngũ Viên đã làm quan nước Ngô, mới trốn sang nước Ngô vào yết kiến Ngũ Viên hai người ôm nhau mà khóc. Ngũ Viên đưa Bá Hi vào yết kiến Hạp Lư. Hạp Lư có lòng thương cho làm Quan Đại Phu cùng Ngũ Viên bàn việc nước.

Quan Đại Phu nước Ngô là Bị Ly hỏi riêng Ngũ Viên rằng:

   Ngài nghĩ thế nào mà tin Bá Hi như vậy ?

Ngũ Viên nói:

   Sự oan uổng của Bá Hi, cũng chẳng khác gì sự oan uổng của tôi. Tục ngữ có câu rằng: “ đồng bệnh tương liên hẳn ngài chẳng còn lạ gì điều đó.”

Bi Ly nói:

   Ngài chỉ biết mặt ngoài, chưa biết mặt trong. Tôi trông Bá Hi, mắt nhìn như mắt chim ưng. Chân đi như dáng con hổ phải nói là người tham nịnh tàn ác chớ nên đến gần. Nếu người ấy được trọng dụng thì tất liên lụy đến Ngài.

Ngũ Viên không cho là phải, cùng Bá Hi thờ Vua Ngô. Một hôm thiết triều Hạp Lư vua Ngô nói với triều Thần rằng:

   Nước Ngô Ta giờ đây phải nói là rất hùng mạnh. Tướng Giỏi quân nhiều Phương Bắc chẳng nước nào dám xâm lược. Việt Trung Nguyên không còn là mối lo nữa. Nhân cơ hội nầy ta từ Bắc đánh vào là chiếm được Việt Trung Nguyên Bắc Văn Lang. Nếu chiếm được Việt Trung Nguyên thì coi như nguồn lương thực dồi dào dân số lại đông. Phía Nam sợ gì Hùng Vương. Phía Bắc Sợ gì Nhà Chu. Sở muốn nuốt hồi nào chẳng được.

Bá Hi tâu:

   Chúa công nói rất phải. Nếu không cơ hội nầy chiếm Bắc Văn Lang Trung Nguyên thì còn có cơ hội nào nữa. Vì sao thần lại nói như vậy? Vì Việt Vương Doãn Thường đã dốc toàn lực lượng chống trả lại quân Văn Lang từ Nam đánh ra Bắc. Còn lực lượng đâu chống trả quân ta. Quân ta bất ngờ đánh chiếm nhất định chiếm được Việt Trung Nguyên.

Hạp Lư cho là phải. Ngũ Viên khuyên can tâu:

   Chúa công Bắc Văn Lang Việt Trung Nguyên là nơi linh địa nước Xích Quỷ chín thời Kinh Dương Vương ngự trị Linh Địa ấy không dễ gì đánh chiếm được đâu. Nước Văn Lang tuy Nền Quốc Đạo không còn nhưng uy danh vẩn còn lừng lẫy Dân Chúng tuy ngã về Văn Hóa Phương Bắc. Cha Con Doãn Thường nổi lên chiếm lấy Bắc Văn Lang. Nhưng không phải là quân ngoại xâm. Chỉ là quân nội loạn nổi lên đòi tự trị được dân chúng Bắc Văn Lang theo về bảo bọc che chở. Cuộc nội loạn Bắc Văn Lang không phải là lần đầu mà cách đây hơn ba trăm năm mươi năm vào thời. Hùng Huy Vương: Pháp Hải Lang. Phù Đổng Thiên Vương ra đời quét sạch quân xâm lược cũng như quân phản loạn. Ở vào thời đó từ năm 961 đến năm 893 trước công nguyên. Bắc Văn Lang các Vua Việt nổi lên đòi tự trị. Theo xu thế Phương Bắc, một quận, một huyện cũng xưng vua. Ân Mao Vương cùng Hồ Vương, Hung Vương đưa quân xâm lược. Bắc Văn Lang tưởng như là đã chiếm được Bắc Văn Lang. Nhưng đã bị Phù Đổng Thiên Vương quét sạch. Chỉ trong vòng ba ngày. Đừng nói đến thời Ân Mao Vương sau nầy. Mà ngay cả cuối thời Nhà Thương. (xem Văn Lang chiến sự 1 sẽ rõ). Ân Thọ khi lên ngôi Trụ Vương thời ngày đêm thèm khát nước Văn Lang giàu có. Ỷ mình có binh hùng tướng mạnh bằng dốc toàn lực lượng Nhà Ân. Trên 200 vạn quân tràn sang xâm chiếm cho bằng được nước Văn Lang. Nhưng mới tiến vào Bắc Văn Lang. Thì đã bị Hùng Tiên Lang: Điển Lang đánh bại vùi chôn hơn một nửa quân binh nơi đất Bắc Văn Lang. Cách đây gần 600 năm. (Tức là từ năm 1141 đến năm 1077 trước công nguyên). Vì thế Bắc Văn Lang tìm ẩn những điều không lường trước được. Cha Con Doãn Thường nổi dậy chiếm Bắc Văn Lang chỉ là nội loạn được sự hưởng ứng của người dân Bắc Văn Lang. Còn chúng ta là khác không phải là quân nội loạn mà là quân xâm lược. Dân Văn Lang luôn tự hào dòng giống Tiên Rồng. Không dễ đánh thắng được đâu. Chúng ta đưa quân chiếm lấy Bắc Văn Lang chính là quân ngoại xâm lược. Dân Bắc Văn Lang tuy theo Cha Con Doãn Thường nhưng lòng quật cường anh linh truyền thống dân tộc Văn Lang vẫn còn mạnh. Không thể xem thường được.

Hạp Lư không nghe lời khuyên của Ngũ Viên. Giao quốc chính cho Ngũ Viên cùng Phù Sai. Trực tiếp chỉ huy 25 vạn quân có thể nói là dốc toàn lực lượng sức mạnh của quân Ngô. Vượt qua Sông Dương tức là Sông Trường Giang chia làm ba đạo quân. Tiến đánh Việt Trung Nguyên.

Đạo quân thứ nhất: trược tiếp Hạp Lư chỉ huy thống lĩnh hơn 10 vạn quân cùng Bá Hi, Vương Tôn Lạc, Chư Nghị đánh thẳng vào Dương Giang Giao Châu.

Đạo quân thứ hai: Bá Cổn Chủ Tướng Thượng Quân, Tiêu Chấn phó Chủ Tướng Hạ Quân thống lãnh 7 vạn quân đánh thẳng vào Bắc Giang Giao Châu.

Đạo Quân thứ ba: Chuyên Tạo Chủ tướng, Bá Cẩn làm phó tướng thống lãnh 7 vạn quân đồng loạt vượt sông Dương Tử. Tiến vào địa phận Trung Nguyên đánh thẳng vào Lạc Giang Giao Châu.

**************

PHẦN 15

Nói về Quân Ngô tiến qua Bắc Văn Lang thế mạnh như chẻ tre đánh đâu thắng đó chiếm lấy các quận huyện chẳng khó khăn gì cả. Quân địa phương Việt Trung Nguyên khiếp kinh bỏ chạy.

Hạp Lư cười ha hả nói:

   Quân Việt Trung Nguyên dồn hết vào phía Nam chống trả lại quân Văn Lang, còn binh lính đâu mà chống trả lại quân ta. Đời Ông Cha thế lực quân Ngô chưa đủ mạnh nên chưa lấy được Bắc Văn Lang. Nay thế lực quân Ngô Ta như nước vỡ bờ Bắc Văn Lang sẽ là của Ta.

Đại quân Hạp Lư tiến đến đâu thì quân địa phương Việt Trung Nguyên bị đánh bại đến đó. Khi quân Ngô tiến sâu vào huyện Điền Lý. Sắp đến Dương Giao Châu. Thì nghe quân reo dậy đất quân Việt Trung Nguyên xuất hiện ước lượng hơn 2 vạn quân. Tướng dẫn đầu quân Trung Nguyên là Việt Vương Doãn Thường.

Nói về Việt Vương Doãn Thường là Việt Vương đời thứ hai sau Việt Vương Tế Gia, nhà quân sự, chính trị, binh pháp thiên tài chuyển xây tình thế đủ sức nổi lên chiếm lấy Bắc Văn Lang. Điều binh khiển tướng có một không hai trong thời ấy. Phía Nam Bắc Văn Lang, tức là Nam Việt Trung Nguyên đủ sức chống trả lại thế lực Vua Hùng. Phía Bắc, Bắc Văn Lang tức là Bắc Việt Trung Nguyên phòng thủ vững chắc không sợ các thế lực ngoại bang tấn công xâm lấn từ Phương Bắc.

Nói về Hạp Lư Vua Ngô xua quân xâm lược tiến đánh Việt Trung Nguyên thế mạnh như chẻ tre, quân binh tràn tới đâu quân địa phương Việt Trung Nguyên tan rã đến đó. Hạp Lư vô cùng cao ngạo tiến quân đánh thẳng thọc sâu vào địa phận Việt Trung Nguyên. Quân Việt Trung Nguyên thua chạy có cờ. Hạp Lư càng tiến sâu vào Việt Trung càng cao ngạo. Nói Thế lực quân Việt Trung Nguyên suy yếu thấy rõ. Vua Ngô Hạp Lư cho đây là cơ hội chiếm lấy Việt Trung Nguyên cho bằng được.

Việt Vương Doãn Thường nghe tin Vua Hạp Lư trực tiếp chỉ huy 25 vạn quân chủ lực  tiến đánh Việt Trung Nguyền liền trực tiếp thống lĩnh quân binh đối mặt với Hạp Lư Vua Ngô quyết đánh bại Vua Ngô Hạp Lư trong trận chiến xâm lược nầy. Hầu làm khiếp đảm các nước Phương Bắc như Sở, Tề, Tấn vân Vân và …vân vân.

Doãn Thường ra lệnh:

   Linh Việt Hàn: Có Thần. Nguyên Soái thống lĩnh 2 vạn quân đến Huyện Dương Hạ bí mật phục kích chờ cho quân Ngô đi qua tiến sâu vào Trung Nguyên mới dàng quân ra phục kích chặn đánh đường rút lui của chúng. Tuân Lệnh.

   Linh Cô Phù nghe lệnh. Có Thần. Chủ Tướng thống lĩnh 3 vạn quân ẩn mình phục kích phía đông Huyện Điền Lý. Khi nào thấy pháo lệnh bắn lên trời nghe giao tranh khóc liệt thì mới xuất hiện từ cánh đông Huyện Điền Lý nhanh chóng tiến quân đánh bọc lên vào khúc giữa cắt đứt làm hai quân Ngô. Tuân lệnh.

   Linh Quang Dũng nghe lệnh. Có Thần. Chủ Tướng thống lĩnh 3 vạn quân ẩn mình phục kích phía tây Huyện Điền Lý. Khi nào thấy pháo lệnh bắn lên trời nghe giao tranh khóc liệt thời nhanh chóng tiến quân đánh vào khúc đuôi quân địch. Tuân lệnh.

Phân bổ lực lượng đâu vào đó. Việt Vương Doãn Thường thống lĩnh 2 vạn quân dụ địch sa vào kế bẫy của mình.

Đây nói về hơn 10 vạn quân Ngô trực tiếp do Hạp Lư Vua Ngô chỉ huy tiến đến đâu thì quân Việt Trung Nguyên bị đánh tan tác đến đó. Quân Ngô không khác gì bầy chó sói ăn thịt bầy gà chặn đường. Gặp quân Việt Trung Nguyên là xơi đẹp Quân Ngô cứ tiến sâu vào Trung Nguyên như chỗ không người.

Khi quân Ngô đến đất Điền Lý thấy cây cối tuy không rậm rạp nhưng cũng che khuất tầm nhìn. Nếu qua khỏi đất Điền Lý thời tới Dương Giao Châu. Hạp Lư không coi quân Trung Nguyên vào đâu Đại quân Ngô cứ tiến sâu vào đất Trung Nguyên. Khi quân Ngô vào đất Điền Lý thời thấy một đạo quân xuất hiện phải nói là hùng mạnh nhất từ khi quân Ngô tiến vào đất Trung Nguyên. Ước lượng 2 vạn quân Tướng dẫn đầu quân Trung Nguyên là Việt Vương Doãn Thường.

Việt Vương Doãn Thường thúc ngựa tới hét lớn chỉ mặt Vua Ngô là Hạp Lư chửi mắn nói:

   Thằng Hạp Lư ngu si kia Ta đối với nước Ngô không tệ. Đem ba bảo kiếm là Trạm Lư bảo kiếm, Bàn Sính bảo kiếm, Ngư Trường bảo kiếm dâng hiến cho nước Ngô giao hảo cầu hòa Ông Nội Thọ Mộng ngươi. Không nói với ngươi biết sao? Nay ngươi đem quân xâm chiếm Việt Trung Nguyên của Ta. Ngươi tưởng nuốt Việt Trung Nguyên dễ lắm sao nơi đất Điền Lý nầy là mồ chôn của ngươi.

Hạp Lư nhìn thấy quân Trung Nguyên chỉ có trên dưới 2 vạn thì nhìn lên trời cười ngất:

   Thằng Doãn Thường cáo già kia ta lạ gì mà không biết Cha Con ngươi. Cha Con ngươi người gốc Phương Bắc dòng giỏi Vua Vũ. Bị Vua Kiệt truy sát chạy đến Bắc Văn Lang. Tuy Dòng Tộc ngươi trở thành dân Văn Lang từ lâu. Nhưng Ông Cha ngươi nuôi mộng mưu đồ từ lâu chiếm lấy Bắc Văn Lang cướp giang san của các Vua Hùng. Đất Bắc Văn Lang nào phải Cha Con Doãn Thường ngươi khai dựng tạo lập lên. Mà chỉ là quân loạn tặc phản loạn nổi dậy cướp nước. Còn Ta là quân xâm lược nào có khác chi. Miếng thịt béo bở Bắc Văn Lang nay không thuộc của ai. Ai mạnh gươm đao hơn thì người đó được.

Việt Vương Doãn Thường nổi nóng quát:

   Có tướng nào ra lấy đầu thằng Hạp Lư ngu dốt kia cho ta.

Bổng một tướng tên là Vũ Hạo chấp tay nói:

   Để Thần ra lấy đầu thằng ngu dốt ấy cho.

Nói xong Vũ Hạo phóng ngựa múa đao lao tới quát lớn:

   Thằng Hạp Lư quân cướp kia có giỏi thì ra đây đấu với Ông Nội ngươi.

Hạp Lư nổi nóng quát:

   Có tướng nào ra thịt thằng hỗn láo ấy cho Ta.

Vương Tôn Lạc nói:

   Để Thần ra giết quách tên hổn láo ấy cho rồi.

Vương Tôn Lạc nói xong phi ngựa lao tới múa đao chém Vũ Hạo. Vũ Hạo múa đao chống trả hai bên kẻ đánh qua người trả lại bụi cát mịt mù đánh hơn ba mươi hiệp. Vương Tôn Lạc giả đò thua bỏ chạy. Vũ Hạo đuổi theo chém Vương Tôn Lạc. Vương Tôn Lạc bất ngờ quay ngựa trở lại chém một đao như thiên lôi giáng. Vũ Hạo tránh không kịp trúng một đạo ngã nhào xuống ngựa chết tốt.

Quân Ngô thắng thế Hạp Lư chỉ kiếm vào quân Việt Trung Nguyên ra lệnh tấn công thế là hơn 10 vạn quân Ngô ào ào xông lên. Doãn Thường cũng chỉ kiếm vào quân Ngô thét lớn tấn công thế là quân Việt Trung Nguyên ào ào xông tới xáp lá cà với quân Ngô trận chiến dậy trời dậy đất.

Doãn Thường biết đánh không lại ra lệnh quân binh rút lui bỏ chạy. Hạp Lư thắng thế rượt đuổi theo Quân Trung Nguyên chém tơi bời. Quân Việt Trung Nguyên bỏ chạy một đoạn thì dừng lại bắn pháo lên trời không chạy nữa mà quay trở lại chống trả quyết liệt. Chận đứng hơn 10 vạn quân Ngô. Mười vạn quân Ngô tạm thời tiến tới không nổi. Hạp Lư đang hăng say thắng thế thúc quân binh xông tới tiêu diệt 2 vạn quân Trung Nguyên.

Cùng lúc ấy từ phía Đông một đạo quân Việt Trung Nguyên đông như kiến chiêng trống dậy trời nhanh chóng lao tới đánh bọc lên tấn công vào khúc giữa mười vạn quân Ngô. Quân Ngô tức thời bị cắt ra làm hai.

Cùng Lúc ấy một đạo quân Việt Trung Nguyên khác từ phía Tây Điền Lý đánh ập xuống. Hạp Lư bị quân Trung Nguyên tấn công đầu, đuôi, khúc giữa thế mạnh như chẻ tre. Quân Ngô rối loạn, quân Việt Trung Nguyên chém tới tấp Quân Việt Trung Nguyên phát cờ rợp trời rợp đất gươm đao giáo mác dậy trời. Từ cánh Đông đánh bọc lên thế mạnh như vũ bão.

Tướng Ngô là Tôn Các thúc quân binh chống trả. Tướng Trung Nguyên là Linh Cô Phù phi ngựa chém Tôn Các. Tôn Các đánh không lại bị Linh Cô Phù chém một đao hồn du địa phủ.

Quân Trung Nguyên lấn thế chém quân Ngô như chém chuối. Cùng lúc ấy Linh Quang Dũng thúc quân binh từ phía Tây đánh xuống thế mạnh như nước vỡ bờ vào khúc đuôi quân Ngô.

Tướng Ngô là Bá Chu thúc quân binh chống trả. Linh Quang Dũng phi ngựa tới múa giáo chém Bá Chu. Bá Chu đánh không lại bị Linh Quang Dũng chém một giáo rồi đời.

Quân Ngô mất tướng quân Trung Nguyên ào ào lao tới chém quân Ngô như chém chuối thây ngã la liệt. Hạp Lư biết là đã trúng kế bẫy của Doãn Thường kinh hồn bạc vía chưa biết phải làm sao không lẽ phải bỏ mạng tại nơi đây.

Vương Tôn Lạc, Bá Hi, Chư Nghị nói:

   Chúa Công mau đi theo chúng thần.

Vương Tôn Lạc, Bá Hi, Chư Nghị ra sức bảo vệ Hạp Lư tháo chạy về Ngô. Chạy đến Dương Hạ thì trời cũng đã xẩm tối Hạp Lư nghĩ quân Việt Trung Nguyên không còn rượt đuổi theo nữa liền tạm nghỉ xả hơi Hạp Lư nhìn quân binh tướng tá người nào người nấy tả tơi bơ phờ thời tức muốn trào máu họng.

Nhìn lên trời nói:

   Không ngờ Doãn Thường là tay quỉ quyệt như vậy. Nhưng ngươi cũng chỉ là tầm thường nếu không thì Ta khó mà thoát chạy.

Hạp Lư vừa mới nói xong thời nghe chiêng trống vang trời quân reo dậy đất, quân Trung Nguyên bao vây đánh ập tới. Hạp Lư kinh hồn bạc vía.

Linh Việt Hàn phi ngựa tới hét:

   Hạp Lư mau nạp mạng.

Vương Tôn Lạc nói:

   Chúa Công mau bỏ áo mão giả làm quân binh trốn thoát.

Hạp Lư không còn cách nào hơn giả làm quân binh cùng Vương Tôn Lạc, Chư Nghị, Bá Hi, trốn chạy về nước Ngô. Cũng may Ngũ Viên, Phù Sai đem quân ứng cứu Hạp Lư mới thoát chết trở về nước Ngô. Điểm lại quân số 10 vạn quân chỉ còn có 3 vạn đi tiêu hơn 7 vạn. Hạp Lư càng nghĩ càng hận Doãn Thường vô cùng. Một trận thua nhục nhã chưa từng có.

Nói về Bá Cổn, Tiêu Chấn chỉ huy cánh tả thống lãnh 7 vạn quân theo lệnh Hạp Lư vượt qua sông Dương Tử  tiến đánh Tây Bắc Việt Trung nguyên. Quân Ngô thế mạnh như vũ bão tràn qua sông Dương tiến đánh các Quận Huyện phía Đông, Tây Bắc Văn Lang tức là các Quận Huyện phía Đông, Tây Bắc Trung Nguyên, quân Việt Trung Nguyên các Quận Huyện thua chạy.

Bá Cổn, Tiêu Chấn tiến quân sâu vào đất Việt Trung Nguyên, phía Đông, Tây Bắc Văn Lang như chỗ không người, quân Ngô tiến đến Huyện Dương Hề thời nghe ngựa hí vang trời quân reo dậy đất. Quân Việt Trung Nguyên đến lúc nầy mới thật sự phản công quyết liệt.

Đây nói về Chư Hạo Hạo, Trung Quân Nguyên Soái theo lệnh Việt Vương Tế Gia thống lĩnh 10 vạn quân cùng hai con là Chư Kế Dĩnh, Chư Tôn Quá. Kết hợp cùng Vua Cương Việt, Vua Ngô Việt, Vua Hung Việt trấn giữ Tây Bắc Văn Lang, tức là Tây Bắc Việt Trung Nguyên.

Đến đời Việt Vương Doãn Thường. Thì đội quân thám báo cho biết quân Ngô tiến đánh phía Đông Tây Bắc Trung Nguyên. Tức thời Chư Hạo Hạo cho người khẩn cấp báo cho Việt Vương Doãn Thường. Việt Vương Doãn Thường ra lệnh Chư Hạo Hạo dốc toàn lực lượng tiêu diệt cho bằng được quân Ngô. Chư Hạo Hạo bày binh bố trận như sau:

   Các Trấn chư hầu nghe lệnh: Vua Cương Việt, Vua Ngô Việt, Vua Di Việt, Vua Hung Việt phục kích phía Tây Huyện Dương Hề khi thấy pháo lệnh thì thúc quân binh  tràn xuống bao vây tiêu diệt quân Ngô. Tuân Lệnh.

   Chư Kế Dĩnh nghe lệnh. Chủ Tướng thống lĩnh 3 vạn quân phục kích ở phía đông Huyện Dương Hề khi thấy pháo lệnh bắn lên trời thì từ cánh đông nhanh chóng kéo quân đến bao vây tiêu diệt quân Ngô. Tuân Lệnh.

   Chư Tôn Quá nghe lệnh. Chủ Tướng thống lĩnh 3 vạn quân nhanh chóng đến Dương Ba phía Bắc Huyện Dương Hề ẩn mình từ xa cứ để cho quân Ngô đi qua tiến về Huyện Dương hề không chận đánh, đến khi nào nghe chiến trận nổ ra pháo lệnh bắn lên trời thì nhanh chóng điều động quân binh từ phía sau quân địch đánh tới. Tuân Lệnh.

Chư  Hạo Hạo phân bổ lực lượng xong. Liền cho 2 vạn quân mai phục gần phía nam Huyện Dương Hề do phó soái Mạnh Hùng trực tiếp chỉ huy. Còn mình thì thống lĩnh 2 vạn quân đối mặt với quân Ngô.

**************

PHẦN 16

Đây nói về Bá Cổn, Tiêu Chấn tiến quân đến đâu thời quân Việt Trung Nguyên các Quận Huyện phía đông Tây Bắc ngã rạp đến đó quân Ngô thế mạnh như nước tràn bờ. Bá Cổn, Tiêu Chấn không coi quân Việt Trung Nguyên vào đâu cả dửng dưng tự đắc tiến quân ồ ạt. Không ngờ quân Ngô tiến vào đất Dương Hề thì nghe chiêng trống vang trời quân reo dậy đất.

Chư Hạo Hạo thống lĩnh hai vạn quân từ xa lao tới chận đánh bảy vạn quân Ngô. Bá Cổn, Tiêu Chấn nhìn thấy hai vạn quân Trung Nguyên chặn đánh thời nhìn lên trời cười ngất nói:

   Tướng Trung Nguyên mau quỳ xuống thì ta còn để cái đầu còn trên cổ. Bằng không thì ta làm thịt tất cả.

Chư Hạo Hạo quát:

   Hai Tướng Ngô xâm lược kia người khác thì không biết hai ngươi là ai. Còn Ta thời Ta quá rõ hai ngươi chỉ là hai tên ăn cướp đầu Heo mặt Chó vừa ngu si vừa sủa bậy hôm nay gặp Ta thì kể như hồn du địa phủ.

Bá Cổn, Tiêu Chấn nghe Chư Hạo Hạo chửi rát lỗ tai quá nổi nóng rút kiếm chỉ về phía quân Việt Trung Nguyên hét lớn:

   Chém sạch giết sạch cho ta.

Thế là quân Ngô tràn tới như vũ bão chém ầm ầm vào quân Việt Trung Nguyên. Quân Việt Trung Nguyên ra sức chống trả nhưng làm sao chống lại bảy vạn quân Ngô, đành thi nhau tháo chạy quân Ngô ào ào rượt đuổi theo một đoạn.

Bổng quân Ngô nghe chiêng trống rền trời quân Việt Trung Nguyên ẩn núp từ hai bên đường ào ra chân đánh quân Ngô. Quân Ngô bị chặn đánh bất ngờ sanh ra lúng túng.

Chư Hạo Hạo không bỏ chạy nữa mà thúc quân binh quay ngược trở lại hợp lực với quân Chư Mạnh Hùng tấn công vào quân Ngô như sấm sét. Chư Hạo Hạo cho quân bắn pháo lệnh lên trời đỏ rực. Từ cánh đông Chư Kế Dĩnh nhìn thấy pháo lệnh bắn lên trời đỏ rực. Tức thời bắn pháo lệnh tấn công đáp trả. Thúc ba vạn quân binh nhanh chóng tiến đánh quân Ngô.

Cùng lúc ấy Vua Cương Việt, Vua Ngô Việt, Vua Di Việt, Vua Hung Việt từ cánh tây thấy pháo lệnh tấn công bắn lên trời đỏ rực liền thúc quân binh nhanh chóng tiến đánh quân Ngô.

Cùng lúc ấy Chư Tôn Quá phục kích ở Huyện Dương Ba thấy pháo lệnh tấn công bắn lên trời đỏ rực, liền nhanh chóng thúc ba vạn quân bao vây từ sau đánh tới.

Quân Ngô bị bốn phương tứ hướng quân Việt Trung Nguyên tấn công dồn dập. Bá Cổn, Tiêu Chấn kinh hồn bạc vía biết đã rơi vào cạm bẫy Quân Nguyên nhưng tất cả đều đã trễ. Bá Cổn, Tiêu Chấn cho quân binh phá vòng vây tẩu thoát.

Chư Hạo Hạo, Chư Mạnh Hùng quyết hạ gục Bá Cổn, Tiêu Chấn cho bằng được liền thúc quân đánh tới tấp. Quát lên:

   Con Chó Bá Cổn, con Lợn Tiêu Chấn kia chạy đâu cho thoát.

Bảy vạn quân Ngô bị quân Việt Trung Nguyên bao vây đánh tơi tả. Bá Cổn, Tiêu Chấn bị trúng tên bỏ mạng tại sa trường. Quân Ngô chỉ còn một vạn sống sót trở về nước Ngô.

Nói về Chuyên Tạo, Bá Cẩn thống lĩnh 7 vạn quân theo lệnh Hạp Lư Tiến đánh Lạc Giao Châu thế mạnh như hổ báo quân Việt Trung Nguyên các Quận Huyện thua chạy. Chuyên Tạo, Bá Cẩn thúc quân nhanh chóng đánh chiếm lấy Lạc Giao Châu. Quân Ngô do Chuyện Tạo, Bá Cẩn chỉ huy tiến đến Huyện Tiêu Sơn đi sâu vào đường rừng thì thấy lửa cháy đỏ trời phủ tới thiêu đốt quân Ngô. Chuyên Tạo, Bá Cẩn kinh hãi cho quân tháo lui.

Đây nói về Thường Thọ Quá được thông tin mật báo là quân Ngô tiến đánh Lạc Giao Châu tức thời lên kế sách tiêu diệt quân địch. Thường Thọ Quá ra lệnh cứ để cho quân Ngô tiến sâu vào đất Việt Trung Nguyên đến Huyện Tiêu Sơn thì mới ra tay:

   Vua Đông Việt, Vua Hải Việt, Vua Giao Việt nghe lệnh. Ba trấn chư hầu nhanh chóng đem quân phục kích phía Tây Huyện Tiêu Sơn. Khi nào nhìn thấy rừng Phong Kê bốc cháy thì thúc quân tràn xuống đánh thẳng vào cánh hữu 7 vạn quân Ngô. Tuân Lệnh.

   Thường Thọ Chí nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân thống lĩnh 3 vạn quân phục kích phía Nam Huyện Tiêu Dao. Khi quân Ngô tháo chạy qua đây thì chặn đánh tiêu diệt quét sạch. Tuân Lệnh.

   Trương Hào nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân thống lĩnh 5 nghìn quân phục kích đường rừng cách xa khỏi tầm dọ thám của chúng. Khi thấy quân Ngô tiến sâu vào đường rừng thời đốt lửa đánh hỏa công. Tuân lệnh.

Còn Thường Thọ Quá thống lĩnh hơn ba vạn quân phục kích phía đông Huyện Tiêu Sơn. Thấy rừng Phong Kê bốc cháy thì nhanh chóng tiến quân đánh vào cánh tả quân Ngô.

Đây nói về  Chuyên Tạo, Bá Cẩn tiến quân sâu vào đất Việt Trung Nguyên. Không có một thế lực nào chống trả lại nổi quân binh các Quận Huyện bị đánh bại một cách dễ dàng. Đại quân Chuyên Tạo, Bá Cẩn tiến thẳng đến Lạc Giao Châu chỉ cần qua khỏi rừng Phong Kê là đến Lạc Giao Châu. Rừng Phong Kê tuy không lớn nhưng rất rậm lại nhiều khúc quanh co dễ bị đánh hỏa công. Chuyên Tạo là tay am hiểu nhiều binh pháp nên cho đại quân dừng lại không tiến vào rừng Phong Kê mà cho quân thám thính. Khi thám thính không có gì mới cho quân đi qua. Mà chỉ cho một vạn quân tiên phong mở đường mà thôi, còn 6 vạn quân khi nào thấy an toàn mới đi qua. Chuyên Tạo sai Phu Sái thống lĩnh một vạn quân qua rừng Phong Kê trước.

Nói về Phu Sái thống lĩnh một vạn quân Ngô tiến sâu vào rừng Phong Kê đi qua hơn nửa rừng thì thấy rừng bốc cháy cộng với gió to lửa cuồn cuộn đỏ trời. Phu Sái kinh hồn bạc vía cho quân rút lui quân binh hổn loạn đạp lên nhau tháo chạy.

Phu Sái vừa nhìn thấy Chuyên Tạo thời nói:

   Chúng ta bị hỏa công rồi. Quân binh chết hơn nửa.

Chuyên Tạo, Bá Cẩn tuy có lường trước nhưng cũng thấy bất an chưa kịp tính toán ra sao. Thì có người đến báo:

   Bẩm Chủ Tướng quân Việt Trung Nguyên từ phía Tây Tiêu Sơn tràn xuống đông như kiến tiến đánh quân ta.

Chuyên Tạo kinh hãi:

   Có chuyện đó sao?

Chuyên Tạo chưa kịp ra lệnh thì có quân đến báo:

   Bẩm Chủ Tướng phía Đông Tiêu Sơn quân Trung Nguyên cờ xí trùng trùng chiêng trống dậy trời tràn tới tấn công quân ta.

Chuyện Tạo ra lệnh rút quân, nhưng không còn kịp nữa phía trước mặt là hỏa công. Hai bên Tả Hữu như hai gọng kìm đánh phủ tới. Quân Ngô ra sức chống trả hầu rút lui. Bá Cẩn thúc quân ra sức phá vòng vây.

Bổng nghe một tiếng quát như sấm nổ. Thì ra người quát đó chính là Thường Thọ Quá. Thường Thọ Quá múa đao phi ngựa tới chém Bá Cẩn. Bá Cẩn múa giáo chống trả hai bên đánh nhau khốc liệt. Thường Thọ Quá võ nghệ cao cường Bá Cẩn đánh không lại bị Thường Thọ Quá dớt cho một đao chết tốt.

Quân Trung Nguyên thắng thế ào ào xông lên chém quân Ngô như chém chuối. Cánh Hữu quân Ngô bị quân Đông Việt, quân Hải Việt, quân Giao Việt tấn công như vũ bão. Quân Ngô đánh không lại thi nhau bỏ chạy.

Chuyên Tạo phá được vòng vây kéo quân chạy về hướng Tây Bắc, quân binh xơ xác bơ phờ, mệt mỏi, đói khát vừa chạy đến Huyện Tiêu Dao thì bị quân Việt Trung Nguyên chặn đánh. Còn sức đâu mà chống trả. Thường Thọ Chí thấy Chuyên Tạo đang phá vòng vây trốn chạy.

Thường Thọ Chí ra lệnh:

   Bắn chết thằng giặc cướp đó cho ta.

Tức thời hàng nghìn mũi tên tập trung bắn vào chuyên Tạo. Chuyên Tạo ngã gục hồn du địa phủ, quân Ngô chết không còn một mạng.

Đây nói về Hạp Lư qua khỏi Sông Dương ngồi thở dốc. Nói rằng:

   Không ngờ quân Việt Trung Nguyên quỷ quyệt như vậy, chúng đã có sự chuẩn bị từ trước dụ quân ta vào kế bẫy bao vây tiêu diệt.

Hạp Lư hỏi:

   Còn hai cánh quân kia ra sao?

Ngũ Viên nói:

   Bá Cổn, Tiêu Chấn đã bỏ mạng tại huyện Dương Hề chỉ còn hơn một vạn thoát thân. Bá Cẩn bỏ mạng tại Huyện Tiêu Sơn. Chuyên Tạo bỏ mạng tại Huyện Tiêu Dao, bảy vạn quân sống sót hơn vài trăm.

Hạp Lư nghe xong thời điến cả hồn đi hết nổi. Phải có người dìu lên xe ngựa trở về Thiên Đô.

************* 

PHẦN 17

Đây nói về Hạp Lư khi lên làm vua Ngô ở bên kia Sông Dương, tức là bên kia bờ Bắc Sông Trường Giang thèm khát Bắc Văn Lang Trung Nguyên. Quân Ngô đang lúc hưng mạnh liền nghĩ ngay đánh chiếm bắc Văn Lang Việt Trung Nguyên. Vì ngày nào cũng được quân thám báo cho biết. Quân Văn Lang do Văn Khánh làm thống Soái chỉ huy đánh bại quân Việt Trung Nguyền khí thế hùng mạnh Quân Việt Trung Nguyên đánh không lại cho quân binh đắp thành cố thủ. Việt Vương Tế Gia qua đời. Việt Vương Doãn Thường lên thay chống đở vô cùng khó khăn. Hạp Lư lấy làm mừng rỡ cho dây là cơ hội hiếm có tiến quân chiếm lấy Việt Trung Nguyên. Ngũ Viên là người trông rộng nhìn xa khuyên can Vua Ngô Hạp Lư không nên tiến đánh Việt Trung Nguyên. Vì Việt Trung Nguyên không dễ đánh chiếm được đâu. Ngũ Viên khuyên can gì Hạp Lư cũng không nghe. Trực tiếp chỉ huy 25 vạn quân phải nói là dốc toàn lực lượng quân Ngô quyết chiếm lấy cho được Bắc Văn Lang. Tức là Việt Trung Nguyên. Không Ngờ Doãn Thường nhà quân sự thiên tài đánh bại ba đạo quân xâm lược quân Ngô tiêu diệt hơn 20 vạn quân làm cho Vua Ngô Hạp Lư choáng váng kinh khiếp. Hạp Lư nghĩ đến thua trận thê thảm, thì căm hận Doãn Thường tận xương tủy.

Nói về Ngô, Sở vốn từ lâu hiềm khích với nhau nay nghe Hạp Lư Vua Ngô bị Việt Vương Doãn Thường đánh bại đi tiêu hơn 20 vạn quân. Liền nghĩ Hạp Lư thất trận thê thảm, Nước Ngô suy yếu. Liền đem quân xâm lấn đánh nước Ngô.

Hạp Lư nghe Sở tiến đánh thì vô cùng lo sợ. Vì hiện giờ không còn đủ sức chống trả lại nước Sở. Phương Bắc hiện nay hàng trăm nước nhỏ lớn nhưng nước Sở là mạnh nhất. Có hơn trăm nước thuộc quốc tùng phục.

Hạp Lư càng nghĩ càng sợ cũng may có Ngũ Viên là một tướng tài bên cạnh. Lại có mối thù với Sở thù Vua Sở cái tội giết Cha, giết Anh.

Đúng là :

Sói ăn chẳng được con Lân

Còn thêm thương tích gãy chân què giò

Cọp rình sát cạnh bên nhà

Lao ra chụp nuốt hết đà trở tay

Hạp Lư vận mệnh còn may

Ngũ Viên xây chuyển giải vây an toàn.

Nói về Ngũ Viên nghe quân Sở tiến đánh nước Ngô thì sôi gan nhớ đến mối thù giết Cha giết Anh. Bằng khóc lóc mà tâu với Hạp Lư rằng:

   Nước Việt Trung Nguyên tuy đáng hận, nhưng không có đem quân xâm lược Nước Ngô còn Nước Sở thì khác lúc nào cũng có ý nuốt Nước Ngô Ta. Mối đại họa của Nước Ngô ta chính là con cọp Nước Sở. Không phải con Cọp Việt Trung Nguyên. Xin Đại Vương cho tôi đem quân đánh Sở. Trước là trừ đi hậu họa xâm lăng. Sau là Tôi trả hận mối thù nhà.

Hạp Lư nghe xong rồi nói:

   Sáng mai sẽ bàn.

Qua ngày hôm sau Ngũ Viên và Hạp Lư lại vào yết kiến Hạp Lư. Hạp Lư nói:

   Nhờ sức hai người quân binh Ngô Ta khôi phục lại được hơn nửa, đủ sức chống trả lại với Sở. Nhưng chẳng biết dùng ai làm đại tướng được.

Ngũ Viên và Bá Hi đồng thanh đáp:

   Tùy ý Đại Vương. Dẫu ai làm Đại Tướng chúng tôi cũng xin hết sức.

Hạp Lư nghĩ thầm:

   Ngũ Viên và Bá Hi là người Nước Sở, nếu họ báo thù xong, thì khi nào chịu ra sức giúp cho mình nữa.

Nín lặng không nói gì mà chỉ thở dài. Ngũ Viên hiểu ý nói với Hạp Lư rằng:

   Đại Vương sợ Nước Sở lắm quân nhiều tướng hay sao?

Hạp Lư nói:

   Chính thế.

Ngũ Viên nói:

   Tôi xin tiến cử một người chắc chắn đánh được Sở.

Hạp Lư hớn hở hỏi:

   Nhà ngươi định tiến cử ai?  Tài người ấy thế nào?

Ngũ Viên nói:

   Người ấy họ Tôn tên Vũ , cũng là người Nước Ngô Ta.

Hạp Lư nghe nói Tôn Vũ là người Nước Ngô thì có ý mừng rỡ. Ngũ Viên lại tâu rằng:

   Người nầy tinh thông thao lược, có làm ra mười ba thiên Binh Pháp. Mà không mấy ai biết đến người có tài như vậy quả thật hiếm thấy trên đời. Hiện nay người ấy ở ẩn tại La Phù Sơn.

Hạp Lư nói:

   Nhà ngươi thử triệu đến đây cho ta.

Ngũ Viên nói:

   Người nầy không phải là người tầm thường. Phải đem lễ vật đến đón, thì có thể mới chịu ra giúp.

Hạp Lư y lời, cho người lấy mười nén hoàng kim. Một ngọc bích. Năm viên dạ minh châu. Sai Ngũ Viên đến La Phù Sơn gặp Tôn Vũ.

Ngũ viên vào yết kiến Tôn Vũ. Ngũ Viên nói:

   Hạp Lư nghe danh Tôn Tiên Sinh từ lâu. Lòng vô cùng ngưỡng mộ, sai Ngũ Viên tôi đến gặp Tiên sinh, giải bày những tình ý kính mến của Hạp Lư.

Tôn Vũ thấy lễ vật toàn là những thứ quý hiếm. Biết Hạp Lư thật sự có lòng cầu mình ra giúp. Liền đi theo Ngũ Viên đến Thiên Đô vào yết kiến Hạp Lư.

Hạp Lư nhìn thấy Tôn Vũ khác người biết là một nhân vật kỳ tài hiếm có. Liền xuống thềm chào đón niềm nở mời Tôn Vũ vào cung mời ngồi. Để kiểm chứng tài Tôn Vũ. Hạp Lư hỏi về binh pháp. Hạp Lư hỏi đến đâu Tôn Vũ đáp trôi chảy đến đó. Hạp Lư lấy làm mừng lắm. Tôn Vũ lấy trong người ra một cuốn Binh Thơ gồm 13 thiên binh pháp dâng lên cho Hạp Lư.

Hạp Lư sai Ngũ Viên đọc cả lên một lượt cho triều thần nghe. Ngũ Viên đọc hết một thiên rồi phân tích ngợi khen không ngớt. Mười ba thiên binh pháp ấy như sau:

1)  thủy kế thiên.  2)  tác chiến thiên.  3) mưu công thiên.

4)  quân bình thiên.  5) binh thế thiên.  6)  hư thực thiên.

7) quân tranh thiên. 8) cửu biến thiên. 9) hành quân thiên. 10) địa hành thiên. 11) tưu địa thiên. 12) hỏa công thiên. 13) dụng gián thiên.

Hạp Lư nghe xong khen rằng:

   Nghe binh pháp nầy thời biết cái tài Thông Thiên Triệt Địa của Tôn Tiên Sanh. Nhưng chỉ tiếc thay Ta đây nước nhỏ quân ít, thì biết làm thế nào?

Tôn Vũ nói:

   Binh pháp của Tôi không những biết mượn sức mạnh của trời đất. Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ để đánh giặc mà còn biết sử dụng dân chúng ô hợp. Cho đến đàn bà con gái. Cũng làm nên quân binh hùng mạnh đánh tan quân giặc.

**************

PHẦN 18

Hạp Lư nghe Tôn Vũ nói đàn bà con gái cũng đánh giặc được, thì vổ tay cười nói rằng:

   Sao Tiên Sinh nói viễn vông quá vậy. Lẽ nào đàn bà con gái cũng tập trận được?

Tôn Vũ nói:

   Đại Vương cho tôi nói viễn vông, thì Đại Vương cho phép tôi luyện tập các cung nữ. Nếu không được thời Tôi xin chịu tội.

Hạp Lư liền truyền đem ba trăm cung nữ giao cho Tôn Vũ luyện tập.

Tôn Vũ nói:

   Xin Đại Vương chọn cho hai người làm đội trưởng thì hiệu lệnh mới có thể thi hành được.

Hạp Lư lại truyền gọi hai nàng Sủng Cơ xinh đẹp đến nói với Tôn Vũ rằng:

   Đây là hai Sủng Cơ yêu thích nhất của ta. Không biết có làm đội trưởng được không?

Tôn Vũ nói:

   Làm được. Nhưng việc binh tất phải có thưởng phạt thì hiệu lệnh mới được nghiêm chỉnh. Đây không phải là luyện tập chơi để coi mà luyện tập thật. Nếu không chấp hành mệnh lệnh thì cũng bị chém đầu như thường. Xin Đại Vương cho lập một người Chấp Pháp. Thưởng phạt công minh. Một người làm quân tuyên bố hiệu lệnh. Đại Vương lập ra hai người làm chủ hai đội trống. Làm chủ hai đội thanh la. Và mấy người làm Nha Tướng để chỉ huy cầm gươm giáo đứng trước hai đội quân binh điều hành hai đội quân của mình theo hiệu lệnh. Và chọn ra mấy tướng đứng trên đàn giám sát cho trọng sự thể.

Hạp Lư làm theo Tôn Vũ chọn ra tất cả. Tôn Vũ chia đám cung nữ ra làm hai đội. Tả Đội, Hữu Đội.

Tả Cơ thống lĩnh Tả Đội.

Hữu Cơ thống lĩnh Hửu Đội.

Hai đội quân đều mặc binh phục và cầm binh khí.

Tôn Vũ truyền dạy binh pháp tập luyện, truyền đi truyền lại rất nhiều lần.

Tôn Vũ tuyên bố hiệu lệnh có ba điều:

1:  Không được hỗn loạn hàng ngũ.

2:  Không được cười nói rầm rì.

3:  Không được cố ý làm trái hiệu lệnh.

   Nếu vi phạm không chấp hành là tội chém.

Tôn Vũ giảng đi giảng lại cho tất cả hai đội quân binh cung nữ nhớ. Và hẹn sáng mai hôm sau tất cả đều hội tại giáo trường để tập trận.

Đầu canh năm ngày hôm sau. Hai đội cung nữ đều đến giáo trường để tập trận. Mời Hạp Lư lên đài ngồi xem. Cung Nữ người nào cũng mình mặc áo giáp, đầu đội mũ trụ. Tay phải cầm kiếm, tay trái cầm Mộc.

Tả Cơ và Hữu Cơ thì mặc trang phục như Tướng Quân mỗi người chỉ huy một đội quân. Chờ Tôn Vũ thăng trường điều khiển chỉ bảo lần nữa và bày trận thế. Lại truyền hai lá cờ vàng đưa cho Tả Cơ và Hữu Cơ đứng trước hai đội quân binh phất cơ làm hiệu lệnh. Tả Cơ và Hữu Cơ phất cờ chỉ đâu thời hai đội cung nữ phải chấp hành theo hiệu lệnh mà di chuyển.

Tôn Vũ hạ lệnh rằng:

   Hễ thấy hồi trống thứ nhất, thì hai đội đều đứng cả dậy. Nghe hồi trống thứ hai thì Tả Đội phất cờ tiến quân về phía hữu. Hữu đội phất cờ tiến quân về phía tả. Nghe hồi trống thứ ba, thời cả hai đội ào ào xông tới như thể là đánh với nhau. Hễ nghe thấy hiệu lệnh Thanh La thì lui quân ra trở về vị trí cũ.

Các cung nữ nghe Tôn Vũ truyền dạy hiệu lệnh đều bụm miệng cười.

Tôn Vũ chỉ kiếm ra lệnh. Tức thời hồi trống thứ nhất nổi lên. Các cung nữ kẻ ngồi người đứng không được đều nhau.

Tôn Vũ thấy vậy nói:

   Hiệu lệnh không rõ là tội thuộc người ra lệnh. Diễn tập không đúng là tội quân, tướng. Chấp hành không nghiêm chỉnh là tội cả người ra hiệu lệnh lẫn tướng chỉ huy, cả binh sĩ.

Tôn Vũ liền chỉ kiếm truyền lệnh cho viên quan ra hiệu lệnh một lần nữa. Viên Cổ quân liền đánh một hồi trống lệnh các cung nữ đều đứng dậy nhưng nghiêng bên nầy ngã bên kia xiêu vẹo đổ xô vào nhau rồi nổi lên cười như trước.

Tôn Vũ thấy vậy liền vén hai tay áo, cầm lấy dùi đánh trống ra hiệu lệnh. Tả Cơ và Hữu Cơ cũng như cung nữ đều cười ô lên tất cả. Tôn Vũ nổi giận hai mắt trợn ngược, tóc dựng lên đầu liền gọi viên Chấp Pháp đến.

Viên Chấp Pháp đến quỳ trước mặt. Tôn Vũ nói:

   Hiệu lệnh đã rõ. Diễn tập không đúng. Quân sĩ không nghiêm. Cứ theo pháp thì nên trị như thế nào? Tội gì?

Viên Chấp Pháp nói:

   Nên chém.

Tôn Vũ nói:

   Quân sĩ không thể giết hết được. Ta nên trị tội hai viên đội trưởng.

Tôn Vũ liền cho người bắt hai đội trưởng là Tả Cơ và Hữu Cơ đem ra chém để làm gương.

Các Nha Tướng trông thấy Tôn Vũ hầm hầm nổi giận thì không dám trái lệnh bắt trói Tả Cơ và Hữu Cơ đem ra chém.

Hạp Lư ngồi trên đài trông thấy vội sai Bá Hi cầm cờ xuống nói với Tôn Vũ rằng:

   Đại Vương biết tài dụng binh của Tôn Tiên Sinh rồi Tả Cơ và Hữu Cơ là hai người nâng khăn sửa túi của Đại Vương. Đại Vương rất sùng ái hai người ấy. Thiếu hai người ấy Đại Vương ăn không ngon, xin Tôn Tiên Sinh tha cho.

Tôn Vũ nói:

   Việc quân không phải là việc đùa. Tôi đã chịu mệnh làm tướng rồi. Thì khi ở trong việc quân thì phải có kỷ cương tuyệt đối. Dẫu có mệnh Vua cũng không thể phá hủy kỷ cương đó được. Nếu theo mệnh Vua tha cho kẻ có tội thì làm sao cho quân sĩ phục.

Tôn Vũ liền truyền lệnh chém ngay Tả Cơ và Hữu Cơ đem bêu đầu trước hàng quân. Các cung nữ đều sợ run cầm cập không dám ngẩn đầu nhìn.

Tôn Vũ lại chọn hai người khác ở trong hai đội ấy ra làm hai đội trưởng Tả Đội và Hữu Đội. Rồi cho người nổi trống ra hiệu lệnh. Hồi trống thứ nhất: Tất cả đều đứng dậy cả. Hồi trống thứ hai: Tất cả đều theo hiệu lệnh hai đội quân Tả, Hữu  tiến quân vòng quanh đúng luật, đúng phép. Hồi trống thư ba: Hai đội quân giao chiến, rồi chuyển sang hợp chiến tiến lùi theo lệnh trống. Hiệu lệnh Thanh La nổi lên: Thời hai đội quân cùng lui quân lùi lại. Ba trăm cung nữ, hai đội quân lúc tả lúc hữu, lúc tiến lúc lùi, đều đúng khuôn phép không sai chút nào, trông đẹp mắt vô cùng. Càng diễn tập càng khí thế không khác gì hai đội quân tinh nhuệ của nam nhân. Ai nấy đều im lặng như tờ xem diễn tập không ai là không thám phục cho cái tài của Tôn Vũ.

Đến lúc nầy Tôn Vũ mới sai Viên Chấp Pháp đến tâu với Hạp Lư rằng:

   Quân đội đã được chỉnh tề, không khác gì hai đội quân tinh nhuệ của nam nhân, tùy ý Đại Vương điều khiển. Bấy giờ dẫu Đại Vương bảo nhảy vào đống lửa cũng không ai dám lui tránh.

Hạp Lư tuy biết tài Tôn Vũ, nhưng vì quá thương Tả Cơ và Hữu Cơ. Nên có ý không muốn dùng Tôn Vũ nữa.

Ngũ Viên nói với Hạp Lư rằng:

   Đại Vương muốn đánh Sở làm bá chủ thiên hạ, mong tìm được người Tướng giỏi. Nay Đại Vương đã tìm được mà Đại Vương muốn bỏ không dùng. Thì ngôi Bá Chủ của Đại Vương khó mà thực hiện được. Hơn nữa vị Tướng tài cần nhất là phải một người quả quyết. Đã làm thì không ai có thể ngăn cản nổi. Đã đánh thì tất thắng quân địch sẽ thua. Nếu không có Tôn Vũ thì ai là người dám vượt sông Hoài, sông Tứ, đến sông Hán băng qua nghìn dặm mà đánh Sở bây giờ. Gái đẹp dễ có. Chứ tướng giỏi khó tìm có thể nói khắp thiên hạ tìm đâu ra vị tướng tài như Tôn Vũ. Nay Đại Vương thương hai nàng ấy. Mà bỏ mất một tướng giỏi thời chẳng khác nào tiếc đám cỏ xấu. Mà bỏ mất đám lúa tốt không đáng tiếc lắm sao. Mong đại Vương nghĩ lại.

Hạp Lư nghe Ngũ Viên giải bày liền tỉnh ngộ bằng phong cho Tôn Vũ làm thượng tướng quân. Hiệu là Quân Sư giao phó cho việc đánh Sở. Một hôm Ngũ Viên hỏi Tôn Vũ rằng:

   Phải tiến đánh quân Sở từ chỗ nào?  Bắt đầu từ đâu?

Tôn Vũ nói:

   Phàm việc binh, trước hết phải giữ gìn mặt trong. Cũng như làm cho nội lực hùng hậu. Rồi mới có thể đánh mặt ngoài. Gồm thâu những nước nhỏ, mở rộng đất đai cũng như lương thực quân binh. Tiến đánh nước lớn hùng mạnh như Nước Sở. Tôi nghe nói em Vương Liêu là Yểm Dư đang ở nước Từ. Chúc Dung đang ở nước Chung Ngô. Hai người ấy đều muốn báo thù. Lúc nào cũng tìm cách lật đổ triều chính Đại Vương. Muốn làm nên nghiệp lớn nay Ta phải trừ bỏ hai người nầy, thì Nước Ngô mới trụ vững. Nhân cơ hội Yểm Dư ở Nước Từ. Chúc Dung ở nước Chung Ngô. Ta Gồm thâu nước Chung Ngô và Nước Từ. Quân Ngô hùng mạnh khi ấy sẽ tiến đánh quân Sở.

Ngũ Viên khen phải bằng tâu với Hạp Lư. Hạp Lư nói:

   Nước Từ, nước Chung Ngô đều là nước nhỏ Ta sai sứ đến bảo bắt hộ, tất họ phải theo lời.

Hạp Lư liền một người sang Nước Từ bắt Yểm Dư. Một người sang nước Chung Ngô bắt Chúc Dung.

Vua Từ là Chương Vũ không nở để cho Yểm Dư chết, mới mật sai người báo cho Yểm Dư trốn đi. Trên đường chạy trốn Yểm Dư gặp được Chúc Dung. Hai người bàn nhau chạy sang Nước Sở.

Văn Hóa Phương Bắc ở vào thời điểm ấy là thứ văn hóa độc hại cạnh trạnh tiêu diệt lẫn nhau. Không kẻ gì đến anh em dòng họ. Nói gì đến người dưng vì cái lợi mà bất chấp tất cả. Anh Em ruột thịt chém giết tàn sát lẫn nhau mà cho là chính nghĩa, như Anh Em Chú Bác Vua Ngô chẳng hạn. Nói chung là hầu hết văn hóa các nước Phương Bắc là như vậy. Phương Nam mất đi Văn Hóa Cội Nguồn. Văn Hóa Phương Bắc tràn sang làm hại.

**************

PHẦN 19

Nói về  Yểm Dư và Chúc Dung chạy sang Nước Sở.

Sở Chiêu Vương mừng nói:

   Hai Công Tử ấy đều là thù sâu oán hận Hạp Lư. Ta nhân lúc họ cùng khốn mà biết thu nạp, giúp ta đánh Ngô.

Bèn cho hai Công Tử Yểm Dư và Chúc Dung ở đất Thư Thành Thao luyện binh mã chống lại Nước Ngô.

Hạp Lư nghe Nước Từ. Nước Chung Ngô thả Yểm Dư, Chúc Dung trốn chạy sang Nước Sở, thao luyện binh mã chống trả lại Nước Ngô. Hạp Lư vô cùng tức giận bằng khởi binh chinh phạt. Có cớ nuốt lấy Nước Từ, Nước Chung Ngô. Hạp Lư bằng sai Tôn Vũ đem quân đi đánh. Vua Từ Chương Vũ đánh không lại Tôn Vũ bằng chạy sang Nước Sở.

Tôn Vũ lại đem quân sang đánh Nước Chung Ngô. Nước Chung Ngô đánh không lại bị Tôn Vũ bắt sống đem về nạp cho Vua Ngô Hạp Lư trị tội. Quân binh Nước Từ, Nước Chung Ngô quy hàng đầu nhập vào quân Ngô rất đông có hơn 3 vạn. Quân Ngô vơ vét tất cả lương thực Nước Từ. Nước Chung Ngô. Làm cho Nước Ngô mạnh về quân lực, mạnh về lương thực đủ sức đánh Nước Sở.

Tôn Vũ từ khi thôn tính Nước Từ, nước Chung Ngô ngày đêm thao luyện quân binh. Bất ngờ bí mật khởi binh đánh Thư Thành. Làm cho Yểm Dư, Chúc Dung trở tay không kịp. Yểm Dư, Chúc Dung ngày đêm luyện tập quân sĩ. Bổng nghe quân Ngô tiến đánh thì quân Ngô đã tiến tới Thư Thành rồi. Quân Ngô tràn vào Thư Thành như nước vỡ bờ.

Yểm Dư, Chúc Dung thúc quân binh chống trả. Yểm Dư, Chúc Dung đánh không lại. Tôn Vũ giết chết Yểm Dư, Chúc Dung. Chiếm lấy Thư Thành quân Sở đầu hàng vô số. Quân Ngô càng thêm hùng mạnh lớn lên như thổi.

Hạp Lư như dều gặp gió đánh đâu thắng đó. Thừa thắng Hạp Lư muốn tiến vào Sính Đô.( Kinh Đô Nước Sở ).

Tôn Vũ nói với Hạp Lư rằng:

   Thời Cơ chưa đến, lại thêm quân binh đang mỏi mệt chưa thể chiếm lấy Nước Ngô được.

Ít hôm sau Tôn Vũ rút quân về. Ngũ Viên hiến kế rằng:

   Phàm ít mà thắng được nhiều. Yếu mà thắng được mạnh là tất phải hiểu cái lẽ “dĩ vật đãi lao”. Tấn Diệu Công ngày xưa chia làm ba đạo quân, thay phiên nhau mà đánh làm cho Sở phải khó nhọc. Mới đánh được Sở ở Đất Tiêu, Đất Ngư. Kẻ cầm quyền ở Nước Sở ngày nay đều là những phường ngu dốt không biết gì. Xin Đại Vương chia làm ba đạo quân để sang quấy nhiễu Nước Sở. Cứ thay phiên nhau mà quấy phá. Quân Sở ồ ạt kéo đến, thì quân Ta lại rút về. Quân Sở rút về thì quân Ta lại tiến đánh. Cứ thay đổi nhau đánh nước Sở không cho Nước Sở được yên. Khiến cho Sở Chiêu Vương tinh thần mệt mỏi. Quân Binh chiến đấu không còn hăng say. Bất ngờ quân Ta dồn toàn lực lượng, tấn công thần tốc. Tức là phá vỡ được thế trận liên kết phòng thủ của quân Sở. Quân Ta tiến vào Sính Đô tiêu diệt Sở Chiêu Vương.

Hạp Lư khen phải, chia làm 3 đạo quân. Thi nhau tiến quân sang quấy nhiễu bờ cõi Nước Sở. Chiếm lấy các Quận Huyện tấn công ồ ạt làm như tiến đánh Sính Đô. Sở Chiêu Vương lo sợ ăn ngủ không yên. Sở Chiêu Vương thấy quân Ngô ồ ạc kéo sang tấn công liền đốc toàn lực ra tiêu diệt quân Ngô. Quân Ngô lại rút quân về. Quân Binh tướng tá quân Sở mệt mỏi vô cùng.

Đây nói về Việt Vương Doãn Thường tuy đánh bại quân Ngô làm cho Hạp Lư kinh hồn bạc vía. Doãn Thường không lấy đó làm tự đắc mà có ý cầu hòa với quân Ngô. Doãn Thường là một nhà quân sự chính trị kỳ tài. Sợ Hạp Lư trả thù thì bất lợi cho Nước Việt Trung Nguyên. Phương Bắc Hạp Lư đánh vào. Phương Nam Hùng Vương đánh ra, thì Nước Việt Trung Nguyên khó mà chống đở. Doãn Thường bằng sai sứ cầu hòa mang vàng bạc châu báu dâng lên Hạp Lư. Hạp Lư vì thế mà gở lại thể diện thua đau thua đớn.

Hạp Lư nói:

   Thế ra Nước Việt Trung Nguyên cũng biết sợ Nước Ngô Ta.

Hạp Lư Vua Ngô tuy căm hận Việt Vương Doãn Thường nhưng cũng nén lòng không gây sự nữa. Việt Vương Doãn Thường vì thế mà ngăn chặn nổi quân Văn Lang ngày đêm tấn công ra Bắc Văn Lang, tức là Việt Trung Nguyên.

LÚC BẤY GIỜ Nước Văn Lang chỉ còn lại Trung Văn Lang, Nam Văn Lang. Cuộc chiến Nam Bắc Văn Lang phải nói là vô cùng khốc liệt. Hết năm nầy đến năm khác. Hai bên tổn tướng hao quân dân chúng khổ sở vô cùng.

Hùng Việt Vương: Tuân Lang. Lên ngôi Quốc Vương 40 năm tuổi trên 90 đầu óc tuy còn linh hoạt nhưng không bằng như khi còn trẻ nên giải quyết tình hình đất nước không được trôi chảy. Tình hình đất nước càng thêm hỗn loạn. Đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng. Vương, Quan mỗi người mỗi ý không thống nhất với nhau. Luật pháp luôn thay đổi, những gì có lợi cho dân thì Vương, Quan không thực hiện. Mà chỉ thực hiện những gì Luật Pháp thay đổi có lợi cho Vương, Quan mà thôi. Dân Chúng vì thế ngày càng bất mãn cho thể chế phi dân chủ Độc Tài Độc Trị, thể chế xin cho bất lợi cho cuộc sống của dân.

Hùng Việt Vương: Tuân Lang. Không những không cũng cố được sức mạnh đoàn kết dân tộc vì Văn Hóa Cội Nguồn nền Quốc Đạo không còn. Vương, Quan Đạo Đức xuống cấp trầm trọng tất cả là do Lạc Cội mất Nguồn mà ra. Một dân tộc đã Lạc Cội mất Nguồn, thì mạnh ai nấy lo chia bè rẽ phái không mấy ai nghĩ đến non sông Tổ Quốc nữa. Mối nguy mất nước càng ngày càng hiện rõ. Văn Hóa Cội Nguồn không còn. Thì Nước Văn Lang bao trùm lấy một màn u minh không còn ánh sáng Quyền con người Công Bằng Bình Đẳng lấy dân làm gốc nữa. Mà chỉ thấy bóng đêm Ai vì quyền lợi nấy bành trướng chủ nghĩa Cá Nhân Độc Tài Độc Trị khủng bố tinh thần dân chúng. Đàn áp bóc lột thậm tệ. Công Bằng Bình Đẳng chỉ là lời nói để mà nghe. Ở vào thời điểm Vương Quan chỉ biết bạo hành. Thì dân chúng cũng đi vào hỗn loạn. Tạo ra thời cơ cho các thế lực phản động. Như Cha Con Doãn Thường, nổi lên cướp lấy Bắc Văn Lang. Được dân Bắc Văn Lang ủng hộ đi theo thế lực Cha Con Doãn Thường ngày càng lớn mạnh. Bắc Văn Lang không những không chiếm lại được. Trung Văn Lang cũng khó giữ yên khi quân Việt Trung Nguyên lớn mạnh chiếm lấy lần Trung Văn Lang, khi Bắc Văn Lang đã rơi vào Phương Bắc.

Sau khi Việt Vương Doãn Thường đánh bại quân Ngô xâm lược, thì uy tín Việt Vương Doãn Thường tăng lên gấp mười lần, được dân chúng Bắc Văn Lang sùng bái cho Việt Vương Doãn Thường là Chính Vương anh Hùng vĩ đại. Thay thế Niên Đại Hùng Vương kéo dài hơn mấy nghìn năm. Đã bị xơ cứng thoái hóa. Doãn Thường là con Cáo Già, sức mạnh Doãn Thường là tay chơi chữ sử dụng ngôn luận tài tình. Những từ ngữ nào đẹp đẻ thì làm của mình. Những từ ngữ nào xấu xa thì trao cho thể chế Độc Tài Độc Trị Vua Hùng. Dân chúng vì thế luôn ủng hộ Doãn Thường chiếm ưu thế hoàn toàn về mặt chính trị. Sự đóng tuồng kích bác, công kích Hùng Việt Vương Tuân Lang, trên khắp mọi mặt Lao Động, Văn Hóa, Nghệ Thuật thậm chí cả trong Đồng Bóng, xin xăm, bói quẻ, mê tín dị đoan. Chuyện có nói không, chuyện không nói có. Đã đạt đến trình độ như thật như thiệt. Làm cho dân chúng Bắc Văn Lang chán ghét Hùng Việt Vương Tuân Lang nổi dậy chống Vua Hùng. Vì thế Bắc Văn Lang khó mà lấy lại được nữa.

Việt Vương Doãn Thường thành công trên sự nghiệp nói láo, nói xấu, Thắng xung Vua thua cho là Giặc nên sự nghiệp không tồn tại được lâu. Con Cáo Già dù tài tình che dấu cái đuôi tới đâu cuối cùng cũng lộ ra. Khi dân chúng phát hiện cái đuôi của loài Yêu Tinh Quỉ Dữ thì mọi chuyện đã rồi. Dân chúng Bắc Văn Lang chỉ biết ngậm đắng nuốt cay với mô hình thể chế Độc Tài Độc Trị kiểu mới. Những gì Cha Con Doãn Thường nói chỉ là cái bánh vẽ để nghe để nhìn không đi vào cuộc sống được. Làm cho xã hội chậm phát triển dân chúng trở nên ngu dốt. Đạo Đức xuống cấp kết cuộc trở thành nô lệ Phương Bắc. Thời Chu Nguyên Vương Nhà Chu. Bắc Văn Lang trở thành đất Phương Bắc, Trung Nguyên Trung Thổ phương Bắc không cách gì lấy lại được nữa thảm thay.

Quốc Tổ Vua Hùng dựng lên nước Văn Lang hùng mạnh rộng lớn không phải bằng gươm đao giáo mác. Mạnh được yếu thua thắng là vua thua là giặc. Mà là dựng lên nước Văn Lang rộng lớn bằng con đường Văn Hóa cội Nguồn. Trở thành nền quốc Đạo dân tộc. Hiến Pháp Văn Lang. Nhờ nền Quốc Đạo dân tộc mà nhà nước Văn Lang kéo dài Độc Lập 2701 năm 79 năm dựng nước Văn Lang 2622 năm thừa kế giữ nước Văn Lang. Nền Quốc Đạo Văn Lang. Chính là nền Văn Hiến Văn Lang. Hiếp Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Văn Lang. Nền quốc Đạo trị quốcanCó một không hai trên trái đất. Đã đi vào thất truyền. Và trở lại sau năm nghìn năm cũng chẳng khác gì mùa xuân đi qua mùa xuân trở lại văn Hóa Cội Nguồn biến mất. Văn Hóa Cội Nguồn trở lại. Biến hiện theo chu kỳ cũng như mùa xuân qua đi mùa xuân trở lại không có gì là lạ cả.

**************

PHẦN 20

Đây nói về Vua Ngô Hạp Lư Phương Bắc ở bên kia sông Dương quân lực hùng mạnh nhận định thời cơ đánh Sở đã đến. Nước Sở cũng ở Phương Bắc giáp ranh đông Bắc Văn Lang, bên kia sông Dương, sau nầy là sông Trường Giang. Sính Đô Nước Sở gần Sông Hán.

Nước Ngô Vua Hạp Lư với chiêu bài ly gián cắt đức quan hệ giữa Việt Trung Nguyên với Sở, bằng cho người sang Phương Nam bên kia sông Dương tức là Nước Việt Trung Nguyên mượn quân đánh Sở. Mục đích là cắt đứt giao tình giữa Nước Sở và Việt Trung Nguyên. Nếu Nước Việt Trung Nguyên giúp quân Ngô chinh phạt Sở thì làm cho quân Ngô thêm mạnh. Lại không lo Nước Việt Trung Nguyên thừa cơ hội đánh Nước Ngô. Cũng như cắt đức giao hảo giữa Việt Trung Nguyên và Sở.

Việt Vương Doãn Thường quá hiểu thâm tâm hiểm độc của Hạp Lư một mũi tên bắng trúng hai con chim. Cái lợi gồm thâu về cho Ngô tất cả, vì hiểu như thế Việt Vương Doãn Thường không đáp ứng lời yêu cầu mượn quân của Hạp Lư tùy cơ ứng biến.

Ở vào thời điểm nầy Quân Ngô đã trở nên hùng mạnh. Có thể nói chinh Đông phạt Tây không khó là nhờ có Tôn Vũ và Ngũ Viên.

Hạp Lư sai Tôn Vũ, Ngũ Viên, Bá Hi chỉ huy đánh Sở đã chiếm được Đất Lục, Đất Tìm. Chỉ chờ quân Việt Trung Nguyên kéo đến là đánh thẳng vào Sính Đô chiếm lấy Nước Sở. Không ngờ Doãn Thường không chịu tuyệt giao với Sở nên không chịu phát binh giúp Hạp Lư đánh Sở.

Hạp Lư tức sôi gan quát tháo ầm ĩ:

   Chưa thể đánh thẳng vào Sính Đô tiêu diệt Sở được.

Định kéo quân đánh Việt Trung Nguyên lần nữa. Tôn Vũ can rằng:

   Năm nay tinh tuế Việt Trung Nguyên rất là hưng thịnh ta đánh Nước Việt Trung Nguyên tất không lợi.

Hạp Lư nhớ đến cái thù thua nhục nhã trước đây nên không nghe lời Tôn Vũ kéo đại binh tràn sang Việt Trung Nguyên. Cướp phá dân lành, cướp lấy của cải. Vàng ngọc Trâu, Bò, Dê, Lợn, Gà, Vịt, Lúa gạo, Muối, Mắm, Vải lụa. Nhiều vô số kể. Coi như một cuộc ra quân thắng lợi về ăn cướp.

Chính nghĩa quân Ngô chính là đây

Cướp đêm chưa đã lại cướp ngày

Đại Vương đại cả lòng gian ác

Giết người cướp của chẳng gớm tay.

Hạp Lư nhìn vào Bắc Văn Lang Việt Trung Nguyên nói:

   Thằng xảo trá Doãn Thường Kia. Ngươi chỉ gạt được người dân Bắc Văn xưng là chính Vương. Như thật ra ngươi cũng chỉ là phường ăn cướp. Ngươi ăn cướp bắc Văn Lang của các Vua Hùng. Có ngày Ta sẽ chiếm lấy Bắc Văn Lang. Cướp dân chúng đất đai của ngươi. Cho ngươi đầu lìa khỏi cổ linh hồn ngươi cũng chỉ là một con quỉ đầu thai. Chính Vương con khỉ gì.

Hạp Lư cho quân cướp lấy của cải dân chúng Việt Trung Nguyên nhiều vô số rồi rút quân về nước. Trong lúc đàm đạo.

Tôn Vũ nói riêng với Ngũ Viên rằng:

   Đất Phương Nam Văn Lang. Tuy không còn Văn Hóa Cội Nguồn nền Quốc Đạo dân tộc. Nhưng truyền thống anh linh Tiên Rồng chưa biến mất. Cha Con Doãn Thường tuy có nguồn gốc từ Phương Bắc. Nhưng đã trải qua nhiều đời thành dân Văn Lang. Nên được dân Văn Lang suy tôn ủng hộ. Không phải dễ đánh chiếm như Phương Bắc đâu. Truyền thống anh linh Tiên Rồng không thể nào tưởng tượng được. Hơn mấy nghìn năm Phương Bắc biết bao lần xâm lược nhưng đều bị đánh bại. Có đi không có ngày về.

Ngũ Viên nói:

   Tôi cũng nghĩ như vậy nên khuyên Đại Vương không nên đánh chiếm Việt Trung Nguyên Bắc Văn Lang. Đại Vương không nghe sít chút nữa thì bỏ mạng nơi xứ người lại đi tiêu hơn 20 vạn quân. Có thể nói Bắc Văn Lang Việt Trung Nguyên là miếng mồi quá béo bở. Ai mà không muốn chiếm lấy. Đại Vương cũng như bao nhiêu vị Vương khác cũng tham vọng vô bờ bến. Không chiếm lấy được Việt Trung Nguyên thì ăn không ngon ngủ không yên.

Tôn Vũ nói:

   Sau bốn mươi năm nữa, nước Việt Trung Nguyên sẽ cường thịnh. Thì Nước Ngô sẽ đi vào Suy Vong. Các Nước Phương Bắc sẽ tùng phục Việt Trung Nguyên. Khi Nước Việt Trung Nguyên xác nhập về Phương Bắc. Mà Quốc Tổ Vua Hùng đã nói trước cách đây mấy nghìn năm. Quốc Tổ Hùng vương là Chí Tôn Thiên Đế đầu thai. Khai ra nền Quốc Đạo Văn Lang thậm thâm vi diệu nhưng rất tiếc đã bị thất truyền.Vì thời ấy chữ viết thô sơ nên không lưu chép để lại kinh luân được. Nếu không thất truyền Văn Hóa Cội Nguồn thời Phương Bắc không những không làm gì nổi Phương Nam, mà còn bị Phương Nam khống chế.

Đây nói về Sở Chiêu Vương. Quyết tâm tiêu diệt Nước Ngô. Vì Nước Ngô không tùng phục Nước Sở mà còn dòm ngó Sở. Văn Hóa Phương Bắc là thứ Văn Hóa chiến tranh Văn Hóa của sự tham lam bành trướng. Văn Hóa của sự tranh Bá tranh Hùng. Mạnh được yếu thua, thắng xưng Vua, thua cho là Giặc. Lúc nào cũng muốn thôn tính chiếm đoạt nước khác. Cướp lấy tài sản vàng bạc châu báu đem về làm của riêng cho mình. Nói về sự giàu có Nước Ngô cũng phải kể là một nước có nhiều châu báu nên nước Sở luôn dòm ngó Nước Ngô. Chờ có cơ hội là thôn tính Nước Ngô chiếm đoạt đất đai tài sản.

Không ngờ nước Ngô có nhiều nhân tài ra đời như Tôn Vũ, Ngũ Viên làm cho Nước Ngô hùng mạnh nhanh chóng. Không những quân Sở thua liên miên trong các cuộc giao tranh đụng độ. Mà còn bị quân Ngô chiếm lấy nhiều đất đai quan trọng của nước Sở.

Sở Chiêu Vương lấy làm tức lắm. Bằng sai Quan lệnh nước Sở là Nang Ngõa theo lệnh của Sở Chiêu Vương đem quân đánh Ngô chiếm lấy lại những đất đã bị quân Ngô chiếm đóng. Như đất Lục, đất Tiền địa thế chiến lược quan trọng của nước Sở không những về mặt lúa gạo, mà cả về quân sự.

Hạp Lư sai Tôn Vũ, Ngũ Viên đem quân chận đánh nghinh chiến. Với tài năng điều binh khiển tướng của Tôn Vũ và Ngũ Viên. Nang Ngõa đánh không lại quân Sở bị quân Ngô đánh cho tan tác. Lại tiến quân chiếm thêm đất Sào, bắt được tướng Sở là Can Phồn đem về giao nạp cho Hạp Lư.

Hạp Lư không lấy đó làm vừa lòng nói rằng:

   Có đánh chiếm lấy được bao nhiêu đất Sở đi nữa. Bắt được bao nhiêu tướng Sở đi nữa. Nhưng chưa chiếm được Sính Đô thì cũng vô công.

Ngũ Viên nói:

   Đại Vương đừng lo. Thần lúc nào cũng không quên được Sính Đô đâu. Chỉ vì Nước Sở đang cường thịnh không nên khinh thường quân địch. Dẫu nước Sở hiện tại không được lòng các thuộc quốc. Nhưng các trấn chư hầu thuộc quốc chưa ai ghét cả. Thần nghe nói Nang Ngõa là vị quan tham ô chỉ biết vàng bạc châu báu, hể thấy ai có báu vật thì chiếm cho bằng được. Các nước thuộc quốc nước Sở cũng sẽ sinh biến. Lúc nầy Đại Vương nên luyện tập binh mã, tích lũy lương thực. Chờ thời cơ một số thuộc quốc bất mãn nước Sở là khởi binh tấn công diệt Sở.

Hạp Lư cho là phải. Để có đủ binh hùng tướng mạnh có cả hai mặt Bộ Binh và Thủy Binh. Hạp Lư giao cho Tôn Vũ luyện tập Thủy Quân. Còn Ngũ viên thời luyện tập Bộ Binh. Cũng như ngày nào cũng cho quân thám báo dọ thám tình hình Nước Sở. Nắm bắt thông tin thật chính xác.

Trong khi ấy ở Phương Nam quân Văn Lang và Quân Việt Trung Nguyên ngày đêm đánh nhau dữ dội. Giành nhau từng tất đất. Lại nói về Việt Vương Doãn Thường thấy tình hình Phương Bắc Nhà Chu càng ngày càng mất đi quyền lực, mà quyền lực đều nằm hết các Trấn chư Hầu hùng mạnh như Tề, Tấn, Sở.

Nhất là Sở đang lúc hưng thịnh. Mà Sở lại đáng chiếm nước Ngô. Hạp Lư vì thế mà khởi binh diệt Sở những trận giao tranh xảy ra kinh hồn. Việt Vương Đoãn Thường yên tâm Bắc không còn sợ Ngô vì Ngô – Sở đang giao tranh với nhau giành nhau từng tất đất.

Việt Vương Doãn Thường cho rằng đây là lúc dốc toàn lực lượng tấn công vào Trung Văn Lang chiếm lĩnh các Châu Bộ, Quận, Huyện. Bằng bổ sung lực lượng cho ba cánh quân đang trấn giữ không cho quân Văn Lang tiến đánh ra Bắc. Mà còn tổng động binh thôn tính Trung văn Lang.

Hùng Việt Vương Tuân Lang được tin báo là Quân Bắc Việt, Việt Trung Nguyên tổng tấn công vào Trung Văn Lang. Hùng Việt Vương Tuân Lang lấy làm lo bằng thu bạo quân binh chuẩn bị cho trận chiến, khi cần thiết điều động quân binh bổ sung vào Quân Văn Lang đang trấn giữ Bắc Trung Văn Lang.

Có thể nói đây là cuộc nội chiến lớn nhất kể từ khi khai lập nước Văn Lang Đất nước Văn Lang chia cắt Nam – Bắc, tàn sát lẫn nhau bỡi do mất Cội mất Nguồn mà ra. Cuộc chiến đẩm máu đầy đau thương chằng lấy gì làm vinh dự. Nhưng người ngoài cuộc thì sáng, chẳng hạn như bậc tu Tiên Đắc Đạo, thì ngán ngẫm cho cuộc nội chiến Đồng Bào Bách Việt tương tàn lẫn nhau nên các bậc Tu Tiên Đắc Đạo chẳng muốn giúp bên nào mà chỉ biết thở than cho kiếp nạn Văn Lang. Còn Việt Nam con Cháu Tiên Rồng chúng ta ngày nay thì sao. Hãy xem lại cuộc chiến Nam – Bắc phân tranh. Nếu không khéo đi đến hòa hợp dân tộc, thì không khác gì thời xưa đánh nhau cho hung cuối cùng cũng dâng hai tay Việt Trung Nguyên cho nhà Chu Phương Bắc. Còn Việt Nam thì sao? Không thể làm thế dâng nước Việt Nam cho bành trướng Trung Quốc?

**************

PHẦN 21

Lại nói về Phạm Đổ Chinh sau khi bị Văn Khánh đánh bại rút tàn binh chạy về Lộc Điền cũng cố lực lượng trấn giữ Bàu Sen núi Bà. Những cuộc giao tranh quân Nam – Bắc hết năm nầy đến nam khác xương trắng chất chồng khắp nơi. Phạm Đổ Chinh được lệnh tiếp nhận thêm 10 vạn quân, mười tướng tài tổng tấn công vào Trung Văn Lang chiếm lấy Bạch Lang Châu, Tiên Châu, Vân Châu. Hầu làm cho quân Văn Lang khiếp sợ lôi kéo dân chúng Trung Văn Lang về với Việt Trung Nguyên. Phạm Đổ Chinh được lệnh ngày đêm thao luyện quân binh chuẩn bị cho cuộc đại tấn công vào Trung Văn Lang. Với thế mạnh nhiều tướng tài quân binh lên tới gần 20 vạn Phạm Đổ Chinh như con hổ mọc cánh.

Lại nói về Bạch Lang Châu, Chủ Tướng Võ Hầu, ba cha con Tri Phủ Thạch Trung Sơn, tiêu diệt quân loạn tặc phản loạn chiếm lấy lại Bạch Lang Châu. Từ đó về sau ra sức cũng cố thành Bạch Lang Châu mỗi năm một thêm kiên cố, Võ Hầu mấy lần tiến quân ra Bắc đánh chiếm các quận huyện Việt Trung Nguyên như Huyện Lộc Điền, Huyện Thuận An, Huyện Lâm Khê. Nhưng chiếm được rồi lại mất hao quân tổng tướng. Nam Bắc phân tranh cứ thế kéo dài hơn 15 năm dân chúng Bách Việt Văn Lang khốn khổ vô cùng.

Thơ rằng :

Khốn khổ nào hơn khổ chiến tranh

Đói khổ chồng lên lẫn tòng quân

Sa trường ngã gục phơi thân xác

Nội chiến tương tàn Nam Bắc chinh

Vinh nhục, nhục vinh đường mây khói

Đồng Bào tàn sát bóng u minh

Phải chăng quốc nạn  do mất gốc

Lạc Nguồn  lạc lối biến Yêu Tinh.

Một hôm Võ Hầu cùng các tướng lĩnh nhìn lên bầu trời thấy có điềm khác lạ chẳng lành. Võ Hầu liền cho mời Đạo Sĩ đến xem cho một quẻ.

Đạo Sĩ bói xong một quẻ nói:

   Bẩm chủ Tướng quẻ nầy không tốt nhưng Thiên Cơ không nói trước được.

Đạo Sĩ liền ngâm bài thơ:

Từ thuở Cha Ông mở đất trời

Trảm yêu, diệt quỉ khắp nơi nơi

Mặt trời Quốc Giáo ôi lặng mất

Văn Lang tăm tối họa đầy vơi

Ráng giữ lòng Trung vì Tổ Quốc

Siêu sanh Thiên Giới mãi dạo chơi

Huyền cơ đã thế đành phó thác

Chết sống do trời chỉ thế thôi.

Võ Hầu cũng các tướng lĩnh nghe Đạo Sĩ ngâm bài thơ nhưng không hiểu gì cả. Võ Hầu cùng các Tướng Lĩnh bàn về những câu thơ kỳ lạ thì có quân thám báo từ biên ải vào báo:

   Bẩm chủ tướng. Quân loạn tặc phản loạn đã vượt qua Lâm Khê hình như là chúng tiến đánh Bạch Lang Châu chúng Ta.

Võ Hầu nghe báo liền tức tốc một mặt cho người đến Tiên Châu báo cáo cho Văn Khánh thống soái biết một mặt triệu cha con Tri Phủ Thạch Trung Sơn đến. Dân chúng Bạch Lang Châu nghe tin quân loạn tặc phản loạn Bắc Việt sắp kéo đến đánh chiếm châu thành thời xào xáo cả lên. Tri Phủ Thạch Trung Sơn phát loa kêu gọi dân chúng trong thành Bạch Lang châu bình tỉnh.

Qua ngày hôm sau Các Quan Tướng cùng cha con Tri Phủ Thạch Trung Sơn ở trên thành nhìn thấy xa xa hướng Bắc khói bụi mịt mù không bao lâu thời thấy quân loạn tặc phản loạn đông như kiến ước lượng trên dưới 20 vạn quân, khi còn cách thành Bạch Lang Châu không xa thời đạo quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên chia làm ba đạo quân bao vây thành Bạch Lang Châu. Dựng trại liên hoàn chuẩn bị cho cuộc tấn công đánh chiếm thành Bạch Lang Châu.

Trong khi ấy quân binh Bạch Lang Châu chỉ hơn tám vạn nhìn thấy quân loạn tặc phản loạn đông như kiến thì lo lắng không yên. Không đợi lâu Phạm Đổ Chinh cho người đến Bạch Lang Châu khiêu chiến. Ở trên thành cha con Tri Phủ Thạch Trung Sơn nhìn thấy kẻ đến khiêu chiến dẫn theo một nghìn quân là một trung niên theo cờ xí thời biết đó là một trong những trấn chư hầu theo Việt Vương Doãn Thường Vua Hoa Việt trông có vẻ khoẻ mạnh hung tợn.

Thạch Trung Sơn nói:

   Quân loạn tặc phản loạn từ xa kéo tới, ta phải đánh thắng trận đầu làm nhục nhuệ khí quân loạn tặc đi.

Võ Hầu nói:

   Có tướng nào ra lấy đầu thằng loạn tặc đó không?

Võ Hầu vừa lên tiếng hỏi, thời có một vị tướng lên tiếng nói:

   Bẩm chủ tướng để thằng giặc cỏ đó cho tôi.

Người vừa lên tiếng ấy chính là Thạch Công. Thạch Công nghĩ đến cảnh vợ bị quân loạn tặc phản loạn làm nhục hiếp dâm làm cho tan nhà nát cửa thì sôi máu muốn bằm nát quân loạn tặc phản loạn ra tương liền xin ra trận đầu chém giết cho đã tay.

Thạch Công điểm một nghìn quân mở cửa thành ra trận Thạch Công phi ngựa tới quát:

   Xem đường đao của ta đây.

Thạch Công chém một nhác xuống đầu tướng giặc. Tướng giặc múa trường giáo chống đở choang đinh tai nhức óc quân Bạch Lang Châu đánh trống dộng chiêng ầm ĩ quân phản loạn cũng không kém khua trống khua chiêng dậy trời. Thạch Công cùng tướng giặc đánh nhau trên 50 hiệp bất phân thắng bại.

Tướng giặc vua Hoa Việt bất ngờ quay ngựa bỏ chạy, Thạch Công rượt ngựa theo Vua Việt Hoa liền ném lên không một vật tức thời khói đen mù trời pha lẫn chất gây mê Thạch Công hít phải liền xây xẩm mặt mày Vua Hoa Việt đảo ngựa nhanh như chớp chém Thạch Công một nhát chết ngay tại chỗ.

Quân loạn tặc phản loạn thắng thế ào ào xuông tới chém quân Bạch Lang Châu như chém chuối. Ở trên thành Thạch Trung Sơn thấy con tử nạn thét lên một tiếng oại máu ngã ngụy. Thạch Kế, Thạch Thừa không khỏi kinh hoàng.

Võ Hầu không ngờ tướng giặc lợi hại như vậy chưa biết phải làm sao. Thì có một tướng lên tiếng nói:

   Để tôi ra giết thằng giặc ấy cho.

Người lên tiếng chính là Nguyên Tôn Chí. Nguyên Tôn Chí dẫn theo một trăm kỵ binh phi ngựa nhanh ra thành xáp chiến. Quân Bạch Lang Châu lấy lại khí thế chống trả đánh quân loạn tặc phản loạn tơi bời. Vua Hoa Việt biết không đánh lại Nguyên Tôn Chí bằng quay ngựa chạy dài. Nguyên Tôn Chí không đuổi theo mà thu quân vào thành.

Qua hôm sau quân loạn tặc đến khiêu chiến. Tướng lĩnh của quân loạn tặc phản loạn không phải là Vua Hoa Việt mà là một tướng khác trông có vẻ oai phong lắm. Lúc nầy Thạch Trung Sơn hầu như khôi phục công lực trở lại nghĩ đến cảnh quân loạn tặc phản loạn giết chết Thạch Công xác còn phơi thây ngoài chiến trường chưa lấy xác được bằng nói:

   Bẩm chủ tướng, chủ tướng để ba cha con tôi ra băm nát quân thù trả hận cho con tôi.

Võ hầu nói:

   Tri Phủ đại nhân hết sức cẩn thận.

Ba cha con Tri Phủ Thạch Trung Sơn thống lĩnh hơn một nghìn quân binh mở cổng thành lao ra đối mặt với quân phản loạn. Thạch Trung Sơn tuy lớn tuổi nhưng oai phong lẩm liệt phi ngựa tới chỉ mặt tướng loạn tặc phản loạn hét lớn:

   Ngươi là dân tộc Bách Việt Văn Lang sao phản bội lại các Vua Hùng.

Tướng giặc nhìn lên trời cười ha hả:

   Thằng Trung Sơn ngu ngốc kia nghe cho rõ đây không ai phản lại các Vua Hùng, mà chỉ trừ khử những tham ô quan lại mà thôi.

Thạch Trung Sơn quát:

   Ngươi nói không phản bội các Vua Hùng sao ngươi theo cha con Doãn Thường làm phản.

Tướng giặc nói:

   Thằng Trung Sơn ngu ngốc kia. Doãn Thường tôn thờ Quốc Tổ Vua Hùng, ta không theo Việt Vương DoãnThường thời ta theo ai. Hùng Việt Vương Tuân Lang tuy là dòng dõi Vua Hùng nhưng lại không làm theo lời dạy Quốc Tổ, Độc Tài, Độc Trị làm hai dân tộc Văn Lang.

Thạch Trung Sơn quát:

   Các ngươi là loài ác Quỉ nói một đường làm một nẻo các ngươi chỉ gạt dân chúng gạt ta sao nổi.

Thạch Trung Sơn phi ngựa tới chém tướng giặc một đạo như trời giáng. Tướng giặc múa trường giáo lên chống đở. Hai bên đánh nhau cát bui mịt mù. Đao qua Giáo lạ đinh tai nhứt óc. Thạch Kế sợ Cha yếu thế bằng phi ngựa tới liên thủ cùng Thạch Trung Sơn quyết hạ gục tên tướng giặc phản loạn.

Lúc ấy Phạm Đổ Chinh cũng ra trận hai bên Phạm Đổ Chinh rất nhiều Tướng Lĩnh trong đó có một tướng lĩnh nổi tiếng là Thần Xạ Tiễn Trường Lê. Chưa bao giờ bắng sai mục tiêu thấy hai cha con Thạch Trung Sơn sắp hạ gục Đổ Mục liền dương cung bắn Thạch Trung Sơn một phát.

Thạch Trung Sơn trúng tên ngã nhào, Thạch Kế lao tới cứu Cha thoát khỏi trận địa. Tướng giặc Đổ Mục phi ngựa lao theo chém tới tấp. Thạch Thừa phi ngựa tới chậm đánh. quân Văn Lang Bạch Lang Châu. Cùng quân loạn tặc phản loạn Việt Trung xáp chiến hai bên thi nhau ngã gục chiến trường.

Vang lừng nội chiến dậy Văn Lang

Sát khí vùng lên thịt nát tan

Thi nhau ngã gục hồn phách tán

Chính nghĩa là đâu tiếng khóc than.

Nói về Thạch Thừa, Thạch Kế thu quân vào trong thành, Thạch Trung Sơn vì trúng tên quá nặng chất độc phán tán liền qua đời. Võ Hầu biết không thể nào đánh bại được quân loạn tặc phản loạn bằng cố thủ giữ thành không xuất binh tham chiến nữa. Cho người báo tin đến Tiên Châu tình hình nguy cập vô cùng. Văn Khánh đang xem qua mật thơ Võ Hầu gởi đến.

Thời có quân thám báo vào báo:

   Bẩm Thống soái. Tình hình Âu Tây Châu, tình hình Quang Hải Châu vô cùng nguy cập. Quân phản loạn Việt Trung Nguyên đang ráo riết công phá thành.

Thống Soái Văn Khánh vô cùng lo lắng. Thời có quân vào báo:

   Hai mươi vạn quân Văn Lang tiếp viện đã đến.

Văn Khánh như trút gánh nặng vì quân Việt Trung Nguyên quá mạnh con số lên sáu mươi vạn quân quyết sang bằng Trung Văn Lang.

Lại nói về Võ Hầu sau khi cho người theo đường bí mật đem mật thơ báo cáo tình hình Bạch Lang Châu cho Văn Khánh thống soái biết. Cố thủ thành chờ quân Văn Lang đến giải tỏa sự bao vây của quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên.

Phạm Đổ Chinh ngày nào cũng cho người đến Bạch Lang Châu khiêu chiến. Nhưng Võ Hầu vẫn làm thinh biết rằng ngày nào cũng có quân loạn tặc phản loạn đến khiêu chiến chửi rủa. Nào là quân Văn Lang hèn nhát, nào là con rùa rụt cổ.

Mùa thu tháng 8 trời mát mẻ rất thuận lợi cho hỏa công công phá thành. Nhưng Phạm Đổ Chinh chưa tìm ra kế sách công phá thành bằng phương cách nào đạt hiệu quả cao nhất. Vì Võ Hầu thủ thành vô cùng chắc chắn. Phạm Đổ Chinh đang moi óc hầu tìm ra kế sách công phá thành. Thời bổng có chiếu chỉ của Việt Vương Doãn Thường từ kinh đô Xích Quỉ Việt Trung Nguyên đến. Mật thư chiếu chỉ như sau: Ra lệnh công phá thành hai ngày sau có nội ứng bên trong mở cửa thành cho quân ta tiến vào tiêu diệt sạch bọn chúng chiếm cứ Bạch Lang Châu.

Doãn Thường không những là nhà quân sự, chính trị thiên tài mà còn tạo lên mạng lưới bí mật, gọi là mạng lưới mật vụ. Mạng lưới mật vụ hoạt động bí mật xâm nhập vào nội bộ Quan Phủ. Mua chuộc Quan Phủ, giả làm dân trà trộn vào trong các nội thành mà không một ai phát giác được. Mạng lưới bí mật nầy rất được đào tạo công phu võ nghệ cao cường thế lực đen, chỉ một mình Doãn Thường biết và điều khiển bí mật nầy mà thôi.

Những Quan, Tướng Việt Trung Nguyên chỉ cần bất mản chính sách do Việt Vương Doãn Thường đưa ra liền bị thế lực bí mật đen thủ tiêu ngay. Tai mắt Việt Doãn Thường khắp mọi nơi, khắp mọi ngõ ngách. Nhờ mạng lưới thế lực đen nầy mà ngôi vị Việt Vương vững như bàn thạch. Theo lệnh của Việt Vương Doãn Thường. Phạm Đổ Chinh ra lệnh cho quân binh tấn công thành ngày đầu tấn công ít ngày sau tấn công phá thành mạnh nhất là khi màng đêm buôn xuống.

Trong lúc nửa đêm bổng trên thành quân binh bạch Lang Châu hỗn loạn. Cửa thành mở toan ra thời cơ đã tới Phạm Đổ Chinh cùng hai phó Soái là Trường Lê cùng Võ Bị điều động quân binh ập vào thành, quân Bạch Lang Châu trở tay không kịp bị quân loạn tặc phản loạn chém xối xả. Trận tử chiến xảy ra cho tới sáng, hơn 8 vạn quân Bạch Lang Châu đi tiêu.

Lại nói về Võ Hầu, cùng hai phó tướng là Nguyên Tôn Chí và Trương Hoài điều quân binh chống trả lại quân loạn tặc phản loạn công phá thành mỗi lúc một dữ dội. Bổng thấy quân binh hổn loạn không biết chuyện gì xảy ra.

Thạch Thừa la lớn:

   Có quân nội phản.

Bổng một quân binh Văn Lang múa đao chém tới Thạch Thừa. Thạch Thừa bất ngờ bị chém bay đầu. Võ Hầu thất kinh múa đại đao chém tới người giết Thạch Thừa nhưng người nầy võ công cao cường thoáng cái mất dạng.

Nguyên Tôn Chí, Trương Hoài thấy quân loạn tặc phản loạn tràn vô thành như nước vỡ bờ nói:

   Chủ Tướng chúng ta mau trốn đi kẻo không còn kịp.

Võ Hầu cùng hai phó tướng giết vội mấy tên lính loạn tặc, mặc áo chúng vào giả làm lính loạn tặc trốn thoát ra khỏi thành nhắm hướng Tiên Châu phi ngựa tới.

Nói về Văn Khánh đóng đô ở Tiên Châu trên 15 năm. Thống Soái Tổng chỉ huy cả ba đạo quân chủ lực đóng ở Quang Hải Châu, Âu Tây Châu, Bạch Lang Châu. Văn Khánh được tin quân loạn tặc phản loạn sắp mở đợt tấn công tiến đánh Trung Văn Lang với sức mạnh đánh phủ đầu chưa tường có trước nay.

Văn Khánh tuy lo lắng nhưng nghĩ: Mình có nhiều tướng tài. Nhất là chủ tướng Lương Minh cũng như Chủ Tướng Lưu Hà uy dũng oai phong đã lập nhiều công lớn đánh bại quân loạn tặc phản loạn nhiều trận. Lương Minh nên duyên vợ chồng với Xuân Thu con gái út Tri Phủ Anh Kỳ. Con trai lớn chủ tướng Lưu Hà nên duyên chồng vợ với Xâm Cẩm chị của Xuân Thu. Nữ tướng Ba Ra nên duyên cùng Anh Võ, nữ tướng Hê Na nên duyên với Anh Quyền.

Những cặp nam nữ xinh đẹp văn võ song toàn này đã từng sống chết bên nhau hơn 10 năm rồi còn gì. Văn Khánh nghĩ cuộc giao tranh Nam Bắc luôn đụng độ với nhau. Nhưng chưa lần nào căng thẳng như lần nầy. Văn Khánh thống soái ăn không ngon ngủ không yên than ngắn thở dài. Thì cũng đủ biết cuộc diện đang xảy ra phức tạp nguy hiểm khó khăn đến mức độ nào.

Văn Khánh nghe Tin quân Việt Trung Nguyên tấn công dồn dập chiếm lĩnh các quận huyện dễ như trở bàn tay nghe tin Bạch Lang Châu thất thủ về tay quân loạn tặc phản loạn thời lấy làm kinh hãi: Quân loạn tặc phản loạn mạnh đến thế sao?

Văn Khánh chưa tìm ra kế sách gì để đối phó, thời có quân vào báo:

   Chủ Tướng Võ Hầu cùng hai phó tướng trốn thoát khỏi Bạch Lang Châu, đến đây phụng chỉ thọ tội.

Văn Khánh cho mời ba người vào rồi hỏi đầu đuôi thất thủ Bạch Lang Châu, một cách cặn kẻ.

Võ Hầu nói:

   Bẩm Nguyên Soái. Không hiểu từ lúc nào quân loạn tặc phản loạn đã cấy người vào ở trong thành và chính quân loạn tặc làm nội ứng nầy mở cửa thành cho quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên tràn vào nên Bạch Lang Châu mới thất thủ nhanh chóng như vậy.

Văn Khánh nghi ngờ nói:

   Phải có hơn trăm quân loạn tặc phản loạn lẫn lộn trong quân ta hạ gục quân binh trấn giữ cổng thành, mới thực hiện nổi kế sách nội công ngoại ứng.

Nguyên Tôn Chí nói:

   Những quân binh làm nội ứng không phải quân tầm thường mà là đại cao thủ Võ Lâm. Kinh công thượng đẳng thấy đó mất đó chỉ một đường đao là giết chết Thạch Thừa.

Văn Khánh nghe xong lấy làm khinh hãi cho cái tài Ma Quỉ quân phản loạn Việt Trung Nguyên. Văn Khánh bằng dâng sớ tâu lên Hùng Việt Vương Tuân Lang rằng: Chinh Bắc thống soái thần là Văn Khánh. Rất sợ hãi cúi đầu trước Quốc Vương Bệ Hạ. Thần tự nghĩ “Thần đã nổ lực hết mình suốt chặng đường 15 năm”. Cố sức tấn công ra Bắc, giành lại những tất đất mà quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên đã cướp lấy, nhưng chẳng được là bao. Nay quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên thế lực bổng mạnh lên như nước thủy triều thêm lên mấy mươi vạn quân nữa. Thần nghĩ “Nếu không thắng được quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên”. Thì phụ lòng ủy thác của Bệ Hạ. Nhưng hiện giờ với số quân ít ỏi không thể ngăn chặn nổi khi quân Bắc Việt Trung Nguyên tổn tấn công. Phàm những việc lớn lao như thế đều phải dâng tấu sớ lên Quốc Vương Bệ Hạ định liệu giải quyết. Dù gì đi nữa Thần lúc nào cũng tận tụy xin dốc lòng đến chết mới thôi. Đến như thành bại được mất là do định mệnh tại Trời vậy. Xin Bệ Hạ soi xét chỉ thị dạy bảo Thần để Thần tùy cơ ứng biến một còn một mất với quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên.

Hùng Việt Vương xem xong sớ tâu Thống Soái Văn Khánh lấy làm kinh hãi. Liền chuyền tay cho các Quan đại Thần xem. Các Đại Thần xem xong ai nấy đều biến sắc mặt.

Hầu Tôn Vương tâu rằng:

   Muôn Tâu Quốc Vương Bệ hạ. Tên loạn tặc phản loạn Doãn Thường đã có dã tâm lớn từ lâu hầu nuốt trọn Văn Lang thời đại Hùng Vương lập lên thời đại Việt Trung Nguyên. Nếu không đánh tan thế lực loạn tặc thời e rằng Trung Văn Lang cũng khó giữ nổi. Liều thuốc lấy dân làm gốc của Doãn Thường tuy là lừa đảo dân chúng, nhưng cũng hiệu quả tác dụng vô cùng e rằng dân chúng Bách Việt Trung Văn Lang ngã theo tên loạn tặc Quỉ yêu nầy, nếu mưu đồ đánh chiếm Trung Văn Lang.

Hùng Việt Vương Tuân Lang cũng nhận định được tình hình nầy bằng hỏi:

   Các khanh có diệu kế gì không?

Lạc Hầu Vương tâu rằng:

   Muôn tậu quốc Vương Bệ Hạ. Bệ Hạ một mặt chỉnh đốn lại Vương, Quan, Tướng lĩnh, Châu Phủ, Quận, Huyện loại trừ những tham quan làm hại dân. Thay thế những Vương, Quan có năng lực lãnh đạo ôn định lòng dân. Hai là Bệ Hạ giảm bớt thu thế những năm hạn hán thiên tai. Ba chiêu mộ hiền tài ra gúp nước. Bốn là mở ra thi cử tuyển chọn nhân tài hàng năm những thí sinh thật sự có năng lực bổ sung vào các Quận Huyện không phải là cha truyền con nối. Năm là bồi dưỡng đức tài hàng năm cho các Vương Quan, Tướng lĩnh, Châu, Huyện. Đó là việc lâu dài, còn trước mắt là cử một người trong vương gia thống lĩnh đại quân, hiệp lực cùng thống soái Văn Khánh chống trả lại quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên. Nếu Quốc Vương Bệ Hạ làm được năm điều nói trên một cách triệt để cũng như phái Vương Gia thống lĩnh đại quân dẹp tan quân loạn tặc, thì Trung Văn Lang không dễ gì Việt Trung Nguyên Chiếm lĩnh nổi. Thần mấy năm nay chú tâm nghiên cứu về Quốc Tổ cũng như thời Thượng Hùng Vương. Thần thấy rằng Quốc Tổ khai dựng lên nước Văn Lang không phải bằng con đường chinh chiến thắng cho là Vua, thua cho là Giặc. Mà là bằng con đường Văn Hóa Cội Nguồn, dựa trên quyền con người khai lập lên nhà nước Văn Lang, Nhà Nước Pháp Quyền. Nhà nước của Dân do Dân và vì Dân. Có lẽ tên loạn tặc phản loạn Doãn Thường đã nghiên cứu kỷ về Quốc khai sinh ra nước Văn Lang một Nhà Nước đa sắc Tộc, nhà nước hợp chủng tộc nhà nước của một trăm Lĩnh Chúa. Sống chung trong một ngôi nhà chung NỀN QUỐC ĐẠO DÂN TỘC. Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp mới thật là Quốc Vương của nước Văn Lang. Quốc Vương là người Đại Trung Thành với nền Văn Hiến tối cao ấy. Nếu không phải thế thời không thể nào đoàn kết được Bách Việt Văn Lang một trăm bộ lạc lâu dài được như vậy. Nhưng đáng tiếc là tất cả đi vào thất truyền, nhưng không vì thế mà không noi gương theo Quốc Tổ được. Năm điều nói trên thần rút ra từ hiểu biết về Quốc Tổ.

Nhờ làm theo năm điều cơ bản trị quốc an dân của Lạc Hầu Vương niên đại Hùng Vương truyền xuống thêm được năm đời, tới đời Hùng Duệ Vương, Huệ Lang thời kết thúc niên đại Hùng Vương vào năm 258 trước công nguyên nối truyền được 41 đời thượng Hùng Vương 23 đời, Hạ Hùng Vương 18 đời. Kéo dài độc lập 2701 năm. 79 năm dựng nước thời Quốc Tổ. 2622 năm thời thừa kế giữ nước con cháu.

Quốc Tổ Vua Hùng khai dựng lên đất nước Văn Lang vô cùng rộng lớn chia đất nước Văn Lang ra thành 15 bộ  cho cả ba miền Nam – Trung – Bắc. Sau mở rộng nước Văn Lang lên tới 21 bộ.

1-  Bộ Giao Chỉ

2- Bộ Nhật Nam

3- Bộ Cửu Chân

4- Bộ Hợp Phố

5- Bộ Nam Hải

6- Bộ Uất Lân

7- Bộ Thương Ngô

8- Bộ Ninh Hải

9- Bộ Vũ Ninh

10- Bộ Việt Thường

11- Bộ Lục Hải

12- Bộ Tân Hưng

13- Bộ Cửu Đức

14- Bộ Bình Văn

15- Bộ Văn Lang.

Nước Văn Lang sau mở rộng lên đến 21 bộ:

Bắc Văn Lang:

1- Bộ Giao Chỉ

2- Bộ Cửu Chân

3- Bộ Nhật Nam

4- Bộ Hợp Phố

5- Bộ Nam Hải

6- Bộ Uất Lân

7- Bộ Thương Ngô

Trung Văn Lang:

1- Bộ Ninh Hải

2- Bộ Chu Diên

3- Bộ Lục Hải

4- Bộ Cửu Đức

5- Bộ Vũ Định

6- Bộ Dương Tuyền

7- Bộ Hoài Hoan

Nam Văn Lang:

1- Bộ Văn Lang

2- Bộ Bình Văn

3- Bộ Tân Hưng

4- Bộ Phú Lộc

5- Bộ Vũ Ninh

6- Bộ Việt Thường

7- Bộ Hồ Nam

Ở vào thời  Thượng Hùng Vương các Châu Thành chỉ đắp cho có hình thức phần lớn thành hàng rào lũy tre tới thời Hạ Hùng Vương các Châu Thành mới đắp kiên cố hơn, nhất là các đời cuối Hạ Hùng Vương. Các Châu Thành thời đó không phải xây bằng đá gạch, mà chỉ xây đắp theo cách thông dụng lũy hào, hào lũy. Ngoài hào, trong lũy. Thành lũy đắp bằng đất cộng với cọc tre. Hàng năm thường tu bổ vì thành bằng đất mưa bão làm hư hỏng xuống cấp.

**************

PHẦN 22

Văn Lang Nam Bắc mãi chiến chinh

Bách Việt còn đâu cảnh thái bình

Đói nghèo khốn đốn ôi cùng khắp

Trận địa rền vang tiếng quân binh.

Nói về Chủ Tướng Huỳnh Trung Kỳ sau khi đánh bại Triệu Phàn đóng đô ở Quang Hải Châu. Trải qua hơn 15 năm Huỳnh Trung Kỳ mấy lần thống lĩnh quân binh tiến đánh ra Bắc nhưng bị quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên đánh bật trở vào Trung Văn Lang.

Có nhiều người tự hỏi rằng: Bách Việt Văn Lang tương tàn như thế lỗi thuộc về ai? Và câu hỏi nầy đến với những người tu tiên Đắc Đạo và được trả lời như sau: Bách Việt Văn Lang không ai là người có lỗi, mà cái lỗi lớn ở đây là Bách Việt Văn Lang đã lạc Cội mất Nguồn nền Văn Hiến Văn Hóa Quốc Đạo Văn Lang biến mất. Mặt Trời Tổ Quốc không còn, bóng u minh trùm xuống Bách Việt Văn Lang Yêu Tinh Quỉ dữ lộng hành gieo rét chiến tranh thảm khốc. Bách Việt Văn rơi vào kiếp nạn Yêu Tinh Quỉ dữ mà thôi.

Chiến trận Nam – Bắc phân tranh cảnh đen tối đất nước Văn Lang những cuộc giao tranh sống chết sanh tử có nhau thường nẩy sinh tình cảm trai gái, con trai lớn chủ tướng Huỳnh Trung kỳ. Huỳnh Văn Bá nên duyên chồng vợ với Kỳ Duyên con của Tri Phủ Kỳ Thọ nữ tướng anh hùng thời đó. Kỳ Duyên không những xinh đẹp vô cùng mà trí tuệ cũng hơn người thường giúp cho chồng lập nhiều công trạng lớn.

Văn Bá, Kỳ Duyên đóng quân ở Môn Hải Châu được quân thám báo báo tin là Quân loạn tặc phản loạn Việt Trung nguyên tổng sắp tấn công vào Trung Văn Lang, trước hết là xóa sổ Quang Hải Châu. Kỳ Duyên tức tốc về Quang Hải Châu báo tin cho cha là Kỳ Thọ cùng chủ tướng Huỳnh Trung Kỳ chuẩn bị đối phó. Kỳ duyên ở lại cùng với Cha Mẹ mấy hôm mới trở về Môn Hải Châu cùng ba vạn quân do Phó chủ tướng Lý Hạo chỉ huy hợp lực cùng quân Văn Bá trấn giữ Môn Hải Châu.

Lại nói về Triệu Phàn, Triệu Quân, Triệu Hàn được lệnh Việt Vương Doãn Thường tổng tấn công vào Trung Văn Lang chiếm lấy Quang Hải Châu, Môn Hải Châu, Ninh Hải Châu và tiếp tục đánh chiếm Trung Văn  Lang.

Triệu Phàn đóng quân tại Linh Giao châu lúc nầy quân binh vô cùng hùng mạnh trên 20 vạn quân. Triệu Phàn liền triệu tập hai con đến. Triệu Quân khi ấy đóng đô ở Lạc Trung Giao Châu. Triệu Hàn đóng đô ở Liêu Giang Giao Châu.

Được lệnh của Cha. Triệu Hàn, Triệu Quân tức tốc đến Linh Giao Châu. Triệu Phàn nói với Triệu Quân, Triệu Hàn  rằng:

   Việt Vương Chúa Công ra lệnh cho cha con Ta chiếm lấy cho được Quang Hải Châu, thì Môn Hải Châu không đánh cũng lấy được.

Triệu Phàn nói nhỏ:

   Theo kế sách của Việt Vương Chúa Công đã dự bị. Triệu Quân, Triệu Hàn mỗi người được nhận thêm 3 vạn quân bổ sung quân từ kinh đô Việt Trung Nguyên. Triệu Quân từ Lạc Trung Giao Châu tiến đánh Môn Hải Châu. Triệu Hàn Từ Liễu Giang Giao Châu đến phục kích tại rừng Tam Điệp. Cho thám báo theo dõi đường viện quân từ Quang Hải Châu, đến Môn Hải Thành tức thời xua quân chặn đánh.

Nói về Kỳ Duyên vừa về đến Môn Hải Châu thì cũng vừa lúc Quân loạn tặc phản loạn kéo đến bao vây Môn Hải Châu. Môn Hải Châu là thành nhỏ không kiên cố cho mấy.

Huỳnh Văn Bá, Lý Hạo, Kỳ Duyên ở trên thành nhìn thấy quân loạn tặc phản loạn chia làm hai đạo quân từ Bắc kéo đến đông như kiến như muốn ăn tươi nuốt sống Môn Hải Châu. Quân loạn tặc phản loạn di chuyển thần tốc không bao lâu thì phủ tới bao vây Môn Hải Châu.

Kỳ Duyên nhìn quân giặc trùng trùng nói:

   Không ngờ quân loạn tặc phản loạn lại tiến đánh Môn Hải Châu ta. Không như những gì thám báo biết.

Văn Bá nói:

   Có lẽ chúng đổi mục tiêu tấn công. Tình hình quân loạn tặc đã chuyển hướng mục tiêu tấn công. Không còn cách nào hơn là chúng ta tử chiến với quân loạn tặc một còn một mất vậy.

Kỳ Duyên liền thả chim bồ câu lên không trung khẩn báo tình hình ở Môn Hải Châu. Lại nói về Triệu Quân duy chuyển quân binh nhanh chóng bao vây Môn Hải Châu chưa ra lệnh tấn công phá thành ngày nào cũng bắc loa kêu gọi Huỳnh Văn Bá đầu hàng thì được tha chết bằng không thì con gà con chó cũng không còn. Những bậc tu tiên đắc đạo trên những dãy núi cao nhìn thấy đất nước Văn Lang hung khí khắp cùng sát khí mịt mù thời than rằng còn đâu Bách Việt Văn Lang cảnh Đồng Bào cứ mãi chém giết lẫn nhau thời ngâm vịnh thi rằng:

Vinh với nhục cũng chỉ là trò hề cuộc thế

Đúng với sai trò đời cùng lạc lối U Minh

Chỉ có người luôn hướng về Nguồn Cội

Mới thoát ra quyền pháp thuật Yêu Tinh.

Nói về  Huỳnh Trung Kỳ đang ở Quang Hải Châu được tin báo là quân loạn tặc phản loạn tiến đánh Môn Hải Châu khí thế hùng mạnh hiện đang bao vây Môn Hải Châu thời kinh hồn thở dài: Số mạng Văn Bá khó mà giữ vững.

Liền cho mời Tri Phủ Kỳ Thọ đến tìm kế giải vây cho Kỳ Duyên, Văn Bá.

Kỳ Thọ nói:

   Thành Môn Hải Châu không kiên cố như thành Quang Hải Châu nếu quân phản loạn Việt Trung Nguyên tấn công thì khó mà giữ nổi. Không như thành Quang Hải Châu kiên cố dù cho 20 vạn quân cũng khó mà công phá thành nổi trong vòng một tháng. Chỉ cần 3 vạn quân trấn giữ thành thời không hề gì. Chủ Tướng đem quân đến Môn Hải Châu ngoài đánh vào trong đánh ra thì có thể phá vòng vây giải cứu cho Kỳ Duyên, Văn Bá.

Huỳnh Trung Kỳ cho rằng phải liền tức tốc điều động quân binh đến Môn Hải Châu. Khi còn cách Môn Hải Châu 10 dặm thời từ rừng Tam Diệp quân loạn tặc phản loạn duy chuyển quân binh nhanh chóng ra khỏi rừng Tam Điệp chận đánh quân Văn Lang không cho cứu viện. Huỳnh Trung kỳ không ngờ quân loạn tặc phản loạn chận đánh. Bằng dừng quân bày binh bố trận giao chiến. Triệu Hàn hình như biết rõ mọi ý đồ kế sách của Huỳnh Trung Kỳ. Triệu Hàn chuyển thế đối mặt với quân Văn Lang thành thế liên thủ tấn công. Sự điều khiển quân binh tài tình của Triệu Hàn khác xa năm xưa một trời một vực.

Triệu Hàn thúc ngựa lên phía trước quát như sấm nổ:

   Thằng Huỳnh Trung Kỳ ngu ngốc kia có tài cán gì cùng ta giao đấu một trận.

Tô Vũ phi ngựa tới trước quát:

   Thằng bại trận sống sót kia ra đây đấu với Tô Vũ Ta.

Tướng Hắc Hổ thấy Tô Vũ oai phong lẩm liệt, bằng nói với Triệu Quân rằng:

   Phó Soái để thằng đó cho Hắc Hổ tôi đưa hồn y về Địa Phủ.

Nói xong Tướng Hắc Hổ phi ngựa lao ra chém Tô Vũ như trời giáng. Tướng Thanh Ngưu phi ngựa theo lược trận. Tô Vũ thấy song búa Hắc Hổ vô cùng lợi hại múa trường đao đánh trả choang đinh tai nhức óc.

Thơ rằng :

Song búa vung lên dậy đất trời

Đao Thần cuồn cuộn khiếp ghê nơi

Cát bay đá chạy rền sấm sét

Chuyển núi rung đồi gió tả tơi.

Hai bên giáo qua đao lại chớp nhoáng 30 hiệp có dư. Bổng Tô Vũ bị trúng tên quày ngựa bỏ chạy, thì ra Tướng Thanh Ngưu bắn Tô Vũ. Tướng Hắc Hổ phi ngựa rượt theo chém Tô Vũ. Chu An hét lên một tiếng phi ngựa ra chém Hắc Hổ, Hắc Hổ múa song búa chống trả hai bên giao tranh khốc liệt. Bảo Đồng đang đứng bên Huỳnh Trung Kỳ thấy tướng Thanh Beo định bắn Chu An tức thời quát lên một tiếng như sấm nổ phi ngựa lao ra chém Tướng Giặc Thanh Beo. Thanh Beo múa song chùy chống trả. Hai bên quân binh chiêng trống dậy trời.

Huỳnh Trung Kỳ thấy Tô Vũ trúng tên rất nặng chất độc phát tán rất nhanh. Nếu không cứu chữa kịp thời, thì toi mạng. Liền đánh trống thu quân. Triệu Hàn chuyển trận thế liên hoàn đối mặt thành thế liên hoàn bao vây quân Văn Lang. Huỳnh Trung Kỳ suốt ba ngày đêm án binh bất động không giao tranh với quân loạn tặc phản loạn vì chưa tìm ra giải pháp đánh bại quân phản loạn.

Trong lúc nửa đêm Huỳnh Trung Kỳ vắt óc suy nghĩ thì có quân vào báo:

   Quân loạn tặc phản loạn tấn vào quân ta, hai mặt Tây – Nam.

Trận chiến xảy ra một lúc thời có quân vào báo:

   Quân loạn tặc tấn công cả Đông, Bắc.

Huỳnh Trung Kỳ đã thấm mệt vì ba ngày đêm không chợp mắt thần lực suy yếu nghe quân phản loạn Việt Trung Nguyên tấn công tứ phía thời có phần lo lắng. Nói về Chu An trấn giữ phía Đông thấy quân Việt Trung Nguyên ào ào xông vào doanh trại gươm đao giáo mác dậy trời liền xua quân chống trả hai bên xáp chiến dậy trời dậy đất. Tướng Hắc Hổ như con cọp dữ chém quân Văn Lang như chém chuối. Chu An phi ngựa tới giao tranh với tướng Hắc Hổ. Thế lực hai bên quân bình quân loạn tặc phản loạn tiến sâu vào đoanh trại không nổi.

Bổng nghe quân reo dậy đất gươm giáo dậy trời, một đạo quân loạn tặc phản loạn khác Tướng Thanh Ngưu cầm đầu chỉ huy duy chuyển nhanh chóng hợp lực cùng quân Hắc Hổ tràn tới chém rối xả vào quân Văn Lang. Quân Văn Lang chống đở không nổi, quân loạn tặc tràn vào đốt đoanh trại lửa cháy đỏ trời.

Lại nói về Huỳnh Trung Kỳ thấy doanh trại bị đốt cháy thì kinh hãi liền điều động quân binh xuống phía Đông. Đạo quân vừa duy chuyển thời Trương Nhân phi ngựa tới:

   Bẩm Chủ Tướng cánh Bắc doanh trại thất bại Tướng Bảo Đồng tử trận. Chủ Tướng mau ra lệnh thu quân phá vòng vây cửa Tây thoát khỏi sự tấn công quân địch.

Huỳnh Trung Kỳ tức thời ra lệnh thu quân thoát chạy hướng Tây. Thật ra sự công kích quân loạn tặc phản loạn phía Tây doanh trại chỉ là kế sách dương tây kích đông mà thôi. Huỳnh Trung Kỳ điều khiển quân binh thoát ra khỏi vòng tấn công quân địch chạy trở về Quang Hải Châu thì trời cũng vừa hừng sáng. Huỳnh Trung Kỳ điểm lại quân binh thời đi tiêu hơn một vạn tổn thất mất ba tướng trong đó có tướng Bảo Đồng.

Huỳnh Trung Kỳ về gần tới Quang Hải Châu xa xa nhìn thấy cờ Việt Trung Nguyên tung bay phất phới trên thành thì kinh hồn bạc vía ra lệnh dừng quân không trở về Quang Hải Châu nữa mà chạy về Ninh Hải Châu. Vì Quang Hải Châu mất rồi. Kỳ Duyên nghe Quang Hải Châu thất thủ quân loạn tặc phản loạn chiếm mất thời khóc ròng, không biết cha mẹ cùng hai anh còn sống không.

Lý Hạo nói:

   Nội trong đêm nay chúng ta phải phá vòng vây chạy về Ninh Hải Châu nếu chậm trể không còn kịp nữa.

Cũng may trong đêm ấy trời tối mịt mưa lùn phùn. Quân Môn Hải Châu vì thuộc đường lối nên di chuyển không lạc đường. Lại nói về Triệu Quân theo kế sách của Việt Vương Doãn Thường cho một vạn quân phục kích đường rút lui của Văn Bá chạy về Ninh Hải Châu.

Văn Bá, Kỳ Duyên, Lý Hạo nửa đêm mở toan cổng thành 5 vạn quân bất thình lình lao ra tấn công vào quân phản loạn chớp nhoáng, quân phản loạn rối loạn cả lên. Văn Bá , Kỳ Duyên, Lý Hạo nhờ thế phá vòng vây chạy về Ninh Hải Châu. Khi đi qua đường rừng hiểm trở thời nghe chiêng trống dậy trời gươm đao giáo mác dậy đất, quân loạn tặc phản loạn bắn tên rối xả vào quân Văn Lang. Quân Văn Lang quá bất ngờ mất chủ động bị quân Việt Trung Nguyên đánh chém tơi bời. Văn Bá, Lý Hạo, Kỳ Duyên không còn liên lạc với nhau mạnh ai nấy ra sức chống đở. Kỳ Duyên đuối sức liền kêu Mẹ Âu Cơ cứu con với. Tức thời một trận gió nổi lên cuốn Kỳ Duyên rời khỏi trận địa. Lý Hạo bị loạn tên bắn trúng bỏ mạng tại rừng Hạ Giang.

Văn Bá cùng bại quân vượt qua khỏi khu rừng mệt thở không ra hơi. Văn Bá cho người điểm quân chỉ còn 3 vạn đi tiêu 2 vạn. Văn Bá không tìm thấy Kỳ Duyên ôm mặt khóc ròng thời bổng thấy một người lao ngựa tới. Văn Bá nhìn thấy Kỳ Duyên an toàn thời mừng quá không cầm được giọt nước mắt miệng nói cảm ơn trời đất.

Kỳ Duyên nói:

   Mẹ Âu Cơ cứu em trước làn tên mũi giáo quân địch.

Văn Bá kinh ngạc hỏi lại:

   Mẹ Âu Cơ linh thiên đến thế ư.

Kỳ Duyên nói:

   Em thường ngày hay niệm danh hiệu của Mẹ nên Mẹ Âu Cơ mới cứu em như thế. Em nguyện cầu lên Cha Trời Lạc Long Quân cứu Cha Mẹ cùng hai anh của em.

Kỳ Duyên vừa nói xong thời một trận gió nổi lên hiện ra một đạo sĩ. Đạo Sĩ nói:

   Cha Mẹ cùng hai anh con đã được cứu thoát đang trên đường đến Ninh Hải Châu. Đạo Sĩ nói xong liền biến mất.

Thành tâm kính bái Cha Trời

Long Quân phù hộ cuộc đời tai qua

Thành tâm kính bái Âu Cơ

Tai qua nạn khỏi bình yên, yên bình

Vậy nên con cháu Tiên Rồng

Nương về Nguồn Cội tôn thờ Cha Ông

Hiển linh che chở, chở che

Thoát vòng sanh tử hiểm nguy khốn cùng.

**************

PHẦN 23

Chinh chiến, chiến chinh biết bao phen

Thắng thua, thua thắng chẳng ai khen

Nam Bắc tranh nhau xưng Vương Bá

Bách Việt  nghèo đói máu thịt văng.

Đây nói về quân loạn tặc phản loạn ba Cha Con Triệu Công thống lĩnh đại binh đánh chiếm Âu Tây Châu. Tây Bắc Trung Văn Lang. Bị chủ tướng Lê Quang đánh bại rút tàn quân chạy về Uất Lang Việt Châu. Triệu Côi trấn thủ ở Phù Châu. Triệu Chi trấn thủ Lâm Giang Tây Châu. Ba cha con ngày đêm cũng cố lực lượng chống trả lại quân Văn Lang tiến ra Bắc. 15 năm trôi qua quân Văn Lang, quân Việt Trung Nguyên đụng độ nhiều trận nhưng bên nào cũng không chiếm được ưu thế đánh qua đánh lại máu đổ đầu rơi khắp chiến trường.

Việt Vương Doãn Thường là tay binh pháp số một ở vào thời đại đó. Doãn Thường là tay cao thủ Võ Lâm khi còn làm Quan Tri Phủ lập lên một thế lực đen, thế lực tuyệt mật, thế lực toàn những cao thủ võ nghệ xuất chúng. Mạng lưới thế lực đen lên đến hơn vạn người trà trộn khắp nơi. Trong quân binh, trong quan, tướng, cả trong dân chúng, với mưu đồ nuốt trọn Văn Lang với chiến lược 10 năm cấy người vào các Châu Thành Trung Văn Lang, Quan, Tướng các Châu, Quận, Huyện. Mà không một ai hay biết gì cả. Chỉ đánh giá qua sức mạnh quân binh Việt Trung Nguyên mà thôi. Không ngờ sức mạnh Việt Trung Nguyên còn có một sức mạnh kinh hồn đó là thế lực đen Việt Trung Nguyên. Thế lực nầy vừa là mật báo, vừa thủ tiêu những kẻ chống đối lại Việt Vương Doãn Thường. Và đương nhiên tai mắt Việt Vương Doãn Thường khắp mọi nơi mọi chốn. Có thể nói tai nghe nghìn dặm, mắt thấy nghìn dặm. Việt Vương Doãn Thường không bao giờ bỏ lở thời cơ. Khi nhận thấy tình hình Phương Bắc các nước thôn tính với nhau dữ dội. Nhất là Ngô đang dốc toàn lực đánh Sở. Đây chính là cơ hội tập trung lực lượng đánh chiếm Trung Văn Lang, Việt Vương Doãn Thường đã cấy thế lực đen trong các Châu Thành chủ lực Trung Văn Lang mà không một ai hay biết gì cả. Vì sự cấy người đó trong có bài bản. Suốt thời gian mười năm hợp tình hợp lệ nên không ai phát hiện được. Chỉ cần ngoài tấn công thành trong làm nội ứng thì nhất định chiếm được thành không mấy khó khăn.

Việt Vương Doãn Thường chi viện cho Triệu Công 10 vạn quân ra lệnh cho cha con Triệu Công tiến đánh chiếm Âu Tây Châu, Hồng Thượng Châu, Thạch Vân Châu. Được lệnh Triệu Công cho người gọi hai con đến nói Việt Vương Tế Gia lệnh cho cha con Ta đánh chiếm các Châu trọng yếu Tây Trung văn Lang với kế sách như thế nầy thế nầy. Triệu Công bổ sung cho Triệu Côi 3 vạn quân. Triệu Chi 3 vạn quân, đồng loạt tiến quân đánh chiếm Âu Tây Châu. Mùa Thu năm ấy lá vàng rơi rụng khí hậu mát mẻ nhưng ai còn quan tâm đến cảnh ấy vì cuộc giao tranh lớn giữa quân Nam Bắc sắp xảy ra.

Nói về Lê Quang chủ tướng sau khi đánh bại ba cha con Triệu Công đóng đô Âu Tây Châu, không bao lâu thời tiến quân đánh ra Bắc đánh với quân Việt Trung Nguyên bị trúng tên độc không bao lâu thời qua đời. Văn Khánh thống soái lập con lớn Lê Quang là Lê Mạnh Càn lên thay thế.

Lê Mạnh Càn là người cao ngạo luôn cho mình là tài cao học rộng nên thường quyết đoán không nghe theo ai. Cha con Tri Phủ Thục An Kim lấy làm bất mãn nhưng không dám nói. Lê Mạnh Càn được tin báo là quân Việt Trung Nguyên sắp tấn công thành Âu Tây Châu.

Mạnh Càn nghe xong cao ngạo nói:

   Thành Âu Tây Châu kiên cố lo gì không chống đở nổi.

Thục An Kim tuy tuổi đã già nhưng vẩn còn uy phong không kém gì trung niên khuyên can:

   Chủ Tướng nên đề phòng cũng như cũng cố lực lượng cũng không thừa.

Mạnh Càn như có vẻ không bằng lòng nhưng cũng giả đò nói:

   Cảm ơn Tri Phủ đại nhân nhắc nhở.

Qua ngày hôm sau ở trên thành thấy ở hướng Bắc khói bụi mịt mù thì ra quân loạn tặc phản loạn đã vượt qua nhiều quận, huyện cánh Bắc Âu Tây Châu tiến đánh Âu Tây Châu. Ba đạo quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên duy chuyển nhanh chóng không bao lâu thời tới thành Âu Tây Châu. Đứng trên thành nhìn xuống thấy quân Việt Trung Nguyên trùng trùng điệp điệp cờ xí lớp lớp, gươm đao giáo mác sáng ngời. Chiêng Trống dậy trời ước lượng trên 20 vạn quân không ít người khiếp hồn khiếp vía.

Mạnh Càn tuy trong lòng lo sợ nhưng cũng làm mặt cả nói:

   Quân Việt Trung Nguyên tuy đông nhưng không thể nào chiếm được thành Âu Tây Châu đâu. Vì bổn tướng cho người báo tình hình nguy cập đến thống soái rồi nay mai quân Văn Lang sẽ kéo đến. Ngoài đánh vào trong đánh ra quân địch trở tay không kịp rút tàn quân chạy thục mạng về đất Bắc mà thôi.

Tướng La Thông nói:

   Chủ tướng chớ xem thường quân địch nhìn cách điều binh khiển tướng ba cha con Họ Triệu lần nầy khác xa năm xưa. Ba cha con Họ Triệu hình như rất tự tin điều khiển quân binh như ý muốn. Quân Việt Trung Nguyên dùng thế liên hoàn hạ trại trấn thủ những chỗ trọng yếu khi ra lệnh tấn công thành.

Qua ngày hôm sau Triệu Công cho người đến khiêu chiến nhục mạ chửi rủa inh ỏi:

   Thằng Mạnh Càn có tài thì cùng ta giao đấu một trận cứ như con rùa rụt cổ thì còn chi là nam nhi hảo hán.

Mạnh Càn nói:

   Có tướng nào ra lấy đầu thằng loạn tặc lập công đầu.

Tướng Nhị Beo nói:

   Bẩm chủ tướng để tôi ra lấy đầu thằng giặc hổn láo đó cho.

Tướng Nhị Beo dẫn theo một nghìn quân mở cổng thành phi ngựa lao ra không nói không rằng chém tướng giặc một nhát như trời giáng. Tướng giặc múa giáo chống đở choang một tiếng đinh tai nhức óc, tướng giặc như muốn vuột giáo khỏi tay kinh hồn bạc vía. Tướng Nhi Beo nhanh như tia chớp chém tới một đao tướng giặc bị chém rụng đầu quân Văn Lang thắng thế lao tới chém rối xả vào quân Việt Trung Nguyên.

Ở trên thành Mạnh Càn cười ha hả:

   Sức mạnh quân địch chỉ có thế là cùng.

Nhị Beo tuy thắng thế nhưng cũng lấy làm lạ: Sao ta lại thắng dễ dàng như vậy phải chăng quân loạn tặc phản loạn có âm mưu gì?

Quân loạn tặc phản loạn lại cho người ra khiêu chiến lần nầy là một nữ tướng tuổi độ trung niên nhưng vô cùng xinh đẹp. Tướng La Thông nhận ra người ấy thời không khỏi lo lắng. Tướng Sơn Tây cũng thế vì đã nhận ra nữ tướng kia là ai. Nữ Tướng xinh đẹp kia chính là Phù Châu công chúa Vua Phù Việt vợ của Triệu Côi.

Phù Châu không những võ nghệ cao cường mà còn có pháp thuật thần thông, nhất là quạt Thần vô cùng lợi hại.

Mạnh Càn thấy quân Việt Trung Nguyên chỉ là một nữ tướng đến khiêu chiến thì có ý xem thường hỏi:

   Có tướng nào ra trận bắc con nữ tặc tướng kia không?

Hỏi đi hỏi lại mấy lần không có tướng nào ra trận. Mạnh Càn nói:

   Thôi để bổn tướng vậy ra trận vậy.

Mạnh Càn liền điều động ba nghìn quân tinh nhuệ ra trận với hai tướng Nhị Beo với Mạnh Hổ phải nói khí thế gấp đôi quân địch Việt Trung Nguyên.

Mạnh Càn đầu đội kim ô tay cầm trường đao, mặt áo giáp sắt cỡi con ngựa Hắc Long uy phong lẫm lẫm. Phi ngựa tới quát:

   Nữ tặc tướng kia tên họ là gì mau xưng tên họ rồi hồn du Địa Phủ.

Phù Châu phi ngựa tới quát:

   Ta không đánh với kẻ vô danh tiểu tốt mau xưng họ tên kẻo làm quỉ không đầu.

Mạnh Càn quát lớn:

   Nầy nữ tặc đứng cho vững khi nghe danh ta kẻo vở mật mà chết.

Mạnh Càn ngâm rằng:

Mạnh Càn vốn thật tên ta

Lẫy lừng Nam Bắc quỉ ma kinh hồn.

Phù Châu nghe xong phi ngựa tới quát:

   Ngươi là con của Lê Quang.

Mạnh Càn nói:

   Không sai.

Phù Châu mặt đầy sát khí vung song kiếm chém tới như tia chớp. Mạnh Càn xem thường vung trường đao chống trả ken ken đinh tai nhứt óc. Phù Châu như con Phụng Hoàng song kiếm chém tới như mưa sa bảo táp, nội lực tuôn ra kinh người. Mạnh Càn chống đở muốn hụt hơi. Phù Châu thổi ra một luồn yêu thuật Mạnh Càn tối tăm mặt mày.

Cũng may lúc ấy tướng Nhị Beo, tướng Mạnh Hổ đến cứu kịp. Quân Văn Lang như rắn mất đầu không người chỉ huy, quân Việt Trung Nguyên ào ào xông lên chém quân Văn Lang tơi bời.

Sau có thơ rằng :

Tánh tự cao chính là tự sát

Xem thường quân địch tự giết hại mình

Xưa nay vẩn thế thường tình

Tự cao tự đại khốn cùng chẳng sai.

Nói về Mạnh Càn bại trận tí nữa thời toi mạng tự lấy làm xấu hổ cải hối ăn năng nói:

   Nếu không nhờ hai tướng cứu kịp thì giờ nầy Mạnh Càn tôi hồn du địa phủ.

Mạnh Càn bàn cùng các tướng thượng sách vẩn là thủ thành vững chắc chờ quân Văn Lang tới. Triệu Công thấy Mạnh Càn không giao chiếm nữa thúc quân binh thủ thành kiên cố. Thành Âu Tây Châu ngoài hào trong lũy. Lũy Thành Âu Tây Châu xây đắp bằng đất sét xen lẫn cọc tre kiên cố vô cùng.

Triệu Công được tin là quân Văn Lang sắp kéo đến liền theo kế sách chỉ đạo của Việt Vương Doãn Thường là dồn lực lượng tấn công vào cửa chính Nam, còn cửa Đông, cửa Tây chỉ cho quân bao vây mà thôi. Chiếm lĩnh thành Âu Tây Châu trước khi quân Văn Lang kéo đến.

Triệu Công ra lệnh cho vợ chồng Triệu Côi thống lĩnh quân binh phục kích cách thành Âu Tây Châu về hướng Tây Nam năm dặm chờ cho quân Văn Lang kéo đến đánh bọc sau lưng đánh tới, hai mặt giáp công bao vây quân Văn Lang vào giữa tiệt diệt.

Lúc ấy trời đã xế chiều lệnh tấn công thành Âu Tây Châu bắt đầu. Tiếng còi hụ lên vang động núi rừng quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên từ trong doanh trại kéo ra phủ tới tấn công vào ba cửa Đông – Tây – Nam, nhất là cửa chính Nam thành Âu Tây Châu Quân Việt Trung Nguyên lớp lớp leo tường thành, lớp lớp công phá cửa thành. Hai bên giao chiến rền trời rền đất.

Thơ rằng :

Nhìn trận chiến mà đau xót dạ

Cảnh Đồng Bào quyết hạ lẫn nhau

Cũng dân cũng chúng Văn Lang

Giờ đây thảm cảnh tương tàn còn chi

Bởi lạc Nguồn xảy ra loạn lạc

Lũ yêu Tinh có dịp bày mưu

Làm cho đất nước Văn Lang

Rồng Tiên Bách Việt nát tan cơ đồ

Nhìn trận chiến ngậm ngùi rơi lệ

Dân Văn Lang ngã gục thây phơi

Rồng Tiên Bách Việt con Trời

Tương tàn chém giết lạc Nguồn mà ra.

Mặt trời đã lặng màn đêm phủ xuống khắp non sông tiếng cung tên, gươm đao giáo mác càng lúc càng dậy trời kéo dài cho đến nữa đêm. Bổng trên thành Âu Tây Châu quân binh hỗn loạn. Tướng Nhị Beo, tướng Mạnh Hổ bị giết bất ngờ. Cửa Nam thành đã bị quân Việt Trung Nguyên phá hỏng nhờ có nội ứng bên trong. Quân Việt Trung Nguyên tràn vào thành như cơn bão, quân Văn Lang chống trả quyết liệt hai bên thi nhau ngã gục. Quân Văn Lang càng lúc càng yếu thế bị quân Việt Trung Nguyên chém như chém chuối.

Tướng La Thông nói với Mạnh Càn:

   Chủ tướng mau hạ lệnh rút quân ra cửa Đông phá vòng vây tẩu thoát.

Thục An Kim tức thời ra lệnh mở cửa Đông thành quân Văn Lang thi nhau tràn ra như nước lũ phá vòng vây chạy về hướng Đông Nam. Mạnh Càn dẫn tàn quân Văn Lang chạy về Thạch Vân Châu, chạy cho đến lúc gần sáng quân binh bơ phờ chạy hết nổi nữa.

Mạnh Càn nhìn lên trời than rằng:

   Không ngờ quân Việt Trung Nguyên chiếm thành nhanh đến thế.

Tướng Sơn Tây nói:

   Không nhanh sao được vì trong thành có quân nội ứng.

Mạnh Càn nhìn bốn cha con Tri Phủ Thục An Kim không nói gì. Mạnh Càn cho điểm lại quân binh 7 vạn quân giờ chỉ còn có 2 vạn, năm vạn quân binh chôn vùi trong trận chiến. Thành Âu Tây Châu đã bị quân Việt Trung Nguyên chiếm đóng giờ chỉ còn đến Thạch Vân Châu tá túc mà thôi.

Văn Lang Thảm cảnh biết bao

Ôi thôi chinh chiến lao đao khốn cùng

Vinh chẳng thấy, thấy toàn binh lửa

Mãi chiến tranh khốn khổ đao binh

Văn Lang Bách việt khốn nguy

Nồi da nấu thịt còn chi Đồng Bào

Ôi ôi hỡi Ông Trời có thấu

Dân Văn Lang chém giết lẫn nhau

Nghĩ càng, càng nghĩ càng đau

Lạc Nguồn Lạc Cội mới nên nổi nầy

Lạc Nguồn Cội sa vào Yêu Quỉ

Quên Ông Cha sao khỏi chiến chinh

Anh hùng lạc đạo chí nguy

Lạc vào chinh chiến còn chi anh hùng.

**************

PHẦN 24

Đây nói về Hạp Lư Vua Ngô Phương Bắc lúc nào cũng dòm ngó Việt Trung Nguyên. Mấy lần xua quân xâm lược Việt Trung Nguyên đều bị Việt Vương Doãn Thường đánh bại. Hạp Lư cũng cố lại binh hùng tướng mạnh hầu quyết tâm chiếm cho được Việt Trung Nguyên. Không ngờ Sở Chiêu Vương thấy nước Ngô Suy yếu liền đem quân thôn tính nước Ngô. Hạp Lư vô cùng tức giận quyết diệt cho bằng được nước Sở.

Một hôm Ngũ Viên nghe báo:

   Có người Nước Đường và Nước Sái đến sai sứ sang thông hiếu. Hiện đã tới ở ngoài chờ đợi.

Ngũ Viên mừng rỡ nói rằng:

   Ý trời giúp Ta. Nước Đường, Nước Sái đều là thuộc quốc của Nước Sở. Nay tự nhiên sai sứ sang thông hiếu với Nước Ngô. Tất có lòng oán Sở ấy chính là cơ hội trời xuôi khiến cho Ta phá tan quân Sở tiến vào Sính Đô thời cơ đã tới.

Mối hận Sở Bình Vương giết Cha, giết Anh, giết cả gia đình Ngũ Viên không lúc nào quên và đây chính là cơ hội cho Ngũ Viên tiêu diệt Nước Sở trả mối hận trong lòng.

Đây nói về các nước thuộc quốc xưa nay tùng phục Nước Sở. Nghe nói Sở Chiêu Vương bắt được thanh kiếm (Trạm Lư) đều đến chúc mừng. Nước Đường là Đường Thành Công. Nước Sái là Sái Chiêu Công cũng đến chúc mừng.

Sái Chiêu Công có một đôi ngọc bích quý hiếm màu mỡ dê và hai chiếc áo cừu bằng lông Điêu Bạch vô cùng hiếm quý. Bằng đem mỗi thứ mỗi cái dâng cho Sở Chiêu Vương để làm lễ chúc mừng Sở Chiêu Vương bắt được kiếm quý. Còn lại mỗi thứ một cái để đeo và mặc. Nang Ngõa vừa trông thấy thời thích lắm lòng tham nỗi lên muốn chiếm lấy cho bằng được.

Bằng sai người đến gặp Sái Chiêu Công nói:

   Muốn Nước Sở quan tâm đến Nước Sái thời phải dâng nạp Bích Ngọc và áo Cừu Lông Điêu Bạch cho Nang Ngõa.

Sái Chiêu Công lấy làm tức lắm nhưng nhẫn nhịn nói rằng:

   Chuyện gì thì được chứ chuyện nầy thì không được.

Từ chối không chịu đưa Ngọc Bích, Áo Quý cho Nang Ngõa.

Đường Thành Công có một đôi ngựa rất quý tên gọi là Túc Sương. Thành Công có ý muốn khoe đôi ngựa quý của mình. Bằng cho đôi ngựa ấy kéo xe đi đến Nước Sở xe ngựa đi nhanh và êm lắm. Nang Ngõa nhìn thấy thì lòng tham nổi lên muốn chiếm về mình.

Nang Ngõa sai người đến nói với Đường Thành Công rằng:

   Quan Lệnh Doãn tôi muốn có đôi ngựa của Ngài. Nếu Ngài đem dâng thời Nước Đường sẽ được bình yên.

Đường Thành Công nghe xong vô cùng tức giận nói rằng:

   Đường Thành Công ta không thể theo ý của lệnh Doãn được.

Nang Ngõa lấy làm tức lắm lập mưu hại Đường Thành Công và Sái Chiêu Công. Bằng vào triều tâu với Sở Chiêu Vương rằng:

   Đường Thành Công và Sái Chiêu Công tư thông với Nước Ngô. Nếu tha cho về thì tất dẫn Ngô sang đánh Sở, chi bằng bắt giữ lại.

Sở Chiêu Vương nghe lời Nang Ngõa bằng truyền bắt Đường Thành Công và Sở Chiêu Công.

Nói về Đường Thành Công và Sái Chiêu Công chưa kịp về nước thời thấy quân binh ập tới bắt đem giam ở quán xá cho một nghìn quân canh giữ. Đường Thành Công và Sái Chiêu Công ngậm đắng nuốt cay. Ở vào thời điểm nầy Sở Chiêu Vương còn ít tuổi. Quyền chính đều ở trong tay Nang Ngõa. Nang Ngõa muốn làm gì thì làm. Không ai là không sợ. Đường Thành Công và Sái Chiêu Công bị giam tại Sở đã ba năm trời. Không biết chừng nào trở về không chừng bỏ mạng tại nơi đây.

Của quí khoe ra họa biết bao

Gặp phải ác quan mạng âm tào

Thế sự xưa nay phường ăn cướp

Vua quan đầy rẫy bụng gươm đao

Giết người cướp của xưa nay thế

Vỏ bọc nghĩa nhân bán chào rao

Miếng mồi danh lợi luôn câu nhắp

Chém giết tranh giành khổ biết bao.

Nói về Thế Tử Nước Đường không thấy Đường Thành Công trở về liền sai Quan Đại Phu là Công Tôn Triết đến Nước Sở dọ tin, mới biết là Đường Thành Công bị giam.

Công Tôn Triết nói với các thị vệ rằng:

   Chúa Công Ta tiếc đôi ngựa quý, để chịu giam mãi ở Nước Sở. Chúa Công sao lại trọng súc vật mà xem thường mạng sống coi thường nước nhà như thế. Chi bằng chúng Ta lấy trộm đôi ngựa quý ấy, đem dâng cho Quan Lệnh Doãn nước Sở để Chúa Công được về. Khi Chúa Công về nước rồi có trị chúng ta về tội lấy trộm ngựa đem dâng cho Quan Lệnh Doãn thì chúng ta cũng cam lòng.

Các thị vệ theo lời liền đem rượu ngon mạnh cho kẻ giữ ngựa uống. Những người giữ ngựa liền uống say, các thị vệ liền trộm ngựa đem giao cho Công Tôn Triết.

Công Tôn Triết liền đem đôi ngựa quý đến giao nạp cho Nang Ngõa nói rằng:

   Chúa Công tôi có lòng kính mến Quan Lệnh Doãn. Sai chúng Tôi đem đôi ngựa quý đến đây dâng lên Ngài.

Nang Ngõa trong lòng khoang khoái vô cùng nói:

   Có thế chứ. Thức thời sớm phải có hay hơn không.

Nang Ngõa liền nhận lấy đôi ngựa. Sáng hôm sau vào chầu Nang Ngõa tâu với Sở Chiêu Vương rằng:

   Đường Thành Công bị giam ba năm như thế cũng đủ biết sợ không dám phản lại sở Ta. Dẫu Ta có tha cho về cũng chẳng làm gì Ta nổi. Nước Đường đất nhỏ quân ít nếu Đường Thành Công manh tâm tạo phản. Thì đem quân thảo trừ cũng không muộn.

Sở Chiêu Vương nghe lời Nang Ngõa tha cho Đường Thành Công. Đường Thành Công về đến Nước Đường. Công Tôn Triết cùng đám thị vệ đều sụp lạy trước sân rồng xin chịu tội.

Đường Thành Công nói:

   Các ngươi không đem ngựa mà dâng lên cho đứa tham phu ấy, thì dễ gì chúng tha cho ta về nước. Đó là lỗi của Ta vì quá tiếc của quý.

Đường Thành Công liền trọng thưởng cho Công Tôn Triết cùng đám thị vệ.

Nói về Sái Chiêu Công nghe nói Đường Thành Công dâng ngựa được thả về. Cũng đem áo cừu lông Bạch Điêu quý hiếm cùng ngọc bội cho người đem dâng cho Nang Ngõa.

Nang Ngõa nhận áo cùng ngọc bội lấy làm đắc ý nói:

   Ta muốn là Trời muốn. Ai không dám tuân.

Sáng hôm sau Nang Ngõa lại vào chầu tâu với Sở Chiêu Vương rằng:

   Sái Chiêu Công cũng như Đường Thành Công. Ta đã tha cho Đường Thành Công, thời còn giữ Sái Chiêu Công để mà làm gì nữa.

Sở Chiêu Vương nghe theo lời Nang Ngõa thả Sái Chiêu Công. Sái Chiêu Công trên đường trở về nước trong lòng căm hận Vua Sở vô cùng.

Khi đến sông Hán Thủy bằng cầm lấy viên Bích Ngọc ném xuống sông Hán Thủy mà thề rằng:

   Nếu Ta không đánh được Sở mà lại qua sông nầy lần nữa thì xin chết như thế nầy.

Khi về đến Nước Sái. Tức khắc Sái Chiêu Công cho Thế Tử Nguyên sang làm con tin tại Nước Tấn. Để mượn quân Tấn đánh Sở. Hơn nữa Tấn Định Công khi ấy quyền uy rất lớn. Tấn Định Công đem việc Nang Ngõa nước Sở tham lam tố cáo lên Nhà Chu, Chu Kính Vương.

Chu Kính Vương Nhà Chu nghe xong ra vẻ giận dữ, cũng như tỏ rõ sự uy quyền của mình. Liền sai quan Khanh Sĩ là Lưu Quyền đem quân đến giúp Sái Chiêu Công.

Từ khi Nang Ngõa lên nắm Quyền Lệnh Doãn Nước Sở. Thời xem thường các nước thuộc quốc. Như Tống – Tề – Lỗ – Vệ – Trần – Trịnh – Hứa – Tào – Cử – Châu – Đốc – Hồ – Đằng – Tiết – Kỷ – Tiêu – Châu – Tử – Đường – Sái. Cả thảy 20 nước đều oán Nang Ngõa là người tham lam thấy ai có của quý thì kiếm cớ lấy cho bằng được.

Nói về quan Khanh Sĩ là Lưu Quyền thừa lệnh Chu Kính Vương đem quân đến nước Tấn. Lúc bấy giờ Sĩ Ưỡng nước Tần làm đại Tướng. Tuân Di làm phó Tướng đem quân các trấn chư hầu hội ở đất Thiệu Lăng. Tuân Di nghĩ mình vì nước Sái mà đánh Sở. Là có công với Nước Sái nên muốn đòi ăn tiền.

Bằng đến gặp Sái Chiêu Công rằng:

   Tôi nghe nói nhà Vua có áo Cừu lông điêu bạch, và ngọc bội đêm dâng cho Vua Nước Sở, sao Tôi lại không có gì cả. Chúng Tôi vì nhà Vua mà cất quân đi đường xa nghìn dặm, chẳng hay nhà Vua lấy gì, lấy gì mà khao thưởng quân sĩ nước Tôi?

Sái Chiêu Công nghe Tuân Di đòi ăn tiền trước thì ngán ngẩm chán nản vô cùng. Nang Ngõa kia chưa diệt thời Nang Ngõa khác mọc ra. Tất cả chỉ vì sự tham lam mà gây ra bao chiến tranh loạn lạc bất hòa chém giết triền miên.

Sái Chiêu Công nói:

   Tôi thấy Quan Lệnh Doãn Nước Sở là người tham lam không kể gì đến phải trái. Tôi mới bỏ Sở mà đi theo Tấn coi nước Tấn là Minh Chủ của nước Tôi. Nếu Ngài nghĩ đến cái nghĩa của Minh Chủ giúp đở các thuộc quốc mà đem quân đánh Sở. Thì năm trăm dặm ở đất Sở kia mặt sức tha hồ mà khao thưởng quân sĩ, còn gì lợi hơn nữa.

Tuân Di nghe Sái Chiêu Công nói thế có ý hổ thẹn không muốn giúp Sái Chiêu Công đánh Sở nữa.

Lúc bấy giờ Phương Nam Văn Lang đến thời mạc pháp Văn Hóa Cội Nguồn không còn. Nước Văn Lang ngày càng rơi vào cảnh tối tăm tình hình chính trị bất ổn Bắc Văn Lang rơi vào tay cha Con Việt Vương Doãn Thường Nước Văn Lang bị chia cắt làm hai. Nam Bắc phân tranh Doãn Thường và Hùng Vương đánh nhau kịch liệt.

Phương Bắc Nhà Chu các trấn chư hầu tham lam chém giết nhau dữ dội vô cùng thảm khốc. Lúc bấy giờ trời mưa dầm dề muỗi sanh ra hoành hành dữ dội dân chúng bị bệnh dịch sốt rét nhiều vô số kể. Quan Khanh Sĩ Nhà Chu bị bệnh cũng không tránh khỏi bị bệnh sốt rét nằm liệt gường chưa ngồi dậy nổi.

Tuân Di nói với Sĩ Ưỡng rằng:

   Ngày xưa Tề Hoàng Công cường thịnh hùng mạnh như thế mà còn phải đóng quân ở Thiệu Lăng để giảng hòa với Sở. Tiên Quân nước Tấn ta là Văn Công tài trí vô song mà chỉ đánh thắng được Sở có một trận. Mà chiến tranh lan tràn mãi không thôi. Nước Tấn Ta từ khi cùng Sở giảng hòa hai bên vẫn chưa hiềm khích gì với nhau. Nước Sở vô cùng hùng mạnh không thể đánh là thắng liền được đâu, hơn nữa độ nầy mưa nhiều nước lụt. Bệnh dịch sốt rét đang phát. Tôi e rằng tiến quân đánh Sở vị tất đã đánh được Sở, khi hai bên giao tranh tiến không được mà lui về thời bị quân Sở đuổi theo tổn hại quân binh không sao lường trước, Ta nên lo tính trước mới được.

Sĩ Ưỡng không khác gì Tuân Di cũng là tay tham phu chỉ biết tiền tài vàng bạc. Muốn ăn tiền của Nước Sái nhưng chưa được mãn nguyện. Hai tay tham phu nầy mới viện cớ mưa nhiều nước lụt, bệnh dịch, tiến binh bất lợi. Nước Sở hùng mạnh khó mà đánh.

Tuân Di, Sĩ Ưỡng cho Thế Tử trở về Nước Sái rồi hạ lệnh lui quân. Hơn 18 nước thuộc quốc trấn chư hầu thấy nước Tấn là con chim đầu đàn lui quân không đánh Sở. Thời cũng đều lui quân về cả.

Sái Chiêu Công thấy các nước rút quân về không ai chịu giúp mình nữa hết còn huy vọng đánh Sở để trả thù rửa hận, trong lòng vô cùng chán ngán. Sái Chiêu Công đành rút quân từ Thiệu Lăng trở về  khi đi qua Nước Thẩm. Sái Chiêu Công nổi giận vì Vua Thẩm không theo Sái đánh Sở. Sái Chiêu Công liền sai quan đại phu là Công Tôn Tính, đem quân đánh Thẩm. Vua Thẩm đánh không lại bị Sái Chiêu Công bắt được giết đi để cho hả lòng oán Sở.

Nhìn thế cuộc đảo điên, điên đảo

Tham, với Sân, vì của vì tiền

Tranh nhau chém giết giựt giành

Khác gì cầm thú chẳng còn người ta.

Nang Ngõa quan lệnh Doãn nước Sở nghe Sái Chiêu Công giết Vua Thẩm với cái tội không chịu giúp Sái đánh Sở. Nang Ngõa giận lắm đem quân kéo đến vây hãm thành Sái Chiêu Công.

Công Tôn Tính nói với Sái Chiêu Công rằng:

   Chúa Công không thể trông cậy ở Nước Tấn được nữa. Chi bằng sang cầu viện nước Ngô. Các quan nước Ngô như Ngũ Viên, Bá Hi đều là cừu địch với Nước Sở tất thế nào cũng giúp Ta.

Sái Chiêu Công nghe lời sai Công Tôn Tính sang hội ước với Đường Thành Công để cùng đi mượn quân Nước Ngô đánh Sở. Lại cho người con thứ là Công Tử Kiền sang ở làm con tin. Ngũ Viên đưa sứ giả Nước Đường và Nước Sái vào yết kiến Hạp Lư.

Và nói với Hạp Lư rằng:

   Nước Đường và Nước Sái oán hận Nước Sở. Xin làm tiên phong đem quân đánh Sở. Đây là một cơ hội hiếm có. Đem quân đến cứu Nước Sái gây tiếng vang tốt. Nhân cơ hội nầy đánh Sở là một lợi to. Đại Vương muốn tiêu diệt Nước Sở tiến vào Sính Đô lên ngô bá chủ chính là cơ hội nầy.

Hạp Lư mừng trong bụng liền nhận lời hợp tác cùng Nước Đường Nước Sái tiêu diệt Nước Sở. Bằng nói với Công Tử Tính về trước nói với Sái Chiêu Công và Đường Thành Công biết.

Hạp Lư đang bàn việc tiến binh cùng Ngũ Viên thì Quân Sư Tôn Vũ cũng vừa tới. Hạp Lư hỏi Tôn Vũ:

   Thời cơ thuận lợi đã đến Quân Sư liệu kế ra sao?

Tôn Vũ nói:

   Tâu Đại Vương. Nước Sở khó đánh là vì có nhiều thuộc quốc trấn chư hầu. Nên chưa thể tiến quân tiêu diệt Sở, Nay các thuộc quốc trấn chư hầu phần đông là oán Sở. Cụ thể như Vua Tấn chỉ cần xướng lên một câu mà có tới 20 nước hợp sức đánh Sở. Trong 20 nước ấy. Thời Nước Trần, Nước Hứa, Nước Hồ, Nước Đốn, Nước Sái, Nước Đường. Đều là thuộc quốc trấn chư hầu của Sở. Mà nay bỏ Sở theo Tấn. Xem thế thời biết các nước đều oán Sở. Chẳng những Nước Đường, Nước Sái mà còn nhiều nước khác nữa. Phen nầy Nước Sở cô thế chính là cơ hội cho Đại Vương tiến binh diệt Sở.

Hạp Lư là tay tham tàn bạo ác đời nào bỏ lở cơ hội nầy nghe theo lời nhận định của Ngũ Viên cũng như Tôn Vũ. Bằng sai Bị Ly cùng Chuyên Nghị giúp Thế Tử Ba giữ Nước. Còn mình thì thống lĩnh quân binh tiến đánh tiêu diệt Nước Sở.

Hạp Lư phong cho Tôn Vũ làm Đại Tướng. Ngũ Viên, Bá Hi làm phó Tướng. Công Tử Phu Khái làm tiên phong. Công Tử Sơn đốc vận lương thực. Rồi thống lĩnh 15 vạn quân Ngô chia làm hai đạo quân một đạo quân theo đường thủy. Một đạo quân theo đường bộ tiến thẳng đến giải vây cho Nước Sái.

Nói về Nang Ngõa thống lĩnh hơn 5 vạn quân Sở bao vây kinh thành Nước Sái tìm cách phá thành giết chết Sái Chiêu Công với cái tội phản Sở. Thì nghe nói quân Ngô chia làm hai đạo quân. Một đạo quân vượt sông Hoài tràn tới. Một đạo quân theo đường bộ tràn tới. Hai đạo quân như nước vỡ bờ tiến tới bao vây quân Sở.

Nang Ngõa biết đánh không lại vì trong thành quân Sái đánh ra, bên ngoài quân Ngô đánh vào. Bằng bỏ Sái Thành rút về nước. Lại sợ quân Ngô vượt qua Sông Hán tiến đánh Sính Đô. Mới cho đóng quân canh giữ nơi đây. Và sai người về Sính Đô cấp báo.

Nói về Sái Chiêu Công ở trên thành thấy quân Sở rút lui không bao vây Sái thành nữa. Xa xa nhìn thấy quân Ngô từ hai hướng Tây Nam kéo tới đông như kiến thì không khỏi kinh hoàng: Không ngờ quân Ngô lại hùng mạnh như vậy. Thảo nào quân Sở không dám chống trả kéo quân rút lui bỏ đi.

Sái Chiêu Công nghinh tiếp Hạp Lư. Rồi vừa khóc vừa kể những tội ác của Vua tôi Nước Sở. Sái Chiêu Công tiếp đãi Hạp Lư một lúc thời Đường Thành Công cũng tới. Đường Thành Công và Sái Chiêu Công tình nguyện cùng theo Ngô đánh sở. Lúc sắp khởi hành tiến đánh Sở. Tôn Vũ truyền cho quân sĩ lên cả đường bộ, còn bao nhiêu thuyền bè cứ để ở khúc sông Hoài.

Ngũ Viên thấy vậy hỏi riêng Tôn Vũ:

   Kế sách dụng binh như thế nào?

Tôn Vũ nói:

   Đi đường thủy ngược dòng nước rất chậm lại tốn nhiều sức lực Sở lại phòng bị trước khó mà phá nổi. Chi bằng ta tiến quân bằng đường bộ gây sự chú ý bất ngờ cho quân địch, chúng không đoán ra kế sách của Ta, nên chúng sa vào bẩy kế sách của Ta, và Ta cho chúng một trận nên thân.

Ngũ Viên nghe xong lấy làm bội phục. Đại binh nước Ngô tiến qua đường Dự Chương, tiến thẳng đến phía Bắc Sông Hán. Khi ấy quân Sở đóng ở phía Nam sông Hán Thủy ngày đêm phòng bị quân Ngô dọc theo sông Hán tiến đánh. Chừng Nang Ngõa nghe lại thuyền quân Ngô đều đóng ở cả Sông Hoài, Nang Ngõa lấy làm yên lòng không hiểu nổi kế sách điều quân khiển tướng của Tôn Vũ.

Nói về Sở Chiêu Vương nghe tin quân Ngô tiến đánh Sở liền hợp các quan lại hỏi kế sách. Công Tử Thâm nói:

   Muốn đánh bại quân Ngô. Đại Vương nên sai quan Tư Mã là Thẩm Doãn Thú trấn giữ không cho quân Ngô tiến qua sông Hán. Quân Ngô đi đường xa xôi lại không có tiếp ứng tất lui quân trở lại, không làm gì được nước Sở Ta đâu.

Sở Chiêu Vương cho là chí phải liền sai Thẩm Doãn Thú đem một vạn rưỡi quân hợp cùng quân Nang Ngõa để chống lại quân Ngô không cho quân Ngô tiến qua sông Hán.

Thẩm Doãn Thú được quân cấp báo là:

   Quân Ngô bỏ thuyền bè ở sông Hoài theo đường bộ qua Dự Chương tìm đường vượt qua sông Hán.

Thẩm Doãn Thú nghe xong cười ngất rồi nói rằng:

   Tiếng đồn Tôn Vũ dụng binh như thần, nhưng dưới mắt của Ta, Tôn Vũ chỉ là hữu danh vô thực dụng binh như lũ trẻ con.

Nang Ngõa không tin tài phán đoán của Doãn Thú bằng hỏi:

   Lấy cơ sở nào nói Tôn Vũ dụng binh như trẻ con?

Thẩm Doãn Thú nói:

   Người nước Ngô quen thạo về thuyền bè, lợi thế về việc đánh thủy, nay lại bỏ thuyền bè ở khúc sông Hoài để đi cho chóng, vạn nhất thua trận thì lấy đường nào mà chạy về? Ta nghĩ cũng nực cười cho Tôn Vũ quá.

Nang Ngõa nói:

   Quân Ngô hiện đang đóng ở phía Bắc sông Hán ta dùng kế sách gì mà phá được?

Thẩm Doãn Thú nói:

   Tôi chia thêm cho Ngài năm nghìn quân. Ngài cứ dọc theo bờ sông Hán gôm hết thuyền bè của dân lại ở bên nầy sông lại cho sai quân đi tuần khắp mặt sông khiến cho quân Ngô không thể nào qua sông được. Tôi đem đại binh qua đường Tân đến sông Hoài, đốt sạch thuyền bè của quân Ngô. Làm cho quân Ngô sợ hãi hoang mang. Khi ấy Ngài đem quân sang sông Hán đánh vào mặt trước quân Ngô. Tôi đem quân đánh vào mặt sau quân Ngô. Quân Ngô hết đường mà chạy chắc hẳn bắt sống được Vua Tôi nước Ngô.

Nang Ngõa nghe xong mừng lắm nói:

   Tôi chịu kém tài không bằng quan Tư Mã rồi.

Thẩm Doãn Thú cho quan đại tướng là Vũ Thành Hắc thống lĩnh năm nghìn quân ở lại trợ giúp Nang Ngõa còn mình thì đem đại binh theo đường Tân đến sông Hoài đốt thuyền bè quân Ngô. Nhưng kế hoạch Thẩm Doãn Thú không thực hiện được bị Tôn Vũ, Ngũ Viên xây chuyển tình thế đánh bại Nang Ngõa, cũng như Thẩm Doãn Thú.

Hạp Lư Vua Ngô tiến về Sính Đô không có một thế lực nào ngăn nổi, không những thế Tôn Vũ còn biết vận dụng cả nước sông Chương Giang, tháo nước sông Chương Giang chảy vào kỷ Nam Thành, rồi tràn vào Sính Đô ngập trắng xóa như biển cả.

Sở Chiêu Vương phải bỏ Sính Đô cùng em gái là Quý Vu xuống thuyền chạy trốn khỏi nước Sở. Hạp Lư không những lấy sạch của cải châu báu nước Sở, mà xài cả vợ của Sở Chiêu Vương. Tâm ý hung bạo tận diệt nước Sở bằng cho người đập phá tôn miếu của nước Sở, phá hủy sự anh linh của nước Sở.

Ngũ Viên trả thù Cha, Anh cũng đào mồ mả Sở Bình Vương. Lôi xác Sở Bình Vương ra lấy roi đồng đánh ba trăm roi, giẫm chân lên bụng Sở Bình Vương, móc mắt Sở Bình Vương, cắt lấy đầu Sở Bình Vương đem xác Sở Bình Vương quăng ở giữa cánh đồng. Văn Hóa phương Bắc là như thế hung dữ hơn sói, lang, hổ, báo. Độc hơn rắn, rít là do thể chế độc tài độc trị cường hào ác bá tạo ra. Văn Hóa cường hào ác bá nầy xâm nhập vào Bắc Văn Lang. Phá hoại nền Văn Minh đoàn kết hưng thịnh nước Văn Lang.

**************

PHẦN 25

Nói về phương Bắc nhà Chu các nước tranh bá tranh hùng thôn tính với nhau vô cùng khốc liệt. Các nước Phương Bắc những nước lớn nhất cũng chỉ bằng một bộ Văn Lang mà thôi, phần đông các nước Phương Bắc chỉ bằng một Châu, nhiều nước chỉ bằng Quận, Huyện Văn Lang. Ở điểm nầy cũng đủ biết Văn Hóa Văn Lang là Văn  Hóa thống nhất từ Trung Ương đến Bộ, Châu, Quận, Huyện, không phải là Văn Hóa phân chia thành các trấn chư hầu nhiều nước như phương Bắc. Dẫn đến thôn tính lẫn nhau tranh bá tranh hùng.

Chỉ có một nước Văn Lang rộng lớn duy nhất nhiều Bộ, nhiều Châu, nhiều Quận, Huyện thống nhất từ trên xuống dưới. Không có cảnh tranh giành thôn tính lẫn nhau. Trừ khi các Bộ, Châu, Quận, Huyện nổi lên đòi tự trị xưng là Vua nầy Vua nọ theo xu thế Văn Hóa Phương Bắc nhà Chu tranh bá tranh hùng thôn tính lẫn nhau, phương Bắc thời nhà Chu có cả đến hàng trăm nước. Nước nầy thôn tính nước kia, nước kia thôn tính nước nọ chiến tranh triền miên lúc thì dữ dội lúc thời thâm trầm bao cái độc được đem ra sử dụng đến đỉnh cao độc quyền, độc tài, độc trị, độc tâm, độc tánh, độc ác, bao cái độc đem ra dùng hết không chừa món chi cũng chỉ vì thâu tốm quyền lực danh với lợi cũng cố độc tài độc trị cho cá nhân mình. Không kẻ gì đạo lý con người, không ít Vương, Quan, Vua, Chúa hung tàn bạo ác tàn sát cả người thân ruột thịt, mất hết lương tri.

Ở vào thời kỳ đen tối ấy xuất hiện kỳ nhân ra đời hiệu là Khổng Tử vào năm 555 trước công nguyên, Khổng Tử sinh ở Ấp Trâu, thuộc làng Xương Bình người nước Lỗ. Tên là Khâu. Tự là Trọng Ni. Cha là Thúc Lương Ngột.

Thúc Lương Ngột lấy con gái họ Thi nước Lỗ không có con, người thiếp sanh được một con, tên là Mạnh Bì, nhưng lại có tật ở chân. Thúc Lương Ngột mới sai người đến nhà họ Nhan để cầu hôn. Họ Nhan có năm người con gái đều chưa gả chồng, có ý chê Thúc Lương Ngột đã già.

Nhan Ông mới bảo các con rằng:

   Các con có đứa nào thuận kết duyên với quan đại phu ở Trâu Ấp không ?

Các con các cô chị không ai trả lời cả, chỉ riêng người con gái út tên là Nhan Thị đứng dậy thưa rằng:

   Phận làm con thì phải theo lời Cha. Cha đặt đâu thì con ngồi đó còn phải hỏi gì.

Nhan Ông nghe con gái út nói thế lấy làm lạ, bằng gả Nhan Thị cho Thúc Lương Ngột. Vợ chồng Thúc Lương ngột sợ tuổi già hiếm con nên thường đến cầu tự ở Ni Sơn.

Một hôm Nhan Thị nằm mộng thấy Thần Hắc Đế triệu đến mà bảo rằng:

   Sau nầy nàng sẽ sanh được con Thánh.

Một hôm Nhan Thị mơ mơ màng màng, trông thấy năm ông cụ già đứng dưới sân, tự xưng là năm vì sao, dắt một con thú như con trâu con có một sừng, mình lại có vằn. Con Thú ấy trông thấy Nhan Thị thời nằm phục ngay xuống nhả cái thước ngọc trong miệng ra. Trên cái thước ngọc có câu văn rằng: “Con nhà Thủy Tinh, nối đời Chu suy mà làm Tố Vương”. Nhan Thị lấy dải lụa buộc vào sừng con thú dắt đi khi tỉnh dậy thì biết mình đã có thai.

Nhan Thị đem chuyện thấy trong mơ cũng như sự mang thai của mình kể lại cho Thúc Lương Ngột nghe. Thúc Lương Ngột nói:

   Con thú ấy chính là con Kỳ Lân.

Nhan Thị sanh ra đứa bé có nhiều tướng lạ trên đầu gồ giữa lõm cho nên đặc tên là Khâu, tức là trên đầu nhô lên cái gò, môi như môi Trâu, tay như tay Hổ, vai như vai Chim Uyên, lưng như lưng con Rùa. Miệng rộng, hầu lộ, trán phẳng mà cao.

Thúc Lương Ngột nói:

   Vì hai ta cầu Tự ở Ni Sơn mà được đứa bé nầy, vậy thì ta đặc tên cho con là Khâu tự là Trọng Ni.

Khổng Tử sanh ra thì Thúc Lương Ngột qua đời, chôn ở núi Phòng Sơn. Núi Phòng Sơn ở phía đông nước Lỗ. Khổng Tử không biết mộ Cha ở đâu. Vì Mẹ Ông kiêng kỵ không nói cho Ông biết mồ Cha ở đâu. Đến khi Mẹ chết Khổng Tử chôn tạm Mẹ ở con đường Ngũ Phụ. Vì Ông cẩn thận. Mẹ của Văn Phụ người đất Trâu, nói cho Khổng Tử biết nơi mộ của Cha. Cho nên về sau Khổng Tử hợp tán cả Cha và Mẹ ở núi Phòng Sơn.

Khổng Tử nghèo hèn lớn lên làm công cho họ Quý nhờ sự thông minh hơn người tính toán đo lường minh bạch, nên được làm chức coi súc vật. Được ít lâu thời được Lỗ Định Công trọng dụng.

Khổng Tử trưởng thành mình dài chín thước sáu tất, có Thánh Đức, ham học. Mộ hôm Họ Quý trọng đãi những kẻ sĩ. Khổng Tử cũng đến để tham dự.

Dương Hổ mắng Khổng Tử:

   Họ Quý trọng đãi kẻ sĩ không phải trọng đãi nhà ngươi đâu.

Khổng Tử nghe xong bèn rút lui. Từ đó Khổng Tử chỉnh đốn tu Thân hàng ngày diệt Tà Ý bất chính trong lòng bằng phương pháp túi hạt đậu đen đậu trắng, nếu nói câu trái lương Tâm chẳng lành thì bỏ hạt đậu đen vào cái túi. Nói được một lời thiện thì bỏ hạt đậu trắng vào cái túi. Và cứ thế Khổng Tử ngày nào cũng tự mình phân xử lấy thiện ác của mình đến năm thứ 3 thời hạt đậu trắng nhiều hơn hạt đậu đen. Khổng Tử biết mình sắp thành chính nhân quân tử và nhiều tháng liền Khổng Tử thấy trong bao đựng ngày nào cũng toàn là hạt đậu trắng thì biết mình đã trở thành Thánh Thiện.

Từ đó Khổng Tử thường đi chu các nước, khắp thiên hạ chỗ nào cũng có học trò. Khi còn nhỏ Khổng Tử thích chơi trò Tế Lễ Cúng Bái. Lớn lên Khổng Tử thông thạo các Lễ nhạc, cũng như hiểu rõ sự lợi ích của Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín. Nên Vua các nước đều muốn trọng dụng Khổng Tử. Nhưng lại bị các nhà quyền quý đem lòng ganh ghét, thành ra không nước nào dùng được. Khổng Tử người nước Lỗ.

Năm thứ 19 đời Chu Kính Vương. Khổng Tử thấy Lỗ Định Công ngày đêm ham mê tử sắc lời ca tiếng hát, chẳng nghĩ gì đến chính sự chán ngán thở dài.

Học trò Khổng Tử là Trọng Do đứng hầu bên cạnh nói rằng:

   Chúa Công chẳng nghĩ gì đến chính sự Thầy nên đi nước khác.

Khổng Tử liền bỏ nước Lỗ sang nước Vệ. Một hôm Vệ Linh Công ngồi cùng xe với nàng Nam Tử, để Khổng Tử đi xe sau.

Khổng Tử thở dài mà than rằng:

   Vua Vệ yêu đức không bằng yêu sắc.

Khổng Tử liền bỏ Vệ sang Tống cùng học trò giảng Lễ ở dưới một gốc cây lớn. Quan Tư Mã nước Tống là Hoàn Khôi được Tống Cảnh Công trọng dụng nên có quyền thế y rất ghét Khổng Tử sai quân binh chặt cây đi rồi tìm cách giết Khổng Tử.

Khổng Tử phải cải trang bỏ trốn sang Trịnh. Trịnh có ý muốn hãm hại Khổng Tử.

Khổng Tử lại trốn sanh Tấn. Tấn không dùng Khổng Tử. Khổng Tử trở về nước Vệ. Không bao lâu thời Vệ Linh Công mất. Con Khoái Quý lên ngôi thay cha trở thành Vệ Xuất Công.

Khổng Tử nhìn thấy cảnh hai cha con Khoái Quý tranh giành quyền lợi lẫn nhau, không kể gì Đạo Cha Con. Tấn giúp Khoái Quý. Tề giúp Công Tử Triếp. Hai cha con tương tàn chém giết lẫn nhau không còn nhân tính.

Khổng Tử thấy vậy bỏ Vệ sang Trần, nước Trần không trọng dụng Khổng Tử.

Khổng Tử sang nước Sái. Nhưng nước Sái cũng không mấy mặn mà với Khổng Tử.

Sở Chiêu Vương nghe tin Khổng Tử không ở nước Trần cũng như nước Sái thì cho người đi đón. Các Quan đại phu nước Trần nước Sái sợ nước Sở dùng Khổng Tử thì nguy cho nước mình, bằng đem quân vây Khổng Tử.

Khổng Tử phải nhịn đói liền trong ba ngày. Nước Sở đem quân đón Khổng Tử. Khổng Tử đến nước Sở. Sở Chiêu Vương mừng lắm, toan đem đất lý xa phong cho Khổng Tử.

Quan Lệnh Doãn là Công Tử Thân can rằng:

   Ngày xưa Văn Vương ở phong, Vũ Vương ở kiểu, chỉ độ một trăm dặm đất mà biết tu thân tích đức. Thành ra thay quyền Nhà Ân lên làm vua. Nay đức tính của Khổng Khâu chẳng kém gì Văn Vương và Vũ Vương mà học trò đều là bậc nhân sĩ hiểu đạo lễ nghĩa bậc hiền. Nếu phong đất cho Khổng Khâu thời sau nầy tất là thay quyền nước Sở ta mất.

Sở Chiêu Vương nghe Công Tử Thân khuyên can như thế nên thôi không phong đất cho Khổng Tử. Khổng Tử biết là Sở Chiêu Vương không thể dùng mình được. Khổng Tử lại bỏ Sở trở về nước Vệ.

Cuộc đời Khổng Tử là như thế Vua các nước đều muốn trọng dụng Khổng Tử. Nhưng lại bị các nhà quyền quý ganh ghét hãm hại Vua phải nghe theo các triều Thần. Vì phương Bắc ở vào thời đó là thời đại đỉnh cao của Phong Kiến Thần Giáo. Vua thường làm theo nghe các Triều Thần. Đạo Khổng Tử là Thánh Giáo luôn bị Thần Giáo bác bỏ vì sợ Thánh Giáo của Không Tử chuyên xây làm hại.

Những học trò ưu tú Khổng Tử như Tử Lộ, Trọng Do, Tử Cống, Nhan Hồi, Nhiễm Cầu thường nghe Khổng Tử than:

   Thiên hạ mất Đạo làm người từ lâu rồi. Chỉ biết chạy theo cái tài tranh hùng tranh bá, nên không mấy ai biết theo ta, để trở thành Đạo Quân Tử đích thực.

Ở vào thời đại Phong Kiến Thần Giáo tôn thờ cái Tài là chính, cái Đức chỉ là phụ tranh bá tranh hùng tôn tính lẫn nhau bất chấp thủ đoạn tàn độc vô cùng. Khổng Tử đi đến đâu thường gặp bất lợi đến đó.

Một hôm Khổng Tử hỏi Nhan Hồi:

   Nho Đạo của Ta phải chăng là sai ? Tại sao Ta mãi gặp cảnh thế nầy ?

Nhan Hồi nói:

   Đạo Quân Tử Phu Tử hết sức lớn lao, nên cả Thiên Hạ không ai dung nạp được. Nhưng Phu Tử cứ theo đó mà làm, người ta không dung nạp thì có hại gì ? Người ta sau nầy sẽ thấy Đạo Phu Tử là Đạo người quân tử. Cái Đạo làm sáng cái Đức con người. Cái Đạo an bang tế thế. Kẻ làm Vua, Chúa mà không dung nạp cái Đạo của Phu Tử thì khó mà giữ yên ngội vị độc tôn của mình.

Và đúng vậy. Hai trăm năm sau đến thời Nhà Hán. Khi ấy Bắc Việt Trung Nguyên đã xác nhập về Phương Bắc ở vào thời Chu Nguyên Vương. Nhà Hán ra đời Đạo Khổng được phát huy tác dụng tôn vinh lên đến đỉnh cao của Nho học Khổng Giáo. Phương Bắc chuyển sang giai đoạn mới, Giai đoạn Phong Kiến Vua Chúa theo Nho Giáo, lấy Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín làm sáng cái  Đức của người quân tử. Và Lễ luôn đặc lên hàng đầu. Những điều cơ bản của Lễ, trong nghi lễ. Lễ nghi, Lễ Nhạc vô cùng quan trọng làm hưng thịnh của Nho Giáo.

Lại nói về Vua Ngô là Hạp Lư thôn tính nước Sở uy danh lừng lẫy. Sanh ra chơi bời sửa sang cung thất, lập cung thường lạc ở giữa kinh thành. Lại cho người xây đắp Cao Đài ở trên núi Cô Tô (Núi ở phía Tây Nam thành nước Ngô cũng là núi Cố Tư). Mở một con đường chín khúc đi vòng quanh núi. Mùa xuân và mùa Hạ, Hạp Lư ở ngoài thành. Mùa thu mùa đông thì vào ở trong thành. Ăn chơi trác tán. Tôn Vũ là người thức thời, hiểu rõ tướng sự đời cũng chỉ vì tham vọng tranh hùng tranh bá chém giết lẫn nhau không mấy Vua tôi là người có Đạo chỉ lo cho cái túi tham của mình. Tôn Vũ không muốn làm quan nữa tuy biết rằng mình đã lập nhiều công lớn cho nước Ngô. Tôn Vũ xin về núi tu tiên trở lại. Hạp Lư sai Ngũ Viên lôi kéo Tôn Vũ ở lại.

Tôn Vũ bảo Ngũ Viên rằng:

   Ngài còn không biết Đạo Trời hay sao? Nóng lắm thì rét nhiều. Xuân qua thời Thu đến. Nay Đại Vương cậy mình cường thịnh tất sinh lòng kêu ngạo không coi ai ra gì tất nhiên nhiều biến loạn. Nếu tôi không xin đi ở ẩn thời tránh sao cho khỏi hậu hoạn. Chẳng những Tôi lo cho Tôi mà còn lo cho Ông nữa.

Ngũ Viên nghe Tôn Vũ nói không cho là phải. Tôn Vũ trở về núi tìm nơi ẩn dật tu tiên. Hạp Lư đưa tặng mấy xe vàng, lụa. Lúc đi đường Tôn Vũ đem ban phát vàng lụa cho những dân nghèo khổ về sau không ai biết Tôn Vũ đi đâu.

Thơ rằng :

Tôn Vũ ngộ ra Đạo luật Trời

Nhân nào quả nấy khó an ngơi

Hại người người hại xưa nay thế

Huyền cơ xây chuyển họa đến nơi.

Một hôm Hạp Lư nghĩ đến cái thù Việt Trung Nguyên đánh bại Ngô khi trước, càng nghĩ càng giận. Hạp Lư nghe theo Ngũ Viên lập Phù Sai làm Thế Tôn.

Phù Sai đến nhà Ngũ Viên tạ ơn. Năm thứ 24 đời Chu Kính Vương. Hạp Lư tuổi già. Tính khí càng thêm nóng nảy. Nghe tin Việt Vương Doãn Thường qua đời. Con là Câu Tiễn lên thay thế.

Khi ấy ở Phương Nam Văn Lang Hùng Việt Vương Tuân Lang đã nhường ngôi cho con là Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang. Hùng Vương đời thứ 14 Hạ Hùng Vương. Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang đời thứ 14 lên ngôi đã được 10 năm nhờ thực hiện theo chính sách của Lạc Hầu Vương. Nam – Trung Văn Lang trở nên hùng mạnh nhiều lần đánh bật quân Việt Trung ra khỏi Trung Văn Lang chiếm lại nhiều Châu, Quận, Huyện.

Khi ấy phương Bắc bên kia sông Trường Giang Hạp Lư nước Ngô nghe tin Việt Vương Doãn Thường đã mất. Con là Câu Tiễn lên thay thế, bèn nhân khi nước Việt có tang đem quân sang đánh vì lúc ấy thế lực quân Ngô rất hùng mạnh tiếng tăm lừng lẫy.

Ngũ Viên can rằng:

   Việt Trung Nguyên tuy nhiều lần đánh Ngô ta nhưng nay đang có tang chớ nên đánh vội.

Hạp Lư không nghe, giao quốc chính lại cho Ngũ Viên và Phù Sai rồi cùng bọn Bá Di, Vương Tôn Lạc và Chuyên Nghị đem 10 vạn tinh binh tiến đánh Việt Trung Nguyên.

************** 

PHẦN 26

Nói về Hạp Lư vào năm 496 trước công nguyên thống lĩnh 10 vạn chủ lực tinh binh vượt qua sông Trường Giang tiến đánh Việt Trung Nguyên. Hạp Lư quá rõ Việt Trung đang xuống đà suy yếu vì Quân Văn Lang tấn công ra Bắc dữ dội, bao nhiêu sức lực Việt Trung Nguyên dồn hết lực lượng cho cuộc chiến tranh Nam – Bắc nầy. Với tình hình trong Nam Văn Lang đánh ra. Còn Ngô thì phương Bắc đánh vào Việt Trung Nguyên keo nầy nhất định thất thủ.

Việt Vương Câu Tiễn được tin báo là Hạp Lư Vua Ngô thống lĩnh đại quân vượt Trường Giang đánh chiếm Việt Trung Nguyên, bằng thân hành thống lĩnh quân Việt Trung Nguyên giao chiến.

Việt Vương Câu Tiễn. Phong cho Chư Kế Dĩnh làm đại tướng. Linh Cô Phù làm tiên phong. Trù Vô Dư và Tư Hãn làm tả hữu dực . Đối mặt với quân Ngô ở đất Hề, hai bên đóng dinh cách nhau 10 dặm. Ngày nào cũng cùng nhau giao chiến, chưa phân thắng bại.

Hạp Lư giận lắm mới dồn hết quân lên bày trận ở Ngũ Đài Sơn nghiêm cấm trong quân không được kinh động, chờ quân Việt Trung Nguyên trễ nải sẽ đánh.

Việt Vương Câu Tiễn trông thấy quân Ngô quân lệnh nghiêm chỉnh bèn bảo Chư Kế Dĩnh rằng:

   Khí thế quân Ngô đang hăng hái như thế kia, ta chớ nên khinh thường, dùng kế làm cho quân binh Ngô rối loạn ta mới nắm chắc được phần thắng.

Việt Vương Câu Tiễn sai Quan Đại Phu là Trù Vô Dư và Tư Hãn thúc quân binh hai bên tả hữu đánh thẳng vào hai bên tả hữu dinh trại của quân Ngô. Quân Việt Trung Nguyên phất cờ chiêng trống dậy trời gươm đao giáo mác sáng ngời ào ào lao tới.

Hạp Lư không những lúc nào cũng tham lam dòm ngó Việt Trung Nguyên mà còn vô cùng căm giận Doãn Thường Việt Vương lên tới đỉnh vì Doãn Thường đã đánh bại vua Ngô Hạp Lư sít bỏ mạng nhiền lần. Hạp Lư thấy quân Việt Trung Nguyên ào ào xông tới đánh vào tả hữu đại quân liền ra lệnh giữ nguyên tư thế dùng cung tên, cung nỏ mà chống trả lại. Quân Việt Trung Nguyên không phá nổi quân Ngô lại tổn hao quân binh càng đánh quân Việt Trung Nguyên càng thua thiệt.

Câu Tiễn đành phải rút quân trở lại. Câu Tiễn không làm gì được trước trận của quân Ngô lấy làm lo lắng.

Chư Kế Dĩnh liền mật tâu rằng:

   Ta nên dùng lũ tội nhân.

Ngay ngày hôm sau Việt Vương Câu Tiễn liền làm theo kế sách của Chư Kế Dĩnh, mật truyền quân lệnh Bắt lũ tội nhân sung vào quân binh, cả thảy hơn năm trăm người, chia làm ba toán quân để trần vai áo dàn thành hàng ba cùng hơn vạn quân binh tiến tới dinh trại quân Ngô.

Nói về Hạp Lư nhìn thấy quân Việt Trung Nguyên từ xa tiến đến có điều khác lạ chỉ có hơn một vạn quân, quân tiên phong là những chiến binh vai lưng trần. Thời nghĩ rằng: Quân Việt Trung Nguyên điên rồi chắc không sợ tên của ta sao ? Lại chỉ hơn một vạn quân không sợ ta xơi một phát là hết sạch. Không những Hạp Lư nghĩ như thế mà cả quân Ngô đều nghĩ như vậy nên ai nấy chăm chú mà nhìn.

Tốp quân đi đầu tiến sát đến quân Ngô nói lớn với quân Ngô rằng:

   Chúa Công tôi không biết tự lượng sức mình, đắc tội với quý quốc. Nay quý quốc đã đem quân sang đánh chúng tôi không dám tham sống xin tình nguyện chết thay cho Chúa Công chúng tôi.

Người tốp đi đầu nói xong thời cả bọn thi nhau thứ tự đâm vào cổ mà chết. Tốp nầy chết sạch tốp khác tiến lên thi nhau đâm vào cổ mà chết. Chuyện lạ chưa từng thấy xảy ra bao giờ quân Ngô ngơ ngác trước chuyện quái lạ bất ngờ đang xảy ra trước mắt không tập trung đề phòng cảnh giác chú ý quân Việt Trung Nguyên. Quân Ngô cứ ngây mặt ra mà nhìn hết lớp nầy đâm cổ tự sát, tới lớp kia đâm cổ tự sát lần lược thi nhau ngã gục có hơn năm trăm người lao nhao hỏi lẫn nhau.

Bất thình lình nghe thấy quân Việt Trung nguyên những người chưa tự sát nổi trống. Từ xa quân Việt Trung Nguyên Trù Vô Dư và Tư Hãn lãnh đạo duy chuyển quân binh thần tốc từ phía bên phải đánh bọc lên vào bên trái quân Ngô. Chư Kế Dĩnh, cùng Linh Cô Phủ từ phía tả duy chuyển quân thần tốc đành bọc vào cánh hữu quân Ngô. Quân Ngô hốt hoảng quân binh rối loạn.

Việt Vương Câu Tiễn thần tốc di chuyển quân binh tấn công vào mặt trước. Phía Hữu có Trừ Vô Dư, Tư Hãn. Phía tả có Chư Kế Dĩnh, Linh Cô Phù, trước mặt có Việt Vương Câu Tiễn ba mặt tấn công thần tốc.

Tướng quân Ngô là Vương Tôn Lạc cố sức chống trả lại sức mạnh tấn công của Chư Kế Dĩnh, Linh Cô Phù nhìn thấy Vua Ngô là Hạp Lư liền phi ngựa lao tới cầm trường đao chém Hạp Lư như sấm sét. Hạp Lư kinh khiếp bỏ chạy Linh Cô Phù đuổi theo, chém vào chân phải của Hạp Lư rụng hết mấy ngón chân, còn bị trúng tên Hạp Lư ngã lăng xuống đất. May có Chương Nghị đến cứu kịp thời. Chương Nghị cũng bị nhiều vết thương nặng. Bá Di cũng tiếp ứng bảo vệ Hạp Lư. Vương Tôn Lạc thấy Hạp Lư bị thương không còn ham đánh nữa vội rút quân. Quân Ngô thua to ở đất Lý Hề.

Quân Việt Trung Nguyên thắng thế đuổi theo giết chết quân Ngô quá nữa. Hạp Lư bị thương quá nặng dẫn quân tàn quân bại trận trở về nước trong nổi vừa khiếp sợ vừa nhục nhã ê chề. Linh Cô Phù lượm chiếc giày cùng năm ngón chân đầy máu của Hạp Lư dâng lên cho Việt Vương Câu Tiển. Việt Vương Câu Tiễn mừng lắm thưởng vàng bạc châu báu mấy xe cho Linh Cô Phù.

Bấy giờ Hạp Lư tuổi đã già, không chịu đau không nổi trên đường rút tàn quân về nước sực nhục nhã còn đau hơn vết thương nặng ức khí thét to lên một tiếng trào máu mà chết. Trước khi chết Hạp Lư thều thào nói với Vương Tôn Lạc, Bá Di, Chuyên Nghị là nói với Phù Sai trả thù mối nhục nầy.

Nói về quân Việt Trung Nguyên đuổi theo quân Ngô chém giết đã đời hơn bảy dặm thời rút quân trở lại. Bá Di, Vương Tôn Lạc, Chuyện Nghị đưa xác Hạp Lư về nước Ngô.

Phù Sai lên nối ngôi thay thế Hạp Lư đưa linh cửu Hạp Lư ra an tán ở Hải Dũng Sơn. Phù Sai cho người đào núi làm huyệt, rồi đem Ngư Trường của Chuyên Chư dùng khi trước đâm chết Vương Liêu chôn theo, cùng rất nhiều vàng ngọc. Khi an tán Hạp Lư xong Phù Sai cho người giết sạch những bọn thợ an tán Hạp Lư. Chương Nghị bị thương khá nặng không bao lâu cũng qua đời chết theo Hạp Lư phụ tán ở sau núi.

Phù Sai an tán Hạp Lư không bao lâu thời lập con trưởng là Hữu lên làm Thế Tử. Để nhắc nhở mối thù không đội trời chung với Việt Vương Câu Tiễn. Phù Sai cho lập một đội nội thị hằng ngày đứng giữa sân.

Mỗi khi Phù Sai đi ra đi vào thì đội quân nội thị quát to lên rằng gọi tên mà bảo:

   Phù Sai. Mầy quên cái thù Vua Việt giết chết Ông Cha mầy rồi sao ?

Phù Sai liền khóc mà đáp rằng:

   Dạ không bao giờ dám quên.

Phù Sai ngày đêm dốc toàn lực sai Ngũ Viên và Bá Hi luyện tập thủy quân ở Thái Hồ, luyện tập trường bắn ở Linh Nham Sơn, đợi khi hết tan ba năm sẽ khởi binh đánh nước Việt Trung Nguyên báo thù.

Việt Vương Câu Tiễn được tin Vua Ngô ngày đêm luyện tập quân binh chuẩn bị đánh Việt. Việt Vương Câu tiễn muốn tiến quân sang Ngô đánh trước không để cho Ngô đủ sức mạnh đánh Việt.

Phạm Lãi can:

   Tôi thường nghe nói khi xưa Hùng Vương dựng nước Văn Lang, cực chẳng đã mới  đem quân sang đánh nước người ta. Đưa quân xâm lược là điều trái với Đức. Tranh nhau là việc thấp hèn nhất. Lo âm mưu thôn tính nước khác là điềm gở, trái Thiên Ý của Trời. Nếu làm là bất lợi. Tôi nghe đâu Hùng Vương truyền dạy như vậy.

Việt Vương Câu Tiễn không muốn nghe về lời truyền dạy Quốc Tổ Vua Hùng nên không nghe lời khuyên của Phạm Lãi bằng nói:

   Ta đã quyết định.

Bèn cất quân sang đánh nước Ngô. Vua Ngô là Phù Sai đem tất cả tinh thần luyện tập cũng như sự quyết tử của mình đánh quân Việt Trung Nguyên thua to ở Phù Liêu đi tiêu hơn 10 vạn quân. Việt Vương Câu Tiễn đem tàn quân trở về Việt Trung Nguyên cũng cố lại lực lượng phòng khi Phù Sai cử binh sang tấn công.

Khi ấy ở phía Nam Việt Trung Nguyên quân Văn Lang được lệnh Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang tấn công ra Bắc. Do Hùng Lạc Vương thống lĩnh 20 vạn quân trực tiếp chỉ huy từ Kinh Đô Văn Lang tiến thẳng đến Ninh Hải Châu kế hợp với quân Huỳnh Trung Kỳ, quân Văn Bá tiến đánh lấy lại Quang Hải Châu, Môn Hải Châu. Quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên thua chạy về Lạc Trung Giao Châu ra sức cố thủ chống trả lại quân Văn Lang.

Hùng Lạc Vương thần tốc di chuyển quân binh nhanh chóng tiến về Tiên Châu kết hợp với quân thống soái Văn Trội con trai lớn Văn Khánh tiến quân đánh Bạch Lang Châu, quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên thua chạy về doanh trại núi Bà Lộc Điền cố thủ ở đấy quyết liệt chống trả lại quân Văn Lang.

Hùng Lạc Vương lại kéo đại binh đến Thạch Vân Châu kết hợp với quân Lê Mạnh Càn tiến đánh lấy lại Âu Tây Châu đánh không được vì có Phù Châu có pháp thuật thần thông làm cho đất trời u ám cuồng phong ù ù quân Văn Lang không cách gì tiến đánh thành Âu Tây Châu được. Hùng Lạc Vương chưa biết phải làm sao thời bổng xuất hiện một tiểu đồng cầm gậy Rồng chỉ vào thành Âu Tây một cái tức thời trời quang mây tạnh cuồng phong cũng tan biến hết. Hùng Lạc Vương liền tiếng quân đánh chiếm lấy lại thành Âu Tây Châu quân loạn tặc phản loạn Việt Trung Nguyên thua chạy về Uất Lang Việt Châu ra sức chống trả cố thủ ở đấy.

Quân Văn Lang lấy lại Âu Tây Châu, Bạch Lang Châu, Quang Hải Châu, Môn Hải Châu. Đại quân Văn Lang còn thọc sâu ra Bắc Văn lang tức là Việt Trung Nguyên chiếm lĩnh nhiều Châu, Quận, Huyện khác nữa.

Nói về Việt Vương Câu Tiễn không thể điều động quân binh từ trận địa phía Nam về Kinh Đô được cũng cố lực lượng đươc.

Mùa xuân tháng hai năm thứ 26 đời Chu Kính Vương Vua Ngô là Phù Sai đã hết tang Cha mới cáo nhà thái miếu, rồi sai Ngũ Viên làm đại tướng, Bá Hi làm phó tướng, thống lĩnh đại binh theo đường thủy qua Thái Hồ xuôi theo sông Dương bọc theo sông Lạc tiến đánh Việt Trung Nguyên. Vua Việt Vương Câu Tiễn họp triều thần lại bàn kế sách chống lại quân Ngô đang tiến quân theo đường thủy trên đường thọc sâu vào địa phận Việt Trung Nguyên.

Quan đại phu là Phạm Lãi tâu rằng:

   Vua Ngô Phù Sai vì trả mối thù Ông, Cha chí báo thù ba năm nay rồi, quyết tiêu diệt Việt Trung Nguyên ta. Lại thêm khí thế hừng hực vì đã đánh bại quân ta ở Phù Liêu ta khó mà lòng địch nổi phải nên nghĩ cách cố thủ mới được.

Quan đại phu là Văn Chủng tâu rằng:

   Cứ như tôi thiển nghĩ thì không gì bằng sai người xin lỗi đễ cầu hòa, để cho Phù Sai rút quân về rồi sau sẽ định liệu.

Việt Vương Câu Tiễn nói:

   Hai người một người nói thủ, một người nói hòa, đều không phải là thiện kế. Phù Sai Vua Ngô hiện giờ là kẻ thù của ta, quyết tâm đem quân sang đánh ta, nếu ta không đánh lại thì chẳng hèn lắm ư.

Việt Vương Câu Tiễn liền thống lĩnh bảy vạn quân cùng mấy trăm chuyến thuyền chặn đánh quân Ngô ở địa phận Tiêu Sơn. Lúc mới giao chiến thuyền quân Ngô hơi lùi lại Quân Việt Trung Nguyên thừa lấn thế tiêu diệt hơn bảy tám chiến thuyền đi tiêu hơn vài trăm quân Ngô. Việt Vương Câu Tiễn thừa thắng ra sức chống chèo rượt quân Ngô đến mấy dặm. Đến khúc sông lớn từ nơi lùm lách kinh rạch đại binh quân Ngô bất ngờ lao ra chật cả sông hai bên xáp chiến. Quân Ngô lợi thế gió Bắc. Quân Việt Trung Nguyên thất thế ngược gió.

Phù Sai đứng ở mũi thuyền tay cầm dùi đánh trống đốc thúc quân binh tướng sĩ chiến đấu. Gặp lúc gió Bắc nổi lên cấp 8 cấp 9 sóng nổi dữ dội. Ngũ Viên, Bá Hi mỗi người một chuyến thuyền lớn giương buồm thuận gió xuôi dòng mà tiến. Quân Ngô lợi thế về mọi mặt, thi nhau nỏ, cung, bắn ra như mưa, bắn xối xả vào quân Việt Trung nguyên. Quân Việt Trung Nguyên ngược gió không thể đương nổi, thua to bỏ chạy.

Quân Ngô chia làm hai đạo quân đường thủy đường bộ rượt đuổi theo tiêu diệt quân Việt Trung Nguyên. Tướng Việt là Linh Cô Phù đắm thuyền mà chết. Tư Hãn cũng bị tên bắn chết.

Vua Ngô Phù Sai thừa thắng đuổi theo giết quân Việt Trung Nguyên không biết bao nhiêu mà kể. Việt Vương Câu Tiễn thua chạy về cố thành Quân Ngô rượt theo vây kín. Cũng may ở cố thành sông suối có nhiều cá để mà sống. Biết không thể nào trụ vững ở cố thành được. Việt Vương Câu Tiễn liền dẫn tàn quân lẻn chạy về núi Cối Kê quân sĩ chỉ còn hơn năm nghìn quân. Quân Ngô biết được kéo đại binh bao vây Cối Kê con gà con chó cũng khó lọt qua. Phù Sai lại ra lệnh siết chặc vòng vây Cối Kê.

Câu Tiễn thở dài mà nói rằng:

   Ta có thể cùng một số người theo đường bí mật trở về Kinh Đô nhưng làm như thế quân binh còn sót lại nơi đây chết hết. Phù Sai Vua Ngô sẽ tiến đánh kinh đô truy sát ta. Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang mà biết kinh đô thất thủ về tay nước Ngô thời sẽ dồn hết lực lượng tấn công ra Bắc xóa sổ Việt Trung Nguyên Ta. Không còn hi vọng lập lại Việt Trung Nguyên nữa. Ta thà quy phục Ngô còn hi vọng có ngày hồi phục lại Việt Trung Nguyên hùng mạnh còn hơn để Hùng Ánh Vương xóa sổ hủy diệt. Từ Ông đến đời Cha Tiên Quân gần năm mươi năm đến giờ chưa hề thua trận nào như thế nầy cũng bởi ta không nghe lời Phạm Lãi và Văn Chủng đến nông nổi nầy biết phải làm thế nào?

Phạm Lãi nói:

   Kẻ nào giữ được trọn vẹn cái cảnh ngộ của mình khi đầy đủ, chờ thời cơ bình định được tình hình nguy cập. Lúc nầy cần phải tuân theo người, dùng lời lẽ khiêm nhượng bao cái lợi đưa cho người ta. Nếu người ta không nghe thời thân hành đến thờ người ta vậy.

Văn Chủng hiến kế thêm rằng:

   Nay việc đã nguy cấp quân Ngô vây kín Cối Kê mỗi lúc một nguy cấp quân ta không thể chống trả kéo dài lâu hơn nữa, cho người xin ra cầu hòa còn có thể kịp được.

Việt Vương Câu Tiễn nói:

   Phù Sai không chịu hòa thì làm thế nào ?

Văn Chủng nói:

   Nước Ngô có quan thái Tể là Bá Hi người ấy thấy vàng bạc ngọc ngà châu báu là hiếp cả mắt, thấy gái đẹp thì chuyện gì cũng dám làm, tuy Bá Hi đồng triều với Ngũ Viên nhưng không hợp ý nhau. Vua Ngô sợ Ngũ Viên mà thân với Bá Hi lắm. Ta nên sang quân Ngô tìm gặp Bá Hi, khéo nói với hắn, để hắn chủ việc giảng hòa cho. Bá Hi rất thân với Vua Ngô, Ngũ Viên biết ngăn cản cũng không thể kịp.

Việt Vương Câu Tiễn hỏi:

   Nhà ngươi sang yết kiến Bá Hi, nên dùng lễ vật gì ?

Văn Chủng nói:

   Người như Bá Hi không gì bằng nữ sắc, ta nên tìm mỹ nữ mà đem dâng, cũng như vàng ngọc châu báu quý hiếm. Nếu Trời con thương nước Việt Trung Nguyên ta thì Bá Hi tất nghe lời giúp ta.

Câu Tiễn tức khắc cho người về Kinh Đô nói với Phu Nhân tuyển chọn cung phi mỹ nữ đẹp nhất trong cung cả thảy được tám người. Thêm hai mươi đôi ngọc bích, một nghìn nén hoàng kim, nhanh chóng đến núi Cối Kê, qua ngày hôm sau ngay đêm hôn ấy Việt Vương Câu Tiễn sai Văn Chủng đến dinh trại Ngô sang dinh Bá Hi xin vào yết kiến.

Bá Hi lúc đầu toan từ chối, nhưng lại sai người ra dò thì thấy có nhiều lễ vật, mới thuận cho vào. Bá Hi ngồi vắt chân ở trên giường để đợi.

Văn Chủng vào phòng quỳ xuống mà thưa rằng:

   Chúa Công tôi là Câu Tiễn còn trẻ, chưa biết gì, không khéo thờ nước lớn, để đến nổi tai vạ. Nay Chúa Công tôi đã biết hối tội, xin đem cả nước Việt Trung Nguyên làm tôi Vua Ngô. Nhưng sợ Vua Ngô không nghe. Chúa Công tôi biết ngài là người có công lớn với Ngô. Ngài là bức thành che chắn cho nước Ngô, ngài là tâm phúc của nước Ngô, Chúa Công tôi sai tôi là Văn Chủng sang để van lạy ngài trước nhờ ngài nói dùm cho một câu, gọi là có chút lễ bạc đem dâng ngài. Từ rày về sau trở đi còn nhiều ân nghĩa về sau nữa.

Văn Chủng liền đem cái đơn kê khai các lễ vật dâng trình Bá Hi. Nhưng Bá Hi còn làm ra vẻ giận dữ mà mắng rằng:

   Nước Việt Trung Nguyên chẳng qua chỉ sớm tối thì bị phá diệt trở thành nô lệ nước Ngô. Của cải nước Việt cái gì không về tay nước Ngô mà nhà ngươi còn dám đem lễ vật nhỏ mọn nầy sang mua chuộc ta hay sao?

Văn Chủng nói:

   Chúa Công tôi dẫu thua, nhưng Chúa Công tôi chưa chịu đầu hàng thì khó mà lấy được Việt Trung Nguyên vì còn hơn mấy mươi vạn quân đang ngày đêm chiến đấu với quân Văn Lang. Tuy Chúa Công tôi bị bao vây ở núi Cối Kê nhưng vẫn còn quân binh tinh nhuệ có thể giao chiến một trận. Nếu giao chiến thua. Bấy giờ Chúa Công tôi chạy về Nam Việt Trung nguyên hợp lực quân binh lại, hoặc chạy sang nước Sở chưa chắc Việt Trung Nguyên tôi về tay nước Ngô được.

Văn Chủng giải bày một hồi lâu làm cho lòng Bá Hi chuyển động, Bá Hi mới gật đầu tủm tỉm cười.

Văn Chủng trỏ lại cái đơn kê khi lễ vật mà nói rằng:

   Tám mỹ nữ nầy đều là sắc nước hương trời tuyển chọn trong cung nước Việt, nhưng nếu chọn ở ngoài dân chúng Việt Trung Nguyên còn nhiều người đẹp hơn nữa. Chúa Công tôi trở về được kinh đô tìm tòi mỹ nữ dâng nạp cho ngài.

Bá Hi đứng dậy nói rằng:

   Quan đại phu không sang hữu dinh. Mà tới đây hẳn cũng biết là tôi không có ý hại người. Để sáng mai, tôi xin đưa quan đại phu vào yết kiến Vua Ngô, rồi sẽ bàn định.

Cha con Việt Vương Tế Gia. Doãn Thường nổi dậy chiếm lấy Bắc Văn Lang, biến cuộc thế Văn Lang Nam Bắc phân tranh chiến tranh loạn lạc, Bách Việt tương tàn thê thảm vô cùng. Việt Vương tế Gia, Doãn Thường chiếm lấy Bắc Văn Lang lập lên nhà nước Việt Trung Nguyên, tưởng đâu bình yên muôn năm, nào hay đâu Bắc Việt Trung Nguyên dân chúng càng ngày càng đói khổ. Một mặt do thể chế độc tài độc trị quản lý tất cả bóc lột dân chúng thậm tệ, phục vụ cho thể chế độc tài độc trị, hà khắc còn hơn nhà nước Văn Lang.

Dân chúng tuy bất mãn nhà nước Việt Trung Nguyên nhưng không một ai dám lên tiếng. Vì đã quá nhiều những người lên tiếng không bị thủ tiêu cũng bị tù đày, chết thê chết thảm trong những trại cải tạo. Nước Việt Trung Nguyên dần dần suy yếu. Một phần là do chiến tranh kéo dài, một phần là do dân chúng bất mãn, một phần là do thể chế độc tài độc trị khắc nghiệt.

Đến đời Việt Vương Câu Tiễn những biến cố lịch sử xảy ra. Bị Ngô đánh bại. Ông Cha Câu Tiễn là người phương Bắc tôn thờ Văn Hóa Phương Bắc không tôn thờ Văn Hóa Phương Nam dù biết rằng dòng họ Vũ đã nhập cư thành dân Văn Lang. Tư tưởng Việt Vương Câu Tiễn thừa kế di chí Ông Cha thà Việt Trung Nguyên mất về Phương Bắc còn hơn mất về Phương Nam trả Bắc Văn Lang về cho nước Văn Lang.

Vì Việt Vương Câu Tiễn biết rõ nếu quân Văn Lang chiếm lại được Bắc Văn Lang thời Tổ Tiên thái miếu Việt Vương Câu Tiễn sẽ bị sang bằng hủy diệt với cái tội phản bội lại nước Văn Lang. Với ý nghĩ nầy Việt Vương Câu Tiễn có xu hướng ngã về Phương Bắc sẵn sàng dâng nước Việt Trung Nguyên cho phương Bắc nếu có cơ hội tiến thân và đúng vậy Việt Vương Câu Tiễn dâng nước Việt Trung Nguyên cho Nhà Chu ở vào thời Chu Nguyên Vương.

**************

PHẦN 27

Nói về Bá Hi nhận lễ vật và lưu Văn Chủng ở lại trong dinh trại bày tiệc thiết đãi. Sáng hôm sau, Bá Hi đưa Văn Chủng vào yết kiến Phù Sai.

Bá Hi vào trước đem những tình ý Câu Tiễn sai Văn Chủng sang xin cầu hòa Phù Sai bừng bừng sắc mặt mà bảo rằng:

   Nước Việt Trung Nguyên cùng ta có cái thù không đội trời chung khi nào ta lại cho hòa.

Bá Hi nói:

   Đại Vương không nhớ lời của Tôn Vũ khi xưa hay sao? Việc binh là việc nên dùng tạm, chớ không nên dùng lâu. Nước Việt Trung Nguyên dẫu đắc tội với ta, là do ta đem quân sang đánh Việt mới xảy ra cảnh thù không đội trời chung. Nay Việt Trung Nguyên tùng phục nước Ngô Ta. Vua Việt xin làm Tôi nước Ngô. Vợ Vua Việt xin làm thiếp nước Ngô. Bao nhiêu châu báu nước Việt đem dâng nộp cho nước Ngô ta cả. Nước Trung Nguyên chỉ xin ta một điều là để cho còn chỗ cúng tế mà thôi. Nếu Đại Vương không cho nước Việt Trung Nguyên hòa. Câu Tiễn phá vòng vây trốn chạy về kinh đô điều động quân binh đang trấn giữ phía Nam Việt Trung Nguyên thì càng bất lợi cho chúng ta thôn tính Việt Trung Nguyên. Chi bằng Ta với nước Việt hòa thời lợi biết dường nào. Đại Vương càng nổi tiếng là tha cho nước Việt. Danh tiếng lại càng lừng lẫy hơn nữa. Như vậy nước Ngô ta có cớ làm bá chủ được. Nếu cố sức mà diệt Câu Tiễn, buộc Câu Tiễn tìm cách trốn thoát khỏi Cối Kê trở về Kinh Đô điều động quân binh phía Nam Việt Trung Nguyên chống trả lại ta. Nếu chúng ta tiêu diệt được Câu Tiễn quân Ngô ta cũng phải trả cái giá không nhỏ. Dù cho giết được người ấy sao bằng thu phục nước ấy chả có phần lợi hơn ư.

Phù Sai hỏi:

   Bây giờ Văn Chủng ở đâu?

Bá Hi nói:

   Hiện Đang đứng chờ bên ngoài.

Phù Sai cho triệu vào. Văn Chủng quỳ gối đi bằng đầu gối kéo lê kéo lết đến trước mặt Phù Sai. Lạy một hồi rồi nói những lời nói với Bá Hi hôm trước.

Phù Sai nói:

   Vua ngươi xin làm tôi Ngô. Vậy thì Vua ngươi có chịu theo ta về Ngô không?

Văn Chủng sụp lạy tâu rằng:

   Đã xin làm tôi Ngô, thì sống chết ở trong tay Vua Ngô, thế nào cũng xin vâng lệnh.

Bá Hi nói với Phù Sai rằng:

   Vợ Chồng Câu Tiễn đều tình nguyện xin về Ngô. Vậy thì nước Ngô ta dẫu tha cho Việt cũng chẳng khác gì chiếm được nước Việt. Đại Vương còn muốn chi nữa.

Phù Sai liền cho nước Việt Trung Nguyên giảng hòa. Có người sang hữu dinh báo tin cho Ngũ Viên biết. Ngũ Viên vội vàng vào yết kiến Phù Sai. Khi vào đến nơi thấy Bá Hi và Văn Chủng đã đứng ở bên cạnh Phù Sai.

Ngũ Viên hầm hầm nổi giận hỏi Phù Sai rằng:

   Đại Vương đã cho nước Việt Trung Nguyên giảng hòa rồi ư ?

Phù Sai nói:

   Ta đã cho giảng hòa rồi.

Ngũ Viên khuyên can:

   Không nên, không nên.

Văn Chủng hoảng sợ đứng lui xuống mấy bước để nghe Ngũ Viên nói hết.

Ngũ Viên can rằng:

   Trời đem nước Việt Trung Nguyên cho nước Ngô đây là cơ hội duy nhất mà chúng ta có được. Việt Trung Nguyên tiếp giáp với nước Ngô ta. Hai bên đã có hiềm thù từ lâu trải qua nhiều đời. Nếu Ngô không diệt được Việt. Thì Việt cũng diệt Ngô. Kìa như Tần, Tấn dẫu ta đánh được mà đất của họ ta không thể ở được. Xe của họ ta không thể đi được vì các nước Phương Bắc đều là Trấn chư hầu của Nhà Chu nếu chúng ta lấy đi đất Tấn, đất Tần, thời Nhà Chu sẽ không để yên cho ta. Còn nước Việt Trung Nguyên lại khác, Cha con Việt Vương Doãn Thường là quân nội loạn nổi lên cướp Bắc Văn Lang trở thành nước Việt Trung Nguyên. Không còn quyền quản lý của nhà nước Văn Lang nữa, ai giành lấy được thì thuộc quyền của người đó. Đất Việt Trung Nguyên sẽ là đất của nước Ngô ta đó là cái lợi của xã tắc không thể bỏ. Huống chi Việt Trung Nguyên là kẻ thù lớn với Ngô ta. Ta không diệt Việt chiếm lấy đất Việt thì lời thề trước sân còn có giá trị gì ?

Phù Sai nín lặng không biết nói thế nào, chỉ đưa mắt nhìn Bá Hi.

Bá Hi nói:

   Quan tướng quốc nói thế là lầm. Nếu bảo Ngô Việt ở về mặt thủy tất phải diệt nhau. Thì Tần – Tấn – Tề – Lỗ cùng ở đất liền mặt bộ. Có lẽ cũng diệt nhau hay sao? Nếu bảo Việt là kẻ thù lớn của Tiên Vương nước Ngô không thể tha được. Vậy thì quan tướng quốc thù Sở biết dường. Mà sao không diệt Sở, lại cho Sở hòa làm gì. Nay vợ chồng Câu Tiễn điều tình nguyện về Ngô. Nếu đem so với Sở chỉ nộp một công tử Thắng, thì lại càng không giống nhau nữa. Tướng quốc làm điều trung hậu mà muốn cho Đại Vương mang tiếng khắc bạc, trung thần có bao giờ như thế.

Phù Sai nghe xong lấy làm mừng mà bảo Ngũ Viên rằng:

   Bá Hi nói phải, tướng quốc hãy lui về, đợi khi nước Việt cống tiến, ta sẽ chia tặng cho nhà ngươi.

Ngũ Viên sầm sắc mặt lại thở dài mà than rằng:

   Tiếc thay. Ta không nghe lời Bị Ly mà lại cùng với đứa gian thần đồng sự.

Ngũ Viên căm tức không thôi, mồm cứ lẫm bẩm, khi lui ra ngoài, bảo quan đại phu là Vương Tôn Hùng rằng:

   Nước Việt nuôi dân trong mười năm, lại dạy dân trong mười năm nữa chẳng qua chỉ chỉ hai mươi năm, thì cung điện nước Ngô sụp đổ tan tành.

Vương Tôn Hùng cũng chưa lấy làm tin lắm. Ngũ Viên nuốt giận mà trở về hữu dinh. Phù Sai cho Văn Chủng về báo với Câu Tiễn những gì vua Ngô đã hứa.

Câu Tiễn tuy nghe vua Ngô Phù Sai cho giảng hòa nhưng mạng mình đều nằm trong tay vua Ngô thở dài mãi không thôi.

Văn Chủng  nói:

   Vua Thành Thang bị trói ở Hạ Đài. Vua Văn Vương bị tù ở Dữu Lý. Tùng Nhĩ nước Tấn bỏ chạy đến Địch. Tiểu Bạch nước Tề bỏ chạy đến Cử. Nhưng kết cuộc cuối cùng đều làm Vương làm Bá. Cứ xem việc trước mà rút kinh nghiệm việc sau, biết đâu thế nầy chẳng là phúc.

Câu Tiễn nghe xong lời an ủi của Văn Chủng liền tỉnh táo lại. Câu Tiễn lại sai Văn Chủng sang tạ ơn.

Phù Sai hỏi:

   Bao giờ thì vợ chồng vua Việt theo ta sang Ngô ?

Văn Chủng nói:

   Chúa Công tôi đội ơn Đại Vương xá cho, định trở về Kinh Đô thu xếp những ngọc lụa, trai gái để sang cống xin Đại Vương tạm khoan thời hạn cho. Dẫu Chúa công tôi đem lòng bất tín thì cũng chẳng trốn được búa rìu sấm sét của Đại Vương vì Đại Vương đang ở cách Kinh Đô có bao xa chỉ cần hơn ngày đường thì Kinh Đô Việt Trung Nguyên tan tành mây khói.

Phù Sai nghe cũng hữu lý liền thuận cho. Ước định đến trung tuần tháng năm thời vợ chồng vua Việt phải sang Ngô. Lại sai Văn Tôn Hùng theo Văn Chủng thúc vua Việt mau mau khởi trình. Còn quan Thái Tể là Bá Hi thì đóng một vạn quân ở Ngô Sơn để chờ Vua Việt. Nếu Vua Việt sai hẹn không sang thì sẽ khởi binh tiêu diệt nước Việt Trung Nguyên. Phù Sai sau đó mấy ngày thời kéo đại quân về nước.

Câu Tiễn nghe vua Ngô cho người thúc dục mau sang cầu cống làm nô lệ nước Ngô thì hai hàng nước mắt chảy ròng ròng.

Văn Chủng nói:

   Kỳ hạn đã gần đến nơi Chúa Công mau mau trở về Kinh Đô để thu xếp việc nước, chứ thương khóc làm gì.

Câu Tiễn gạt nước mắt trở về Kinh Đô trông thấy chợ búa làng xóm vẩn như cũ, mà trai tráng dân chúng thời tiêu điều thì lấy làm hổ thẹn. Việt Vương Câu Tiễn mời Vương Tôn Hùng nghĩ ở Công Quán rồi thu xép vàng ngọc châu báu mười mấy xe. Lại chọn mỹ nữ xinh đẹp trong nước được ba trăm năm mươi người. Định đem ba trăm người nạp cho Phù Sai, còn năm mươi người nạp cho Bá Hi.

Nói về quân Văn Lang do Hùng Lạc Vương tổng chỉ huy ba đạo quân ở ba chuyến tuyến Tây Bắc Trung Văn Lang tiến đánh ra Bắc, Trung Trung Bắc Văn Lang tiến đánh ra Bắc, Đông Bắc Trung Văn Lang tiến đánh ra Bắc.

Đạo quân Tây Bắc Trung Văn Lang từ Âu Tây Châu Lê Mạnh Càn thống lĩnh đại quân tiến đánh Uất Lang Việt Châu.

Đạo quân Đông Bắc Trung Văn Lang từ Quang Hải Châu Văn Bá, Kỳ Duyên thống lĩnh đại quân tiến đánh Lạc Trung Giao Châu.

Đạo quân Trung bắc Văn Lang từ Bạch Lang Châu, Văn Trội thống lĩnh đại quân tiến đánh doanh trại núi Bà Lộc điền Đức Châu.

Nói về Triệu Công qua đời Triệu Côi lên thay thế chức Trung quân Nguyên soái, cùng Triệu Chi thống lĩnh đại quân ra sức chống trả quân Văn Lang tiến ra Bắc đánh chiếm nhiều quận, huyện cũng như tiến đánh Uất Lang Việt Châu.

Cũng cùng lúc ấy. Triệu Quân lên thay thế Triệu Phàn chức Thượng Quân Nguyên soái, cùng Triệu Hàn, Triệu Anh thống lĩnh quân binh chống lại quân Văn Lang trong tình thế vô cùng nguy cập. Phạm Đổ Chinh khi ấy cũng đã già con là Phạm Thụ lên nắm quyền chỉ huy chức Tân quân Nguyên soái cùng Trường Lê, Võ Bị giao chiến với Văn Trội thắng bại chưa phân rõ thuộc về ai.

Được tin báo là Việt Vương Câu Tiễn bị Ngô đánh bại tuy cầu hòa nhưng vợ chồng Việt Vương Câu Tiễn phải sang Ngô làm con tin. Triệu Côi, Triệu Quân, Phạm Thụ vô cùng kinh hãi cấp tốc trở về Kinh Đô Việt Trung Nguyên can gián không nên qua Ngô.

Khi ấy nơi Kinh Đô Vương Tôn Hùng giục giã luôn mãi, triều thần ai nấy đều ứa nước mắt, cùng lúc ấy Triệu Côi, Triệu Quân, Phạm Thụ cũng vừa về tới nơi can gián là Chúa Công không nên qua Ngô.

Việt Vương Câu tiễn khóc ròng nói:

   Nếu bổn Vương không qua Ngô thì biết làm sao? Khi quân Văn Lang tấn công dồn dập. Nếu Việt Trung Nguyên bị quân Văn Lang chiếm lại được thì chúng ta cũng hiểu rõ chuyện gì sẽ xảy ra. Có thể nói là chấm hết. Còn Ta sang làm con tin Ngô còn có hi vọng Nước Việt Trung Nguyên ta còn có ngày hưng thịnh trở lại, ta đã quyết định rồi các Khanh không nên khuyên can ta nữa hãy dốc sức mà chiến đấu với quân Văn Lang. Và chờ ta trở về nước rồi sẽ tính.

Triều Thần càng nghe càng khóc.

Văn Chủng nói:

   Ngày Xưa vua Thang bị giam ở Hạ Đài, Văn Vương bị giam ở Dữu Lý, mà về sau làm nên được nghiệp Vương. Tề Hoàng Công phải chạy sang nước Cử, Tấn Văn Công phải chạy sang nước Dịch mà sau làm nên nghiệp Bá. Xem thế thời biết cái cảnh khổ sở, chính là trời mở đường cho đấng Vương Bá đó. Chúa Công cứ vững lòng tin mà theo ý trời. Triều Thần tin nơi Chúa Công, nước Việt Trung Nguyên ta có ngày hưng thịnh được, can chi mà lo sợ tổn thương ý chí của mình.

Ngay ngày hôm ấy Câu Tiễn làm lễ tế nhà tôn miếu, Vương Tôn Hùng đi trước một ngày. Câu Tiễn và Phu Nhân đi sau. Triều Thần đưa tiễn đến bến sông Chích Giang. Phạm Lãi sắp thuyền ở Cố Lăng và bày một tiệc rượu đưa tiễn. Văn Chủng cũng dâng chén rượu chúc cho Câu Tiễn. Câu Tiễn ngẩng mặt lên trời mà thở dài cầm lấy chén rượu mà rơi nước mắt, chẳng nói gì cả.

Phạm Lãi nói:

   Các bậc Thánh Hiền đời xưa cũng thường gặp những cảnh khổ não, những điều sỉ nhục không thể chịu được, có phải là chỉ một Chúa Công thôi đâu.

Câu Tiễn nói:

   Ngày xưa vua Nghiêu dùng hiền thần là Thuấn và Vũ mà thiên hạ được yên bình, dẫu có thủy tai, cũng không hại người lắm. Nay ta phải bỏ Việt sang Ngô, giao vận mệnh đất nước Việt Trung Nguyên cho các quan đại phu, các quan đại phu nghĩ sao cho khỏi phụ lòng ta trông cậy.

Phạm Lãi bảo với triều thần rằng:

   Tôi thiết tưởng vua phải lo thì bề tôi nhục. Vua phải nhục thì bề tôi nên chết. Nay Chúa Công phải lo về nỗi bỏ nước, phải nhục về nỗi sang Ngô. Bọn ta đây há lại chẳng không có một kẻ hào kiệt vì Chúa Công chia buồn hay sao?

Các quan đại phu đồng thanh đáp rằng:

   Ai cũng là tôi con tùy ý Chúa Công sai khiến.

Câu Tiễn nói:

   Các quan đại phu còn có lòng thương ta thì xin cứ tự nói chính mình, để xem ai có thể đi theo ta, ai có thể ở nhà mà giữ nước được ?

Văn Chủng nói:

   Ở nhà để xem xét công việc trong nước thì Phạm Lãi không bằng tôi. Nhưng đi theo Chúa Công mà lâm cơ ứng biến thời tôi không bằng Phạm Lãi.

Phạm Lãi nói:

   Văn Chủng xét mình đã rõ lắm. Chúa Công nên đem việc nước mà giao cho Văn Chủng. Còn như việc nhẫn nhục mà theo Chúa Công để nghĩ cách báo thù thời tôi không dám từ chối.

Phạm Lãi nói xong thời lần lượt đến các quan đại phu tỏ bày ý kiến.

Quan Thái Tể là Khổ Thành nói:

   Tuyên bố mệnh lệnh để tỏ đức tính của nhà vua, và quyết đoán những việc khó khăn, khiến cho dân biết yên phận, đó là việc của tôi.

Quan Hành Nhân là Duệ Dung nói:

   Đi sứ các nước chư hầu, ứng đối không đến nổi chịu nhục đó là việc của tôi.

Quan Tư Trực là Hạc Tiến nói:

   Vua có điều gì trái lẽ, xin hết can ngăn, dẫu kẻ thân thích nhà vua cũng không vị nể đó là việc  của tôi.

Quan Tư Mã là chư Kế Dĩnh nói:

   Bày trận đánh giặc dẫu tên, đao, giáo, mác trùng trùng cũng không bao giờ chịu lui, vẫn một lòng cố tiến, đó là việc của tôi.

Quan Tư Nông là Cao Như nói:

   Dốc lòng khuyên dân cố chăm chỉ làm ăn, nghĩ cách tiết kiệm, đó là việc của tôi.

Quan Thái Sử là Kế Nghê nói:

   Xét trên thiên văn, dưới rõ địa lý, để dò biết sự cát, hung, đó là việc của tôi.

Các nguyên soái như Triệu Côi, Triệu Quân, Phạm Thụ nói:

   Dẫu cho bỏ mạng ngoài trận địa cũng quyết ngăn chặn quân Văn Lang tiến ra bắc đó là bổn phận của các nguyên soái chúng tôi.

Câu Tiễn nói:

   Ta dẫu phải sang làm tù ở nước Ngô, nhưng đã có các quan đại phu, cùng các nguyên soái thống lĩnh quân binh chống trả lại quân Văn Lang, chăm lo dân chúng dốc lòng cố sứ vì nước nhà, thì ta còn lo gì nữa.

Câu Tiễn từ biệt triều thần cùng Phạm Lãi sang Ngô. Vua tôi tiễn biệt nhau ai nấy đều ràng rụa nước mắt. Câu Tiễn ngửa mặt lên trời mà than rằng: Cái chết ai không sợ, nhưng ta đây nghĩ đến cái chết mà trong lòng không sợ chút nào.

Nói xong xuống thuyền đi ngay triều thần sụp lạy ở trên bờ sông. Câu Tiễn cũng  không ngoảnh lại. Câu Tiễn cùng Phu Nhân vịn mạn thuyền mà khóc. Vương Phu Nhân chợt trông thấy đàn Ô Thước đang nhặt tôm ở ven sông bay đi lượn lại có ý thỏa thích, làm cảm mà làm bài hát rằng:

Đàn chim  ( hề ) bay cao

Vẫy vùng  ( hề ) đường mây

Thân thiếp ( hề ) vô tội

Trách trời  ( hề ) độc thay

Hây hẩy     ( hề ) gió mây

Trở về     ( hề ) bao ngày

Lòng đau ( hề ) như cắt

Nước mắt ( hề ) vơi đầy

Câu Tiễn nghe thấy Phu Nhân than vãn như vậy thời trong lòng đau như cắt, nhưng muốn cho Phu Nhân vui lòng cũng gượng cười mà nói rằng:

   Lông cánh của ta cũng đã đủ rồi, tất cũng có ngày bay cao, lo gì điều ấy.

**************

PHẦN 28

Câu Tiễn đã đi đến địa giới nước Ngô, sai Phạm Lãi vào yết kiến quan Thái Tế là nước Ngô là Bá Hi ở Ngô Sơn và dâng vàng lụa, trai, gái.

Bá Hi không thấy Văn Chủng liền hỏi:

   Văn Chủng đâu sao không thấy đến ?

Phạm Lãi nói:

   Văn Chủng còn phải giữ nước cho Chúa Công, nên không đến được.

Bá Hi theo Phạm Lãi đến gặp mặt Câu Tiễn. Câu Tiễn cảm tạ cái ơn giúp cho. Bá Hi hứa với Câu Tiễn thế nào cũng lập mưu cho Câu Tiễn trở về nước Việt Trung Nguyên. Câu Tiễn nghe Bá Hi hứa như vậy cũng thấy hơi yên lòng. Bá Hi cho quân giải Câu Tiễn về Ngô đưa vào nạp Phù Sai. Câu Tiễn trần vai áo. Sụp lạy ở dưới thềm, Câu Tiễn Phu Nhân cũng theo vào. Phạm Lãi đêm cái đơn kê khai các vật quý và mỹ nữ dâng lên Phù Sai.

Câu Tiễn sụp lạy hai lạy mà kêu rằng:

   Tôi tớ nhà vua Việt Trung Nguyên ở miền Đông Hải là Câu Tiễn vì không tự lượng sức mình để đến nổi đắc tội với Đại Vương. Nay Đại Vương xá tội lại cho được sang đây hầu hạ, nếu Đại Vương thương tình mà tha cho tội chết thì lấy làm đội ơn vô cùng.

Phù Sai nói:

   Nếu ta nghĩ đến cái thù Tiên Vương ngày xưa thì không thể nào tha cho nhà ngươi được.

Câu Tiễn lại lạy mà kêu rằng:

   Tội tôi thật đáng chết xin Đại Vương thương lại cho.

Bấy giờ Ngũ Viên đứng bên cạnh vua Ngô mắt trợn trừng quắc ra lửa, tiếng vang như sấm nói với Câu Tiễn rằng:

   Con chim bay ở trên mây xanh, ta còn giương cung ra bắn huống chi nay nó lại đậu ở trước sân.

Câu Tiễn vốn là người nham hiểm, bây giờ như con cá nằm trong hũ, sống chết ở trong tay kẻ nhà bếp. Vậy nên nịnh hót van lạy để cầu khỏi chết, một mai đắc chí, khác nào như con Hổ về núi, con cá Kình ra biển, còn làm gì được.

Phù Sai nói:

   Ta nghe nói người đã hàng phục mà mình còn giết thì họa đến ba đời. Ta không phải vì yêu Vua Việt mà không giết, nhưng sợ trái với Đạo Trời.

Bá Hi nói:

   Quan tướng quốc chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt một lúc, mà không hiểu cái lợi yên nước về sau. Đại Vương suy xét nói thế, thật quả là một bậc nhân giả quân Vương.

Ngũ Viên thấy Phù Sai tin lời dụ nịnh của Bá Hi, không theo lời can của mình, thì căm tức mà lui ra. Phù Sai nhận lễ vật của Câu Tiễn, rồi sai Vương Tôn Hùng làm một cái nhà đá ở bên cạnh Hạp Lư, giam vợ chồng Câu Tiễn ở đấy lột áo mão đi mà cho mặt cho mặt quần áo xấu thậm tệ của những dân đen cho ăn cơm hẩm hôi thiêu lúc đói lúc no khốn khổ. Bắt chăn ngựa làm đủ những điều cực nhọc.

Bá Hi vì nhận quá nhiều của đút lót nên cho người bí mật đem thực phẩm ăn no đến cho vợ chồng Câu Tiễn. Mỗi khi Phù Sai đi chơi lại bắt Câu Tiễn cầm roi ngựa đi chân đất ở trước xe cho quân binh dân chúng xem.

Dân chúng nước Ngô đều trỏ vào Câu Tiễn mà bảo nhau rằng: Người nô lệ kia rách rưới cầm roi chăng ngựa đi trước ngựa Đại Vương chính là vua Việt Trung Nguyên đấy thê thảm quá nhục nhã quá đáng đời cho cái tội không tự lượng sức của mình. Nếu như tôi thà chết quách còn hơn là sống không ra sống, chết không ra chết.

Câu Tiễn chỉ cúi đầu mà đi. Câu Tiễn ở nhà đá được hai năm. Phạm Lãi sớm tối hầu hạ, không rời một bước luôn khuyên Câu Tiễn cố mà luồn cúi nhịn nhục. Một hôm Phù Sai triệu Câu Tiễn vào yết kiến. Câu Tiễn sụp lạy. Phạm Lãi đứng ở phía sau.

Phù Sai bảo Phạm Lãi rằng:

   Ta nghe nói gái khôn không lấy chồng ở nơi cửa nhà tan nát, danh hiền không làm quan ở một nước diệt vong. Nay Câu Tiễn vô đạo, nước đã sắp diệt, vua tôi đều làm nô bộc, bị giam cầm ở trong nhà tù chẳng cũng đã nhục lắm rùi. Ta muốn tha tội cho nhà ngươi, nếu nhà ngươi biết đổi lỗi, bỏ Việt theo Ngô thì ta sẽ trọng dụng nhà ngươi đó là bỏ ưu hoạn mà lấy phú quý. Nhà ngươi nghĩ thế nào?

Bấy giờ Câu Tiễn đang quỳ phục đưới đất mà khóc, chỉ sợ Phạm Lãi theo Ngô mất.

Phạm Lãi sụp lạy mà tâu với Phù Sai rằng:

   Kẻ đã mất nước, không dám nói hay, tướng đã thua trận không dám nói mạnh. Tôi là kẻ bất trung bất tín ở nước Việt, không biết giúp Chúa Công tôi làm điều thiện, để đến nổi đắc tội với Đại Vương. May mà Đại Vương không giết, cho vua tôi được gần nhau, để vào hầu hạ Đại Vương, thế là tôi đã được mãn nguyện lắm rồi còn đâu dám mong phú quý.

Phù Sai nói:

   Nhà ngươi đã không chịu đổi ý thì lại cứ về nhà đá sống trong tù ngục.

Phạm Lãi nói:

   Xin vâng mệnh.

Phù Sai đứng dậy trở về cung. Câu Tiễn và Phạm Lãi trở về nhà đá sống trong cảnh ngục tù. Câu Tiễn ăn mặc tồi tàn, làm việc suốt ngày, cắt cỏ nuôi ngựa. Câu Tiễn Phu Nhân cũng ăn mặc tồi tàn rách rưới, đi gánh nước để quét dọn phân ngựa. Còn Phạm Lại thì đi kiếm củi để nấu củ pha lẫn ít gạo mà ăn sống qua ngày. Vợ Chồng Câu Tiễn cũng như Phạm Lãi mặt mũi gầy gò chẳng khác gì những người dân đen đói khổ.

Phù Sai trong suốt thời gian giam giữ Câu Tiễn, Phạm Lãi cho người theo dõi thấy vua tôi nước Việt cực khổ lao động suốt ngày mà không đủ no, áo quần rách rưới cũng không thấy buồn rầu chút nào mới cho là đồ vô chí hằng chi bại dưới tay ta cũng phải, người như thế mà làm nên trò trống gì. Phù Sai không cần bận tâm nghĩ đến nữa.

Một hôm Phù Sai lên Cô Tô đài trông thấy vợ chồng Câu Tiễn ngồi ở cạnh đống phân ngựa chẳng khác gì dân đen tầm thường, Phạm Lãi cầm chỗi quét rác đứng hầu một bên.

Mới ngoảnh lại bảo Bá Hi rằng:

   Câu Tiễn tuy là vua một nước, nhưng là đồ vô chí không có chí Hùng Bá, cũng là người tầm thường. Phạm Lãi chẳng qua là kẻ học trò. Nhưng không bỏ khi vua hoạn nạn, mà còn giữ được lễ vua tôi ta rất có lòng kính trọng.

Bá Hi nói:

   Chẳng những đáng kính phục, thực cũng đáng thương.

Phù Sai nói:

   Bắc Văn Lang Việt Trung Nguyên có lòng trung hiếu quật cường là do truyền thống con Rồng cháu Tiên ung đúc tạo nên, nên rất khó đánh chiếm hàn phục được. Nhưng theo ta thấy thì không đúng sự thật. Câu Tiễn là vua một nước đứng đầu dân chúng triều thần, cũng chỉ là kẻ tham sống sợ chết cúi đầu lạy dạ khiếp sợ trước oai linh của nước Ngô Ta. Cũng như lời quan Thái Tế nói. Ta đây nghĩ cũng thương tình nếu hắn biết lỗi thời có nên tha không?

Bá Hi nói:

   Đại Vương mở lượng hải hà mà thương kẻ cùng khốn gia ân cho Vua Việt chắc là Vua Việt cũng biết đền ơn. Xin Đại Vương phải tự quyết đoán.

Phù Sai nói:

   Ta sẽ chọn ngày tốt để tha cho Vua Việt về nước.

Bá Hi mật cho người báo tin cho Câu Tiễn biết. Câu Tiễn mừng lắm nói với Phạm Lãi.

Phạm Lãi nói:

   Để thần bói một quẻ, xem lành dữ thế nào.

Phạm Lãi bói xong nói với Câu Tiễn rằng:

   Dẫu có tin như vậy, cũng chưa nên lấy làm mừng.

Câu Tiễn nghe nói có ý làm buồn. Ngũ Viên nghe tin Phù Sai sắp tha Câu Tiễn, vội vàng vào yết kiến Phù Sai mà tâu rằng:

   Ngày xưa Vua Kiệt giam vua Thành Thang mà không chết. Vua Trụ giam Văn Vương mà không giết. Đến lúc đạo trời xoay chuyển. Chuyển họa thành phúc, chuyển bại thành thắng, chuyển nhục thành vinh, thì Vua Kiệt bị Vua Thang đuổi. Nhà Thương bị nhà Chu diệt. Nay Đại Vương giam Câu Tiễn mà không giết, tôi e rằng sắp có họa như Nhà Hạ cũng như Nhà Thương.

Phù Sai nghe Ngũ Viên nói cũng có lý vì gương lịch sử vẩn sờ sờ trước mắt. Phù Sai có ý muốn giết Câu Tiễn bèn sai người triệu Câu Tiễn vào. Bá Hi lại báo trước cho Câu Tiễn biết là Phù Sai định giết Câu Tiễn theo lời đề nghị của Ngũ Viên. Câu Tiễn kinh sợ lại nói với Phạm Lãi.

Phạm Lãi nói:

   Chúa Công đừng sợ. Vua Ngô đã giam Chúa Công đã ba năm nay. Trong ba năm còn không nở xuống tay, huống chi bây giờ, Chúa Công cứ đi không ngại.

Câu Tiễn nói:

   Ta chịu ẩn nhẫn bấy lâu nay không đến nỗi chết đều là nhờ mưu kế của quan đại phu cả.

Câu Tiễn lấy lại tự tin vào thành yết kiến Phù Sai. Phải chầu chực quỳ lạy đến ba ngày mà không thấy Phù Sai ra thượng triều. Bá Hi ở trong cung ra phụng mệnh Phù Sai truyền cho Câu Tiễn về nhà đá. Câu Tiễn lấy làm lạ liền hỏi.

Bá Hi nói:

   Đại Vương nghe lời Ngũ Viên, định đem giết Ông vậy, nên triệu Ông đến để giết. Cũng may gặp lúc Đại Vương bị cảm không thể dậy được.

Tôi vào thăm bệnh nhân tâu với Đại Vương rằng:

   Người bệnh muốn cầu yên thì phải làm phúc nay vua Việt đang chầu chực ở đây, chỉ đợi ngày chịu chết, oán khí xông lên đến Trời. Đại Vương nên tạm tha cho y trở về nhà đá, đợi khi khỏi bệnh rồi sẽ định liệu.

Vì nghe lời tôi mà Đại Vương tạm tha cho ngài về nhà đá quyết định sinh mạng của ngài sau.

Câu Tiễn cảm tạ không xiết, ở nhà đá được ba tháng Câu Tiễn nghe tin Phù Sai vẫn  chưa khỏi bệnh, mới bảo Phạm Lãi bói một quẻ.

Phạm Lãi bói xong bảo Câu Tiễn rằng:

   Phù Sai không chết ngày Tỵ thì bớt, đến ngày Nhâm thì khỏi. Đây là cơ hội Đại Vương Chúa Công cố xin vào thăm. Khi được vào thăm Đại Vương cố tình nếm phân cho Phù Sai để đoán ra bệnh rồi nói ngày khỏi bệnh, đến kỳ khỏi bệnh đúng như lời nói của Chúa Công Đại Vương thời tất nhiên y cảm ơn mà tha cho Đại Vương.

Câu Tiễn ứa nước mắt mà nói rằng:

   Ta đây dẫu chẳng ra gì nhưng cũng là một Ông Vua không nhẽ lại nếm phân cho người chịu nhục đến thế sao?

Phạm Lãi nói:

   Ngày xưa Vua Trụ giam Văn Vương ở Dữu Lý. Vua Trụ giết con Văn Vương là Bá Ấp Khảo rồi ướp thịt đưa cho Văn Vương ăn. Thế mà Văn Vương cố nén đau đớn mà ăn thịt con. Chúa Công muốn thành đại sự thì cần chi để ý những điều nhỏ mọn. Vua Ngô lòng thương người như đàn bà, mà không có lòng quả quyết như kẻ trượng phu. Đã toan tha rồi đổi ý. Nếu ta không làm thế thì làm gì qua mặt được Phù Sai, làm sao Vua Ngô rũ lòng thương mà tha cho chúng ta, nhờ sự nhẫn nại, nhẫn nhịn, nhẫn nhục cao chúng ta mới có thể qua khỏi kiếp nạn nầy.

Câu Tiễn tức khắc sai Phạm Lãi đến nói với Bá Hi rằng Chúa Công tôi nghe nói bệnh tình Đại Vương không thuyên giảm, Chúa Công tôi lo lắng ăn ngủ không yên nên sai tôi đến cầu xin ngài cho Chúa Công tôi theo ngài vào thăm Đại Vương, để tỏ chút tình thành kính.

Bá Hi suy nghĩ một giây lác cho đó là dịp may có thể cứu sống được Câu Tiễn thời cái lợi lớn về sau một sức mà thừa hưởng.

Bá Hi nói:

   Câu Tiễn ngài có lòng tốt, để tôi xin chuyển tấu.

Bá Hi vào yết kiến Phù Sai, bày tỏ cái tình Câu Tiễn nhớ mến, xin vào thăm bệnh. Phù Sai đang khi cơn bệnh trầm trọng, nghĩ thương tình Câu Tiễn mà cho vào. Bá Hi đưa Câu Tiễn vào thăm Phù Sai.

Phù Sai trừng mất nhìn mà bảo rằng:

   Câu Tiễn cũng vào thăm ta đó à?

Câu Tiễn sụp lạy mà tâu rằng:

   Kẻ bề tôi ở trong tù nghe nói Đại Vương Long Thể bất hòa, thật là nát gan héo ruột chỉ mong được trông thấy mặt Rồng mà không biết phải làm thế nào.

Câu Tiễn nói chưa dứt lời thời Phù Sai đau bụng muốn đi ngoài, mới lấy tay xua bảo Câu Tiễn ra.

Câu Tiễn nói:

   Khi Tôi ở đông hải có học người y sư, học được cách xem phân biết bệnh chính xác, bệnh chóng khỏi hay kéo dài trầm trọng. Nhờ thế mà bốc thuốc chính xác chữa trị khỏi bệnh ngay.

Câu Tiễn nói xong chấp tay đứng ở cửa sổ. Nội thị đưa cái thùng đến cạnh gường nằm, rồi vực Phù Sai dậy đi ngoài. Phù Sai đi ngoài xong rồi nội thị bưng cái tùng đưa ra ngoài cửa. Câu Tiễn mở nắp thùng ra, thò tay bốc phân rồi quỳ xuống mà nếm. Mọi người xung quanh đều bịt cả mũi.

Câu Tiễn lại vào sụp lạy Phù Sai mà tâu rằng:

   Kẻ tù nầy xin chúc mừng Đại Vương, bệnh Đại Vương đến ngày Kỷ Tỵ thì bớt, sang tháng ba về ngày Nhâm Thân thì khỏi hẳn không cần thuốc thang gì cả. Đó cũng là nhờ cái đức của Đại Vương trùm bá thiên hạ mà khỏi bệnh.

Phù Sai nghe Câu Tiễn quả quyết về bệnh tình mình như vậy liền hỏi:

   Nhà ngươi căn cứ vào đâu mà quyết đoán bệnh tình của ta như vậy?

Câu Tiễn nói:

   Tôi thường nghe y sư chỉ dạy phân là gốc của vị, hể thuận thì khí thời vô bệnh mà sống lâu, hể trái thì khí thời phát bệnh có khi dẫn đến cái chết. Nay kẻ tù nầy nếm phân Đại Vương thấy vị đắng và chua, chính hợp cái thời khí Xuân, Hạ phát sinh biến động trong cơ thể chỉ làm tăng tuổi thọ Đại Vương mà thôi. Nên bề tôi mới quả quyết bệnh tình Đại Vương chóng khỏi không cần thuốc thang như vậy.

Phù Sai nghe Câu Tiễn nói vô cùng bùi tai. Phù Sai bằng lòng nói rằng:

   Câu Tiễn nhân đức thay. Thần tử đối với quân phụ, ta chưa thấy ai chịu nếm phân đoán bệnh bao giờ.

Bấy giờ nhân Bá Hi đứng cạnh Phù Sai bèn hỏi rằng:

   Quan Thái Tế có nếm được không?

Bá Hi lắc đầu nói:

   Thần thật rất yêu Đại Vương, nhưng việc ấy Thần không làm nổi.

Phù Sai nói:

   Chẳng những quan Thái Tể không làm nổi, dẫu cho Thế Tử của Ta cũng không thể làm được.

Phù Sai truyền tha Câu Tiễn không bắt về nhà đá nữa, được tùy tiện tìm chỗ ở, đợi khi Phù Sai khỏi bệnh sẽ cho về nước. Câu Tiễn lạy tạ lui ra, từ đó về sau Câu Tiễn tìm được chỗ ở trong nhà dân, nhưng vẫn chăm chỉ giữ việc nuôi ngựa như trước, Phù Sai quả nhiên khỏi bệnh đúng như lời Câu Tiễn nói.

**************

PHẦN 29

Lại nói về Phù Sai cho là Câu Tiễn trung thành với mình, nên khi đã khỏi bệnh liền truyền bày tiệc ở trên vân đài, cho Câu Tiễn vào dự yến. Câu Tiễn giả cách không biết, vẫn mặc áo tù mà đến. Phù Sai trông thấy truyền Câu Tiễn tắm gội và ban cho mũ áo. Câu Tiễn hai ba lần từ tạ rồi mới dám nhận. Câu Tiễn thay áo mũ xong lại vào lại vào sụp lạy Phù Sai.

Phù Sai vội vàng đỡ dậy và hạ lệnh rằng:

   Vua Việt là người nhân đức không nên làm nhục lâu, ta định tha tội cho về nước nay nên tiếp đãi tử tế.

Các Quan đại phu nước Ngô đều vái nhường Câu Tiễn mời Câu Tiễn ngồi, rồi ngồi cả hai bên cạnh. Ngũ Viên thấy Phù Sai quên hẳn thù xưa, trong lòng căm tức không chịu ngồi vào liền quay trở ra.

Bá Hi nói:

   Đại Vương ta lấy cái lòng một người nhân đức. Mà tha cái tội của người nhân đức. Tôi nghe nói “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” ngày nay ai là nhân thì ngồi lại, ai bất nhân thì bỏ đi. Quan tướng quốc là người cương dũng cho nên thẹn không dám ngồi, chớ sao?

Phù Sai cười mà nói:

   Quan Thái Tể nói phải lắm.

Rượu đã ba tuần, Phạm Lãi và Câu Tiễn đều đứng dậy dâng chén chúc thọ Phù Sai. Phù Sai bằng lòng lắm ngày hôm ấy uống rượu thật say. Rồi sai Vương Tôn Hùng đưa Câu Tiễn ra công quán, đợi trong ba ngày nữa sẽ đưa về nước.

Sáng hôm sau Ngũ Viên vào tâu với Phù Sai rằng:

   Hôm qua Đại Vương lấy khách lễ mà đãi kẻ thù là nghĩa thế nào? Câu Tiễn trong bụng như hổ báo, lang sói mà mặt ngoài giả cách cung kính. Đại Vương thấy y nói những lời xu nịnh, chẳng nghĩ đến tai họa về sau ư?  Bỏ lời trung trực mà nghe kẻ gièm pha, nghĩ đều nhân nhỏ mà nuôi kẻ thù lớn, khác nào như buông nắm lông ở trên lò than mà mong mỏi cháy. Ném quả trứng ở dưới cân nặng mà muốn được toàn thì làm sao?

Phù Sai nghe Ngũ Viên nói thời không bằng lòng nói rằng:

   Ta ốm trong ba tháng, quan tướng quốc chẳng thấy hỏi thăm được một câu, thế là quan tướng quốc bất trung, lại chẳng thấy quan tướng quốc làm quà cho cái gì, thế là quan tướng quốc bất nhân. Làm bề tôi mà bất trung và bất nhân thì còn dùng được việc gì nữa. Câu Tiễn bỏ nước mà sang đây, đem của cải đến dâng nạp, đem thân làm tôi tớ đó là điều trung khi ta có bệnh. Lại chịu nếm phân ta mà lòng không oán giận, đó là điều nhân. Nếu ta theo ý riêng của quan tướng quốc mà giết kẻ thiện sĩ ấy thời Trời nào còn giúp ta nữa.

Ngũ Viên nói:

   Sao Đại Vương lại nghĩ lầm như vậy? Con Hổ thu mình lại thì tất là chực vồ con mồi. Con Cáo mà rụt cổ lại thì tất định cắn một cú chí tử. Vua Việt lâm vào tình thế buộc mới sang tùng phục Ngô ta, dẫu trong lòng oán hận cũng không dám để lộ ra ngoài. Đại Vương nên hiểu người xưa thường nói dò sông dò biển dễ dò, nhưng nào ai lấy thước mà đo lòng người. Bây giờ y cúi xuống mà nếm đống phân của Đại Vương, chắc đâu không có một ngày kia ngẩng lên mà ăn gan ruột của Đại Vương. Vì nước Việt Trung Nguyên tiềm năng con người cũng như kinh tế rất mạnh Đại Vương không suy xét kỷ mà mắc mưu tất có ngày bị hại.

Phù Sai nói:

   Quan tướng quốc chớ nói nữa, ý ta đã quyết định rồi.

Ngũ Viên biết không thể can được ấm ức mà lui ra. Đến ngày thứ ba, Phù Sai lại bày tiệc ở ngoài Sà Môn để tiễn Câu Tiễn. Các quan đều dâng chén rượu tiễn chân. Chỉ có Ngũ Viên không đến dự.

Phù Sai bảo Câu Tiễn rằng:

   Ta tha cho nhà Vua về nước, nhà Vua nên nhớ ơn nước Ngô mà cống nạp cho phải lễ, chớ đem lòng thù oán.

Câu Tiễn sụp lạy mà nói rằng:

   Đại Vương thương tôi là kẻ còn non dại không tự lượng sức mình làm những điều ngu xuẫn lại biết ăn năng, nên mới tha cho được sống mà về nước. Tôi xin đời đời không dám quên ơn. Trời cao thăm thẳm soi xét lòng tôi, nếu tôi phụ Ngô thì Trời sẽ giáng họa.

Phù Sai nói:

   Quân Tử không sai lời. Thôi nhà Vua lên đường nên gắng hết lòng hàng năm cống nạp cho nước Ngô.

Câu Tiễn sụp lạy, nước mắt đầm đìa, làm ra vẻ quyến luyến. Phù Sai thân hành vực Câu Tiễn lên xe. Phạm Lãi cầm cương xe. Câu Tiễn Phu Nhân sụp lạy tạ ơn rồi cùng lên xe đi về phía Nam.

Bấy giờ Phương Nam là đời thứ 14 Hạ Hùng Vương Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang. Phương Bắc bấy giờ là năm thứ 23 đời Chu Kính Vương.

Câu Tiễn về đến Chiết Giang, trông thấy phong cảnh khác xưa, thở dài mà nói rằng:

   Ta vẫn tưởng phải từ biệt trăm họ Bách Việt Trung Nguyên, bỏ thân nơi cõi khác ngờ đâu nay được trở về nước giữ lấy việc cúng tế.

Câu Tiễn ngoảnh lại Phu Nhân mà khóc. Các người xung quanh cũng đều cảm động mà khóc cả. Văn Chủng đem triều thần và dân trong Kinh Đô ra đón tận ở bến Chiết Giang trong tiếng reo hò dậy đất. Câu Tiễn sai Phạm Lãi bói xem ngày nào tốt để vào thành.

Phạm Lãi bấm đốt ngón tay rồi nói với Câu Tiễn rằng:

   Ngày mai rất tốt. Chúa Công nên đi mau cho kịp.

Câu Tiễn tức khắc giục ngựa trở về Kinh Đô. Muốn ghi sâu trong cái nhục ở Cối Kê. Câu Tiễn muốn xây đắp thành Thiên Đô ở đó luôn luôn nhớ tới mối thù bằng giao hẳn việc ấy cho Phạm Lãi lo liệu. Phạm Lãi xem thiên văn, xét địa lý, lập ra một cái thành mới bao bọc núi Cối Kê. Phía Tây Bắc Phạm Lãi cho lập lầu Phi Dục ở núi ngọa tang làm nơi Thiên Môn. Đông Nam lập Lâu Thạch Đậu để làm địa bộ. Còn mặt Tây Bắc thì để không. Và nói phao lên rằng đã thần phục nước Ngô, không dám lấp đường cống hiến, cống nạp cho nước Ngô. Nhưng kỳ thực là để tiện đường tiến đánh quân Ngô mai sau. Khi thành đắp xong, bổng thấy trong thành mọc lên một quả núi chu vi mấy dặm như hình con quỷ, cây cỏ mọc lên rậm rạp. Có người trông quả núi ấy giống như là núi Đông Vũ ở xứ Lang Gia, Nơi con Thuồng Luồng Ngư Tinh thường xuất hiện không biết là vì sao lại bay đến đây được.

Phạm Lãi nói với Câu Tiễn rằng:

   Tôi đắp cái thành nầy ứng với Thiên Tượng cho nên quả núi hình con quỷ ấy hiện ra. Đó là điềm phúc nước Việt Trung Nguyên ta có Quỷ thần phù hộ che chở điềm báo trước Chúa Công làm nên nghiệp Bá.

Câu Tiễn nghe xong lấy làm mừng lắm mới đặc tên núi ấy là Quái Sơn cũng gọi là Phi Lai Sơn. Câu Tiễn sang Thiên Đô ở đấy.

Câu Tiễn bảo Phạm Lãi rằng:

   Ta thực thực thất đức, để đến nổi nước nhà suy đốn, phải đem thân đi hầu hạ người khác, nếu không có quan tướng quốc và các quan đại phu, cũng như các nguyên soái trấn giữ phía nam bảo vệ nước Việt Trung Nguyên thì nước Việt Trung nguyên là sao trụ vững phát triển hùng mạnh như thế nầy.

Phạm Lãi nói:

   Đó là nhờ hồng phúc của Chúa Công, chứ chúng thần có công gì. Nhưng xin Chúa Công chớ lúc nào quên cái nhục ở nhà đá thì mới có cơ báo thù được nước Ngô.

Câu Tiễn nói:

   Xin vâng lời dạy bảo.

Lúc bấy giờ nước Việt Trung Nguyên quốc chính giao cho Văn Chủng, quân chính giao cho Phạm Lãi. Câu Tiễn luôn tôn trọng hiền tài, kính lão, thương nghèo, trăm họ đều bằng lòng. Câu Tiễn từ khi nếm phân, thành ra bệnh hôi miệng. Phạm Lãi biết có một thứ rau ở một quả núi về phía Bắc thành, tên gọi là rau trấp, rau ấy ăn được nhưng có mùi hôi nên mới sai người đi hái đem về, để cả triều cùng ăn, cho lẫn mùi hôi nhưng có mùi hôi. Sau người ta gọi tên núi ấy là núi Trấp Sơn.

Câu Tiễn muốn gấp báo thù, mới cố chăm chỉ suốt ngày suốt đêm, khi buồn ngủ thời lấy cỏ lục mà đánh vào mắt, chân lạnh muốn rụt lại thì lấy nước vào. Mùa đông thường ngồi gần nước băng, mùa hạ thường ngồi gần đống lửa, xếp củi mà nằm lên trên, chớ không nằm gường nệm. Lại treo một quả mật ở chỗ ngồi, thỉnh thoảng lại nếm một ít.

Câu Tiễn đêm nào cũng khóc sụt sùi, khóc chán rồi thở dài. Lại luôn luôn nhắc hai tiếng “ Cối Kê ”. Câu Tiễn thấy sau khi đất suy bại trai trán chết vô số kể, dân số giảm kém mới hạ lệnh cấm con trai không được lấy vợ già. Ông già không được lấy vợ trẻ. Con gái mười bảy tuổi không lấy chồng, con trai hai mươi tuổi không lấy vợ thì bắc tội cha mẹ, đàn bà sắp chửa đẻ đều phải trình quan. Để quan cho thầy thuốc đến coi sóc. Sinh con trai thời thưởng cho hồ rượu và con chó. Ai sinh con gái thì thưởng cho hồ rượu và con lợn. Ai sinh ba con thời quan nuôi hộ hai, ai sanh hai thời quan nuôi hộ một. Hể có ai chết thì quan thân hành đi đưa đám và thương khóc. Câu Tiễn mỗi khi đi đâu thì cũng đem đồ ăn để ở trong xe hể gặp trẻ con thì cho ăn và hỏi tên họ.

Đến mùa làm ruộng Câu Tiễn cũng vác cày đi cày. Phu Nhân cũng chăm việc dệt cửi, cùng chia sự lao khổ cùng với dân. Trong bảy năm Câu Tiễn không thu thế của dân, ăn mặc rất là tiết kiệm không mặc hai màu, khiêm tốn đối với người hiền, cùng chịu khó với trăm họ. Thế mà chẳng tháng nào Câu Tiễn không sai sứ sang cống hiến cho nước Ngô. Lại người vào núi hái dây cát dệt làm vải nhỏ, đem dâng Phù Sai, nhưng chưa kịp dâng Phù Sai khen lòng trung thành của Câu Tiễn. Bằng sai người trả lại trả lại đất phía đông Câu Dụng phía Tây Hề Lý. Phía Nam Cô Việt. Phía Bắc Bình Quyên. Cả thảy hơn tám trăm dặm mà quân Ngô đã chiếm đóng.

Từ khi Câu Tiễn trở về nước Việt Trung Nguyên, xây dựng Thiên Đô ở Cối Kê, ra sức trong bảy năm cũng cố lực lượng vỗ về binh sĩ, chăm lo dân chúng có thể nói là hùng mạnh, nhân cơ hội Ngô trả đất tiến quân đánh Ngô để rửa mối hận thù.

Đại Phu Phùng Đồng can rằng:

   Tuy nước ta phồn thịnh no đủ, nhưng thế lực nước Ngô còn mạnh lắm chỉ cần phát hiện Chúa Công tiến quân chinh phạt Ngô. Thế nào Ngô cũng tức giận đem quân tiến đánh trong khi thế lực của ta chưa nắm chắc phần thắng, thì tai nạn cho nước Việt ta không sao tránh khỏi. Vả lại con Chim Ưng muốn tấn công thì nó phải biết dấu mình không cho con mồi biết thì hiệu quả mới đạt đến đỉnh cao. Nay quân Ngô sắp đánh Tề và Tấn. Ngô tuy nổi danh thiên hạ, nhưng thực chỉ cốt làm tổn hại uy danh Nhà Chu. Hiện nay đối với nước Việt Trung Nguyên ta, không gì bằng biết đợi thời cơ, âm thầm liên kết với nước Tề, thân với nước Sở, khi thời cơ đã đến, ba nước đánh Ngô thì nhất định tiêu diệt được Ngô.

Câu Tiễn cho lời nói Phù Đồng là có lý, cẩn thận ẩn kín ý niệm đánh Ngô, mà tiếp tục làm cho Ngô tin mình. Câu Tiễn sai người đem vải cát mười vạn tấm, cam mật một trăm vò. Áo cầu lông chồn năm đôi, tre nứa mười thuyền sang dân Phù Sai để tạ cái ơn đã trả lại đất đai. Ngũ Viên nghe nói liền cáo ốm không vào triều. Phù Sai thấy Câu Tiễn một lòng thuần phục không những trả đất chiếm đóng cho Câu Tiễn mà còn tin lời Bá Hi.

Một hôm Phù Sai hỏi Bá Hi rằng:

   Ngày nay trong nước thái bình ta muốn mở thêm cung thất để lấy chỗ vui chơi, nên làm tại chỗ nào ?

Bá Hi nói:

   Gần Đô Thành ta, đài cao cảnh đẹp, còn đâu bằng Cô Tô, nhưng cái đài của Vua trước dựng lên chưa được tráng lệ lắm. Đại Vương nên sửa lại cái đài ấy, khiến cho cao có thể trông thấy trăm dặm, rộng có thể dung được nghìn người. Rồi hợp những ca đồng vũ nữ ở đấy, thời thật là một sự khoái lạc đệ nhất trần gian.

Phù Sai cho khen phải, liền trao giải, tìm kiếm những cây gỗ quý.

Văn Chủng nghe tin vào nói với Câu Tiễn rằng:

   Thần nghe nói “ Con chim bay ở trên mây cao, chỉ chết vì miếng ăn tốt. Con cá lặn dưới vực sâu, chỉ chết về miếng mồi thơm” Nay Chúa Công muốn báo thù Ngô thì  phải xem Ngô thích cái gì mới có thể trị nổi.

Câu Tiễn nói:

   Dẫu tìm được điều họ thích, nhưng làm thế nào mà trị nổi?

Văn Chủng tâu:

   Thần có nghĩ cách phá Ngô cả thảy được bảy kế.

1- Chịu tốn của làm cho nước Ngô bằng lòng.

2-  Lấy giá đắc mua thóc làm cho Ngô thiếu lương thực.

3-  Đem mỹ nữ sang dâng để làm cho vua Ngô mê hoặc.

4-  Đem thợ khéo, gỗ tốt sang đem dâng, để Ngô làm cung thất tốn hại tiền của.

5-  Dùng kẻ mưu thần để làm cho nước loạn.

6-  Làm cho vua Ngô hại trung thần rơi vào cảnh thế cô.

7-  Tích của luyện quân, đợi khi địch suy yếu.

Câu Tiễn nói:

   Quan tướng quốc nói phải lắm, nhưng nên dùng kế nào được?

Văn Chủng nói:

   Nay Ngô sửa lại đài Cô Tô, ta nên tìm cây lớn gỗ quý đem dâng.

Câu Tiễn liền sai hơn ba nghìn thợ mộc vào rừng tìm gỗ, tìm hơn một năm mà chưa mà chưa được cây nào thật tốt. Thợ mọc đều đêm lòng oán hận, đêm ngày than oán với nhau. Một hôm đang đêm bổng cuồng phong nổi lên núi rừng rung chuyển một con quỷ Ngư Tinh xuất hiện sau đó thời trời quang mây tạnh xuất hiện hai Thần Mộc to hai người ôm, cao năm mươi tầm, một cây ở phía Nam núi, gọi là cây tử. Một cây ở phía Bắc núi gọi là cây nam. Thợ mộc kinh ngạc cho người vội vàng về báo với Câu Tiễn.

Triều thần chúc mừng Câu Tiễn rằng:

   Lòng thành Chúa Công đã cảm động đến lòng trời, cho nên trời sanh gỗ thần để giúp Chúa Công.

Câu Tiễn mừng lắm thân hành đến làm lễ tế trời, cho thợ mộc đốn xuống sai đem bào láng và dùng thuốc xanh, đỏ vẽ hình rồng rắn, sai Văn Chủng đưa sang Ngô dâng lên cho Phù Sai. Phù Sai thấy gỗ to đẹp lạ thường, xiết bao mừng rỡ.

Ngũ Viên can rằng:

   Ngày xưa vua Kiệt làm linh đài, vua Trụ làm lộc đài khổ dân hao của đến đổi mất nước. Câu Tiễn muốn hại ta, nên đem dâng gỗ nầy đó.

Phù Sai nói:

   Câu Tiễn được cây gỗ quý nầy, không đễ mà dùng, lại đem dâng ta, thế là lòng tử tế sao ta lại từ chối.

Nước Văn Lang chia đôi Nam Bắc, Bách Việt tương tàn làm suy kiệt nước Văn Lang, Đồng Bào khốn khổ lầm than. Bắc Văn Lang đã rơi về tay quân loạn tặc phản loạn trở thành nước Việt Trung Nguyên. Việt Trung Nguyên không những giàu có về lúa gạo, mà còn giàu có về mọi mặt. Thủy Sản, sơn hào, hải vị, gái đẹp vàng bạc, ngọc ngà, châu báu chẳng thiếu chi. Là miếng mồi béo bở, không những nước Ngô, mà còn nhiều nước Phương Bắc thời Nhà Chu lúc nào cũng thèm thuồng dòm ngó. Vì thế Việt Trung Nguyên không lúc nào yên , trong thời các Vua Hùng đánh ra đòi lại Bắc Văn Lang. Ngoài thời các nước Phương Bắc dòm ngó thôn tính chẳng hạn như nước Ngô.

**************

PHẦN 30

Phù Sai thấy gỗ quý thời mừng lắm, Ngũ Viên nói gì cũng không nghe, truyền đem hai cây gỗ quý để sửa đài Cô Tô. Trong năm năm mới làm xong đài cao ba trăm trượng, rộng tám mươi tư trượng, trèo lên thì trông suốt được hai trăm dặm. Nguyên trước đó có con đường chín khúc đi thẳng lên núi, bây giờ làm rộng thêm ra. Trăm họ phải ngày đêm phục dịch, lao lực mà chết rất nhiều.

Câu Tiễn nghe tin báo Văn Chủng rằng:

   Kế sách dâng gỗ tốt cho hắn làm cung thất, tốn hại tiền của kế ấy đã thành rồi. Nay trên đài cao tất nhiên phải tuyển ca nhi vũ nữ, nếu ta không tìm được người tuyệt sắc thì làm sao làm cho hắn mê hoặc được.

Câu Tiễn nói:

   Quan tướng quốc hãy bàn mưu giúp ta.

Văn Chủng nói:

   Việc gì cũng bởi trời cả. Trời đã sanh thần mộc gúp Chúa Công thì lo gì không có mỹ nữ tuyệt sắc. Nhưng nếu ta sục tìm thời dân tình náo động. Thần nghĩ được một kế có thể xem mặt hết con gái trong nước tùy ý Chúa Công kén chọn.

Văn Chủng hiến kế rằng:

   Chúa Công phái một trăm nội thị đi lẫn với Thầy Tướng giả cách đi xem tướng số khắp trong đất nước, thấy mỹ nữ thì ghi lấy tên và chỗ ở. Dùng cách ấy chọn thì lo gì không có người.

Câu Tiễn theo kế ấy, mới trong nửa năm mà đã tuyển chọn được hai nghìn mĩ nữ. Câu Tiễn sai chọn lại được hai người đẹp nhất, truyền vẽ tranh đêm dâng Phù Sai. Hai người ấy là Tây Thi và Trịnh Đán.

Tây Thi là con một người kiếm củi ở núi Trữ La. Trữ La có hai thôn, Đông Thôn và Tây Thôn, dân chúng phần đông là họ Thị. Người con gái ở Thôn Tây gọi là Tây Thi. Trịnh Đán cũng ở Tây Thôn làng giềng với Tây Thi. Nhà lại gần sông hai người ngày nào cũng gặp nhau ra đập sợi ở bến sông phải nói là tuyệt sắc giai nhân sắc nước hương trời, mặt hoa da phấn, đúng là trong ngọc trắng ngà, da như tuyết, mắt như hồ thu êm dịu trong suốt, người như hoa xuân đại ngàn, lưng ong, mông nở, ngực đầy, dáng đi uyển chuyển, đúng là hoa nhường nguyệt, chim sa cá lặng khuynh quốc nghiêng thành, ai nhìn thấy cũng mê ngây ngất tâm hồn.

Câu Tiễn sai Phạm Lãi đem một trăm ném vàng đón về đón hai cô gái đẹp như tiên nữ giáng trần. Phạm Lãi vừa nhìn thấy Tây Thi, Trịnh Đán thì tâm hồn xao xuyến càng nhìn càng thấy đẹp đúng là báu vật chốn nhân gian. Phạm Lãi cho ăn mặt đồ the lụa, ngồi xe có màn phủ mỗi khi hai mĩ nữ bước lên xe xuống xe đều bừng lên rực sáng cả một khung trời, tiếng đồn lan nhanh, người trong nước ai cũng muốn xem mặt, tranh nhau đón theo dọc đường không biết bao nhiêu mà kể.

Phạm Lãi để Tây Thi và Trịnh Đán ở hội quán rồi truyền dụ rằng:

   Ai muốn xem mặt hai tuyệt đại mỹ nhân, thì phải nộp một đồng tiền.

Chỉ trong một lúc đồng tiền đầy mấy thùng lớn. Hai mỹ nữ đi lên lầu đứng tựa vào bao lơn, ở dưới trông lên chẳng khác nào hai tiên nữ giáng trần đứng trên không. Tây Thi và Trịnh Đán ở lại ngoại thành, tiền thu được không biết bao nhiêu mà kể, đều nộp vào kho cả.

Câu Tiễn cho hai mỹ nữ ở riêng tại Thổ Thành, rồi sai một nhạc sư già dạy cho hát múa, khi nào thành nghề sẽ sang tiến Phù Sai.

Bấy giờ Phương bắc là đời Chu Kính Vương. Phương Nam là thời Hùng ánh Vương, Chân Nhân Lang. Nước Việt Trung Nguyên Việt Vương Câu Tiễn lên làm Vương đã hơn mười năm. Trước đó một năm Phương Bắc Tề Cảnh Công mất. Con nhỏ là Trà lên Ngôi. Năm ấy Sở Chiêu Vương cũng mất, thế tử Chương lên nối ngôi Sở còn đang cũng cố xây dựng. Tấn lại suy yếu, Tề thì Án Anh chết. Lỗ thì Khổng Tử đi, những nước hùng mạnh Phương bắc xa gần nước Ngô nước nào cũng suy yếu cả. Chỉ có nước Ngô là cường thịnh nhất. Phù Sai cậy mình binh hùng tướng mạnh, có ý xâm chiếm dần các Sơn Đông các nước trấn chư hầu Nhà Chu đều lấy làm lo sợ. Phù Sai luôn tìm cách thôn tính lần các nước Sơn Đông nhưng chưa có cớ để tiến quân. Gặp lúc Điệu Công nước Tề sai sứ mượn quân nước Ngô, cùng đánh Lỗ.

Phù Sai nói:

   Ta vẫn muốn dùng quân sang đánh các nước Sơn Đông nay đã có cớ rồi.

Phù Sai thuận cho nước Tề mượn quân. Lỗ Ai Công nghe Ngô khởi binh kinh sợ, tức khắc tha cho Vua Châu về nước rồi sai sứ sang xin lỗi với nước Tề.

Tề Điệu Công sai quan đại phu là Mạnh Xước sang nói lại với nước Ngô rằng:

   Nước Lỗ đã phục tội rồi, không dám phiền đến nước Ngô nữa.

Phù Sai nổi giận, nói:

   Nước Ngô ta có phải là thuộc quốc của Tề đâu, mà Ngô ta đánh hay không đánh đều phải vâng lệnh nước Tề. Âu là thân hành đem quân đến nước Tề, để hỏi cái tội làm sao mỗi lúc nói một khác.

Nói xong bằng đuổi Mạnh Xước ra. Nước Lỗ nghe tin vua Ngô giận Tề liền sai sứ đem lễ vật sang dâng vua Ngô lại ước với vua Ngô cùng đánh nước Tề. Phù Sai vui lòng thuận ngay.

Ngũ Viên can:

   Chớ nên. Tôi nghe nói Câu Tiễn ăn không hai món. Cùng vui cùng khổ với trăm họ. Con người nầy chưa chết là còn lo cho nước Ngô ta không lo coi chừng đề phòng Nước Việt là nguy cơ sắp đến nơi. Tề chẳng qua chỉ là ghẻ lở ở ngoài da. Xin Đại Vương bỏ Tề mà kìm hãm sức mạnh nước Việt.

Vua Ngô Phù Sai không nghe cứ đánh Tề. Tức khắc cất quân cùng với nước Lỗ đến vây phía nam nước Tề. Người nước Tề ai cũng kinh hoảng, và thầm oán Tề Điệu Công tự nhiên sinh sự chọc giận nước Ngô.

Bấy giờ Trần Khất đã chết rồi, con là Trần Hằng giữ quyền chính. Nhân dịp người trong nước không thuận mới bảo Bão Tức rằng:

   Sao nhà ngươi không làm “đại sự” đi. Ngoài thì làm cho quân Ngô khỏi giận. Mà trong thời báo được cái thù cho gia tiên.

Bão Tức từ chối là không làm nổi.

Trần Hằng nói:

   Ta xin giúp nhà ngươi.

Nhân khi Điệu Công đi luyện quân Trần Hằng dâng rượu độc cho Điệu Công rồi giết đi, cho quân binh bắt Cao Chiêu Tử và Quốc Huệ rồi sai người dâng nạp cho Phù Sai nói với Vua Ngô Phù Sai rằng:

   Chúa Công tôi đắc tội với thuộc quốc đã bị bệnh mà chết, thế là Trời đã thay Đại Vương mà trị tội Chúa Công tôi rồi. Nếu Đại Vương rủ lòng thương xót không phá hủy xã tắc nước tôi, thì nước tôi xin đời đời thần phục thượng quốc.

Phù Sai nghe xong liền rút quân về, quân nước Lỗ cũng kéo về nước.

Bấy giờ Vua Việt Trung Nguyên là Câu Tiễn cho người luyện tập mỹ nữ học múa hát trong ba năm đã được điêu luyện, liền cho đeo ngọc trai, ngồi xe ngọc, hương thơm ngào ngạt, có một số thị nữ rất đẹp theo hầu, rồi sai quan tướng quốc là Phạm Lãi đem sang nước Ngô tiến Phù Sai. Khi Phù Sai ở nước Tề về trong niềm vui chiến thắng.

Ngũ Viên nói:

   Đại Vương chớ vội mừng.

Phù Sai nổi giận nói:

   Nhà ngươi ỷ mình có công lớn coi thường Bổn Vương lúc nào cũng xàm tấu những lời bất trung, ngươi tưởng rằng Bổn Vương không làm gì được nhà ngươi sao?

Ngũ Viên trở về dinh có ý tự sát. Phù Sai nghe tin đến ngăn lại. Qua ngày hôm sau Phù Sai đang chểnh chệ trên chiếc ngai vàng nghe triều thần chuẩn tấu. Cũng vào thời điểm ấy Phạm Lãi xin vào yết kiến Phù Sai. Phù Sai cho vào.

Phạm Lãi quỳ lạy mà tâu rằng:

   Kẻ bề tôi hèn ở bên đông hải là Câu Tiễn, cảm ơn Đại Vương, không thể cùng thê thiếp ở bên cạnh Đại Vương hầu hạ được, nên bề tôi kẻ hèn cố công tìm khắp trong nước được hai người khéo nghề múa hát, sai chúng tôi đem nạp Vương Cung, để giữ việc quét rửa.

Phạm Lãi tâu xong liền cho người đưa kiệu vào từ ngoài sân rồng một chiếc kiệu ngọc cùng các mỹ nữ đẹp xinh đẹp vô cùng đi hai bên kiệu ngọc từ từ đi vào hương thơm ngào ngạc triều thần mê mẫn. Phù Sai vừa trông thấy chiếc ngọc với đàng mỹ nữ thì đã mê rồi. Tiếng sáo du dương nổi lên tức thời trên chiếc kiệu ngọc hai tuyệt sắc mỹ nhân bước xuống cả triều thần như sáng rực lên.

Phù Sai vừa trông thấy Tây Thi và Trịnh Đán thì hồn xiêu phách lạc, cho là Thần Tiên mới giáng hạ. Cả triều thần im phăng phắc quả tim như muốn nhảy ra ngoài. Phù Sai mê mẩn không còn biết gì nữa.

Ngũ Viên thấy thế can rằng:

   Bẩm Đại Vương. Tôi nghe nói Nhà Hạ mất vì nàng Muội Hỉ. Nhà Ân mất vì nàng Đắc Kỷ. Nhà Chu khốn đốn vì nàng Bao Tự. Mĩ Nữ là một vật có hại cho quân Vương làm cho mất nước Chúa Công Đại Vương chớ nên nhận.

Phù Sai lúc nầy đã mê mẩn nghe Ngũ Viên Can nổi giận nói:

   Người ta ai chẳng có lòng hiếu sắc. Câu Tiễn tìm được mỹ nữ mà chịu đem dâng tiến ta, điều đó chứng tỏ Câu Tiễn một lòng trung thành với ta, quan tướng quốc chớ nghi.

Rồi không còn nghe Ngũ Viên khuyên can. Phù Sai nhận lễ cống của Nước Việt Trung Nguyên. Nhìn hai người mỹ nữ tuyệt sắc hương thơm ngào ngạt Phù Sai yêu cả hai. Nhưng đẹp lộng lẫy và khéo ăn nói cũng như làm dáng nũng nịu thì Tây Thi có phần hơn.  Bởi vậy Tây Thi được ở Đài Cô Tô. Còn Trịnh Đán thì ở Ngô Cung.

Phù Sai đến với Trịnh Đán thấy Trịnh Đán xinh đẹp quá Phù Sai ngây ngất cả tâm hồn quên hết cả cung phi mỹ nữ ở với Trịnh Đán được vài hôn rồi sang Cô Tô. Phù Sai vừa nhìn thấy Tây Thi thời hồn xiêu phách lạc mê mẩn say sưa. Phải nói Tây Thi không những đẹp như tiên giáng trần mà đàn ca múa hát thanh thót du dương mỗi nét rung động trên người Tây Thi như con bão cuốn hút tâm hồn Phù Sai bay tận mây xanh.

Nụ cười vừa nở trên môi

Tưởng chừng trời đất rực ngời đầy hoa

Thân hình cá lặng chim sa

Lưng ong, ngực nở nhô cao, mông đầy

Mảnh mai yểu điệu liễu hờn

Hoa nhường nguyệt thẹn lu mờ trăng sao

Tóc nàng như vạn tầng mây

Hồ thu trong suốt đẹp thay mắt nàng

Da nàng trắng ngọc sáng ngần

Tuyết không sánh nổi phải nhường màu da

Phù Sai mê mẩn, mẩm mê

Quên luôn tổ quốc, quên đi triều thần.

Tây Thi đẹp đến nổi, đi cũng đẹp, ngồi cũng đẹp, nằm cũng đẹp, khóc cũng đẹp, đau bụng cũng đẹp. Tây Thi khéo ăn nói, khéo nũng nịu suốt ngày làm cho Phù Sai mê mẩn quên tổ quốc, quên triều thần, quên luôn nàng Trịnh Đán xinh đẹp. Tây Thi đến đâu thời nghi vệ chẳng khác gì Phi Hậu.

Trịnh Đán ở Ngô Cung không thấy Phù Sai đến với mình vô cùng ghen tức với Tây Thi, uất khí không nói ra được, hơn một năm thì qua đời.

Phù Sai thương lắm, đem chôn ở núi Hoàng Mao và cho lập đền thờ cúng tế. Nói về Phù Sai yêu Tây Thi sai Vương Tôn Hùng lập ra cung Quán Khê ở núi Linh Nham, trang sức toàn bằng châu ngọc để làm chỗ cho Tây Thi ra chơi. Ở đấy có lập ra Hưởng Điệp Lang, trên núi có hồ Ngoạn Hoa, ao Ngoạn Nguyệt. Lại có giếng nước trong gọi là giếng Ngô Vương, Tây Thi thường đứng ở trên mà soi mặt. Phù Sai đứng ở bên cạnh lấy tay vuốt tóc cho Tây Thi. Lại có động gọi là động Tây Thi. Phù Sai cùng Tây Thi cùng ngồi ở đấy. Trên núi lại có Cầm Đài. Phù Sai Tây Thi thường gảy đàn ở đấy. Phù Sai lại sai người trồng hoa ở Hương Sơn, để Tây Thi và cung nữ chở thuyền đi hái hoa, lại có Thái Liên hình ở phía đông nam thành Đô, đó là chỗ Tây Thi cùng Phù Sai đi hái sen. Phù Sai lại bắt đào một con sông nhỏ ở trong thành, từ Nam sang Bắc, rồi làm cái Buồm gấm để chơi thuyền, gọi là Cẩm Phàm Hình. Phía Nam Đô Thành có Tường Châu Uyển, để làm nơi săn bắn. Lại có Ngư Thành để làm nơi nuôi cá. Áp Thành để nuôi vịt, Kê Bi để nuôi gà, Tửu Thành để nấu rượu. Lại thường cùng Tây Thi nghĩ mát tại Nam Loan, hồ Hạ Loan ba mặt đều là núi chỉ có một mặt Nam hướng về quê Tây Thi. Phù Sai đặc tên lại là Động Đình. Mỗi lần Tây Thi nhớ quê thời đến đây cùng Phù Sai. Vì quê Tây Thi ở Việt Trung Nguyên gần Tây Hồ Động Đình. Phù Sai từ khi có được Tây Thi, cứ ở luôn bên Tây Thi thường ở Cô Tô, bốn mùa vui chơi rượu chè đàn địch, chẳng cần thiết đến việc gì cả. Chỉ có quan Thái Tế là Bá Hi và Vương Tôn Hùng thường hay hầu bên cạnh. Mỗi khi Ngũ Viên xin yết kiến, Phù sai từ chối không cho vào.

**************

PHẦN 31

Nói về Việt Vương Câu Tiễn nghe tin Phù Sai say mê Tây Thi xây chỗ chơi hết cái nầy tới cái kia, chiến tranh xâm lược hết hết nước nầy đến nước khá, làm cho dân chúng Ngô than oán quân binh mỏi mệt, lại bày mưu tính kế với Văn Chủng.

Câu Tiễn nói:

   Lời Tiên Vương có ghi chép. Quốc Tổ Hùng Vương dựng nước Bách Việt Văn Lang lấy Đạo làm kim chỉ nam đoàn kết dân chúng, vua, tôi. Nhà Nước Văn Lang lấy dân làm gốc. Dân chúng lấy ăn làm đầu. Nay nước Việt Trung Nguyên ta thất mùa, có cái cớ xin vua Ngô cho vay thóc mà chu cấp cho dân. Nếu trời giúp ta thì xui khiến vua Ngô cho ta vay thóc một mũi tên bắng trúng hai mục đích. Một là làm cho nước Ngô suy yếu lương thực, hai là làm cho chúng ta được lòng dân chúng. Hể có dân ủng hộ thì việc gì cũng làm nên sức mạnh nào cũng đánh bại.

Câu Tiễn sai Văn Chủng đem nhiều lễ vật đút cho Bá Hi, để Bá Hi giúp đở yết kiến với Phù Sai. Phù Sai cho Văn Chủng vào yết kiến ở Cô Tô đài.

Văn Chủng sụp lạy mà tâu rằng:

   Nước Việt Trung Nguyên tôi năm nay mất mùa thê thảm, trăm họ khốn khổ. Xin Đại Vương cho vay một vạn thạch thóc ở kho Thái Sương, để cứu cho dân khỏi đói, sang năm lúa chín lại đem trả nộp.

Phù Sai nói:

Vua Việt thuần phục nước Ngô ta, dân Việt đói khát, như dân Ngô đói khát, ta có tiếc gì thóc kho mà không đem ra để cứu dân Việt.

Ngũ Viên nghe tin sứ nước việt đến Cô Tô đài cũng theo đến vào yết kiến Phù Sai. Thấy Phù Sai cho nước Việt vay thóc Ngũ Viên lại can rằng:

   Không nên. Sự thế ngày nay Ngô thôn tính Việt, tức Việt diệt Ngô. Tôi xem ý vua Việt sai sứ đến vay thóc, không phải thực là vì dân đói mà vay. Chính là định làm cho nước Ngô ta hết thóc đó. Ta có cho vay cũng chẳng them tình nhân ái, mà không cho vay cũng chưa đến nổi oán thù, chi bằng Đại Vương từ chối đi là hơn.

Phù Sai nói:

   Câu Tiễn bị giam ở nước ta, phải đi giật lùi mà dắt ngựa cho ta, dân chúng nước Ngô cũng như chư hầu ai cũng biết cả. Nay được ta tha cho về, Câu Tiễn cảm ơn không giết mới còn được mạng sống mà về nước. Nên vẫn một lòng trung thành tháng nào cũng cống hiến cho nước Ngô ta. Khi nào lại còn dám làm phản nghịch mà lo.

Ngũ Viên nói:

   Tôi nghe nói vua Việt ngày đêm chăm chỉ, luyện tập quân binh để định báo thù nước Ngô. Nay Đại Vương đem thóc cho vay khác gì hổ báo mọc thêm cánh, tôi e rằng họa sắp đến nơi rồi.

Phù Sai nói:

   Câu Tiễn nguyện xin làm bề tôi ta, lại còn thế thốt nếu ăn ở hai lòng phản lại Ngô thời trời tru đất diệt có lẽ nào phản lại lời hứa, làm bề tôi mà dám đánh vua hay sao?

Ngũ Viên nói:

   Vua Thang đánh vua Kiệt, vua Vũ đánh vua Trụ, không phải là bề tôi đánh vua là gì?

Bá Hi đứng bên cạnh quát lên rằng:

   Quan tướng quốc nói quá, sao lại ví Đại Vương như vua Kiệt, vua Trụ được.

Bá Hi lại tâu với Phù Sai rằng:

   Ngày xưa Tề Hoàn Công hội chư hầu ở quỳ khâu, có ước với các nước phải cho nhau vay thóc, là để giữ lấy nghĩa giao lân. Huống chi Việt là một nước luôn cống hiến hàng tháng xưa nay cho Ngô ta. Sang năm lúa chín thì Việt lại đem đủ số thóc sang nộp. Thế thì chẳng thiệt gì cho Ngô, mà lại được ơn với Việt, việc gì mà Đại Vương không thấu hiểu mà quan tướng quốc lại nói quá như thế.

Phù Sai bèn truyền cho nước Việt vay một vạn thạch thóc, sang năm được mùa, phải đêm nộp trả đủ chớ có thất tín.

Văn Chủng sụp lạy mà tâu rằng:

   Đại Vương thương nước Việt mà cho vay nước Việt mang ơn không hết, khi nào dám thất tín nhất là lúc nào cũng nhớ đến lòng tôi trung của mình.

Văn Chủng lĩnh một vạn thạch thóc đem về nước Việt. Câu Tiễn mừng lắm. Triều thần hô vạn tuế. Câu Tiễn liền đem cấp phát cho dân nghèo trong nước. Dân chúng Bắc Việt Trung Nguyên ca tụng công đức Câu Tiễn không hết lời. Năm sau nước Việt được mùa to.

Câu Tiễn lại hỏi Văn Chủng rằng:

   Ta không trả thóc cho Ngô thời thất tín, nếu trả thì hại Việt mà lợi cho Ngô, biết làm sao ?

Văn Chủng nói:

   Trả thời ta phải trả, nhưng chúng ta hết sức bí mật nên chọn những hạt thóc tốt luộc đi rồi đem trả, kẻ kia thấy thóc tốt tức nhiên gieo trồng ấy là trúng kế của ta đó. Nước Ngô dân chúng không những bị đói to mà ngân khố kho thóc Ngô cũng thâm hụt vô kể.

Câu Tiễn theo kế ấy đem thóc chín trả cho Ngô không thiếu một đấu nào Phù Sai khen rằng:

   Câu Tiễn thật là người biết giữ chữ tín.

Phù Sai lại trông thấy hạt thóc to lớn lạ thường, bèn bảo Bá Hi rằng:

   Nước Việt Trung Nguyên nổi tiếng đất tốt xưa nay nhìn hạt thóc cũng đủ biết là đất tốt như thế nào. Thảo nào các đời Tiên Đế luôn muốn chiếm lấy đất Việt Trung Nguyên. Ta nên lấy giống tốt nầy phân phát cho dân để lấy giống.

Năm ấy khắp nước Ngô đều gieo thóc nước Việt. Nhưng gieo xuống chờ đợi mãi không thấy mọc lên cây nào cả hạt thóc đã trở nên thâm đen hủy mục dân Ngô đói to. Phù Sai cho là thổ nghi không giống nhau mới có chuyện kỳ lạ như vậy, ngoài ra không một ai biết vì nguyên do nào. Câu Tiễn nghe nói Ngô bị đói toan đem quân đánh Ngô.

Văn Chủng can rằng:

   Chưa đánh vội vì nước Ngô còn nhiều kẻ trung thần nhất là Ngũ Viên là trụ cột vững mạnh của nước Ngô. Sở dĩ nước Ngô trở nên hùng mạnh làm cho các nước khiếp sợ là nhờ có hai nhân vật kỳ tài. Một là Ngũ Viên, hai là Tôn Vũ. Tôn Vũ đã bỏ Ngô đi từ lâu rồi. Chỉ còn Ngũ Viên nhưng hiện nay vua Ngô với Ngũ Viên không hợp lòng nhau, có lần Ngũ Viên muốn tự tử chỉ còn chờ Ngũ Viên bị hại là thời cơ đã đến.

Câu Tiễn hỏi Phạm Lãi:

   Chừng nào thời cơ đến?

Phạm Lãi nói:

   Cũng chẳng bao lâu nữa đâu, xin Đại Vương gấp rút ngày đêm luyện tập quân binh chững bị cho cuộc đánh Ngô.

Câu Tiễn nói:

   Quân binh nước ta còn phải luyện tập nữa sao?

Phạm Lãi nói:

   Việc chiến tranh cần phải có quân binh tinh nhuệ, ngoài binh pháp trận pháp ra, quân binh tinh nhuệ cần phải có tài kiếm, kích, đao, thương, gươm, giáo, cung tên phải thật lão luyện. Mà các tài ấy nếu không được minh sư dạy bảo thì không sao tài giỏi được. Thần biết có người Xử Nữ ở Nam Lâm giỏi nghề kiếm, kích, đao, thương lắm. Lại có người nước Sở tên gọi là Trần Am Nguyên, giỏi nghề cung nỏ. Xin Đại Vương cho người đón về mà truyền dạy cho quân binh.

Câu Tiễn liền sai sứ đem lễ vật đi mời Xử Nữ và Trần Âm Nguyên người Xử Nữ ấy không biết tên họ là gì, nguyên vẫn ở trong rừng, chẳng học ai mà giỏi nghề kiếm, kích, đao, thương. Sứ giả phụng mệnh đến Nam Lâm mời Xử Nữ. Xử Nữ bằng lòng đi ngay.

Nửa đường gặp một ông cụ đầu bạc đứng trước xe mà hỏi rằng:

   Nàng có phải là Xử Nữ ở Nam Lâm đó không? Kiếm thuật của nàng thế nào mà nàng dám nhận lời của Vua Việt. Âu là ta hãy thử nhau một phen.

Xử Nữ nói:

   Xin tùy ý ông.

Ông lão liền bẻ bụi trúc ở trong rừng như bứt nắm cỏ khô liền đâm Xử Nữ như tia chớp. Ngọn trúc vừa lao tới Xử Nữ còn nhanh hơn nữa bắt luôn ngọn kích rồi đâm lại ông lão. Bổng thấy ông lão nhảy lên trên cây hóa làm con vượn trắng kêu hú lên rồi phi thân đi mất. Sứ giả lấy làm lạ và thuật lại cho Việt Vương Câu Tiễn nghe. Xử Nữ vào yết kiến Câu Tiễn. Câu Tiễn mời ngồi rồi hỏi nghề kiếm, kích, đao, thương Xử Nữ.

Xứ Nữ nói:

   Nghề kiếm, kích, đao, thương trong phải định tâm giữ vững tinh thần. Ngoài phải làm ra vẻ tầm thường trông như mềm yếu như đàn bà vậy, nhưng thật ra dữ như con hổ nhanh như con thỏ, khiến người ta không kịp trở tay chớp mắt hạ gục đối thủ. Ai theo được cái đạo ấy thời là một người địch nổi trăm người. Nếu Đại Vương không tin cho quân binh thử xem.

Câu tiễn sai một trăm dũng tấn công đâm Xử Nữ. Xử Nữ chỉ cần quơ tay lạng lách vài cái các ngọn kích bị Xử Nữ cướp sạch ném xuống đất. Câu Tiễn Vô cùng kinh ngạc khâm phục cho là tài giỏi, mới giao cho luyện tập binh sĩ. Xử Nữ lựa khắp quân binh, chỉ được có ba nghìn quân theo học với Xử Nữ. Dạy hơn một năm Xử Nữ cáo từ trở về Nam Lâm. Lần sau Câu Tiễn đến mời thì không thấy Xử Nữ đâu cả.

Lại nói về Trần Am Nguyên là người nước Sở, vì tội giết người, phải trốn sang nước Việt. Phạm Lãi thấy là người bắn giỏi trăm phát chẳng sai phát nào, liền nói Câu Tiễn đón làm xạ Sư.

Câu Tiễn hỏi Trần Am Nguyên rằng:

   Chẳng hay cung nỏ từ đâu mà sinh ra?

Trần Am Nguyên trả lời rằng:

   Nỏ sinh ra bởi cung, cung sinh ra bởi ná, ná sinh ra bởi một người Hiếu Tử thời xa xưa. Nguyên thời xưa nhân loại thời còn sơ khai thời ăn lông ở lỗ, đói thì ăn thịt giống vật. khát thời tìm uống nước mưa, người chết thì lấy cỏ bọc lại, đêm ném ra ngoài gò cho chim thú ăn. Sau có một người Hiếu Tử không nở để cho chim thú ăn thịt Cha Mẹ mình mới phát minh cái ná để giữ. Ở vào thời ấy chỉ có hai Phương Nam Bắc. Nam xuất hiện Viêm Đế Thần Nông. Bắc xuất hiện Viên Hiên, Phục Hi. Từ Ná nghiên cứu ra Cung, từ Cung nghiên cứu ra Nỏ để dẹp loạn bốn phương.

Câu Tiễn nghe Trần Am Nguyên nói cung, nỏ xuất sứ làu thông như thế liền giao cho Trần Âm Nguyên luyện tập ba nghìn quân binh truyền dạy nghề bắn nỏ, bắn cung đội quân xạ thủ thiện nghệ.

Trần Am Nguyên dạy phép “ liên nỏ, liên cung ” bắn luôn ba mũi tên không ai tránh kịp, trong ba tháng thời quân sĩ học được hết phép bắn cung, bắn nỏ. Trần Am Nguyên dạy xong phép xạ tiễn lâm bệnh mà chết. Câu Tiễn làm lễ hậu tán ở núi, mới đặc cái tên núi ấy là núi Trần Am Sơn.

Ngũ Viên cho người dò biết Câu Tiễn ngày đêm luyện tập quân binh không ngừng nghĩ liền vào yết kiến Phù Sai khóc mà tâu rằng:

   Đại Vương cứ tin nước Việt một lòng thần phục nước Ngô. Nay nước Việt dùng Phạm Lãi, ngày đêm luyện tập quân binh, các nghề kiếm, nỏ, đao, thương, giáo, cung đều tài giỏi cả. Một mai nhân chuyện gì mà sang đánh nước ta thì nước ta nguy lắm. Nếu Đại Vương không tin sao không cho người dọ thám xét xem.

Phù Sai liền cho người sang dọ thám nước Việt, người ấy biết hết những việc Xử Nữ và Trần Am, về báo với Phù Sai.

Phù Sai bảo Bá Hi rằng:

   Việt đã thần phục ta rồi, sao còn luyện tập quân binh làm gì nữa?

Bá Hi nói:

   Nước Việt đội ơn Đại Vương trả hết đất lại cho Việt Trung Nguyên, nếu không có quân sĩ thì lấy gì mà giữ là việc thường can chi mà Đại Vương lo ngại.

Phù Sai luôn trong lòng thấy lo muốn khởi binh đánh Việt.

**************

PHẦN 32

Đây nói về nước Lỗ sắp bị nước Tề thôn tính Khổng Tử liền sai Tử Cống đi gấp sang Ngô vào tâu với vua Ngô Phù Sai rằng:

   Khi trước Ngô hợp quân Lỗ đánh Tề. Nước Tề tuy thua nhưng vẫn căm thù lắm. Nay quân Tề tiến quân đã đóng ở Vân Thủy sắp sang đánh Lỗ, rồi cũng sẽ đánh Ngô sao Đại Vương không đánh Tề để cứu Lỗ. Đại Vương mà phá tan Quân Tề thu phục được nước Lỗ thì uy danh lừng lẫy hơn cả Tấn, chắc là nước Ngô nên nghiệp Bá.

Phù Sai nói:

   Khi nước Tề đã tình nguyện xin thần phục nước Ngô. Vì thế Ta mới rút quân về. Nhưng từ đó đến nay chẳng thấy triều cống gì cả, ta vẫn định đem quân hỏi tội. Nhưng nghe nói vua Việt ra sức luyện tập quân sĩ có ý rình ta, nên ta muốn đánh Việt trước, rồi sau sẽ đánh Tề, cũng chưa lấy gì làm muộn.

Tử Cống nói:

   Không nên. Việt yếu mà Tề mạnh. Cái lợi đánh Việt nhỏ mà cái hại thả Tề thì to. Vả chăng sợ nước Việt yếu mà tránh đánh Tề mạnh. Thì sao gọi là trí và dũng đều mất cả hai thì tranh thế nào được nghiệp Bá. Nếu Đại Vương có ngại nước Việt thì tôi xin sang báo vua Việt đem quân theo hầu Đại Vương đi đánh Tề Đại Vương nghĩ thế nào?

Phù Sai bằng lòng mà nói rằng:

   Nếu như thế thì chính hợp ý ta.

Tử Cống cáo từ Phù Sai rồi sang yết kiến vua Việt là Câu Tiễn. Câu Tiễn nghe nói Tử Cống sắp đến thời lấy làm kinh ngạc âu đây cũng là dịp mau cho mình vì Tử Cống là học trò giỏi của Khổng Tử, liền thân hành ra đón ngoài ba mươi dặm, mời vào công quán, tiếp đãi rất hậu.

Khúm núm hỏi rằng:

   Nước tôi hẻo lánh về xứ đông hải, tiên sinh không ngại đường xa mà đến đây chẳng hay có điều chi dạy bảo?

Tử Cống nói:

   Tôi đến đây để viếng Đại Vương.

Câu Tiễn nghe Tử Cống nói thế liền sụp lạy mà nói rằng:

   Tôi nghe nói Họa với Phúc là láng giềng với nhau. Tiên sinh đến đây viếng tôi là phúc báo cho tôi đó, xin tiên sinh dạy bảo cho biết.

Tử Cống nói:

   Mới rồi tôi vào yết kiến vua Ngô, bảo vua Ngô đánh Tề cứu Lỗ. Vua Ngô nghi nước Việt có âm mưu phản, vậy nên muốn đánh Việt trước. Nếu Đại Vương không có chí báo thù mà khiến cho người ta nghi thì vụng lắm. Nếu có chí báo thù mà khiến cho người ta biết thì thật là nguy lắm.

Câu Tiễn ngạc nhiên quì xuống mà nói rằng:

   Xin tiên sinh nghĩ cách mưu cứu cho.

Tử Cống nói:

   Vua Ngô kêu ngạo mà ưa nịnh. Bá Hi chuyên quyền mà khéo gièm. Nay Đại Vương dùng đồ lễ hậu và lời nói ngọt, rồi xin đem một toán quân theo Ngô đánh Tề, kẻ kia đánh mà thua thì từ đó suy yếu đi. Nếu đánh mà được tất sinh lòng kêu ngạo, muốn làm bá chủ chư hầu, chắc phải đem quân đánh Tấn. Như thế thì nước Việt mới có dịp mà thừa thế sang đánh Ngô phần thắng ắt nắm chắc trong lòng tay.

Câu Tiễn nghe xong quỳ lạy hai lạy mà nói rằng:

   Tiên Sinh đến đây, thật là trời giúp cho tôi, khác nào như tôi đã chết mà lại được sống lại.Tôi xin vâng lời tiên sinh.

Câu Tiễn bằng đem trăm nén hoàng kim, một thanh bảo kiếm và đôi ngựa tốt đưa tặng Tử Cống. Tử Cống khéo từ chối, trở về báo với vua Ngô rằng:

   Vua Việt cảm ơn Đại Vương sinh toàn cho, nghe nói Đại Vương có bụng nghi, lấy làm sợ hãi lắm, nay mai sắp sai sứ đến tạ.

Phù Sai mời Tử Cống ra công quán, ở lại trong năm ngày. Quả nhiên nước Việt sai Văn Chủng đến nước Ngô, tâu với Phù Sai rằng:

   Kẻ bề tôi hèn Việt Trung Nguyên đông hải là Câu Tiễn đội ơn Đại Vương không giết, cho được sống để giữ việc cúng tế, dẫu chết cũng chưa đủ đền ơn. Nay nghe nói Đại Vương vì nghĩa lớn mà đánh kẻ mạnh, cứu kẻ yếu. Vậy có sai tôi là Văn Chủng đem hai mươi chiếc tinh giáp, một cái mâu khuất lư, và một thanh kiếm. Bộ quang của Tiên Vương để lại sang dâng Đại Vương. Khi nào Đại Vương cất quân thời Câu Tiễn xin đem ba nghìn quân dốc lòng dốc sức vì Đại Vương xông pha trong chốn gươm, đao, tên, giáo, dẫu chết cũng vui lòng.

Phù Sai nghe xong lấy làm vừa lòng mới triệu Tử Cống vào mà bảo rằng:

   Câu Tiễn thật là người tín nghĩa. Hắn định đem ba nghìn quân theo ta đánh Tề, tiên sinh nghĩ thế nào?

Tử Cống nói:

   Không nên. Ta đã dùng quân Việt mà lại cho vua Việt đi theo thì cũng quá lắm. Đại Vương nên nhận cho quân Việt theo từ chối không cho Vua Việt đi.

Phù Sai nghe lời. Tử Cống cáo từ nước Ngô lại đi sang nước Tấn, vào nói với Tấn Định Công rằng:

   Tôi nghe nói. Hễ không lo xa thời tất có hại gần. Nay Ngô sắp sửa đánh Tề. Ngô mà đánh được Tề, tất cùng Tấn tranh hùng với nhau làm Bá Chủ, nhà vua nên luyện tập quân sĩ để mà đợi sẳn.

Tấn Định Công nói:

   Xin vâng lời dạy.

Khi Tử Cống trở về nước Lỗ thì quân Tề đã bị quân Ngô đánh thua rồi.

Lúc bấy giờ Phương Nam là năm thứ 30 đời Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang. Phương Bắc là năm thứ 36 đời Chu Kinh Vương. Vua Việt Vương Câu Tiễn sai quan đại phu là Chư Kế Dĩnh đem ba nghìn quân giúp Ngô đánh Tề. Vua Ngô là Phù Sai thống 20 vạn quân đi đánh Tề. Cho người lập biệt quán ở đất Câu Khúc xung quanh trồng Ngô Đồng, mùa thu gọi là Ngô Cung cho Tây Thi ra nghỉ mát ở đấy đợi khi thắng Tề, thì Phù Sai cũng về nghỉ ở đấy cho qua mùa hạ.

Khi quân Ngô sắp khởi hành, Ngũ Viên lại can rằng:

   Nước Việt chính là cái mối lo cho nước Ngô ta, còn nước Tề chẳng qua chỉ là bệnh ghẻ lở bên ngoài da mà thôi. Nay Đại Vương đem 20 vạn quân đi nghìn dặm đường, để chữa cái bệnh ghẻ lở, mà quên cái bệnh trong ruột vua Việt sắp thôn tính nước ta, tôi e rằng chưa thắng được Tề, mà đã phải mất nước Ngô.

Quan Thái Tế là Bá Hi bằng trách Ngũ Viên, cải nhau với Ngũ Viên về vấn đề Việt. Nhân đấy Bá Hi gièm pha Ngũ Viên nói:

   Ngũ Viên bên ngoài có vẻ trung, nhưng thâm tâm là con người tàn nhẫn. Con người đã chẳng đoái thương gì đến Cha và Anh thì còn thương tiếc gì đến vua? Trước đây nhà Vua muốn đánh nước Tề, Ngũ Viên ra sức can ngăn, kết quả là đánh thành công. Do đó sinh ra oán hận. Nếu nhà Vua không đề phòng thời Ngũ Viên sẽ làm loạn.

Bá Hi mưu với Phùng Đồ ra sức gièm pha Ngũ Viên lúc đầu vua Ngô không nghe, nhưng sau đó vua Ngô thấy Ngũ Viên như cái gai trong mắt muốn nhổ đi.

Nói về vua Ngô chuẩn bị xuất quân đánh Tề. Thời Ngũ Viên lại khuyên can nữa:

   Đại Vương nhất định nuôi kẻ thù trong bụng mà đánh kẻ thù ngoài da sao thế thời nước Ngô nguy mất.

Phù Sai nổi giận mà nói rằng:

   Ta định ngày xuất quân mà lão tặc dám đem lời quái gở trù mạt nước Ngô cũng như ngăn trở quân ta, nghĩ có đáng tội không?

Lúc bấy giờ Phù Sai đã có ý giết Ngũ Viên. Bá Hi mật tâu với Phù Sai rằng:

   Ngũ Viên là bậc lão thần đời trước, ta không nên giết, chi bằng Đại Vương sang ước chiến với Tề, để cho người Tề giết đi, không phải là tốt đẹp hay sao?

Phù Sai nói:

   Quan Thái Tể nói phải lắm.

Phù Sai liền viết một bức thư kể tội nước Tề đánh Lỗ là khinh Ngô, sai Ngũ Viên đưa sang vua Tề. Mượn tay vua Tề giết Ngũ Viên. Ngũ Viên biết Phù Sai muốn giết mình cũng như biết nước Ngô sắp mất về tay nước Việt. Bằng đem người con là Ngũ Phong cùng đi. Khi đến Lâm Tri Ngũ Viên đem bức thư của Phù Sai dâng lên Tề Giản Công. Tề Giản Công nổi giận, toan chém Ngũ Viên.

Bảo Tức can rằng:

   Ngũ Viên là Trung Thần nước Ngô, đã nhiều lần can ngăn vua Ngô không nên tin nước Việt. Vua Ngô không những không nghe mà còn muốn loại bỏ Ngũ Viên. Mục đích vua Ngô sai Ngũ Viên sang đây là mượn dao giết người. Muốn mượn tay Ta giết Ngũ Viên để khỏi mang tiếng là giết Trung Thần. Chi bằng ta tha cho về, khiến cho bọn trung, bọn nịnh công kích lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau mà Phù Sai phải chịu tiếng ác.

Tề Giản Công tiếp đãi Ngũ Viên tử tế, rồi hẹn đến cuối mùa xuân thời khai chiến. Nguyên Ngũ Viên cùng với Bảo Mục quen nhau, cho nên Bảo Tức can Tề Giản Công không giết Ngũ Viên.

Bảo Tức hỏi riêng Ngũ Viên về việc nước Ngô. Ngũ Viên ứa nước mắt mà không nói gì cả, chỉ cho con là Ngũ Phong nhận làm em Bảo Tức, rồi gửi ở đấy cải tên đổi họ thành Vương Tôn Phong không dùng họ Ngũ nữa.

Bảo Tức thở dài mà nói rằng:

   Ngũ Viên định về cố can mà chịu chết, cho nên mới để con ở lại nước Tề đây.

Lại nói về vua Ngô là Phù Sai hẹn ngày xuất quân, cùng quân Việt. Đi qua Cô Tô đài ăn cơm trưa ở đấy. Ăn cơm xong thì chợp mắt ngủ đi chiêm bao thấy vào Chương Minh cung. Khi vào đến nơi, thấy hai cái nồi đun chưa chín. Lại có hai con chó đen, một con sủa về phía Nam, một con sủa về phía Bắc. Lại có hai cái cuốc bằng gang, cắm trên tường. Lại thấy nước chảy cuồn cuộn vào chốn điện đường. Còn về hậu phòng thì nghe tiếng ầm ầm chẳng ra chuông, chẳng ra trống. Trông ra phía vườn trước, chẳng thấy cây gì khác cả, chỉ toàn là giống Ngô Đồng, khi giật mình tỉnh dậy.

Phù Sai trong lòng hốt hoảng mới gọi Bá Hi vào kể lại tất cả nói rằng:

   Quan Thái Tế thử đoán hộ ta tốt xấu thế nào?

Bá Hi sụp lạy mà chúc mừng rằng:

   Tốt thay. Giấc mộng của Đại Vương ứng vào việc đánh Tề nầy. Hai chữ Chương Minh. Nghĩa là phá giặc thành công tiếng tăm lừng lẫy. Hai cái nồi đun mà chưa chín, nghĩa là khí thế Đại Vương đang hưng thịnh. Hai con chó đen, một con sủa phía Nam. Một con sủa phái Bắc có nghĩa là Phía Nam – Phía Bắc các nước phải thần phục nước ta. Hai cái cuốc cắm ở trên tường nghĩa là dân thợ, dân cày chăm làm ruộng. Nước chảy cuồn cuộn và chốn điện đường nghĩa là các nước Nam Bắc đem đồ triều cống nhiều. Nơi hậu phòng nghe tiếng ầm ầm chẳng ra chuông chẳng ra trống nghĩa là cung nữ vui vẻ. Trông ra phía vườn trước toàn là một giống Ngô Đồng nghĩa là đem thứ gỗ cây Ngô Đồng ấy làm đàn cầm, đàn sắt thời tiếng kêu rất êm ái. Mộng của Đại Vương tốt không biết dường nào mà kể.

Phù Sai dẫu ưa lời nịnh nhưng nghe nhiều chỗ không hợp lý , bằng hỏi Vương Tôn Lạc.

Vương Tôn Lạc nói:

   Tôi dốt không biết đoán mộng, nhưng ở núi Dương Sơn về phía Tây thành có một người dị sĩ, tên gọi Công Tôn Thánh. Người ấy học rộng lắm nếu Đại Vương còn hồ nghi, sao không triệu đến mà bảo đoán xem.

Phù Sai nói :

   Nhà ngươi triệu đến đây cho ta.

Vương Tôn Lạc liền đi triệu Công Tôn Thánh. Công Tôn Thánh hỏi cớ, nghe Vương Tôn Lạc nói rõ lý do là quan Thái Tể Bá Hi đã đón mộng rồi nhưng vua Ngô chưa tin nên triệu mình đến giải rõ cơn mộng có trùng hợp lời nói Bá Hi không. Công Tôn Thánh phục xuống đất mà khóc.

Người vợ đứng cạnh thấy vậy cười bảo:

   Phu Quân dở hơi quá. Được vua triệu đáng lý ra phải mừng sao lại khóc như mưa?

Công Tôn Thánh thở dài mà nói rằng:

   Thương thay việc nầy nàng không biết được đâu, ta đã tính số ta đến ngày nay là hết. Bây giờ ta phải vĩnh biệt với nàng cho nên ta thương khóc đó.

Vương Tôn Lạc giục Công Tôn Thánh lên xe, cùng đến Cô Tô đài. Phù Sai triệu Công Tôn Thánh vào, rồi nói chuyện chiêm bao biểu đoán mộng cho nghe.

Công Tôn Thánh nói:

   Tôi biết nói thì tất chết, nhưng dẫu chết cũng phải nói giấc mộng của Đại Vương. Ứng vào đánh Tề lần nầy. Chữ “Chương” có nghĩa là thua chạy vất vả. Chữ “Minh” nghĩa là về mơi Âm Ti. Hai cái nồi đun mà chưa chín nghĩa là Đại Vương thua chạy “không kịp nấu ăn”. Hai con chó đen, một con sủa về Nam, một con sủa về Bắc nghĩa là phải chạy về Âm Phương “vì âm thuộc về sắc đen”. Hai chiếc cuốc bằng gang cắm trên tường nghĩa là quân Việt Trung Nguyên vào cày cuốc nền xã tắc nước Ngô. Nước chảy cuồn cuộn vào chốn điện đường nghĩa là chốn điện đường bỏ không, nước trôi sóng vỗ. Nơi hậu cung nghe tiếng ầm ầm chẳng ra chuông chẳng ra trống nghĩa là cung phi mỹ nữ bị bắt, thở vắng than dài. Trông ra phía sau vườn toàn là một giống Ngô nghĩa là đem gỗ cây Ngô Đồng làm đồ tống táng. Xin Đại Vương bãi đánh Tề đi và sai Quan Thái Tể là Bá Hi sang tạ tội với Câu Tiễn thì nước mới yên mà thân mới toàn được.

Bá Hi đứng ở cạnh tâu với Phù Sai rằng:

   Đứa thất phu ở nơi thảo dã, lại dám ăn nói càng rỡ, chẳng giết còn để làm gì.

Công Tôn Thánh trừng mắt mà mắng Bá Hi rằng:

   Quan Thái Tể quyền cao chức trọng, lộc nước cơm vua mà chẳng hết lòng trung thành, lại cứ giữ lối dua nịnh. Ngày kia quân Việt diệt Ngô, Quan Thái Tể có còn giữ được cái đầu hay không?

Phù Sai nghe hai người cải lộn nói:

   Đứa thất phu không có kiến thức gì, chỉ một mực nói càn, không giết thì lời nói nầy sẽ làm mê hoặc lòng người làm hại nước Ngô ta.

Nói xong truyền cho lực sĩ đem cái dùi sắt đánh Công Tôn Thánh. Công Tôn Thánh kêu to lên rằng:

   Trời ơi trời có thấu cho nổi oan tình nầy cho tôi không? Trung mà bị tội thật là chết oan. Sau khi tôi chết. Xin chớ mai táng quăng thây tôi ở dưới núi Dương Sơn, sau nầy còn làm vang cái bóng để báo Đại Vương.

Phù Sai đánh chết Công Tôn Thánh, mới sai người quăng thây dưới núi Sơn Dương mà kể tội rằng:

   Giống sài lang ăn thịt mầy, lửa đốt xương mầy, gió bay tro mầy, hình tiêu ảnh diệt còn đâu là vang bóng để báo được ta.

Bá Hi rót chén rượu dâng lên mà chúc mừng rằng:

   Mừng thay Đại Vương đã trừ được giống yêu quái, xin cạn một chén rượu nầy, rồi sẽ phát binh.

Trung quân thời Phù Sai và Bá Hi. Thượng quân thời Tư Môn Sào. Hạ quân thời Tào Cô, thống lĩnh 20 vạn quân cùng ba nghìn quân Việt. Di chuyển thẳng về phía Sơn Đông. Phù Sai sai sứ sang hội ước với Lỗ Ai Công để hợp quân đánh Tề. Ngũ Viên đem lời hẹn của Tề Giản Công báo với Phù Sai ở ngang đường rồi cáo ốm mà về trước, không theo đi đánh Tề.

**************

PHẦN 33

Lại nói về tướng nước Tề là Quốc Thư đóng quân ở bến sông vấn, nghe tin Ngô và Lỗ hợp quân đến đánh, liền hợp các tướng lại để thượng nghị. Bổng nghe báo quan tướng quốc là Trần Hằng sai em là Trần Nghịch đến. Quốc Thư và các tướng mời vào.

Trần Nghịch nói:

   Quân đã kéo sang đất Doanh Bác, việc nguy cấp đến nơi quan tướng quốc sợ các tướng không chịu cố sức, vậy sai tiểu tướng đến đây để đốc chiến. Cứ như việc ngày nay có tiến không thoái, có chết không sống. Trong quân chỉ có đánh trống, cấm không cho đánh chiêng.

Các Tướng đều nói:

   Chúng tôi xin liều chết để quyết chiến.

Quốc Thư truyền lệnh cất quân đi đón đánh Ngô. Đi đến Ngải Lăng, gặp toán thượng quân của nước Ngô là tư Mao Sào.

Quốc Thư hỏi:

   Ai dám đối địch?

Công Tôn Huy hớn hở xin đi, rồi đem quân đi nghinh chiến. Hai bên đánh nhau hơn ba mươi hiệp, chưa phân được thua. Quốc Thư thống lĩnh quân binh từ cánh tả xông vào. Tiếng trống như sấm. Tư Môn Sào bị hai mũi quân Tề tấn công không thể địch nổi phải bỏ chạy.

Quốc Thư thắng trận, càng thêm hăng hái, truyền cho quân sĩ mỗi khi ra trận, phải đem theo một cái thừng dài mà bảo rằng:

   Tục nước Ngô đều húi tóc cả, ta lấy cái thừng để mà xâu đầu.

Quân Tề nhao nhao như điên cuồng cho là sắp phá được quân Ngô. Tư Môn Sào đem bại binh về yết kiến Phù Sai. Phù Sai nổi giận toan chém Tư Môn Sào.

Tư Môn Sào nói:

   Tôi mới ra trận chưa biết hư thực thế nào, cho nên bị thua. Nếu đánh một trận nữa mà không thắng, bấy giờ xin chịu tội chết.

Bá Hi cũng cố xin hộ cho. Phù sai đuổi Tư Môn Sào ra, rồi giao đạo quân binh thượng quân cho Đại Tướng là Triển Như. Gặp có tướng Lỗ là Thúc Tôn Châu Cừu đem quân đến giúp. Phù Sai đưa ra một thanh kiếm và một bộ áo giáp, sai làm hướng đạo, đóng quân ở cách Ngãi Lăng năm dặm.

Quốc Thư sai người đưa chiến thư đến. Phù Sai hẹn đến ngày hôm sau. Hôm sau Phù Sai sai Thúc Tôn Châu Cừu bày trận thứ nhất. Triển Như bày trận thứ hai. Tào Cô bày trận thứ ba.

Tư Môn Sào đem ba nghìn quân Việt đi lại để dụ địch. Còn mình cùng Bá Hi thống lĩnh đại binh đóng nơi gò cao mà tùy cơ ứng biến. Lại cho tướng nước Việt là Chư Kế Dĩnh theo ở bên cạnh để cùng xem đánh. Quân Tề đã bày trận xong, Trần Nghịch cùng với các tướng đều ngậm ngọc. Mà bảo cùng nhau rằng ai chết thì đem liệm ngay.

Công Tôn Hạ và Công Tôn Huy bắt quân sĩ hát bài ca tống tán, và cùng thề với nhau rằng:

   Hể ai còn sống mà về thì không phải là liệt sĩ trượng phu.

Quốc Thư nói:

   Các Tướng, Sĩ mà quyết đánh thì nhất định phải thắng quân Ngô nhất định tan tác tơi bời.

Hai bên bày trận xong. Tư Môn Sào ra khiêu chiến. Quốc Thư bảo Công Tôn Huy rằng:

   Viên bại tướng trong tay ngươi đó, nhà ngươi nên ra mà bắt lập công đầu hạ nhuệ khí quân Ngô xuống.

Công Tôn Huy thúc quân binh phi ngựa lao ra múa kích đâm Tư Môn Sào. Tư Môn Sào đánh trả hai bênh đánh nhau dữ dội. Tư Môn Sào bỏ chạy, Công Tôn Huy phi ngựa thúc quân binh đuổi theo chém quân Việt. Thúc Tôn Châu Cừu thúc quân binh ra đón đánh Công Tôn Huy. Tư Môn Sào thúc quân binh quay trở lại khiêu chiến. Quốc Thư lại sai Công Tôn Hạ ra đánh. Hai bên đánh với nhau dậy trời dậy đất. Tư Môn Sào lại bỏ chạy, Công Tôn Hạ phi ngựa thúc quân binh rượt đuổi theo chém giết. Đại Tướng nước Ngô là Triển Như thúc quân binh chận đánh Công Tôn Hạ. Tư Môn Sào thúc quân quay trở lại khiêu chiến. Tướng nước Tề là Cao Vô Bình và Tôn Lâu đem quân ra đánh. Tướng Ngô là Tào Cô một mình đánh nhau với hai tướng nước Tề mà chẳng sợ hãi một chút nào cả. Hai bên xáp chiến, chiến trường thây phơi khắp lối.

Thơ rằng:

Văn hóa phương Bắc là thế đây

Tranh hùng tranh bá chẳng nương tay

Kể chi đồng loại tàn sát giết

Máu đổ đầu rơi thảm thê thay.

Lại nói về Quốc Thư thấy quân Ngô không lui, bèn cầm dùi đánh trống để thúc đại binh tiến vào. Phù Sai đứng trên gò cao, trông thấy quân Tề hăng hái. Quân đã dần dần kém thế. Liền sai Bá Hi đem ba vạn quân xuống tiếp ứng.

Quốc Thư trông thấy quân Ngô lại kéo đến, đã toan chia quân ra đối địch, bổng nghe tiếng chiêng dạy đất. Quân Tề tưởng là quân Ngô định lui, chẳng ngờ Phù Sai thống lĩnh 10 vạn tinh binh chia làm ba đạo quân chủ lực lấy tiếng chiêng làm tiếng quân, theo lối tắc xông vào trận địa tấn công quân Tề như vũ bão. Làm cho quân Tề đứt ra làm ba ngã. Bọn Triển Như và Tào Cô nghe nói Phù Sai lâm trận càng thêm hăng hái đánh quân Tề thất điên bát đảo. Triển Như bắt sống được Công Tôn Hạ. Tư Môn Sào đâm chết Công Tôn Huy. Phù Sai bắn trúng Tôn Lâu.

Lư Khâu bảo Quốc Thư rằng:

   Quân Tề chết gần hết rồi, ngài nên đổi y phục trốn đi rồi sau sẽ liệu kế.

Quốc Thư thở dài mà nói rằng:

   Ta cầm gần 20 vạn quân Tề mà bị nước Ngô đánh bại, còn mặt nũi nào mà về triều nữa.

Quốc Thư nói xong, liền cởi bỏ áo giáp xông vào trong đám quân Ngô bị quân Ngô đâm chết. Lư Khâu Minh núp trong đám cỏ cũng bị tướng nước Lỗ là Thúc Tôn Châu Cừu bắt được. Phù Sai phá tan quân Tề, các tướng hiến công, chém được tướng nước Tề là Quốc Thư và Công Tôn Huy. Bắt sống được Công Tôn Hạ và Lư Khâu Minh cũng đem chém nốt. Chỉ có Cao Vô Bình và Trần Nghịch hai người trốn thoát mà thôi, còn người khác hoặc bị chém hoặc bị bắt không biết bao nhiêu mà kể.

Phù Sai hỏi Chư Kế Dĩnh rằng:

   Nhà ngươi xem quân Ngô cường dũng so với quân Việt thế nào?

Chư Kế Dĩnh sụp lạy mà tâu rằng:

   Quân Ngô cường dũng khắp thiên hạ không nước nào địch nổi, huống chi là nước Việt vốn dĩ yếu hèn xưa nay.

Phù Sai bằng lòng với câu trả lời của Chư Kế Dĩnh. Bằng trọng thưởng cho quân Việt. Sai Chư Kế Dĩnh về trước báo tin thắng trận cho Câu Tiễn biết. Tề Giản Công vô cùng lo sợ cùng với Trần Hằng và Hàm Chỉ thượng nghị đầu hàn nước Ngô. Rồi sai sứ đem thật nhiều lễ vật sang lễ lạy Phù Sai.

Phù Sai bảo nước Tề và nước Lỗ giảng hòa giao hiếu với nhau, không được gây hấn chiến tranh nữa. Nước Tề và nước Lỗ đều vâng mệnh cả. Phù sai rút quân về đến Ngô Cung ở Câu Khúc và nói với Tây Thi rằng:

   Ta để Mỹ Nhân ở đây là muốn cho được chóng mặt.

Tây Thi sụp lạy và chúc mừng bấy giờ gió thu mát mẻ Phù Sai và Tây Thi đi lên trên đài uống rượu rất vui, đến đêm khuya xa xa có tiếng lũ trẻ hát.

Lá đồng gặp mùa lạnh

Vua Ngô tỉnh, chưa tỉnh

Lá ngô đang mùa thu

Vua Ngô sầu, lại sầu.

Phù Sai không bằng lòng sai người bắt lũ trẻ đến mà hỏi rằng:

   Ai dạy chúng bây hát câu ấy?

Lũ trẻ nói:

   Có một đứa trẻ áo đen, không biết ở đâu đến dạy bày hát như thế.

Phù Sai nổi giận nói rằng:

   Ta đây tự trời sinh ra, có Thần Thánh ủng hộ, khi nào lại sầu.

Phù Sai toan giết lũ trẻ. Tây Thi cố xin mãi mới thôi.

Bá Hi tâu rằng:

   Xuân đến thì muôn vật vui, thu đến thời muôn vật sầu, đó là Đạo Trời. Đại Vương lúc vui lúc sầu cũng là chuyện thường tình hợp lẽ trời còn lo gì nữa.

Phù Sai ở Ngô Cung ba ngày rồi mới về kinh thành. Các quan triều thần đều vào chúc mừng. Ngũ Viên cũng đến không nói gì cả.

Phù Sai trách Ngũ Viên rằng:

   Quan tướng quốc can ta không nên đánh Tề, nay ta thắng được Tề trở về, quan tướng quốc không có công gì cả, tưởng cũng nên hổ thẹn.

Ngũ Viện giận lắm, vùng vằng buông thanh kiếm xuống mà tâu rằng:

   Trời định làm mất nước cho điều mừng nhỏ, rồi mới giáng họa to lớn. Việc thắng Tề chẳng qua là điều mừng nhỏ tôi e rằng sắp có điều họa lớn đến nơi.

Phù Sai tức giận nói rằng:

   Đã lâu không gặp quan tướng quốc, tai ta được im lắng dễ chịu, nay lại đến kể lễ rầy rà hay sao?

Phù Sai nói xong bưng tai nhắm mắt ngồi trên điện một lúc bổng trừng mắt mà quát to lên rằng:

   Quái Lạ.

Các quan tâu rằng:

   Đại Vương thấy gì?

Phù Sai nói:

   Ta trông thấy bốn người tựa lưng nhau rồi mỗi người chạy về một phía. Lại thấy dưới điện có hai người đứng đối nhau. Người ngoảnh mặt phía Bắc giết người ngoảnh mặt phía Nam. Các ngươi có trông thấy như thế không?

Các quan đều nói:

   Chúng thần không nhìn thấy gì cả.

Ngũ Viên tâu rằng:

   Bốn người chạy về bốn phía, nghĩa là bốn phương ly tán. Người ngoảnh mặt phía Bắc giết người ngoảnh mặt phía Nam nghĩa là kẻ dưới làm hại người trên, bề tôi giết vua. Nếu Đại Vương không biết tu tỉnh thì tất có ngày hại thân mất nước.

Phù Sai nổi giận nói:

   Tướng quốc điềm gở như vậy ta không muốn nghe.

Bá Hi nói:

   Bốn phương ly tán, nghĩa là bốn phương chạy đến phục dịch trước sân Ngô. Nước Ngô ta làm Bá Chủ, sắp có cơ thay Nhà Chu, ấy cũng là cái điềm Bề Tôi phạm đến vua đó.

Phù Sai nói:

   Quan Thái Tể nói một lời làm cho lòng ta mở rộng. Tướng quốc thì già nua lắm rồi, chẳng nói được câu nào như thế cả.

Mấy hôm sau vua Việt là Câu Tiễn đem bề tôi nước Việt thân hành đến nước Ngô mục đích là nắm rõ tình nước Ngô cũng như đường tiến quân đánh Ngô đội lớp là thân hành đến nước Ngô chúc mừng Phù Sai thắng trận. Đối với các quan nước vua Việt đều có quà biếu cả.

Bá Hi nói:

   Thế là bốn phương phải phục dịch trước sân Ngô đó.

Phù Sai bày tiệc ở trên vân đài. Câu Tiễn ngồi hầu. Các quan đại phu đều đứng hầu bên cạnh Phù Sai nói:

   Vua không quên người bề tôi có công, Cha không quên người con có công. Nay quan Thái Tể là Bá Hi vì ta luyện tập binh sĩ có công ta dự định thưởng cho làm thượng khanh. Vua Việt thờ ta như Cha, một lòng hiếu thuận. Ta cũng định trả hết đất đã chiếm đóng trước đây lại còn phong thêm cho đất biên giới mở rộng đất đai Nước Việt Trung Nguyên để trả công lao giúp ta, các quan đại phu nghĩ thế nào?

Các quan đại phu đều nói:

   Đại Vương thưởng công cho kẻ khó nhọc đó là quyền của Bá Vương.

Ngũ Viên sụp lạy xuống đất khóc mà tâu rằng:

   Than ôi, thương thay. Người trung bịt miệng, lũ nịnh nâng tay trái làm cho phải, gian tưởng là ngay. Có một ngày kia diệt nước Ngô nầy miếu tổ tông tàn phá cung điện đầy gai.

Phù Sai nghe xong nổi trận lôi đình:

   Lão tặc gian trá, làm tai làm quái, chỉ muốn chuyên quyền để hại nước Ta. Ta nghĩ đến Tiên Vương, mà không nở giết, cho về mà tự xử lấy, đừng trông thấy mặt ta nữa.

Ngũ Viên nói:

   Lão thần nầy nếu bất trung bất tín, thì đã chẳng được làm tôi cho Tiên Vương. Nay khác nào như Long Bàng gặp vua Kiệt. Tỉ Can gặp vua Trụ. Tôi dẫu bị giết nhưng Đại Vương cũng khó mà toàn. Tôi xin từ đây vĩnh biệt không trông thấy mặt Đại Vương nữa.

Ngũ Viên nói xong tức khắc lui ra trở về nhà. Phù Sai vẫn chưa nguội cơn giận.

Bá Hi nói:

   Tôi nghe nói khi trước Ngũ Viên sang sứ nước Tề, có đem con gửi cho họ Bảo, thế là có ý muốn phản lại Ngô, Đại Vương nên xét kĩ.

Phù Sai nghe xong cả giận nói:

   Quả thật Ngũ Viên lừa dối quả nhân, muốn làm phản.

Bèn sai người tới nhà Ngũ Viên trao cho Ngũ Viên thanh kiếm Chúc Lâu để tự sát Ngũ Viên cầm lấy thanh kiếm cười lớn một hồi rồi than rằng:

   Đại Vương muốn giết ta đây.

Ngũ Viên nói xong liền chạy ra đứng trước giữa sân mà kêu to lên rằng:

   Trời ơi là trời. Ta làm cho nhà ngươi nên nghiệp Bá, ta lại lập nhà ngươi lên ngôi, lúc đầu nhà ngươi muốn chia một nửa nước Ngô cho ta, nhưng ta không nhận. Bây giờ ngươi lại nghe lời gièm pha mà giết ta. Ta vì mầy mà phá Sở, ta vì mầy mà đánh Việt, khiến cho uy danh lừng lẫy khắp chư hầu. Than ôi, con người cô độc một mình không thể nào đứng được. Nay mầy không nghe theo lời can gián của Ta. Lại bắt ta chết. Ta chết ngày nay, thời mai đến lượt ngươi. Quân Việt Trung Nguyên đến đào bới xã tắc nước Ngô ngươi đó.

Ngũ Viên bảo với người nhà rằng:

   Khi ta chết rồi, các ngươi phải khoét mắt ta mà treo ở cửa Đông để ta được xem quân Việt kéo vào.

Nói xong Ngũ Viên tự đâm cổ mà chết.

Nội thị đêm thanh kiếm về tâu với Phù Sai và thuật lại những lời nói của Ngũ Viên. Ngũ Viên trong khi gần chết thời Phù Sai thân hành đến xem thi thể rồi nói rằng:

   Ngũ Viên mầy đã chết rồi thời có biết gì nữa.

Phù Sai lại truyền cắt thủ cấp Ngũ Viên đem treo ở cửa Bàn Môn, còn thi thể thời bỏ vào cái bao da ngựa, sai người quăng xuống khúc sông tiền đường mà bảo rằng:

   Nhật nguyệt cháy xương mầy, thuồng luồng ăn thịt mầy. Hình thể mầy tiêu diệt. Phỏng có còn gì không.

Thi thể Ngũ Viên theo dòng sông trôi đi sóng đánh dạt vào bờ. Dân ở đấy sợ hãi bảo nhau vớt lên, đêm chôn ở núi Ngô Sơn. Phù Sai giết Ngũ Viên rồi, mới phong cho Bá Hi làm tướng quốc. Câu Tiễn trở về Việt Trung Nguyên, càng dốc lòng nghĩ mưu đánh Ngô.

**************

PHẦN 34

Nói về Câu Tiễn dốc lòng mưu nghĩ đánh Ngô. Thế mà Phù Sai chẳng để ý gì đến. Càng ngày càng kêu căng phóng túng. Ăn chơi trác tán mấy mấy vạn dân đi đắp Hàn Thành đào một cái kênh ở phía Đông Nam xuyên sang Tây Bắc, khiến nước Sông Trường Giang, chảy vào Sông Nghị, rồi thông sang Sông Tề. Thế Tử Hữu biết ý Phù Sai muốn hội thông Nam Bắc Sơn Đông gắng liền với Việt Trung Nguyên trở thành thời đại mới Trung Quốc. Thời đại thay thế Nhà Chu. Thế Tử Hửu muốn can ngăn nhưng lại sợ Phù Sai giận, mới nghĩ ra một kế để làm cho Phù Sai tỉnh ngộ.

Một hôm đang buổi sáng sớm, Thế Tử Hữu đeo cung mang tên ở hậu cung viên đi về, áo giày ước sạch cả. Phù Sai thấy lạ, liền hỏi.

Thế Tử Hữu nói:

   Con ra chơi sau hậu viên, nghe tiếng con Ve kêu ở trên cây chạy lại gần xem. Thấy con Ve tưởng mình yên ổn khoe khoang cái giọng ngân nga của mình. Không ngờ có con Bọ Ngựa giơ hai càng rình bắc con Ve để ăn thịt. Con Bọ Ngựa chỉ biết miếng mồi là con Ve nên không chú ý gì cả. Không ngờ có con chim Sẻ vàng bay lượn ở gần đấy định mổ con Bọ Ngựa. Con chim Sẻ chỉ biết chăm chăm vào con Bọ Ngựa. Nào ngờ có Con đứng ở đấy giương cung định bắn con chim Sẻ chỉ lo chăm chú con chim bước tới bước lui không ngờ sụp xuông cái hố ướt cả áo giày đến nổi làm trò cười cho Phụ Thân.

Phù Sai nói:

   Mầy chỉ ham cái lợi trước mắt, mà không nghĩ đến cái hại sau lưng thiên hạ còn ai ngu như thế nữa.

Thế Tử Hữu nói:

   Thế mà thiên hạ còn có người ngu hơn con. Nước Lỗ là dòng dõi Chu Công. Lại nhờ công dạy bảo của Khổng Tử. Không xâm phạm gì đến lân quốc thế mà nước Tề tự nhiên đem quân đánh Lỗ. Tề tưởng lấy được Lỗ, chẳng ngờ có Ngô đem quân đi nghìn dặm để đánh Tề. Ngô đánh Tề tưởng lấy được Tề. Chẳng ngờ nước Việt Trung Nguyên đem quân quyết tử vượt qua tam giang, thông ngũ hồ để diệt nước Ngô.

Phù Sai nghe xong nổi giận nói:

   Mầy học đâu ra cái giọng lưỡi của Ngũ Viên, ta nghe chán tai lắm, bây giờ mầy lại bắt chước, để làm ngăn trở công việc của ta hay sao?

Thế Tử Hữu sợ hãi lui ra. Phù Sai giao cho Thế Tử Hữu cùng Vương Tử Địa và Vương Tôn Dị Dung giữ nước, còn mình thời đem quân sang hội với Lỗ Ai Công ở đất Thái Cao, với Vệ Xuất Công ở đất Phát Dương, rồi ước với các Chư Hầu đại hội ở Hoàng Trì, muốn cùng với nước Tấn tranh nhau Bá nghiệp.

Câu Tiễn nghe tin Phù sai đêm quân đi vắng, tinh binh nước Ngô đều điều động đi theo mới cùng Phạm Lãi thương nghị.

Câu Tiễn hỏi Phạm Lãi:

   Đánh Ngô được chưa?

Phạm Lãi nói:

   Được rồi đấy.

Việt Vương Câu Tiễn bèn đem hai nghìn người bị đày, cùng bốn vạn quân binh thường được huấn luyện, sáu nghìn kẻ sĩ, sáu nghìn quân tử. Hơn một nghìn tướng lĩnh chỉ huy theo đường thủy vượt qua Sông Trường Giang bất ngờ tiến đánh quân Ngô. Tiền đội là Trù Vô Dư thần tốc đánh thọc sâu vào nước Ngô chiếm lĩnh nhiều quận huyện. Quân sĩ và dân chúng Ngô đã quá mệt mỏi vì chiến tranh. Vì sự ăn chơi trác tán của Phù Sai. Những người mạnh khỏe hăng hái phần lớn đã chết ở trận chiến với Tề, phần thì theo Phù Sai họp chư hầu ở Hoàng Trì. Quân Ngô trấn giữ nơi biên giới cũng như các quận huyện bị quân Việt Trung Nguyên đánh bại nhanh chóng.

Trù Vô Dư di chuyển quân binh thần tốc tiến đánh thẳng vào Kinh Đô nước Ngô. Vương Tôn Dị Dung đem quân ra chống cự, đánh nhau được mấy hiệp. Cùng lúc ấy Vương Tử Địa đem quân ra xáp chiến. Trù Vô Dư đánh không lại ngã ngựa bị bắt. Ngày hôm sau Việt Vương Câu Tiễn thống lĩnh đại quân đến. Thế Tử Hữu định giữ thế thủ.

Vương Tôn Dị Dung nói:

   Quân Việt vẫn có lòng sợ nước Ngô Ta. Vả lại từ xa kéo đến đây tức nhiên mệt nhọc. Ta thắng lần nữa, thì họ phải chạy. Nếu không thắng bấy giờ giữ thế thủ cũng chưa lấy gì làm muộn.

Thế Tử Hữu nghe lời. Liền sai Dị Dung ra đánh, Hữu đem quân theo sau. Câu Tiễn thân hành đốc quân binh đánh nhau với Ngô. Phạm Lãi và Thế Dung ở hai bên tả hữu cũng thúc quân reo hò mà tiến. Khí thế mạnh như chẻ tre. Lúc bấy giờ ở nước Ngô, quân binh tinh dũng đều theo Phù Sai. Ở trong nước toàn là quân sĩ chưa luyện tập. Trong khi quân nước Việt Trung Nguyên toàn là quân tinh dũng đã luyện hơn mười năm. Nhất là đội quân tinh nhuệ đạt đến cảnh giới xuất quỉ nhập thần đã được Xử Nữ cũng như Trần Am Nguyên đã luyện tập. Lại thêm Phạm Lãi và Thế Dung đều là tướng lão luyện nhiều năm ở chiến trường thì quân Ngô làm sao địch lại nổi quân Ngô thua to.

Vương Tôn Dị Dung bị Thế Dung tướng Việt giết chết. Thế Tử Hữu bị vây hãm trong vòng vây quân Việt bắt được thì nhục liền tự tử mà chết.

Quân Việt kéo thẳng đến dưới chân thành. Vương Tôn Địa đóng chặt cửa thành lại rồi cố giữ thế thủ và sai người đi cáo gấp với Phù Sai. Câu Tiễn cho thủy quân đóng ở Thái Hồ. Lục quân đóng ở Tư Môn. Câu Tiễn sai Phạm Lãi đốt đài Cô Tô lửa cháy hơn một tháng chưa tắt, bao nhiêu chuyến thuyền của Ngô đều chiếm lấy đem về Thái Hồ cả, quân Ngô thủ thành không dám ra đánh.

Lại nói về chuyện Phù Sai cùng với Lỗ Ai Công và Vệ Xuất Công cùng đến Hoàng Trì, sai người mời Tấn Định Công. Tấn Định Công sợ phải đến hội. Phù Sai sai Vương Tôn Lạc cùng với quan thương khanh nước Tấn là Triệu Ưởng bàn việc để tên trước sau ở trong tờ tái thư.

Triệu Ưởng nói:

   Nước Tấn đã mấy đời nay làm Minh Chủ còn phải hỏi gì nữa.

Vương Tôn Lạc nói:

   Tổ nước Tấn là Thúc Ngu, là em của vua Thành Vương. Tổ nước Ngô là Thái Hà là bá Tổ vua Vũ Vương. Tôn ti cách nhau mấy tầng.  Huống chi Tấn dẫu làm Minh Chủ. Mà khi hội ở nước Tấn, ở Quắc đều phải đứng dưới Sở. Nay Đại Vương muốn đứng trên Ngô hay sao?

Hai bên tranh nhau, mấy ngày chưa ngã ngũ đi đến dứt khoát. Bỗng có sứ giả của Vương Tử Địa sai đến, mật báo việc quân Việt đánh Ngô, giết Thế Tử Hữu, nay đang vây thành sự thế rất nguy cấp. Phù Sai kinh sợ. Bá Hi rút gươm chém chết sứ giả.

Bá Hi nói:

   Việc nầy hư thật chưa rõ, nếu để sứ giả tiết lộ ra thời Tề và Tấn tất thừa cơ sinh sự, Đại Vương tài nào mà về yên được.

Phù Sai nói:

   Quan tướng quốc nói phải lắm, nhưng Ngô và Tấn còn đang luận chưa xong, nay lại có tin nầy, vậy ta nên bỏ về ngay, hay ở lại dự hội mà chịu cho Tấn làm trưởng?

Vương Tôn Lạc nói:

   Hai đường đều không được cả. Ta bỏ không dự hội mà về ngay thời biết ta có sự nguy cấp. Nếu dự hội mà chịu cho Tấn làm trưởng rồi thời ta làm gì cũng tất phải vâng mệnh nước Tấn. Vậy thời ta quyết tranh cho ngã ngũ mới khỏi lo ngại.

Phù Sai hỏi:

   Muốn tranh cho được thì phải làm thế nào?

Vương Tôn Lạc mật tâu rằng:

   Nay việc đã nguy cấp lắm, xin Đại Vương nổi hiệu trống mà khiêu chiến để làm cho người nước Tấn phải sợ.

Phù Sai cho là phải, đêm hôm ấy điều động quân binh kéo sang chỗ quân Tấn đóng cách nhau chỉ độ một dặm, rồi bày trận ở đấy. Vua Ngô tự tay cầm dùi đánh trống, hơn một vạn cái trống trong quân đều đánh theo. Tiếng chiêng trống nổi lên inh ỏi. Quân Tấn sợ hãi không biết vì cớ gì, mới sai quan đại phu là Đổng Cát sang hỏi.

Phù Sai rằng:

   Ta phụng mệnh thiên tử Nhà Chu làm Minh Chủ các nước, nay vua Tấn trái mệnh tranh Trưởng, để đến nổi dùng dằng mãi không xong. Ta sợ sứ giả đi lại thêm phiền vậy phải thân hành đến đây mà thượng nghị. Nước Tấn theo không theo ngày hôm nay phải quyết.

Đổng Cát về báo với Định Tấn Công. Bấy giờ Lỗ Ai Công và Vệ Xuất Công cũng ngồi ở đấy.

Đổng Cát nói riêng với Triệu Ưởng rằng:

   Tôi xem ý vua Ngô, ngoài miệng dẫu nói cứng, nhưng nét mặt buồn rầu, tất là trong bụng như có điều gì lo nghĩ lắm. Hay là quân Việt Trung Nguyên đã sang đánh Ngô rồi nếu quả vậy ta không chịu cho hắn đứng tên trước, thì tất hắn liều mà đánh ta, nhưng ta cũng không nên chịu nhường suông, phải bắt hắn bỏ Vương Hiệu đi mới được.

Triệu Ưởng nghe xong bằng tâu với Tấn Định Công. Định Công lại sai Đổng Cát sang nói Phù Sai rằng:

   Đại Vương phụng mệnh thiên tử Nhà Chu hội chư hầu Chúa Công tôi không dám trái, nhưng nước Ngô nguyên là Tước Bá mà lại hiệu Xưng Ngô Vương thời đối với Thiên Tử Nhà Chu ra sao? Đại Vương nên bỏ Vương Hiệu Ngô Vương đi mà xưng là Ngô Công thời Chúa Công tôi xin vâng mệnh.

Phù sai cho là lời nói ấy là phải, liền tự xưng là Ngô Công rồi ra tiếp kiến các vua chư hầu. Ngô Công thề trước, thứ đến nước Tấn, đến Lỗ và Vệ. Phù Sai rút quân theo đường thủy về nước Ngô. Đi đến nửa đường được luôn mấy tin nước nhà lâm nguy cấp báo. Quân sĩ nghe nói ai cũng sợ hãi vả lại đi đường xa mỏi mệt, nên chẳng ai nghĩ gì đến sự giao chiến.

Khi đại quân Ngô kéo về gần đến Ngô Thành thời bị quân Việt Trung Nguyên chặn đánh. Phù Sai thấy quân Việt Trung Nguyên anh dũng lạ thường, kiếm, cung, đao, thương, nỏ, giáo kỳ lạ đánh quân Ngô như đàng hổ xông vào đàn dê mà xơi, quân Ngô lớp lớp ngã gục. Phù Sai nhìn thấy kinh hoàng khiếp vía 20 vạn quân Ngô chủ lục tinh nhuệ, bị quân Việt Trung Nguyên đánh tơi bời. Quân Ngô thua to.

Phù sai sợ hãi lắm nói với Bá Hi rằng:

   Quan tướng quốc nói vua Việt không bao giờ làm phản cho nên ta nghe mà tha cho về nước. Sự thể ngày nay như thế nầy quan tướng quốc phải sang xin cầu hóa với Việt. Nếu không thì thanh kiếm ta đưa cho Ngũ Viên ngày trước ta lại đưa cho quan tướng quốc đó.

Bá Hi liền sang quân Việt, sụp lạy Câu Tiễn xin tha tội cho nước Ngô còn mang theo lễ tạ tội cầu giảng hòa với nước Việt. Nước Ngô lại xin theo nước Việt.

Phạm Lãi nói với Câu Tiễn rằng:

   Nước Ngô, ta cũng chưa nên diệt, ta hãy cho hòa để đền ơn cho Bá Hi. Từ đây Ngô không còn cường thịnh được nữa đâu, vì Việt Ta luôn theo dõi Ngô.

Câu Tiễn cho nước Ngô giảng hòa, rồi rút quân về nước, vào năm đó năm thứ 38 đời Chu Kính Vương phương Bắc, phương nam năm thứ 32 đời Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang đời thứ 14 Hạ Hùng Vương. Lúc bấy giờ phương Bắc phía bên kia sông Trường Giang thấy nước Ngô đã bị nước Việt Trung Nguyên kìm hãm không còn lo sợ Ngô thôn tính nữa. Bằng thôn tính lẫn nhau nước nầy đánh nước kia. Nước kia đánh nước nọ tranh bá tranh quyền chém giết lẫn nhau thảm khốc.

*************

PHẦN 35

Nói về Việt Vương Câu Tiễn cho Ngô giảng hòa được bốn năm. Bấy giờ là năm 42 đời Chu Kính Vương phương Bắc năm thứ 36 đời Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang phương Nam. Vua Việt Vương Câu Tiễn cho người dọ thám biết Phù Sai từ khi thua quân Việt. Thì không còn chí khí tranh Bá tranh Hùng. Mà suốt ngày chỉ mê tửu sắc, chẳng thiết gì đến triều chính, vả lại mấy năm mất mùa luôn, lòng dân than oán. Câu Tiễn liền thống lĩnh đại quân đánh Ngô. Quân Việt Trung Nguyên chuẩn bị xuất quân lên đường. Câu Tiễn nhìn thấy ở trên đường cái có một con ễnh ương to lớn dị thường trợn mắt phình bụng, ra ý tức giận, Câu Tiễn đang ngồi xe đứng dậy để to lòng kính.

Những người theo hầu đều hỏi:

   Đại Vương thấy gì mà kính vậy ?

Câu Tiễn nói:

   Ta trông thấy con ễnh ương tức giận, khác nào như quân sĩ đang hăng say chiến đấu xáp chiến đánh giặc, cho nên ta kính.

Quân sĩ đều bảo nhau rằng:

   Con ễnh ương tức giận mà Đại Vương còn có lòng kính. Chúng ta cố công luyện tập trong mười năm lại không bằng con ễnh ương hay sao?

Bấy giờ quân sĩ đều khuyên bảo nhau liều chết để đánh giặc. Người trong nước tiễn con em đi đánh Ngô khóc mà từ giả rằng :

   Chuyến nầy đi mà không diệt được Ngô thì chớ có mà trở về nước mà gặp nhau nữa.

Câu Tiễn lại hạ lệnh cho quân binh rằng:

   Ai mà hai Cha con cùng ở lính thì cho Cha về. Hai anh em cùng ở lính thì cho Anh về. Có Cha Mẹ mà không anh em thì cho về để nuôi Cha Mẹ. Có tật bệnh không thể đi lính được thì quan địa phương chu cấp thuốc men lương thực cho.

Quân sĩ cũng như dân chúng cảm ơn ấy đều reo hò mừng rỡ khi sắp tiến quân qua đất Ngô, những kẻ vị phạm quân lệnh đều bị chém đầu để giữ nghiêm quân pháp. Nên quân binh tuân theo hiệu lệnh răm rắp sức mạnh quân binh tăng lên đáng kể.

Vua Ngô là Phù Sai nghe tin quân Việt tiến đánh, cũng đem hết quân binh ra đối địch. Quân Việt đóng đồn ở bờ sông phía Nam Dương Tử Trường Giang. Quân Ngô đóng đồn ở bờ sông phía Bắc Dương Tử Trường Giang. Câu Tiễn chia ra làm hai đạo quân. Phạm Lãi coi hữu quân, Văn Chủng coi tả quân. Đại quân Câu Tiễn đi giữa có sáu nghìn quân thiện chiến bậc nhất của quân Việt Trung Nguyên. Hai bên định sáng hôm sau thời cùng nhau giao chiến ở giữ dòng sông.

Quân ngô là quân giỏi về thủy chiến đã từng đánh bại quân Việt ở Sông Lạc Phù Sai rất tin tưởng ở trận quyết sanh quyết tử nầy.

Tối hôm trước. Câu Tiễn truyền cho trung quân im lặng theo dòng sông cánh tả cách năm dặm ẩn không cho quân Ngô biết đến nửa đêm thì nổi hiệu trống tiến đánh quân Ngô. Lại truyền cho hữu quân im lặng theo dòng sông cánh hửu cách xa mười dặm ẩn không cho quân Ngô biết. Đợi khi tả quân trống hiệu nổi lên, thì tiếng quân nổi trống mà đánh, đều dùng trống lớn để vang động dậy trời.

Nói về quân Ngô nửa đêm bổng nghe tiếng trống dậy trời, biết là quân Việt đến đánh lén, vội vàng đốt đuốc soi lên chưa trông rõ gì cả. Lại nghe có tiếng xa nổi lên quân Việt hai mặt vây kín quân Ngô. Phù Sai kinh sợ vội vàng chia quân ra để đối địch. Chẳng ngờ Câu Tiễn đem sáu nghìn quân, nhân khi trời tối lẻn vào trong trận quân Ngô. Bấy giờ trời vừa hừng sáng, quân Ngô trông thấy trước sau, tả, hữu, trong trận địa chỗ nào cũng có quân Việt tấn công dữ dội, đao, kiếm, cung, nỏ bắn đâu ngã gục đó, chém đâu ngã gục đó.

Quân Ngô biết mình không thể địch nổi vội vàng bỏ thuyền lên bờ trốn chạy. Câu Tiễn thúc quân binh đuổi theo đến đất Lập Trạch thời đuổi kịp chém quân Ngô xối xả, quân Ngô chống trả hai bên đánh nhau long trời lở đất. Quân việt đao thương cung nỏ đều tài giỏi, lại thêm khí thế quyết tử hào hùng quân Việt ào ào xông tới chém thôi là chém quân bỏ xác khắp nơi thây phơi như rạ, quân Ngô chiến ba trận đều thua cả ba.

Tướng nước Ngô là bọn Tào Cô và Tư Môn Sào đều chết tại trận cả. Phù Sai thua chạy về Đô Thành đóng chặt cửa thành lại. Câu Tiễn bọc lên Hoàng Sơn đánh bọc xuống lại cho quân đắp cái thành ở ngoài cửa Tư Môn gọi là Việt Thành. Câu Tiễn ở đó chỉ huy quân binh Việt bao vây khuấy động binh đao làm cho nước Ngô phải khốn khổ.

Câu Tiễn vây Ngô lâu ngày làm cho dân Ngô cũng như binh sĩ khốn quẫn quá. Bá Hi cáo ốm liên miên không dám ra đối đầu với quân Việt. Phù Sai bằng sai Vương Tôn Lạc sang gặp Việt Vương Câu Tiễn Vương.

Tôn Lạc lột trần vai áo kéo lết đầu gối cả vài trăm mét mà tâu với Câu Tiên rằng:

   Kẻ bề tôi cô độc là Phù Sai xin bày gan ruột, ngày trước thần đã đắc tội ở Cối Kê. Đã được Đại Vương tha cho từ đó không dám trái mệnh, nên được Đại Vương cho giảng hòa. Nay Đại Vương lại cất quân sang đánh cô thần, nếu Đại Vương muốn giết cô thần, cô thần cũng xin vâng theo không dám trái ý. Nhưng cô thần cũng muốn Đại Vương tha tội cho cô thần, như việc trước đây ở Cối Kê kẻ bề tôi cô độc một lòng tùng phục, không dám nghĩ tới hai lòng mong được Đại Vương nghĩ đến chút tình ngày trước mà tha tội cho.

Câu Tiễn có ý không nở toan cho hòa. Phạm Lãi can rằng:

   Đại Vương ngày đêm lo nghĩ mưu tính kế ra công khó nhọc trong suốt 20 năm thôn tính nước Ngô nay sắp thành công mà lại bỏ đi nghĩa làm sao? Việc xảy ra ở Cối Kê trước kia đó là do trời đem nước Việt Trung Nguyên giao cho nước Ngô, nhưng nước Ngô lấy. Nay trời lại đem nước Ngô trao cho nước Việt. Nước Việt có nên làm trái mệnh trời không? Vả chăng nhà Vua ra triều sớm, bãi triều muộn chẳng phải là để trả thù nước Ngô đó sao? Trời đã cho mà không lấy, trái lại cơ trời từ phước chuyển thành họa. Nhà Vua không nên quên bài học mà vua Ngô đã làm tha cho vua Việt mà ngày nay phải trả giá bằng sinh mạng cũng như sự mất nước.

Câu Tiễn nghe xong tỉnh Ngộ bèn không cho hòa. Sứ giả nước Ngô đi lại bảy lượt nói to nhỏ với vua Việt cũng như Văn Chủng và Phạm Lãi những lời tha thiết nhất, nhưng Phạm Lãi, Văn Chủng nhất định không nghe.

Câu Tiễn có lúc mềm lòng nói:

   Ta không nở từ chối lòng sứ giả.

Phạm Lãi, Văn Chủng nói:

   Việc nầy để thần giải quyết.

Phạm Lãi, Văn Chủng nói với sứ giả:

   Nhà vua đã giao quyền quyết định cho Lãi và Chủng nầy, sứ giả nên về ngay nếu không sẽ trị tội.

Bằng sai đánh trống thúc cho quân binh tiến lên công phá thành. Quân nước Ngô tuy mất đi sức mạnh vốn có. Nhưng muốn phá thành tiến quân vào thời không phải dễ vì kinh thành nước Ngô vô cùng kiên cố không dễ gì một mươi ngày mà phá được đâu. Nếu phá được thì cũng phải trả cái giá tổn thất không nhỏ. Đêm hôm ấy mọi người bổng thấy trên cửa thành có treo một cái đầu Ngũ Viên, mặt to bằng bánh xe, mắt sáng như tia chớp râu và tóc dựng đứng cả lên, sáng rực trong mười dặm. Tướng sĩ nước Việt ai nấy cũng sợ hãi, phải tạm lui quân. Đến nửa đêm hôm ấy, bổng mưa to gió lớn, sấm ran chớp giật cát bay đá chạy ù ù quân Việt không chết thì cũng bị thương quả là không sao tưởng tượng được, dây cáp đức hết thuyền chao đảo không kết với nhau được.

Phạm Lãi, Văn Chủng vô cùng lo sợ. Trời đang mưa to gió lớn Phạm Lãi, Văn Chủng nhìn lên cửa thành mà sụp lạy một lúc tạ tội với Ngũ Viên. Tức thời mưa to gió lớn im lặng trở lại. Phạm Lãi, Văn Chủng đang ngồi ngủ gà ngủ gật đợi trời sáng. Bổng chiêm bao thấy Ngũ Viên ngồi trên một cái xe trắng con ngựa trắng đi đến áo mão chỉnh tề cũng như lúc còn sống bảo với Phạm Lãi và Văn Chủng rằng: Ta biết nổi giông nổi gió làm khiếp đảm quân Việt là phạm ý Trời. Nhưng lòng trung của ta chưa tuyệt, nên mới nổi cơn mưa gió để làm quân Việt phải lui. Nhưng ý trời đã định. Trời cho nước Việt chiếm lấy nước Ngô quỉ thần nào ai dám cải. Bọn ngươi muốn chiếm thành thời phải theo cửa Đông ta sẽ mở đường cho.

Hai người cùng chiêm bao giống nhau, liền nói với Câu Tiễn. Câu Tiễn sai người khai một cái kênh từ phía Nam qua phía Đông, khi khai đến cửa Xa Môn và cửa Tương Môn, thời bổng thấy nước ở Thái Hồ từ cửa Tư Môn chảy vào, làn sóng dữ dội, làm thành một cái vũng rộng lớn, có nhiều giống cá chuyên cá phù theo nước kéo vào.

Phạm Lãi nói:

   Ấy là Ngũ Viên mở đường cho quân ta đi.

Phạm Lãi nói xong liền thúc quân binh tiến vào cửa Đông quả nhiên quân Ngô chống cự không lại cửa Đông bị phá vỡ, quân Việt Tràn vào thành như nước lỡ.

Phù Sai nghe tin quân Việt Trung Nguyên đã phá được cửa Đông tràn vào thành như nước lỡ thời kinh hồn bạc vía. Bá Hi đã xin ra hàng. Phù Sai cùng với Vương Tôn Lạc và ba con chạy sang Dương Sơn, đi suốt ngày suốt đêm, bụng đói miệng khát, hai mắt hoa mờ. Các quan chạy theo bứt được mấy trái Ngô sống, đem bóc ra rồi dâng cho Phù Sai, Phù Sai ăn xong ngồi xuống đất, lấy tay bụm nước ở dưới mương mà uống lại hỏi:

   Mới rồi ta ăn thứ gì?

Các quan nói:

   Đó là Ngô sống.

Phù Sai nói:

   Công Tôn Thánh ngày trước bảo ta, rồi phải chạy vất vả và không kịp nấu cơm ăn, chính là thế nầy.

Vương Tôn Lạc nói:

   Ăn no rồi thì hãy đi, phía trước có một cái hang sâu, ta hãy tránh vào đấy.

Phù Sai nói:

   Mộng đón đã đúng thời sắp đến ngày chết, ta còn tránh làm gì nữa.

Nói xong cứ ngồi ở Dương Sơn, bảo Vương Tôn Lạc rằng:

   Ngày trước ta giết Công Tôn Thánh, ném ở trên đỉnh núi nầy, chẳng hay còn có thiêng hay không?

Vương Tôn Lạc nói:

   Đại Vương thử gọi xem.

Phù Sai gọi to lên rằng:

   Công Tôn Thánh.

Ba lần gọi đều nghe tiếng dội theo. Phù Sai kinh sợ, lại trốn sang ở Vu Tọa. Câu Tiễn lại đem một nghìn quân kỵ mã đuổi theo vây kín mấy dặm. Phù Sai viết một bức thư, buộc đầu mũi tên, bắn vào trong đám quân Việt. Quân Việt nhặt được đệ trình Phạm Lãi và Văn chủng cùng mở ra xem thư rằng: Tôi nghe giống thỏ đã hết thì chó săn tất bị mổ địch quốc đã diệt nưu thần tất không còn. Sao quan đại phu không giữ lại cho nước Ngô một sợi tơ mành, để làm chỗ thoát cho mình về sau.

Văn Chủng cũng viết một bức thư buộc vào mũi tên bắn vào rừng rậm mà đáp rằng: Nước Ngô có sáu điều lỗi to. Giết chết trung thần Ngũ Viên. Giết chết Công Tôn Thánh. Bá Hi là người xàm nịnh lại tin dùng. Đó là ba điều lỗi to. Tề, Tấn vô tội thế mà Ngô cứ đem quân quấy nhiễu. Việt và Ngô là hai nước láng giềng Nam Bắc thế mà Ngô hết xâm lược lần nầy đến lần khác hết đời con, đời cha, đến đời ông. Nước Việt giết Tiên vương nước Ngô mà nước Ngô lại không biết báo thù dung túng kẻ địch để hậu quả gây nên tai họa. Có sáu điều lỗi to ấy, thì tài nào mà không mất nước. Ngày xưa trời đem nước Việt cho Ngô. Ngô không chịu nhận: Nay trời lại đem nước Ngô cho Việt, có Việt lại dám trái mệnh trời.

Phù Sai cho người tìm lấy mũi tên do Văn Chủng bắn đi ngồi đọc, đọc đến điều lỗi thứ sáu thời ứa nước mắt mà nói rằng:

   Ta quên kẻ thù của Tiên Vương mà không giết Câu Tiễn như thế là bất hiếu. Vì thế mà trời không giúp nước Ngô ta nữa.

Vương Tôn lạc nói:

   Tôi xin sang yết kiến vua Việt một lần nữa và cố xin vua Việc tha.

Phù Sai nói:

   Ta cũng không phục lại nước Ngô như cũ nữa. Nếu nước Việt cho nước Ngô làm một nước phụ thuộc nhỏ để đời thần phục nước Việt thì ta cũng đành lòng.

Vương Tôn Lạc sang đến quân Việt Phạm, Lãi Văn Chủng không tiếp. Câu Tiễn trông thấy sứ giả nước Ngô khóc lóc thảm thiết mà về, liền động lòng thương sai người bảo Phù Sai đến nói rằng:

   Ta nghĩ cái tình nhà vua ngày trước, xin để nhà vua ở đất Dũng Đông cấp cho năm trăm nóc nhà để trọn đời nhà vua sanh sống nơi đó.

Phù Sai sụt sùi mà đáp rằng:

   Đại Vương thương tình mà xá cho Ngô, thì Ngô cũng là một nước Đại Vương cai quản thần phục Việt đó. Nếu phá xã tắc bỏ Tôn Miếu thời còn gì nước Ngô. Thời tôi nhận lấy năm trăm nóc nhà để mà làm gì. Nay tôi đã già, không thể theo sau hàng bách tính chỉ còn chết mà thôi.

Câu Tiễn nghe vô cùng tức giận nói:

   Nhà ngươi còn muốn nuôi mộng đời sau tiêu diệt ta sao?

Câu Tiễn bảo Phạm Lãi, Văn Chủng rằng:

   Sao hai ngươi không giết Phù Sai đi cho rồi?

Phạm Lãi, Văn  Chủng nói:

   Phù Sai cũng là một ông vua, chúng tôi không dám giết xin Đại Vương phụng mệnh trời mà làm chớ nên chậm trể.

Câu Tiễn liền chống thanh kiếm “bộ quang” ở trước quân. Sai bảo Phù Sai rằng:

   Ở đời chẳng có ông vua nào sống mãi, rốt cuộc cũng chết là xong, việc gì phải đợi quân ta kề gươm lên cổ?

Phù Sai thở dài mấy tiếng. Ngoảnh lại trông bốn phía khóc than mà rằng:

   Ta giết trung thần là Ngũ Viên và Công Tôn Thánh, nay ta phải tự tử cũng là muộn lắm rồi.

Phù Sai bảo các người xung quanh rằng:

   Giả chết mà linh hồn không chết, thì ta còn mặt mũi nào mà trông thấy Ngũ Viên và Công Tôn Thánh ở dưới suối vàng. Âu là các nhà ngươi lấy ba thước lụa phủ mặt cho ta.

Nói xong rút gươm đâm cổ mà chết. Vương Tôn Lạc cởi áo để phủ lên mặt Phù Sai rồi cũng lấy dây lưng thắt cổ chết ở bên cạnh.

Thơ rằng:

Vua Ngô chăm chuốt cuộc hề

Khói mây rồi cũng trở về khói mây

Bể trần xấu xé lẫn nhau

Chết đi luân chuyển tránh đâu đọa đày

Luật trời há dễ làm càn

Huyền cơ xây chuyển tan tành bụi tro.

Câu Tiễn truyền chôn cất theo lễ vua chư hầu, chôn Phù Sai ở Dương Sơn, lại sai quân sĩ mỗi người một sọt đất mà đắp vào, chỉ trong chốc lác thành ra nấm mồ to lớn. Còn ba con Phù Sai thì đem đày đi ở núi Long Vi.

Câu Tiễn vào thành Cô Tô ngự ở cung vua Ngô. Triều thần vào lạy mừng. Quan Thái Tể là Bá Hi cũng ở trong hàng ấy cậy có ơn giúp đở Câu Tiễn ngày trước, ra vẻ đắc ý.

Câu Tiễn bảo Bá Hi rằng:

   Nhà ngươi là quan Thái Tể nước Ngô, ta đây không dám xem ngươi là bề tôi. Vua nhà ngươi ở Dương Sơn, sao nhà ngươi không đi theo?

Bá Hi thẹn mà lui ra. Câu Tiễn sai bắt Bá Hi mà giết đi. Nhổ cỏ diệt tận gốc Câu Tiễn lại cho quân binh giết cả gia tộc Bá Hi.

Câu Tiễn nói:

   Thế là ta trả thù cho Ngũ Viên.

Thơ rằng:

Ai thâm hiểm cho bằng Câu Tiễn

Giết Bá Hi vì sợ Bá Hi

Rắn độc mà ở kề bên

Có ngày nó cắn nát tan cuộc đời

Nên nói dối an lòng Ngô chúng

Trả hận thù tướng quốc Ngũ Viên

Lương tâm gian trá vô biên

Tránh đâu cho khỏi đảo điên cơ đồ

Đêm đất Việt dâng về phương Bắc

Mua công danh cấu kết ngoại ban

Làm cho nước Việt nát tan

Văn Lang đất Bắc hết mong trở về.

**************

PHẦN 36

Lại nói về Câu Tiễn muốn theo chí khí mộng Bá Vương của Phù Sai, kết hợp Nam Bắc các nước xa gần Dương Tử Trường Giang xây dựng lên một Sơn Đông Trung Quốc hùng mạnh mà Phù Sai làm chưa được. Câu Tiễn phủ dụ quân Ngô theo quân Việt vì thế quân Việt vô cùng hùng mạnh đủ sức để làm Bá Chủ.

Câu Tiễn càng ngày càng Độc Tài Độc Trị không nghe lời ai nữa bằng đem quân về hướng Bắc, vượt qua Sông Bắc Giang, Sông Hoài ở vào thời đó có sông Dương Tử Trường Giang, và Sông Bắc Giang. Cùng các trấn chư hầu Nhà Chu như Tề, Tấn, Tống, Lỗ. Đông Bắc phương Đông hợp ở từ Châu. Các nước biết Câu Tiễn có ý liên minh thống nhất nhiều nước Nam bắc Dương Tử Trường Giang thành một liên minh Trung Quốc.

Chữ Trung có nghĩa là Trung Nguyên. Liên kết Nam – Bắc nhiều nước thành Trung Quốc.

Các nước Tề, Tấn, Tống, Lỗ nhất trí tán thành nhưng phải quy thuận Nhà Chu. Việt Vương Câu Tiễn liền nghe theo. Sai người đem lễ vật vào cống Thiên Tử Nhà Chu nói rõ nguyện vọng của mình. Lúc bấy giờ Chu Kính Vương đã mất. Thái Tử Nhân lên ngôi, tức là Chu Nguyên Vương. Triều thần Nhà Chu nghe xong còn gì vui sướng hơn nhất là Chu Nguyên Vương. Việt Trung Nguyên không cần chiếm lấy mà tự có không đổ một giọt máu. Chu Nguyên Vương bằng đem Cổn Niệm, Khê Bích, Đồng Cung, Hồ Thỉ ban cho Câu Tiễn. Phong cho làm mệnh làm Bá Chủ Sơn Đông, Trung Quốc. Câu Tiễn cuối đầu vân mệnh. Chu Nguyên Vương Nhà Chu sai sứ thần ban nhiều rượu thịt đến Câu tiễn các trấn chư hầu Nhà Chu đến chúc mừng.

Lúc bấy giờ Việt Vương Câu Tiễn là Bá Vương Sơn Đông Trung Quốc có quyền quyết định hòa giải các nước. Câu Tiễn đưa quân vượt qua phía nam sông Hoài cắt đất nước Sở mà trả lại phong cho nước Lỗ đất đai một trăm dặm ở phía đông Sông Tứ. Những đất đai mà nước Ngô chiếm được nước Tống trả lại cho nước Tống. Các trấn chư hầu Nhà Chu đều kính phục. Câu Tiễn về đến nước Ngô. Bằng bày tiệc ở trên Vân đài nước Ngô cùng với các quan tướng uống rượu chúc mừng Việt Vương Câu tiễn lên ngôi Bá Vương Trung Quốc, đứng đầu mấy trăm thuộc quốc. Phải nói Trung Quốc ra đời hùng mạnh nhất thời bấy giờ.

Đây nói về Phạm Lãi là dân Bách Việt Văn Lang. Thấy Việt Vương Câu Tiễn đem dâng nước Việt Trung Nguyên cho Nhà Chu thời vô cùng bất mãn khuyên can mấy lần. Câu Tiễn không nghe cứ làm theo ý mình nhưng trong lòng có ý dè chừng Phạm Lãi.

Phạm Lãi có ý bỏ Việt Vương Câu Tiễn khi còn ở Từ Châu nhưng còn chần chừ chưa dứt khoát. Khi về nước Ngô Phạm Lãi mới dứt khoát biết nếu mình ở lại thì cái chết không biết lúc nào bằng bỏ đi trong lúc Việt Vương Câu Tiễn còn khoe khoang với bá quan văn võ Nhà Chu Phong cho Bá Vương chủ quản Trung Quốc.

Phạm Lãi ngay trong hôm ấy đi một chiếc thuyền nhỏ ra Tề Nữ Môn qua Tam Giang vào Ngũ Hồ. Ngày hôm sau Câu Tiễn sai người triệu Phạm Lãi vào thì Phạm Lãi đã đi rồi.

Câu Tiễn biến sắc bảo Văn Chủng cho quân binh đuổi theo bắt Phạm Lãi lại cho ta.

Văn Chủng nói:

   Mưu trí của Phạm Lãi, quỉ thần cũng khó mà lường được, ta không nên đuổi theo.

Nói về Phạm Lãi vượt qua Tam Giang, Ngũ Hồ nhìn lên trời mà than rằng: Ta có tội với Bách Việt Văn Lang. Anh Hùng Lạc Đạo tôn thờ tên ác Bá kẻ bán nước phản bội Ông Cha.

Phạm Lãi nghĩ mình đã theo Việt Vương Câu Tiển không thể vào Văn Lang để sống được. Bằng cải tên đổi họ thành Chi Di Tử Bì đi theo đường biển sang qua Tề tìm được chỗ sanh sống không trở về nước Việt Trung Nguyên Nữa.

Phạm Lãi trước khi bỏ Việt Vương Câu Tiễn mà đi có một bức thư cho quan đại phu Văn Chủng. Một hôm Văn Chủng vừa ra khỏi cung thời có một người đưa cho Văn Chủng một bức thư nội dung như sau: Chim đã hết thời cung nỏ phải cất. Thỏ khôn đã chết thì chó săn lại bị nấu. Vua Việt là người cổ dài, miệng diều hâu. Con người chỉ vì danh lợi cá nhân. Đem đất Bắc Văn Lang cầu vinh mà dâng cho phương Bắc Nhà Chu. Một con Cáo Già đã lộ cái đuôi chồn lòng dạ hiểm sâu nói một đường làm một nẻo, giả nhân giả nghĩa lừa gạt tấm lòng tốt của người dân Bách Việt khi hiểu ra thì mọi việc đã rồi. Nếu Ngài không bỏ đi tất có tai họa vì Ngài rất yêu Bắc Văn Lang.

Văn Chủng xem xong thì người đưa thư cũng đi đâu mất. Văn Chủng nhận được thư của Phạm Lãi trong lòng lấy làm căm hận cho cuộc đời mình anh hùng lạc đạo tôn thờ một kẻ bán nước. Văn Chủng bật khóc từ đó cáo bệnh không vào chầu nữa. Có người gièm nói Văn Chủng làm phản.

Việt Vương Câu Tiễn đến nhà đưa kiếm cho Văn Chủng rồi nói:

   Nhà ngươi thường dạy quả nhân bảy thuật để đánh Ngô. Quả nhân mới dùng có ba mà nước Ngô đã thua. Còn bốn thuật nữa ở nhà ngươi. Nhà ngươi hãy giúp ta mà diệt Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang, thì công ngươi mới to tác hơn nữa.

Văn Chủng nhìn lên trời nói lớn:

   Con đã biết sai xin Bách Việt Văn Lang tha tội cho con.

Văn Chủng nói xong liền tự sát. Câu Tiễn ở nước Ngô không bao lâu cho người ở lại cai quản, còn mình thời rút đại quân về Việt. Đem cả Tây Thi về. Câu Tiễn Phu Nhân mật sai người bắt Tây Thi đem ra bờ sông, buộc viên đá lớn vào người rồi đẩy xống sông mà bảo rằng:

   Nó là vật vong quốc, còn để làm gì.

Phạm Lãi nghe Tây Thi bị Tiễn Phu Nhân dìm chết dưới sông thời than rằng:

Nước nhà còn mất bỡi cơ trời

Sao cứ Tây Thi đổ lỗi hoài

Tây Thi nếu làm Ngô mất nước

Thời nay Việt mất bỡi tay ai.

Nói về Phạm lãi ở đất Tề một thời gian cải dạng thương buôn trở về Việt Trung Nguyên lén dẫn cả gia quyến đi theo qua sống bên nước Tề ra sức khổ thân cày ruộng không bao lâu thời làm giàu nổi tiếng cả vùng. Sau lại dời đến đất Đào để ở. Tiện đường buôn bán đổi chác gia súc, lúa gạo làm giàu hơn nữa. Tự gọi mình là Đào Chu Công.

Câu Tiễn từ Ngô trở về Việt Trung Nguyên sai sứ đàm phán với nhà nước Văn Lang. Nội dung đàm phám như sau:

Kính Gởi

Quốc Vương Thiên Tử Bệ Hạ.

Bá Vương Trung Quốc Là Câu Tiễn. Không thể không nghe Thiên Tử Nhà Chu. Thương lượng cùng Quốc Vương Thiên Tử Bệ Hạ.

Việc Bắc – Nam, chinh chiến hơn mấy mươi năm. Hai bên Nam – Bắc đều không có lợi. Không những làm cho bá tánh muôn dân trăm họ khốn khổ điêu linh. Mà còn gây ra cảnh tan thương chết chóc dân chúng lầm than bởi binh đao máu lửa. Đất nước hai bên càng ngày càng suy kiệt dân không đủ no nói gì đến mặt ấm than oán khắp nơi. Chi bằng hai bên đi đến hiệp ước giao hòa. Đất ai nấy ở nước giếng không phạm nước ao, nước ao không phạm nước giếng. Hai bên Nam – Bắc cùng có lợi. Nhất là dân chúng sống trong cảnh thái bình, bù đắp lại hơn mấy mươi năm chiến tranh.

Bá Vương Câu Tiễn tôi thiết nghĩ.

Chấm dứt chiến tranh cũng là cái đức của bậc Quân Vương làm cho dân chúng được hưởng thái bình.

Vì thế. Bá Vương Câu Tiễn tôi tuy là Bá Chủ Trung Quốc, cũng như thế lực Nhà Chu, phải nói là vô cùng hùng mạnh. Nếu Bá Vương Câu Tiễn tôi là tay háo chiến, thì nhất định diễn ra một cuộc tranh hùng Nam – Bắc chưa biết ai là kẻ thắng người thua. Nhưng chiến tranh xảy ra trên đất nước Văn Lang, là một điều thiệt hại lớn cho đất nước Văn Lang. Quốc Vương Thiên Tử bệ hạ nên suy nghĩ đưa quyết định giao chiến hay nghị hòa là tùy ở Quôc Vương bệ Hạ.

Bá Vương Trung Quốc Câu Tiễn kính thư.

Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang xem xong chỉ biết thở dài. Rồi cho người đọc lớn cho triều Thần nghe. Triều thần không ai là không ngán ngẩm cho cuộc chinh chiến Nam Bắc dai dẳng kéo dài mãi thiệt hại không những về kinh tế, mà còn thiệt hại nhân mạng vô số kể.

Hùng Ánh Vương hỏi triều thần:

   Ai có ý kiến gì không?

Lạc Hầu Vương nói:

   Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ. Chỉ một nước Việt Trung Nguyên mà hơn mấy mươi năm chúng ta không đánh thắng nổi. Nay Việt Vương Câu Tiễn đem Việt Trung Nguyên dâng cho Nhà Chu tội bán nước đã rành. Nhưng chúng ta không thể làm gì khác hơn vì thế lực Câu Tiễn quá lớn. Không những Bá Chủ Trung Quốc, mà còn có cả thế lực Nhà Chu. Nếu chúng ta không đi đến nghị hòa, thì nước Văn Lang trở thành bãi chiến trường thiệt hại vô cùng to lớn. Nhưng nếu chúng ta chấp thuận lời yêu cầu của Câu Tiễn. Thì coi như Bắc Văn Lang không còn của chúng ta nữa mà là của Phương Bắc trở thành Trung Nguyên Trung Quốc.

Hầu Tôn Vương nói:

   Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ. Vận hóa Cơ Trời không thể cải được. Theo như lời Quốc Tổ truyền dạy nước Văn Lang mất dần về phương Bắc hiện nay đã xảy ra. Việc nầy chỉ có Quốc Vương Bệ Hạ mới quyết định được. Các thần chỉ biết nghe theo và làm theo.

Hùng Ánh Vương viết một bức thư nghị hòa phân chia Nam – Bắc không ai xâm phạm đến ai nữa. Việt Vương Câu Tiễn không còn lo chiến tranh nữa. Cao ngạo tàn độc. Trung thần can ngăn đều bị giết sạch ăn chơi trác tán còn hơn cả Vua Ngô.

Câu Tiễn làm vua được 27 năm thì chết, tức là năm thứ 8 đời cuối Chu Nguyên Vương. Chu Trinh Định lên ngôi thay thế vào năm 469 trước công nguyên. Ở phương Nam Văn Lang là năm thứ 37 Hùng Ánh Vương, Chân Nhân Lang. Sau khi Việt Vương Câu Tiễn qua đời, con cái Việt Vương Câu Tiễn tranh giành quyền lực cấu xé lẫn nhau. Nước Trung Nguyên dần dần dấy loạn Bách Việt nổi lên lật đổ triều đại Việt Vương Câu Tiễn với cái tội. Việt Vương Câu tiễn bán đứng Việt Trung Nguyên cho Nhà Chu. Sự tan rã nhà nước Việt Trung Nguyên bắt đầu từ năm 468 đến năm 425 trước công nguyên.

Khi ấy Trung Quốc tan rã mạnh nước nào xưng hùng xưng bá nước nấy. Những nước có thế lực hùng mạnh tranh nhau càng quyết liệt hơn. Như Tần – Sở – Tề – Ngụy – Triệu – Yên – Hàn. Nước Việt Trung Nguyên hỗn loạn tan rã là cơ hội cho Sở – Triệu – Ngụy thôn tính nước Việt Trung Nguyên chia nước Nước Việt Trung Nguyên làm ba Đông – Tây – Nam sau nầy luôn là bãi chiến trường của nhiều nước phương Bắc tranh giành với nhau thôn tính chiếm lấy Việt Trung Nguyên.

**************

VĂN LANG CHIẾN SỰ 3

 ĐẾN ĐÂY ĐÃ HẾT.

%d bloggers like this: