BÁO TIÊN RỒNG

NHÂN THẬP ĐẠI CƯ SỸ

LỊCH SỬ THÁNH GIÓNG: SỬ TRUYỆN

QUỐC BẢO CHÂN KINH

VĂN LANG CHIẾN SỰ 2

SỬ TRUYỆN

PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG

THIÊN ẤN – THIÊN BÚT

GÒ HỘI

ĐỨC PHỔ – QUẢNG NGÃI

2013

Nguyễn Đức Thông

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

 

Văn Lang trù phú, cảnh sang giàu.

Vàng, ngọc, trân châu, sắt, đồng, thau.

Gạo trắng, cá tươi, người đông đúc.

Lụa là gấm vóc, ngọc trắng phau.

Quê, thị, gần, xa, luôn nô nức.

Hội đình, chợ, quán, cảnh chen nhau.

Phương Bắc ngày đêm, lòng thèm khác.

Xâm lăng cướp lấy, trước nối sau.

  Nói đến nước Xích Quỷ, thời Kinh Dương Vương, thì phải nói đến sự giàu có, không những giàu có về vàng, bạc, châu, báu, sơn hào hải vị, món ngon vật lạ, nhất là văn minh về lúa nước, nhất là lúa hổ Rằng, lúa Hổ Chưởng, lúa Chiêm, lúa Thần Nông, lúa Xích Khoán, lúa Thiền Minh, lúa An Cựu, lúa Hạ Bạch, lúa Thanh Vu, lúa Bạch Kê, lúa Tẻ, lúa Thuần, lúa Mạch, lúa Kim Ô, lúa Hoàng Đế, lúa Xích Kê, lúa Thượng, lúa Hạ, lúa Phì, lúa Lùn, lúa Thơm, lúa Nếp Tẻ, lúa Đuôi Phụng, lúa Bạch Mạc, và còn nhiều giống lúa quý hiếm khác nữa, dân Bắc Văn Lang lúa thóc đầy bồ, phải nói cuộc sống dân nước Xích Quỷ, không những thái bình thịnh trị hàng nghìn nghìn năm, trong cuộc sống no cơm, ấm áo. Mà còn béo bở về thu nhập qua đường trao đổi buôn bán, Một đất nước béo bở như thế, luôn luôn khơi dậy lòng tham lam thèm muốn, những nước lân cận nhất là những nước lân cận Phương Bắc, chúng thèm khát đến nổi ăn không ngon ngủ không yên, lúc nào cũng mơ tưởng chiếm cho được Bắc Văn Lang, coi như làm chủ sở hữu nền văn minh lúa nước, cơm no áo ấm thì còn gì bằng. Cho nên nước Xích Quỷ lúc nào cũng rình rập mối nguy mất nước, bởi quân xâm lược Phương Bắc rình rập ngày đêm .

  Cùng thời lúc ấy, một vị cứu tinh đất nước ra đời, chính là Quốc Tổ Hùng Vương, người con độc nhất của Kinh Dương Vương, Quốc Tổ  Hùng Vương ra đời chuyển xây tình thế, không những đánh tan mộng xâm lược Phương Bắc, mà còn mở rộng nước Xích Quỷ vào Nam, trở thành nước Văn Lang rộng lớn, gấp ba lần nước Xích Quỷ, sự mở rộng bờ cõi về Nam làm cho nước Văn Lang trở nên hùng mạnh, không có một đất nước nào hùng mạnh hơn.

  Đất nước Văn Lang chia ra làm ba miền, Bắc Văn Lang, hầu hết là toàn bộ Nước Xích Quỷ, rồi tới Trung Văn Lang, kế đến là Nam Văn Lang.

  Khai dựng lập lên nước Văn Lang, Quốc Tổ không ở Bắc Văn Lang, mà ở Nam Văn Lang, đây là một điều bí mật của Quốc Tổ, vì Quốc Tổ biết trước Bắc Văn Lang, Trung Văn Lang, một khi văn hóa Cội Nguồn đã mất, nền Quốc Đạo không còn, trở nên độc quyền, độc tài, độc trị, theo xu hướng Phương Bắc, sẽ bị Bắc Phương chiếm lấy, đồng hóa dân chúng theo văn hóa Phương Bắc. Nhưng giặc Phương Bắc không bao giờ chiếm lấy được Nam Văn Lang, vì Nam Văn Lang là Địa Long Vũ Trụ. Thánh địa linh thiêng nhất địa cầu, nên văn hóa Phương Bắc không thể đồng hóa nổi dân tộc Nam Văn Lang, dù trải qua hàng nghìn năm xâm lược đồng hóa, theo ý đồ Phương Bắc, những gì biết trước của Quốc Tổ không gì là sai cả.

   Bắc Văn Lang nước Xích Quỷ, phần lớn đất đai Giao Chỉ, Tới thời Hùng Vương, được mở rộng gấp đôi, Bắc Văn Lang Nước Xích Quỷ, Giao Chỉ, vì thế mà trở nên vô cùng hưng thịnh, lại phân chia thêm ra nhiều Bộ, Châu, Quận, Huyện. Bắc Văn Lang đất đai phì nhiêu, nhờ có nhiều con sông lớn bồi đắp, như sông Dương, sông Trường, sông Lạc, sông Âu, chia ra nhiều sông nhánh khác nữa, bồi lấp thành đất đen và bốc hơi rất mạnh, rất phù hợp cho nền nông nghiệp lúa nước. Những cánh đồng lớn, cò bay thẳng cánh, sông ngòi kinh rạch chằn chịt, thuận tiện cho việc trồng lúa nước, đem lại sự hùng mạnh cho quân lực, nếu có được Bắc Văn Lang thì không lo gì sự đói nghèo nữa, không lo thiếu lương thực nuôi quân, nên không có thế lực mạnh nào mà không muốn chiếm lấy, phải nói là chiếm lấy cho bằng được. Do sự trù phú đất đai, nhiều giống lúa tốt, sông ngòi kinh rạch, khí hậu ôn hòa thiên nhiên ưu đãi nầy, luôn luôn khơi dậy lòng thèm khát những tay háo chiến, mộng bá Vương, nên Bắc Văn Lang càng về cuối thời Hùng Vương càng chiến tranh xâm lược dữ dội từ Phương Bắc, xâm lược về Phương Nam, đất nước Văn Lang.

Những trận xâm lược kinh thiên động địa chưa từng có trong lịch sử, nhất là sự xâm lược của Nhà Ân, Ân Thọ Trụ Vương, ở vào thời hạ Hùng Vương, thời thứ 3 Hùng Tiên Lang (Điển Lang) trong 18 thời hạ Hùng Vương, từ năm 1141 đến năm 1139 trước công nguyên, quân Nhà Ân bị quân Văn Lang đánh tả tơi, thây phơi chật đất, làm phân cho đất Văn Lang, quân thù kinh hồn bạc vía, không còn dám mơ mộng xâm lược nữa, dân Văn Lang sau khi thắng quân xâm lược, thì không còn coi Phương Bắc ra gì, nên mất đi đề cao cảnh giác, sự yên bình ấy kéo dài gần 200 năm, cho đến thời Hùng Huy Vương ( Pháp Hải Lang ), Hùng Vương đời thứ 6. Thời Phương Bắc lại một lần nữa xâm lược, từ năm 961 đến năm 930 trước công nguyên, do con cháu của Trụ Vương Đắc Kỷ, còn sống sót lập lên nước Man Du cách Tây Bắc Văn Lang hơn 100 dặm, liên thông với nước Hồ, nước Hung Nô, ba nước Phiên Ngung nầy chiếm một lãnh địa vô cùng rộng lớn, không chịu lệ thuộc Nhà Chu, nên xưng Vương, ngang tầm các Vương Nhà Chu, các Vương Nhà Chu giận lắm nhưng không làm gì được, ba nước Phiên Ngung, vì nhờ địa thế hiểm trở đồi rừng núi non trùng điệp, nên rất khó mà hạ được ba nước Tam Vương nầy. Ba nước Phiên Ngung nầy mỗi ngày mỗi mạnh, nhưng không dòm ngó đến Phương Bắc, vì Phương Bắc không hưng thịnh như Phương Nam, nhất là về đất đai cũng như nền văn minh lúa nước, nhất là ngành Luyện Thép vô cùng bí mật của nước Văn Lang, không dễ gì lọt bí quyết ra bên ngoài, trong Dòng Dõi Vua Hùng cũng ít người được biết, vì thế nếu chiếm được Văn Lang thì sự quý hiếm nào cũng có, ba nước Phiên Ngung nầy thèm khát ngày đêm, hợp lực cùng nhau đánh chiếm Bắc Văn Lang.

  Quân Ân, Quân Hồ, Quân Hung Nô, vượt qua Tây Bắc Văn Lang đánh xuống Bắc Văn Lang, nhà Tây Chu, Di Vương  biết thế nhưng giả đò như không biết, ở thế ngư ông đắc lợi, Ân Mao Vương, là cháu chắt Võ Cảnh.

   Võ Cảnh là con của Vua Trụ, Đắc Kỷ, Chu Di Vương  nghĩ nếu Ân Mao Vương thắng thì ta cũng có phần, nới rộng thêm trấn chư hầu, Nước Ngô, Nước Sở, Nước Tề, được mở rộng về Phương Nam qua đất Bắc Văn Lang, nếu thua thì Vua Di Vương, cũng trừ đi được mối hậu họa lớn mạnh của con cháu Nhà Ân, kẻ thù không đội trời chung với Nhà Chu.

  Đây nói về Chu Võ Vương, diệt được Đắc Kỷ, Trụ Vương xong, thì cũng bắt được hai đứa con của Đắc Kỷ, là Vũ Canh và Võ Cảnh, trốn sau hậu cung, Vũ Canh chống cự nên đã bị giết, chỉ còn lại Võ Cảnh. Võ Cảnh là con trai Đắc Kỷ mới sanh sau, là con út sau cùng của Trụ Vương.

  Võ Cảnh tuy còn nhỏ nhưng khôn lanh vô cùng, vừa thấy Chu Võ Vương liền sụp lạy. Các chư hầu thấy vậy nổi giận quát:

   Cha ngươi là hôn quân vô đạo, tội ác dẫy đầy, cũng nên chém Võ Cảnh đi đền tội với thiên hạ, lại trừ hậu họa mai sau.

Có lẽ số Trời chưa cho giết, nên khiến cho Võ Vương can, Võ Vương nói:

   Trụ Vương vô đạo hung tàn bạo ác là do Đắc Kỷ, cùng với nịnh thần, bày mưu hiến kế, Võ Cảnh chỉ là một đứa bé, làm gì có tội, hơn nữa Vũ Canh đã chết, thói thường tội của cha không luận đến con, chúng ta phong cho Võ Cảnh một vùng đất, hầu nối kiếp lửa hương Nhà Thương, như vậy chúng ta đã đền ơn Nhà Thương.

  Các chư hầu không dám cải, nhưng trong bụng thì không ưng lắm, vì nhổ cỏ phải nhổ cho tận gốc, bằng không hậu họa sẽ không sao lường được.

Một hôm Tử Nha nói với Võ Vương rằng:

   Bệ hạ đã không giết Võ Cảnh, thì cũng nên ra ơn cho Võ Cảnh, lo phần hương khói, nhưng phải dùng người giám sát mà kìm kẹp, nếu phát hiện mưu đồ bất chính thì giết đi để trừ hậu họa.

  Võ Vương y lời giao Võ Cảnh cho hai vị Ngự Đệ, trông coi giám sát. Võ Cảnh càng lớn càng khôn ngoan, ý tứ kín đáo vô cùng, khó ai đoán được ý đồ của Cảnh, sự nhẫn  nhịn, nhẫn nhục, nhẫn nại của Võ Cảnh phải nói là hết sức thâm sâu. Khi Võ Vương băng hà qua đời, Võ Cảnh khóc lóc thê thảm ra vẽ thương yêu lắm, Võ Cảnh biết chỉ cần lộ một cử chỉ bất mãn là coi như là toi mạng nhất là khi tuổi đã trưởng thành.

Một hôm Võ Cảnh nằm ngủ thì thấy hồn Đắc Kỷ hiện về kêu Võ Cảnh:

   Cảnh con đây là cơ hội tốt nhất cho con thoát khỏi sự kìm kẹp, của Nhà Chu, để lập lên nghiệp lớn. Con hãy xin với Thành Vương, cho con đến một mảnh đất xa xôi tận miền Tây Nam gần đất Hung Nô, Phiên Ngung đã di cư từ Tây Bắc đến ở rất thân quen với quân Hồ, quân Hung Nô, với quân Hồ vô cùng hùng mạnh, lại ở nơi hẻo lánh khó mà tận diệt được, Nhà Chu tuy mạnh nhưng cũng không diệt được họ đâu.

Đắc Kỷ dạy bảo xong liền biến mất, Võ Cảnh gọi mẹ một tiếng thật lớn, giật mình tỉnh dậy. Nghe tiếng gọi mẹ thật lớn của Võ Cảnh có người chạy vào hỏi:

   Công tử gọi ai thế?

Võ Cảnh vô cùng khiếp sợ nói:

   Tôi thấy chiêm bao sợ quá la lên.

Người nầy chính là người hầu được cài theo dõi ngày đêm, mỗi hành động cử chỉ, dù chỉ là cử chỉ nhỏ nhặt cũng phải báo cáo lên bề trên.

Người hầu nói:

   Công tử thấy mẹ phải không?

Nghe người hầu hỏi thế Võ Cảnh sợ đến tái cả mặt. Không sao đâu đó chỉ là giấc mơ. Võ Cảnh nghe người hầu nói thế mới yên tâm.

Hôm sau Võ Cảnh vào chầu Thành Vương cuối đầu lạy tạ tâu rằng:

   Muôn tâu bệ hạ, Võ Cảnh trộm nghĩ thân đầy tội lỗi, đáng lý đã chết từ lâu, nhưng nhờ Đức cao của Bệ Hạ nên Cảnh dân mới được sống sót, Cảnh dân nhớ mãi muôn đời, không lúc nào dám quên, ơn trên chưa báo đáp thì dám mong được gì, hạ dân cũng có chút bẩm báo nhưng không dám, nếu bệ hạ cho phép thì hạ dân mới dám dâng tấu sớ.

Thành Vương hỏi:

   Ngươi muốn tấu gì thì đưa đây cho Trẫm cùng các quan xem.

Võ Cảnh làm như ra vẻ sợ hãi, lấy phong thư ra dâng lên cho Thành Vương xem. Thành Vương xem xong rồi đưa cho các quan xem. Nội dung tấu thư như sau: Võ Cảnh sống đến ngày nay đều nhờ ơn Bệ Hạ, lại được ăn no mặc ấm, ơn Đức của Bệ Hạ không sao đền đáp được, nay Cảnh hạ dân cũng đã lớn, muốn cầu xin Bệ Hạ một việc, nếu bệ hạ cho phép thì hạ dân mới dám tâu.

Các quan xem xong liền tâu rằng:

   Muôn tâu bệ hạ đã ra ơn thì ra ơn cho trót xem Võ Cảnh có ý nguyện gì.

Thành Vương nói:

   Trẫm cho phép ngươi cứ nói.

Nghe nói đến tiếng ngươi Võ Cảnh hơi sợ, lấy hết lòng can đảm tâu rằng:

   Muôn tâu Bệ Hạ, Cảnh dân nguyện xin Bệ Hạ phong cho một ít đất tận nơi biên giới Tây Nam, giáp ranh với quân Hung Nô, quân Hồ, ở nơi ấy hạ dân chí thú làm ăn thờ phụng Tổ Tiên.

Nghe Võ Cảnh tâu ai nấy lấy làm kinh ngạc: Đây không phải là xin mà là đày đến nơi đất chết, rừng thiên nước độc, không ai có thể dám tới gần nơi đó nói gì là đến để ở.

Các quan nghĩ: Võ Cảnh đã quá sợ chết trở thành điên loạn, nên mới có lời thỉnh cầu điên dại như thế, riêng chỉ có.

Chu Công Đán là không nghĩ như vậy. Chu Công Đán nghĩ: Dù cho Võ Cảnh hàng phục được quân Hung Nô, quân Hồ, cũng không làm gì được Nhà Chu.

Thành Vương từ lâu muốn diệt đi mối hiểm họa nầy. Nhưng chưa có cơ hội, đây chính là cơ hội để tiêu diệt mầm họa về sau. Bằng nói:

   Trẫm chấp nhận cho lời thỉnh cầu của Khanh.

Bằng phê chiếu chỉ phong cho đất Man Vu, rừng thiên nước độc, muốn bao nhiêu cũng được, bằng cho người cấp lương thực vài xe, vàng bạc hơn trăm lượng, cho vài chục tên binh lính hộ tống đến biên giới Hung Nô, hoang vu. Võ Cảnh mừng quá lạy tạ Thành Vương, rồi qua hôm sau là lên đường tiến về Tây Nam đến Đất Hồ đi được hơn mười ngày thì lấy vàng bạc, bán xe  mua ngựa, chở lương thực hàng hóa tiến lần về rừng núi, vượt qua nhiều sông suối dốc đèo, những quân lính đi theo lần lượt bỏ trốn, không còn lại mấy người. Càng đi thì rừng núi trùng điệp, chim kêu vượn hú, đêm về thì hơi lạnh thấu xương, đi đến đây có trốn cũng không biết đường về, ai cũng nghĩ đi theo Võ Cảnh là đi vào đất chết.

Đoàn ngựa chở hàng hóa đang đi, thì bổng nghe thấy tiếng ngựa hí vang trời, những người theo hộ tống Võ Cảnh sợ hết hồn hết vía. Đất Man Vu là đất chết chóc nổi tiếng, bọn cướp rừng nổi tiếng là ăn thịt cả người sống, không mấy ai đến đây mà toàn mạng trở về.

Võ Cảnh nhìn mấy mươi người người nào người nấy hung tàn bạo ác vô cùng, đao, kiếm sáng ngời lao tới bao vây quát:

   Các ngươi là ai mà dám đi qua khu vực nầy. Mau để lại ngựa hàng hóa hết lại cho ta bằng không các ngươi không còn một mạng.

Các binh lính sợ quá rung lập cập, Võ Cảnh bình tỉnh hỏi:

   Nơi đây là nơi nào?

Tên ăn cướp quát:

   Chết đến nơi mà còn hỏi.

Tên mặt hổ nói:

   Thôi nói cho nó biết đi, để chúng xuống âm phủ biết nơi đây là đâu.

Tên mặt trắng quát:

   Đây là đất Man Du hay còn gọi là đất hoang vu, đất vô chủ không thuộc quyền của ai cả, chúng ta là kỵ binh còn sống sót của nhà Ân, trở thành Chúa tể sơn lâm, Chúa tể của núi rừng. Hãy báo danh rồi về chầu âm phủ.

Võ Cảnh nghe bọn ăn cướp nói đây là đất Man Du thời mừng vô cùng nói:

   Tới rồi, tới rồi cuối cùng ta cũng tới được nơi đây. Trời đã giúp ta, Trời đã giúp ta.

Võ Cảnh cười lên sản khoái. Tên thủ lĩnh mặt hổ nghe Võ Cảnh nói không hiểu gì cả, liền quát lớn:

   Các ngươi là ai mau nói ra.

Tên béo mập nói:

   Giết chúng đi cho rồi cần gì hỏi lôi thôi.

Thế là chúng ra tay. Lúc ấy bổng một trận cuồng phong nổi lên, tức thời xuất hiện hai vị Đạo Sĩ. Hai vị Đạo Sĩ quát:

   Các ngươi sao không ra mắt lễ lạy Chúa Công.

Mấy mươi tên ăn cướp quát:

   Hai đạo sĩ kia ngươi nói ai là Chúa Công của ta.

Hai Đạo Sĩ chỉ Võ Cảnh nói:

   Người nầy chính là Chúa Công của các ngươi.

Mấy tên ăn cướp quát:

   Hai Đạo Sĩ kia, hai ngươi từ đâu tới?

Có người nói:

   Chúng là đồng bọn với nhau, chúng ta đông sợ gì hai lão Đạo Sĩ, xông lên giết hết tất cả cho ta.

Hai Đạo Sĩ quát:

   Đồ hổn láo không dạy cho các ngươi bài học thì các ngươi không biết trời cao đất rộng là gì.

Tên mặt hổ quát:

   Anh em đâu mau giết hai Đạo Sĩ đó cho ta.

Tức thời cả bọn ăn cướp lao nhanh vào chém giết hai Đạo Sĩ. Hai Đạo Sĩ quát:

   Quả thật các ngươi đáng tội chết.

Tức thời hóa phép làm cho bọn cướp xây xẩm mặt mày, ngã lăn xuống ngựa. Liền ra lệnh cho những tên lính theo Võ Cảnh:

   Trói hết chúng lại, chờ lệnh xét xử.

Bọn ăn cướp vô cùng kinh hãi không ngờ hai Đạo Sĩ thần thông quản đại như vậy. Hai Đạo Sĩ tới trước mặc Võ Cảnh quỳ xuống tâu rằng:

   Chúng Thần đến cứu giá trễ, xin Chúa Công tha cho tội chết, chúng Thần tu ở Hồ Động, Nương Nương về báo cho chúng thần biết là Chúa Công sẽ đến nơi đây, quả là đúng như vậy. Xin Chúa Công hãy xử những tên phản nghịch nầy, những tên nầy từng là quân lính của Nhà Ân, bị quân Chu truy nã nên ẩn sâu vào rừng núi trốn tránh, không chỉ bấy nhiêu mà cả hàng mấy nghìn tên, trong đó có những vị tướng lĩnh, không chịu ra đầu hàng, ẩn trong rừng sâu làm cướp, nghe nói Thành Vương đã phong đất cho Chúa Công, đất Man Vu, hay còn gọi là đất hoang vu, hàng mấy trăm dặm chính là nơi đây. Và nơi đây sẽ trở thành đất Ân của Chúa Công, chúng Thần nguyện theo Chúa Công khai dựng cơ nghiệp, xin Chúa Công thu nhận cho.

Võ Cảnh thấy sự việc xãy ra như trong giấc mơ, Võ Cảnh liền đở hai Đạo Sĩ dậy. Hai Đạo Sĩ thi lễ nói:

   Chúng Thần cảm ơn Chúa Công.

Hai Đạo Sĩ quay sang những tên ăn cướp:

   Các ngươi nghe đây, người trước mặt các ngươi chính là Võ Cảnh Chúa Công, con của Thiên Tử, Ân Thọ Trụ Vương và Nương Nương Đắc Kỷ.

Các tên ăn cướp nghe hai Đạo Sĩ nói thế thì kinh hãi, bò tới cuối đầu lạy tạ:

   Chúng Thần xin ra mắt Chúa Công.

Cũng từ đây Võ Cảnh, chiêu mộ những binh lính không chịu đầu hàng Nhà Chu, ra phò Võ Cảnh lập lên nước Man Du hùng mạnh, nhờ kết giao với quân Hồ và quân Hung Nô làm cho Nhà Chu cũng phải e dè đề phòng.

Võ Cảnh nhanh chóng xây dựng đất nước hùng mạnh thu nạp những người có tội đến ở, trở hành đội quân hung bạo vô cùng, các nước nhỏ ở gần đấy đều đến quy phục. Võ Cảnh nhiều vợ nên cũng nhiều con, làm thông gia với quân Hồ và quân Hung Nô, nên thế lực càng hùng mạnh, với chính sách ngoại giao khôn khéo với Nhà Chu địa thế khó đánh Võ Cảnh xưng Vương, Cảnh Ân Vương. Nhà Chu muốn diệt cũng diệt không được.

Có người thở dài nói rằng:

   Nhà Chu thả cọp về rừng, nhổ cỏ chừa gốc, nuôi mầm họa về sau.

Thành Vương qua đời Chu Mục Vương lên thay, Tạo Thụ được Mục Vương Nhà Chu yêu mến. Ông cha của Tạo Thụ là Ác Lai, Ác Lai thờ Vua Trụ, nên Võ Cảnh được sự giúp đở của Tạo Thụ rất nhiều, vì thế Cảnh Ân Vương càng thêm hùng mạnh. Cảnh Ân Vương nhiều con nên cũng sanh ra nhiều Cháu, toàn là nhũng anh hùng hảo hán, học được nhiều pháp thuật cao siêu, lại có Yêu Hồ giúp sức nên khó ai chống lại được. Ở đời người ta thường nói, con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, mộng bành trướng, tham lam không dứt. Đến thời Cháu Chắt của Võ Cảnh, Cảnh Ân Vương theo chí nguyện của tổ tiên là Ân Trụ Vương, giặc Ân xâm lược Nước Văn Lang lần nữa, từ năm 961 đến năm 930 trước công nguyên.

Đây nói về Phương Bắc, không giống như Phương Nam, chỉ có một nước Văn Lang thống nhất rộng lớn, chỉ cần một Quận, một Huyện, cũng bằng một nước nhỏ ở Phương Bắc, một Châu ở Văn Lang, bằng một nước lớn ở Phương Bắc, vì thế ở Phương Bắc có đến hàng nghìn Vua, luôn tranh bá với nhau, cho thấy Phương Bắc vào thời đó chưa đi vào thống nhất trật tự như Phương Nam Văn Lang. Phương Nam Văn Lang chỉ có một vì Vua đó là VUA HÙNG, được nối truyền nhau đời nầy sang đời khác 41 đời Vua Hùng, kéo dài độc lập 2701 năm. chia đất nước ra làm nhiều Bộ, một Bộ chia ra làm nhiều Châu, một Châu chia ra làm nhiều Quận, Huyện, một Huyện chia ra làm nhiều Xã, một xã chia ra làm nhiều Thôn. Chỉ cần một Xã Văn Lang cũng bằng một nước nhỏ ở Phương Bắc gọi là các trấn chư hầu của Nhà Chu, cũng như các trấn Chư Hầu thời Nhà Ân, Nhà Thương. Như nước Lỗ, nước Tề, nước Yên, nước Ngụy, nước Quản, nước Thái, nước Tào, nước Thành, nước Hoắc, nước Vệ, nước Đằng, nước Tấn, nước Ngô, nước Ngu, nước Quách, nước Sở, nước Hứa, nước Tấn, nước Cử, nước Kỷ, nước Trâu, nước Tiết, nước Tống, nước Khởi, nước Kế, nước Cao Ly.

Các nước trấn Chư Hầu lớn, nhỏ nầy, ngang tầm với các Châu, Quận, Huyện Văn Lang mà thôi, không có nước nào bằng Bộ Văn Lang, có nước nhỏ hơn Quận Huyện Văn Lang. Ở vào thời ấy, các nước lớn ở Phương Bắc, không có nước nào bằng Bộ Giao Chỉ, Bộ Việt Thường.

Các nước lớn ở Phương Bắc thường thôn tính các nước nhỏ làm trấn Chư Hầu cho mình, có thể nói là thường thôn tính nhau, diệt lẫn nhau, mất chỗ nầy mọc ra chỗ khác, mất chỗ nọ mọc ra chỗ kia, lúc thì đất Ngô, lúc thì đất Sở, lúc thì đất Tấn lúc thì đất Vệ, lúc thì đất Tào lúc thì đất Ngụy, một chỗ đất mà có nhiều tên Vua chồng lấp lên nhau, theo sự chuyển biến của lịch sử, thời Nhà Thương, Nhà Ân, Nhà Chu cũng vậy, không có sự thống nhất như Phương Nam Văn Lang, không có Vua nầy thôn tính Vua kia, Chúa kia thôn tính Vua nọ, có nghĩa là không có nhiều Vua, chỉ có một vì Vua duy nhất đó là Vua Hùng, hết đời nầy nối sang đời khác, tuy biết rằng đất đai vô cùng rộng lớn, nhưng tất cả đi vào bộ máy thống nhất, từ trên xuống dưới, sống trong một nền Hiến Pháp, Quốc Đạo Văn Minh. Không như ở Phương Bắc hàng nghìn vị Vua, thôn tính nhau, chiếm đoạt nhau, tàn sát lẫn nhau, nay là đất của Sở, mai là đất của Ngô, không cố định, diệt chỗ nầy có điều kiện thì sanh lại chỗ khác, vì thế phương Bắc chiến tranh cướp đoạt đất đai thôn tính nhau triền miên. Đúng như câu đất đai không của riêng ai, người nào mạnh thì người đó được, được xưng Vua thua cho là Giặc, xem đi xét lại Giặc với Vua chẳng khác gì nhau.

Không như Phương Nam chỉ duy nhất một Nước Văn Lang rộng lớn, một đất nước cố định mãi mãi, trước sau cũng chỉ là nước Văn Lang, chỉ chuyển đổi niên đại mà thôi. Niên Đại Hồng Hoang, Niên Đại Hồng Bàng, Niên Đại Hồng Đế, Niên Đại Viêm Đế Thần Nông, Niên Đại Kinh Dương Vương, Niên Đại Hùng Vương, chuyển sang thời Âu Lạc.

Nếu đem so sánh, Bắc – Nam, thì nước Văn Lang là một đất nước duy nhất cố định, luôn luôn thống nhất không có cảnh chia đất nước ra làm nhiều nước, mà chỉ phân chia đất nước ra làm nhiều Bộ, nhiều Châu, nhiều Quận, nhiều Huyện, thống nhất trong một Nhà Nước Văn Lang, chỉ có một Vua, không có cảnh nhiều Vua tàn sát lẫn  nhau như Phương Bắc. Vì thế nước Văn Lang hể mất là mất luôn, không bao giờ mọc ra chỗ khác được, như ở Phương Bắc, như nước Dịch, nước Cao mất đất chỗ nầy, mọc ra chỗ đất khác, Vệ mất đất nầy Vệ mọc ra nơi đất khác, các nước khác cũng thế.

Trong lịch sử kéo dài hàng nghìn nghìn năm, Phương Nam nước Văn Lang nằm trên đất Văn Lang, mãi mãi như thế hể mất là mất, hể còn là còn, không thể mất ở đất nầy mọc ra nơi đất khác được. Có thể nói Phương Bắc ở vào thời đó chưa có nền Văn Hiến thống nhất, luôn luôn hỗn độn chia nhỏ nhiều nước ăn nuốt lẫn nhau, tiêu diệt nhau, xâm lấn nhau, hết nghìn năm nầy đến nghìn năm khác, lúc nào cũng nghe chiến tranh nước Lỗ, nước Tề, nước Yên, nước Ngụy, nước Tống, nước Tấn, nước Trần, thôn tính lẫn nhau, diệt rồi sanh, sanh rồi diệt, lớn mạnh ở đất nầy, lại bị thu nhỏ lại ở đất khác, bởi tham vọng chiếm đoạt, triệt hạ, giành giật thôn tính lẫn nhau.

Không như nước Văn Lang, chia ra làm nhiều Bộ, mỗi Bộ chia ra làm nhiều Châu, mỗi Châu chia ra làm nhiều Quận Huyện, tuy rộng lớn vô cùng, nhưng không có chiến tranh tranh giành thuộc địa giữa bộ nầy, với bộ khác, các châu nầy với châu khác, nên không có sự xưng Vua, xưng Chúa nhiều như đất Phương Bắc, thống nhất về một mối một Nhà Nước Văn Lang, thống nhất chỉ có một Quốc Tổ Vua Hùng.

Và chỉ có một Niên Hiệu Vua Hùng trên Đất Nước Văn Lang, kéo dài sự độc lập 2701 năm kể cả thời dựng nước, thời dựng nước là 79 năm, thời Quốc Tổ, sau thời Quốc Tổ là thời giữ nước 2622 năm, và cho đến thời hạ Hùng Vương đời thứ 6 Hùng Huy Vương trong 18 đời hạ Hùng Vương từ năm 961 đến năm 893 trước công nguyên, dân bắc Văn Lang bị đồng hóa bởi nền Văn Hóa Phương Bắc, bằng con đường ngoại giao buôn bán hội nhập, cộng với sự di cư bất hợp pháp dân các nước Phương Băc lánh nạn chiến tranh qua bắc Văn Lang, hàng vạn, vạn người trong vòng mấy mươi năm, những Bộ, những Châu, những Quận, những Huyện, dân chúng tăng lên chóng mặt, dân chúng Phương Bắc di cư qua Bắc Văn Lang mang theo cả nền Văn Hóa Phương Bắc, làm cho dân chúng Bắc Văn Lang bị mê hoặc, từ đó Bắc Văn Lang dần dần đi vào đại loạn, phần đông từ Vương Quan cho đến dân Chúng đều mê hoặc bởi thứ văn hóa bói toán, nhập đồng, nhập bóng, xin xăm, bói quẻ, tiên tri độc hại nầy, không dè chừng Văn Hóa Phương Bắc, vì nghĩ Văn Hóa Phương Bắc không có gì độc hại, nên không kiểm soát về văn hóa, dẫn đến tai hại biến Bắc Văn Lang đồng hóa Văn Hóa phương Bắc, ngã lần về phương Bắc rồi trở thành lệ thuộc dần phương Bắc, cũng từ đó Bắc Văn Lang nhiều nội loạn nổi lên đòi tự trị, làm biến động tình hình Bắc Văn Lang.

Hàng vạn vạn người dân các nước Phương Bắc di cư sang ở Bắc Văn Lang, họ mang theo nền văn hóa Phương Bắc, nền văn hóa bói toán, xin xăm, bói quẻ, nhập đồng, nhập bóng cầu cạnh thần linh, những nhân vật được tôn thờ từ phương Bắc du nhập vào Bắc Văn Lang, làm mê hoặc dân Văn Lang. Vì lúc ấy dân tộc Văn Lang, đã lạc Nguồn lạc Cội, nên ngã theo tôn thờ thần linh ở phương Bắc, và dần dần dân tộc Bắc Văn Lang đi vào mất gốc, không những mất gốc về Văn Hóa Cội Nguồn, mà còn mất luôn cái gốc Truyền Thống dựng nước giữ nước Văn Lang.

Vì hấp thụ Văn Hóa phương Bắc, nên Bắc Văn Lang nhiều anh hùng nổi lên, đòi tự trị lập nước riêng, xưng Vua nầy Vua nọ như phương Bắc. Sự nổi lên đòi tự trị ấy, được hậu thuẫn từ các nước lân cận trấn chư hầu Nhà Chu, Bắc Văn Lang trở thành bãi chiến trường cho sư bùng nổ lên nhiều phe phái hình thành lên nhiều Vua, Chúa tự trị riêng mỗi vùng, rồi thôn tính nhau theo kiểu phương Bắc.

Lúc ấy nhà nước Văn Lang cũng đã bắt đầu suy yếu, là do mất đi những điều cơ bản của nền Văn Hiến. Văn Hóa Cội Nguồn truyền thống dân tộc, dẩn đến độc quyền độc tài, độc trị, sa vào con đường lìa xa dần dân chúng, làm mất lòng tin dân chúng. Dân chúng lại nghe theo sự xúi dục của các thế tham vọng bành trướng phương Bắc, nhất là những nước lân cận Bắc Văn Lang. Dẫn đến nội loạn chia bè rẽ phái ở Bắc Văn Lang nổi lên đòi tự trị từng vùng xưng Vua xưng Chúa, có sự hậu thuẫn từ phương Bắc, nên các Vua Hùng từ đời 11, 12, 13, ra sức dẹp nội loạn Bắc Văn Lang nhưng không dẹp nổi, vì người dân đã ngã theo Văn Hóa phương Bắc, Văn Hóa của sự xưng hùng xưng bá, Văn Hóa chia bè rẽ phái, hình thành lên quá nhiều khu tự trị hùng mạnh, những ông Vua Việt nổi lên, như Vua Điền Việt, Vua Mân Việt, Vua Dương Việt, Vua Đông Việt, Vua Nam Việt, Vua Lạc Việt, và nhiều vị Vua Việt khác nữa. Sau nầy bị Doãn Thường Việt nổi lên diệt sạch chiếm lĩnh Bắc Văn Lang, xung hùng xưng bá.

Tổ Tiên của Doãn Thường Việt, là dòng dõi Vua Vũ, con thứ hai của Vua Thiếu Khang, đời Nhà Hạ, qua nhiều triều đại thôn tính lật đổ nhau, con cháu Vua Vũ lánh nạn di cư đến đất Cối Kê, cắt tóc xăm mình như dân Văn Lang, trải qua hai mươi đời trở thành dân Văn Lang, đến đời Doãn Thường thì nổi lên như một vị anh hùng, dân chúng theo về rất đông, tiêu diệt nhiều thế lực tự trị, như thế lực Việt Hoa, thế lực Kinh Việt, thế lực Mân Việt, thế lực Âu Việt, thế lực Lạc Việt, thế lực Điền Việt, thế lực Kiều Việt, nói chung là nhiều thế lực Bách Việt nổi lên tự trị, bị Doãn Thường thôn tính, xưng là Vua Việt. Doãn Thường chết con là Câu Tiễn được lập làm Việt Vương, Việt Vương Câu Tiễn Thế Gia.

Cùng vào thời kỳ ấy Bắc Văn Lang đã nổi lên nhiều thế lực từ những nước láng giềng xâm lược qua, như Ngô, Tề, Sở, vân vân… Bắc Văn Lang ở vào thời kỳ nầy không khác gì phương Bắc các thế lực trự trị, luôn luôn thôn tính lẫn nhau, Vua Điền Việt mất chỗ nầy thời mọc lên chỗ đất khác, Vua Mân Việt mất chỗ đất nầy thời mọc lên chỗ đất khác, Vua Dương Việt cũng vậy mất chỗ đất này mọc lên chỗ đất khác, cứ như thế mà tranh bá tranh hùng, thôn tính lẫn nhau. Theo khẩu hiệu Phương Bắc (thiện hạ đất đai không của riêng ai, người nào mạnh người đó được).

Bắc Văn Lang trở thành nồi da nấu thịt, những cuộc chiến xâu xé lẫn nhau, của nhiều thế lực tự trị xưng Vua, xưng Chúa, thôn tính lẫn nhau hủy diệt lẫn nhau, mạnh được yếu thua, đất đai thuộc về người khác, cứ thế mà chiếm qua chiếm lại. Nay thuộc đất Dương, mai thuộc đất Mân, mốt thuộc đất Lạc, vị trí đất đai, theo nhân vật con người, cùng một chỗ đất, ba hồi là đất Dương, ba hồi là đất Mân, ba hồi là đất Lạc, không khác gì phương Bắc. Dân bắc Văn Lang đã bị đồng hóa Văn Hóa phương Bắc, chính là một trong những nguyên do dẫn đến mất Bắc Văn Lang, đồng hóa với phương Bắc.

Khi Bắc Văn Lang đã bị đồng hóa Văn Hóa phương Bắc tạo ra cảnh nồi da nấu thịt, dân tộc Văn Lang tàn sát dân tộc Văn Lang, những khu tự trị nổi lên, đất Văn Lang mất lần mất lần, chiến tranh càng lớn đất Văn Lang càng mất về tay Phương Bắc, nhất là những cuộc chiến tranh nồi da nấu thịt, đây chính là cơ hội các thế lực Phương Bắc chiếm lần đất đai Văn Lang, bằng con đường đưa quân sang giúp cho những thế lực tự trị yếu hơn, nhân cơ hội đó chiếm luôn đất đai .

Hoặc buộc những thế lực chiến thắng cắt đất giao cho họ, thế là Bắc Văn Lang lần lần mất đất về tay phương Bắc. Cứ mỗi lần chiến tranh nội bộ nồi da nấu thịt xảy ra, là mỗi lần mất đất về tay phương Bắc, và cứ thế phương Bắc nuốt lần đất phương Nam, hết nghìn năm nầy sang nghìn năm khác, và nuốt mãi cho đến tận ngày nay.

Nói về thời hạ Hùng Vương, đời thứ 3 Hùng Tiên Lang, đánh bại quân xâm lược Nhà Ân, cắt đứt quan hệ với phương Bắc, cho đến khi Nhà Ân bị hủy diệt, Nhà Chu lên thay thế, Võ Vương chết, Thành Vương lên thay, thì nước Văn Lang nối lại quan hệ ngoại giao với phương Bắc Vào năm 1063 trước công nguyên đây không phải là lần đầu quan hệ ngoại giao sang thăm Phương Bắc.

Khi ấy nước Văn Lang đời thứ tư hạ Hùng Vương, Hùng Diệp Vương ( Bảo Lang ) trị vì thiên hạ, Hùng Diệp Vương chỉ thị cho Lạc Vương, Bộ Việt Thường, đại diện cho nước Văn Lang, sang thăm Phương Bắc, Thành Vương Nhà Chu thị hiến chim Trĩ Trắng, nối lại quan hệ ngoại giao, hai phương Nam – Bắc láng giềng.

Ở vào thời đó Bộ Việt Thường ở Nam, Bộ Giao Chỉ ở Bắc hai bộ lớn nhất nước Văn Lang thời đó. Lạc Vương, đứng đầu ( bộ Việt Thường ) được chọn đại diện cho nước Văn Lang nối lại quan hệ ban giao Nam – Bắc.

Nói về Chu Thành Vương hỏi các quan:

   Nghe nói có sứ giả Văn Lang phương Nam đến thăm phương Bắc chúng ta việc đó có thiệt không?

Triệu Công Thích tâu:

   Bẩm Chúa công Bệ Hạ, quả có sứ giả Văn Lang đã đến triều ca đang ở ngoài thành, nhưng chỉ là Lạc Vương, Bộ Việt Thường, đem phẩm vật chim trĩ trắng dâng lên Bệ Hạ quan hệ ban giao Nam – Bắc, xin bệ hạ định đoạt.

Thành Vương nói:

   Còn ai có ý kiến gì nữa không?

Chu Công Đán nói:

   Tâu Chúa Công Bệ Hạ, Văn Lang là một đất nước lớn, không thua kém gì Phương Bắc chúng ta, nước Văn Lang có hai bộ lớn nhất, đó là Bộ Việt Thường, Bộ Giao Chỉ, là hai bộ lớn nhất của nước Văn Lang, hơn nữa Bộ Việt Thường là nơi Vua Hùng đang ở. Lạc Vương đứng đầu Bộ Việt Thường, quan hệ ban giao thì không khác gì Vua Hùng, xin Bệ Hạ cân nhắc.

Thành Vương nói:

   Nếu Vua Hùng sang sứ ban giao thì Trẫm đích thân trải thảm tiếp đón. Còn Lạc Vương thì giao cho Chu Công tiếp đón nghị luận ban giao vậy.

Đây nói về Lạc Vương, cùng các Quan đang đợi người đến tiếp dẫn vào Triều Ca ra mắt Thành Vương. Đang lúc đang đợi bổng thấy quân lính chỉnh tề cờ xe kiệu rước vô cùng trang nghiêm long trọng. Lạc Vương là người rất thông minh thấy cảnh đón rước thời biết ngay là vừa tôn trọng vừa thị uy. Lạc Vương được tiếp đón vào một ngôi dinh thự thật lớn, tiếp đãi tử tế. Qua lời chào hỏi giới thiệu Lạc Vương biết người tiếp đón mình chính là Chu Công, dưới Thành Vương mà thôi, nên lấy làm hài lòng, và Chu Công cũng hiểu rõ điều đó, hai bên nói qua nói lại rất thâm tình.

Đến lúc nầy Chu Công mới nói:

   Chính lệnh không ban đến, thì người quân tử không coi nhau như là bề tôi của mình, thẳng thắng công bằng mà nghị sự.

Ở được mười hôm Chu Công cho người làm xe mới, ngựa mới, cho người đưa tiển sứ giả về nước. Phương Bắc bao giờ cũng mang lòng dạ đen tối, trăm phương nghìn kế chiếm cho được đất phương Nam, nhất là những nước lận với Văn Lang. Được sự ban giao giữa Văn Lang và Tây Chu cho phép giao thương Nam Bắc thông thương quan hệ láng giềng đây là cơ hội mộng bành trướng phương Bắc, mà không có một chút trở ngại nào. Những nước gần Bắc Văn Lang, như nước Tề, nước Ngô, nước Sở.

Đây nói về Tề Thái Công. Thái Công Vọng tức là Lữ Thượng người Đông Hải, Tổ Tiên ông ta am hiểu về thuật phong thủy, làm tứ nhạc giúp Vua Vũ rất có công, đời Ngu và đời Hạ, được phong ở đất Lữ bao gồm cả đất Thân, họ Khương. Đến đời Thương thì  Tề Thái Công được sanh ra, ông ta vốn họ Khương, nhưng lấy họ theo tên đất, cho nên gọi là Lữ Thượng. Lữ Thượng thường bị nghèo khổ, tuổi đã già nhờ câu cá mà gặp Tây Bá nhà Chu, ở vào thời kỳ nầy thuật bói toán, thuật xin xăm đón quẻ phải nói là vô cùng hưng thịnh, cầu tài cầu lợi, cầu quỉ, cầu ma, cầu Thần, cầu Thánh. (Khi đó phương Nam Văn Lang không có thứ văn hóa nầy, mà chỉ có một nền văn hóa duy nhất là Văn Hoá Cội Nguồn. Nhưng đã bị thất truyền, vì do sự thất truyền nên người dân Văn Lang mất phương hướng, nên bị văn hóa phương Bắc bói toán, thuật số, xin xăm, bói quẻ, cầu thần, cầu quỉ, cầu ma, truyền sang làm cho mê hoặc, nhất là Bắc Văn Lang).

Lữ Thượng nghèo khổ sống nhờ câu cá. Một hôm Tây Bá sắp đi săn, sai bói quẻ, quẻ ứng cho biết: “ Cái bắt được không phải là Rồng, không phải là Ly, không phải là Hổ, không phải là Gấu, vật bắt được là con người sẽ giúp đở cho mộng Bá Vương làm nên nghiệp lớn’’.

Tây Bá Chu đi săn quả nhiên gặp được Thái Công, ở phía Bắc sông Vị. Thái Công là người hiểu biết rộng, đã có lần thờ Vua Trụ, nhưng Vua Trụ vô đạo, không phải là bậc Thiên Tử chánh chân, nên Thái Công bỏ đi. Đi du thuyết các nước chư hầu, không được ai nghe, cuối cùng trở về phía Tây về với Tây Bá nhà Chu, làm thầy Văn Vương, Võ Vương. Sau khi Văn Vương chết, Võ Vương lên ngôi năm thứ chín, Võ Vương đem quân đi về phía Đông để xem các nước chư hầu có đến họp không.

Thái Công tay trái cầm búa Hoàng Việt, tay phải cầm cờ Bạch Mao tuyên thệ: “Hỡi những con Tê Giác xanh! các ngươi hãy tập họp lại, ta trao thuyền và mái chèo cho các ngươi, kẻ nào đến sau thì bị chém đầu”.

Lời tuyên thệ ấy đến tai các nước. Khi đến bến Mạnh Tân, các nước chư hầu đến họp tám trăm nước. (Để hiểu rõ đoạn Kinh trên chúng ta có thể hiểu các nước ở phương Bắc, chỉ bằng những Châu, Huyện, Quận, ở nước Văn Lang mà thôi). Chỉ nội ở phía Đông nhà Ân mà có đến 800 nước, thì chúng ta cũng hiểu rõ những nước ở phương Bắc phải nói là như Nấm, Vua nhiều như Giá, tự xưng tự trị khắp nơi, không có sự đoàn kết thống nhất. Đó chính là văn hóa tự trị, nói cho rõ hơn nữa đó chính là văn hóa độc quyền, độc tài, độc trị, văn hóa cạnh tranh hủy diệt nhau, không phải văn hóa cạnh tranh của sự phát triển, văn hóa độc quyền, độc tài, độc trị, là văn hóa không có sự công bằng, bình đẳng, mà chỉ có mạnh được yếu thua. Tất cả các nước phương Bắc thời đó, mỗi nước đều có mỗi thể chế giáo điều riêng, không dựa trên một nguyên tắc nào cả, ai mưu mô xảo quyệt hơn thì nước đó mạnh. Chia bè, chia nhóm, tự xưng mình là Vua, biết rằng mình chỉ làm chủ một khu đất nhỏ, vài trăm nóc nhà, vài nghìn nóc nhà. (So ra chỉ bằng Châu, Phủ, Quận, Huyện, nước Văn Lang mà thôi).

Sau khi Võ Vương bình định xong nhà Ân, cơ nghiệp nhà Thương không còn, Võ Vương phong cho Lữ Thượng, (tên tộc là Vọng) chức Thái Công làm chủ đất Tề, Thái Công là người giỏi về chính sự, nên dân chúng theo về rất đông, làm cho nước Tề càng thêm lớn mạnh.

Đến thời Thành Vương, nhà Chu còn nhỏ. Quản Thúc, Thái Thúc làm loạn, những người di cư ở đất Hoài phản lại nhà Chu. Nhà Chu sai Thiệu Khang Công, ra lệnh cho Thái Công. Từ phía Đông cho đến biển, phía Tây cho đến sông Hoàng Hà, phía Nam cho đến Mục Lăng, phía Bắc cho đến Vô Lệ, năm hầu chín bá đều được phép chinh phục.

Do đó nước Tề trở thành một nước lớn, tiếp giáp với Bắc Văn Lang, đóng đô ở Dinh Khâu. Thái Công là người am hiểu về thuật số toán số biết rõ Văn Lang khí số mạc dần, Bắc Văn Lang sẽ mất về tay phương Bắc, vì dân Bắc Văn Lang không hiểu gì về  Văn Hoá Cội Nguồn nền Quốc Đạo dân tộc đã bị mất, tinh thần người dân như ruộng bỏ hoang, rất dễ đầu độc, nên dạy cho Lữ Cấp tức là Định Công với những âm mưu lớn.

Thái Công thường dạy Lữ Cấp rằng: Nếu chúng ta có được Bắc Văng Lang thì coi như chúng ta sẽ có tất cả, muốn có được đất Văn Lang không có con đường nào khác hơn là hàng phục dân Văn Lang bằng con đường văn hóa, đầu độc văn hóa, bằng con đường bói toán, thuật số, xin xăm, bói quẻ, cầu cạnh thần linh, sẽ làm mê hoặc dân Văn Lang. Cộng thêm mở mang nghề buôn, nghề thợ với Văn Lang, giao dịch với Bắc Văn Lang nghề trồng lúa, nghề cá, nghề muối, nhất là tìm hiểu về nghề luyện thép, bí mật của nước Văn Lang. Điều bí mật thành công là phải làm cho Bắc Văn Lang nổi lên từng vùng đòi tự trị, như phương Bắc chúng ta, khi đó họ đánh nhau họ cầu cứu ta, ta giúp cho họ thế là ta nuốt trọn họ, họ không theo ta thì họ còn theo ai, vì họ đã phản lại nhà nước Văn Lang, thì họ không còn con đường để mà lựa chọn, họ chống lại nhà nước Văn Lang, tức là họ đã ngã về ta, và ta lần đồng hóa họ, trở thành dân phương Bắc, mà hể dân phương Bắc tới đâu thời đất Văn Lang mất tới đó. Phương kế nuốt lần đất Văn Lang, không phải một đời mà nhiều đời, như tằm ăn dâu, như mối mọt ăn cây, đất Văn Lang mất lần, mất lần, nhà nước Văn Lang tuy có biết nhưng không sao ngăn chặn được. Cướp đất Văn Lang theo kiểu nầy, thì hiệu quả không chê vào đâu được. Cứ mỗi lần làm cho họ nồi da nấu thịt, dân Văn Lang tự tàn sát lẩn nhau, là mỗi lần chúng ta được lợi lớn, chúng ta không những lấy được đất Văn Lang mà còn gồm thâu được dân Văn Lang, sự thành công nầy không phải một đời mà nhiều đời.

Thái Công chết người con là Lữ Cấp, Định Công kế vị đi theo con đường của cha, quả là hiệu quả vô cùng, không những được mặc lợi về giao thương buôn bán, mà còn được lợi về mặc chính trị, quả thật dân Văn Lang mê say về thuật bói toán, xin xăm bói quẻ, cầu cạnh thần linh, nghiện đến nổi thiếu thứ gì thời được, nhưng thiếu về thuật số, bói toán, xin xăm, bói quẻ, cầu cạnh thần linh thì chịu không nổi, quẻ ứng ông nầy làm Vua, bà nọ làm Chúa thì tin răm rắp, không những dân chúng mà ngay cả Vương Quan cũng bị mê hoặc và từ đó hình lên mộng tự trị, chia bè chia nhóm ra, thôn tính lẩn nhau, xưng Vua, xưng Chúa, và được sự giúp đỡ của những nước lân cận Bắc Văn Lang, như Ngô, Sở, Tề, thậm chí các nước ở xa như Triệu, Tấn.

Sự mở cửa giao thương hợp tác toàn diện, Nam – Bắc ở vào thời kỳ nầy, thời kỳ Văn  Hoá Cội Nguồn không còn, là một điều bất lợi cho nước Văn Lang. Không như thời Hùng Vương dựng nước, Văn Hoá Cội Nguồn hưng thịnh, càng giao thương hợp tác toàn diện càng có lợi.

Nói về nước Xích Quỷ Bắc Văn Lang thường có tục lệ vẽ mình làm cho thủy quái, ác thú không dám đến gần, nhất là dân tộc Nam Việt, Âu Việt, Lạc Việt.

Ngô Thái Bá cùng với em Thái Bá là Trọng Ung, đều là con của Thái Vương nhà Chu, hai người đều có mộng lớn làm Vua, và là anh của Quý Lịch. Quý Lịch hiền, nên Thái Vương lập Quý Lịch làm Vua, bị cú sốc nặng biết tình thế không xong, không lẽ tranh ngôi với em mình, hai người bằng trốn đến đất Kinh, người Nam Bắc di cư đến ở giáp ranh với Tây Bắc Văn Lang. Ngô Thái Bá, Ngô Trọng Ung bắt chước cắt tóc vẽ mình giống như người Nam Việt, Âu Việt, Lạc Việt, tự gọi mình là Câu Ngô.

Những người Nam Bắc, thuộc đất Kinh cho hai ông là người có nghĩa khí, họ theo hai ông hơn nghìn nóc nhà tôn hai ông làm Vua, Vua Ngô Thái Bá, Ngô Thái Bá không con, người em là Trọng Ung, lên kế vị ngôi Vua, Vua Ngô. “Lịch sử đã cho ta thấy, văn hóa cách sống tự trị của người phương Bắc, chỉ cần nghìn gia đình, hoặc vài trăm gia đình thời đã có Vua rồi, không như nước Văn Lang cả hàng triệu gia đình mới có Vua”. Nói đến đất Kinh dễ lầm đất Kinh Bắc Văn Lang, nhưng thật ra bên kia biên giới cũng có đất Kinh, đó là đất Kinh Bắc, không phải đất Kinh Nam. Ngô Thái Gia và Ngô Trọng Ung hai người đều có tham vọng lớn không chịu một nước Ngô nhỏ bé, theo kiểu tự trị của mình, nên lúc nào cũng dòm ngó Bắc Văn Lang bằng lập ra kế sách lâu dài, chiếm lấy cho được Bắc Văn Lang. Ngô Thái Gia, Ngô Trọng Ung đều có kế sách giống nhau, (Muốn chiếm được đất Văn Lang, chỉ có một con đường duy nhất, là đồng hóa dân Văn Lang theo văn hóa phương Bắc, văn hóa tự trị, Vua nổi lên mọc khắp vùng, thôn tính lẩn nhau, tranh giành lẩn nhau, mạnh được yếu thua, được là Vua thua là giặc, đó chính là cơ hội cho ta thôn tính Bắc Văn Lang, nhờ sự hậu thuẫn của nhà Chu).

Lúc bấy giờ Võ Vương nhà Chu đã lật đổ thôn tính nhà Ân, bằng cho người tìm con cháu của Thái Bá và Trọng Ung, tìm được Chu Chương. Khi đó Chu Chương đã làm Vua ở nước Ngô, cho nên nhân đó mà phong chính thức Vua Ngô, sự thừa nhận của nhà Chu, lại phong cho Ngu Trọng em của Chu Chương ở phía Bắc đất Chu là đất Hạ. Chu Chương chính thức được thừa nhận Võ Vương, nhà Chu, phong chính thức Vua Ngô. Nên nước Ngô càng thêm lớn mạnh, nhờ gồm thâu một số nước nhỏ. Chu Chương lòng đầy tham vọng, lúc nào cũng dòm ngó Văn Lang, khi Chu Chương còn nhỏ thường chu du Bắc Văn Lang nên hiểu rõ Bắc Văn Lang như trong lòng bàn tay. Nay cơ hội ban giao hai nước láng giềng Nam Bắc họp tác toàn diện, đây chính là cơ hội mộng bá đồ bành trướng nước Ngô chiếm lấy Bắc Văn Lang.

Chu Chương cho người qua ban giao hợp tác với các Châu phủ Văn Lang, láng giềng, lúc bấy giờ một số Châu Phủ, Quan, Vương, tha hóa, bê tha, tham nhũng, tửu sắc, bị Chu Vương câu miếng nào miếng nấy chắc mẩm, cho người sang qua đầu độc văn hóa, làm cho dân Văn Lang quên đi Nguồn Cội truyền thống anh Linh của mình, chạy theo bói toán, cầu cạnh, xin xăm, bói quẻ, mê tín, dị đoan. Quẻ ứng nói con ông nầy là Vua, con bà kia là Chúa, kích động nổi lên tự trị nhiều vùng, Bắc Văn Lang dần dần đi đến hổn loạn, nguy cơ Bắc Văn Lang mỗi ngày mỗi hiện rõ.

Kể từ khi Thái Bá và Trọng Ung, lập nước Ngô, được năm đời, thời Võ Vương tiêu diệt được nhà Ân, phong con cháu của Thái Bá ở hai nơi. Một nơi là nước Ngô ở Man Di, một nơi Bắc đất Chu là đất Hạ, truyền xuống được mười hai đời, thì nước Tấn tiêu diệt nước Ngô ở đất Kinh, chỉ còn nước Ngô hưng thịnh ở Nam Man Di, tức là ở Tây Bắc Văn Lang, như vậy mộng xâm lược chiếm đất Văn Lang đã thành công.

Nước Sở, Sở Tử họ Mỹ, dòng giống Vua Chuyên Húc, Mỹ Tử là Dực Hùng, làm thầy Vua Văn Vương, bởi có công lao, nay Võ Vương phong nước Sở. Đến thời Sở Linh Công thì mở mang nghiệp bá quan hệ với Bắc Văn Lang, Sở Linh Công thấy Bắc Văn Lang quả thật đất đai trù phú, đất đen bốc hơi mạnh, đồng ruộng xanh rì bao la bát ngát, cá tôm đầy ắp, buôn bán tấp nập thì thèm khát vô cùng, Quý Nhân có tài toán số biết phương Nam khí thế mạc dần, đất Bắc Văn Lang sẽ mất dần về tay Phương Bắc, bằng bày mưu hiến kế cho Sở Linh Công, chiếm đoạt đất đai Văn Lang.

Sở Linh Công hỏi:

   Chiếm đoạt bằng cách nào?

Quý Nhân nói:

   Không phải chiếm liền được đâu, mà phải có kế sách lâu dài, như tằm ăn dâu, như mối mọt ăn cây, phải giao thương văn hóa với Bắc Văn Lang, làm cho dân Bắc Văn Lang tôn thờ văn hóa phương Bắc, thì mộng xâm lược chiếm đất Văn Lang mới thành.

Linh Công hỏi:

   Giao thương văn hóa theo cách nào?

Quý Nhân nói:

   Giao thương qua con đường buôn bán, xuất khẩu lao động, qua làm thuê cho các Lạc Điền, Hùng Điền. Mua chuộc các Quan, Châu Phủ, Bố Chính, Hữu Tư từng bước từng bước khi nào thấy Bắc Văn Lang hỗn loạn, nhiều nhân vật nổi lên đòi tự trị, chúng thôn tính lẩn nhau đó là thời cơ cho ta chiếm đất Văn Lang. Hơn nữa chúng đã đòi tự trị chống lại nhà nước Văn Lang, thì chúng không còn con đường nào khác hơn là theo về với chúng ta mà thôi, vì thế nước Sở chúng ta không phải chỉ ở đất Bắc còn có ở đất Nam nữa.

Linh Công nghe phải bằng thực hiện theo kế sách đó. Đến đời, Sở Bình Vương, thì đã chiếm được một phần đất Bắc Văn Lang, Quân Việt đòi lại nhưng không làm gì được, vào năm 548 trước công nguyên.

Tóm lại; Ở vào thời kỳ Văn Lang suy tàn vì mất đi Văn Hoá Cội Nguồn chính sách ban giao Nam Bắc, hợp tác toàn diện, dẫn đến bất lợi cho Văn Lang, với bao thủ đoạn mánh khóe, hiểm độc, thủ đoạn, xé Bắc Văn Lang ra từng mảnh nhỏ, tạo ra cơ hội thuận thời cơ thôn tính, một cách dễ dàng, với thủ đoạn ăn mòn, như tằm ăn dâu, như mối, mọt ăn cây, nuốt lần đất Văn Lang, các Vua Hùng ở thời cuối đành bó tay, dẫn đến không những mất Bắc Văn Lang, mà ngay cả Trung Văn Lang cũng mất luôn, đây là một thảm kịch vì đã mất đi Văn Hoá Cội Nguồn, bị văn hóa Bắc phương xâm hại, thôn tính tinh thần dân tộc Văn Lang, luôn theo chiều hướng có lợi cho chúng, thảm thay thảm thay.

Vận thế vần xoay cuộc cơ trời

Họa phúc đối đầu mãi ai ơi

Thiện ác gieo ra rồi phải gặt

Tránh đâu cho khỏi đạo luật trời.

Đây nói về Võ Cảnh, thoát khỏi họng cọp rời khỏi triều ca như con chim thoát ra khỏi lồng, băng suối lội rừng, cuối cùng cũng đến nơi mình muốn đến, được hai Đạo sĩ Tả Tiên và Hữu Tiên, phò trì. Kêu gọi tàn quân Ân những người không chịu ra hàng nhà Chu, ẩn vào rừng sâu làm cướp, số người lên đến hàng nghìn nghìn người, toàn là những tay dũng sĩ tài ba, lập lên nước Nam Du, Tây Du, xưng là Cảnh Ân Vương. Mỗi ngày một thêm lớn mạnh, những tên cướp theo về càng đông.

Võ Cảnh lấy vợ người Hồ, sanh ra Hồ Tôn Vương. Hồ Tôn Vương lấy con gái Chúa Hung Nô là Man Man sanh ra Ân Mao Vương, đây nói về Man Man, Vương Hậu Man Man một hôm nằm ngủ thấy một trận cuồng phong thấy toàn là yêu tinh quỉ dữ dưới sự chỉ huy con Hồ tinh to lớn đánh về phương Nam khói lửa đậy trời, lại thấy một con Rồng Vàng xuất hiện, đánh nhau với con Hồ Tinh to lớn long trời lở đất, Man Man khiếp hồn tỉnh dậy. Không bao lâu thời biết mình đã mang thai, đến ngày khai hoa nở nhị Man Man sanh ra một em bé kháu khỉnh, lúc ấy các loài chim dữ bay đến, khi chúng bay đi rơi xuống một chiếc lông Võ Cảnh liền đặc tên cho con là Ân Mao. Ân Mao càng lớn càng thông minh kỳ lạ, khôn ngoan đáo để, túc trí đa mưu, mà còn có mộng bành trướng, có ý gồm thâu thiên hạ. Võ Cảnh thấy vậy rất vừa lòng.

Một hôm Ân Mao đang chơi thời bổng thấy ba Đạo Sĩ xuất hiện nói:

   Con theo ta về động để tu Tiên học Đạo.

Nói xong ba Đạo Sĩ cùng Ân Mao biến mất, những người hầu Ân Mao hoảng kinh, báo cho Tôn Vương cùng Man Hậu. Man Nương nghe xong lấy làm kinh hãi, Hồ Tôn Vương nói:

   Không sao đâu. Mao Nhi theo thầy học Đạo không có gì phải lo.

Đây nói về Ân Mao được ba Đạo Sĩ đưa đến một nơi rất xa xôi, đến một ngọn núi đá gần một cái hồ rộng lớn, phong cảnh vô cùng xinh đẹp.

Đạo Sĩ mặt trắng dễ coi hơn nói với Ân Mao:

   Thầy là Hồ Nhất Tinh, còn đây là Hồ Nhị Yêu.

Ân Mao bước tới quỳ lạy Nhị Yêu mặt xám, Nhị Yêu mặt xám khen:

   Thằng bé nầy thông minh lắm.

Nhị Yêu chỉ Tam Quỷ nói:

   Đây là Hồ Tam Quỷ con đến chào hỏi đi.

Ân Mao đến quỳ lạy ra mắt nói:

   Con là Ân Mao kính lạy tam sư phụ.

Tam Quỷ thấy Ân Mao không những khôn ngoan mà còn đầy lòng xảo quyệt, thì  thích lắm.

Cùng thời với Ân Mao bên đất hung nô em của Man Man là Mạo Mạo sanh ra một em bé sát khí đầy trời, nên đặc tên cho em bé là Sát Sát.

Cũng cùng thời lúc ấy, bên đất Hồ, Hồ Nương Nương cũng hạ sanh một bé gái, lúc hạ sanh bé gái thì một trận gió nổi lên làm cát bay đá chạy, nên đặc tên cho em bé là Nghịch Phong. Nghịch Phong lớn lên không những xinh đẹp mà thường làm những điều không ai tưởng tượng nổi, như treo ngược mình lên cây, chơi với loài hung dữ  như cọp, beo, sói. Một hôm Nghịch Phong đang chơi, bổng một luồng cuồng phong xuất hiện cuốn phăng Nghịch Phong đi mất.

Đây nói về Sát Sát càng lớn càng xinh đẹp lại ưa chơi với loài hung độc như rắn, rít, bò cạp, tính tình tàn độc vô cùng, tuổi còn nhỏ mà đã giết chết Nữ Tỳ. Tỳ Nữ không ai là không khiếp sợ. Một hôm Sát Sát đang chơi thời một Đạo Cô xuất hiện thu nhận Sát Sát làm đệ tử, bay lên mây rồi biến mất.

Đây nói về thời hạ Hùng Huy Vương, đời thứ 6 (Pháp Hải Lang) nước Văn Lang đã bắc đầu suy vong, vì nền Văn Hoá Cội Nguồn đã mất lần hết những điều cơ bản dẩn đến độc tài độc trị, dân chúng mỗi ngày mỗi mất lòng tin, cuộc sống lần lần không còn bình đẳng, quyền con người cũng dần dần biến mất, thay vào đó là chế độ độc trị, độc tài, không khác gì phương Bắc, Vua là trên hết.

Không như thời dựng nước tối cao của nước Văn Lang không phải là Vua, mà là nền Quốc Đạo dân tộc, Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp công bằng bình đẳng xã hội. QUỐC TỔ VUA HÙNG, là vị vua tối cao, tôn thờ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, nắm giữ cán cân Công lý xã hội, lập ra tam quyền phân lập. LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP, ĐẠO PHÁP ĐỘC LẬP. Lãnh đạo và điều hành đất nước.

Ở thời kỳ hạ Hùng Vương đời thứ 6, thời bộ máy nhà nước Văn Lang chỉ là nhà nước độc quyền, độc trị, theo kiểu độc quyền, độc trị ở phương Bắc, tất cả quyền hành đều dồn hết cho một quyền lực đó là Vua. Không còn Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp công bằng bình đẳng xã hội trên hết nữa, Vua muốn làm gì thì làm, không cần thông qua bộ máy nhà nước. Mà sống theo chế độ thể chế độc trị, độc tài. Cái độc trị, độc tài ấy lần lần ăn sâu vào các cấp Lãnh đạo nhà nước Văn Lang, từ Vua, Quan, các cấp, cho đến chí dân. Lần lần ai nấy cũng chỉ biết nghĩ đến cái lợi của mình, dân lần trở thành vô cảm, tính đoàn kết không còn như thời ông cha nữa, còn Vương Quan thì vơ vét tóm thâu bao cái lợi về mình. Sự khởi đầu, dân chúng bất bình chính là độc tài, độc trị nầy, càng về sau các Vua Hùng càng nặng, cũng như Vương Quan các đời về sau càng nặng, dẩn đến xa rời dân chúng, ai cũng vì túi riêng của mình, hà khắc sách nhiễu dân chúng. Mở đường cho bao mối họa sanh ra nội loạn, cơ hội cho ngoại xâm, xâm chiếm đất đai.

Hùng Huy Vương lâm triều lúc nào cũng nghe tấu sớ báo cáo Bắc Văn Lang dân chúng nổi lên dấy loạn khắp nơi đòi tự trị.

Vua Hùng nổi giận nói:

   Con cháu Tiên Rồng mà bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu, đến thế sao. Các Bộ, các Châu, các Quận, các Huyện, sao để xảy ra những chuyện ấy.

Bằng ra cáo văn chỉ thị: Những Bộ, những Châu, những Huyện, những Quận, có nội loạn về kinh đô hội kiến.

Không bao lâu thì các Bộ, các Châu, các Quận, các Huyện, có nội loạn dân chúng nổi lên đòi tự trị, về kinh đô báo cáo thật tế tình hình.

Nhìn Kinh Đô thật yên bình, nay đã là tháng ba thế mà trời đất vẫn chưa được trong xanh sáng tỏ, lúc nào cũng u ám như có điều chi buồn bả, buông tiếng thở dài ông cụ nói:

   Lòng tham con người không kìm chế được thì chuyện gì cũng xảy ra, hôm nay là ngày họp trọng đại nơi triều nội, tí nữa là ta quên mất.

Người đó là ai thế? Người đó không ai khác hơn là Lạc Vương, Hữu Thừa Tướng, đứng đầu trăm quan. Các Quan đầy đủ, Vua Hùng lâm triều, tấu sớ dâng lên nhiều hơn mọi lần. Hùng Vương xem cáo văn báo cáo, các Bộ, Châu, biên giới Bắc Văn Lang như sau: Thần là Lạc Hầu Vương cũng như các Châu, các Bộ hết lòng vì dân vì nước, nhưng không hiểu vì sao dân chúng lại dấy loạn đòi tự trị, nổi dậy chiếm lấy Tây Bắc biên giới Văn Lang biên giới Bắc Văn Lang, Đông bắt Văn Lang, Bách Việt Bắc Văn Lang không còn đoàn kết như xưa, mà nổi lên đòi tự trị nhiều vùng, tệ hại hơn nữa. Bộ Bắc Đái, các Châu, Quận, Huyện chỉ cần tập họp vài trăm nóc nhà cũng tự xưng là Vua, Thần đem quân dẹp loạn. Nhưng dẹp yên chỗ nầy, thì chỗ khác lại mọc lên, máu dân Văn Lang đã bắt đầu đổ, không cách gì vỗ yên dân chúng cho được. Càng dẹp loạn thì các thế lực tự trị chúng liên kết lại với nhau. Tạo lên một sức mạnh chống trả, chống trả không lại chúng cầu viện phương Bắc. Cảnh nồi da nấu thịt vô cùng thê thảm. Trận chiến ở Huyện Tây Bắc Châu, Huyện Tây Trung Châu, Huyện Hạ Tây Châu, dân Văn Lang cả hai bên thiệt mạng hơn nửa vạn người. Bố chính Tây Châu bỏ mạng, bố chính Trung Châu bỏ mạng, bố chính Hạ Châu bỏ mạng, chúng cầu viện quân Ngô đành phải thất thủ Tây Châu. Châu Phủ bị chúng bắt không còn biết sống chết ra sao.

Các Quan nghe báo cáo tình hình như vậy ai nấy đều thất kinh. Các Quan nghe tấu sớ bộ Lục Hải, lại càng kinh hãi hơn nữa, nguyên văn như thế thế nầy: Bẩm Quốc Vương, hạ thần là Lạc Công Hầu, ở bộ Lục Hải tình hình Đông Hải Châu, Đông Bắc Hải Châu, Hạ Giang Châu dân chúng đòi nổi lên tự trị, vì cho rằng Thần Thánh nói Bắc Văn Lang sẽ mất, cơ vận Hùng Vương đã hết đất Văn Lang chia ra nhiều nước, như bên Bắc nhà Hạ, nhà Thương, nhà Ân, nhà Chu. Trời chỉ định ai được thiên hạ  thì người đó được, đất đai không thuộc của người nào. Vì thế Bách Việt Văn Lang dân tộc nào Trời chỉ định dân tộc đó là Vua. Vì có sự tiên đoán của Thần Linh, và cũng như sự ứng quẻ của Đất Trời. Dân chúng những Châu Phủ trên, đã trở nên cuồng tín chỉ biết nghe theo Thần Thánh, nhất là Thần Thánh ở đất Bắc. Dân chúng đã dựng miếu thờ khắp nơi, nhập đồng nhập xác hiển Linh lắm, thời thế hiện nay dân chúng chỉ biết nghe theo bói toán, ứng quẻ, nhập đồng, nhập xác, cầu cạnh thần linh, thần linh nói sao dân chúng nghe theo vậy, quẻ ứng. Nói cậu nầy làm Vua, ông kia làm Chúa, thì dân chúng nghe theo răm rắp, vì thế mà nhiều khu tự trị đã nổi lên, hơn trăm nóc nhà cũng xưng Vua, xưng Chúa. Hạ Thần ra lệnh gom thu quân binh các Châu hơn 10 vạn, rồi giao cho Lạc Tướng thống lãnh hơn vạn quân binh dẹp loạn, dẹp được chỗ nầy, thì Vua chỗ khác đã mọc lên, sự phản loạn đòi tự trị ấy, phải nói là có bàn tay phương Bắc tham gia, diệt tự trị chỗ nầy, tự trị chỗ khác lại mọc lên. Chúng liên kết với nhau chống trả lại quân Văn Lang mỗi ngày mỗi quyết liệt, chúng thua chúng chạy sang qua Bắc cấu kết với nước Hải Nam, nước Mục Lăng, hiện nay đã theo về với nước Tề, nhờ sự trợ giúp của nước Tề quân ta đã đại bại, thiệt hại hơn phân nửa binh lính, quân nổi dậy nhờ sự ểm trợ của quân Tề nên đã thất thủ Đông Hải Châu, Đông Bắc Hải Châu, Hạ Giang Châu, cũng không thể giữ nổi trong nay mai, nếu tình hình nầy kéo dài e rằng mất luôn Bắc Văn Lang, nguy cơ mất Bắc Văn Lang là điều không sao tránh khỏi, nếu không có quân chủ lực dẹp yên chúng.

Vua Hùng lại xem tấu sớ của Bộ Giao Chỉ thì thất sắc, nội dung tấu sớ thế nầy: Bẩm Quốc Vương hạ Thần, Lạc Vương, phụng báo như sau. Tình hình Bắc Giang Giao Châu, Lạc Giang Giao Châu, Giao Giao Minh Châu, Dương Giang Giao Châu, là những Châu lân cận với đất Bắc, thuộc bộ Giao Chỉ, không hiểu vì sao Bách Việt Văn Lang lại nổi lên đòi tự trị, nổi lên Vua Chúa khắp nơi, không khác gì ở phương Bắc, chỉ cần hơn vài ba trăm nóc nhà thì có Vua nổi lên, Vua nầy thôn tính Vua kia làm rối loạn khắp nơi, những trận giao tranh tiêu diệt lẫn nhau dữ dội, gươm đao giáo mác, cung tên, nhập từ phương Bắc, vũ khí binh lính không kém gì Văn Lang chúng ta, với tình hình như thế quân ta không biết đánh ai bỏ ai, cuối cùng họp bàn đi đến thống nhất, là quét sạch những quân nổi dậy đòi tự trị, do Lạc Tướng, Hầu Tướng chỉ huy một cuộc ra quân rầm rộ chúng biết đánh không lại liền chạy qua đất Bắc liên kết thành một sức mạnh dưới sự trợ giúp của quân Sở, chúng trở lại phản công thế là một trận giao tranh quyết liệt giữa quân ta với quân phiến loạn đòi tự trị. Lạc Tướng tử trận, Hầu Tướng bỏ mạng, chúng Bắt sống hơn mười vị Quan Tướng Bố Chánh. Chúng đã chiếm cứ, Bắc Giang Giao Châu, Lạc Giang Giao Châu, Dương Giang Giao Châu, chỉ còn Giao Giao Châu đang cầm cự, không biết thất thủ lúc nào, nói chung là đã mất hơn 25 Quận Huyện.

Đọc xong tấu sớ ai nấy cũng kinh hoàng, còn một điều vô cùng khẩn cấp hơn nữa, là quân Ân, quân Hồ, quân Hung Nô đã khởi động sắp tràn qua đánh chiếm Bắc Văn Lang, chiếm lấy toàn bộ vựa lúa lớn nhất của chúng ta, nếu mất Bắc Văn Lang, thì nguy cơ thiếu ăn trầm trọng, dân chúng Văn Lang chúng ta sẽ chết những đói, những năm thời tiết không thuận.

Nghe tin quân Ân, quân Hồ, quân Hung Nô xâm lược, thì Vương Quan ai nấy cũng kinh hoàng. Việc nội loạn chưa giải quyết xong, thì quân ngoại xâm đã kéo đến.

Hùng Huy Vương nói:

   Các Quan văn võ có kế sách gì không?

Khi ấy có vị Quan Vương nổi tiếng là học nhiều hiểu rộng, Lạc Vương Thừa Tướng là con của Lạc Vương Công, thời Hùng Vương đời thứ 4, Hùng Diệp Vương, có công ban giao hợp tác toàn diện Nam Bắc Văn Lang với nhà Chu tâu rằng:

   Bẩm Quốc Vương bệ hạ, chúng ta nên cho người đưa thư của bệ hạ đến nhà Chu trình lên Chu Mục Vương Thiên Tử, giúp đỡ không cho Tề, Ngô, Sở giúp sức cho quân phiến loạn Văn Lang, bớt đi một sức mạnh, hầu mong chống trả lại quân xâm lược.

Thế là Hùng Huy Vương sai Việt Thường Lạc Hầu Thị đi sứ dâng thư lên Thiên Tử Chu Mục Vương, Nhà Chu. Đi sứ dâng thư ba lần nhưng không kết quả, Mục Vương nhận thư nhưng lờ đi. Hùng Huy Vương vô cùng tức giận nhưng biết phải làm sao, không còn giải pháp nào cao hơn nữa là cầu Hiền Tài ra giúp nước.

Ở vào thời kỳ ấy, ở Bộ Ninh Hải, Châu Đông Hải, Huyện Đông Châu có hai anh em sinh đôi tên là Nguyên Dực và Nguyên Minh là cháu nhiều đời của Quan Lạc Tướng Nguyên Đô có tài hay phép lạ, võ nghệ cao cường, tinh thông binh pháp, tiếng tăm đồn xa. Hùng Huy Vương cho người mời hai anh em về triều phong cho làm Lạc Tướng thống lãnh 40 vạn quân đến Bắc Văn Lang kết hợp với quân binh các Châu, các Bộ, trừ quân phiến loạn, cũng như chống trả lại quân xâm lược.

***************

PHẦN 2: ÂM MƯU XÂM LƯỢC

 

Lòng tham quả thật kinh người.

Ngày đêm toan tính nuốt thời Văn Lang.

Ngoại xâm bè lũ sói lang.

Cáo, chồn, múa vuốt, ăn gan hại người.

Mưu mô quỉ quyệt hại đời.

Văn Lang binh lửa khắp cùng thương đau.

Đây nói về Ân Mao theo học với ba sư phụ, võ nghệ cao cường, thần thông pháp thuật vô biên, mới đó mà đã trên hai mươi tuổi, lấy được hai người vợ không những xinh đẹp mà còn võ nghệ cao cường, tài hay phép lạ, ít người địch lại. Hồ Tôn Vương mất, Ân Mao lên thay gọi là Ân Mao Vương. Ân Mao Vương là tay khôn ngoan xảo  quyệt, lắm mưu nhiều kế, liên kết Hung Nô, liên kết Hồ Vương, tạo lên thế lực Tam Vương hùng mạnh, nhà Chu cũng không làm gì nổi. Với mộng bành trướng, Ân Mao Vương lúc nào cũng muốn gồm thâu thiên hạ, nhìn thấy Bắc Văn Lang dân chúng chia năm xẻ bảy lại hiểu rõ Tề, Sở, Ngô, muốn nuốt Bắc Văn Lang, đây là cơ hội làm nên nghiệp bá chiếm lấy Bắc Văn Lang trước Tề, Ngô, Sở, nhưng còn ngại nhà Chu ngồi chờ hai hổ đánh nhau thợ săn đắc lợi, không những lấy được Bắc Văn Lang mà còn tận diệt mình. Ân Mao Vương bằng nghĩ ra một kế sách, muốn nuốt được Bắc Văn Lang, một mình quân Ân không làm nổi, mà còn gặp nhiều nguy hiểm. Chi bằng liên kết với quân Hồ, quân Hung Nô, hợp lực chiếm lấy Bắc Văn Lang, Ân Mao Vương hiểu rõ quân Hung Nô, quân Hồ, không những tàn bạo, mà còn lấy sự chém giết cướp bóc làm sở thích.

Trên khắp Thế Giới hiện nay không nơi nào giàu có như nước Văn Lang, không thứ gì là không có. Chỉ cần nói lên sự giàu sang, không thứ gì là không có nẩy khơi động lòng tham, đánh thức lòng háo chiến, đánh thức lòng cướp bóc, thì nhất định quân Hung Nô, quân Hồ sẽ tham gia. Bằng mở ra cuộc hội Tam Vương vô cùng long trọng, đàn ca múa hát, rượu thịt đầy bàn, toàn là những món ngon.

Hung Nô Vương khen:

   Quả thật đây mới đúng là sơn hào hải vị, không mấy dễ mà có được.

Hồ Nghi Vương cũng nói:

   Có những món tôi chưa bao giờ được thấy, chớ đừng nói là được ăn.

Trong lúc vui vẻ, Ân Mao Vương nói với Hồ Nghi Vương, Hung Nô Vương rằng:

   Những sơn hào hải vị nầy, chỉ là những sơn hào, hải vị tầm thường Bắc Văn Lang, Bắc Văn Lang nổi tiếng là giàu có không những sơn hào hải vị thuộc bật nhất Thế Giới, mà còn châu báu cũng bật nhất thế giới.

Ân Mao Vương bằng lấy ra hai viên Dạ Minh Châu tặng cho Hung Nô Vương một viên, Hồ Nghi Vương một viên, hào quang tỏa lên rực rỡ.

Hung Nô Vương khen:

   Tôi chưa hề thấy viên Dạ Minh Châu nào quý hiếm như viên Dạ Minh Châu nầy.

Hồ Nghi Vương cũng nói:

   Quả là hiếm quý không dễ gì có được.

Mao Ân Vương nói:

   Đây là những viên Dạ Minh Châu hạng thường của Bắc Văn Lang.

Hung Nô Vương tỏ vẽ thèm thuồng nói:

   Sao ta không hiệp lực lại đánh chiếm Bắc Văn Lang, làm bá chủ sự giàu sang, ăn chơi sung sướng.

Hồ nghi vương nói:

   Ba ta mà hiệp lực lại với nhau nói gì Bắc Văn Lang, đánh chiếm nước Văn Lang còn được.

Mao Ân Vương vô cùng mừng rỡ nói:

   Thế lực của ba chúng ta hiện nay nhà Chu cũng phải kính nể, không dám đụng đến, biết rằng ba chúng ta xưng Vương ngang hàng với nhà Chu, thế mà nhà Chu không làm gì được chúng ta.

Ân Mao Vương nói:

   Phương Bắc nhà Chu không có đất nào là béo bở như Bắc Văn Lang mà toàn là những nước nhỏ, đã dày dạn chiến tranh, khó thôn tính hơn Bắc Văn Lang. Bắc Văn Lang hiện nay đang trong thời kỳ hỗn loạn, tuy nhiều bộ lạc nổi lên xưng Vua Việt, nhưng chỉ là những Vua Việt không dày dạn chiến tranh như những vị Vua ở phương Bắc, những con cừu con xưng Vua mà thôi, chỉ cần quân ta tràn tới, thì chúng chỉ là con mồi cho chúng ta xơi.

 Ân Mao Vương nói:

   Phương Bắc luôn dòm ngó mãi phương Nam, chỉ cần có cơ hội là chiếm lấy, vì Bắc Văn Lang giàu có trù phú vô cùng, vàng, bạc, ngọc ngà, châu báu, nhiều vô số kể. Những thứ hiếm quý Bắc phương không bao giờ có. Hiện nay nước Văn Lang đến hồi suy vong, Bắc Văn Lang chia năm, xẻ bảy, nhiều Vua đã nổi lên, đây là cơ hội cho ta chiếm lấy Bắc Văn Lang, trước nước Tề, nước Sở, nước Ngô.

Hung Vương là tay đệ nhất háo chiến nói:

   Quân Hung Nô nhận lãnh đánh tiên phong.

Hồ Vương cũng là tay háo chiến không kém gì nói:

   Bắc Văn Lang rộng lớn vô cùng tha hồ mà tung hoành cướp bóc, chiếm lấy, cả ba chúng ta không ai nhường ai, hể ai chiếm được bao nhiêu thì là của người đó.

Thế là Tam Vương đánh chiếm Bắc Văn Lang. Quân Hồ, quân Hung Nô, quân Ân đều mạnh về thiết kỵ binh, vó ngựa vang rền biên giới Tây Bắc Văn Lang. Đã nhuốm  màu binh đao máu lửa, quân Hung Nô, quân Hồ, quân Ân, tràn qua như nước lũ.

***********

 PHẦN 3: XÂM LƯỢC

 

Cội nguồn văn hóa đã mất đi

Vận nước Văn Lang khổ li bì

Binh đao máu lửa ôi cùng khắp

Nồi da nấu thịt mạng còn chi

Cơ hội nghìn năm giặc tràn đến

Chúng xơi chúng nuốt béo phi phi

Tan nhà nát cửa xưa nay thế

Đồng bào tàn hại nước lâm nguy.

Đây nói về Bắc Văn Lang, tình hình càng về sau càng trầm trọng, các Bộ Lạc Bách Việt nổi lên đòi tự trị, tranh giành quyền lực, xưng Vua, xưng Chúa, thôn tính tiêu diệt lẫn nhau, không khác gì phương Bắc vài ba trăm nóc nhà  cũng xưng Vua, nồi da nấu thịt, thắng là Vua thua là giặc, xem đi xét lại giặc với Vua chẳng khác gì nhau.

Bổng quân Hung Nô, quân Hồ, quân Ân, từ phía Tây Nam nhà Chu tràn qua Tây Bắc Văn Lang như kiến. Chúng chia làm ba mũi thọc sâu vào đất Bắc Văn Lang trước sức mạnh quân Hung Nô, quân Hồ, quân Ân những Vua Việt nổi lên tự trị chống trả không lại đành phải bỏ mạng. Quân Ngô, quân Sở, quân Tề chiếm đóng trên đất Văn Lang biết chống trả không lại đành phải rút lui về đất Bắc. Quân Hung Nô, quân Hồ, quân Ân thế mạnh như chẻ tre, như trận hồng thủy tràn tới đâu là cuốn sạch tới đó. Chúng như ba con quỷ dữ nuốt nhanh chóng Châu Phủ, Quận, Huyện, Văn Lang. Huyện Tây Bắc, Huyện Tây Trung, Huyện Hạ Tây, nuốt luôn Châu Phủ Tây Châu, Tây Bắc Châu, giết chết Vua Di Việt, Vua Phiên Việt, nhanh chóng tràn xuống Bắc Văn Lang, chiếm lấy các Châu Phủ như lấy đồ trong túi, chiếm lĩnh Dương Giang Châu, Giao Giao Châu, Bắc Giang Châu. Giết chết Vua Dương Việt, Vua Giao Việt, Vua Trung Việt. Tam quân như ba con quỷ dữ hung tàn bạo ác vô cùng quy hàng thì sống, chống lại thời chết, ba con quỷ dữ nhanh chóng nuốt luôn Kinh Giao Châu, giết chết Vua Kinh Việt thọc sâu xuống sang bằng Đông Bắc Hải Châu, giết chết Vua Kiều Việt, tiến thẳng về phía Nam thôn tính Đông Hải Châu, giết chết Vua Đông Việt, tỏa rộng bao vây tóm gọn Hạ Giang Châu, giết chết Vua Điền Việt, chưa đầy một năm ba con quỷ nuốt trọn tất cả các Châu như thế, làm chủ gần một nửa Bắc Văn Lang. (Những vị Vua Việt bị giết chết nói trên là những vị Vua lớn ngang hàng với nước Sở, nước Ngô, nước Tống, nước Tấn, nước Ngụy, nước Yên, ở phương Bắc).

Thê thảm nào hơn thảm cảnh nầy

Quan hệ sói lang nạn là đây

Bất trung bất hiếu lìa cội gốc

Tôn thờ lũ giặc, giặc chuyển xây

Theo giặc, giặc hại luôn là thế

Làm giặc, thời giặc đến bủa vây

Chia năm, xẻ bảy, xưng hùng bá

Nắm đủa rả rời, giặc bẻ từng cây.

***********


PHẦN 4: KHỐN KHỔ

Nước loạn cơ nguy vốn xưa nay

Nồi da nấu thịt cảnh đọa đày

Đến khi thức tỉnh thời đã muộn

Cơ nghiệp còn đâu trắng trắng tay

Gông cùm xiềng xích thân nô lệ

Tự do mất hết họa tai bay

Sa vào cạm bẩy mưu phương Bắc

Nước mất nhà tan nhục thế thay.

Đây nói về Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ, Bắc Văn Lang, cố thủ chống trả quân Ân, đã hơn một trăm ngày chờ mãi viện binh không thấy đến, lương thực đã bắt đầu cạn lần, nguy khốn mỗi ngày một thêm chồng chất.

Hùng Lang Công vô cùng nóng lòng đi tới đi lui, lo lắng không yên lẩm bẩm: Quân Xích Linh sao không thấy tới cứu viện, còn quân Giao Châu nữa sao mà chậm trễ thế, hay có chuyện gì xảy ra không. Còn Lạc Hầu Công vào Kinh Đô Văn Lang cầu viện hơn tháng sao chưa thấy về, hay là bị giặc bắt rồi.

Hùng Lang Công càng nghĩ càng lo. Đang trong lúc lo lắng không yên, thì có quân vào báo:

   Bẩm Vương Công, quân Ân lại tới khiêu chiến.

Hùng Lang Công, cùng các Quan lên thành xem thấy từ doanh trại của giặc Ân ước lượng hơn năm nghìn quân chúng rầm rộ kéo tới kinh thành khiêu chiến. Tướng giặc quả là oai phong lẩm liệt, đầu đội kim khôi, mặc giáp đồng, cầm thanh đại đao sáng loáng có ngời, cỡi con ngựa trắng giọng nói vang như sấm, chỉ nhìn sự uy dũng của tướng giặc, cũng đã uy hiếp tinh thần đối thủ hết mấy phần rồi.

Tướng giặc đến trước cổng thành lớn giọng chửi rủa:

   Con cháu Tiên Rồng mà nhát như thế sao? Oai phong ông cha các ngươi đâu hết rồi, chỉ là một lũ bị thịt, thôi thì mở cửa đầu hàng, thì ta cho các ngươi con đường sống, trở thành dân nô lệ, còn nếu sợ quá cố thủ thì ta chờ các ngươi sạch ruột, làm thịt mới ngon.

Hùng Điền con của Hùng Lang Công nghe tướng giặc chửi rủa tức giận chịu không nổi, bằng nói với Hùng Lang Công rằng:

   Chúng ta đánh một trận với chúng có chết cũng cam, nổi nhục nầy không thể nào nhịn được.

Các tướng ai nấy cũng đồng tình lời nói của Hùng Điền: Thà chết nhất định không chịu nhục.

Hùng Lang Công nghĩ: Đã là con cháu Tiên Rồng thì còn sợ ai mà co đầu rụt cổ, có chết thời chết cho anh hùng. Bằng trao ấn lịnh cho Hùng Điền. Hùng Điền vô cùng mừng rỡ, bằng điểm hơn năm nghìn binh, mở cổng thành ra xông ra nghinh chiến với giặc.

Tướng giặc thấy người ra trận là một trung niên mặt trắng, đầu đội kim khôi, mình mang giáp đồng, tay cầm trường thương, cỡi con ngựa hắc long, oai phong lẩm lẩm.

Hùng Điền phi ngựa lao tới quát lên như sấm nổ:

   Tên giặc ngoại xâm hổn láo kia mau xưng tên họ rồi nạp mạng.

Tướng giặc ra oai không kém hét lớn:

   Loài Rồng thì ta còn ngán, còn loài giun thì ta chẳng coi vào đâu, mau xuống ngựa quỳ xuống ta cho cái chết toàn thây.

Hùng Điền không nói không rằng phi ngựa lao tới, trường thương vun vút nhắm đối thủ tấn công như vũ bão. Tướng giặc cũng không kém hét lên một tiếng phi ngựa lao tới xáp chiến, binh khí chạm nhau đinh tai nhứt óc, binh lính hai bên chiêng trống dậy trời.

Nhìn trận địa rền vang chiêng trống

Bụi mịt mù ngựa cuốn vòng  xoay

Thương đao chơm chớp trời mây

Ầm ầm trận địa giao tranh ầm ầm.

Đánh hơn năm mươi hiệp mà chưa diệt được kẻ thù Hùng Điền hét lên một tiếng, dùng chiêu Thái Sơn Áp Đỉnh, cộng với chiêu Âm Dương Sát Thủ như tia chớp đâm đánh tướng giặc, tướng giặc thấy trường thương chớp chớp cuốn tới như một trận lốc, thời thất kinh múa đao lên chống đở đùng đùng ầm ầm, tướng giặc sít chút nữa thời bỏ mạng. Tướng giặc không còn dám xem thường nữa, dùng tuyệt kỷ Yêu Đao phi ngựa chém tới ầm ầm, Yêu Đao chơm chớp như mưa sa, người ngựa phóng lên không chém xuống. Hùng Điền bình tỉnh dùng chiêu Ngọa Hổ Tàng Long, chống đở, hai bên đánh nhau kẻ tám lạng người nửa cân hơn trăm hiệp vẩn chưa phân thắng bại.

Quả là:

Con cháu Tiên Rồng vốn anh hùng

Trường thương vun vút đảo càn khôn

Mưa tuôn quyền pháp rền sông núi

Vó ngựa réo vang đánh dập dồn.

Hùng Điền quyết giết cho bằng được tướng giặc, nên trường thương càng lúc càng lợi hại, tướng giặc biết đánh không lại, bằng nghĩ ra một kế giả thua bỏ chạy giết chết Hùng Điền, quả là Hùng Điền đã trúng kế rượt đuổi theo tướng giặc, bất thình lình tướng giặc quăng lên không một vật tức thì một luồng khói độc tuông ra. Hùng Điền bất ngờ tránh không kịp bị khói độc tuông trúng xây xẩm mặt mày, tướng giặc quay ngựa trở lại nhanh như chớp chém Hùng Điền một đao bỏ mạng.

Quân Ân thắng thế ào ào lao tới đánh cho quân Văn Lang một trận tơi bời hơn năm nghìn người chỉ còn có mấy trăm. Hùng Lang Công thấy con chết vô cùng đau xót.

Hùng Tướng thấy em chết, vừa đau xót, vừa căm hận quân giặc, quyêt tâm trả thù cho em, liền nói với Hùng Lang Công rằng:

   Thưa cha, cho con ra trận giết thằng giặc đó trả thù cho em.

Hùng Lang Công cũng vô cùng căm tức, bằng nói:

   Con ra trận hết sức cẩn thận, không nên rượt đuổi theo tên giặc.

Hùng Tướng bằng điểm năm nghìn quân tinh nhuệ, mở cổng thành ào ào lao tới hò hét xáp chiến với quân Ân, tướng giặc Ân cũng ra oai không kém, hò hét thúc quân xáp chiến.

Thế là dậy núi dậy non

Quân reo, giáo đổ, kiếm tuôn ầm ầm

Quân ân khiếp vía rụng rời

Thây người gục ngã đất trời rung rinh

Bất ngờ yêu, quỉ, ma, tinh

Đầy trời xuất hiện rung rinh đất trời

Văn Lang quân tướng tàn đời

Phơi thây chiến trận ôi thời thảm thương

Vì dân vì nước hy sinh

Văn Lang Quân, Tướng, anh linh muôn đời.

Nói về Hùng Lang Công, cùng các tướng ở trên thành xem trận địa, thấy quân Văn Lang đánh quân Ân tơi bời, thây phơi chật đất, vui mừng vô kể. Cùng lúc ấy từ doanh trại của giặc Ân, thấy một bóng vụt lên hư không, thì ra đó là một nữ tướng, cỡi con ngựa thiên lý mã, chớp mắt đã tới trận địa.

Hùng Lang Công thất kinh thét lớn:

   Con ta nguy mất.

Chỉ thấy nữ tướng tay chỉ lên hư không, tức thời yêu, tinh, ma, quỉ, hiện ra đầy trời, mây đen cuồn cuộn, quân Văn Lang chỉ trong phút chốc chết không còn một mạng, từ đó Kinh Đô cố thủ cầu mong quân tiếp viện đến mà thôi.

*************


PHẦN 5: TỬ CHIẾN

 

Chúng dân lạc Cội nước khốn nguy

Binh đao máu lửa khổ li bì

Chồn, cáo, can qua ăn nuốt sống

Tan nhà nát cửa mạng còn chi.

Đây nói về Kinh Giao Châu, cách Kinh Đô không xa chỉ hơn 30 dặm, nghe Kinh Đô bị bao vây, liền bàn kế đưa quân tiếp ứng.

Lạc Đô Tướng nói với Quan Tổng Chính:

   Khi ta đưa quân đến cứu viện Kinh Đô, nếu có giặc đến tấn công thì cố thủ mà thôi.

Dặn dò xong đâu vào đấy. Đô Tướng liền mở cổng thành dẫn hơn một vạn quân nhanh chóng đến Kinh Đô, quân binh vừa đến Huyện Giao Trung, đến đồi Lạc Địa, thì nghe tiếng reo hò dậy trời dậy đất, quân Ân hiện ra lớp lớp, gươm đao giáo mác sáng ngời. Lạc Đô Tướng, thấy người dẫn đầu quân Ân là một nữ tướng trung niên vô cùng xinh đẹp, liền có ý coi thường.

Lạc Đô Tướng giục ngựa tới hét:

   Mau xưng tên họ, đàn bà con gái mà cũng ăn cướp xâm lược, gặp ta là coi như đã tới số, mau xuống ngựa chịu trói, thì ta cho cái chết toàn thây, bằng không xương thịt nát nhừ.

Không ngờ nữ tướng không sợ mà còn thét lên lanh lảnh:

   Ngươi đã gặp Sát Sát ta, thì ngươi đã hết con đường sống, trời sanh ra đất đai là không phải của riêng ai, người nào có tài thì người đó được. Văn Lang đã đến thời mạc, đất đai sẽ thuộc về người khác, mau quy hàng thì ta cho cái chết toàn thây.

Lạc Đô Tướng quát:

   Đồ hổn láo.

Rồi phi ngựa tới thét lớn:

   Nộp mạng đi.

Thanh đại đao chém tới với một sức mạnh kinh hồn, hai bên quân lính tướng tá, reo hò dậy núi dậy non. Không ngờ nữ tướng không cần né tránh đưa đao lên chống đở.

Đô Lạc Tướng thấy thế vui mừng quát:

   Xong đời nầy.

Không ngờ một tiếng ầm kinh thiên động địa, cả người lẫn ngựa bị dội ngược trở lại, lòng bàn tay đau buốt. Lạc Đô Tướng kinh hoàng như không tin ở mắt mình. Nữ Tướng quát lên lanh lảnh, giục ngựa lao tới đại đao vun vút chém tới, kình phong tuôn ra ù ù. Lạc Đô Tướng không còn xem thường nữa dốc hết sức bình sanh ra chống đở, hai ngựa quần thảo với nhau khói bụi mịt mù, binh khí chạm nhau đinh tai nhứt óc.

Lạc Đô Tướng càng đánh càng yếu thế, đánh nhau hơn năm mươi hiệp, Lạc Đô Tướng chỉ còn nhờ vào tuyệt chiêu cuối cùng may hạ gục đối thủ, liền hét lên một tiếng vận dụng hết sức bình sanh đánh ra tuyệt chiêu Liên Hoàn Đao Pháp ánh đao chớp chớp, liền biến ra ảo ảnh chín đường đao chém tới, quả là một chiêu vô cùng lợi hại.

Nữ tướng thấy chiêu đao pháp quá lợi hại như vậy, liền tàng hình biến mất. Lạc Đô Tướng thất kinh, chưa biết phải làm sao, thời nghe trên không có tiếng gió lao xuống, thất kinh Lạc Đô Tướng múa lên thiên vạn đao chống đở, chỉ biết ầm ầm đinh tai nhứt óc, bốn vó ngựa Lạc Đô Tướng lún sâu. Lạc Đô Tướng chưa hết kinh hồn, thì một tia chớp nổi lên Đô Tướng tránh không kịp trúng một đao bỏ mạng, sau có thơ khen rằng :

Sống ở đời, không ai là không chết

Vì non sông Tổ Quốc nguyện hi sinh

Dù có chết, chết vì dân vì nước

Mãi hùng anh trong nòi giống uy linh.

Quân Ân thắng thế reo hò vang dậy, ào ào xông tới tiêu diệt quân Văn Lang, quân Văn Lang như rắn mất đầu, hỗn loạn bị quân Ân tiêu diệt một cách dễ dàng.

Thảm thương con cháu Tiên Rồng

Ngoại xâm tàn sát đau lòng biết bao

Trời u tối một màng đêm đen thẳm

Lạc Cội Nguồn ôi thê thảm, thảm thê

Kìa trước mắt đầy hố thẳm chông gai

Cơ tạo hóa chuyển vần xoay nguy khốn

Giặc lan tràn khó tránh khỏi kiếp tai.

Đây nói về Quan Tổng Chính trong lòng cứ mãi hồi hộp không yên, đang ra sức cùng binh lính cũng cố trấn giữ Kinh Giao Châu.

Thì có quân binh vào thông báo:

   Bẩm Tướng Quân, quân ta đã thất trận tại Huyện Giao Trung, quân Ân đang kéo tới, bao vây Kinh Châu Đông như kiến.

Quan Tổng Chính nghe báo cáo rụng rời cả tay chân, liền cùng các quan lên thành xem coi, thì không khỏi thất kinh. Quân Ân kéo tới càng lúc càng đông bao vây Kinh Giao Châu. Quan Tổng Binh cùng các Quan, chỉ còn biết cố thủ tới đâu hay tới đó.

Cùng lúc ấy, Xích Linh Giao Châu đang chống trả với quân Hung Nô. Đây nói về Xích Linh Giao Châu, Lạc Hầu Vương nghe tin giặc Ân bao vây tấn công Kinh Đô, thì trong lòng kinh hãi, đâu mà nhanh đến thế, nếu giặc chiếm được Kinh Đô thời Bắc Văn Lang coi như đã thuộc về chúng.

Tức thời sai con là Lạc Hồng Hầu, thống lãnh một vạn quân nhanh chóng đến giải vây cứu viện Kinh Đô, đi ngay trong đêm. Khi đến đồi Mục Linh đường đi rậm rạp lại có gió lớn, nghe như có quân mai phục, quả đúng như vậy hai bên cây cối rậm rạp quân Ân mai phục, tên bắn ra như mưa, Lạc Hồng Hầu thất kinh vì sa vào ổ phục kích của giặc, lại sợ bị hỏa công bằng cho lui quân trở lại.

Bổng thấy đuốc lửa sáng ngời, quân reo dậy đất, một tướng đi đầu mình cao sáu thước mặt đen hung dữ râu ria lồm xồm, viên tướng ấy là ai? Còn ai nữa Hắc Quỉ một tướng tài của quân Ân.

Hắc Quỉ quát:

   Ta đợi ngươi ở đây đã lâu, mau cúi đầu chịu trói.

Lạc Hồng Hầu quát lên như sấm nổ:

   Xông lên tử chiến với quân cướp nước, thế là quân Văn Lang ào ào xông tới xáp chiến gươm, đao dậy trời.

Trong phút chết, còn chi để mất

Chí hùng anh trong phút chốc cũng vui

Nào xông lên nầy hỡi anh em

Đường quyết tử, ta xông lên quyết tử

Kiếm đã gào thời quân thù phải ngả

Nào tiến lên, nào quyết tử xông lên.

Trước khí thế đầy hào hùng của quân Văn Lang, khó mà hạ gục nhanh chóng cho được, hai bên đánh nhau tới sáng, quân Ân tuy chủ động nhưng cũng không tiêu diệt hết nổi quân Văn Lang. Lạc Hồng Hầu dẫn tàn quân lui về Xích Linh Châu, hai vạn quân đã chết hơn phân nửa.

Lạc Hồng Hầu mình mẩy đầy thương tích nói với Lạc Hầu Vương rằng:

   Tình hình vô cùng nguy cập quân Ân, phục kích khắp mọi nơi, chúng phục kích khắp các ngã đường chính yếu tiếp viện, khó mà cứu viện cho được.

Lạc Hầu Vương cũng hiểu rõ tình hình vô cùng nghiêm trọng nói:

   Con giữ được mạng sống là may rồi.

Lạc Hầu Vương, lúc nào cũng lo lắng không yên chỉ biết nhìn Bắc Văn Lang mất lần về tay giặc, nhất là từ khi Lạc Hồng Hầu thất trận.

Trong lúc bàn bạc cùng các Quan, thì có quân vào báo:

   Giặc Hung Nô đã chiếm lấy Quý Linh Giao Châu, khói lửa ngập trời, chúng như những con quỷ dữ đi đến đâu thời chết chóc nhà tan cửa nát đến đó, đàn bà con gái bị chúng hãm hiếp cho đến chết, gà chó cũng không còn, vơ vét vàng, bạc, ngọc ngà, châu báu, nói chung là không chừa một thứ gì, kể cả lương thực. Quân binh các Quận Huyện, không có sự liên kết, như những đóm lửa nhỏ, nên bị quân Hung Nô dập tắt, quét sạch một cách dễ dàng, tất cả đều thiệt mạng.

Lạc Hầu Vương than:

   Mất đi Văn Hoá Cội Nguồn là mất đi tất cả, tinh thần dân tộc bị suy sụp, dân chúng bị văn hóa phương Bắc làm hại, đầu độc, làm tan rã sự đoàn kết, chia năm xẻ bảy, tranh giành quyền lực thời tránh sao khỏi ngoại xâm thôn tính. Hơn nữa sự giàu có, đất đai trù phú của Bắc Văn Lang luôn luôn khơi dậy lòng tham lam thèm khát của những tên bạo chúa, nhất là những tên tham vọng lớn hung sùng ác sát phương Bắc, chúng dùng hết mưu kế nầy đến mưu kế khác, miễn sao chiếm lấy được Bắc Văn Lang. Sự lơ là mất cảnh giác đã dẫn đến hậu quả sa vào kế sách của chúng, như cá nằm trong lưới, khó mà thót khỏi kiếp nạn, mong gì bình ổn lại cho được. Quân Ân, quân Hung Nô, quân Hồ vốn quá mạnh lại có yêu tinh phò trì, không dễ đánh bại được chúng. Chỉ còn chút hy vọng là nhờ quân chủ lực Văn Lang đến giải cứu, đẩy lui quân giặc. Nhưng nào có thấy gì đâu?

Lạc Hầu Vương chỉ biết thở dài, chỉ còn biết tới đâu hay tới đó. Đang lúc buồn rầu, thời có quân vào báo:

   Bẩm Hầu Vương, quân Hung Nô đang ồ ạt tiến về Xích Linh Giao Châu, tiến đánh chúng ta.

Nghe quân báo tình thế mỗi lúc một nguy cơ dồn dập, Lạc Hầu Vương, cùng các quan lên thành xem nhìn về hướng Bắc thấy khói bụi mịt mù, quân Hung Nô chia nhau thành nhiều mũi tiến về Xích Linh với thần tốc kinh người.

Đây nói về quân Hung Nô như nhiều cơn lốc kéo đến bao vây Xích Linh Giao Châu, chúng không tấn công ngay mà chỉ đóng trại bao vây mà thôi.

Hung Nô Vương tập hợp các tướng lãnh lại nói rằng:

   Chúng ta chưa thể tấn công chiếm lấy Xích Linh Châu được đâu, vì Xích Linh Châu không phải như những Châu phiến loạn, mà là những quan quân đầy lòng trung hiếu quyết bảo vệ Văn Lang. Chúng ta sở dĩ chiếm lấy các Châu Thành cũng như hàng loạt Quận, Huyện, tiêu diệt hơn mười Vua Việt là những vị Vua nổi lên đòi tự trị, phản loạn, phản bội lại nhà nước Văn Lang, đánh mất có lòng trung thành đối với Tổ Quốc, tự mình đánh mất sự đoàn kết dân tộc, tôn thờ văn hóa phương Bắc, nên chúng ta mới tiêu diệt chúng dễ dàng như vậy. Còn đây là Xích Linh Châu, những Châu chưa nổi lên đòi tự trị, xưng Vua, xưng Chúa, thì khó mà tiêu diệt nhanh chóng cho được, phải có nhiều kế sách hay mới tiêu diệt được chúng, vì thế càng tiến sâu vào đất Văn Lang chúng ta gặp nhiều khó khăn.

Các Tướng lĩnh Hung Nô tuy nghe Hung Nô Vương nói thế, nhưng trong lòng thì xem thường quân Văn Lang.

Nói về Lạc Hầu Vương cùng các Quan Tướng thấy quân Hung Nô cờ xí rợp trời từ các mũi lao tới bao vây cung thành đông như kiến, chúng không tấn công liền mà chỉ đóng trại bao vây xung quanh cung thành, một ngày rồi đến hai ngày, nổi lo lắng Lạc Hầu Vương đã hiện rõ trên sắc mặt, gầy đi thấy rõ, chưa tìm ra kế sách gì để chống trả lại quân giặc chỉ biết ra quân cố thủ cung thành được ngày nào hay ngày nấy.

Thấy các Quan cứ im lặng mãi, Lạc Kim Tiên nói:

   Theo lời xưa có kể lại rằng, Quốc Tổ Vua Hùng là đấng Chí Tôn Thiên Đế đầu thai, con lớn của Đức Cha Trời, yêu tinh quỉ dữ nhìn thấy uy danh của người đều khiếp sợ, Xích Linh Giao Châu ta có thờ chân dung của người, sao không cho người họa hình ra cũng như viết uy danh của người lên cờ đem cắm lên những chỗ yếu điểm trong cung thành, thì may ra chống đỡ được yêu tinh quỉ dữ.

Đến lúc nầy đâu còn cách nào hơn, là làm theo lời của Lạc Kim Tiên. Lạc Hầu Vương, cho người họa hình Quốc Tổ, cũng như viết lên uy danh Quốc Tổ trên những lá cờ chính, cắm lên những nơi chính yếu quan trọng của cung thành.

Nói về quân Hung Nô đến ngày thứ ba, thì các doanh trại đều chuyển động như có cuộc xáp chiến xảy ra, chúng duyệt binh liên tục, khí thế hừng hực, những đoàn quân thiết kỵ của chúng chuyển động thần tốc như đội quân ma quỷ, thấy mà rùng mình. Biết có biến cố sắp xảy ra, các quan tướng trong thành tập trung cao độ, cho tinh thần quyết tử, vì non sông Tổ Quốc mà hi sinh.

Mặt Trời xuống núi không lâu, thành Xích Linh chìm trong màn đêm u tối, trên bầu trời các vì sao lấp lánh lúc mờ lúc tỏ, bởi những đám mây che khuất, nhưng cũng thấy được giặc Ân, giặc Hung Nô dẫm đạp lên quê hương mang theo mùi máu tanh của lũ ác quỷ

Chúa Vương Hung Nô đang đọc Thần chú triệu yêu, ma quỉ dữ đến, rồi ra lịnh cho quỉ dữ yêu ma, bay vào thành đánh phá quân Văn Lang, làm cho quân Văn Lang khiếp đảm rối loạn, nhất là những quan binh trấn giữ cổng thành, lũ yêu tinh, ma, quỷ tuân lệnh rồi tức tốc bay vào thành Xích Linh, chúng làm phép trời đất tối tăm mù mịt, cuồng phong nổi dậy ù ù cờ xí gãy sạch chỉ còn một số không hề hấn gì. Vương Quan binh lính kinh hồn bạc vía, bóng ma bóng quỉ chập chờn khắp nơi, quân binh rối loạn.

Lạc Hầu Vương, cùng các quan kinh khiếp thét lớn:

   Yêu tinh ma quỷ đã tấn công thành chúng ta, bình tỉnh chống trả lại chúng.

Trong lúc nguy cơ hỗn loạn ấy, từ những cây cờ đề bốn chữ Chí Tôn Thượng Đế cũng như những cây cờ có treo hình Quốc Tổ đồng loạt phát ra tia sáng, làm cho yêu tinh, quỉ ma, tan biến hết thảy. Bổng bầu trời trở nên trong sáng, muôn vạn vì sao nhấp nháy, như che chở cho thành Xích Linh.

Chúa Vương Hung Nô lấy làm kinh dị nói:

   Chuyện gì xảy ra thế! Chuyện gì xảy ra thế!

Đang lúc hoang mang, thời thấy một con quỷ xuất hiện, run sợ nói:

   Có Thượng Đế che chở, có Thượng Đế che chở.

Nói xong biến mất. Hung Nô Vương tuyền lệnh không tấn công nữa, trời sáng tỏ, Hung Nô Vương cùng các tướng lĩnh, nhìn lên thành thấy có một số cờ đề bốn chữ Chí Tôn Thượng Đế, cũng như có một số cờ treo hình một người.

Các Tướng lĩnh Hung Nô nói:

   Ai mà có quyền lực đến thế?

Hung Nô Vương nói:

   Còn ai nữa đó là người khai lập dựng lên nước Văn Lang.

Các Tướng lĩnh nói:

   Người chết đã hơn hai nghìn năm mà còn oai linh như thế sao?

Hung Nô Vương nói:

   Ta cũng không tin, nhưng yêu tinh quỷ dữ khiếp sợ như vậy không tin cũng không được.

Một số Tướng lĩnh Hung Nô nói:

   Chỉ là hình vẽ, với mấy chữ kia thì làm gì được chúng ta.

Chúa Hung Nô như tỉnh ngộ nói:

   Các Tướng nói đúng chỉ vài chục hình vẽ, với mấy chữ kia thì làm gì được chúng ta.

Hung Nô Vương ra lệnh:

   Bắt tất cả tù binh làm thang giây, gom hết tất cả dầu trong dân, cũng như dầu trong các Châu Thành lấy được, những dụng cụ công phá thành chiếm được khắp nơi chuyển hết tới đây, lấy vũ khí của địch giết địch.

Lạc Hầu Vương cùng các Quan trên thành thấy quân Hung Nô đang ra sức tạo ra khí cụ công thành thời kinh hãi, quân Hung Nô vốn đã đông, lại biết sử dụng tù binh làm ra khí cụ công thành, thì biết ngày tận cùng thành Xích Linh đã đến.

Cây mất Gốc rũ cành héo ngọn

Người mất Nguồn đại họa hung tin

Nhà tan nước mất tan thương

Thân tàn nô lệ còn chi cuộc đời

***********

PHẦN 6: KIẾP NẠN

 

Nói về bách tộc Văn Lang có một số bộ lạc Bách Việt, hấp thụ theo văn hóa phương Bắc, nổi lên đòi tự trị xưng Vua, xưng Chúa, không khác gì ở phương Bắc, chỉ cần vài trăm nóc nhà thời xưng Vua, xưng Chúa tự trị một vùng.

Đây chính là cơ hội cho phương Bắc chiếm lấy Bắc Văn Lang, một cách dễ dàng.

Quân Hồ, quân Ân, quân Hung Nô, tràn qua chiếm lấy Huyện Tây Bắc, Huyện Tây Trung, Huyện Hạ Tây, rồi chia nhau làm ba mũi đánh chiếm Bắc Văn Lang.

Quân Hồ đánh phía Tây Bắc Văn Lang, quân Hung Nô tiến dọc theo biên giới Bắc Văn Lang thọc sâu xuống Đông Bắc Văn Lang, rồi tiếng sâu vào đất Văn Lang. Quân Ân tiến theo trung lộ đánh thẳng vào Kinh Đô Bắc Văn Lang, tức là Nam Kinh Xích Quỷ.

Quân Hồ khi tiến qua Huyện Tây Trung tiến đánh Phủ Tây Châu, giết chết Vua Tây Việt  chiếm lấy Hồ Châu, giết chết Vua Man Việt, chiếm lấy Âu Sơn Châu, giết chết Vua Sơn Việt, những bộ lạc hùng mạnh Tây Bắc nổi lên đòi tự trị xưng Vua, làm sao chống lại quân Hồ đành phải thiệt mạng, chết thê chết thảm.

Về sau có thơ rằng:

Cái dại nào hơn cái dại nầy

Chia bè rẽ phái lợi gì đây?

Cấu xé giành nhau tranh quyền bá

Ngoại xâm kéo đến nát tan thây.

Quân Hồ tràn qua Tây Bắc Văn Lang, tàn sát chết chóc tan thương, gào thét làm mưa làm gió, những người yêu nước căm giận vô cùng, đau buồn khôn tả, nhìn cảnh giặc cướp phá, giết chóc, hãm hiếp phụ nữ, tàn hại trẻ con, những người còn sống, chúng bắt làm nô lệ, đánh đập dã man, trước thảm cảnh nước mất nhà tan, đau đớn vô cùng.

Quân phiến loạn ra sức chống cự quân Hồ, nhưng khác nào bầy dê xông vào bầy cọp, làm cho cọp béo mập thêm. Quân Hồ tiến sâu vào Tây Bắc Văn Lang như đi vào chỗ không người, chiếm hết Châu Phủ nầy đến Châu Phủ khác, quân phiến loạn nổi lên đòi tự trị, quỳ mạp sát đất dưới chân quân Hồ.

Sau có thơ rằng:

Con cháu Tiên Rồng đó phải chăng

Hay là lũ chuột, chỉ tranh ăn

Chia năm xẻ bảy quên tuyền thống

Hậu quả là đây, giặc nuốt ăn.

Nói đến chiến tranh xâm lược phương Bắc, không chỉ xâm lược bằng binh hùng tướng mạnh, mà còn xâm lược bằng con đường họp tác ngoại giao, toàn diện, xâm lược bằng con đường văn hóa, làm cho dân tộc Văn Lang mê muội quên đi Nguồn Cội, quên đi truyền thống Anh Linh của cha ông, mắt vào kế sách mưu gian của chúng, đến khi phát hiện thì không còn kịp nữa để mà chống trả.

Về sau có thơ rằng:

Nhân tình thế thái vốn xưa nay

Lầm mưu gian kế, giặc mưu bày

Đến khi hiểu rõ thời đã muộn

Nước mất nhà tan cảnh trắng tay.

Nói về quân Hồ càng lúc càng tàn ác chúng lấy sạch, giết sạch, đốt sạch, chúng như đàn quỉ dữ ăn thịt người, uống máu người, trước tình cảnh nầy ai mà không căm hờn, đau lòng, xót dạ.

Về sau có thơ rằng:

Một lũ yêu tinh quá bạo tàn

Giết người, hút máu, chúng ăn gan

Con gái, đàn bà, ôi thê thảm

Chúng vùi, chúng dập nát nát tan.

Đây nói về Kiến Giao Châu, có vị quan Trung Chính, Châu Phủ. Châu An ngày đêm đốc thúc binh lính cũng cố trấn giữ châu thành.

Đang lúc hợp bàn cùng các Quan các Tướng, thời có quân vào báo:

   Bẩm Thượng Quan quân Hồ đang kéo đến bao vây Châu Thành.

Châu An cùng các Quan lên thành thấy hướng Tây Bắc khói bụi mịt mù, chúng chia ra làm nhiều mũi lao tới bao vây thành Kiến Giao, vó ngựa vang rền uy hiếp tinh thần đối thủ, chúng như những đàn kiến mỗi đàn dài hơn mười dặm, uốn lượn, ngoằn ngoèo lúc thời bung ra lúc thời nhỏ lại ai nhìn thấy cũng phải khiếp kinh.

Châu An có người con gái là Châu Tiên có học được pháp thuật, nên Châu An đặc hết niềm tin vào người con gái nầy, may ra chống trả lại quân thù xâm lược.

Châu Tiên nói với cha:

   Khi con còn học Đạo với thầy con nếu gặp lúc vô cùng nguy cấp, thì lập đài tế lễ khấn vái Quốc Tổ, thì có thể tai qua nạn khỏi.

Nghe lời con Châu An cho lập đài tế lễ sẳn, khi cần thời lên đài tế lễ ngay. Cùng lúc ấy quân Hồ kéo đến bao vây thành Kiến Châu một lúc một đông, chúng không tấn công liền mà chỉ đóng trại bao vây.

Qua ba ngày sau từ doanh trại lớn của quân Hồ, xuất hiện một tướng lĩnh dẩn theo chừng năm trăm quân tiến đến cổng thành Kiến Châu, mở giọng hách dịch lớn lối nói rằng:

   Nầy Quan Hữu Chánh, Châu An mở cửa thành đầu hàng đi thì ta tha cho con đường sống, bằng không con gà con chó cũng không còn, không bao lâu nữa nước Văn Lang sẽ biến mất, ngươi không thấy sao, Bắc Văn Lang mất rồi chỉ còn thành Kiến Châu nhỏ bé, ta chỉ cần ra tay thành Kiến Châu sẽ trở thành bình địa. Đến giờ nầy mà con cháu Tiên Rồng gì nữa, con giun thì có, mau mở cửa thành đầu hàng đi.

Châu An cùng các Tướng tức giận đến muốn vỡ lồng ngực, nhất là Châu Tiên. Châu Tiên nói:

   Cha cho con ra trận giết quách thằng khốn nạn kia cho hả cơn tức giận, làm cho quân Hồ khiếp vía mà rút lui.

Châu An biết con gái mình võ nghệ cao cường, pháp thuật cao siêu, nhưng đối thủ là Tướng nam khó mà đối địch. Châu Tiên biết ý cha liền nói:

   Cha yên tâm con biết tự lượng sức mình.

Châu An cực chẳng đã mới để Châu Tiên ra trận, cổng thành vừa mở một nữ Tướng mắt Phụng, mày ngài, mặt hoa, da phấn, lưng ong, ngực nở, không cần mặt áo giáp gì cả, xinh đẹp mãnh mai, như Tiên giáng trần, tướng giặc vừa thấy như bị hút hồn, bỡi sắc đẹp chim sa cá lặng.

Châu Tiên, thấy Tướng giặc ngơ ngác như bị hút hồn, thời quát lớn:

   Quân cướp nước kia đã gặp ta thời hết con đường sống, mau xuống ngựa chịu trói.

Nghe tiếng quát Tướng giặc liền tỉnh hồn. Với con mắt thèm khát, nhìn Châu Tiên chầm chầm như muốn ăn tươi nuốt sống.

Tướng giặc thốt lên:

   Đẹp quá, đẹp quá ta chưa từng thấy bao giờ, bắt sống về làm đồ chơi.

Nói xong tướng giặc thúc ngựa lao tới chém một đao, nhanh như tia chớp, chụp bắt Châu Tiên, không ngờ Châu Tiên biến mất, một tia chớp nổi lên. Tướng giặc kinh hoàng nhưng không còn kịp nữa, bị Châu Tiên chém rụng mất cánh tay, khiếp đảm quay ngựa bỏ chạy.

Châu Tiên quát:

   Chạy đâu cho thoát, tức thời Tiên Kiếm phóng theo một tiếng rú thê thảm Tướng giặc bỏ mạng.

Kết cuộc xâm lăng mạng đi đời

Bỏ mạng sa trường thảm ghê nơi

Tham tàn bạo ác đời là thế

Trận địa vùi chôn xát thân phơi.

Quân Văn Lang thắng thế ào ào xông lên đánh quân Hồ tơi tả, sợ con sa vào bẫy giặc bằng cho người đánh trống thu quân.

Nói về Hồ Nghi Vương, đứng trên vọng đài thấy con là Hồ Bá Thi chết thê thảm, tức quá hét lên:

   Mau bắt tên yêu nữ kia cho ta.

Hồ Mị Hoa nói:

   Để con.

Bằng phi thân xuống đài cỡi con Thần mã Bạch Long Câu, phi nhanh ra trận địa, Châu Tiên định tới chặt đầu Tướng giặc, thì nghe tiếng trống thâu quân, liền quay đầu ngựa trở lại.

Bổng nghe trên không có tiếng quát:

   Nạp mạng đi.

Tức thời một luồng kình phong ập xuống, nhanh như chớp Châu Tiên thúc ngựa né tránh, ầm ầm hai luồng chưởng đánh xuống không trúng Châu Tiên tạo hai cái hố. Châu Tiên thấy người đánh mình là một nữ Tướng xinh đẹp, tuổi xấp xỉ nhau không hơn không kém.

Châu Tiên quát:

   Ngươi là ai? Sao đánh lén ta.

Tướng nữ xuất hiện quát:

   Ta sợ gì ngươi mà đánh lén.

Châu Tiên quát:

   Quân xâm lược kia tên họ là chi, mau rút quân về Bắc thời ta tha cho tội chết.

Hồ Mị Hoa nói:

   Ngươi không xứng đáng hỏi tên ta.

Nói xong cô ta thúc ngựa lao tới thanh kiếm trên tay như Rồng bay Phụng múa, chém tới nhanh như tia chớp. Châu Tiên nào chịu thua kém, đôi kiếm trên tay như mưa sa bão táp, dồn dập tấn công liên miên, cánh Phụng tung bay phất phới, quần nhau càng lúc càng nhanh, kiếm qua kiếm lại rền vang trận địa.

Đúng là:

Một bên bão táp mưa sa

Một bên dông tố cuồng phong ầm ầm

Đánh nhau cát bụi mịt mù

Đánh nhau núi lở nghiêng đồi khiếp kinh

Châu Tiên hóa phép liên miên

Sấm rền trời đất, gươm Thiên khắp đầy

Mị Hoa càng đánh càng hay

Vung tay trời đất tối thui mịt mùng

Yêu tinh xuất hiện trùng trùng

Thét gào nhứt óc đùng đùng tấn công

Châu Tiên biết đánh không xong

Hóa ra một trận cuồng phong chạy dài

Thâu quân trở lại cung thành

Ngày đêm cố thủ chờ thời chuyển xây.

Nói về Châu Tiên thấy yêu nữ quân giặc vô cùng lợi hại, khó mà đánh thắng được, bằng lui quân vào thành cố thủ, quân giặc đến khiêu chiến không ra nữa. Châu An cùng các Tướng lĩnh thấy quân Hồ như có điều chi khác lạ hình như là chuẩn bị cho sự tấn công quy mô.

Tướng lĩnh Cao Khang nói:

   Tối nay nhất định quân Hồ tấn công Châu Thành ta.

Châu Tiên cũng nghĩ như thế nói với Châu An:

   Cha hãy cho quân binh chủ động biết trước tối nay tử chiến với chúng.

Quả đúng không sai bên vọng đài quân Hồ, đang tế lễ Hồ Nghi Vương làm phép triệu tập yêu tinh, quỉ dữ, hàng trăm hàng nghìn, tối nay bay lên thành gây rối loạn quân binh, thời tức tốc đồng loạt tấn công chiếm lấy Châu Thành, vì đã chuẩn bị trước.

Châu Tiên ngửi có mùi yêu khí liền nói với cha:

   Hãy mau lên đài tế lễ cầu nguyện Anh Linh Đức Quốc Tổ, không còn chần chờ gì nữa.

Bổng thấy trời đất tối mù tối mịt, cuồng phong nổi dậy ầm ầm, quân binh đốt lửa không được, cờ xí gãy đổ, lại nghe rào rào dưới chân thành, quan binh la hoảng quân Hồ leo tường tấn công, đốt lửa lên không được vì cuồng phong quá lớn, tiếng binh khí đã bắt đầu chạm nhau.

Châu An bình tỉnh cầu nguyện Anh Linh Quốc Tổ, chiến trận đã nổ dòn, bổng trên hư không sấm sét nổi lên đánh xuống ầm ầm mây tan, gió tạnh, yêu tinh quỉ dữ, tan biến không còn. Quan quân đốt lửa sáng rực trời, thấy quân Hồ leo tường lớp lớp bằng ném đá, bắn tên, đổ dầu, phá hỏng các thang dây, quân Văn Lang chiến đấu anh dũng lợi thế có cung thành, một người có thể hạ gục năm mười tên, quân hồ chết thôi là chết, đánh tới sáng quân Hồ thiệt hại vô kể, quân Văn Lang thắng trận vẻ vang.

Từ đó quân Hồ biết khó nuốt thành Kiến Châu, chỉ còn cách là bao vây, cho quân binh trong thành kiệt quệ lương thực rồi mới ra tay, chúng tản ra vơ vét của cải dân chúng, cắt đứt các ngã đường cứu viện tiếp viện.

Cha ông trở lại cõi trần

Cứu con cứu cháu thoát vòng tai ương

Miễn sao con cháu đừng quên

Cội Nguồn nhớ mãi hiển Linh đời đời.

Đây nói về trên tầng trời thứ hai, Đông Nam Thiên Cung, có vị Thiên Đế Ngọc Long, đã từng đầu thai xuống trần mở ra thời đại Kinh Dương Vương, lập lên nước Xích Quỷ, Giao Chỉ.

Câu chuyện như sau: Tiểu kiếp thứ 8 kết thúc, những người còn sống sót, trở thành thỉ tổ Hồng Hoang, đầu tiểu kiếp thứ 9, kiếp tăng, tuổi thọ thuỷ tổ Hồng Hoang rất ngắn, trung bình chỉ 10 tuổi, thọ 20 tuổi, đại thọ 30 tuổi, yểu 1 tuổi. Cứ 100 năm tăng lên 1 tuổi, và tăng mãi cho đến khi tuổi thọ trung bình là 8 muôn 4 nghìn tuổi. Trải qua 8 triệu 4 trăm nghìn năm, tức là hết kiếp tăng đầu kiếp giảm, chuyển sang giai đoạn Hồng Bàng, và cứ 100 năm giảm xuống 1 tuổi, và giảm mãi xuống nhân loại con người tuổi thọ trung bình chỉ còn 30 nghìn tuổi, thì chuyển sang giai đoạn Hồng Chúa. Nhân loại con người tuổi thọ tiếp tục giảm xuống chỉ còn 10 nghìn tuổi, thì chuyển sang giai đoạn Hồng Đế, và giảm xuống tuổi thọ nhân loại trung bình chỉ còn 1 nghìn tuổi, thì đi vào giai đoạn cuối thời Hồng Đế, (giai đoạn Hồng Chúa, Hồng Đế, đều nằm trong niên đại Hồng Bàng). Giai đoạn cuối thời Hồng Đế kéo dài hàng chục nghìn năm. Đến thời Hồng Đế cuối cùng hạ sanh quí tử, khôi ngô tuấn tú, lớn lên thông minh, tài trí khác phàm, tên là Hồng Viêm, vì lúc Hồng Nương sắp sanh quý tử, liền thấy Thiên Thần đến lễ bái nói, Viêm Đế Thần Nông đầu thai xuống trần, mở ra thời đại mới, các Thiên Thần nói xong rồi biến mất. Hồng Nương sanh ra quý tử, Hồng Chúa liền đặc tên cho con là Hồng Viêm. Hồng Viêm càng lớn càng thông minh kỳ lạ, trở thành Nhà Bác Học nông nghiệp, đầu tiên của niên đại Hồng Bàng, có công  tôm góp những giống lúa hoang dại (hay còn gọi là cỏ Trời) mọc theo đầm lầy, giống ngô khoai hoang dại mọc nơi đồi rừng. Lai tạo ra nhiều giống lúa thuần chủng, giống ngô khoai thuần chủng, cho năng xuất cao. Mở ra thời đại mới, thời đại văn minh của nền lúa nước, nông nghiệp ngô khoai. Đem lại sự no cơm ấm áo cho con người. Khi lên ngôi thay cha Hồng Viêm đổi niên hiệu, từ niên hiệu Hồng Đế, chuyển sang niên hiệu VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG, Quốc Tổ VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG Truyền xuống được 5 đời, tới đời thứ năm Viêm Đế Thần Nông. Đế Nương, một hôm ngủ say trong giấc chiêm bao, thấy một con Rồng to lớn, bay tới gần bà rồi biến mất, sau đó thì mang thai. Đến ngày khai hoa nở nhị, thì trên bầu trời mây đen cuồn cuộn, hiện ra mây Rồng rồi mưa xuống một trận lớn, làm cho lúa ngô, khoai sắn, tươi tốt. Nên Viêm Đế Thần Nông đời thứ năm, đặc tên cho con là Đế Tôn Long Đế, Đế Tôn Long Đế, càng lớn càng khôi ngô tuấn tú, dũng mãnh phi thường, có sức mạnh dời non lấp biển, khai phá đất đai rộng mở, đem lại sự phồn thịnh no cơm ấm áo cho người dân, dân chúng sùng kính vô cùng, lực lãm không ai bằng, nên dân chúng thường gọi Đế Tôn Long Đế là Đức Sùng Lãm. Đế Tôn Long Đế, Đức Sùng Lãm, lên ngôi thay cha trị vì thiên hạ, liền đổi niên hiệu. Từ niên hiệu Viêm Đế Thần Nông, chuyển sang niên hiệu KINH DƯƠNG VƯƠNG, Quốc Tổ KINH DƯƠNG VƯƠNG, truyền xuống được chín đời. Đến đời Kinh Dương Vương, đời thứ 9. Sau một chuyến tuần du nơi động Đình Hồ Kinh Dương Vương gặp Thần Long Nữ, Bộ Lạc Long Giao. Kết duyên phu phụ, thành vợ thành chồng. Một hôm Thần Long Nữ trong lúc mơ màng thấy chốn nhân gian mây đen cuồn cuộn yêu tinh quỷ dữ đầy trời, nhân loại lầm than khốn đốn, mất đi quyền sống, quyền tự do, quyền công bằng, quyền bình đẳng, ngục tù cùng khắp, cực hình thê thảm vô cùng. Đang trong lúc kinh hoàng sợ hãi, thì thấy một vị Chí Tôn Thiên Đế xuất hiện, tay cầm Thiên Ấn, tay cầm Thiên Bút, Thiên Bút biến mất, Thiên Ấn hóa thành Gươm Thiên Trí Huệ, phát ra ba đạo hào quang. Mỗi lần Gươm Thiên Trí Huệ vung lên, tức thời hàng loạt tiếng sấm nổi lên, vô số mặt trời hiện ra, yêu, tinh, quỉ dữ liền tan biến hết, bóng đêm chẳng còn, trời quang mây tạnh, muôn hoa đua nở, mùa xuân phơi phới, thái bình an lạc. Thần Long Nữ đem việc thấy kỳ lạ đó kể cho Kinh Dương Vương nghe, từ đó Thần Long Nữ mang thai. Đến ngày khai hoa nở nhị, thời hoa lan khắp nơi đều nở rộ, hương thơm khắp cả nước non, cộng thêm với điềm chiêm bao của Thần Long Nữ, một đấng anh hùng cái thế, nên đặc tên cho con là Hùng Lan. Hùng Lan, lớn lên không những khôi ngô tuấn tú, mà Đạo Đức, trí huệ, có một không hai, có bốn Đức tính nổi bật mà ai cũng thấy, bốn Đức tính đó là Hùng – Bi – Trí – Đức, với bốn Đức tính nầy, tuy còn nhỏ nhưng đã vang danh thiên hạ. Khi Hùng Lan, lên ngôi trị vì thiên hạ thay cha, liền chuyển niên hiệu. Từ niên hiệu KINH DƯƠNG VƯƠNG. Chuyển sang niên hiệu HÙNG VƯƠNG, Niên đại HỒNG BÀNG, chuyển sang niên đại ÂU LẠC, đổi tên nước từ nước XÍCH QUỶ, thành nước VĂN LANG. Mở màn Văn Hoá Cội Nguồn ra đời, trở thành nền Quốc Đạo đầu tiên của nhân loại. Giai đoạn ĐỒNG BÀO, đoàn kết thống nhất, một 100 bộ lạc đều lấy chung một chữ VIỆT, gọi là Bách Việt, dân tộc Siêu Việt Anh Linh, nòi giống Rồng Tiên ra đời, nòi giống con Trời, thừa kế cơ nghiệp tạo hóa cha ông. Sau cuộc giao tranh với quân ÂU LẠC, Đế Lai, Đế Nghi, Đế Minh thua trận rút lui về phương Bắc bên kia sông Trường Giang, con gái của Đế Lai, là Đế Cơ Công Chúa, sắc nước hương trời, lại thêm pháp thuật thần thông cao cường, chăn tằm dệt vải đều thông giỏi, tài Đức, công – dung – ngôn – hạnh, có một không hai chốn nhân gian. Đế Cơ Công Chúa, phi ngựa qua sông Trường Giang thả mình vân du, lạc đến động Lăng Xương, xem hoa dạo cảnh. Tạo hóa xe duyên, gặp lúc Vua Hùng cũng đang vân du chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên hùng vĩ, tạo hóa an bày hai người gặp nhau, rồi yêu nhau kết thành phu phụ, nên duyên chồng vợ. Về chung sống ở Phong Châu Nghĩa Lĩnh, Kinh Đô Văn Lang. Từ đó Nam Bắc sông Trường Giang, hai phương giao hòa Âu ca thịnh trị. Quốc Tổ Hùng Vương, cùng Quốc Mẫu ăn ở ít lâu, sanh con đẻ cái, lập trưởng nam kế tục ngôi Vương, truyền xuống được 23 đời, gọi đó là thượng Hùng Vương. Hùng Vương đời thứ 23 không con, nên nhường ngôi cho con của em, là cháu dòng thứ Hùng Cừ, truyền xuống được 18 đời, gọi đó là hạ Hùng Vương. Vua Hùng Vương thứ 18 có con trai nhưng chết yểu lúc còn nhỏ, thành ra không có con trai kế vị. Nên nhường ngôi cho con rễ là Nguyển Tuấn, (tức là Tản Viên). Thục Phán là cháu thứ của Vua Hùng, làm Lạc Tướng ở Bộ Tây Vu Ai Lao, đem quân về tranh ngôi, Vua Hùng sợ máu thịt anh em tương tàn, nên đành nhường ngôi lại cho Thục Phán. Tản Viên, là Chúa của núi rừng, dẫn theo Mị Nương công chúa Ngọc Hoa, về núi sanh sống. Khi Thục Phán lên ngôi Vương, thì niên đại Hùng Vương, kéo dài 2701 năm kết thúc. Thục Phán lên ngôi Vương, chuyển đổi niên hiệu Hùng Vương, thành niên hiệu An Dương Vương. Chuyển đổi tên nước Văn Lang, thành nước Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa. Trị vì thiên hạ trên dưới 50 năm kết thúc thời Âu Lạc vào năm 258 trước công nguyên. Kể từ đây con cháu Tiên Rồng, như đi trong đêm, dẫn đến nô lệ phương Bắc, nước Văn Lang chỉ còn có một phần, Nam Văn Lang, còn Trung Văn Lang Bắc Văn Lang, thời đã thuộc về phương Bắc, chỉ còn Nam Văn Lang mà sống cũng không yên, bị phương Bắc đô hộ xâm lược hết thời nầy sang thời khác, hầu nuốt trọn nước Văn Lang, nhưng nuốt mãi không được, vì Nam Văn Lang là đất Địa Linh, Địa Long Vũ Trụ, và kỳ tích xảy ra trên mảnh đất Địa Linh nầy.

Đây nói về trên tầng Trời thứ hai, Đông Nam Thiên Cung, có vị Thiên Đế Ngọc Long, đã từng đầu thai xuống trần, mở ra thời đại Kinh Dương Vương, khai lập lên nước Xích Quỷ. Giao Chỉ, QUỐC TỔ KINH DƯƠNG VƯƠNG. Quốc Tổ Kinh Dương Vương quy Tiên bỏ lại xác phàm về Trời ở Đông Nam Thiên Cung. Vì thương con dân nơi chốn trần gian, nên Quốc Tổ thường hiện về, dân chúng thường thấy trên bầu trời mây đen hình Rồng xuất hiện, thì những trận mưa trái mùa đổ xuống làm cho cây cối xanh tốt, ruộng nương trúng mùa. Những năm mây đen hình Rồng xuất hiện, là dân chúng no cơm ấm áo, chuyện kỳ lạ nầy thường xảy ra trên đất nước Văn Lang. Ở thời hạ Hùng Vương đời thứ 5, Hùng Hy Vương ( Viên Lang ) dân chúng thấy hồn Quốc Tổ Kinh Dương Vương hiện về, xuất hiện mây ông khổng lồ, dấu chân ông bước tới đâu là in đến đó. Đám mây hiện hình người khổng lồ to lớn đó, thường xuất hiện nhiều nhất trên đất Đổng, nên dân chúng gọi là ông Đổng, hồn Tổ Tiên hiện về. Có lần dân chúng thấy hồn Quốc Tổ Kinh Dương Vương, Long Đế Sùng Lãm, hiện về, hiện thành đám mây ông Đổng cao lớn vô cùng, đầu đội trời, chân đạp đất, cao hơn mười ngọn núi, chỉ trong một đêm mưa to gió lớn, ông cào đất thành ruộng, ông vun đất thành đồi, xẻ đất thành sông, bước chân ông dài từ đỉnh núi nầy sang đỉnh núi khác, dấu chân ông thủng cả đá, thủng cả đất, tiếng nói ông chính là sấm, mắt ông chớp lòa, phóng ra tia lửa, sét, hơi thở ông phun ra mây đen, gió bão và mưa dông. Linh Hồn Quốc Tổ, Long Đế Sùng Lãm thường xuất hiện trong những mùa hè nắng hạn, dân chúng cần nước, tưới cho ngô, khoai, lúa, đậu, ông đi lúc xoáy tròn, lúc đi thẳng, đi hết nơi nầy đến nơi khác, từ Đông sang Tây. Ngày nay vẫn còn thấy dấu chân Long Đế Sùng Lãm, còn in lại khắp nơi.

Nói về Long Đế Sùng Lãm, Quốc Tổ đang ngự tại cung Đông Nam Thiên ở trên Trời. Bổng có một trận gió lạ, thì biết là Thiên Ý Cha Trời chỉ giáo điều gì, liền co tay bấm ấn, mở con mắt Thiên Nhãn nhìn xuống chốn nhân gian, thời thấy rõ nước Văn Lang đang lâm nạn, nguy cơ đến nơi. Khí số Văn Lang vẫn còn chưa mất, vẫn còn kéo dài hơn mấy trăm năm nữa. Liền triệu tập Thiên Tướng, nói rõ nguy cơ nước Văn Lang.

Long Đế nói:

   Khí số Văn Lang còn dài hơn mấy trăm năm nữa, chúng ta hãy đầu thai xuống chốn trần gian, đánh lũ giặc Ân, đi ngược lại Ý Trời, làm hại đất nước Văn Lang.

Các Thiên Tướng mở con mắt Thiên Nhãn đều thấy rõ như thế, nguy cơ nước Văn Lang sắp mất đến nơi. Các Thiên Tướng cùng Long Đế, tức tốc xuất hồn ra khỏi thể xác kim thân, linh hồn bay xuống chốn trần gian đầu thai làm người phàm tục, đánh giặc Ân. 

**************


PHẦN 7: BÀY MƯU HIẾN KẾ

 

Đây nói về hai anh em Nguyên Dực và Nguyên Minh, thống lãnh 40 vạn quân, tiến về Bắc Văn Lang dẹp nội loạn nổi lên đòi tự trị làm hỗn loạn Bắc Văn Lang, cũng như chống trả lại quân xâm lược.

Khi 40 vạn quân chủ lực Văn Lang đến Vân Châu, thì chia làm hai lực lượng. Nguyên Dực thống lãnh 20 vạn quân tiến thẳng về Ninh Châu. Còn Nguyên Minh thống lãnh 20 vạn quân tiến thẳng về Hợp Châu.

Nói về Ninh Giao Châu, có Quan Châu Phủ Lạc Đại Vương, cùng các Quan trấn giữ Châu Thành. Ngày nào cũng có tin báo dập dồn khẩn cấp, quân Ân đã tiến đánh Kinh Giao Châu, tiêu diệt hơn một vạn quân Văn Lang ở Huyện Giao Trung, Lạc Đô Tướng bỏ mạng tại sa trường, và đã chiếm được thành Kinh Châu. Lạc Đại Vương cùng các Quan không khỏi kinh hãi, lo lắng cho số phận Ninh Châu, than rằng:

Chỉ lo chạy chọt Quan quyền

Ăn chơi phè phởn đảo điên nước nhà

Đến khi có giặc can qua

Co đầu rụt cổ còn ra thống gì

Lòng dân đã mất chí nguy

Cơ đồ sự nghiệp khó mong vững bền.

Lạc Đại Vương, cùng các Quan đến bây giờ mới thấm thía. Dân là nước, nước ô nhiễm độc hại văn hóa phương Bắc, thì cá phải chết. Dân là gốc, nhưng gốc đã mục nát, dân tình trở nên loạn lạc, thì thân cành, nhánh lá Vương Quan cũng đi đời, nhưng tất cả đều đã muộn. Chỉ còn trông chờ cứu tinh xuất hiện, thì may ra vận nước mới thoát qua cơn hiểm họa nầy.

Lạc Đại Vương cùng các Quan chưa biết xoay trở bằng cách nào, chuẩn bị cho tình huống xấu nhất. Thời có quân vào báo:

   Bẩm Đại Vương, quân chủ lực Văn Lang đã đến.

Lạc Đại Vương cùng các Quan mừng quá thốt lên:

   Cứu tinh đã đến rồi.

Lạc Đại Vương hỏi:

   Quân chủ lực đến đâu rồi?

Quân binh đáp:

   Quân chủ lực còn cách đây vài ba dặm.

Lạc Đại Vương cùng các Quan ra khỏi thành tiếp đón quân chủ lực Văn Lang. Đi được hơn năm dặm thì thấy quân Văn Lang cờ xí rợp trời, gươm đao sáng giới, kỵ binh, xa binh, xạ binh, giáp binh, rầm rầm rộ rộ khói bụi mịt mù, khí thế hừng hực, thì lấy làm vui sướng, như người sắp chết đuối mà gặp Cứu Tinh. Đi đầu có rất nhiều Tướng lĩnh, mỗi người mỗi vẻ oai phong lẩm lẩm, có một Tướng lĩnh nổi trội hơn hết, mặt sáng như sao, vô cùng oai phong, đó là Tướng soái Nguyên Dực. Nguyên Dực thấy Lạc Đại Vương cùng các Quan đến tiếp đón mình, thì lấy làm vừa lòng.

Lạc Đại Vương cùng các Tướng đến ra mắt thi lễ chào hỏi nói rằng:

   Hạ Quan nghinh tiếp hơi trễ xin Tướng Soái tha lỗi cho, Nguyên Dực thi lễ nói không sao không sao, miễn có ra đón là được rồi.

Lạc Đại Vương đi đầu dẫn đường gần đến Ninh Thành thì đại quân dừng lại đóng trại gần đó, cách Ninh Thành hơn dặm. Tướng Soái Nguyên Dực cùng các Tướng, được Lạc Đại Vương tiếp đón vào thành, thiết đãi trọng hậu, đàn ca múa hát, món ngon vật lạ, chẳng thiếu thứ chi.

Nguyên Dực thưởng thức các món ngon vật lạ khen:

   Tiếng đồn quả không sai Bắc Văn Lang thứ gì cũng có, thảo nào quân giặc thèm khát lúc nào cũng muốn chiếm lấy Bắc Văn Lang.

Lạc Đại Vương nói:

   Lời nói của Tướng Soái quả không sai, đây chỉ là đặc sản của vùng Ninh Châu nầy, còn những nơi khác phải nói là vô cùng phong phú, nhất là vùng lân cận Kinh Đô, thì phải nói là trù phú vô cùng, không có món ngon vật lạ hiếm quý nào mà không có, kể cả chim trĩ trắng, gà chín cựa, sâm nghìn năm, chồn hương chín đuôi, còn không biết bao nhiêu là món ngon hiếm quý nữa.

Tiệc đãi xong xuôi qua ngày hôm sau, Nguyên Dực cùng các Tướng nghe báo cáo tình hình Bắc Văn Lang, cũng như tình hình quân xâm lược. Lạc Đại Vương đọc bản báo cáo, trong bản báo cáo nói như sau:

   Bẩm Tướng Soái. Tình hình Bắc Văn Lang vô cùng nghiêm trọng, không những nghiêm trọng về nội loạn, các Bộ Lạc Bách Việt nổi lên đòi tự trị, vì thế Bắc Văn Lang chia năm xẻ bảy tranh giành quyền lực dẫn đến thôn tính lẫn nhau, xưng Vua, xưng Chúa, từng vùng tự trị theo kiểu phương Bắc, chỉ cần vài trăm, vài nghìn nóc nhà cũng xưng Vua. Có thể nói văn hóa phương Bắc đã làm hại phương Nam chúng ta, tình thế nầy khó mà cứu vãn cho được, nghe nói văn hóa Văn Lang chúng ta đã mất gốc, lại không truyền xuống dân, chỉ truyền trong Vương Quan, thừa kế cơ nghiệp ông cha, nên dân chúng ít người được biết về Văn Hoá Cội Nguồn, nếu dân biết thì còn tai hại hơn nữa. Vì Văn Hoá Cội Nguồn không có sự độc tài, độc trị, chỉ lấy Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp công bằng bình đẳng trị Quốc mà thôi, phải nói không còn phù hợp với tình hình hiện nay, mà tình hình hiện nay là sống theo chế độ độc quyền, độc tài, độc trị, ý Vua là ý Trời, không ai dám cải, cải lại thì bị tru di tam tộc. Còn phương Bắc tru di cửu tộc. Thể chế độc quyền lần lần ăn sâu vào tâm hồn, không những Vua, Quan, như chúng tôi, mà còn ngay cả những người dân, không còn cách nào khác là thuận theo số phận mà thôi. Phương Nam chúng ta dần dần đi theo chiều hướng phương Bắc, nên mới có cảnh Bách Việt Văn Lang nổi lên đòi tự trị, theo xu thế phương Bắc, còn Nam Văn Lang thì chưa xảy ra điều đó, có lẽ là chưa ảnh hưởng gì văn hóa tự trị phương Bắc, nên chưa có sự nội loạn tình hình dân chúng phương Bắc Văn Lang là như thế. Còn về tình hình cấp bách hiện nay. Trước tình thế quân Ân, quân Hồ, quân Hung Nô, chúng càn qua Bắc Văn Lang như thác đổ, với một thời gian ngắn, chúng nuốt không biết bao nhiêu là Châu, Quận, Huyện, giết chết hơn mười mấy Vua Việt nổi lên đòi tự trị.

Nguyên Dực cắt ngang lời báo cáo nói:

   Đây cũng là điều may cho chúng ta, ngoại xâm tiêu diệt nội loạn thay cho chúng ta, chúng ta không cần ra tay, kể như chúng ta đã thành công ở bước một.

Nguyên Dực nói:

   Ông đọc tiếp đi.

Lạc Đại Vương với giọng rõ ràng đọc tiếp báo cáo rằng:

   Theo tin tức báo cáo. Quân Hồ, quân Ân, quân Hung Nô, chia làm ba mũi tấn công Bắc Văn Lang, quân Hồ đánh theo Tây Lộ, quân Hung Nô đánh theo Đông Lộ, quân Ân đánh theo Trung Lộ, trong ba thế lực ấy quân Ân là mạnh nhất. Tuy chia làm ba mũi nhưng chúng luôn luôn hổ trợ cho nhau lúc cần thiết, vì thế chúng đánh chiếm các Châu Phủ một cách dễ dàng. Theo tin báo thì giặc Ân đang bao vây Kinh Đô, giặc Hung Nô đang đánh phá Xích Linh Châu. Quân Hồ đang đánh phá Kiến Châu. Quân Ân phong tỏa cắt đứt những huyết mạch các Châu Thành liên kết với Kinh Đô. Phải nói tình hình hết sức là nguy cấp nếu chúng chiếm được Kinh Đô, chiếm được Xích Linh Giao Châu, chiếm được Kinh Châu, thì coi như chúng chiếm được Bắc Văn Lang.

Đọc xong bản báo cáo. Lạc Đại Vương nói thêm:

   Như tin dò thám được thời Kinh Châu đã thất thủ.

Nguyên Dực, cũng như các Tướng chủ lực quân Văn Lang nghe qua bản báo cáo như thế thì không khỏi lấy làm kinh hãi. Trước sức mạnh như vũ bão của quân xâm lược.

Đời sau thơ kể lại rằng:

Sức mạnh quân thù thật gớm ghê

Như cơn Hồng thủy cuộn tràn về

Thành trì sụp đổ trong chốc lác

Sanh Linh vùi dập thật thảm thê.

Đang lúc bàn về quân giặc, thì có quân thám báo về báo nói nhỏ với Lạc Đại Vương. Lạc Đại Vương nghe xong rồi dặn tiếp tục theo dõi động tỉnh của quân Ân.

Nguyên Dực hỏi:

   Có chuyện gì thế có thể đem ra bàn được không?

Lạc Vương nói:

   Có tin báo là quân Ân tiến đánh thành Ninh Châu chúng ta, tin rất chính xác.

Nguyên Dực hỏi:

   Quân Ân chúng sẽ đi theo đường nào tiến đánh Ninh Châu chúng ta.

Lạc Đại Vương nói:

   Kinh Châu đến Ninh Châu hơn 100 dặm qua sông, suối, đồi, gò cũng nhiều, đường đi qua nhiều khúc quanh rậm rạp. Theo nhận xét của Đại Vương tôi với khí thế mạnh như vũ bão của giặc thì giặc không sợ gì cả, đường nào gần nhất dễ đi nhất là chúng đi. Tôi tin chắc là quân Ân đi theo đường tắc dễ đi nhất, chỉ có một đoạn đường hiểm yếu, đó là chúng phải băng qua cánh đồng lớn, rồi đến đồi Vạn Lâm, đồi nầy kéo dài hơn 10 dặm cây cối rậm rạp, đồi Vạn Lâm cách đây gần 50 dặm, nếu chúng qua khỏi đồi Vạn Lâm thì không đầy một ngày đại binh chúng sẽ kéo đến, còn kỵ binh thì chỉ cần một ngày là đến nơi.

Nguyên Dực hỏi:

   Quân binh trong thành nầy được bao nhiêu?

Lạc Đại Vương thưa:

   Bẩm Tướng Soái hiện giờ hơn một vạn quân, phần nhiều do quân binh các Châu Phủ khác thua trận chạy đến đây.

Từ đầu đến cuối cuộc hợp, có một vị quan lúc nào cũng yên lặng đó là Hầu Thái Công tuy tuổi đã lớn nhưng được gọi là bậc mưu Thần bậc nhất ở Ninh Châu.

Đến lúc nầy Hầu Thái Công  mới lên tiếng:

   Chúng ta có thể tiêu diệt được giặc Ân ở đồi Vạn Lâm nầy. Chúng tiến qua đất Văn Lang, như tiến vào chỗ không người, đánh chiếm các Châu Thành một cách dễ dàng, vì thế chúng sẽ không coi quân lực Văn Lang vào đâu nữa, ung dung mà tiến qua đồi Vạn Lâm. Chúng sẽ cho quân mở đường đi trước, đó chưa phải là quân chủ lực, nếu có quân mai phục chận đánh, thì chúng tỏa ra bao vây đồi Vạn Lâm rồi tìm kế tiêu diệt chúng ta. Theo thời tiết hiện giờ thời ta không sợ hỏa công vì trời hay mưa, cây cối luôn ẩm ước, chúng ta có thể an tâm mà mai phục nơi đồi Vạn Lâm nầy, cứ để cho đội quân mở đường đi qua, chờ cho quân chủ lực loạt vào vòng vây là tấn công. Quân ta chủ động, quân giặc bị động, chỉ cần ba vạn quân lựa vào những chỗ hiểm yếu phục kích, lợi thế tấn công, cũng đánh tiêu mười vạn quân của chúng.

**************

PHẦN 7:  KINH CHÂU THẤT THỦ

 

Lại nói về quân Ân sau khi đánh bại quân Văn Lang ở Huyện Giao Trung, tiến tới bao vây Kinh Châu, kết hợp với quân Hồ, đánh chiếm Kinh Châu một cách dễ dàng, vì Kinh Châu chỉ còn có hơn năm nghìn quân, không phải là quân chủ lực, quân Ân, quân Hồ, chiếm Kinh Châu như lấy đồ trong túi, chẳng tốn bao nhiêu sức lực, quân Ân làm phép cuồng phong nổi lên, quân binh trong thành kinh hồn bạc vía, quân Ân làm phép yêu tinh quỷ dữ bay lên thành gào thét tấn công, quân binh hỗn loạn, quân Hồ leo tường nhanh như chớp, quân Ân phá cổng thành, chỉ trong chốc lác quân Ân, quân Hồ, tràn ngập vào thành. Kinh Châu thất thủ.

Vị tướng nữ thống lĩnh chỉ huy quân Ân là Sát Sát không những võ nghệ cao cường thần thông pháp thuật ít ai sánh nổi, mà còn đa mưu túc trí, ít ai bì kịp. Sát Sát là vợ chính của Ân Mao Vương, thống lãnh hơn 10 vạn quân tinh nhuệ, quân chủ lực, nhất là đội quân kỵ binh, đội quân xạ binh, di chuyển nhanh chóng lợi hại vô cùng, chiếm được thành Kinh Châu. Sát Sát báo tin thắng trận cho Ân Mao Vương, lên kế sách tiến đánh thành Ninh Châu, Sát Sát đang cùng các Tướng lĩnh bàn bạc lên phương án tiến đánh thành Ninh Châu.

Thì có một con yêu tinh vào báo:

   Bẩm Nương Nương. Quân chủ lực Văn Lang đã đến Ninh Châu, quân binh đông như kiến, ước lượng trên dưới 20 vạn quân.

Tướng lĩnh quân Hồ là Hồ Nam Quân nói:

   Chúng có 20 vạn quân chủ lực, hai lực lượng chúng ta kết hợp lại cũng trên 15 vạn quân, hơn kém bấy nhiêu thời có đáng gì, chỉ cần quân binh tinh nhuệ, tuy ít nhưng cũng chẳng kém gì nhiều.

Sát Sát trợn mắt nói:

   Chúng kéo đến là may cho ta, khỏi mất công tìm chúng thanh toán.

Rồi ra lệnh cho Phong Yêu và Quỷ Yêu, tàng hình đến Ninh Châu xem chúng bàn những gì. Phong Yêu và Quỉ Yêu, bay lên không biến mất. Đây nói về Phong Yêu và Quỉ Yêu, được lệnh Nương Nương bay tốc hành đến Ninh Châu, ẩn mình vào thành nghe lén quân Văn Lang bàn những gì.

Nói về nguyên Dực, cùng các quan Tướng Ninh Châu bàn luận sôi nổi, về kế sách chuyến thuật tiêu diệt quân giặc, nào hay đâu có kẻ tàng hình ẩn núp gần đó nghe lén Hầu Thái Công hiến kế. Quân Ân thế nào cũng đi qua đồi Vạn Lâm. Chúng ta cho ba vạn quân mai phục những chỗ trong yếu nơi đây, để cho quân mở đường đi qua, chờ cho quân chủ lực tiến sâu vào ổ mai phục thì ra tay. Lại cho năm vạn quân nhanh chóng đi bọc về hướng Đông Bắc qua khỏi đồi Vạn Lâm hơn 10 dặm phục kích ở xa để cho quân giặc tiến sâu vào đồi Vạn Lâm thì mới di chuyển quân binh chận đường rút lui của chúng mà đánh, còn đại quân của ta đi bọc về hướng Tây chận đứng đường tháo chạy của chúng, rồi tiến nhanh vào thành lấy lại thành Kinh Châu. Về vận chuyển lương thực thì do quân Ninh Châu đảm nhiệm, Tướng Soái Nguyên Dực, cho đây là kế sách hay, bằng thi hành theo kế sách nầy. Hai con quỷ nghe xong liền tức tốc bay trở về Kinh Châu báo cho Sát Sát Nương Nương biết.

Sau có thơ rằng:

Cơ mưu bại lộ nào có hay

Ra sức điều quân bố trận bày

Rồng cọp vô tình sa bẫy lưới

Vận nước còn đen khó đổi thay

Kế sách mưu Thần đánh giặc Ân

Nào hay bại lộ kế mưu hay

Tự mình dẫn xác vào chỗ chết

Trận địa vùi chôn thê thảm thay.

Trong binh pháp hai bên đánh nhau, nếu bên nào bại lộ cơ mưu, thì coi như đã bị thua, nói gì đến chiến thắng. Quân giặc tương kế, tựu kế, mà không hay biết gì cả, đến khi thất bại thì mới hổi ôi, chưa nói đến sự nghi ngờ lẫn nhau trong các Quan Tướng, làm suy giảm sức mạnh của chiến đấu, suy giảm sức mạnh của của thống nhất, hợp lực chống quân thù.

Nói về Sát Sát nắm bắt được thông tin bí mật của quân Văn Lang. Liền tức tốc hành động, đi trước một nước cờ điều khiển quân binh theo ý đồ của mình.

Sát Sát bàn với Hồ Man Quân:

   Tướng quân thống lĩnh năm vạn quân Hồ, đến Huyện Ninh Điền chọn nơi hiểm yếu phục kích, chờ cho quân Văn Lang đánh bọc hậu đi tới sa vào ổ phục kích là tấn công ngay.

   Võ Vu, Tướng quân nghe lịnh. Có thuộc hạ. Tướng quân thống lãnh ba vạn quân, nhanh chóng đến đồi Vạn Lâm trước quân Văn Lang kéo đến phục kích. Khi quân Văn Lang đi sâu vào đồi Vạn Lâm, chưa kịp tảng ra phục kích thì tiêu diệt ngay, làm cho chúng không kịp trở tay.

   Hổ Tiên Tướng quân nghe lệnh. Có thuộc hạ. Tướng quân dẫn theo năm nghìn kỵ binh nhanh chóng vượt qua hàng chục dặm đánh bọc hậu từ sau đánh tới, cướp lấy lương thực của chúng, cũng như chận đánh quân hoảng loạn tháo chạy quân Văn Lang.

   Còn ta thời thống lãnh 8 vạn quân chận đánh quân chủ lực tại Tây Bắc Sơn Ninh Châu chận đánh quân chủ lực Văn Lang.

**************

PHẦN 8:  TRIỂN KHAI LỰC LƯỢNG

 

Đây nói về Nguyên Dực cùng các Tướng hợp bàn kế sách chống giặc, thực hiện theo kế sách của. Hầu Thái Công, thông tin cuối cùng về quân giặc, không ngờ bị quân Ân đánh lừa thông tin, là quân Ân còn án binh bất động chưa tiến đánh Ninh Châu, nhưng thật ra quân Ân đã bí mật triển khai điều động quân binh rồi, vì sao quân Văn Lang lại không phát hiện được, vì dân chúng lúc nầy, hổn loạn, lo tìm đường lánh nạn, tiến về Nam tránh quân xâm lược, nên quân Văn Lang khó phát hiện điều quân bí mật của quân Ân.

Được thông tin quân Ân vẩn án binh bất động, chưa triển khai lực lượng, tiến đánh Ninh Châu, Tướng Soái Nguyên Dực trở về doanh trại, điều khiển quân binh, theo kế sách đã dự định:

   Hầu Tướng Quân nghe lệnh, có thuộc hạ, tướng quân thống lĩnh 5 vạn quân tức tốc lên đường trong đêm nay đến đồi Vạn Lâm theo sự chỉ dẫn quân Ninh Châu, trước khi trời sáng, để tránh tai mắt quân Ân phát hiện, phân bổ lực lượng những chỗ trong yếu phục kích kín đáo, để cho quân mở đường đi qua, chờ cho quân chủ lực đi sâu vào ổ phục kích rồi ra hiệu lệnh cho quân binh đồng loạt tấn công, tuân lệnh.

   Việt Luân Tướng Quân, nghe lệnh, có thuộc hạ, Tướng quân thống lãnh 5 vạn quân bọc theo hướng Đông Bắc, đi trong đêm vượt qua khỏi đồi Vạn Lâm chừng hơn 15 dặm ẩn náu, không cho địch phát hiện, khi địch đi qua khỏi thì đưa quân đến chận đường rút lui, tiêu diệt chúng, tuân lịnh.

   Bạch Tướng Quân nghe lệnh, có thuộc hạ, Tướng quân dẫn theo năm nghìn quân đi theo đoàn quân vận chuyển lương thực khi nghe có trận giao chiến thì thần tốc tiến về đồi Vạn Lâm trợ lực cho quân ta, tuân lệnh:

Chồn cáo thi nhau cướp giang sang

Mưu mô xảo quyệt mấy vạn ngàn

Hung tàn bạo ác ăn uống máu

Chúng dày, chúng xéo nát ruột gan

Dân lành khốn khổ biết bao

Chúng đâm chúng chém thây phơi khắp cùng

Ngoại xâm lũ giặc bạo tàn

Chúng vơ chúng vét xốm làng còn chi.

Đây nói về Tướng Soái Nguyên Minh, thống lãnh 20 vạn quân chủ lực từ Vân Châu tiền về Kinh Đô, Nam Kinh Xích Quỷ, đến Huyện Nam Giao thì thấy dân chúng thi nhau chạy giặc, một cảnh tượng vô cùng thê thảm.

Đời sau có kể lại rằng:

Chết đói đầy đường thê thảm thay

Cái lạnh trùm lên cắt thịt da

Kêu gào thê thảm con tìm mẹ

Đau buồn ức nghẹn con lạc cha.

Trong tình cảnh nầy, Quan Tướng Văn Lang đau xót vô cùng, nhìn cảnh mẹ dắt con mặt mày bơ phờ chạy theo đoàn người tỵ nạn, không biết bao nhiêu chết đói, những cảnh tượng khốn đốn ấy không ai là không căm phẫn quân thù xâm lược.

Vận nước suy do Nguồn Cội mất

Nạn khắp cùng khó thoát tai ương

Nghĩ đời càng nghĩ càng thương

Cũng vì lạc Cội ngoại xâm hoành hành

Gươm Trấn Quốc đâu còn biến mất

Nghĩa đồng bào tan nát loạn li

Truyền thống tốt đẹp quên đi

Làm sao tránh khỏi ngoại xâm quét càn

Lòng mê muội học đòi phương Bắc

Giặc chuyển xây họa khắp nước non

Mắt mưu gian kế Bắc phương

Dã tâm xâm lược còn chi nước nhà

Nền Văn Hiến tôn thờ gìn giữ

Thời lo chi lũ giặc ngoại xâm

Con đường dân chủ trống không

Độc tài phải chịu nát tan cơ đồ

Cây mất gốc héo cành héo ngọn

Sông không nguồn sông cạn sông khô

Mê lầm văn hóa ngoại ban

Hồn linh nô lệ còn chi giống nòi

Dân lạc Cội dân tình xơ xác

Nạn vần xoay chết chóc điêu linh

Chia năm xẻ bảy còn chi

Làm mồi cho giặc nuốt thời béo no

Mất truyền thống tan hoang nghiệp Tổ

Đời lệ nô bể khổ chất chồng

Mất Nguồn, mất Cội cha ông

Nước non, non nước, chất chồng nạn tai.

Nói về Tướng Soái Nguyên Minh cũng hiểu được phần nào tình hình Bắc Văn Lang, vì ảnh hưởng quá nhiều văn hóa, cầu cạnh, xin xăm, bói quẻ, nhập đồng, nhập bóng, đoán nầy, đoán kia, mê hoặc bởi yêu, tinh, ma, quỉ, ứng nhập vào, lung lạc, lòng mê muội của dân chúng, ứng quẻ, lời dạy bảo của thần linh, ông nầy làm Vua, bà kia làm Chúa, tin theo, làm theo, nổi lên đòi tự trị theo phương Bắc, chỉ cần vài trăm nóc nhà cũng xưng Vua, Vua nầy thôn tính Vua kia, Vua kia thôn tính Vua nọ làm rối loạn Bắc Văn Lang. Tạo ra thời cơ xâm lược những tay tham tàn bạo ác phương Bắc, hậu quả là không sao cứu vãn được. Tướng Soái, Nguyên Minh cho quân tạm dừng nghỉ, vì còn cách Kinh Đô không bao xa, cho người thám thính tình hình của giặc.

Không bao lâu thì quân thám thính về báo:

   Quân Ân đóng dinh trại cách Kinh Đô không xa, chúng dựng lên một đài quan sát rất cao sáu bảy tầng, để quan sát động tỉnh trên 20 dặm, có lẽ chúng đã thấy quân binh chúng ta đã tiến đến đây, nhưng không thấy chúng động tỉnh gì.

Nguyên Minh dừng quân nghĩ không bao lâu thì có quân vào báo:

   Các Châu hổ trợ quân binh tham chiến.

Nguyên Minh mừng rỡ hỏi:

   Được bao nhiêu?

Quân binh bẩm báo:

   Bẩm Tướng Soái, hơn năm vạn, các Châu Phủ còn hổ trợ lương thực.

Nguyên Minh hết sức an tâm về cuộc chiến nầy. Nguyên Minh chưa biết phải đóng quân tại đâu, thì có người vào báo:

   Có vị Đại Quan muốn gặp Tướng Soái.

Nguyên Minh hỏi:

   Ông ta là ai?

Bổng có người lên tiếng hỏi tiếp:

   Có phải ông ta là Đa Kế không?

Vị Quan binh kinh ngạc nói:

   Sao ngài biết.

Ông ta vui mừng trả lời:

   Được người đó tới giúp thì lo gì không thắng được giặc Ân.

Đa Kế là vị Quan thanh liêm tinh thông Binh Pháp, thích sống ẩn dật, có lẽ không thể ngồi yên khi vận nước sắp rơi vào tay quân giặc. Vị Quan biết Đa Kế đó là ai vậy, còn ai vào đó nữa, chính là Lạc Hầu Công, từ Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ, vào Kinh Đô Văn Lang cầu cứu viện binh.

Nguyên Minh nghe Lạc Hầu Công khen ngợi người đó như thế liền cho mời vào. Nguyên Minh thấy Đa Kế là người dị tướng, biết ngay là người có tài hay, liền tiếp đón mời ngồi.

Nguyên Minh hỏi:

   Nghe ngài tinh thông lục kinh lời đồn có đúng chăng?

Đa Kế khiêm tốn nói:

   May mắn tôi có đọc qua, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Luân, ở vào thời đại đó mà biết nhiều hiểu rộng như vậy.

Quả đúng là dị nhân. Nguyên Minh hỏi:

   Có kế sách gì chống trả lại quân Ân không?

Đa Kế bẩm:

   Khoan nói đến chuyện đó vội, mà tìm nơi lợi thế để đóng quân, quân địch muốn đánh ta cũng khó. Theo tôi thấy Huyện An Giao, Huyện Long Giao là hai nơi đóng quân tốt nhất, một nơi gần quân Ân, một nơi xa quân Ân, ta chia hai lực lượng, hổ trợ nhau liên kết bảo vệ nhau, không cho địch biết sức mạnh của ta, chúng ta hoạt động một mặt nổi một mặt chìm, một hành động bí mật, một hành động công khai, có như thế mới đánh thắng chúng được, hiệu quả chiến thắng quân thù, phần lớn là những kế sách bất ngờ, ai chủ động cuộc chiến người đó thắng.

Nguyên Minh bằng nghe theo kế sách của Đa Kế, chia hai lực lượng, một nửa âm thầm đến huyện An Giao, một nửa rầm rộ đến huyện Long Giao.

Nói về hơn 10 vạn quân rầm rộ kéo đến Huyện Long Giao, không xa danh trại quân Ân là mấy, dựng doanh trại theo ngũ hành trận, Đông – Tây – Nam – Bắc – Trung Ương,  lại cho dựng quan sát đài cao năm tầng không thua kém gì quân Ân.

Họa nào hơn bằng họa xâm lược

Khổ nào hơn nước mất nhà tan

Buồn nào hơn nổi buồn nô lệ

Cảnh ngục tù, đánh đập lầm thang.

Đây nói về quân Ân bao vây Kinh Đô hơn ba tháng, trong không thể ra ngoài không không thể vào, cắt đứt mọi thông tin liên lạc, lương thực cạn kiệt lần, theo tình hình nầy giặc không đánh cũng tự thua, đầu hàng cũng chết, không đầu hàng cũng chết, phải nói lúc nào cũng ngồi trên đống lửa, các Tướng không còn giữ bình tỉnh được nữa.

Lạc Cao Giang nói:

   Con cháu Tiên Rồng có chết thì chết cho vinh quang, không thể chết đói, hay chết cuối đầu trước quân giặc được, để tôi ra giết chúng một trận cho đã tay rồi chết cũng được.

Hầu Việt Yên cũng nói:

   Tôi cũng thế để tôi ra trận quyết một trận sanh tử với chúng, có chết cũng cam.

Trong lúc đắng đo suy nghĩ thì có quân trên thành vào báo:

   Có lẽ quân cứu viện chủ lực quân Văn Lang đã đến, cách Kinh Thành không xa, về hướng Nam, đóng trại tại Huyện Long Giao.

Hùng Lang Công, cùng các Quan Tướng Kinh Thành, nghe tin nầy như cây chết héo lâu ngày gặp nước, như người chết đuối gặp phao, tất cả đều kéo lên Thành xem có đúng là sự thật không, quả đúng như vậy xa xa cờ xí quân Văn Lang rợp trời rợp đất. Hùng Lang Công cùng các Tướng như muốn ngặt thở trước tin vui nầy.

Các Tướng hét lên:

   Chúng ta có quân cứu viện rồi, chuẩn bị tử chiến với quân xâm lược, vui sướng quá.

Luồng gió hồi sanh đã đến rồi

Lòng đầy vui sướng tận chân trời

Văn Lang chủ lực quân đã đến

Niềm tin chiến thắng dậy trong tôi.

Nói về quân Ân, bao vây Kinh Đô không đánh cũng thắng, đó là điều hiển nhiên không chối cải vào đâu được, nếu không có quân chủ lực Văn Lang đến cứu. Ân Mao Vương cùng Nương Nương là Nghịch Phong, đang lên kế sách đánh chiếm luôn nước Văn Lang, không phải là Bắc Văn Lang nữa. Với mộng xâm lược, lòng tham vô bờ biến, chúng quá hiểu rõ nước Văn Lang vô cùng rộng lớn, chỉ cần một Châu cũng bằng một nước lớn ở phương Bắc, đất đai trù phú, nông sản, thủy sản, lâm sản, không làm gì cho hết, nhất là ngành đồng, thau, sắt, thép, không có một đất nước nào bằng, chỉ cần chiếm lấy được nước Văn Lang thì coi như đã đến cực đỉnh, của sự xưng hùng xưng bá, chỉ trong vòng mấy trăm năm mà dân số tăng lên đông không kém gì phương Bắc.

Ân Mao Vương, coi nước Văn Lang sắp thuộc về mình, thứ nhất là có quân Hồ, quân Hung Nô, thứ hai nước Văn Lang tình hình dân chúng bất mãn, lòng dân không bằng lòng cách cư xử Vương Quan đối với dân, bất hòa, dân không cùng chung chí hướng, bất ổn, dân tình luôn xáo trộn không yên, bất thường, dân chúng không lập trường, thường nghe lời xúi dục, bất trị không thể dạy dỗ theo ý của mình, dân chúng nổi lên đòi tự trị như đã thấy, bất đồng không cùng chí hướng, chia năm xẻ bảy, bất trắc, không lường trước được sự việc, có thể nói là bất lực trước tình hình của đất nước.

Đây chính là cơ hội cho ta thôn tính nước Văn Lang, đánh bại quân chủ lực Văn Lang. Ân Mao Vương, đang hứng chí với mộng bá Vương Chúa Tể của mình, thì có quân vào báo:

   Bẩm Chúa Vương, quân thám báo đưa tin là quân chủ lực Văn Lang, từ Kinh Đô Văn Lang đã đến Huyện Nam Giao.

Ân Mao Vương tức thời triệu tập các Tướng Lĩnh xa gần trấn thủ khắp nơi, về hội họp bàn kế sách tiêu diệt quân Văn Lang, thông tin nhanh chóng được ban ra, không bao lâu thì các tướng lĩnh đến đầy đủ.

Mao Vương nói:

   Quân Văn Lang đã tiến đến gần sát chúng ta, chỉ còn hơn bốn mươi dặm, hãy điều động toàn lực lượng bao vây tấn công chúng.

Hồ Ma can:

   Chưa cần đánh vội như thế, tuy biết rằng quân chủ lực Văn Lang từ xa xôi hơn một nghìn mấy trăm dặm kéo đến đây, thì quân binh đã mỏi mệt, chặn đánh là ưu thế thuộc về ta. Nhưng xét lại thì chưa hợp lẽ, vì quân Văn Lang phát xuất lên đường từ lâu, hơn cả tháng, nay chúng mới tới đây, chúng di chuyển quân đi rất chậm, luôn luôn cũng cố sức mạnh của quân binh, như vậy chúng đã chuẩn bị trước sự tấn công của chúng ta, hơn nửa chúng ta chưa nắm bắt được lực lượng quân Văn Lang là bao nhiêu, chúng ta chỉ cần cũng cố lực lượng đối mặc với sự tấn công của quân Văn Lang.

Ân Vương nghe Hồ Ma nói cũng có lý liền theo kế sách của Hồ Ma. Không bao lâu thì có quân vào báo:

   Quân Văn Lang di chuyển rất nhanh, chúng đã kéo đến Huyện Long Giao cách chúng ta chỉ hơn 10 dặm.

Ân Mao Vương nói:

   Chúng di chuyển nhanh đến thế sao?

Bằng ra lệnh cho các Tướng:

   Chuẩn bị cho chiến đấu, tiếp tục theo dõi xem chúng tiến đánh nơi nào trước.

Đây nói về quân Văn Lang chia hai lực lượng một âm thầm tiến về huyện An Giao, đóng đô hạ trại bí mật, một kéo quân rầm rộ di chuyển nhanh chóng về Huyện Long Giao, dựng trại đóng quân tại đây, bày binh bố trận đóng quân theo ngũ hành trận, xong đâu vào đấy khí thế dậy trời. Tướng Soái Nguyên Minh cùng các Tướng lên đài quan sát thấy dinh trại quân Ân đồn trú xa gần nhiều nơi, theo xa xa luân trận, chỉ cần tiến đánh một doanh trại, thì các doanh trại khác tiến đánh ngay, phải nói là lợi hại vô cùng, các Tướng lĩnh đứng trên đài quan sát, thấy một doanh trại rộng lớn gần Kinh Đô, có lẽ đây là tổng doanh trại chỉ huy, quân Ân, điều khiển quân binh. Các Tướng lĩnh Văn Lang ai nấy cũng háo hức ra trận, mở màn trận chiến.

Nguyên Minh, họp bàn với các Tướng nói:

   Cuộc chiến chúng ta là cuộc chiến lâu dài, khó mà thắng gấp được, vì quân Ân rất hùng mạnh, tùy thời cơ mà thắng nhanh hay chậm, đã giáp mặt với quân Ân là chúng ta đã đi vào quyết tử, đã vào trận thì một mất một còn, nhất là trận mở màn chỉ có thắng không được thua. Tướng Lĩnh nào ra trận trước đây?

Nguyên Minh hỏi các Tướng Lĩnh ai nấy cũng đều tranh nhau ra trận, không ai chịu nhường cho ai. Đa Kế thấy các Tướng Lĩnh tranh nhau không ai chịu nhường ai, bằng nghĩ ra một kế.

Đa Kế nói:

   Lão Thần có một đề nghị, thôi thì bốc xăm vậy, ai bốc trúng người đó đi.

Tất cả Tướng Lĩnh đều nhất trí. Thế là cuộc bốc xăm diễn ra, trong xăm chỉ có một chữ xuất, ai bốc trúng thì người đó ra trận, gần 20 tướng lĩnh ai nấy đều bốc một xăm.

Cự Lân bốc xăm rồi mở ra xem, mừng rỡ reo lên:

   Tôi bốc trúng rồi, tôi bốc trúng rồi.

Tướng Soái, Nguyên Minh tức thời ra lệnh:

   Cự Lân nghe lệnh, có thuộc hạ, Tướng quân điểm 5 nghìn quân, khiêu chiến với quân Ân, tuân lệnh.

Trước khi ra quân Đa Kế dặn:

   Thắng giặc nhờ cơ trí hơn là ở sức mạnh.

Cự Lân như hiểu ý làm ra vẻ yếu đuối. Đa Kế nói:

   Chúng ta thắng trận đầu rồi.

Ai nấy cũng lấy làm kinh ngạc, cho lời nói nầy, chưa đánh mà biết thắng. Nói về Cự Lân điểm 5 nghìn quân binh, rồi truyền khẩu lệnh rằng:

   Tử chiến ra trận thì coi như đã chết, lao tới quân thù mà tiêu diệt.

Hào khí Anh Linh đất phương Nam

Ung đúc hùng anh sắt dạ gan

Tung hoành ngang dọc trên sóng dữ

Bắt Cọp rượt Rồng dậy núi non.

Đây nói về Ân Mao Vương cùng các Tướng Lĩnh ở trên đài quan sát, thấy từ doanh trại quân Văn Lang đóng theo vị trí ngũ hành, từ nơi Trung Ương một đội quân kéo ra, dẫn đầu quân binh gồm có ba Tướng, trong đó có một Tướng là đáng chú ý hơn cả.

Hồ Ma nói:

   Vị Tướng nầy không phải tầm thường đâu.

Các Tướng Lĩnh không chú ý đến lời nói của Hồ Ma, mà tỏ vẻ xem thường Tướng địch Văn Lang.

Có Tướng nói:

   Văn Lang đã hết người rồi sao, chẳng thấy chút gì là oai phong cả.

Trong Tướng giặc Ân, có một Tướng nổi tiếng là vô cùng ngạo mạn không xem ai ra gì, và cũng chưa từng gặp đối thủ bao giờ, đã từng giết chết hơn vài chục Tướng, danh vang như sấm, người đó là ai, chính là Ngụy Đan.

Ngụy Đan thưa với Chúa Ân Vương rằng:

   Để thần ra trận giết quách Tướng giặc Văn Lang kia làm giảm uy phong của chúng.

Ân Vương nói:

   Phải thắng không được thua.

Ngụy Đan điểm 5 nghìn binh từ trại giặc Ân xông ra quát lớn:

   Mau xưng tên họ về chầu âm phủ.

Cự Lân giục ngựa xông lên thét:

   Ta là Cự Lân, mau khôn hồn đầu hàng, ta cho chết toàn thây.

Ngụy Đan hét lên như sấm:

   Con chuột nhắt khua môi múa mỏ lớn lối xem đây.

Tức thời cây đại giáo nặng đến 80 cân múa lên vù vù thúc ngựa lao tới chém Cự Lân một giáo như trời giáng, Cự Lân không dám chống đở thúc ngựa né tránh, Ngụy Đan, chém hụt một đao, bằng hét lên một tiếng thúc nhựa lao tới chém liền mấy giáo như tia chớp. Trước sức mạnh kinh khiếp của địch, Cự Lân chỉ biết né tránh muốn hụt hơi.

Ngụy Đan dừng ngựa quát:

   Ngươi chỉ có cái tài né tránh, sao gọi là anh hùng.

Cự Lân quát:

   Lại ta sợ gì ngươi mà không chống trả.

Nói xong liền giục ngựa lao tới chém Ngụy Đan một đao. Ngụy Đan đưa giáo lên đở choang đinh tai nhứt óc. Ngụy Đan thấy địch thủ không có gì là mạnh, thời tỏ vẻ coi thường, xông ngựa tới tấn công tới tấp. Cự Lân ra sức chống đở, hai bên đánh nhau hơn sáu mươi hiệp, vẫn chưa phân thắng bại, biết rằng Ngụy Đan luôn áp đảo Cự Lân. Ngụy Đan càng đánh càng tức giận, tưởng chừng như vài hiệp là hạ gục Cự Lân được ngay, nào hay đâu đánh hơn sáu mươi hiệp mà vẫn chưa hạ gục được Cự Lân, thử hỏi không tức sao được. Ngụy Đan vô cùng tức giận, thúc ngựa lao tới chém tới tấp, Cự Lân chống đở không nổi sắp bại đến nơi.

Thật là:

Một bên giáo chớp sáng ngời

Một bên đao pháp lạ đời cương nhu

Cự Lân càng đánh càng thua

Ngụy Đan càng đánh càng reo càng hò

Hai bên chiêng trống vang trời

Quyết cùng tiêu diệt tại thời nơi đây

Cự Lân sắp bại đến nơi

Ngụy Đan dồn dập giáo thời nổ vang

Âm ầm đất chuyển trời rung

Giáo, đao chơm chớp bịt bùng bủa vây

Cự Lân ra sức chuyển xây

Đường tơ kẻ tóc mạng vong tức thì

Ngụy Đan tỏ vẻ vui mừng

Con mồi sắp ngã tàn đời nát thây

Nào hay trận thế chuyển xây

Bất ngờ đảo lộn kinh thay bất ngờ.

Trên đài cao Ân Mao Vương kinh hãi khi nghe tiếng thét như sấm của Cự Lân, thấy Cự Lân đang thế bại chuyển thành thế thắng, đang thế yếu trở thành thế mạnh. Trường đao chém tới như tia chớp ầm một tiếng đinh tai nhức óc.

Ngụy Đan cả người lẫn ngựa lảo đảo, chưa kịp lấy lại bình tỉnh, thời một tia chớp khác lại chém tới, Ngụy Đan tránh không kịp trúng một đao bỏ mạng. Quân Văn Lang thắng thế ào ào xông lên chém quân Ân tơi tả, thây phơi chật đất, kinh hồn bạc vía.

Trên đài cao Ân Mao Vương cùng các Tướng Lĩnh sửng sốt, không thể tin vào mắt mình. Ân Vương tức tối nói:

   Có ai ra trận hạ gục tướng địch đó cho ta.

Một Tướng nữ lên tiếng nói:

   Để thần ra trận hạ gục tên Tướng xảo quyệt đó, cho chúng biết thế nào là sức mạnh của quân ta.

Tên nữ Tướng đó là ai mà lớn lối như vậy, còn ai nữa tên là Chiên La nổi tiếng khắp vùng Tây Vu Hồ Ân. Chiên La điểm 3 nghìn quân nhanh chóng xông ra hét lớn:

   Xem ta lấy đầu ngươi đây.

Nói xong thời giục ngựa lao tới. Bổng có tiếng quát lanh lảnh:

   Nữ tặc hổn láo xem đây.

Tức thời một nữ Tướng xông ra chặn đầu Chiên La chém tới một kiếm. Chiên La múa kiếm chống đở choang đinh tai nhức óc. Chiên La thấy Tướng nữ xông ra chặn đánh mình tuổi còn trẻ mặt như trăng rằm, môi đỏ như son, cặp mắt như hồ thu long lanh sáng ngời, tuy là thân hình mảnh khảnh, nhưng không kém phần oai phong.

Tức giận thét:

   Nữ tặc ngươi là ai mau xưng tên rồi chịu chết.

Tướng nữ xông ra chận đầu tiên la quát:

   Ta là Khơ Lan, đưa ngươi về chầu âm phủ.

Khơ Lan, nhìn nữ Tướng giặc đoán tuổi cũng cỡ như mình, mặt hoa, da phấn, tuy có vẻ mảnh mai, nhưng không kém phần uy dũng, hai nữ Tướng gườm nhau, như nói với nhau rằng, gặp ta ngươi phải bỏ mạng.

Khơ Lan trợn mắt quát:

   Mau xưng tên họ ta không giết kẻ vô danh.

Chiên La lại càng dữ tợn hơn nữa trợn mắt quát:

   Ta là Chiên La, nghe cho rõ rồi đi chầu Diêm Vương.

Nói xong Chiên La thúc ngựa lao tới ra đòn, song kiếm chém tới kình phong tuông ra ù ù. Khơ Lan ra oai nào chịu kém quát lên một tiếng, múa kiếm lên chống đở. Lời thơ khen rằng.

Khơ Lan, nữ tướng anh hùng

Lên non bắc cọp, cỡi Rồng xưa nay

Đã từng đạp sóng cỡi mây

Ngư kình bỏ mạng nổi danh anh hùng.

Đường kiếm Khơ Lan, như Rồng bay Phụng múa, chém tới ầm ầm. Chiên La nào chịu kém, song kiếm trên tay như bão táp cuồng phong.

Về sau có thơ rằng.

Người đẹp dễ đâu phải tầm thường

Cỡi Rồng cỡi cọp múa đao thương

Tung hoành ngang dọc trên trận chiến

Dễ mấy đàn ông vượt trội hơn

Kia kìa cát bụi tung trời đất

Mưa đao, bão kiếm dậy núi non

Vang rền sấm nổ luôn không dứt

Người ngựa xáp chiến kiếm loáng loang

Chiên La càng đánh càng hay

Khơ Lan,  càng đánh càng thêm càng tài

Cát bụi mịt mù rền vang tiếng thép

Chiêng, trống, dậy trời, trận chiến dậy non.

Chiên La, Khơ Lan đánh hơn trăm hiệp kẻ năm lạng, người nửa cân, không ai hơn ai. Ân Mao Vương thấy Tướng Văn Lang tài ba như vậy, không còn dám xem thường nữa, khó nắm chắt phần thắng, Ân Vương cho đánh trống thu quân.

Quân Văn Lang thấy thế cũng đánh trống thu quân, tức thời hai bên ngưng chiến, quân Văn Lang thắng trận, đem lại khí thế cho toàn quân Văn Lang.

Tưởng rằng đánh bại quân Nam

Nào hay thua trận, thở than đứng ngồi

Tướng Nam quả thật Tướng Trời

Khó mà tiêu diệt mộng thời vỡ tan.

Đây nói về quân Ân thua trận Ân Mao Vương vô cùng bực tức quát tháo ầm ĩ:

   Chỉ mấy thằng nhóc con mà không tiêu diệt được, thì còn nói gì chiếm lấy nước Văn Lang, tức ôi là tức.

Thấy cha tức giận như vậy, Mao Lợi an ủi nói:

   Để mai con ra trận lấy đầu chúng dâng lên Cha hả cơn giận.

Ân Mao Vương biết con mình tài ba hơn người, khó có ai địch lại, bằng ưng thuận gật đầu. Nói về quân Văn Lang thắng trận, rồi im bặc không thấy xuất quân, không hiểu là có chuyện gì, lên đài quan sát thấy đoanh trại quân Văn Lang binh lính đi qua đi lại như đang tập luyện binh pháp, chiêng, trống, dậy trời. Đã qua bảy ngày vẩn không thấy quân Văn Lang đến khiêu chiến, cứ ở trong doanh trại đánh trống khua chiêng. Ân Mao Vương, lấy làm lạ chúng sợ gì mà không xuất quân khiêu chiến, khi Bắc Văn Lang quân ta chiếm cứ gần hết, sắp mất Bắc Văn Lang đến nơi.

Hồ Ma nói:

   Chúng không tới khiêu chiến đánh chúng ta, thì chúng ta tới khiêu chiến đánh chúng. Đàng nào cũng phải tiêu diệt chúng, càng nhanh càng tốt, đi vào ổn định Bắc Văn Lang, rồi tiến đánh Trung Văn Lang, cuối cùng là thôn tính Nam Văn Lang.

Ân Mao Vương cho lời nói của Hồ Ma là phải, bằng theo kế sách đó mà thi hành. Ân Mao Vương cho mời Mao Lợi tới nói rằng:

   Tướng Văn Lang khá lợi hại, con ra quân phải hết sức cẩn thận. Con nên chọn mấy danh Tướng tài giỏi theo con xung trận, dẫn quân tới đoanh trại quân Văn Lang khiêu chiến.

Mao Lợi nói:

   Con xin tuân lệnh.

Nói về Mao Lợi được lệnh khiêu chiến với quân Văn Lang, mặt hầm hầm đầy sát khí, chọn hai Tướng tài điểm 5 nghìn quân, hùng hùng, hổ hổ kéo đến trước doanh trại quân Văn Lang khiêu chiến, chửi bới ôm sồm:

   Quân Văn Lang co đầu rụt cổ kia, nước Văn Lang sắp về tay ta, các ngươi chạy đâu cho thoát, mau ra quy hàng thì sống, chống lại thì gà chó cũng chẳng còn, thức thời hiểu thế mới là khôn.

Trên đài quan sát Tướng Soái, Nguyên Minh cùng các Tướng Lĩnh, nhìn thấy quân Ân tới khiêu chiến, chửi bới ôm sồm, nhịn không được nữa đòi xuất quân giao chiến, ở trên khán đài cao bảy tầng.

Nguyên Minh quan sát ba Tướng Lĩnh của quân Ân, người nào người nấy uy dũng vô cùng, biết là ba Tướng tài, không dễ gì thắng được. Nguyên Minh chưa biết phải đề cử ai.

Đa Kế hiểu nổi băn khoăn của Chủ Soái bằng nói:

   Trong các Tướng Lĩnh ta không phải có một danh Tướng, con nhà danh gia Võ Tướng nổi tiếng nhiều đời, đời Tổ Tằng Tổ Cố, đã từng đánh bại quân Ân thời nhà Ân đó sao.

Nguyên Minh nói:

   Có phải Lão Tướng gia nói đến hai anh em nhà Cao Vương phải không?

Đa Kế nói:

   Phải. Cao Hải Đại Đô Tướng thống lãnh 10 vạn quân âm thầm lập doanh trại tại Huyện An Giao, còn Cao Sơn đang thống lãnh đại quân trọng yếu chủ lực ở đây. Cao Sơn ra trận nhất định thắng.

Nguyên Minh liền cho mời Cao Sơn đến nói rằng:

   Quân Ân đã đến khiêu chiến, xét thấy khó có người thắng được chúng, nên điều Tướng quân ra trận. Cao Sơn vui vẻ nhận lệnh.

Nguyên Minh nói:

   Tướng quân cần bao nhiêu quân binh thời điều động bấy nhiêu.

Cao Sơn điểm 5 nghìn quân binh mở cửa doanh trại xông ra. Cao Sơn là vị Tướng khác thường, luôn ẩn cái tài chỉ hiện cái Đức, nên được lòng quân binh Tướng Sĩ, ít ai nhận ra cái tài vô tận của người nầy. Đa Kế là người tinh tế, thấy Cao Sơn lúc nào cũng khiêm cung, không cho ai biết mình là có tài, ít tham gia góp ý kiến nhưng lại hết lòng tận tụy với quân binh. Có lúc Cao Sơn than rằng:

Nước non khó giữ được rồi

Cội Nguồn văn hóa không còn ngửa nghiêng

Văn Lang khó nổi bình yên

Dân tình loạn lạc còn chi sơn hà

Nhớ thời Quốc Tổ ông cha

Yêu tinh, quỉ dữ, khiếp kinh hãi hùng

Phương Nam hưng thịnh thái bình

No cơm ấm áo nở nhành Thiên hương

Bây giờ nước đổ non nghiêng

Ngoại xâm dày xéo đảo điên cõi bờ

Dân tình đói khổ ngục tù

Thân tàn nô lệ, ngẹn ngào thở than

Quân thù đánh đập dã man

Lê la vạn dặm xác phơi dọc đường

Ôi thôi lũ giặc bạo tàn

Yêu tinh quỉ dữ quét càn hại dân

Cội Nguồn văn hóa nơi đâu

Sao không xuất hiện cứu dân buổi nầy

Hiển Linh Quốc Đạo chuyển xây

Mới mong diệt hết lũ bầy sói lang.

Nói về Cao Sơn nhận ấn lệnh, điểm 5 nghìn quân mở cửa doanh trại xông ra hét lớn:

   Lũ quân xâm lược kia, khôn hồn thời ra khỏi đất phương Nam, thì còn mạng sống, bằng không tất cả đều vùi chôn nơi đây.

Tướng giặc Ân phi ngựa tới quát tháo lớn lối nói:

   Chúa Vương ta muốn là Trời muốn, không ai cản được, đất Văn Lang sẽ thuộc về Chúa Vương ta. Quy thuận Chúa Vương ta thì sống, chống lại Chúa Vương ta thì chết.

Cao Sơn không nói không rằng phi ngựa tới chém Tướng giặc một đao như trời giáng, bộ mặt dữ tợn của Tướng giặc nào chịu thua, múa giáo chống trả, choang, đinh tai nhứt óc. Cao Sơn võ nghệ cao cường bay lên khỏi mình ngựa với thế Chim Điêu Bắt Rắn, từ trên không lao xuống ánh đao chớp chớp kinh hồn, Tướng giặc ra sức múa đao lên đở, ầm ầm kinh thiên động địa.

Cao Sơn với pháp Lưu Thủy Hành Vân, lượn mình bay trở về mình ngựa, nhanh như chớp thúc ngựa lao tới đánh chiêu Ngọa Hổ Tiên Du, kình phong ầm ầm cuộn tới. Tướng giặc kinh khiếp chưa từng thấy đao pháp nào lợi hại như vậy. Ánh đao như mưa sa bão táp, hết chiêu nầy tới chiêu  khác liên miên bất tận. Tướng giặc đở muốn hụt hơi, mới có 20 hiệp tướng giặc đã ê ẩm cả tay.

Về sau có thơ khen rằng:

Bản sơ hào khí nhất phương Nam

Đao pháp múa lên sấm nổ vang

Đã từng chém chết yêu, tinh, quỉ

Tung hoành ngang dọc cả Bắc Nam.

Cao Sơn hét lên một tiếng như sấm nổ, đường đao chơm chớp giật lưng trời. Tướng giặc kinh hoàng khiếp vía la lớn:

   Tuyệt Thế Ma Đao.

Dở hết sức bình sanh chống trả, đùng đùng ầm ầm, một tiếng rú thê thảm Tướng giặc bỏ mạng tại sa trường. Nói về Tướng giặc đứng gần Mao Lợi thấy Tây Đô sắp mất mạng liền phi ngựa vào cứu Tây Đô, nhưng đã muộn Tây Đô hồn du địa phủ. Tướng giặc mới lao ra cứu Tây Đô chính là Tào Hổ. Tào Hổ gầm lên như quỉ dữ, múa giáo chém tới ầm ầm kình phong tuôn ra ù ù cát bay đá chạy. Cao Sơn múa đao chống đở, choang, choang, đinh tai nhức óc. Tào Hổ liền dở tuyệt chiêu Kim Tiền Vượt Thác đường giáo kỳ ảo không biết đâu mà lường. Cao Sơn dùng chiêu Ô Long Cổn Địa chống trả ầm ầm long trời lở đất. Cao Sơn không bỏ lở dịp may đánh luôn ba chưởng, Tào Hổ múa giáo chống đở, đùng đùng ầm ầm dậy núi dậy non, hai bên đánh nhau trên bốn mươi hiệp.

Cao Sơn hét lớn, thúc ngựa lao tới tay phải ra chiêu Long Hổ Xuất Du, tay trái ra chiêu Xuyên Chỉ Triệt Ma ánh đao chớp chớp, chỉ phong véo véo. Tào Hổ ra sức chống đở chiêu đao, liền bị trúng ngay một chỉ, muốn nhào xuống ngựa, nhanh như tia chớp Cao Sơn lao tới chém một đao, chết không kịp ngáp.

Về sau có thơ khen rằng:

Phương Nam nào dễ hết anh hùng

Dời non lấp biển đất trời rung

Đường đao chơm chớp muôn vạn dặm

Khiếp vía kinh hồn giặc cáo chung.

Nói về Mao Lợi thấy Tào Hổ lâm nguy liền phi ngựa ra cứu vãn, nhưng không còn kịp nữa Tào Hổ hồn lìa khỏi xác bỏ mạng sa trường.

Mao Lợi thấy chết liền hai Tướng sôi gan hét lớn:

   Nộp mạng đây.

Liền thúc ngựa lao tới chém như mưa trút, Cao Sơn chống đở muốn hụt hơi. Đúng là kỳ phùng địch thủ, kẻ năm lạng, người nửa cân, hai bên đánh nhau long trời lở đất, đao qua giáo lại ầm ầm đùng đùng dậy núi dậy non, đá chạy, cát bay, mịt mù trời đất, choang, choang, đinh tai nhứt óc. Quả là trận chiến kinh thiên động địa, đánh hơn ba mươi hiệp, Mao Lợi muốn giết ngay địch thủ bằng niệm chú thổi ra một luồng âm phong. Cao Sơn kinh hãi bỏ chạy, Mao Lợi rượt theo, bổng Cao Sơn biến mất, Mao Lợi kinh hãi, không biết Cao Sơn ở đâu thì liền trúng ngay một chỉ, té nhào xuống ngựa. Cao Sơn lao tới chém một đao chết tốt.

Về sau có thơ khen rằng:

Mấy đời danh Tướng tiếng hùng anh

Tung hoành trận địa đánh giặc Ân

Đường đao tuyệt thế xơi ba Tướng

Rền vang danh tánh rạng trời xanh.

Nói về Cao Sơn chém chết Mao Lợi thì nghe trên không có tiếng quát, kèm theo tia chớp đánh xuống. Cao Sơn thất kinh né tránh, đùng đùng đùng hiện ra ba cái hố lớn. Cao Sơn thấy người đánh mình là một thiếu phụ xinh đẹp, mặt đầy sát khí, người thiếu phụ ấy là ai thế, còn ai nữa vợ hai của Ân Mao Vương, mẹ của Mao Lợi.

Nói về Nghịch Phong mẹ của Mao Lợi thấy con mình lâm nguy liền bay xuống cỡi con thiên lý mã bay tới trận địa nhưng không còn kịp nữa, Mao Lợi đã trúng một đao bỏ mạng. Nghịch Phong quyết giết chết Cao Sơn trả thù cho con không ngờ Cao Sơn tránh được. Nghịch Phong còn ở trên không hóa phép, trời đất tối mù tối mịt, yêu tinh quỉ dữ hiện ra đầy trời, xông tới chém giết quân Văn Lang.

Cao Sơn ra sức chống lại yêu tinh quỉ dữ, trận chiến xảy ra vô cùng ác liệt, cuồng phong càng lúc càng mạnh, quân Văn Lang ngã rạp, yêu tinh chém giết tơi bời. Cao Sơn phóng ngựa thoát thân.

Nhưng tiếng quát lanh lảnh:

   Chạy đâu cho thoát.

Tức thời một luồng tia sáng ập đến, Cao Sơn múa đao chống đở, ầm ầm khủng khiếp, trước thần lực kinh hồn của nữ Tướng giặc. Cao Sơn chống trả hơn mười chiêu, thì trúng ngay một kiếm bỏ mạng.

Giết chết Cao Sơn, Nghịch Phong thu phép tức thời trời quang mây tạnh, yêu tinh quỉ dữ biến mất, quân Văn Lang chết sạch không còn một người.

Trên quan sát đài Nguyên Minh cùng các Tướng kinh hồn bạc vía. Đa Kế thở dài nói:

   Không ngờ giặc Ân có Tướng nữ tài ba như vậy.

Nguyên Minh cùng các Tướng đem xác Cao Sơn về doanh trại, tẩm liệm cho người đưa về quê an táng.

Nói về Nghịch Phong giết chết Cao Sơn, tiêu diệt năm nghìn quân Văn Lang, ôm xác con bay về trại, Ân Mao Vương tức giận râu tóc dựng đứng, ra lệnh cho các Tướng Lĩnh về họp, quyết một trận với quân Văn Lang. Cùng lúc ấy quân Hung Nô tấn công thành Xích Linh, chúng bắt hơn ba vạn dân Văn Lang, vận chuyển dầu, cây, dây, thang, lá chắn, những dụng cụ công phá thành, ở các Châu Phủ, chúng đã chiếm đóng, vận chuyển hết đến thành Xích Linh, mở ra trận đánh công phá thành quy mô, chiếm được thành Xích Linh coi như chiếm được Đông Bắc Văn Lang.

*****************

PHẦN 9:  ĐẠI PHÁ QUÂN HUNG NÔ

 

Đây nói về quân Xích Linh, vừa lọt vào tầm ngắm của quân xâm lược. Tức thời hai bên đường cây cối rậm rạp tên bắn ra như mưa.

Lạc Hồng thất kinh la lớn:

   Có quân mai phục, có quân mai phục. Lui quân, lui quân, lui quân mau.

Trong tình thế tên giặc bắn ra xối xả. Quân Xích Linh lui ra khỏi đồi Vạn Linh chết chóc thương vong rất lớn. Tàn quân lui về thành Xích Linh trong tình cảnh vô cùng thê thảm, tả tơi chết chóc hơn phân nửa.

Mới hay cuộc sống trên đời

Lầm thang khốn khổ bởi gì ngoại xâm.

Họa nầy chưa hết thời họa khác đã kéo đến, quân Hung Nô từ các ngã kéo đến bao vây Xích Linh Giao Châu. Nhìn quân Hung Nô bao vây trùng trùng điệp điệp.

Lạc Hầu Vương than rằng:

   Mất đi Văn Hoá Cội Nguồn là mất đi tất cả, lệ thuộc nô lệ văn hóa phương Bắc, thì đại họa giáng xuống không sao tránh khỏi. Tinh thần dân chúng bị mê hoặc bởi văn hóa phi nghĩa xâm lược của ngoại lai, làm cho Bắc Văn Lang tan rã sự đoàn kết, chia năm, xẻ bảy, nổi lên đòi trự trị, theo văn hóa đấu tranh, tranh giành quyền lực, nồi da nấu thịt ở phương Bắc, thì làm sao tránh khỏi ngoại bang thôn tính.

Nói về quân hung nô từ các ngã kéo đến đông như kiến bao vây thành Xích Linh. Sau ba ngày thời quân Hung Nô tấn công thành Xích Linh, nhờ lực lượng yêu tinh, quỉ dữ hổ trợ. Nhờ kế sách của Lạc Kim Tiên, quân Hung Nô ý đồ tấn công đã thất bại vì yêu tinh, quỉ dữ chúng khiếp sợ uy linh Quốc Tổ. Hung Nô Vương là tay hung tàn bạo ác chúng không dễ gì chịu thua, bằng trăm phương nghìn kế, chiếm lấy cho được Xích Linh Giao Châu.

Quân Hung Nô là quân hung tàn bạo ác, không có việc ác nào mà chúng không làm, chúng bắt dân chúng Bắc Văn Lang, cũng như tù binh Văn Lang có hơn ba vạn người, đày đọa không khác gì sống trong địa ngục. Chúng bắt dân chúng khuân vác dụng cụ, vận chuyển thang giây, vận chuyển dầu, vận chuyển cây, vận chuyển đá, vận chuyển những vật dễ cháy, từ các Châu, Quận, Huyện, chúng đã chiếm lấy được, vận chuyển cả ngày lẫn đêm, đến Xích Linh để chúng công phá thành.

Lạc Hầu Vương cùng các Quan nhìn thấy quân Hung Nô vận chuyển dụng cụ công phá thành càng lúc càng nhiều, thì vô cùng kinh hãi. Trong lúc lo sợ thời có chim bồ câu đưa thơ từ Huyện An Giao gởi tới. Nội dung thơ như sau: Quân chủ lực đã đến An Giao, cho người đến gặp Đô Tướng, người báo Ngô Việt. Lạc Hầu Vương thấy hai chữ Ngô Việt liền tin tưởng hết sức mừng rỡ, liền cho người theo đường bí mật đến An Giao.

Không thể ngồi yên khi quân thù xâm lược

Không thể ngồi yên khi nước non loạn lạc

Hãy đứng lên, nào hiệp lực chung tay cứu nước

Giành lại quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc

Quyền mưu sanh, quyền độc lập, quyền tự do.

Đây nói về Đô Tướng Cao Hải, theo lệnh Tướng Soái Nguyên Minh, thống lãnh 10 vạn quân âm thầm đến Huyện An Giao, âm thầm dựng trại đóng đô ở đó, tùy cơ ứng biến triệt phá quân giặc. Cao Hải là người không những văn võ song toàn, mà cơ trí cũng hơn hẳn người, luôn luôn cho người nắm bắt thông tin, chính xác thành lập đội quân thám báo thiện nghệ, hoạt động rộng khắp. Nên hiểu rõ cánh quân Long Giao đã thắng trận, lại hiểu rõ quân Hung Nô đang ráo riết chuẩn bị tấn công Xích Linh Châu bằng gọi bố chính Ngô Việt, Huyện An Giao đến, dùng chim bồ câu đặc biệt gởi thư cho Lạc Hầu Vương.

Cao Hải cùng các quan Tướng đang bàn kế sách đánh quân Hung Nô, thì có thám báo vào báo:

   Bẩm Đô Tướng quân, có người từ thành Xích Linh tới.

Cao Hải nói:

   Cho mời vào.

Cao Hải nhìn người mới đến thời nhận ra ngay, không phải là quân binh bình thường, mà là một Đại Tướng quân cơ trí hơn người, bằng thi lễ mời ngồi. Người làm nhiệm vụ quan trọng bí mật kia là ai thế, còn ai nữa nếu không phải Đinh Hoàng tướng quân thì ai đảm nhiệm trong trách nầy. Đinh Hoàng tướng quân đã từng nghe tiếng hai anh em nhà danh gia Cao Hải, Cao Sơn. Đúng là danh bất hư truyền. Cao Hải tướng người uy nghiêm, hai con mắt sáng ngời, trầm lặng khác thường, đúng là mẫu người có tài cơ trí hơn người.

Đinh Hoàng thi lễ nói:

   Đinh Hoàng tôi được lệnh ký thác của Lạc Hầu Gia, đến đây bàn kế sách triệt phá quân Hung Nô.

Hai bên thi lễ khách sáo xong rồi đi ngay vào vấn đề chính. Đinh Hoàng thông báo tình hình quân Hung Nô xong. Rồi nói rằng:

   Theo tình hình nhận biết của tôi, thì nội trong ngày mai chúng tấn công phá thành.

Cao Hải hỏi:

   Tướng quân từ thành Xích Linh đến đây dọc đường có thấy quân Hung Nô mai phục không? Nếu có chúng phòng bị thế nào?

Đinh Hoàng nói:

   Quân Hung Nô chiếm lĩnh các Châu Huyện một cách dễ dàng, sanh ra cao ngạo, xem quân binh Văn Lang không vào đâu. Nên sự đề phòng không cao độ, trên đường từ Xích Linh đến đây không thấy quân Hung Nô mai phục, quân Hung Nô rất mạnh về kỵ binh, chúng di chuyển rất nhanh, chỉ trong vòng một giờ, chúng di chuyển hơn mấy mươi dặm, muốn tiêu diệt hết chúng không phải dễ. Hiện giờ chúng tập trung lực lượng cao độ tấn công thành, nên không mấy chú trọng quân Văn Lang tấn công, vì chúng nghĩ quân Văn Lang chỉ là quân nhỏ lẻ, hiện đang trấn giữ các Châu thành, nên không còn cơ hội để tấn công chúng.

Cao Hải hỏi:

   Chúng ta có thể chịu đựng được mấy ngày công phá thành của chúng.

Đinh Hoàng nói:

   Tuy thành Xích Linh là thành trì kiên cố, có lợi thế phòng thủ cao, nhưng trước sức mạnh của quân Hung Nô, nếu khéo điều binh khiển Tướng, kết hợp toàn lực lượng dân chúng trong thành, có thể cầm cự hơn mười ngày.

Cao Hải nói:

   Chỉ cần cầm cự ba ngày là đủ. Quân Hung Nô tính khí hung bạo, chúng tấn công ba ngày hao binh tổn Tướng, mà chưa chiếm được thành, chúng sẽ nổi điên lên tấn công luôn cả đêm, đến đêm thứ ba quân hung nô ráo riết công phá thành khi thấy Nam trại, Tây trại, Đông trại quân Hung Nô bị cháy, quân Hung Nô rối loạn, thì mở cổng thành ùa ra tiêu diệt chúng, chúng ta quyết tử với chúng một trận, còn mất thắng thua nầy.

Hai bên bàn bạc xong đâu vào đấy, màn đêm buông xuống, Đinh Hoàng dùng thuật kinh công đi trong đêm như một bóng ma, với quân binh Hung Nô không có sự cảnh giác cao, nên Đinh Hoàng qua mặt chúng một cách dễ dàng, theo con đường bí mật trở về thành Xích Linh.

Nước non gặp lúc nguy nan

Vẫn còn những kẻ hiếu trung sáng ngời

Kể gì sống chết cuộc đời

Ngày đêm ra sức chống thời ngoại xâm.

Đây nói về Hung Nô Vương, cùng hai người con là Hung Đa Di, Hung Quân Liệt mỗi người con thống lãnh 10 vạn quân. Hung Nô Vương thống lãnh 12 vạn quân ồ ạt  xâm chiếm Đông Bắc Văn Lang, thế mạnh như chẻ tre, cuồn cuộn như nước lũ tràn tới, tràn tới đâu cuốn sạch tới đó. Những bộ lạc Bách Việt Văn Lang, ảnh hưởng văn hóa phương Bắc, chỉ cần vài trăm, vài nghìn nóc nhà cũng nổi lên xưng Vua Chúa đòi tự trị, làm rối loạn tình hình Bắc Văn Lang, chia năm xẻ bảy, sức mạnh đoàn kết toàn dân không còn nữa, như một bó đũa đã rời từng cây. Chính người dân Bắc Văn Lang đã mở ra trang sử suy tàn, mở đường cho các thế lực ngoại bang, có cơ hội xâm lược Bắc Văn Lang. Quân Hồ, quân Ân, quân Hung Nô, thấy thời cơ đã đến chúng làm gì bỏ qua cơ hội, liền kéo quân xâm lược Bắc Văn Lang, thế mạnh như cuồng phong vũ bão. Những bộ lạc, tự mình đánh mất truyền thống Anh Linh, Đại Nam Văn Lang con cháu Tiên Rồng, chạy theo văn hóa phương Bắc, học đòi theo văn hóa phương Bắc, chỉ cần vài trăm, vài nghìn nóc nhà, cũng nổi lên xưng Vua, xưng Chúa, đòi tự trị, bị quân Hung Nô quét sạch, như quét rác, không mấy khó khăn, những Vua Việt nổi lên đòi tự trị chết thê chết thảm.

Sau có thơ rằng:

Ôi những kẻ lầm đường lạc lối

Lạc tâm hồn vào lối yêu ma

Tự mình rước giặc vào tha

Chúng đâm, chúng chém, chúng xơi sạch sành.

Chỉ còn thành Xích Linh, khí thế con Rồng cháu Tiên, luôn vang dội dòng máu hùng anh. Quân Hung Nô hiểu rõ chỉ cần chiếm được thành Xích Linh, thì coi như chiếm lĩnh hầu hết Đông Bắc Văn Lang, còn mấy Châu thành phía Nam Xích Linh là những Châu thành nhỏ, trục lợi giao thương không như thành Xích Linh, phải nói thành Xích Linh là trung tâm giao thương các Châu thành Đông Bắc Văn Lang, dân chúng nơi Xích Linh Giao Châu giàu có vô cùng, không những về ngành thủy sản, hải sản, nông sản, lâm sản, mà ngành giao thương, đa ngành buôn bán cũng vô cùng tấp nập, miếng mồi béo bở thèm muốn của quân Hung Nô, nên chúng quyết tâm chiếm cho được Xích Linh Giao Châu. Quân Hung Nô sau khi quét sạch, những ông Vua Việt nổi lên đòi tự trị, như giết một con chó. Rồi từ Tây Bắc, Bắc, Đông Bắc, địa phận Đông Bắc Văn Lang, chúng chia làm ba mũi chính, như ba con đĩa khổng lồ quơ cái vòi hút máu, từ ba hướng lao nhanh tới thành Xích Linh, bao vây chận nghẹt ba cổng chính trong bất xuất, ngoại bất nhập, hầu cô lập, nếu không đầu hàng thời chết lần chết mòn, cuối cùng cũng phải dâng thành cho chúng. Chúng chặn nghẹt ba cổng chính, Nam cổng, Bắc cổng, Tây cổng, chúng quyết chiếm cho được thành Xích Linh, nên đóng đô lập doanh trại cách ba cổng thành không xa. Tây trại do Hung Đa Di, thống lãnh chỉ huy. Nam trại do Hung Nô Vương, thống lãnh chỉ huy. Bắc trại do Hung Quân Liệt, thống lãnh chỉ huy. Chúng bắt dân chúng Văn Lang hơn ba vạn người làm nô lệ vận chuyển dụng cụ công phá thành. Sau những ngày chuẩn bị đầy đủ, không chần chờ gì thêm nữa chúng ra lệnh tấn công, chúng tấn công ngay trong đêm thứ ba, những kế sách bị thất bại, và chúng chuyển sang tấn công bằng ngày.

Trời thức giấc ôi mây mù trắng xóa

Gió lạnh về như lan tỏa vào tim

Mây lững lờ như buồn bả mông mênh

Một cái chết đang gần kề trước mắt

Những linh hồn âm phủ đã gọi tên.

Quân Hung Nô bắt đầu chuyển động, tiếng tù thúc quân vang dậy cả non sông, chúng ào ào hò hét thi nhau lao tới cung thành.

Nghe tù trận hụ lên vang dội

Như báo rằng chiến trận đến nơi

Kia kìa ác quỉ hò reo

Ào ào nhanh chóng leo lên cung thành

Chúng thét gào rền trời rền đất

Như đòi hồn ăn nuốt kinh Thiên

Nối đuôi chen lấn leo lên

Vạn nghìn con chuột khiếp kinh bạc hồn.

Quân Hung Nô như hàng vạn con chuột ào ào leo lên tường, bên dưới có quân xạ tiển bắn như mưa yểm trợ.

Đây nói về Lạc Hầu Vương, cùng các Quan nóng lòng chờ đợi, bổng từ đường hầm bí mật xuất hiện một bóng người. Lạc Hầu Vương cùng các Tướng nhận ra ngay Đinh Hoàng, ai nấy đều vui mừng hớn hở. Đinh Hoàng nhanh chóng thuật lại tất cả những gì mình đã thấy, rồi lấy ra một bức thơ, do Cao Hải gởi nói lên những cơ mật tiêu diệt quân Hung Nô.

Nội dung thơ như sau: Tất cả quân binh trong thành, ra sức chống trả đến ngày thứ ba, theo tính khí hung hãn của quân Hung Nô, thì chúng sẽ tấn công cả ngày lẫn đêm, từ đêm thứ ba trở lên. Khi trên thành thấy ba doanh trại của quân Hung Nô bị bốc lửa, thì mở cổng thành xông ra tử chiến với chúng, thắng hay thua cũng chỉ trong một trận đánh nầy. Lạc Hầu Vương cùng các Quan bàn bạc chiến thuật phòng thủ suốt ngày cả đêm, hầu tìm ra giải pháp tốt nhất. Quân dân thành Xích Linh đồng một lòng chống trả đến cùng, chuẩn bị cho tử chiến lên đến tột đỉnh. Trên thành quân dân nhìn thấy quân Hung Nô chửng bị tấn công, đều đồng loạt cầu nguyện Anh Linh Quốc Tổ phù hộ. Nhờ thế mà tinh thần quân dân bình tỉnh lạ lùng, để cho quân Hung Nô leo lên hơn nửa thành, thì trống chiêng nổi lên quyết tử.

Thế là lao giáo như mưa

Lửa, dầu, đổ xuống khiếp kinh bạc hồn

Cây, đá, ném xuống ầm ầm

Hung Nô bỏ mạng rồi đời lớp lang

Đất trời rung chuyển rền vang

Hung Nô phơi xác chết thôi kể gì

Ba ngày ra sức công thành

Cũng không chiếm được quân thù lộn gan

Hung Nô gào thét dậy non

Đêm về trận chiến càng thêm kinh hoàng

Bổng đâu lửa dậy đùng đùng

Vang trời ngựa hí khắp cùng thiên la

Hung Nô doanh trại cháy tiêu

Binh trời ập tới bao vây trong ngoài

Hung Nô khiếp vía kinh hồn

Quân binh rối loạn dập dồn đạp nhau

Cổng thành đã mở toan ra

Quân binh lũ lượt xông ra chém nhầu

Hung Nô ngã rạp tơi bời

Mở đường tẩu thoát hãi hùng khiếp kinh.

Đây nói về Hung Nô Vương, Hung Đa Di, Hung Quân Liệt vì xem thường tinh thần chiến đấu quân dân thành Xích Linh. Nên chuẩn bị không chu đáo, ỷ đông chỉ cần tấn công là chiếm được thành, không ngờ quân Văn Lang phòng thủ vững chắc. Quân Hung Nô chết như rạ, tấn công liền ba ngày đi tiêu hơn ba vạn quân, mà vẫn không chiếm được thành, điên tiết dồn quân tấn công luôn cả ngày lẫm đêm. Nhờ sự hổ trợ của yêu tinh ma quỷ chúng làm cho trời đất tối tăm mù mịt, nhưng chúng không vào được trong thành, nên không gây ra sự rối loạn trong quân binh. Đang lúc hăn say tấn công, bổng thấy lửa đỏ dậy trời, ba doanh trại Hung Nô bị bốc cháy.

Hung Nô Vương, Hung Đa Di, Hung Quân Liệt kinh hãi la lên:

   Chuyện gì thế? Chuyện gì thế?

Bổng nghe ngựa hí vang trời quân reo dạy đất, Hung Nô Vương hét lớn:

   Chúng ta bị quân Văn Lang chiếm lấy doanh trại, cũng như bao vây chúng ta, mau phá vòng vây lui quân.

Cùng trong lúc ấy các cửa thành mở toan, quân binh ùa ra chém giết dữ dội. Hung Nô Vương, Hung Đa Di, Hung Quân Liệt khiếp vía, không biết địch ở nơi nào nhiều hay ít, chỉ nghe ngựa hí vang trời quân reo dậy đất, chiêng trống ầm ầm làm khiếp nhược tinh thần quân Hung Nô. Quân Hung Nô dẫm đạp lên nhau chạy toán loạn.

Nói về Hung Đa Di dẫn bại quân phá vòng vây, ùa nhau chạy về phía Tây Bắc, thì nghe tên bắn xối xả như mưa, đội kỵ binh nhanh chóng vượt lên, thì nghe một tiếng quát long trời lở đất:

   Chạy đâu cho thoát.

Tức thời tướng lĩnh quân Văn Lang múa đao chém tới Hung Đa Di, Hung Đa Di múa giáo chống đở rồi quày ngựa bỏ chạy, gặp phải quân phục kích, Hung Đa Di không còn tinh thần chiến đấu, thúc ngựa chạy thoát về hướng Bắc, quân Văn Lang không rượt đuổi vì chỉ có hơn năm trăm quân.

Sau có thơ rằng:

Văn Lang con cháu Tiên Rồng

Anh hùng gan dạ lẫy lừng muôn thu

Đánh cho khiếp vía ngoại xâm

Đánh cho hổ báo vùi chôn trận tiền

Đánh cho quân giặc đảo điên

Thây phơi rợp đất, xác phơi đầy đồng

Vốn loài ăn cướp non sông

Tàn đời lũ giặc vùi chôn tàn đời.

Đây nói về Hung Quân Liệt kinh hồn bạc vía chưa biết chạy về hướng nào, thì nghe tiếng quát lanh lảnh:

   Chạy đâu cho thoát.

Múa kiếm thúc ngựa lao vào chém Hung Quân Liệt, Hung Quân Liệt múa giáo chống trả.

Bổng có tiếng quát như sấm:

   Để thằng giặc nầy cho tôi.

Đinh Hoàng múa thương đâm tới vèo vèo, Hung Quân Liệt ra sức chống trả, bổng có tiếng nói quân gia chạy theo lối nầy, Hung Quân Liệt còn tinh thần đâu mà chiến đấu, đành thúc ngựa đào tẩu.

Bổng có tiếng quát:

   Chạy đâu cho thoát.

Tức thời một người xuất hiện trường đao chém tới ầm ầm, Hung Quân Liệt kinh hãi:

   Tướng Văn Lang ở đâu mà đông thế.

Ráng thúc ngựa chạy dài, quân Văn Lang tha hồ mà chém mà giết.

Đây nói về Hung Nô Vương trong lòng chưa hết kinh hãi:

   Không hiểu quân Văn Lang ở đâu tới mà đông đến thế?  Không lẽ từ trên trời rơi xuống? Từ dưới đất chui lên?

Hung Nô Vương phá vòng vây chạy về hướng Tây. Bổng một tiếng quát như sấm nổ:

   Ta chờ ngươi đã lâu mau nộp mạng đi.

Tức thời thanh trường đao như sấm sét đánh tới, tướng Hung Nô Vương đưa lao lên chống đở ầm ầm đùng đùng, vị Tướng Văn Lang nào để cho Tướng Hung Nô kịp trở tay, thanh trường đao như tia chớp chém tới Tướng Hung Nô tránh không kịp trúng một đao ngã gục. Hung Nô Vương lấy làm kinh khiếp, liền hóa phép nổi lên một trận cuồng phong mù trời mịt đất, phá vòng vây chạy trốn thoát, người Tướng Văn Lang kia là ai làm cho Hung Nô Vương khiếp vía như vậy, người đó chính là Đô Đại Tướng Cao Hải.

Đây nói về Đại Đô Tướng quân Cao Hải, sau khi thảo luận cùng Đinh Hoàng, những khó khăn cùng thuận lợi, những gì cần làm ngay, tất cả đều lên phương án cẩn mật cho trận tiêu diệt quân Hung Nô. Sau khi Đinh Hoàng đi rồi, Cao Hải cùng các Tướng Lĩnh với một quyết tâm cao, quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh, không hổ danh là con Rồng cháu Tiên.

Sau có thơ khen rằng:

Từ thuở cha ông thuở Hồng Hoang

Anh Linh truyền xuống nước Văn Lang

Tiên Rồng nòi giống uy Linh ấy

Khí phách hùng anh ngút mây ngàn

Truyền thống Anh Linh rền trời đất

Quân thù cướp nước mộng tiêu tan

Phương Nam rền mãi lòng bất khuất

Trung, hiếu, trải lòng khắp nước non.

Cao Hải nói:

   Chúng ta là con cháu Tiên Rồng, luôn luôn thừa kế những gì ông cha để lại. Bổn phận làm con cháu như chúng ta, phải hết lòng bảo vệ non sông Tổ Quốc, không để mất đi một tất đất, dù phải hi sinh tính mạng. Giặc Ân, giặc Hung Nô, giặc Hồ, chúng là loài yêu tinh, quỷ dữ, chuyên hút máu người, và luôn có dã tâm xâm lược đất chúng ta, chúng đã tràn qua, cướp của giết người, bắt dân ta làm nô lệ, ăn thịt trẻ con, hãm hiếp con gái, đàn bà, phụ nữ, vơ vét của cải, con gà con chó chúng chẳng tha, dân chúng khiếp sợ trốn chạy, bệnh tật, đói, rét, chết khắp nẻo đường, cha mất con, vợ mất chồng, mối thù xâm lược nầy chúng ta bắt chúng phải trả, chúng đã  dẫm chân lên quê hương tổ quốc chúng ta, thì chúng không còn cơ hội để mà trở về, thân xác của chúng phải đổ xuống làm phân cho đất phương Nam. Chúng ta không thể đứng nhìn mà phải chiến đấu thật anh dũng. Chiến đấu quên mình, chiến đấu vì muôn dân, chiến đấu vì non sông tổ quốc. Đã ra quân thì quyết tử, các tướng nói theo đã ra quân thì quyết tử, đã ra quân thì quyết tử.

Cao Hải ra lệnh:

   Bố Chính Ngô Việt, nghe lịnh, có thuộc hạ. Tướng quân dẫn 5 nghìn quân, tấn công vào Nam doanh trại của quân Hung Nô, đi ngay trong đêm nay, âm thầm lặng lẽ khi trời sáng thì cho quân ẩn núp thật kín đáo, cách xa doanh trại chúng chừng khoảng 20 dặm, không cho chúng phát hiện ra chúng ta, chờ đêm xuống chúng ta di chuyển quân nhanh chóng, bất ngờ tấn công vào Nam doanh trại của chúng, tiêu diệt sạch, đốt sạch, tiến quân ra bao vây tiêu diệt quân Hung Nô, tuân lịnh.

   Phan Thanh Hải, nghe lệnh, có thuộc hạ. Tướng quân dẫn 5 nghìn quân tấn công vào Tây doanh trại quân Hung Nô, đi ngay trong đêm nay, âm thầm lặng lẽ khi trời sáng thời cho quân ẩn núp thật khéo léo kín đáo, phải đảm bảo an toàn bí mật cách xa doanh trại chừng 20 dặm chờ đêm xuống chúng ta di chuyển quân nhanh chóng bất ngờ tấn công vào doanh trại tiêu diệt gọn đốt sạch, rồi kéo quân phục kích đường mòn chặn đánh đường rút lui của chúng, tuân lịnh.

   Trương Việt Hàn, nghe lệnh, có thuộc hạ. Tướng quân dẫn theo 5 nghìn quân, bí mật đi đường vòng bọc xuống phía Đông, vượt qua địa giới thành Xích Linh, khi trời sáng thời cho quân ẩn núp kín đáo, cách xa doanh trại chừng 20 dặm không cho chúng phát hiện ra chúng ta, đêm xuống thì di chuyển quân nhanh chóng bất ngờ tấn công vào Bắc doanh trại quân Hung Nô, tiêu diệt sạch, đốt sạch, rồi kéo quân ra phục kích những đường mòn tiêu diệt quân hổn loạn tháo chạy của chúng, tuân lệnh.

   Ngô Việt Tiên nghe lệnh, có thộc hạ. Tướng quân thống lãnh 2 vạn quân, từ phía tây đánh xuống phía sau lưng địch, dồn chúng vào chân tường thành Xích Linh, tha hồ mà chém giết, tuân lệnh.

   Nguyên Hạo Hạo nghe lệnh, có thuộc hạ. Tướng quân thống lãnh 2 vạn quân từ phía Đông đánh thọc lên, bao vây tiêu diệt chúng, tuân lịnh.

   Còn ta thống lãnh 3 vạn quân từ phía Nam sau lưng chúng đánh tới. Nói về các Tướng Lĩnh sau khi nhận lịnh âm thầm lặng lẽ triển khai lực lượng, di chuyển trong đêm, theo kế hoạch đã dự định, quân Hung Nô không hề hay biết gì cả, chờ đêm xuống là đồng loạt tấn công.

Đây nói về quân Hung Nô chỉ lo tập trung lực lượng công phá thành, vì chưa nắm bắt được thông tin quân chủ lực Văn Lang đã đến, nên không có sự đề phòng, quân Văn Lang lại vô cùng bí mật di chuyển. Quân Hung Nô công phá thành ba ngày mà không chiếm được, lại hao quân tổn tướng rất nhiều, đi tiêu ba vạn, Hung Nô Vương sôi gan, họp hai con cùng các Tướng lĩnh, bàn kế sách chiếm cho được thành Xích Linh nội trong một đêm một ngày.

Hung Đa Di nói:

   Hãy huy động toàn lực lượng thang giây, và nhiều phương tiện công phá thành khác, dồn hết tấn công vào đêm nay, sáng mai là chiếm lấy thành Xích Linh.

Hung Quân Liệt nói:

   Hãy triệu yêu tinh, quỉ dữ đến làm phép yểm trợ cho quân ta, làm cho mù trời mù đất chúng không thấy được quân ta, chúng ta mới ồ ạt xông lên chiếm lấy thành nhanh chóng.

Hung Nô Vương khen:

   Con nói phải.

Thế là trong đêm hôm đó quân Hung Nô dốc toàn lực lượng, công thành có sự yểm trợ của yêu tinh quỉ dữ. Ánh dương quang đã chìm lần trong đêm tối. Tiếng rĩ rả côn trùng, tiếng rì rào của gió, mãi rì rầm than thở liên miên, giọt sương còn chưa tượng hình thành. Thì bầu trời bổng nhiên đen ngòm, tối mù tối mịt, đèn đuốc trên thành tắt ngúm hết thảy. Quân Hung Nô ào ào leo lên thành như nước tràn lên đê, trong đêm tối quân Xích Linh chém lớp nầy chúng ào lên lớp khác, không còn cách gì chống trả lại nổi. Trong tình thế nguy cấp cấp ấy.

Thời thấy ba doanh trại quân Hung Nô bốc cháy ngùn ngụt, lửa đỏ rực cả bầu trời, quân reo dậy đất, cùng lúc ấy cuồng phong mây đen cũng tan biến hết, quân Hung Nô khiếp hoảng khi nghe tiếng tù rút quân bỏ chạy, bị quân Xích Linh chém, bắn, xối xả chết la liệt, nằm dày trên mặt thành. Thấy quân Hung Nô rối loạn không leo lên tường thành nữa, theo còi lệnh quân Xích Linh mở cổng thành lao ra chém quân Hung Nô như chém chuối.

Về sau có thơ rằng:

Tiếng quân reo dậy trời dậy đất

Chiêng, trống rền khiếp vía Hung Nô

Đùng đùng đao kiếm như mưa

Ầm ầm trận địa khiếp kinh hãi hùng

Giặc Hung Nô bịt bùng gươm giáo

Đạp lên nhau chạy tháo, chạy chui

Tên bay, lao, giáo, khắp nơi

Hung Nô bỏ mạng ôi thôi khắp cùng

Một trận chiến lẫy lừng sông núi

Quân Hung Nô khiếp vía hồn kinh

Tiên Rồng nào phải dễ xơi

Tàn đời xâm lược ôi thôi tàn đời

Cờ đại nghĩa ngời ngời chiến thắng

Quân Hung Nô phơi xác như non

Đáng đời lũ giặc ngoại xâm

Đáng đời lũ giặc vùi chôn đáng đời.

Nói về quân Hung Nô bại trận chạy sống chạy chết khi không còn thấy quân Văn Lang rượt đuổi nữa, thì mới cho quân dừng nghỉ.

Hung Nô Vương than vắng thở dài:

   Quân Văn Lang là quân Trời, mới lợi hại như vậy.

Điểm lại quân binh thời chết hơn phân nửa, Hung Nô Vương cứ than thở mãi. Bổng thấy quân binh lao tới, Hung Nô Vương kinh hãi, tưởng là quân Văn Lang đuổi theo, chừng khi nhìn kỷ thì không phải, đó là tàn quân của Hung Đa Di, và quân của Hung Quân Liệt, cha con gặp nhau than thở không thôi.

Hung Quân Liệt, nói:

   Không hiểu quân Văn Lang ở đâu ra mà đông đến thế, chạy chỗ nào cũng gặp phải quân Văn Lang.

Thật ra quân Văn Lang chỉ có 10 vạn mà thôi, chỉ khéo chủ động, bày binh bố trận, làm cho quân địch hoang mang khiếp sợ, cứ tưởng như hàng mấy mươi vạn quân. Trong chiến tranh, kẻ nào nắm chủ động, về tâm lý, chủ động về bày binh bố trận, chủ động về trận chiến, chủ động đường tiến lui, hiểu rõ về quân địch, mà địch chẳng hiểu rõ gì về mình, chủ động trong mọi tình huống, chủ động trong mọi thời cơ. Thì coi như phần thắng đã thuộc về mình, quân Hung Nô có hơn 30 vạn quân chỉ thua một trận mà đi tiêu hơn phân nửa, giờ chỉ còn, không đầy 15 vạn quân, Hung Nô Vương mất hết ý chí xâm lược.

Hai người con Hung Nô thấy vậy liền khuyên:

   Còn nước còn tác cũng cố lại lực lượng hợp với quân Ân, tiêu diệt quân Văn Lang.

Hung Nô Vương như có tia sáng liền cho người thám thính quân Ân thắng bại ra sao rồi hể tính.

**********

PHẦN 10:  BẠI LỘ CƠ MƯU

 

Đây nói về tình hình chiến sự Ninh Giao Châu, Lạc Đại Vương, Hầu Thái Công, Nguyên Dực, cùng các Tướng Lĩnh, bàn bạc đưa ra nhiều giải pháp ưu việt nhất, hiệu quả nhất, tiêu diệt quân Ân, quân Hồ.

Nào hay trong lúc bàn bạc, có hai con yêu tinh ẩn mình nghe lén, những cơ mật binh pháp, đây là một tổn thất lớn, có thể nói ván cờ đã bại lộ, đưa đến thất bại mà không hay biết gì cả. Sát Sát nương nương là tay xảo quyệt, nắm bắt tất cả cơ mật thông tin của quân Văn Lang, nhưng làm ra như mình không hay biết, quân binh không động đậy gì cả. Nhưng thật ra Sát Sát đã triển khai quân binh hết rồi, Tướng soái Nguyên Dực, nắm bắt được thông tin cuối cùng là quân Ân chưa xuất binh.

Nguyên Dực cùng các Tướng rời khỏi thành Ninh Châu trở về doanh trại, triển khai lực lượng, điều động quân binh, theo kế sách đã thống nhất chung, chia quân làm ba đạo quân Một đạo quân đến đồi Vạn Lâm phục kích. Một đạo quân bọc về hướng Đông vượt qua đồi Vạn Lâm, đánh bọc sau lưng chặn đường rút lui của giặc. Một đạo quân chủ lực bọc về hướng Tây vượt qua khỏi đồi Vạn Lâm, chặn đứng đường tháo chạy quân Ân, rồi tiến thẳng chiếm lại thành Kinh Châu, khí thế ra quân với niềm tin chiến thắng.

Nói về Hầu Tướng Quân, theo lệnh của chủ soái Nguyên Dực, thống lãnh 5 vạn quân tức tốc lên đường trong đêm tối, đến đồi Vạn Lâm phục kích, trước khi trời sáng hầu tránh tai mắt quân Ân phát hiện. Khi đạo quân đến gần đồi Vạn Lâm, thì thấy âm khí nặng nề, sương rơi lớp lớp, cơn gió âm u như mang đầy sự chết chóc, hầu Tướng quân bổng rùng mình như linh cảm có chuyện không may.

Số mệnh huyền cơ Trời đã định

Văn Lang tai nạn bởi nghiệp xưa

Hồn giặc phiêu phiêu trong gió bụi

Che chở giặc Ân hóa gió mưa.

Đồi Vạn Lâm cây cối rậm rạp, sương mù dày đặc, che chắn cả tầm nhìn. Sao mai đã mọc, nhưng màn đêm vẩn còn u tối, đại quân vừa tiến vào đồi Vạn Lâm.

Thời có tiếng nói:

   Hầu Tướng Quân sao tôi linh cảm như có điều không may, chúng ta không nên tiến sâu vào đồi Vạn Lâm, hãy cho người thám thính thử xem.

Người vừa lên tiếng đó chính là nữ Tướng quân, Chăm Ly, Nữ Tướng tài năng quân Văn Lang. Hầu Tướng Quân, nghe Chăm Ly nói cũng phải, liền cho người đi sâu vào đồi Vạn Lâm thám thính.

Quân thám thính xong rồi trở ra báo:

   Bẩm tướng quân ngoài sương mù dày đặc ra, thì không có động tịnh gì cả.

Hầu Tướng Quân nghe báo cáo như thế thì hơi an tâm. Đạo quân tiến sâu vào đồi Vạn Lâm, cả một khu đồi rộng lớn như thế, mà yên tỉnh lạ lùng.

Chăm Ly nói:

   Theo kinh nghiệm của tôi, đáng lý ra giờ nầy thì nhiều loài chim đã thức giấc, chúng ríu ra ríu rít, nhiều loài thú đã đi ăn, nhưng đồi Vạn Lâm nầy cây cối vô cùng rậm rạp thế mà im tiếng lặng hơi.

Hầu Tướng Quân cũng thấy nghi nghi:

   Nhưng đã kéo quân vào không lẽ lui quân trở ra, có lẽ chúng ta đa nghi quá cũng nên.

Thế là đạo quân vẩn tiếp tục tiến sâu vào đồi Vạn Lâm, đường sá quanh co rậm rạp, nhưng không có việc gì xảy ra, đồi rừng vẫn im lặng, một sự im lặng kỳ lạ vô cùng, khi đạo quân đã vào hết đồi Vạn Lâm.

Hầu Tướng Quân mới thở phào nhẹ nhổm nói:

   Chúng ta đa nghi quá. Nào có thấy gì đâu?

Hầu Tướng Quân ra lệnh:

   Hãy tìm nơi ẩn núp.

Lúc bấy giờ sương chưa tan vẩn còn che chắn tầm nhìn, trên vài mươi thước thì không thấy gì cả, huống chi là rừng rậm. Bổng nghe tiếng tù khai trận nổi lên inh ỏi. Hầu Tướng Quân kinh hồn bạc vía.

Chăm Ly thét lớn:

   Có quân mai phục.

Hầu Tướng Quân ra lệnh:

   Rút lui, rút lui.

Quân binh tức thời hổn loạn, dồn ép nhau thậm chí đạp lên nhau mà chạy, hai bên đường tên bắn ra như mưa trút, quân Văn Lang càng thêm hoảng loạn, bị trúng tên chết vô số kể.

Hầu Tướng Quân thét lớn:

   Phá vòng vây rút lui.

Nhưng quân Ân đã tràn ra, chém giết quân Văn Lang, biết không còn rút lui được nữa.

Chăm Ly thét lên:

   Lấy lại bình tỉnh, xông vào quyết tử với quân thù, tiến lên, tiến lên, tử chiến tử chiến.

Thế là quân binh bình tỉnh xông vào quyết tử với giặc Ân, trận chiến xảy ra long trời lở đất.

Sau có thơ khen rằng:

Tìm cái sống trong đường tơ kẽ tóc

Chí hùng anh lớp lớp xông lên

Dù ngã xuống nhưng linh hồn bất tử

Hãy tiến lên nào ta hãy tiến lên.

Quân Ân không ngờ quân Văn Lang anh dũng như vậy, anh dũng chống trả quyết liệt, lớp nầy ngã xuống lớp khác xông lên. Nữ Tướng Chăm Ly như con Phụng Hoàng tung bay trên đầu bầy sói, đường gươm như mưa sa bão táp, chém rối xả xuống quân thù, quân Ân rơi đầu lớp lớp.

Về sau có thơ khen rằng:

Nữ tướng tài cao được mấy người

Đường gươm vun vút chém quân thù

Thây người ngã gục ôi kinh khiếp

Anh linh hào kiệt rạng muôn thu.

Chăm Ly vừa chém quân thù vừa gào thét:

   Tướng quân phá vòng vây thoát đi, để tôi chặn đứng chúng.

Tức thời múa gươm chém tới ầm ầm, phá vòng vây cho Hầu Tướng Quân chạy thoát:

Về sau có thơ khen rằng.

Một mình tả đột hữu xông

Mở đường cứu Tướng má hồng máu tuôn

Đường gươm như ánh sao đêm

Chớp lòa vun vút chém bay đầu thù.

Hầu Tướng Quân rơi nước mắt, thét lên một tiếng như sấm nổ, múa đao lao vào chém giết quân Ân.

Về sau có thơ khen rằng:

Cái chết gần kề có sợ chi

Chết vì trung hiếu chết uy nghi

Đường đao trung dũng đầy khí phách

Tung hoành gào thét chết sá chi

Đã chết thời chết một lần

Chết cho non nước thêm phần uy linh

Hi sinh đến lúc hi sinh

Trải lòng trung hiếu còn chi vui bằng.

Tướng lĩnh quân Ân là Võ Vu, thấy Tướng nữ Văn Lang vô cùng xinh đẹp, có ý bắt sống về làm đồ chơi. Bằng sai Tiểu Hổ:

   Ngươi xông xa bắt con nhãi đó cho ta.

Tiểu Hổ hiểu ý Chủ Tướng, bằng nói:

   Tướng quân xài ớn rồi giao cho thuộc hạ.

Tiểu Hổ, từ nơi ẩn núp phóng ngựa lao ra, múa giáo chém tới Chăm Ly. Chăm Ly đang hăng say chém giết quân Ân, nghe tiếng hét sau lưng, lại nghe có gió giáo chém tới, liền nhanh như chớp lách người cả ngựa né tránh. Tiểu Hổ vốn là tay háo sắc, đánh những đòn chí tử nhưng không nguy hiểm, vì y muốn bắt sống Chăm Ly. Chăm Ly lúc nầy đâu còn nghĩ gì đến cái chết, mỗi đường gươm là mỗi đường thí mạng, lợi hại vô cùng, Tiểu Hổ vì quá háo sắc, Chăm Ly chém rơi đầu.

Về sau có thơ khen rằng:

Ghê thay nữ tướng anh hùng

Trước bầy sói dữ tung hoành xông pha

Đường gươm như ánh sao sa

Quân thù bỏ mạng khiếp kinh quân thù.

Võ Vu nhìn thấy nữ Tướng Văn Lang lợi hại như vậy, không còn mơ tưởng đến làm đồ chơi nữa, bằng ra lệnh:

   Bắn chết nữ Tướng kia cho ta.

Tức thời hàng trăm hàng nghìn mũi tên lao tới, găm đầy mình như lông nhím, trước khi chết Chăm Ly hét lên một tiếng, đường gươm vun vút chém vào quân Ân, giết luôn một lúc mười tên nữa, vì sao Chăm Ly găm tên đầy mình mà không chết liền, là nhờ áo giáp đồng Trước cái chết đầy anh dũng của Chăm Ly.

Về sau có thơ khen rằng:

Trước lúc chết đầy hào hùng khí phách

Đầy hiên ngang lòng bất khuất biết bao

Thân ngã xuống, nhưng tâm hồn không ngã

Mãi sáng ngời như muôn vạn vì sao

Sao Mai đẹp mãi vì sao

Chăm Ly, đẹp mãi muôn thu sáng ngời.

Nói về Hầu Tướng Quân thấy Chăm Ly anh dũng hi sinh, liền quát lên một tiếng, múa trường đao chém tới tấp vào quân thù, chém quân Ân như chém chuối. Võ Vu Tướng giặc Ân kinh hãi, hét lớn:

   Bắn chết Tướng Văn Lang kia cho ta.

Quân theo lệnh tập trung bắn Hầu Tướng Quân, Hầu Tướng Quân trúng tên đầy mình, trước khi chết trường đao vẩn chém xuống quân thù quân Ân khiếp vía kinh hoàng.

Về sau có thơ khen rằng:

Hầu tướng anh hùng khiếp ngoại xâm

Sá gì cái chết nhẹ hơn lông

Trung hoành ngang dọc xông pha chém

Kinh hồn bạc vía lũ giặc Ân.

Nói về quân Văn Lang như rắn mất đầu, thi nhau phá vòng vây bỏ chạy, năm vạn quân chỉ còn hơn một vạn, chạy trốn thất lạc khắp mọi nơi.

Thắng bại xưa nay quá rõ thì

Cơ mưu bại lộ hết đường đi

Bị động khó mong giành chiến thắng

Sử chép để đời có sai chi.

**********

PHẦN 11: BẠI TRẬN

Cơ mưu bại lộ thật đớn đau

Sa vào cạm bẫy chết thảm sầu

Cơ Trời vận hóa còn đen thẩm

Kiếp nạn truyền miên trước lẫn sau.

Đây nói về Việt Luân Tướng Quân, thống lãnh 5 vạn quân bọc theo hướng Đông theo sự chỉ đường quân Ninh Châu, đạo quân đi đến gần sáng, khi đạo quân đi qua. Huyện Ninh Điền, bổng có một luồng gió lạ thổi đến, làm gãy cây cờ chủ lực quân Văn Lang, ai nấy đều thất kinh, không hiểu là chuyện gì sắp xảy ra, địa phận Huyện Ninh Điền, không những dân thưa thớt, cây cối um tùm rậm rạp, khó mà phát hiện ra quân ẩn núp, lại thêm sương mù dày đặc, che chắn cả tầm nhìn, vượt qua Huyện Ninh Điền, thì coi như đã vượt qua khỏi đồi Vạn Lâm.

Việt Luân Tướng Quân, định cho đạo quân vượt qua khỏi Huyện Ninh Điền, thì cho quân dừng nghỉ ẩn núp tại đây, mới cho người thám thính động tỉnh của quân Ân. Lúc nầy trời cũng đã hừng hừng sáng, sương mù còn dày đặc chưa tan, đạo quân đang đi qua những chỗ hiểm địa, thời cây cối hai bên đường bổng rung động, tức thời tiếng tù khai chiến nổi lên.

Việt Luân Tướng Quân thét lớn:

   Có quân mai phục, có quân mai phục, mau vượt qua nơi hiểm địa.

Nhưng không còn vượt lên được nữa. Hai bên đường hiểm địa tên bắn ra như mưa, quân Văn Lang vô cùng hỗn loạn. Bổng thấy một vị Tướng phi ngựa tới chỗ Việt Luân Tướng Quân nói:

   Quân địch đã bao vây tất cả, chúng ta đang kẹt trong các chỗ hiểm địa, chỉ còn tử chiến với chúng mà thôi.

Việt Luân Tướng Quân lấy lại bình tĩnh ra lệnh cho toàn quân xông lên tử chiến, quân Văn Lang lấy lại bình tĩnh không còn rối loạn nữa, chiến đấu chống trả quyết liệt, xông lên tấn công quân Hồ.

Về sau có thơ rằng:

Thế cùng đường còn chi để mất

Nào xông lên càng quét quân thù

Đã vào trận kể gì sống chết

Hãy xông lên gào thét xung phong.

Nói về Hồ Man Quân thấy quân Văn Lang lọt vào hiểm địa vòng vây, thì coi như nắm chắt phần thắng, tha hồ mà chém giết quân Văn Lang. Hồ Man Quân khoan khoái vô cùng, Hồ Man Quân ra lệnh tấn công. Quân Văn Lang bất ngờ kinh hoàng khiếp vía, hổn loạn bị trúng tên chết thôi là chết, không ngờ chiêng trống quân Văn Lang nổi lên, ngựa hí quân reo dậy đất, không còn rối loạn nữa, xông lên tử chiến, không còn biết sợ chết là gì nữa. Quân Hồ bất ngờ trước tinh thần anh dũng của quân Văn Lang, bị quân Văn Lang lao đến chém tơi tả.

Hồ Man Quân kinh hoảng trước dũng khí anh hùng của quân Văn Lang, bằng thúc quân giao đấu. Quân Hồ đã lợi thế mà còn chủ động trận địa, nên dù quân Văn Lang anh dũng mấy cũng khó mà chuyển xây tình thế được. Trận địa kéo dài cho tới giữa trưa, quân Hồ đi tiêu ba vạn, quân Văn Lang không còn một mạng.

Hồ Man Quân tuy thắng trận nhưng vẫn còn khiếp vía, nhìn lên trời than thở:

   Quân Văn Lang là quân Thần quân Thánh, thảo nào hai trăm năm về trước quân Ân đã thất bại, không còn gì nghi ngờ nữa.

Hồ Man Quân, như muốn tiêu tan mộng xâm lược Văn Lang. Hồ Man Quân thắng trận những bao nổi ê chề, đứt tiêu hơn ba vạn quân, thắng mà chẳng khác gì thua, thắng mà khiếp sợ trước quân Thần, quân Thánh, sự anh dũng không một người chạy trốn, không một người đầu hàng, chiến đấu tới hơi thở cuối cùng. Hồ Man Quân đây là lần đầu tiên nhìn thấy tinh thần chiến đấu, tinh thần quyết tử, cho Tổ Quốc quyết sinh của quân binh Văn Lang, đáng nể phục, đáng khiếp sợ. Hồ Man Quân nghĩ không hiểu những gì sẽ xảy ra đối với Địa Linh Sinh Nhân Kiệt nầy.

Đây nói về Bạch Tướng Quân dẫn theo 5 nghìn quân theo bảo vệ đội quân vận chuyển lương thực, hể nghe tin có trận giao chiến ở đồi Vạn Lâm, thì kéo quân tới yểm trợ. Đội quân vận chuyển lương thực đi chậm, sương mù xuống ước cả áo, tiếng gà rừng gáy như báo hiệu trời sắp hừng sáng. Một nổi buồn như len lỏi vào linh hồn quân binh, không hiểu nổi buồn vì quê hương Tổ Quốc đang bị ngoại xâm dày xéo thảm thê, hay là nổi buồn vì nhớ nhà khi nghe tiếng gà gáy, gọi cả đàn thức dậy, vui vầy bên nhau một ngày mới. Bạch Tướng Quân đang đi linh cảm như đang có trận giao tranh, ở tận xa xa không lẽ đồi Vạn Lâm đã vào chiến trận, sao không đúng như dự định theo kế sách đã bàn, liền sanh nghi cho quân vận chuyển lương thực dừng lại, liền cho người thúc ngựa nhanh chóng đến đồi Vạn Lâm nắm bắt tình hình.

Không bao lâu người đó trở lại nói:

   Đồi Vạn Lâm đánh nhau rồi.

Bạch Tướng Quân linh cảm như là có chuyện không may, liền cho quân tản ra phục kích, chỉ còn một số ít binh lính đang dừng nghĩ bảo vệ đoàn xe lương thực. Bổng nghe từ phía sau lưng, tiếng vó ngựa dồn dập mỗi lúc một rõ, Bạch Tướng Quân đoán chắc đó là tiếng vó ngựa của giặc từ sau đánh bọc tới cướp lấy tất cả lương thực.

Bạch Tướng Quân ra hiệu lệnh:

   Khi nào địch lọt vào lưới mai phục thì mới tấn công.

Nói về Hổ Tiên Tướng giặc Ân dẫn theo 5 nghìn quân, nhanh chóng lên đường đánh bọc hậu cướp lấy lương thực vận chuyển quân Văn Lang. Hổ Tiên nắm bắt được thông tin tình báo là đoàn quân vận chuyển lương thực quân Văn Lang đã đến Huyện Gia Lâm.

Hổ Tiên nói:

   Như vậy đoàn vận chuyển lương thực đã vượt qua chúng ta rồi, chúng ta từ phía sau bất ngờ đánh tới.

Do sương mù che chắn tầm nhìn, quân Ân chỉ thấy trước mắt là đoàn quân vận chuyển lương thực đang dừng nghỉ, chớ không thấy được số người, cứ nghĩ đây chính là cơ hội cho chúng bất ngờ tấn công, nếu đoàn quân vận chuyển lương thực có phát hiện thời cho đó là quân Văn Lang mà thôi. Hổ Tiên thúc năm nghìn quân lao vào chém giết, nhưng đến khi phát hiện là không có bao nhiêu người, chỉ toàn là xe lương thực, thì thất kinh. Bổng thấy pháo lệnh tử chiến, quân Ân chưa kịp trở tay, thời tên giáo lao, bắn phóng ra như mưa, chiêng trống nổi lên rền trời rền đất, quân Ân bất ngờ trúng tên chết lớp lớp, quân Ân rối loạn chạy loạn xạ, bị quân Văn Lang hạ gục dễ dàng, quân Văn Lang thắng thế xông lên gươm, đao, giáo, mác ào ào chém tới như mưa, ngựa người quân Ân dẩm đạp lên nhau phá vòng vây mà chạy.

Hổ Tiên khiếp quá tìm đường tẩu thoát. Bổng nghe một tiếng quát như sấm:

   Chạy đâu cho thoát xem đây.

Hổ Tiên nghe tiếng gió đao chém tới, tức thời múa trường giáo lên chống đở, choang đinh tai nhứt óc, Hổ Tiên cả người lẩn ngựa muốn ngã quỵ, không hiểu người nào mà thần dũng đến thế. Hổ Tiên thấy người chém mình là một dũng tướng to lớn, mặt vuông, mắt sáng, mình mặt giáp đồng, đầu đội kim khôi, oai phong lẩm liệt, thảo nào mà chẳng có sức mạnh kinh người, người chém Hổ Tiên một đao như trời giáng đó chính là Bạch Tướng Quân. Hổ Tiên biết đánh không lại phóng ngựa chạy tẩu thoát. Nhưng chạy đâu cho thoát hàng loạt mũi tên bắn trúng đầy mình, nhào xuống ngựa mà chết, quân Ân như rắn mất đầu, quân Văn Lang tha hồ mà đâm mà chém.

Về sau có thơ khen rằng:

Một trận chiến đầy mưu mô khôn khéo

Thời lo gì không chiếm được thương phong

Đường chiến thắng phải dựa trên mưu trí

Đạp quân thù như đạp cỏ dưới chân.

Mặt trời lúc nầy đã lên cao, nhưng che khuất bỡi thời tiết âm u cái lạnh đã làm cho con người mau đói. Bạch Tướng Quân không còn nghĩ gì đến sự ăn uống nữa, tức tốc điều động năm nghìn quân, tức tốc đến đồi Vạn Lâm, thời lúc nầy trận chiến đã dừng hẳn, thấy xa xa trước mắt quân binh Văn Lang đang chạy thục mạng, mạnh ai nấy chạy không đoàn, không toán gì cả, thì đã biết quân Văn Lang đã thất trận. Bạch Tướng Quân cho bắn pháo hiệu là đã có quân cứu viện đến nơi, quân Văn Lang đang thất lạc chạy trốn thấy pháo cứu viện, liền cùng nhau chạy đến, người nào người nấy thở muốn hụt hơi, lăng đùng ra ngồi dậy hết nổi.

Nói về quân Ân tuy thắng trận, nhưng cũng đi tiêu hơn một vạn quân, nên không đuổi theo quân Văn Lang bỏ chạy, mà chỉ ra khỏi đồi Vạn Lâm chờ lệnh, những tốp quân binh Văn Lang chạy trốn sợ sự truy đuổi quân Ân, bổng thấy hiệu lịnh cứu viện quân Văn Lang tất cả đều kéo tới hết, tính đi tính lại chỉ còn hơn một vạn quân, đi tiêu bốn vạn quân.

Bạch Tướng Quân liền hiểu rõ tất cả quân ta đã lọt hết vào ổ mai phục của chúng, nên mới thất trận thê thảm như thế nầy, các Tướng đều chết sạch, chỉ còn quân binh không. Bạch Tướng Quân cho người thám thính cánh quân bọc hướng Đông của Việt Luân Tướng Quân.

Không bao lâu thời quân thám báo kinh hãi về báo:

   Bẩm Tướng Quân, quân ta đã chết sạch không còn một mạng tại Huyện Ninh Điền hết rồi.

Bạch Tướng Quân kinh hoàng nghĩ: Quân Ân lợi hại đến thế sao? Biết không thể nào đánh lại quân Ân, nên đành rút quân trở về Ninh Giao Châu, cũng cố lại lực lượng.

*************

PHẦN 12: ĐẠI CHIẾN QUÂN ÂN

Đây nói về chủ soái Nguyên Dực, thống lãnh hơn 10 vạn quân bọc theo hướng Tây đồi Vạn Lâm, chận đánh đường rút lui quân Ân, rồi thẳng xuống Đông Bắc, chiếm lại thành Kinh Châu. Đại quân bọc Tây cách đồi Vạn Lâm hơn 15 dặm thì nghe như có trận chiến, những người có nội công thâm hậu mới có cảm giác nghe được.

Nguyên Dực lấy làm lạ tự hỏi: Không lẽ đồi Vạn Lâm đã xảy ra trận chiến. Nguyên Dực nghĩ không thể như thế được, nếu có trận chiến xảy ra phải đến chiều mai, quân Ân mới đến được đồi Vạn Lâm, không thể sớm như vậy được, lại nữa trời đã hừng sáng. Đại quân cũng sắp qua khỏi địa phận Huyện Bắc Sơn Ninh Châu, đến Huyện Nam Tây Sơn Kinh Châu, trong lòng Nguyên Dực cứ mãi không yên, liền cho quân dừng nghĩ, cho hai toán quân đi thám thính, một là thám thính địa phận Huyện Tây Sơn Kinh Châu, hai là thám thính Đồi Vạn Lâm xem chuyện gì đã xảy ra.

Chủ soái Nguyên Dực hỏi:

   Các tướng có nghe thấy gì không?

Có người nói:

   Không nghe thấy gì cả.

Có người nói:

   Hình như có trận chiến xảy ra.

Hai toán quân thám báo đi chưa được bao lâu thì liền quay trở lại cấp báo:

   Bẩm chủ soái đồi Vạn Lâm đã xảy ra trận chiến, không biết thua thắng thế nào.

Toán quân thứ hai báo:

   Bẩm chủ soái quân Ân cờ xí rợp trời đã vượt qua Huyện Tây Sơn tiến đánh chúng ta.

Chủ Soái Nguyên Dực ra lệnh:

   Hãy bày binh bố trận.

Hiệu lệnh cờ trận phất lên, tức tốc đại quân duy chuyển chiếng trống nổi lên đại quân nhanh chóng lập thành ngũ hành trận, trung ương trận liền dựng lên một cái đài cao bảy thước, chủ soái Nguyên Dực trực tiếp chỉ huy. Đài vừa dựng xong thời quân Ân cũng vừa kéo đến, cờ xí rợp trời, dẫn đầu là một Tướng nữ trung niên vô cùng xinh đẹp.

Nguyên Dực hỏi:

   Biết nữ Tướng đó là ai không?

Tức thời có người đáp:

   Nhìn lá cờ lớn có hai chữ Sát Sát, thời cũng biết nữ Tướng trung niên xinh đẹp kia là vợ lớn của Ân Mao Vương, Ân Mao Vương có hai người vợ vô cùng lợi hại, khắc tiếng nước Man Du, đó là Sát Sát Ân Nương Nương, và Nghịch Phong Ân Nương Nương.

Người hiểu rõ về nữ Tướng giặc Ân đó là ai vậy, không ai khác hơn là Hầu Thái Công.

Đây nói về Sát Sát nữ Tướng giặc Ân, rầm rầm rộ rộ kéo quân tới, thấy quân Văn Lang đông như kiến, đã bày binh bố trận xong xui, sát khí trùng trùng.

Sát Sát hỏi:

   Đây có phải là ngũ hành trận nổi tiếng mấy nghìn năm của quân Văn Lang không? Đã từng đánh bại nhiều quân xâm lược có phải không?

Có một vị Đạo Sĩ mặt xanh râu dài nói:

   Bẩm Nương Nương quả đúng đây là trận ngũ hành, không dễ gì phá được, quân binh chuyển biến khó lường.

Sát Sát nói:

   Không phá cũng phải phá, ngươi thử ước lượng phá trận ngũ hành nầy cần bao nhiêu quân.

Đạo Sĩ thưa:

   Bẩm Nương Nương phải trên 15 vạn quân, ba vạn quân đánh một cửa, 12 vạn quân đánh bốn cửa, còn ba vạn quân thời đánh vào nơi trọng yếu của ngũ hành trận.

Sát Sát nghĩ mình có hơn 8 vạn quân thời khó mà đánh, liền cho người đến đồi Vạn Lâm, điều động quân binh Võ Vu bổ sung cho đủ quân số chịu trách nhiệm đánh Đông ngũ hành trận. Lại cho người tới Huyện Ninh Điền, điều động quân Hồ đánh vào cánh Nam ngũ hành trận.

Sát Sát ra lệnh:

   Hồ Phiên nghe lệnh, có thuộc hạ, Tướng quân thống lĩnh ba vạn quân, chịu trách nhiệm đánh cánh Tây ngũ hành trận, thuộc hạ tuân lịnh. Tào Côn thống lãnh 3 vạn quân chịu trách nhiệm đánh Bắc ngũ hành trận.

Nói về Võ Vu tuy thắng trận ở đồi Vạn Lâm nhưng cũng đi tiêu hơn một vạn quân, vẩn còn đang khiếp vía trước tinh thần chiến đấu anh dũng của quân Văn Lang, còn hai vạn quân rút ra khỏi đồi Vạn Lâm chờ lịnh. Tính tới tính lui chỉ còn một vạn rưởi quân là còn chiến đấu được, còn hơn năm nghìn quân bị thương tơi tả không dùng được, thời thở dài quân Văn Lang quả là quân Thần, quân Thánh, trong lúc đang thở dài, thời có chỉ lệnh đưa đến, mau tức tốc đến Huyện Bắc Sơn Ninh Châu, bổ sung quân cho đủ ba vạn chịu trách nhiệm đánh cửa Đông ngũ hành trận quân Văn Lang.

Nói về Hồ Man Quân tuy thắng trận nhưng cũng đi tiêu mất hai vạn quân, Hồ Man Quân khi thống lãnh quân binh tràn qua đất Văn Lang, đánh đâu thắng đó một cách dễ dàng, giết hơn mấy Vua Việt, chiếm lấy Châu, Huyện, một cách dễ dàng, sanh ra kêu ngạo, không coi quân Văn Lang vào đâu. Không ngờ đụng phải quân chủ lực Văn Lang, một loại quân anh dũng kiên cường, chiến đấu không khác gì loài mãnh hổ. Tử chiến không bỏ chạy chiến đấu quyết liệt, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Tuy lọt vào vòng vây hiểm địa nhưng anh dũng đánh bật lại bất ngờ quân Hồ kinh khiếp, bỏ mạng hơn hai vạn quân. Quả là quân Thần, quân Thánh.

Hồ Man Quân được lệnh điều động quân đến Huyện Bắc Sơn Ninh Châu, chịu trách nhiệm đánh thẳng vào cánh Nam ngũ hành quân Văn Lang, Hồ Man Quân tức thời điều động quân binh lên đường ngay, không bao lâu thời tới Huyện Bắc Sơn, đứng xa xa nhìn thấy Nam trận ngũ hành sát khí trùng trùng, thời nghĩ thầm, phương Nam có trận pháp ngũ hành lợi hại vô cùng, biến hóa khó lường, muốn phá trận ngũ đâu phải dễ không kéo thời bỏ mạng như chơi.

Bằng viết mật thư gởi cho Hồ Nghi Vương. Đại ý mật thư nói rằng: Quân Ân liên kết với quân Hồ ta, đã chiếm lấy thành Kinh Châu, đánh bại 5 vạn quân chủ lực Văn Lang ở đồi Vạn Lâm, quét sạch 5 vạn quân chủ lực Văn Lang ở tại Huyện Ninh Điền, giờ lại tiến đánh phá đại quân chủ lực Văn Lang tại Huyện Bắc Sơn Ninh Châu, thời coi như chiếm lĩnh toàn bộ  Bắc Văn Lang. Chúng ta nhân cơ hội phá trận nầy, chiếm luôn thành Ninh Châu, trước quân Ân.

Nói về Hồ Nghi Vương lòng đầy tham vọng, hầu muốn nuốt nhanh chóng Tây Bắc Văn Lang, chỉ cần nuốt được Kiến Châu, thì coi như đã nuốt trọn Tây Văn Lang, nhưng chưa tìm ra cách chiếm lấy thành Kiến Châu, vì thành Kiến châu kiên cố, lại có cha con Châu Phủ Châu An, tài giỏi nhất là Châu Tiên. Có pháp thuật thần thông cao cường, lại thêm quân binh quyết lòng chống trả. Nên không dễ gì chiếm thành trong ngày một ngày hai được. Hồ Nghi Vương cũng không dại gì công phá thành, khi chưa nắm được phần thắng. Chỉ cần bao vây thành Kiến Châu, thì thành Kiến Châu sớm muộn gì cũng vào tay mình. Đang lúc cho người tôm gốp ngọc ngà châu báu đã vơ vét từ các Quận Huyện, Châu Phủ, mười mấy xe, lúa gạo, trâu bò, dê lợn, gà vịt, nhiều vô số kể, nhất là trẻ con thì không gì bằng, chúng nấu hầm mà tẩm bổ, quân Hồ, quân hung Nô, uống máu ăn thịt người là chuyện bình thường. Trong lúc hai con mắt hau háu nhìn vàng bạc châu báu ớn thì sang qua nhìn những cô gái tơ có vẻ khoang khoái lắm, gái tơ chính là sở thích của yêu Hồ, tính đưa tay chụp một cô nỏn nà, thời có người vào báo:

   Bẩm Chúa Vương, có người đưa thư đến.

Hồ Nghi Vương cho đòi người đưa thư vào, đó là một quân thám báo thân cận của Hồ Man Quân. Hồ Nghi Vương đọc xong ra chiều suy nghĩ, rồi kêu Hồ Mị Hoa đến nói:

   Con thống lãnh 2 vạn quân tới trợ giúp cho chú con Hồ Man Quân, tiêu diệt quân chủ lực Văn Lang đang đóng ở Huyện Bắc Sơn Ninh Châu. Hồ Man Quân là em của Hồ Nghi Vương, phá trận ngũ hành quân Văn Lang xong, nhanh chóng chiếm lấy thành Ninh Châu.

Hồ Mị Hoa liền thống lãnh 5 vạn quân nhanh chóng đến Huyện Bắc Sơn, theo mật thư của Hồ Man Quân.

*************

PHẦN 13: ĐẠI CHIẾN QUÂN ÂN

Đây nói về chủ soái Nguyên Dực, ở trên đài quan sát thấy quân Ân đang chuyển động quân binh, từ bốn hướng kéo đến bốn cửa trùng trùng điệp điệp. Có lẽ chuẩn bị phá trận. Tức thời phân bổ các Tướng thống lĩnh quân binh trấn giữ ngũ hành trận, chuẩn bị cho trận chiến quyết tử cao độ nhất.

Chủ Soái Nguyên Dực ra lệnh:

   In Đô Tướng quân nghe lệnh, có thuộc hạ. Tướng quân cùng hai phó nữ Tướng là La Ha, Tiên Ngung. Thống lãnh hai vạn quân, chia làm chia làm năm đạo quân. Bộ binh, xa binh, kỵ binh, xạ binh, giáp binh. Trấn thủ tại trung ương hành kim, lập đài quan sát phất cờ chỉ huy, tuân lệnh.

   Lô Gô Tướng quân nghe lệnh, có thuộc hạ. Tướng quân cùng hai phó Tướng là Phô Rô, Cam Bô, thống lãnh hai vạn quân, chia làm năm đạo quân, bộ binh, xa binh, kỵ binh, xạ binh, giáp binh, trấn thủ tại trung ương hành mộc, lập đài quan sát phất cờ chỉ huy, tuân lệnh.

   Lê Anh Tướng quân nghe lệnh, có thuộc hạ. Tướng quân cùng hai phó Tướng quân là Đoàn Minh, Hoàng Thi, thống lĩnh hai vạn quân, chia làm năm đạo quân, bộ binh, xa binh, kỵ binh, xạ binh, giáp binh, trấn thủ Trung ương hành thủy, lập đài quan sát phất cờ chỉ huy, tuân lịnh.

   Dương Điền Tướng quân nghe lệnh, có thuộc hạ. Tướng quân cùng hai phó Tướng quân là La Đôn, Kinh Hạ, thống lĩnh hai vạn quân, chia làm năm đạo quân, bộ binh, xa binh, kỵ binh, xạ binh, giáp binh, trấn thủ Trung ương hành hỏa, lập đài quan sát phất cờ chỉ huy, tuân lịnh.

   Lý Hiển Tướng quân nghe lệnh, có thuộc hạ. Tướng quân cùng hai phó Tướng quân là Trịnh Đức, Mai Phi, thống lĩnh hai vạn quân, chia là năm đạo quân, bộ binh, kỵ binh, xa binh, xạ binh, giáp binh, trấn thủ Trung ương hành thổ, chuyển hóa bổ sung, hổ trợ, những đạo quân, kim – mộc – thủy – hỏa, khi yếu hơn thế lực của địch, theo hiệu lệnh của trung ương tổng đài, tuân lệnh.

Từ thế trận ngũ hành, chuyển sang biến hóa thế trận ngũ hành, tức thời sát khí trùng trùng, mây đen ngùn ngụt, cuồng phong chuyển động, kỳ ảo lạ kỳ.

Đây nói về Sát Sát thống lĩnh quân Ân ở trên đài quan sát thấy ngũ hành trận trong phút chốc biến hóa kỳ ảo như vậy, cũng phải kinh hãi. Liền hỏi Đạo Sĩ mặt xanh râu dài:

   Đạo Sĩ có biết phá trận ngũ hành nầy không?

Đạo Sĩ mặt xanh râu dài chính là thanh sư, không những có pháp thuật mà còn biết nhiều hiểu rộng. Thanh Sư nói:

   Thưa Nương Nương, trận ngũ hành lợi hại là do năm ngọn cờ chính điều khiển chỉ huy, tùy theo trình độ của người chi huy mà lợi hại, nên khó mà đoán được.

Sát Sát nói:

   Ta đã quan sát thấy mỗi chi ngũ hành ước lượng chỉ có hai vạn quân. Còn ta có tới ba vạn quân, số lượng hơn chúng quá lớn ta ra lịnh đồng tấn công một lượt, chỉ cần phá vỡ một chi ngũ hành, thời nhất định trận ngũ hành trận sẽ bị phá vỡ ngay.

Sát Sát lấy làm đắc ý cho cách phá trận của mình, liền ra lệnh đồng loạt tấn công.

Đây nói về Trung tâm hành kim, tín hiệu pháo lệnh đã bắn lên báo hiệu quân Ân bắt đầu tấn công. Tức thời Trung ương hành kim trên đài quan sát năm màu cờ bắc đầu chuyển động.

Nói về Hồ Phiên, thống lãnh ba vạn quân, thấy quân binh Văn Lang thưa thớt, chẳng có gì là lợi hại cả, ta chỉ cần năm nghìn kỵ binh, năm nghìn xạ binh, năm nghìn bộ binh là đánh thủng vào Trung ương ngay. Liền sai Tướng Ung Beo chỉ huy năm nghìn bộ binh ào ào xông vào trận. Khí thế tràn vào như nước lũ, bộ binh xông đến đâu thời quân Văn Lang dạt ra đến đó, tiến sâu vào hơn dặm, hò hét dậy trời. Tướng giặc Hồ Phiên cười ngất, ta cứ nghĩ ngũ hành trận lợi hại lắm, chẳng qua cũng thế thôi. Bổng nghe chiêng trống nổi lên dạy trời, quân reo dậy đất, mây đen cuồn cuộn, phủ tới, năm nghìn quân Ân không thấy đâu nữa, chỉ nghe đao kiếm đinh tai nhứt óc.

Hồ Phiên ra lệnh tức thời năm nghìn quân xạ tiển do Hốt Ma điều khiển ào ào xông trận, quân binh lao vào như thác đổ, tìm quân dịch tấn công, nhưng không thấy chi cả như lạc vào chốn hoang vu. Hốt Ma kinh hãi, đây là đâu sao kỳ lạ thế nầy, trong lúc hoang mang thời bổng nghe chiêng trống dậy trời, thời thấy đội quân thiết giáp trong mây đen xuất hiện cắt đôi năm nghìn quân xạ tiển. Hốt Ma kinh hãi chưa biết phải làm sao thời thấy xuất hiện hai Tướng cỡi ngựa thiết kỵ giáp lao nhanh tới chém Hốt Ma. Hốt Ma vì quá hoang mang sợ hãi hơn nữa một Tướng khó địch lại hai Tướng, trúng liền hai đao đứt làm hai đoạn, quân Ân như rắn không đầu, chỉ trong vòng chốc lác không còn một mạng.

Hồ Phiên thấy tình thế không xong, liền ra lệnh kỵ binh xung trận. Phiêu Liêu, điều khiển năm nghìn kỵ binh nhanh chóng lao vào nhập cuộc, không ngờ bị xa quân những chiếc xe đầy chông sắt lao tới tấn công, làm cho đội kỵ binh hổn loạn, xạ binh quân Văn Lang bắn tên ra như mưa, đội kỵ binh quân Ân chết thôi là chết, thi nhau chạy thục mạng, thoát ra khỏi trận ngũ hành, chết hơn phân nửa. Hồ Phiên tái mặt than trời khóc đất, không dám đưa quân vào trận nữa, coi như đi tiêu hơn một vạn quân. Hồ Phiên bây giờ mới biết lời đồn quả không sai, nước Văn Lang có ngũ hành trận vô cùng lợi hại.

Nói về In Đô, Tiên Ngung, La Ha. Trấn thủ Tây ngũ hành, In Đô Tướng quân ở trên đài quan sát ở Trung ương hành kim, chỉ huy năm đội quân ngũ kỳ, năm màu, trắng, xanh, đen, đỏ, vàng. Tiên Ngung thống lĩnh hai đạo quân cờ trắng, cờ xanh. La Ha, thống lĩnh hai đạo quân cờ đen, cờ đỏ, ở trên đài quan sát. In Đô Tướng quân nhìn thấy quân Ân triển khai ba đạo quân, đạo bộ binh, đạo xạ binh, đạo kỵ binh, mỗi đạo ước lượng năm nghìn người. In Đô nhìn thấy đội quân bộ binh tấn công trước, liền phất cờ vàng, ra hiệu. Tiên Ngung, La Ha, thấy cờ hiệu trên quan sát đài, liền tức tốc thu quân ẩn mình trong mây trận.

Đạo quân bộ binh do Ung Beo thống lĩnh điều khiển, ào ào như nước lũ tiến vào trận, không gặp trở ngại nào cả thấy toàn là mây đen cuồn cuộn, Đạo quân cứ tiến sâu vào vùng đất hoang vu. Ung Beo vô cùng kinh hãi, liền ra lệnh cho Đạo quân lui trở ra. Khi ấy trên quan sát đài, đội kỳ cờ trắng, cờ xanh, xuất hiện theo thế bao vây. Tức thời La Ha nhanh chóng phất cờ ra lịnh hai Đạo quân, nhanh chóng lao ra bao vây, quân Ân vô cùng kinh hãi ra sức chống trả, cùng lúc ấy trên đài quan sát In Đô tự tay phất cờ vàng, tức thời hai nghìn binh thiết giáp, từ Trung ương hành kim nhanh chóng ào ào lao ra chém giết quân Ân như chém chuối loáng cái là chết sạch. Cờ trắng, cờ xanh, trên đài quan sát biến mất, thay vào đó là cờ đỏ, giáp binh, hành hỏa bao vây, cờ vàng thiết giáp kỵ binh hành thổ tấn công.

Nói về Hốt Ma nghe trận chiến rền trời rền đất nhưng không thấy vì mây đen cuồn cuộn che chắn tầm nhìn, liền điều động năm nghìn quân xạ tiển xông vào hiệp lực tấn công. Đội quân xạ tiển tiến sâu vào không thấy Đạo quân bộ binh đâu cả, vô cùng kinh hãi chưa biết phải tiến vào đâu, thời nghe chiêng trống dậy trời. Đội quân áo giáp ào ào hiện ra bao vây, lao tới chém Đạo quân xạ tiển quân Ân tới tấp. Hốt Ma kinh hãi ra lệnh lập trận xạ tiển chống trả lại, nhưng không còn kịp nữa, Đạo quân thiết giáp từ sau đánh tới vó ngựa rền trời, lao vào chém quân Ân như chém chuối, chỉ trong chốc lác quân Ân chết sạch, Hốt Ma bỏ mạng sa trường.

Nói về Phiêu Liêu, Tướng giặc được lệnh tức thời điều động năm nghìn kỵ binh, tức tốc lao vào trận, xáp chiến,  kỵ binh quân Ân như cuồng phong ào ào bay vào trận. Khi ấy trên đài quan sát cờ đen xa quân Đạo quân xe đầy chông sắt, xích sắt, theo thế cắt đôi quân địch, cùng lúc, cờ trắng, cờ xanh, cờ đỏ, cờ đen, đồng loạt xuất hiện tấn công. Nói về Phiêu Liêu, thống lãnh kỵ binh xông vào trận, thì không thấy Đạo quân bộ binh, Đạo quân xạ binh đâu nữa, mà chỉ thấy quân Văn Lang trùng trùng điệp điệp ẩn hiện trong mây đen, di chuyển ẩn hiện một cách kỳ lạ, chưa biết tấn công vào đâu, thời nghe xe cộ duy chuyển đùng đùng, lao ra cắt đôi kỵ binh quân Ân, tức thời bốn phương tám hướng đồng loạt tấn công. Đạo quân kỵ binh Ân chống trả không nổi, bỏ mạng vô số kể. Phiêu Liêu kinh hãi cùng kỵ binh sống sót lao ra khỏi trận, kinh hồn bạc vía.

Về sau có thơ rằng:

Tưởng rằng phá trận dễ như không

Nào hay bỏ mạng lấp vùi chôn

Ngũ hành trận pháp ôi huyền bí

Biến ảo vô cùng giặc khiếp kinh

Hơn vạn giặc Ân trong nháy mắt

Vùi chôn  thân xác chẳng còn tên

Kinh hồn bạc vía quân ăn cướp

Bỏ mạng tàn đời lũ yêu tinh

Nghe chiến trận gươm đao gào thét

Cõi trời Nam đau xót muôn dân

Hỡi giặc Ân nầy hỡi giặc Ân

Cớ sao mi lại chiếm xâm cõi bờ

Giờ đến lúc từ già đến trẻ

Hãy đứng lên chống trả quân thù

Đã chung dòng máu đồng bào

Tay gươm tay giáo quyết nào tử sanh.

***************

PHẦN 14: TỬ CHIẾN

Nói về Lô Gô, Phô Rô, Cam Bô. điều khiển hai vạn quân binh, trấn giữ hành mộc, nơi Trung ương hành mộc. Phô Rô, thống lĩnh hao Đạo quân, cờ trắng, cờ xanh, Cam Bô, thống lĩnh hai Đạo quân, cờ đen, cờ đỏ, trên đài quan sát, Lô Gô thấy từ xa từ nơi đại quân Ân ba Đạo quân cùng một lúc xuất phát, Đạo quân bộ binh, Đạo quân xạ binh, đạo quân kỵ binh, mỗi Đạo quân năm nghìn quân, đồng loạt tấn công Đông ngũ hành, với khí thế như cuồng phong vũ bão, quân Ân ào ào lao vào trận.

Ỷ mình cậy thế quân đông

Ào ào lao tới  phá tan  ngũ hành

Ba đạo quân cuồn cuộn xông vào

Gươm, đao, giáo, mác, sáng ngời khiếp kinh.

Lô Gô nhìn thấy quân giặc tấn công một lúc ba Đạo quân như vậy, liền phất cờ cho bốn Đạo quân ẩn sâu vào trận, phất cờ phong trận lên hư không, tức thời từ nơi đài cao Trung ương ngũ hành mây đen, mây trắng cuồn cuộn bay ra phủ kín bốn Đạo quân Văn Lang.

Đây nói Võ Vu, đã từng nghe tiếng ngũ hành trận vô cùng lợi hại, nếu không đưa quân đánh tốc chiến, tốc thắng, liên kết ba Đạo quân với nhau, thì khó mà phá được, liền ra lệnh cho ba Đạo quân cùng một lúc tiến vào, Lỗ Đại Đạo quân kỵ binh, Tấn Beo đạo quân xạ binh, Ngụy Hàn Đạo quân bộ binh. Ba Đạo quân ào ào xông vào trận, thì như lạc vào vùng đất mênh mông mây đen, mây trắng, cuồn cuộn, không thấy một bóng người, quân Ân vô cùng sợ hãi không biết quân địch ở phương nào mà tấn công, ba Đạo quân Ân bổng thấy một Đạo quân xuất hiện, tấn công chúng, chúng liền hiệp lực lao tới tấn công, hai bên giao tranh giữ dội, quân Văn Lang chống trả không lại liền bỏ chạy, quân Ân liền đuổi theo, bổng quân Văn Lang biến mất. Quân Ân vô cùng kinh hãi, chưa kịp biết phải làm sao, thì nghe chiêng trống dậy trời, tên bắn ra như mưa.

Lỗ Đại, Tấn Beo, Ngụy Hàn, la lớn, rút lui, rút lui, chúng ta đã lọt vào ổ phục kích, quân Ân rối loạn, quân Văn Lang dốc toàn lực lượng phản công, chớp nhoáng, sấm sét, từ bốn phương tám hướng đánh tới tấp, quân Ân đạp lên nhau mà chạy. Lỗ Đại, Tấn Beo, Ngụy Hàn, ra sức thoát ra khỏi trận nhưng không biết cửa ra ở đâu, bằng phóng ngựa hầu tìm đường tẩu thoát, Lỗ Đại bổng nghe một tiếng quát to như sấm, ta chờ ngươi ở đây đã lâu, nộp mạng đây, tức thời từ trong mây trắng một người xuất hiện, oai phong lẩm liệt, múa trường thương người ngựa lao tới đâm Lỗ Đại một nhát. Lỗ Đại múa giáo chống đở, hai bên đánh nhau mấy hiệp, Lỗ Đại quày ngựa bỏ chạy. Tướng Văn Lang quát, chạy đâu cho thoát, tức thời bắn một phát, Lỗ Đại trúng tên độc nhào xuống ngựa bỏ mạng, người bắn chết Lỗ Đại chính là Phô Rô.

Nói về Tấn Beo không ngờ ngũ hành trận lợi hại như vậy, vào trận thì được nhưng ra thì không biết đường, đang phi ngựa tìm đường tẩu thoát, thì thấy đội quân thiết giáp chận đường, liền quày ngựa chạy ngược trở lại, nào ngờ hai bên tên bắn ra như mưa, Tấn Beo trúng tên khắp mình bỏ mạng.

Nói về Ngụy Hàn, đằng sau kỵ binh rượt đuổi, trước mắt là xạ binh bao vây, Ngụy Hàn không còn đường nào khác là thúc ngựa lao vào xạ binh, không ngờ thoát ra khỏi trận, quân Ân ào ào xông tới chận đứng quân Văn Lang không cho truy sát Ngụy Hàn. Ngụy Hàn trúng tên khắp mình nhưng chưa chết hẳn, nói với Võ Vu rằng, quân ta chết hết rồi. Ngụy Hàn nói xong thì tắc thở, hồn chầu âm phủ. Võ Vu kinh hãi, không dám đưa quân vào phá trận nữa.

Nói về Lô Gô ở trên đài quan sát, thấy quân Ân đã lọt hết vào trận, tức thời phất cờ trận dụ quân Ân sa vào bẫy lưới phục kích, quân Ân không hiểu sự biến ảo của ngũ hành, rược đuổi quân Văn Lang, thế là quân Ân bị tấn công tới tấp, dẩn đến rối loạn. Lô Gô liền phất cờ hiệu vàng, tức thời đội quân thiết giáp từ Trung ương hành mộc kéo ra chận đứng cửa ra, quân Ân kinh khiếp rối loạn tháo chạy trở ra, liền bị Đạo quân thiết giáp Văn Lang đánh bật trở vào, không biết nơi nào là đường trở ra nữa, chạy toán loạn bị quân Văn Lang hốt sạch không còn một mạng.

Về sau có thơ rằng:

Ngũ hành trận pháp của Ông Cha

Đã từng vùi dập giặc can qua

Lẫy lừng trận pháp rền sông núi

Khiếp vía hồn kinh lũ yêu ma.

Đây nói về Hồ Man Quân, cùng Hồ Mị Hoa, thấy ngũ hành trận sát khí trùng trùng, nhất là nơi trung tâm ngũ hành trận mây đen, mây trắng, cuồn cuộn, như có một quyền lực vô tận, làm cho ngũ hành trận biến hóa khó lường.

Hồ Mị Hoa bằng nói với Hồ Man Quân rằng:

   Khi con học Đạo với thầy con, thầy con có nói nước Văn Lang có ngũ hành trận vô cùng lợi hại. Nhưng lợi hại hơn nữa là còn tùy thuộc vào cơ trí của người điều khiển, không nên xem thường, phải hết sức bình tỉnh mới phá được, chỉ cần phá được một phương ngũ hành, thời bốn phương ngũ hành kia tức thời yếu đi, nhờ đó quân ta mới phá tan ngũ hành nhanh chóng.

Hồ Cổn Quân nói:

   Để con tiên phong phá trận cho, bằng điểm một vạn binh mã, bộ binh, kỵ binh, xạ binh.

Hồ Mị Hoa nói:

   Cháu thống lĩnh hai vạn quân theo sau yểm trợ.

Hồ Man Quân lấy làm yên lòng vì hiểu rõ tài phép của Hồ Mị Hoa.

Nói về Dương Điền, La Đôn, Kinh Hạ, thống lĩnh quân binh trấn giữ phương Nam hành hỏa. Trên đài quan sát, Dương Điền thấy quân Hồ đông như kiến, từ đại quân tách ra một đạo quân ước lượng một vạn quân, bộ binh, xạ binh, kỵ binh, nhanh chóng xông vào trận. Tức thời trên đài quan sát xuất cờ trắng, cờ xanh hiệu lịnh tấn công, chậm đứng thế mạnh ồ ạt tấn công quân địch. Thế là gươm đao giáo mác, quân reo ngựa hí dậy trời, hai bên xáp chiến long trời lở đất.

Thế là trận chiến long trời

Ngựa người lao tới ầm ầm kinh thiên

Giáo gươm dậy núi dậy non

Chiêng rền, trống dội bụi bay mịt mù

Quân Ân ỷ mạnh tràn vào

Sóng người cuồn cuộn khác nào thác tuôn

Trên đài cờ phất rút lui

Văn Lang quân tướng thi nhau ẩn mình

Quân Hồ rượt đuổi ầm ầm

Nào hay chẳng thấy quân thù nơi đâu

Quân Hồ kinh hãi, hãi kinh

Lạc vào ổ phục quân binh dậy trời.

Đây nói về quân Văn Lang, chiến đấu quyết liệt với quân Ân giả đò thua bỏ chạy, quân Ân rượt đuổi theo ầm ầm, chỉ trong vòng chớp mắt quân Văn Lang biến mất, mây đen mây trắng cuồn cuộn bao phủ. Quân Hồ lạc mất phương hướng không biết quân địch ở chỗ nào, đang hoang mang kinh hãi. Thời nghe chiêng trống dậy trời quân reo dậy đất, tên từ bốn phương tám hướng bắn như mưa. Quân Hồ trúng tên chết la liệt, hổn loạn đạp lên nhau mà chạy, chạy chỗ nào cũng bị quân Văn Lang nhưng đội quân ma quỷ, bám theo chém giết ầm ầm.

Nói về Hồ Cổn, thấy quân Văn Lang chống trả không lại bỏ chạy, liền thúc quân lao theo chém giết hò hét dậy trời. Bổng thấy mây đen, mây trắng, cuồn cuộn kéo tới tức thời quân Văn Lang biến mất. Hồ Cổn kinh hãi không biết địch ở nơi nào, lại lạc mất phương hướng không biết đâu là Đông Tây Nam Bắc, liền ra lệnh thối lui, nhưng không còn kịp nữa, bốn phương tám hướng chiêng trống dậy trời quân reo dậy đất tên bắn ra như mưa, chết thôi là chết.

Hồ Cổn tìm đường tẩu thoát nhưng nơi nào cũng toàn là quân Văn Lang tên bắn xối xả. Hồ Cổn cùng tốp kỵ binh phá vòng vây thoát ra, chạy một hơi nhưng không thấy lối ra đâu cả kinh hoàng khiếp vía, bổng nghe tiếng quát chạy đâu cho thoát tức thời kỵ binh thiết giáp xuất hiện bao vây. Kỵ binh quân Hồ liều mình chống trả, nhưng chống trả làm sao nổi bỏ mạng lớp lớp. Hồ Cổn liều mình phá vòng vây bỏ chạy thục mạng, không biết là mình chạy đến nơi nào. Bổng nghe tiếng quát chạy đâu cho thoát, tức thời ba người xuất hiện chận đầu. Hồ Cổn càng thêm khiếp vía, người ở bên phải nói để thuộc hạ đưa tên nầy về chầu âm phủ. Tức thời múa đao thúc ngựa lao tới chém Hồ Cổn một đao như trời giáng. Hồ Cổn múa giáo chống đở, choang đinh tai nhức óc. Hồ Cổn mạnh vô cùng, không dễ gì một đao mà hạ gục được. Người bên trái thấy thế nói, tên Tướng giặc nầy quả là lợi hại để thuộc hạ lao ra hợp sức hạ gục cho rồi. Tức thời múa đao thúc ngựa lao ra chém tới tấp vào Hồ Cổn. Hồn Cổn võ nghệ cao cường khó mà hạ gục được. Vị Tướng Văn Lang thấy thế liền phi ngựa lao vào xáp chiến Hồ Cổn đánh không lại ba người đành bỏ mạng.

Nói về Hồ Mị Hoa, chỉ huy hai vạn quân theo sau yểm trợ, vừa lao vào trận chiến thời không còn nhìn ra phương hướng nữa, mây đen, mây trắng, cuồn cuộn. Bổng thấy quân binh hổn loạn, Hồ Mị Hoa thét lớn tất cả đều không được hổn loạn. Hồ Mị Hoa giật cả mình, khi thấy đạo quân thiết giáp không biết từ đâu kéo ra cắt đôi đạo quân của mình, làm cho đạo quân rối loạn. Hồ Mị Hoa thúc quân quay ngược trở lại chống trả. Không ngờ từ phía sau quân Hồ, quân Văn Lang như cuồng phong vũ bão từ phía sau đánh tới. Trước mặt quân địch, sau lưng quân địch, đánh như mưa trút, quân Hồ tá hỏa, thi nhau ngã gục.

Nói về quân Hồ bị cắt đôi không còn tiếp ứng với nhau được nữa, bị đạo quân thiết giáp đánh bật lui ra khỏi trận địa, còn một nữa trong trận địa hổn loạn, bị quân Văn Lang chém giết tơi bời. Hồ Mị Hoa không biết đâu là đường ra mây đen, mây trắng cuồn cuộn che chắn hết cả tầm nhìn, chiêng trống dậy trời, quân reo dậy đất chỗ nào cũng có quân Văn Lang. Hồ Mị Hoa giờ đây mới biết ngũ hành trận pháp vô cùng lợi hại, phải phá tan mây đen, mây trắng, mới thấy được phương hướng thoát ra, liền hóa phép. Không ngờ càng hóa phép thời mây đen, mây trắng, cuồn cuộn phủ tới càng nhiều. Hồ Mị Hoa khiếp quá hóa ra trận cuồng phong thúc con Thiên Lý Mã vượt qua đầu quân binh lao ra khỏi trận.

Đây nói về Hồ Man Quân, trong lòng hồi hộp không biết có phá được trận ngũ hành không, lúc nào cũng nghe đao kiếm dậy trời, bổng thấy một bóng ngựa từ trong trận bay ra, thì nhận ra ngay là Hồ Mị Hoa.

Hồ Man Quân thúc ngựa lao tới hỏi:

   Quân ta thế nào?

Hồ Mị Hoa chưa hết kinh hãi nói:

   E chết hết trong trận rồi.

Hồ Man Quân nghe Hồ Mị Hoa nói thế, điến cả người không biết Hồ Côn chết sống ra làm sao.

Đây nói về Dương Điền ở trên đài quan sát thấy quân Hồ xông vào trận đông như kiến, nào là bộ binh, nào là xạ binh, nào là kỵ binh, sức mạnh dời non lấp biển, khí thế hừng hực. Dương Điền tức thời ra hiệu lệnh phất cờ trắng, cờ xanh theo thế xáp chiến. La Bôn liền điều khiển đạo quân bộ binh, xạ binh, cùng đội quân kỵ binh lao ra chận đánh quân hồ, dậy trời dậy đất, xáp trận một hồi quân hồ mạnh quá. Quân Văn Lang được lệnh rút lui. Quân Hồ thừa thắng xông lên ào ào rượt đuổi quân Văn Lang như cuồn phong vũ bão. Quân Văn Lang được lệnh tẻ ra làm hai theo thế bao vây ẩn mình trong mây trận. Quân Hồ thấy quân Văn Lang biến mất trong mây trắng, mây đen, vô cùng kinh hãi.

Trên quan sát đài, cờ hiệu lịnh trắng, đen, xanh, đỏ, bốn phương tám hướng tấn công. Tức thời La Đôn, Kinh Hạ, điều khiển bốn đạo quân, chia ra làm hai, thành tám đạo quân đồng loạt tấn công, từ bốn phương tám hướng, tên bắn ra như mưa, quân Hồ rối loạn chạy chỗ nào cũng bị quân Văn Lang như thiên la địa võng phủ đánh.

Trên quan sát đài, Dương Điền thấy quân Ân lớp trước lớp sau xông vào trận càng lúc càng đông như kiến, liền phất cờ vàng hiệu lịnh, theo thế cắt đôi quân địch, chặn đứng không cho quân giặc rút lui, chận đứng không cho quân giặc xông vào trận. Tức thời đạo quân chủ lực thiết giáp từ trung ương hành hỏa do tướng Đổ Trung Pha, nhanh chóng bọc hậu cắt đứt quân Hồ trong không cho ra, ngoài không tiến vào được, đội quân thiết giáp chủ lực, là đội quân phá sức mạnh của địch, quân Hồ lùi ra không được, tiến vào không xong bị quân Văn Lang xơi sạch.

Sau có thơ rằng:

Hơn nhau chỉ một nước cờ

Chuyển xây thế trận diệt loài ngoại xâm

Hơn nhau chủ động điều quân

Làm cho quân giặc hết mong sống còn

Ngũ hành khiếp vía quân thù

Xác phơi như núi hãi hùng ngoại xâm.

*************

PHẦN 15:  QUYẾT TỬ

Đây nói về Lê Anh, Đoàn Minh, Hoàng Phi, được lệnh trấn giữ hành thủy. Lê Anh trên đài quan sát, thấy quân Ân trùng trùng lớp lớp rồi tách ra làm ba đạo quân, do Sát Sát chỉ huy, sai Tào Côn, làm tướng tiên phong phá trận. Tào Côn phất cờ đạo quân bộ binh ào ào xông vào trận, xáp chiến với quân Văn Lang, rồi có hiệu lịnh lui quân.

Đạo quận xạ tiễn lao vào bắn quân Văn Lang xối xả, quân Văn Lang giả thưa bỏ chạy, quân Ân không đuổi theo mà lui quân ra sau, nhường cho quân kỵ binh lao vào nhanh như gió tấn công quân Văn Lang xối xả, rồi lui ra cứ như thế quân Ân tiến sâu vào trận địa, từng bước từng bước phá tan ngũ hành trận, quân Văn Lang không còn cách nào hơn là xông ra tử chiến, thế là trận đánh xáp lá cà, nhờ mây trận che chắn nên quân Văn Lang ít thiệt hại hơn, trận chiến cứ thế xãy ra cả hàng giờ, bất phân thắng bại.

Nói về Sát Sát thấy quân Ân chưa làm gì được quân Văn Lang, liền điều động năm nghìn quân chủ lực, tiến vào trận. Tức thời gặp phải đạo quân áo giáp xạ tiễn chặn đánh, đội quân chủ lực quân Ân đánh trả quyết liệt, hai bên tử nạn, thương vong vô số. Sát Sát vô cùng tức giận làm phép chỉ kiếm, tức thời giông tố nổi lên ầm ầm đánh vào quân Văn Lang, tức thời mây đen, mây trắng cuồn cuộn chống trả. Sát Sát vô cùng kinh hãi, niệm chú hóa phép yêu tinh quỷ dữ hiện ra, tức thời mây trắng, mây đen hóa ra sấm sét yêu tinh quỷ dữ khiếp vía tan biến hết.

Nói về đạo quân tinh nhuệ quân Ân quả nhiên lợi hại đánh bật đạo quân áo giáp. Mây trắng mây đen, bị áp lực thần thông Sát Sát làm cho giảm sút uy lực, vì thế quân Văn Lang cũng giảm sút đi sự biến hóa, quân Ân vì thế mà tấn công dữ dội, lớp nầy ngã xuống lớp khác xông lên, quân Văn Lang ít quân hơn chỉ nhờ vào trận pháp ngũ hành biến hóa theo tiêu diệt kẻ thù.

Sát Sát hết làm phép nầy tới làm phép kia, quyết phá tan mây đen mây trắng, đang trong lúc làm phép thời nổi lên tiếng quát như sấm: Yêu nữ kia nạp mạng đi. Tức thời một đạo quân thiết giáp đội quân tinh nhuệ nhất của đạo quân Văn Lang, từ trung ương ngũ hành, ào ào phi ra tấn công vào đội quân tinh nhuệ thiết kỵ binh quân Ân. Thiết kỵ binh quân Ân ra sức chống trả, nhưng không nổi sắp bị tiêu diệt đến nơi. Sát Sát kinh khiếp thúc quân phá vòng vây đánh bật đạo quân áo giáp lao ra khỏi trận, thấy Tào Côn mình đầy máu bị thương khá nặng, thoát ra khỏi trận trước mình. Sát Sát nhìn lên trời thở dài thế là đi tiêu gần hai vạn quân.

Nói về quân Văn Lang tuy thắng trận nhưng cũng thiệt hại gần hai vạn quân, chỉ còn hơn tám vạn quân, định thừa thắng xông ra tiêu diệt quân Ân, nhưng thấy quân Ân còn đông quá, khó mà đánh cho lại, bằng cố thủ trong trận ngũ hành. Quân Ân cũng không dám tấn công nữa, chỉ bao vây bốn cửa một lúc một thêm chặc.

********

PHẦN 16: ĐẠI PHÁ QUÂN VĂN LANG

Đây nói về cùng lúc trận chiến cánh Tây quân Ân do Sát Sát chỉ huy, thì cánh Đông Ân Mao Vương, cùng vợ hai là Nghịch Phong sau khi thắng trận giết chết Cao Sơn một tướng kỳ tài của quân Văn Lang, thì lấy làm hả dạ, vì đã trả thù được cho con là Mao Lợi cùng Tây Đô, Tào Hổ, sau đó thời lên kế hoạch đánh phá trận ngũ hành tiêu diệt quân Văn Lang.

Trong lúc đang bàn thời có quân vào báo:

   Có Hung Đa Di, Hung Quân Liệt đến.

Ân Mao Vương cho mời vào. Hung Đa Di, Hung Quân Liệt sau khi diện kiến Ân Mao Vương thời kể lại tất cả bị quân Văn Lang đánh bất ngờ, thua đau thua đớn, thiệt hại hơn một nửa số quân.

Ân Mao Vương, Nghịch Phong nghe qua lấy làm kinh hãi nói:

   Quân Văn Lang hùng mạnh đến thế sao?

Hung Đa Di nói:

   Chúng thần cho người dọ thám thì mới biết quân Văn Lang chỉ có 10 vạn quân mà thôi.

Ân Mao Vương nghe xong lấy làm kinh ngạc:

   Chỉ có 10 vạn quân mà đánh tiêu 30 vạn quận, mà toàn là những quân chiến mã thiện chiến, tung hoành trên thảo nguyên, từ phương Bắc đến phương Nam.

Chuyện nầy nếu không phải là hai Tướng quân con của Hung Nô Vương nói thì khó mà tin được. Hung Đa Di, Hung Quân Liệt nói:

   Nếu không chủ quan xem thường quân Văn Lang, thì quân Văn Lang sẽ không bao giờ đánh bại một cách dễ dàng như thế được, dù cho đó là lực lượng tương đương với nhau.

Ân Mao Vương nói:

   Thua keo nầy gầy lại keo khác, mau về nói với Hung Nô Vương mau đến đây bàn kế tiêu diệt quân Văn Lang.

Hung Đa Di tức tốc lên đường, không bao lâu thời Hung Nô Vương đến, hai bên chào hỏi với nhau. Ân Mao Vương liền vào đề:

   Một trận chiến nầy nếu chúng ta thắng, thì không chỉ chúng ta nuốt Bắc Văn Lang, mà Trung Văn Lang, cho đến cả Nam Văn Lang, tha hồ mà hưởng sung sướng, tha hồ mà làm bá chủ, phương Bắc cũng phải khiếp sợ chúng ta.

Hung Nô Vương hỏi:

   Kế sách đó bằng cách nào?

Ân Mao Vương nói:

   Tấn công phá ngũ hành trận, tiêu diệt đại quân chủ lực Văn Lang, một trận pháp vô cùng lợi hại của nước Văn Lang, nếu phá được thì quân Văn Lang không còn dựa vào đâu để đối địch lại chúng ta. Nếu Hung Nô Chúa Vương chịu đánh phá một cánh Đông ngũ hành, thời Ân Mao Vương ta sẽ hiến kế.

Hung Nô Vương nói:

   Cứ đưa ra kế sách, Chúa Vương tôi quyết thực hiện theo.

Ân Mao Vương nói:

   Chúa Vương chỉ cần năm vạn quân chịu trách nhiệm tấn công vào cánh Đông hành mộc ngũ hành trận, còn bao nhiêu quân thì phục kích, không được phục kích nơi đồi Mục Linh, vì phục kích nơi đồi Mục Linh, quân Văn Lang phát hiện bao vây đánh hỏa công ngay, vì lúc nầy trời có nắng, lại có gió to. Quân Văn Lang sẽ đi bọc qua đồi Mục Linh trong đêm đến Kinh Đô đánh cướp trại chúng ta. Khi nghe chúng ta dồn hết lực lượng công phá trận ngũ hành, thì chúng bí mật bất ngờ đốt phá doanh trại, phá hủy lương thực chúng ta, làm cho chúng ta hoang mang tinh thần đi đến hồn loạn, tức thời chúng đánh từ sau đánh tới, ở trong đánh ra, chỉ cần tiêu diệt được một cánh quân chúng ta, thì chúng tức tốc kéo quân bao vây từ sau cánh Đông đánh tới, trong đánh ra, sau đánh tới tiêu diệt mất hai cánh quân chỉ còn nước là bỏ chạy mà thôi, chúng thừa thắng hiệp lực với các cánh quân Châu Phủ, truy sát bại binh chúng ta, thì giấc mộng xâm chiếm Văn Lang coi như chấm hết, không khéo nhân cơ hội đó quân binh nhà Chu kéo đến chiếm mất ba nước chúng ta, thế là chúng ta tàn đời.

Hung Nô Vương nghe xong vô cùng kinh hãi. Ân Mao Vương lại nói tiếp:

   Để thắng được trận nầy, phải hết sức bí mật, cho năm vạn quân phục kích, theo đường bọc của quân Văn Lang, bọc qua đồi Vạn Linh, đến Kinh Đô, phục kích cách xa đồi Vạn Linh hơn bảy dặm, chờ cho quân Văn Lang qua khỏi đồi Vạn Linh, chúng không còn cảnh giác cao độ. Khi quân Văn Lang sa vào ổ phục kích chúng ta, thì đồng loạt ra lệnh tấn công, quân Văn Lang không phải là quân hỗn tạp tầm thường chúng cố chống trả lui trở lại nhưng không trở lại thành Xích Linh, vì quân Văn Lang sợ chúng ta phục kích chặn đường rút lui của chúng mà tiêu diệt, mà chạy về Huyện An Giao chúng ta chờ đợi chúng đến mà tiêu diệt.

Hung Nô Vương nghe xong cho là diệu kế, tức tốc bí mật triển khai lực lượng, quân Văn Lang tuy có đội thám thính giỏi, nhưng cũng không phát hiện được gì, vì quân Hung Nô đánh lừa, thua chạy đóng trại bên kia sông, thật ra đó chỉ là doanh trại giả, mục đích đánh lừa quân thám thính Văn Lang mà thôi, cứ nghĩ quân Hung Nô thua trận cố thủ bên kia sông chưa hành động gì cả, ngày nào cũng quân reo ngựa hí, như đang tập trận.

Đây nói về Ân Mao Vương lập đàn cầu sư phụ. Nói về Hồ Nhất Tinh, Hồ Nhị Yêu, Hồ Tam Quỷ đang ngồi tu thiền luyện khí, bổng nghe hương trầm thoảng qua lấy làm lạ liền bấm tay độn quẻ, thời biết Ân Mao Vương đang cầu liền tức tốc đằng vân bay đến. Nghịch Phong xem thường trận ngũ hành nên không cầu sự phụ giáng lâm.

Lại nói về Nguyên Minh cùng các Tướng Lĩnh vô cùng thương tiết Cao Sơn vị Tướng tài ba của quân Văn Lang, và cũng vô cùng kinh hãi thần thông pháp thuật của tướng nữ giặc Ân, quân Ân đã nhiều lần đến khiêu chiến, nhưng quân Văn Lang chỉ cố thủ trong doanh trại ngũ hành, ngày đêm tập luyện củng cố trận pháp, từ nơi trận pháp ngũ hành xuất hiện mây đen, mây trắng, càng nhiều, lại có những tia hào quang phát lên từ trung tâm ngũ hành, cũng như bốn trung tâm, Kim – Mộc – Thủy – Hỏa.

Nguyên Minh, Nguyên Dực là hai anh em sanh đôi, cháu nhiều đời của quan Lạc Tướng Nguyên Đô, ở Bộ Ninh Hải, Châu Đông Hải, Huyện Đông Châu, khi còn nhỏ hai anh em đang chơi, bổng một trận gió cuốn đi đâu mất, sau 10 năm trở lại, từ đó nổi tiếng là có tài hay phép lạ, võ nghệ cao cường. Nguyên Dực và Nguyên Minh được một Đạo Tiên râu tóc bạc phơ đưa ra biển đảo dạy cho võ nghệ cùng trận ngũ hành.

Khi Nguyên Dực, Nguyên Minh học thành tài, thời vị Đạo Tiên ấy nói:

   Ta là Cao Tổ thời dựng nước, vì có nhân duyên với hai con nên ta xuống trần, truyền dạy võ nghệ cùng trận ngũ hành sau nầy đánh giặc Ân cứu nước.

Nói xong Cao Tổ đưa cho Nguyên Dực, Nguyên Minh, mỗi người một lá cờ Thần, gọi là cờ trận, truyền dạy những pháp chú, xong đâu vào đấy, vị Đạo Tiên nói:

   Hai con hãy nhắm mắt lại để ta đưa hai con trở lại quê nhà.

Nguyên Dực, Nguyên Minh, nghe theo lời dạy nhắm mắt lại chỉ nghe gió thổi ù ù bên tai, chừng không còn nghe gió thổi nữa, liền mở mắt ra thời ở trước sân nhà rồi. Cả nhà thấy Nguyên Minh, Nguyên Dực trở về, vui mừng khôn xiết, nhất là mẹ của Nguyên Dực, Nguyên Minh, nhìn thấy con khôn lớn, bà không cầm được giọt nước mắt, vì thương nhớ con bà già đi trước tuổi, sự đoàn tụ ấy không bao lâu thì mẹ mất, từ đó Nguyên Dực, Nguyên Minh văn ôn võ luyện chờ ngày lên đường giúp nước.

Nguyên Minh ngồi trầm tư nhìn lá cờ thần mà nhớ lại chuyện xưa, tất cả đều hiện ra trước mắt như mới hôm qua, Nguyên Minh nghĩ: Non sông Tổ Quốc, và biển đảo, nó Thiêng Liêng làm sao.

Nguyên Minh đang trầm tư hồi tưởng chuyện xưa, thời có quân vào báo:

   Bẩm Chủ Soái, quân Ân đã triển khai lực lượng đánh chúng ta.

Nguyên Minh tức thời triệu tập các quan Tướng, lên đài quan sát xem tình hình quân giặc, thấy liên hoàn doanh trại giặc Ân đang huy động toàn lực lượng chuẩn bị công phá đoanh trại ngũ hành quân Văn Lang.

Đa Kế nói:

   Bẩm Chủ Soái, hãy viết ngay mật thư gởi cho Cao Hải Đô Thống Tướng Quân, đang ở thành Xích Linh, sau khi triệt phá quân Hung Nô, với kế sách đánh bọc hậu đốt phá doanh trại, cũng như lương thực của giặc Ân. Khi quân Ân đã dốc toàn lực lượng tấn công chúng ta.

Và đúng như vậy chỉ mấy ngày sau thời quân Ân triển khai lực lượng bao vây doanh trại quân Văn Lang từ bốn hướng.

Nói về Ân Mao Vương lập đài cầu ba sư phụ, không bao lâu thời Hồ Nhất Tinh, Hồ Nhị Yêu, Hồ Tam Quỉ, đến. Ân Mao Vương, Nghịch Phong tiếp đón lạy tạ, xong đâu vào đấy.

Ân Mao Vương mời ba sư phụ ngồi ghế cao, rồi thưa rằng:

   Con cầu ba sư phụ đến đây giúp con phá trận ngũ hành, chỉ cần phá tan trận ngũ hành nầy thì con nhất định chiếm lấy được nước Văn Lang.

Hồ Nhất Tinh nói:

   Trận ngũ hành phương Nam không giống như trận ngũ hành phương Bắc. Trận ngũ hành phương Nam vô cùng lợi hại, nhất là lá cờ trận ngũ hành. Ta có đi ngang qua cánh Tây, thấy Sát Sát thất bại khi phá trận ngũ hành, và đang huy động toàn lực lượng, hợp lực cùng quân Hồ, quyết phá trận cho bằng được. Sát Sát đang lập đàn cầu sư phụ đến giúp đở.

Hồ Nhị Yêu nói:

   Trận ngũ hành ở phương Nam, không những lợi hại ở lá cờ trận, mà còn lợi hại biến hóa binh pháp ở người điều khiển trận địa.

Hồ Tam Quỷ nói:

   Như vậy muốn phá trận ngũ hành, thì phải theo hai phương án: Phương án thứ nhất là phá tan pháp trận Uy Linh của cờ trận. Phương án thứ hai là phá tan binh trận, có như vậy mới thành công được.

Hồ Nhất Tinh nói:

   Ta chịu trách nhiệm đánh phá Trung Ương. Hành thổ đài chính nơi có lá cờ trận, cắm trên cao tầng năm của đài quan sát, nơi cờ trận phát ra uy lực vô cùng tạo ra mây đen, mây trắng.

Hồ Nhị Yêu nói:

   Ta chịu trách nhiệm đánh vào cờ trận trung tâm hành kim, phá tan sức mạnh của kim lệnh, tạo ra ảo giác, của hành trận.

Hồ Tam Quỉ nói:

   Ta chịu trách nhiệm đánh vào cờ trận trung tâm hành mộc, phá tan sức mạnh ảo giác của trận khí.

Hồ Nhất Tinh nói:

   Ân Mao Vương, chịu trách nhiệm đánh vào cờ trận trung tâm hành hỏa, phá tan sức mạnh ảo giác của trận khí.

Hồ Nhất Tinh nói xong liền thổi lên khúc tiêu kỳ lạ, tức thời có một con chồn to lớn có cánh bay đến. Hồ Nhất Tinh nói:

   Con cỡi con Hồ Tiên nầy bay vào trung tâm hành hỏa phá trận.

Hồ Nhất Tinh nói:

   Nghịch Phong, chịu trách nhiệm, cỡi con Thần Mã bay lên không đánh vào cờ trận, trung tâm hành thủy, phá tan sức mạnh ảo giác của trận khí. Cờ trận đã có người phá, còn binh trận phải chọn Tướng tài giỏi điều binh khiển tướng công phá.

Ân Mao Vương, phân bổ lực lượng tấn công phá trận ngũ hành như sau:

   Hồ Ma nghe lệnh, có thuộc hạ. Lão Tướng quân thống lĩnh năm vạn quân, đánh vào cửa Tây kim trận, tuân lệnh.

   Chiên La nghe lệnh, có thuộc hạ. Tướng nữ thống lĩnh năm vạn quân, đánh vào cửa Bắc thủy trận.

   Hổ Tinh nghe lệnh, có thuộc hạ. Tướng quân thống lĩnh năm vạn quân, đánh vào cửa Nam hỏa trận, tuân lệnh.

   Beo Tinh nghe lịnh, có thuộc hạ. Tướng quân thống lĩnh năm vạn quân, bảo vệ liên hoàn doanh trại, nhất là bảo vệ lương thực, đề phòng bất ngờ xảy ra, tuân lệnh, không bổ lực lượng đâu vào đấy.

Ân Mao Vương nói:

   Chờ quân Hung Nô đến là triển khai quân tấn công.

Không bao lâu thời có người vào báo:

   Quân Hung Nô đã đến.

Thế là quân Ân, triển khai lực lượng phá trận, bốn đạo quân như bốn con mãng xà, từ trong đoanh trại bò ra lượn mình lao tới doanh trại quân Văn Lang, ai nhìn thấy cũng phải kinh hồn bạc vía.

Đây nói về Nguyên Minh cùng các Tướng trên đài quan sát nhìn thấy quân Ân như bốn con mãng xà từ liên hoàn doanh trại lao ra, cuồn cuộn bò tới bao vây doanh trại ngũ hành, quân binh đông như kiến. Nguyên Minh nhìn lên trời khấn rằng: Đây là trận sanh tử sống còn của nước Văn Lang.

Trả nợ nước non lúc nầy đây

Dù có hi sinh cũng vui vầy

Hiếu trung một dạ lòng quyết tử

Xả thân vì nước sướng vui thay

Dòng máu anh hùng nòi Hồng Lạc

Trải gan phơi mật chí tung bay

Đền ơn xả tắc, dù ngã gục

Tử chiến quân thù, chí hăng say.

Nguyên Minh nói cùng các Tướng Lĩnh:

   Quân xâm lược tự nó dẫn xác đến, chúng nó sẽ bỏ mạng tại nơi đây, đền tội với đồng bào dân tộc ta. Chúng kéo đến nhiều chừng nào tốt chừng nấy, đây là cơ hội cho chúng ta quét sạch chúng. Các Tướng quân nghe lệnh, tất cả hãy vào vị trí chiến đấu, một còn một mất với quân thù.

Nói về cánh Tây trận ngũ hành. Cự Lân, tổng chỉ huy, ở trên quan sát đài, điều hành cờ trận, cùng ba phó Tướng chỉ huy ở dưới đất là Xuân Thành, Kim Trọng, điều khiển bốn đạo quân, Kim – Mộc – Thủy – Hỏa. Khơ Linh điều khiển đạo quân hành thổ Trung Ương. Cánh Đông ngũ hành. Huyền Trung, tổng chỉ huy, ở trên đài quan sát điều hành cờ trận, cùng ba phó Tướng chỉ huy ở dưới đất là Hoàng Châu, Trịnh Chu, điều khiển bốn đạo quân, Kim – Mộc – Thủy – Hỏa. Ngô Dụng, điều khiển đạo quân Trung Ương hành thổ. Cánh Nam ngũ hành. Trần Bá, tổng chỉ huy ở trên đài quan sát điều hành cờ trận, cùng ba phó Tướng là Tôn Nghị, Dương Phàm, điều khiển bốn đạo quân, Kim – Mộc – Thủy – Hỏa. Khơ Lan, điều khiển đạo quân Trung Ương hành thổ. Cánh Bắc ngũ hành. Phan Lợi, tổng chỉ huy ở trên đài quan sát, điều hành cờ trận, cùng ba phó Tướng ở dưới đất là Đổ Can, Ngô Đại, điều khiển bốn đạo quân, Kim – Mộc – Thủy – Hỏa. Quốc Trung, điều khiển đạo quân Trung Ương hành thổ.

Cùng lúc ấy. Nguyên Minh phất cờ trận Trung Ương niệm chú, tức thời mây đen, mây trắng, cuồn cuộn hiện ra che phủ ngũ hành trận, Nguyên Minh lại phất cờ trận niệm chú tức thời Kim Thần, Mộc Thần, Thủy Thần, Hỏa Thần, Thổ Thần, xuất hiện trấn giữ các cờ trận Trung Ương ngũ hành. Tức thời ngũ hành trận uy lực vô biên, sát khí ngùn ngụt.

Nói về Hồ Ma thống lĩnh năm vạn quân Ân, rầm rầm rộ rộ như con mãng xà lượn mình về hướng Tây lao nhanh tới cánh Tây trận ngũ hành bao vây trùng trùng điệp điệp. Hồ Ma chia ra làm ba đạo quân, bộ binh, xạ binh, kỵ binh, đồng loạt tấn công, quân reo dậy đất ngựa hí vang trời. Tràn vào ngũ hành kim trận, bổng thấy trên đài quan sát cờ trận phất theo thế quân binh ẩn sâu trong trận pháp, khí trận tỏa ra sương mù. Quân Ân tiến vào như tiến vào chỗ không người, bộ binh do tướng Mục Yêu, chỉ huy bộ binh quân Ân tiến vào như chỗ không người, thấy nơi đâu cũng toàn là sương mù, thời vô cùng kinh hãi. Cùng lúc ấy đạo quân xạ binh quân Ân cũng rơi vào tình cảnh như thế, tướng Phi La kinh hải. Đạo quân kỵ binh do tướng Hồ Phỉ chỉ huy cũng không khá gì hơn, không thấy chi cả, chỉ toàn là sương mù, trong lúc còn đang hoang mang. Thì mây đen, mây trắng, cuồn cuộn kéo tới, che chắn hết tầm nhìn quân binh khó mà nhìn thấy được nhau. Quân Ân đang hoang mang thì nghe chiêng trống dậy trời quân reo dậy đất tên bắn ra như mưa, lao giáo phóng ra như mưa trút, quân Ân rối loạn binh mã, rối loạn đội hình tấn công lẫn nhau chết thôi là chết. Mây đen, mây trắng, sương mù phủ kín, quân Ân không biết đâu là đâu đạp càn lên nhau vì không nhận rõ đâu là kẻ thù, đâu là ta. Mục Yêu kinh hãi lao tới gào thét bình tỉnh không được giết lầm quân ta. Mục Yêu nghe tiếng quát như sấm, từ trong đám mây lao ra một dũng Tướng múa trường thương đâm Mục Yêu nhanh như tia chớp, Mục Yêu múa giáo chống trả, hai hổ đánh nhau dậy trời, người vừa lao ra đánh Mục Yêu không ai khác hơn chính là Xuân Thành.

Xuân Thành võ nghệ cao cường, trường thương như mưa sa bão táp, Mục Yêu chống trả muốn hụt hơi. Trong khi ấy quân Văn Lang như ma quỷ ẩn hiện khắp nơi tấn công tới tấp, quân Ân càng lúc càng rối loạn, quân Văn Lang xông lên chém quân Ân như chém chuối.

Sau có thơ rằng:

Kinh thay chiến trận  ầm ầm

Tên bay dậy đất, giáo rền dậy non

Gươm, đao, chơm chớp loáng loang

Ầm ầm trận địa kinh thiên rợn người

Ào ào người ngựa ào ào

Đùng đùng dồn dập ôi nào khiếp kinh

Đầu người rụng xuống như sung

Thây người chồng chất núi non kể gì

Một bên con cháu Tiên Rồng

Một bên xâm lược bạo tàn ác ôn

Ôi thôi đao kiếm rền vang

Chờ xem trận chiến thắng thua phen nầy.

Cùng lúc ấy Phi La đang ra sức dồn quân chống trả lại quân Văn Lang, từ mây trận bắn xối xả ra, bất thình lình đội quân áo giáp Văn Lang từ phía sau đạo quân xạ tiễn quân Ân, đánh bọc tới, đạo quân xạ tiễn quân Ân vô cùng rối loạn, tuôn vào mây trận, bị quân Văn Lang xơi sạch, tình thế vô cùng nguy cấp, nếu quân Ân không có giải pháp chống trả hửu hiệu.

Cùng lúc ấy, đạo quân kỵ binh Ân, đang ra sức chống trả lại, đạo quân ma quỷ lúc ẩn lúc hiện quân Văn Lang. Tướng Hồ Phỉ giặc Ân ra sức thúc kỵ binh chống trả, Hồ Phỉ đang hò hét muốn hụt hơi. Bổng thấy một đạo quân thiết giáp kỵ binh từ mây trận lao ra chém kỵ binh quân Ân như chém chuối. Hồ Phỉ kinh hãi lao vào xáp chiến, thì nghe một tiếng quát trong trẻo Khơ Linh thúc ngựa xông vào song kiếm chém tới như mưa. Hồ Phỉ múa giáo chống trả, Khơ Linh võ nghệ cao cường, thế võ kỳ bí, song kiếm biến hóa, Hồ Phỉ chống đở muốn hụt hơi, quày ngựa bỏ chạy.

Về sau có thơ rằng:

Phương Nam nữ Tướng anh hùng

Đường gươm chơm chớp lẩy lừng biết bao

Đánh cho Tướng giặc lao đao

Kinh hồn bạc vía  tả tơi kinh hồn.

Cùng lúc ấy cánh Đông trận ngũ hành, Hung Nô Vương dồn quân xông vào trận như nước lở. Trên đài quan sát. Huyền Trung, thấy quân Hung Nô tràn vô hành trận như nước lở, liền phất cờ hiệu, dụ địch. Tức thời Hoàng Châu, điều khiển đạo quân kỵ binh ào ào xông ra chặn đánh. Quân Hung Nô mạnh như vũ bão, không thế lực nào ngăn trở nổi, quân Văn Lang đánh không lại thi nhau bỏ chạy, quân Hung Nô rượt theo truy sát, một hồi lâu. Quân Văn Lang lao vào sương mù rồi biến đi đâu mất.

Đạo quân thứ hai do Trịnh Chu chỉ huy từ trong sương mù xuất hiện, tấn công quân Hung Nô. Quân Hung Nô ỷ đông lại hừng hực khí thế áp đảo quân Văn Lang, xông tới đánh quân Văn Lang như sấm sét, quân Văn Lang chống trả không nổi thi nhau bỏ chạy. Quân Hung nô thừa thắng xông lên rượt đuổi truy sát quân Văn Lang, bổng trên không nổ lốp bốp sương mù phủ tới không còn thấy chi cả. Hung Nô Vương, trực tiếp chỉ huy ba đạo quân tiến vào một lúc, với sức mạnh dời non lấp bể, quân Văn Lang không ngăn cản nổi. Hung Nô Vương là tay vô cùng hung bạo lại ỷ có pháp thuật, cùng kỵ bịnh tiến vào phá trận, rượt đuổi truy sát quân Văn Lang. Hung Nô Vương cùng ba đạo quân, kỵ binh, bộ binh, xạ binh, tiến nhanh sâu vào trận thì không thấy quân Văn Lang đâu cả, chỉ toàn là sương mù. Hung Nô Vương lấy làm kinh hãi định lui quân trở ra. Thời mây trận cuồn cuộn phủ tới, che chắn hết tầm nhìn người trước mặt nhìn không rõ, Hung Nô Vương càng thêm kinh hãi, niệm chú hóa phép đánh vào mây trận, thì mây trận càng mạnh thêm, khí lực dồn tới một cách kỳ lạ. Hung Nô Vương ra lệnh: Rút lui, rút lui. Nhưng đâu còn kịp nữa, quân Văn Lang từ bốn phương tám hướng ẩn theo mây trận đánh tới, chiêng trống dậy trời, quân reo dậy đất, tên, lao, bắn, phóng ra như mưa bão. Quân Hung Nô tài phóng lao, bắn tên, cỡi ngựa, thì không ai bằng, nhưng không nhìn thấy địch thủ đâu cả, chỉ bắn phóng bừa vào mây trận, hiệu quả không cao. Quân Văn Lang nhờ vào mây trận chiếm ưu thế, quân Hung Nô bị động không làm chủ được trận địa. Càng đánh quân Hung Nô càng thiệt hại lớn, Hung Nô Vương lúc nầy không còn phân biệt đâu là Đông Tây Nam Bắc, Hung Nô Vương hò hét tìm đường trở ra nhưng không tìm thấy đường ra đâu nữa. Trước mặt là đạo quân thiết giáp quân Văn Lang chiến đấu dữ dội. Hung Nô Vương chỉ còn con đường, tìm con đường sống trong con đường chết mà thôi.

Nói về Ngô Dụng thấy trên đài quan sát, phất cờ trận Trung Ương theo thế chặn đứng đường rút lui quân địch, tức thời điều khiển một vạn quân, trong đó có đạo quân thiết giáp, chặn đứng đường ra, không cho quân Hung Nô rút lui.

Về sau có thơ rằng:

Hung Nô kinh hãi rụng rời

Lạc vào mây trận cuộc đời còn chi

Ngựa người dẩm đạp lên nhau

Đầu rơi máu đổ ôi thôi kinh hoàng

Chiêng rền trống dội vang trời

Gươm đao, giáo mác ầm ầm bủa vây

Hung Nô chờ chết tan thây

Còn xem tạo hóa mắn may thế nào.

************

PHẦN 17: TỬ CHIẾN

Cùng lúc ấy nơi cánh Nam hành hỏa ngũ hành, Trần Bá ở trên đài quan sát, thấy quân Ân trùng trùng lớp lớp, chia ra làm ba đạo quân, do Tướng Hổ Tinh tổng chỉ huy. Hổ Tinh phất cờ bộ binh, chỉ kiếm, tức thời đạo quân bộ bịnh do Sa Lị cầm đầu ào ào xông vào trận.

Nói về Tôn Nghị Tướng Văn Lang nhìn thấy trên đài quan sát thấy cờ phất chặn đứng đánh quân địch tại cửa trận, tức thời điều động bộ binh xáp chiến, gươm đao giáo mác đinh tai nhức óc.

Về sau có thơ rằng:

Chiến trận vang rền giáo, đao, gươm

Quân Ân cuồn cuộn tiến xông lên

Văn Lang binh lính đầy dũng khí

Thét gào lao tới quyết tử sinh

Con đường trung hiếu luôn phía trước

Tiêu diệt quân thù lũ ngoại xâm

Một mất một còn vì non nước

Hào khí Anh Linh chí Cha Ông.

Hổ Tinh thấy sức chiến đấu quân Văn Lang như vũ bão, tức thời phất cờ đạo quân xạ tiễn xông lên, bắn vào đạo quân Văn Lang như mưa, quân Văn Lang chống cự không lại bỏ chạy, quân Ân thắng thế ào ào rượt đuổi, bổng nghe chiêng trống nổi lên ầm ầm, đội quân áo giáp Văn Lang xuất hiện, chặn đánh đạo quân xạ binh quân Ân, sức mạnh như dời sông lấp biển. Đạo quân xạ binh quân Ân tiến lên không nổi.

Hổ Tinh thấy thế hét lên một tiếng, điều động kỵ binh xung trận, khí thế như cuồng phong vũ bão, đội quân áo giáp đánh không lại. Dương Phàm ra lệnh rút lui. Ba đạo quân Ân thừa thắng xông lên, rượt đuổi quân Văn Lang, bất thình lình sương mù xuất hiện. Quân Ân không còn thấy quân Văn Lang đâu nữa, hoang mang kinh hãi. Quân Văn Lang tức thời phản công như sấm sét.

Về sau có thơ rằng:

Văn Lang nào phải nuốt dễ xơi

Gặp phải Tiên Rồng chết như chơi

Giặc Ân một lũ điên cuồng ngớ

Bỏ mạng sa trường xác thây phơi.

Nói về Tướng chỉ huy xạ binh quân Ân là Hạ Phu kinh khiếp trước trận pháp ngũ hành, thấy mây trắng, mây đen che phủ bảo bọc quân Văn Lang, vì thế quân Văn Lang không khác gì đạo quân ma quỷ, không thấy đầu, không thấy đuôi, quân Văn Lang thời thấy rõ quân Ân, quân Ân vô cùng bất lợi, càng đánh càng thất bại. Hạ Phu thúc quân xông vào mây trận. Hạ Phu xông lên hò hét, không ngờ quân Văn Lang vô cùng lợi hại, hạ gục quân Ân như hạ gục đàn chó dại. Hạ Phu phi ngựa bỏ chạy. Bổng một tiếng quát nổi lên như sấm: Chạy đâu cho thoát. Tức thời tướng Văn Lang xuất hiện, thanh đại đao trên tay chém tới nhanh như tia chớp. Hạ Phu múa giáo chống trả, choang đinh tai nhức óc, Hạ Phu kinh hoảng: Đao pháp gì mà mạnh thế? Định phóng ngựa tẩu thoát, nhưng không còn kịp nữa một tia chớp nổi lên thế Hạ Phu trúng một đao chết tốt, người giết chết hạ phu chính là Tôn Nghị.

Nói về Sa Lị đang bị bao vây trong làn tên mũi giáo, ra sức chống trả. Dương Phàm dương cung bắn một phát trúng ngay vào cổ, Sa Lị té nhào xuống ngựa chết tốt. Quân Ân như rắn mất đầu hỗn loạn vô cùng, Hổ Tinh kinh hãi thúc quân phá vòng vây tìm lối ra, nhưng bị đạo quân thiết giáp đánh bật trở vào, người chỉ huy đạo quân thiết giáp Văn Lang chính là Khơ Lan. Khơ Lan tả xông hữu đột, điều khiển quân binh, đội quân thiết giáp vô cùng linh hoạt, quân Ân lớp lớp bị hạ gục.

Nói về cánh Bắc hành thủy, quân Ân cũng đang sa vào thảm cảnh sắp bị hủy diệt. Chiên La đang bị bao vây trong làn tên mũi giáo, sắp mất mạng đến nơi, nói chung quân Ân thua to nếu không phá được cờ trận.

Đây nói về Hồ Nhất Tinh, Hồ Nhị Yêu, Hồ Tam Quỉ, Ân Mao Vương, Nghịch Phong. Đồng loạt bay lên không xem xét trận ngũ hành, thấy mây đen, mây trắng, cuồn cuộn che phủ trận ngũ hành không thấy gì cả, khí lực ngũ hành tuôn lên cuồn cuộn, sát khí ngùn ngụt, đã hơn một giờ mà chưa có cách phá trận. Ân Mao Vương lấy làm lo, vì quân Ân đã xông vào trận địa, chiến trận nổ ra rền trời rền đất, không còn chần chờ được nữa, Ân Mao Vương cỡi con Hồ Tiên bay xuống đánh phá cờ trận trung tâm hành hỏa.

Ân Mao Vương vừa lao vào mây trắng, tức thời một đạo kim quang từ cờ đỏ trung tâm hành hỏa tỏa lên tấn công. Hồ Tiên liền thổi hắc quang chống trả, Ân Mao Vương rút bảo kiếm từ trên không chém xuống, bổng thấy một vị thần xuất hiện, bay lên chống trả, chính là Hỏa Thần, hai bên đánh với nhau vô cùng ác liệt. Ân Mao Vương, nhờ học được ba thầy nên pháp thuật vô biên. Hỏa Thần yếu thế hơn nhưng nhờ thần lực cờ trận, nên Mao Ân Vương khó mà giành lấy phần thắng. Ân Mao Vương quyết hạ gục Hỏa Thần kiếm báu trên tay vung lên chém xuống lia lịa, kiếm khí tuôn ra chém tới ầm ầm. Hỏa Thần vung gậy phép lên chống trả, gậy qua kiếm lại ầm ầm đùng đùng dậy trời dậy đất, đánh nhau  cả trăm hiệp bất phân thắng bại.

Cùng lúc ấy Nghịch Phong cỡi con Huyết Hản thần mã bay vào mây trận, vung kiếm chém xuống lá cờ đen trung tâm hành thủy, tức thời một đạo hào quang từ lá cờ đen tỏa lên chống trả ầm ầm long trời lở đất. Nghịch Phong niệm chú hóa phép chỉ tay một cái, tức thời một đạo khí phong bay tới lá cờ đen. Bổng một vị thần xuất hiện đó là Thủy Thần, múa gậy chống đở.

Nghịch Phong nổi giận quát:

   Ngươi là ai mà dám đối địch với ta?

Thủy Thần quát:

   Nhái ranh hổn láo, xem gậy lão Thần đây.

Tức thời chỉ gậy vào Nghịch Phong hô biến, tức thời cây gậy liền hóa ra một đạo kim quang đánh tới. Nghịch Phong chỉ kiếm niệm chú hóa ra một đạo kim quang chống trả, hai bên đấu phép với nhau liên miên bất tận. Nghịch Phong quyết hạ cho bằng được đối thủ, phi ngựa lao tới chém vào Thủy Thần. Thủy Thần múa gậy chống trả, đánh với nhau cả trăm hiệp bất phân thắng bại.

Lại nói về Hồ Nhị Yêu bay thẳng vào trung tâm kim trận, đánh một chưởng xuống lá cờ trắng, tức thời lá cờ trắng tỏa lên một đạo hào quang chống trả. Hồ Nhị Yêu nhanh như chớp đánh liền ba chưởng xuống lá cờ trắng, bất thình lình một vị Thần xuất hiện phất ba đạo kình phong chống trả, đùng ầm ầm long trời lở đất.

Hồ Nhị Yêu quát:

   Kim Thần muốn sống thì biến ngay đi.

Kim Thần quát:

   Không lo tu luyện còn giúp cho đồ đệ xâm lược quả là ngươi đã tới số.

Hồ Nhị Yêu tức quá múa phất Trần đánh tới tấp vào Kim Thần, Kim Thần nào chịu kém, múa gậy Thần đánh tới tấp vào Hồ Nhị Yêu, hai bên đanh nhau rền trời rền đất. Gậy qua, Trần lại hơn trăm hiệp bất phân thắng bại, ai nhìn thấy cũng phải kinh hồn bạc vía.

Cùng lúc ấy nói về Hồ Tam Quỉ, đánh với Mộc Thần. Cả trăm hiệp bất phân thắng bại, Mộc Thần múa gậy kình phong tuôn ra ầm ầm, Hồ Tam Quỉ múa đôi bàn tay sắt vuốt nhọn chống trả. Hồ Tam Quỉ nhanh như chớp chụp xuống lá cờ xanh bổng một đạo hào quang tỏa lên, Tam quỉ trúng tia hào quang đau buốt lấy làm kinh hãi. Không còn dám coi thường lá cờ trận, Tam Quỉ bị Mộc Thần tấn công, rất khó phá được cờ trận, hai bên đánh nhau chưởng phong ầm ầm, chỉ phong véo véo, bất phân thắng bại.

Lại nói về Hồ Nhất Tinh, bay vào trung tâm ngũ hành trận, lao nhanh xuống lá cờ vàng, đang phát ra uy lực vô biên, đánh xuống một đạo hắc quang, tức thời lá cờ vàng tỏa lên một đạo hào quang chống trả, ầm ầm long trời lở đất. Hồ Nhất Tinh múa phất trầm đánh xuống lá cờ trận, lá cờ trận tỏa hào quang chống trả, Hồ Nhất Tinh không làm gì được. Hồ Nhất Tinh bằng ném một vật lên hư không niệm chú, tức thời vật đó liền hóa ra một thanh xà kiếm, tỏa hào quang từ trên không lao xuống hầu phá hủy lá cờ trận. Bổng Thổ Thần xuất hiện, ném gậy Thần chống đở, choang một tiếng đinh tai nhức óc. Hồ Nhất Tinh thâu phép lại, bay xuống đánh với Thổ Thần, bất thình lình lao tới chụp lấy lá cờ. Thì nghe một tiếng quát long trời lở đất, trường đao vung lên như tia chớp chém tới Hồ Nhất Tinh. Hồ Nhất Tinh múa phất trần chống trả ầm ầm, kinh thiên động địa.

Hồ Nhất Tinh quát:

   Nguyên Minh ngày tận số của ngươi tới rồi.

Thổ Thần quát:

   Loài yêu tinh hổn láo.

Thổ Thần múa gậy đánh tới như vũ bão, Nguyên Minh vì không biết bay chỉ biết đứng nhìn Thổ Thần cùng Nhất Tinh hỗn chiến.

Trên không trận chiến ầm ầm

Dưới đất binh hùng xáp chiến kinh thiên

Ầm ầm đất chuyển trời rung

Đùng đùng gươm giáo khiếp kinh ầm ầm

Mặt trời sắp lặng non Tây

Quân reo ngựa hí bủa vây không ngừng

Kìa gươm giáo vang trời không dứt

Chiêng, trống rền hò hét liên miên

Đất trời như muốn ngã nghiêng

Cát bay đá chạy khiếp kinh mịt mù.

Hồ Nhất Tinh, đang đánh với Thổ Thần, bổng rùng mình hóa phép, yêu tinh xuất hiện đầy trời, lao vào đánh với Thổ Thần, xáp chiến với Nguyên Minh. Nguyên Minh múa đao kinh phong tuôn ra ầm ầm chống trả với bầy yêu tinh. Bổng nghe ầm ầm long trời lở đất, lá cờ trận đã bị Hồ Nhất Tinh chém rách, tức thời sương mù, mây đen, mây trắng biến mất, ngũ thần cũng biến theo. Nguyên Minh vô cùng kinh hãi, lúc nầy chỉ còn ngũ hành trận không còn cờ trận.

Nói về Ân Mao Vương nhìn xuống ngũ hành trận thấy quân Ân chết lớp lớp chồng chất lên nhau, thời thét lên lao xuống múa đao chém Trần Bá không cho Trần Bá điều khiển quân kỳ nữa, Trần Bá múa đao chống trả, hai bên đánh nhau vô cùng dữ dội. Còn Hồ Tiên liền thổi ra một luồn khí độc Trần Bá xây xẩm mặt mày, Ân Mao Vương lao tới chém một đao bỏ mạng.

Về sau có thơ rằng:

Ôi cái chết đi vào bất tử

Vì non sông Tổ Quốc hi sinh

Ôi cái chết tràn đầy uy dũng

Xác mất rồi nhưng hồn mãi Uy Linh.

Nói về Nghịch Phong đang đánh với Thủy Thần thời nghe tiếng nổ ầm ầm, sương mù, mây đen, mây trắng, biến mất, Thủy Thần cũng tan biến tự bao giờ. Nhìn xuống ngũ hành trận, thấy quân Ân chết lớp lớp chồng chất lên nhau thời vô cùng kinh hãi, tuy mây trận biến mất nhưng ngũ hành trận vẩn còn, nơi Trung Ương Hành Thủy Phan Lợi, phất cờ điều khiển quân binh đánh quân Ân tới tấp. Nghịch Phong phi ngựa tới chém Phan Lợi, Phan Lợi múa đao chống trả, hai bên đánh nhau ầm ầm, đường đao Phan Lợi vô cùng lợi hại, Nghịch Phong khó mà làm gì được, bằng hóa phép cuồng phong nổi lên lên ầm ầm, yêu tinh ma quỷ hiện ra xông tới đánh Phan Lợi. Phan Lợi múa đao chống trả quyết liệt, hào khí ngùn ngụt yêu tinh không làm gì nổi Phan Lợi. Nghịch Phong bằng lấy một thanh kiếm nhỏ trong túi ra ném lên không niệm chú, tức thời một tia chớp lao xuống Phan Lợi không tránh kịp đành bỏ mạng, Nghịch Phong phi ngựa xuống đất đánh quân Văn Lang cứu quân Ân. Phan Lợi tuy chết nhưng hồn vẫn Hiển Linh hóa ra sương mù che chở quân Văn Lang.

Về sau có thơ rằng:

Thân ngã xuống nhưng hồn nào có chết

Vẫn anh linh trong  kiếp sống linh thiên

Hóa mây mù luôn che chở quân binh

Xác tuy mất nhưng linh hồn bất tử

Chết là hết, nhưng nào đâu có phải

Vẫn Anh Linh trong cuộc sống hiển linh

Kìa mây mù luôn che chở quân binh.

Lại nói về Hồ Nhị Yêu, không hạ gục được Kim Thần, vô cùng tức giận những không làm gì được, bổng nghe tiếng nổ ầm ầm, cờ trận cùng Kim Thần biến mất. Hồ Nhị Yêu thấy Cự Lân phất cờ chỉ huy, liền lao xuống đánh một chưởng, bổng thấy một người hiện ra đẩy Cự Lân bay sang một bên, ầm một tiếng muốn sụp cả quan sát đài, Cự Lân nhìn rõ người cứu mình chính là Trần Bá. Lúc nầy trời đã xẩm tối, Cự Lân phi thân xuống đất lẩn vào quân binh Văn Lang, Hồ Nhị Yêu không nhìn thấy Cự Lân đâu nữa bằng hóa phép đánh xuống quân Văn Lang. Bổng thấy một con Rồng hiện ra, Hồ Nhị Yêu kinh hoảng tàng hình trốn mất.

Cùng lúc ấy Hồ Tam Quỹ định ra tay giết chết Huyền Trung, bổng thấy con Kỳ Lân xuất hiện, Hồ Tam Quỉ kinh hoảng trốn mất.

Nói về Nguyên Minh nhìn thấy cờ trận rách nát thời kinh hồn bạc vía, mây trận không còn biết khó mà chống đở nổi quân Ân. Hồ Nhất Tinh, thâu phép bay tới thổi ra một luồng yêu khí định giết chết Nguyên Minh, bổng thấy một con Rồng hiện ra thổi một luồng hồng quang. Hồ Nhất Tinh kinh hoảng trốn mất.

Nguyên Minh thoát chết chưa biết phải làm sao thì có người lên tiếng nói:

   Chủ soái mau trốn đi.

Người lên tiếng đó chính là Đa Kế. Lạc Hầu Công nói:

   Mau dồn quân chạy về sông Tây Giang.

Tức thời pháo lệnh đỏ bắn lên, khẩu lệnh truyền ra dồn quân về cánh Nam, trời lúc nầy đã tối, ánh trăng soi đường, trận chiến còn vang dội, nhưng lúc nầy đã nghiêng về phía quân Ân, nhờ có Ân Mao Vương, Nghịch Phong, Hung Nô Vương thần thông quảng đại, quân Văn Lang bị đánh thê thảm.

Được lệnh rút lui quân Văn Lang ào ào chạy về phía Nam, đánh bật Hổ Tinh, chạy về hướng Lũng Trung Châu, bại binh chạy suốt cả đêm, tới sáng thời tới Vân Châu, bại binh dừng nghỉ, người nào người nấy bò la bò lết đi hết nổi. Nguyên Minh cho người kiểm lại quân binh thì chỉ còn hơn bốn vạn, đi tiêu mất sáu vạn quân.

Nhìn lên trời than thở:

   Không ngờ quân Ân nhiều nhân vật tài năng như vậy, ngũ hành cờ trận mà cũng phá được.

Quân binh nghĩ không được bao lâu thời nghe tiếng ngựa hí từ xa vọng lại. Nguyên Minh cùng các Tướng kinh hãi: Quân Ân đã đuổi theo đến nơi rồi sao?

Nguyên Minh nhìn lên trời nói:

   Thôi thì quyết tử tại nơi đây vậy.

Liền cho bắn pháo lịnh tử chiến.

************

PHẦN 18: BẠI TRẬN

Đây nói về Cao Hải, hiệp lực với quân Xích Linh đại phá đánh bại 30 vạn quân Hung Nô. Lạc Hầu Công, mời Cao Hải cùng các quan Tướng vào thành thiết đãi, ăn mừng thắng trận. Cao Hải ở lại thành Xích Linh chưa được mấy ngày trong lúc đang bàn Quốc Sự thời có quân vào báo. Đô Tướng Quân có thư.

Cao Hải nhận thư đọc xong thời nước mắt ràng rụa. Ai nấy cũng đều kinh hải tự hỏi: Chuyện gì thế? Trải qua một hồi lâu dằn cơn xúc động.

Cao Hải nói:

   Cao Sơn chết rồi.

Cao Hải liền đưa thơ cho các Quan Tướng xem. Lạc Kim Tiên xem xong nói:

   Quân Ân dồn hết lực lượng phá doanh trại ngũ hành trận, đây là cơ hội cho chúng ta, cướp phá lương thực chúng, rồi từ phía sau đánh bọc tới, tiêu diệt chúng, chỉ cần một trận nầy chiến thắng thời quân Ân sẽ khiếp kinh hồn vía.

Lạc Hồng Hầu nói:

   Muốn tới Kinh Đô nhanh thời phải đi qua đồi Mục Linh. Đồi Mục Linh hiện giờ quân Ân đang phục kích ở đó, chỉ còn có cách là đi đường vòng, bọc qua đồi Mục Linh, rồi bất ngờ xông vào cướp doanh trại của chúng.

Lạc Hầu Vương nói:

   Quân Xích Linh cùng tham gia trận chiến Đô Tướng Quân cứ ra lệnh.

Cao Hải nói:

   Thành Xích Linh không thể bỏ trống, phải có quân binh trấn thủ.

Trong lúc còn đang bàn tán, thì có quân thám báo vào báo:

   Quân Ân giao chiến với quân ta hơn nửa ngày rồi.

Thời gian quá gấp Cao Hải từ biệt Lạc Hầu Công cùng các quan tướng thành Xích Linh, triển khai lực lượng, phân bổ như sau:

   Phan Thanh Hải, nghe lệnh Có thuộc hạ, Ngô Việt nghe lệnh. Có thuộc hạ. Hai Tướng Quân một trưởng, một phó, thống lĩnh một vạn quân mở đường đi trước, còn đại quân đi sau, tuân lệnh.

Đi đường vòng hơi xa mặt trời chưa lặng quân binh đã lên đường rồi. Nói về Phan Thanh Hải, Ngô Việt, mỗi người thống lãnh một vạn quân đi trước, đạo quân Thanh Hải tiên phong đi trước, đạo quân Bố Chánh Ngô Việt tiếp theo sau bọc đường vòng qua khỏi đồi Mục Linh hơn 10 dặm ánh trăng vằn vặt, nếu đôi mắt sáng thì nhìn thấy tận xa xa, khi đạo quân, Thanh Hải, Ngô Việt qua khỏi đồi Mục Linh thì không còn lo sợ phục kích nữa.

Nói về Hung Quân Liệt theo kế sách của Ân Mao Vương, chia làm hai đạo quân, phục kích đi đường vòng của quân Văn Lang nằm im chờ đợi. Hung Quân Liệt thấy quân Văn Lang xuất hiện thì khen Ân Mao Vương liệu tính như thần. Thấy Quân Văn Lang đã nằm gọn trong ổ phục kích, nhưng Hung Quân Liệt không tấn công, để cho đạo quân Thanh Hải đi qua lọt vào vòng vây thứ hai, khi đạo quân Ngô Việt lọt vào ổ phục kích.

Hung Quân Liệt nói:

   Đây mới chính là đạo quân chủ lực.

Chờ cho đạo quân Ngô Việt lọt vào vòng vây, thì Hung Quân Liệt thổi tù tấn công, thế là tên bắn ra như mưa, quân Văn Lang bị đánh bất ngờ kinh hãi rối loạn, không rõ quân địch để mà chống trả.

Nói về Phan Thanh Hải thúc quân di chuyển nhanh về Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ, thời nghe phía sau đạo quân trận chiến đã nổ ra ầm trời ầm đất, không lẽ đã bị phục kích, liền cho quân dừng lại không tiến nữa. Tiến tới không được lùi lại không xong, chưa biết phải làm gì thời nghe quân reo dậy đất quân Hung Nô ào ào lao ra tấn công, tên bắn như mưa, quân Văn Lang bị tấn công bất ngờ hốt hoảng rối loạn, quân Hung Nô chủ động trận địa đánh tới tấp, quân Văn Lang chết như rạ. Phan Thanh Hải thét lớn bình tỉnh chiến đấu, tức thời quân Văn Lang lấy lại bình tỉnh chiến đấu quyết liệt, xông lên xáp lá cà với quân Hung Nô.

Về sau có thơ rằng:

Một bên là lính Văn Lang

Một bên là giặc bạo tàn ngoại xâm

Quân giặc cuồn cuộn xông lên

Chủ trì trận địa giáo gươm ầm ầm

Văn Lang bị động hoàn toàn

Thây nằm la liệt khắp cùng xiết bao

Tinh thần quyết tử dâng cao

Chỉ còn hơi thở cũng nào xông lên

Hung Nô cũng phải khiếp kinh

Văn Lang quyết tử dâng lên cuộn cuồn

Hung Nô thiệt hại cũng nhiều

Mới hay con cháu Tiên Rồng Uy Linh

Dù cho đất lở trời nghiêng

Tinh thần quyết tử hùng anh lạ đời

Kinh thay dòng máu Lạc Hồng

Tử sanh, sanh tử, lông hồng nhẹ tênh

Hy sinh vì nước vì dân

Linh hồn nhẹ bổng chín tần Trời Cha

Vì non vì nước vì nhà

Tử sanh, sanh tử, sá gì như không.

Quân Hung Nô thấy Phan Thanh Hải, múa đao chém quân Hung Nô như chém chuối, tức thời quân Hung Nô tập trung bắn tới Phan Thanh Hải. Phan Thanh Hải trúng tên khắp cả mình đành phải bỏ mạng. Quân Văn Lang tuy rắn mấy đầu nhưng không bao giờ bỏ chạy, người nầy ngã xuống người khác xông lên, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, quân Hung Nô khiếp vía kinh hoàng, trước khí phách hào hùng quân Văn Lang.

Nói về Ngô Việt biết mình đã lọt vào ổ phục kích của quân giặc, từ nơi ẩn núp quân Hung Nô bắn tên ra như mưa, quân Văn Lang vô cùng hỗn loạn. Ngô Việt thét lớn bình tỉnh chiến đấu, tử chiến tử chiến, tức thời quân Văn Lang hò reo dậy trời dậy đất, lao vào quân Hung Nô như vũ bão, tiếng gào thét tiến lên tiến lên, thế là trận đánh xáp lá cà, gươm đao giáo mác dậy trời dậy đất.

Về sau có thơ rằng:

Ầm ầm trận đánh kinh thiên

Đao gầm, kiếm thét, liên miên ầm ầm

Tên lao rợp đất rợp trời

Thân người ngã gục xác người như non

Chiến trường nổi gió nổi dông

Quân binh ào tới giáo gầm kiếm tuôn

Rền trời hai tiếng xung phong

Giáo gươm xối xả ôi thôi bịt bùng

Đùng đùng vang dội đùng đùng

Văn Lang quyết tử, mất còn tại đây.

Nói về Hung Quân Liệt thấy quân Văn Lang chiến đấu anh dũng như thế cũng phải khiếp hoảng. Quân Văn Lang gan đồng dạ sắt chăng, coi cái chết như không, không lẽ đây là tinh thần Quốc Đạo Văn Lang, được kể qua truyền thuyết, Hung Quân Liệt càng khiếp hãi.

Nói về Bố Chính Ngô Việt, thương tích đầy mình, cố thúc ngựa phá vòng vây lao ra khỏi trận địa chạy về phía đại quân Văn Lang đang đi phía sau.

Đây nói về Cao Hải nghe chiến trận nổ ra phía trước liền biết là hai đạo quân tiên phong đã sa vào ổ phục kích của quân giặc, liền cho đại quân dừng lại, với tinh thần chuẩn bị chiến đấu cao, khi có quân địch tấn công.

Cao Hải phi ngựa lên phía trước xem xét tình hình, thời thấy Ngô Việt mình đầy máu me cỡi ngựa lao tới nói:

   Tướng quân mau cho quân rút lui, quân giặc phục kích khắp nơi.

Nói xong Ngô Việt tắc thở. Cao Hải đau xót vô cùng, biết là quân Ân đã lường trước tất cả, đón được ý đồ của chúng ta, phục kích chặn đánh khắp nơi, nên không dám rút quân về thành Xích Linh, sợ quân giặc phục kích đánh bọc hậu. Nên nhanh chóng rút quân về Huyện An Giao, quân đi đến gần sáng, tưởng là đã thoát ra khỏi sự phục kích của quân giặc, đại quân vừa mới chạm chân đến Huyện An Giao, thời nghe tiếng tù nổi lên, hai bên đường tên bắn ra như mưa. Quân Văn Lang bất ngờ hốt hoảng. Cao Hải thúc quân tiến tới, chống trả nhanh chóng thoát ra khỏi ổ phục kích của giặc. Quân giặc, ào ào rượt đuổi theo, quân Văn Lang không chạy về Huyện An Giao, mà chạy về Vân Châu.

Nguyên Hạo Hạo chạy trước mở đường khi đến Vân Châu thấy có quân phía trước, thời vô cùng kinh hãi, quày ngựa trở lại báo với Cao Hải:

   Bẩm Đô Tướng Quân, phía trước có quân mai phục.

Cao Hải giật mình kinh sợ, thở dài nói:

   Quân giặc tài đến thế sao? Ý Trời đã thế, chúng ta đành bỏ mạng tại Vân Châu vậy.

Cao Hải cho quân dừng nghỉ dưỡng sức, rồi quyết một trận sanh tử với giặc. Đến khi nhìn thấy pháo lệnh tử chiến, biết đây là pháo lệnh của quân Văn Lang, Cao Hải mừng rở vô cùng, cho bắn pháo lệnh đáp trả, để nhận ra nhau.

Nguyên Minh thấy pháo lệnh nói:

   Đó là quân ta, quân của Đô Tướng Quân Cao Hải.

Nguyên Minh biết Cao Hải cũng đã thất bại, nên mới chạy đến đây. Không bao lâu Cao Hải dẫn tàn quân chạy đến, Nguyên Minh, Cao Hải ôm nhau mà rơi nước mắt, hơn hai mươi vạn quân giờ chỉ còn không đầy mười vạn, một tổn thất nặng nề, Nguyên Minh cũng cố lại lực lượng, xin viện binh từ Kinh Đô Văn Lang, chờ cơ hội đánh trả, chặn đứng không cho quân Ân tiến vào Trung Văn Lang, Nguyên Minh chưa có tin tức gì về Nguyên Dực.

******************

PHẦN 19:  PHÁ TRẬN

Đây nói về Nguyên Dực, cùng quân binh nhờ trận ngũ hành giặc Ân chưa làm gì được, lại còn đánh cho quân giặc tả tơi chết vô số kể, định tiến quân ào ra tiêu diệt quân Ân, nhưng thấy quân Ân còn đông như kiến, không thể nào đánh bại được.

Lại nói về Sát Sát, ỷ mình quân đông lại có pháp thuật, có thể phá trận ngũ hành dễ dàng, không ngờ không phá được lại đi tiêu hơn bốn vạn quân giờ mới biết sợ hãi, lập đàng cầu sư phụ. Không bao lâu thời một Đạo Cô xuất hiện, tên là Hồ Bạch Hoa.

Sát Sát lễ lạy rồi nói rằng:

   Con đang gặp phải khó khăn, lời đồn quả không sai phương Nam có trận ngũ hành vô cùng lợi hại, không dễ gì phá được.

Hồ Bạch Hoa nói:

   Ta biết vậy nên đến đây giúp con, phương Bắc nhà Chu cũng có ngũ hành trận, nhưng không lợi hại như ngũ hành trận phương Nam. Vì ngũ hành trận phương Nam, kèm theo ngũ kỳ trận uy lực vô biên, muốn phá được ngũ hành trận, phải phá ngũ kỳ trận trước, nếu không có công tu luyện hàng nghìn nghìn năm thì không bao giờ phá được.

Bằng thắp hương lâm râm niệm chú, không bao lâu thời có hai Đạo Cô, một Đạo Tiên xuất hiện. Hồ Bạch Hoa giới thiệu hai Đạo Cô. Hồ Bạch Hoa chỉ Đạo Cô mặc áo xanh nói:

   Đây là Thanh Xà Đạo Cô, còn đây là Tý Bạch Đạo Cô, còn đây là Bạch Hầu Đại Tiên.

Sát Sát theo lời giới thiệu mà lạy tạ. Sát Sát mời các sư phụ vào ghế ngồi. Hồ Bạch Hoa nói:

   Phá ngũ kỳ trận đều nhờ hết vào Đại Tiên.

Bạch Hầu Đại Tiên nói:

   Bạch Muội, chịu trách nhiệm đánh vào Tây kỳ, phá cho được cờ trắng. Thanh Xà Đạo Cô, đánh vào đông kỳ, phá cho được cờ xanh. Tý Bạch Đạo Cô, đánh vào Nam kỳ, phá cho cho được cờ đỏ. Sát Sát, đánh vào Bắc kỳ, phá cho được cờ đen, chỉ cần phá được một trong năm kỳ, thời bốn kỳ kia tự biến mất.

Sát Sát là người nóng lòng phá trận, bằng cỡi thiên lý mã bay lên không lao xuống trung tâm Bắc kỳ trận, rút kiếm chém xuống lá cờ đen, không ngờ lá cờ đen tỏa hào quang chống trả ầm ầm, kinh thiên động địa. Sát Sát bị mây đen, mây trắng cuồn cuộn bao vây che chắn tầm nhìn khó mà đánh trúng lá cờ đen. Sát Sát tức quá cỡi ngựa thần lao xuống, vung kiếm báu chém xuống ầm ầm, bổng Thủy Thần xuất hiện múa gậy thần chống trả, hai bên đánh nhau rền trời rền đất. Sát Sát hóa phép liên miên, nhưng bị thần lực ngũ kỳ hóa giải cả. Sát Sát thất kinh. Sát Sát võ nghệ cao cường áp đảo Thủy Thần, bất thình lình Sát Sát lao xuống chém Hắc Kỳ một nhác như tia chớp, thì có tiếng quát xem nầy, một lằn ánh sáng chớp lên chống đở, choang một tiếng đinh tai nhức óc. Người ra đòn chống đở đường kiếm của Sát Sát là ai thế, còn ai vào đó nữa chính là Lê Anh.

Nói về Lê Anh ở trên đài quan sát, thấy Sát Sát cỡi ngựa từ trên không lao xuống chém vào Hắc Kỳ thì vô cùng kinh hãi, múa đao chống đở, choang một tiếng đinh tai nhứt óc. Thủy Thần cũng múa gậy đánh tới. Sát Sát múa kiếm chống trả, Sát Sát đảo ngựa bất ngờ đánh xuống một chưởng, tức thời Hắc Kỳ tỏa hào quang chống trả ầm một tiếng long trời lỡ đất. Sát Sát quyết tâm phá cho được Hắc Kỳ, đã trôi qua mấy giờ nhưng vẩn chưa làm gì được.

Cùng lúc ấy Hồ Bạch Hoa múa phất trần tới tấp đánh xuống Bạch Kỳ, Kim Thần xuất hiện múa gậy chống trả, nhờ có thần lực Bạch Kỳ hổ trợ Kim Thần, nên Bạch Hoa chưa thể hạ gục được Kim Thần, hai bên đánh nhau rền trời rền đất. Hồ Bạch Hoa hóa phép liên miên nhưng chưa phá nổi uy lực Ngũ Kỳ. Hồ Bạch Hoa phất tay một đạo chỉ quang đánh xuống Bạch Kỳ, Bạch Kỳ tỏa hào quang chống trả ầm đinh tai nhức óc. Kim Thần múa gậy xông tới, đánh Bạch Hoa, Bạch Hoa múa phất trần chống trả, hai bên đánh nhau dậy trời dậy đất, bất phân thắng bại. Hồ Bạch Hoa bất ngờ ném lên một vật, hóa thành con chồn có cánh bay nhanh chụp xuống cờ trận, tức thời một tia chớp nổi lên chém tới con chồn có cánh. Ầm một tiếng, con chồn nát tan, ai mà có đường đao nhanh đến thế, còn ai nữa chính là In Đô.

In Đô theo dõi trận chiến giữa Kim Thần và Bạch Hoa, nhất là chú ý Bạch Hoa, thấy Bạch Hoa ném ra một vật, hóa thành con chồn lao xuống cướp lấy cờ trận, tức thời In Đô múa đao chém tới, con chồn trúng một đao tan xác. Bạch Hoa thấy mất bảo bối vô cùng tức giận thét lên inh ỏi. Phất trần trên tay phất lên lia lịa, những trận cuồn phong tuôn ra tưởng chừng như đất trời muốn sập đến nơi. Kim Thần múa gậy kình lực tuôn ra chống trả quyết liệt, ầm ầm đùng đùng liên miên bất tận.

Cùng lúc ấy Tý Bạch Đạo Cô, ra sức đánh với Hỏa Thần. Hỏa Thần cũng không chịu kém, hai bên đánh nhau, mù trời mịt đất. Tý Bạch múa phất trần đánh Hỏa Thần tới tấp, bất ngờ biến mất, là cờ đỏ bổng tỏa hào quang ầm ầm đùng đùng. Tý Bạch Đạo Cô chưa có cách nào phá được cờ trận, lại bị Hỏa Thần tấn công tới tấp. Tý Bạch Đạo Cô liền hiện nguyên hình một con chuột bạch to lớn, thổi ra một luồn bạch quang, xuống cờ trận tức thời hàng loạt tiếng nổ nổi lên rung chuyển đất trời, đài quan sát như muốn sập, nhưng cờ trận vẫn còn không hề hấn gì. Hỏa Thần ném gậy lên không niệm chú, cây gậy Thần tỏa hào quang đánh xuống, con chuột bạch tức thời biến mất, lao xuống quan sát đài chụp lấy lá cờ trận. Dương Điền luôn theo dõi trận chiến giữa Hỏa Thần với Tý Bạch Đạo Cô, thấy Tý Bạch Đạo Cô hiện nguyên hình là con chuột bạch to lớn, thổi ra luồng bạch quang, xuống lá cờ trận, Dương Điền sít chút nữa thì bỏ mạng, thấy con chuột bạch biến mất liền sinh nghi liền chém tới một đao, đến chỗ lá cờ chỉ nghe nổ ầm một tiếng, hình như trúng phải một cái gì, con chuột bạch đở được đường đao của Dương Điền, liền hiện lại nguyên hình là Tý Bạch Đạo Cô. Tý Bạch Đạo Cô định phóng ra một lưỡi kim đao nhỏ xíu giết chết Dương Điền. Hỏa Thần liền lao tới gậy Thần trên tay vùn vụt đánh tới tấp vào Tý Bạch Đạo Cô, Tý Bạch Đạo Cô càng đánh càng kinh hãi không ngờ ngũ hành cờ trận lại lợi hại như vậy.

Đây nói về, Thanh Xà Đạo Cô là một con trăn tu luyện mấy nghìn năm, thần thông pháp thuật cao cường, đánh mới Mộc Thần, Mộc Thần nhờ ứng hiệp theo cờ trận nên Thanh Xà Đạo Cô chưa làm gì được. Thanh Xà Đạo Cô liền hóa ra một trận cuồng phong hầu quét sạch mây trận, đánh tan che chắn tầm nhìn, không ngờ mây trận lại cuồn cuộn tuôn ra dữ dội hơn nữa. Thanh Xà chỉ tay một cái, tức thời xuất hiện một tia sáng đánh xuống lá cờ xanh, lá cờ xanh liền tỏa hào quang chống trả, ầm ầm đùng đùng. Mộc Thần múa gậy dông tố nổi lên ầm ầm đánh tới Thanh Xà Đạo Cô, hai bên đánh nhau càng về sau càng dữ dội. Thanh Xà vừa đánh với Mộc Thần bất thình lình thổi ra một con trăn có cánh, bay xuống cắn nát là cờ Thần, nào hay bị chém trúng một đạo biến mất. Thanh Xà Đạo Cô đau đớn như trúng phải một đao, tức giận gầm lên hiện nguyên hình là một con trăn to lớn dài mấy chục thước, mồm con trăn phun ra lửa dữ, hầu đốt cháy sạch quan sát đài.

Nói về Lô Gô, chém trúng con trăn nhỏ do Thanh Xà Đạo Cô thổi ra, Thanh Xà Đạo Cô tức giận hiện nguyên hình là một con trăn to lớn dài mấy chục thước, miệng khè ra lửa, đuôi quật lên dông bão ầm ầm làm khiếp kinh quân binh. Hỏa Thần ném gậy lên không niệm chú, gậy Thần tỏa ra hào quang sấm nổ nổi lên sấm sét đánh xuống. Con trăn to lớn biến mất, những tiếng nổ ầm ầm liên miên bất tận. Lô Gô bị kình lực giao tranh giữa cờ trận Hỏa Thần, Thanh Xà Đạo Cô hất rớt xuống quan sát đài. Lô Gô kinh hãi, cuộc chiến Hỏa Thần, Thanh Xà Đạo Cô càng trở nên quyết liệt. Lô Gô bị trúng kình lực ê ẩm cả mình, nếu không có áo giáp thì coi như toi mạng rồi.

Nói về Bạch Hầu Đại Tiên, chiến đấu với Thổ Thần long trời lở đất chưa có cách gì phá được cờ trận, bổng thấy Thần lực cờ trận yếu xuống, thời biết đây là cơ hội may ra phá được, liền hóa phép tức thời yêu tinh quỉ dữ đầy trời xông vào đánh với Thổ Thần, lao  xuống trung tâm quan sát đài đánh với Nguyên Dực.

Nói về chủ soái Nguyên Dực ở trên đài quan sát theo dõi trận chiến giữa Thổ Thần với Bạch Hầu Đại Tiên, bổng thấy yêu tinh quỉ dữ xuất hiện đầy trời, lao xuống đài quan sát tấn công mình, Nguyên Dực vốn võ nghệ cao cường lại có pháp thuật thần thông nên chống trả lại yêu tinh quỉ dữ, cuộc chiến xảy ra kinh thiên động địa. Bổng nghe một tiếng nổ long trời lở đất, cờ trận đã bị phá lá cờ vàng đã bị rách nát, sương mù, mây đen, mây trắng, ngũ thần biến tan hết thảy. Nguyên Dực kinh hoàng khiếp vía, ngũ hành cờ trận mất đi thời sức mạnh huyền bí của quân Văn Lang không còn nữa, chỉ còn nhờ vào cái tài điều binh khiển Tướng mà thôi.

Đây nói về Sát Sát thấy cờ trận tan biến không còn vô cùng mừng rỡ nhìn thấy rõ quân Văn Lang, chỉ cần tiêu diệt năm vị Tướng trên quan sát đài thì coi như ngũ hành trận bị phá vỡ. Sát Sát liền cỡi ngựa lao xuống đài quan sát chém Lê Anh múa đao chống trả, đường gươm Sát Sát nhanh khôn tả, lại ẩn tàn một kình lực vô biên. Lê Anh múa đao như mưa sa bão táp chém tới ầm ầm, con thiên lý mã bay lên không Sát Sát niệm chú tức thời một trận cuồng phong nổi lên cuộn xuống Lê Anh. Lê Anh không còn đứng vững được nữa, Sát Sát lao xuống chém một gươm bỏ mạng. Thế là cánh Bắc ngũ hành trận bị phá vỡ, Sát Sát bay tới chỗ quân Ân ra lệnh tấn công. Thế là Tào Bá, con của Tào Côn ra lệnh ba đạo quân binh ào ào xông vào Bắc trận, quân Văn Lang chỉ còn ra sức chống trả. Sát Sát hóa phép cuồng phong cuốn tới quân Văn Lang tối tăm mù mịt nghiêng ngã quân binh, quân Ân lao tới chém như mưa, quân Văn Lang thi nhau ngã gục.

Nói về Thanh Xà Đạo Cô thấy ngũ hành cờ trận đã bị phá, nhưng còn ngũ hành trận pháp cũng vô cùng lợi hại, nên bay xuống giết chết Lô Gô phá vỡ trận pháp. Thanh Xà Đạo Cô thổi ra một luồng hắc khí Lô Gô xây xẩm mặt mày. Thanh Xà Đạo Cô lao tới đánh một chưởng kết liểu mạng sống Lô Gô. Bổng một con Phụng Hoàng xuất hiện, hào quang rực rỡ, Thanh Xà Đạo Cô khiếp vía tàng hình trốn mất. Lô Gô thoát chết, nhưng không còn đứng dậy nổi, quân binh thấy thế đưa Lô Gô xuống đài chửa trị.

Nói về Võ Vu thấy ngũ hành cờ trận đã bị phá liền xua quân ào ào lao vào trận địa tấn công quân Văn Lang, quân Văn Lang chống trả quyết liệt, hai bên đánh với nhau rền trời rền đất.

Thế là trận đánh kinh thiên

Đao gầm kiếm thét liên miên ầm ầm

Ngựa người lao tới rầm rầm

Cuộn cuồn lớp lớp đạp càn lên nhau

Kiếm đao xối xả như mưa

Thây người ngã gục nào thua lở đồi

Hai bên đánh xáp lá cà

Chiến trường gào thét ôi là kinh thiên

Đất trời như muốn ngã nghiêng

Cuồng đao, bão kiếm, mưa tên bịt bùng

Núi non rung chuyển đùng đùng

Rồng Tiên, cọp, sói, tranh hùng dậy non.

Đây nói về Hồ Bạch Hoa, thấy ngũ hành cờ trận đã bị phá, nhưng ngũ hành binh pháp vẩn vô cùng lợi hại, không dễ gì quân Ân chiếm lấy ưu thế, liền bay xuống hạ gục In Đô. In Đô múa đao chống trả, Hồ Bạch Hoa thấy In Đô võ nghệ cao cường, khó mà hạ gục nhanh chóng được, bằng thổi ra một luồng hơi độc, In Đô xây xẩm mặt mày. Hồ Bạch Hoa bay tới kết thúc sanh mạng của In Đô. Sanh mạng In Đô chết sống trong đường tơ kẽ tóc, bổng một con Rồng xuất hiện, múa vuốt chụp Bạch Hoa. Hồ Bạch Hoa khiếp vía tàng hình trốn mất. In Đô vì trúng độc mắt mở không ra nằm yên bất tỉnh, quân binh khiêng xuống lo chạy chữa.

Cùng lúc ấy Tý Bạch Đạo Cô, đang chiến đấu với Dương Điền. Dương Điền võ nghệ cao cường, Tý Bạch Đạo Cô chưa thể hạ gục được ngay, bằng thổi ra một luồng yêu thuật, bổng thấy một con chim điêu xuất hiện, hào quang sang chóa. Tý Bạch Đạo Cô kinh hãi hóa ra một trận cuồng phong trốn mất. Dương Điền, thấy quân Hồ tràn vô như nước lở phất cờ chỉ huy đánh trả. Quân Hồ bị hỏa trận quân binh Văn Lang vô cùng lợi hại. Đánh quân Hồ tơi tả. Hồ Mị Hoa phi ngựa tới hét lớn, niệm chú chỉ kiếm, tức thời cuồng phong nổi dậy ầm ầm, ập tới quân Văn Lang, quân Văn Lang ngã rạp, quân Hồ ập tới chém rối xả, quân Văn Lang chết thôi là chết.

Về sau có thơ rằng:

Dù cho nát thịt tan xương

Cũng không lùi bước tiến lên diệt thù

Kìa lũ giặc ào ào tràn tới

Hỡi xông lên tử chiến hùng anh

Liệt oanh anh dũng liệt oanh

Đánh cho quân giặc tan tành khói mây

Thân ngã xuống hồn bay trận chiến

Đánh quân thù tan biến tiêu ma

Văn Lang non nước sơn hà

Dễ gì cướp được yêu tà ngoại xâm.

Nói về Bạch Hầu Đại Tiên, phá tan ngũ hành cờ trận, nhưng ngũ hành binh pháp cũng vô cùng lợi hại, bằng bay xuống tiêu diệt Nguyên Dực. Nguyên Dực võ nghệ cao cường lại có pháp thuật, không dễ gì vài ba mươi hiệp, hạ gục được. Bạch Hầu Đại Tiên liền hóa phép, yêu tinh quỉ dữ bao vây bốn phía tấn công Nguyên Dực. Nguyên Dực múa gươm chống trả, đường gươm như mưa sa bão táp, yêu tinh tuy đông nhưng không làm gì được. Bạch Hầu Đại Tiên nổi giận, liền nhả ra một viên ngọc ném lên không hô biến, tức thời những tia hào quang chiếu xuống Nguyên Dực trúng phải những tia hào quang liền xây xẩm mặt mày, ngã gục xuống sàn, yêu tinh quỉ dữ lao tới xé xác. Bổng Hoàng Long xuất hiện, nuốt mất viên ngọc tu luyện hơn mấy nghìn năm mới thành của Bạch Hầu Đại Tiên. Bạch Hầu Đại Tiên kinh hồn bạc vía, tàng hình trốn mất. Nguyên Dực thoát chết, nhìn thấy cánh Bắc, cánh Nam, đã bị quân Ân, quân Hồ phá vỡ.

Chưa biết phải làm sao thời có tiếng nói lớn:

   Chủ soái mau ra lệnh cho quân binh phá vòng vây cánh Đông, chạy về Ninh Châu, cố thủ.

Người lên tiếng đó chính là Hầu Thái Công. Nguyên Dực tức thời truyền lệnh cho quân binh phá vòng vây cánh Đông. Võ Vu chống trả không nổi đành bỏ chạy, quân Văn Lang ào ào tuôn ra chạy về Ninh Châu, quân Ân rượt theo một đoạn, không rượt theo nữa, vì lúc nầy trời đã tối. Nguyên Dực dẫn tàn binh về gần tới Ninh Châu, thời thấy Lạc Đại Vương, Bạch Tướng Quân dẩn quân ứng cứu.

Hầu Thái Công hỏi:

   Sao biết quân ta thua mà ứng cứu.

Lạc Đại Vương cùng Bạch Tướng Quân nói:

   Chúng tôi luôn luôn cho quân thám báo theo dõi tình hình cập nhật liên tục trận chiến, nghe nói mây trận đã bị phá vỡ, thời biết quân ta không thể nào chống cự lại được, liền dẩn quân đến ứng cứu.

Khi quân binh về hết thành Ninh Châu, cửa thành liền đóng lại phòng thủ nghiêm ngặt. Lúc nầy Nguyên Dực cho người điểm lại binh lính, thời đi tiêu năm vạn chỉ còn năm vạn, thời chỉ biết thở dài. Bằng hỏi qua tình hình, đồi Vạn Lâm, cũng như đạo quân của Việt Luân Tướng Quân. Bạch Tướng Quân, rơi nước mắt kể lại tất cả những gì quân thám báo đã báo. Rồi nói rằng:

   Chiến dịch ra quân chúng ta đã bị bại lộ, là do hai con quỉ nghe lén thông tin, sau nầy mới phát hiện được. Là vì chúng tiếp tục nghe lén, khi phát hiện ra chúng thì chúng biến mất. Quân Ân vì thế mà đi trước ta một nước cờ, là do bại lộ thông tin, khi chúng ta bàn kế sách. Chúng đưa quân phục kích đồi Vạn Lâm trước ta, và tiêu diệt quân ta. Hầu Tướng Quân, cũng như Chăm Ly bỏ mạng, năm vạn quân chỉ còn hơn một vạn. Không những thế quân Ân phục kích ở địa phận Ninh Điền  khi quân ta đi qua đường quanh co hiểm trở, chúng liền tấn công Việt Luân Tướng Quân bỏ mạng năm vạn quân chết sạch không còn một người.

Nguyên Dực nghe xong thời than thở không thôi. Hầu Thái Công nói:

   Việc binh thắng bại là lẽ bình thường, quân Ân lắm nhiều yêu tinh quỉ dữ, trợ giúp khó mà đánh lại chúng. Chủ soái nói rõ tình hình quân giặc xin viện binh cũng cố lại lực lượng, quyết một còn một mất với chúng.

Nguyên Dực nghe theo viết thơ dâng lên Vua Hùng cầu thêm viện binh.

Vận nước suy vong nạn dập dồn

Quân binh tướng sĩ lấp vùi chôn

Hết thịnh tới suy thường là thế

Huyền cơ tạo hóa luật nhân sinh

Kiếp nạn Văn Lang Nguồn Cội mất

Gieo mầm chinh chiến khổ đao binh

Nước non lắm cảnh nhiều tai kiếp

Chờ mong Quốc Tổ cứu sanh Linh.

***************

PHẦN 20: KỲ TÍCH XUẤT HIỆN

Ở các thời kỳ Hùng Vương. Anh Linh Quốc Tổ Long Đế Sùng Lãm, người khai sinh ra nước Xích Quỷ thời đại Kinh Dương Vương. Long Đế Sùng Lãm chính là Thiên Long Vương đầu thai, khi mãn kiếp trần gian trở về Trời. Thường hiển Linh hiện về trên khắp đất nước Văn Lang, nhất là thời hậu Hùng Vương. Giúp cho dân Văn Lang luôn trúng mùa, no cơm ấm áo. Anh Linh Quốc Tổ Thiên Long Vương, Sùng Lãm, thường hiện về, với hình dáng người mây, người mây to lớn, dấu chân Anh Linh Thiên Long Vương Quốc Tổ to lớn, đi đến đâu là in dấu chân xuống đó. Không những ở trên đất mà ngay cả trên đá, dấu chân Quốc Tổ Thiên Long Vương Sùng Lãm, không chỉ có trên đất nước Văn Lang, Trung – Nam – Bắc Văn Lang, mà cùng khắp địa cầu, cả Đông lẩn Tây, tạo ra những cơn mưa trái mùa làm cho hoa màu, ngô, lúa, tốt tơi đem lại sự no cơm ấm áo cho toàn nhân loại.

Thiên Long Vương, ở trên Thiên Cung lâm phàm đầu thai xuống thế, khai sinh ra nước Xích Quỷ, mở ra thời đại Kinh Dương Vương. Truyền xuống chín đời, tới đời thứ mười, thời chuyển sang giai đoạn thời đại Hùng Vương, nước Xích Quỷ được mở rộng trở thành nước Văn Lang, vào năm 2959 trước Công Nguyên. Anh Linh Quốc Tổ, thời đại Kinh Dương Vương, thường hiện về để lại dấu chân khắp nơi, với hình thể người mây khổng lồ to lớn, để lại dấu chân cũng to lớn.

Người Nam Văn Lang gọi là dấu chân ông Đổng, người Bắc Văn Lang gọi là dấu chân ông Khổng Lồ. Anh Linh Quốc Tổ hiện về không chỉ là hình người, mà chuyển hình người thành hình đám mây che phủ cả một vùng rộng lớn, sau đó thời mưa như trút, những cơn mưa trái mùa, làm cho ao hồ, suối sông, sung mạch trở lại, người dân được trúng mùa lớn. Lúc thời chuyển thân thành hình xoắn ốc, tạo ra những cơn bão lốc, cuốn đi tất cả những ai ăn lộc Trời mà không biết kính trọng Trời, những kẻ bất kính đối với đấng sanh thành Tạo Hóa.

Chuyện lạ ấy cứ xuất hiện mãi, ăn sâu vào tâm thức của mỗi người dân. Có những lần dân thấy Anh Linh Quốc Tổ hiện về, tạo ra cảnh mưa to gió lớn trái mùa, chỉ trong vòng có một ngày mà khai ra nhiều dòng chảy, thành sông thành lạch, đem phù sa về bồi đắp cho làng quê, dân chúng lại trúng mùa lớn, càng thêm no cơm ấm áo. Người dân Nam Văn Lang đã quen gọi sự Anh Linh Quốc Tổ là Ông Đổng.

Có lần dân thấy Ông Đổng tuy là người mây, nhưng lại có hai con mắt sáng chóa. Bàn tay Ông Đổng hể chạm xuống núi, là núi đó không còn, chỉ trong vòng một đêm ngọn núi biến mất, vì Ông Đổng trút nước xuống làm trôi đi hết, Ông đem đất ấy lấp xuống chỗ sâu, tạo ra những cánh đồng bát ngát, dân chúng vì thế mà có nhiều ruộng để canh tác. Nơi nào xem nhẹ quyền Tạo Hóa, xem thường Thiên Ý của Trời, thời Ông Đổng sẽ lấy đi tất cả, mùa màng thất bát, đồng khô cỏ cháy, vì không có những cơn mưa trái mùa, đói khổ vô cùng.

Có lần dân chúng thấy Ông Đổng, có lần tạo ra những cơn mưa trái mùa khai ra dòng chảy, vun đất thành đồi, tạo ra sấm sét đánh tan những cơn dịch bịnh, hơi thở Ông Đổng phun ra mây đen cuồn cuộn, làm dịu đi cơn nóng oai bức. Ông Đổng khổng lồ thường xuất hiện trong những ngày đầu hè, giữa hè, cuối hè, đem lại nguồn nước Trời, cho cây cối, hoa màu, ngô, lúa, tốt tươi.

Anh Linh Quốc Tổ xuất hiện để lại dấu chân khắp nơi, nhưng nhiều nhất là ở làng Gióng, nổi tiếng là quê hương xứ sở vườn cà, cà ở làng Gióng coi như là đặc sản được đưa đi giao dịch trao đổi khắp nơi. Và cũng từ làng Gióng nầy, xảy ra một kỳ tích được coi như là một huyền thoại chuyện lạ nhất trên đời truyền tụng mãi cho đến ngày nay.

Bắt đầu từ câu chuyện vườn cà.

Xốm dừa nhìn bãi dâu xanh

Gió thu ru nhẹ lá cành làng quê

Cánh cò bay lã bay la

Bay qua bến nước bờ tre ruộng đồng

Trâu nhìn đò chạy trên sông

Mục đồng chăm chú nhìn trông cánh dều

Khói lam tìm ánh nắng chiều

Đàn chim nhẹ cánh tìm về núi non

Bao la trời nhớ đất thương

Non  xanh nước biết vấn vương đất trời

Ánh trăng vằn vặt  đêm về

À ơi tiếng hát ngọt lành mẹ ru

Ánh đèn soi dáng người thân

Sạm da vì bỡi gió sương tháng ngày

Hồ thu nhớ ánh trăng đầy

Nhớ hừng đông dậy, nhớ gà báo tin

Gâu gâu chó hỏi người đi

Vườn cà làng Gióng có ai giữ gìn

Người rằng có một người hiền

Tên là Phù Thị xấu người đẹp tâm

Mười năm ở với Đức ông

Công, dung, ngôn, hạnh, khéo khôn ai bì

Đức ông cảm thấy hài lòng

Xem như con cái chẳng hề so đo

Vườn cà chăm sóc sớm hôm

Lòng vàng tỏa sáng còn hơn ngọc ngà

Tiếng hiền cứ mãi bay xa

Đến tai Thượng Đế, Trời Cha, Chúa Trời

Huyền cơ chuyển biến tất thời

Thiên Long Sùng Lãm xuống trần đầu thai

Vườn cà để lại dấu chân

Trong đêm mưa gió bão dông đùng đùng

Bình minh rực rỡ chân trời

Gió thu hôn nhẹ vườn cà xanh xanh

Phù Thị nhẹ gót nhanh nhanh

Vườn cà một lược nên hư thế nào

Chợt nhìn kinh ngạc làm sao

Dấu chân to lớn nao nao lòng người

Phù Thị ướm thử chân vào

Tự nhiên thấy cả thân người chuyển rung

Tâm hồn kinh hãi hoang mang

Trong người khác lạ càng thêm hãi hùng

Từ đây Phù Thị âm thầm

Dấu đi tất cả những gì xảy ra

Ngày qua tháng lại ngày qua

Bụng càng to lớn dấu đi được nào

Tránh sao được tiếng xì xào

Không chồng mà chửa phạm vào làng qui

Cuộc đời họa phúc éo le

Mấy ai tránh khỏi xưa nay thường hằng

Sau đây câu chuyện của người

Sử Kinh để lại cho đời xem coi

Sự đời là tấm gương soi

Cho bao thế hệ đời sau răn mình.

Ở vào thời hạ Hùng Vương, đời Hùng Vương thứ 6 Hùng Huy Vương, từ năm 961 đến năm 893 trước Công Nguyên, ở bộ Vũ Ninh, Huyện Tiên Du, nơi làng Gióng. Có hai vợ chồng giàu có, là nhờ những vườn cà do ông bà Tổ Tiên để lại, nổi tiếng là đối nhân xử thế, ăn ở phúc Đức, nên dân làng thường gọi hai ông bà là Đức ông , Đức bà.

Đức ông, Đức bà chỉ nuôi một người làm vườn, tên là Phù Thị, quê ở làng Phù. Cũng giống như Đức ông Đức bà, hiền lành nức tiếng, nhưng phải người hơi xấu, không được dễ coi, nên không có người dạm hỏi, tuổi thanh xuân vì thế mà trôi qua, tuổi trung niên như bóng câu qua cửa sổ, mới đó mà đã hơn bốn mươi tuổi, hơn hai mươi năm ở với Đức ông Đức bà Phù Thị lúc nào cũng xem Đức ông Đức bà như Cha Mẹ của mình, Đức ông Đức bà cũng vậy vì không có con, nên coi Phù Thị như con. Thời gian không chờ đợi ai cứ mãi trôi qua, hết ngày nầy đến ngày khác, hết năm nọ đến năm kia, Phù Thị sống cuộc sống bình yên, như mặt nước hồ thu không gợn sóng.

Chữ ngờ ai biết được đâu

Chỉ trong nháy mắt bể dâu cuộc đời

Hồ thu nổi sóng ngậm ngùi

Phải chăng số phận con người Trời ban.

Ở làng Gióng trải qua một đêm mưa gió, sấm chớp hải hùng, hoa màu bị hư hại. Khác hơn mọi khi Phù Thị hôm nay dậy rất sớm, vì lo sợ vườn cà bị mưa to gió lớn làm hư hại. Trời vừa hừng sáng Phù Thị đã ra vườn cà, thời vô cùng ngạc nhiên vì vườn cà vẫn xanh tốt, như không có chuyện gì xảy ra, trong khi các vườn cà nhà kế bên xơ xác. Phù Thị nghĩ có lẽ Đức ông Đức bà ăn ở hiền lành nên có Thần Linh che chở bảo hộ, nên vườn cà không bị hư hại như thế nầy, Phù Thị đang đi xem xét các luống cà, bổng phát hiện một dấu chân to lớn. Bà Phù Thị lấy chân mình ướm thử vào, để xem thua kém bao nhiêu, không ngờ vừa ướm chân vào thời thấy toàn thân rung động, chạy khắp người bà Phù Thị vô cùng kinh hãi, không dám kể lại chuyện kỳ lạ nầy với Đức ông Đức bà.

Không ngờ sự ướm chân thử đó, bà Phù Thị dần dần mang thai, cái bụng càng ngày càng lớn.

Đức ông Đức bà kêu Phù Thị hỏi:

   Cha nó là ai? Quê quán nơi đâu?

Phù Thị cứ mãi làm thinh không nói ra sự thật. Đức ông Đức bà giận lắm quát mắng:

   Ta không ngờ ngươi là con đàn bà cứng đầu không biết lễ giáo như thế, làm những chuyện tày trời, mà không biết xấu hổ gì cả.

Phù Thị biết rưng rưng nước mắt nói:

   Ông bà tha tội cho con, chuyện nầy con đâu có muốn, nhưng số con như thế con đành phải chịu.

Bây giờ đã ra người tội lỗi

Mặt cho đời nước chảy hoa trôi

Hóa công sao khéo trêu ngươi

Một mình một cảnh như người lạ xa

Phước trong họa chuyển xây nao ngán

Nhằm thân nghèo xấu xí mà xây

Nhân duyên số phậm láy lay

Chờ xem tạo hóa chuyển xây cuộc đời.

Trong khi ấy dân làng cứ mãi xầm xì, bàn tán lan rộng ra khắp các vùng, tai tiếng của Đức ông Đức bà không nhỏ. Nhất là Đức ông là người mang tiếng hơn hết: Nào là Đức ông lấy con ở, cũng phải thôi phải có người nối dòng, nối dõi chứ, ăn ở hiền lành mà tuyệt nòi tuyệt giống sao được. Nhất là Đức bà vì không chịu được sự đàm tiếu nầy, bằng yêu cầu làng xét xử. Ngày xét xử bà Phù Thị, không những người trong làng Gióng, mà nhiều người dân trong các làng lân cận cũng kéo đến xem. Lạc Điền là vị Quan làng nghiêm khắc đã từng xử không biết bao nhiêu vụ, nhưng đều trôi chảy êm xuôi, để được làm rõ vấn đề.

Vị Quan làng hỏi:

   Nầy bà Phù Thị, Cha của đứa bé trong bụng là ai? Tại sao không chịu ra mặt nhận trách nhiệm của mình. Bà cứ nói thật đi ai là Cha của đứa bé trong bụng.

Bà Phù Thị không sợ hãi gì cả, trả lời thẳng thắng:

   Đứa bé trong bụng là con của Ông Đổng.

Những người đến nghe đều giật cả mình, ông Quan làng há mồm trợn mắt, Đức ông Đức bà như muốn bật ngửa.

Ông Quan lấy lại bình tỉnh hỏi:

   Bà Thị bà nói sao, đứa bé trong bụng bà là con Ông Đổng. Bà không sợ Ông Đổng bẻ cổ bà sao?

Và ai cũng nghĩ bà Thị đã hóa điên, xúc phạm đến Thần Linh. Quan làng hỏi:

   Ông Đổng ăn ở với bà thế nào?

Bà Phù Thị dõng dạc nói:

   Không ăn ở thế nào cả, tôi chỉ ướm chân tôi vào chân của Ông thế là tôi đã mang thai.

Nghe bà Thị trả lời như thế ai nấy đều cười ồ lên, có người nói mỉa mai rằng:

   Mai tôi tới những chỗ có dấu chân ông Đổng ướm vào để sinh con.

Và ai cũng cho bà Thị là người làm bậy xấu hổ quá hóa điên, Đức ông coi như không dính liếu gì đến vụ nầy, nên không tham gia ý kiến tùy Quan làng xét xử.

Lạc Điền, Quan làng tức giận nói:

   Bà nói toàn là những chuyện vô căn cứ, lừa dối mọi người, với cái tội không chồng mà chửa làm xấu mặt cả làng.

Cùng lúc xét xử ấy cũng không ít người mắng nhiếc bà, có người mắng nhiếc thậm tệ. Bà Phù Thị chỉ biết rơi nước mắt, chấp nhận số phận, mà Đấng Tạo Hóa đã an bày. Chỉ trong chốc lác bà già đi thấy rõ, có người thương xót cho số phận của người con gái không may mắn xinh đẹp như người ta, giờ lại thêm tai họa giáng xuống.

Hồng trần trong cõi người ta

Mấy ai thoát khỏi nạn tai cuộc đời

Thương người cũng chính thương mình

Hại người Trời hại thường tình xưa nay.

Dân làng Gióng cứ nghĩ bà Phù Thị vụng trộm ăn ngủ với người ta không chịu khai nhận tội một mình. Để lắng dịu sự mắn nhiếc của dân làng.

Quan làng xử như sau: Theo hương ước của làng, thời tội nầy đáng xử tử, nhưng nể Đức ông Đức bà, chỉ trục xuất bà Phù Thị ra khỏi làng.

Bà Phù Thị biết không còn ở với dân làng được nữa, một mình lủi thủi đi về nơi rừng núi cách làng Gióng  khá xa.

Lủi thủi xa làng đến núi non

Chân đầy nặng  trĩu bụng mang con

Chim kêu vượn hú lòng trống vắng

Thảo mãng hoang vu dạ sắc son.

Bà đến gần mé rừng ngồi dưới một gốc cây, bà nhìn những chiếc là vàng, rời khỏi cành trở về với đất, một nổi niềm cay đắng, biết tỏ cùng ai.

Lá vàng nầy hỡi lá vàng rơi

Lá theo cánh gió về nơi Cội Nguồn

Còn ta lạc bước phong sương

Rừng xanh che chở náo nương tháng ngày.

Bà Phù Thị mệt lã ngủ thiếp đi lúc nào không hay, đến khi thức dậy thời thấy chim muôn vạn thú đến ở xung quanh bà, chúng đem đến nhiều trái cây hoa quả, bà đã đói mấy ngày, nên bốc lấy ăn ngấu nghiến. Đêm về các nàng Tiên hiện đến dựng cái chòi tranh để cho bà ở, hơn cả tháng dân làng không biết, dân làng không thấy bà xuất hiện, hàng đêm nghe tiếng hổ gầm voi hú, dân làng đồn rằng bà bị cọp ăn thịt rồi, có người cũng lấy làm thương xót cho số phận con người, ngày lại ngày qua bà sống bình yên trong túp lều tranh.

Thế là cuộc sống tạm yên

Non xanh nước biếc cũng yêu Thị bà

Rừng xanh sai quả sai hoa

Để bà sanh sống vượt qua cơ hàn

Sống đời cô độc một mình

Sớm chiều làm bạn thú cầm mua vui

Xuống đồng bắt ốc mò cua

Đem ra làng đổi kiếm ăn qua ngày.

Bà Phù Thị ngoài ăn hoa quả, bà còn xuống đồng, xuống mương bắt ốc mò cua sanh sống còn đem ra làng đổi lấy gạo, nuôi thân. Dân chúng thấy bà xuất hiện vô cùng kinh ngạc bà không bị cọp ăn thịt sao, không thể tin được, ở một mình trong rừng hơn cả tháng mà vẩn bình yên đây mới là chuyện lạ. Ban đầu dân còn ấn tượng không tốt với bà, có những ngày không đổi được gạo đành đem cua ốc về nấu ăn. Nhưng vì cuộc sống nuôi thân nuôi con, bà luôn luôn nhẫn nhịn, nhẫn nhục, nhẫn nại, chịu khó dần dần dân chúng không còn ghét bà nữa, ngược trở lại thương bà, từ đó bà mò cua bắt ốc đổi lấy gạo rất thuận lợi. Bà yêu chim thú như yêu bản thân mình, nên chim thú thường đến với bà, và giúp đở bà, trong những ngày mưa gió, cũng như những ngày bà không bắt ốc mò cua.

Lòng chân thật động lòng chim thú

Làm bạn đời khuya sớm có nhau

Màn trời chiếu đất náo nương

Hổ, voi, chim chóc đến chung một nhà

Chim ca hát, hổ gầm voi hú

Làm trò vui giải trí giải sầu

Làm cho người mẹ vui vầy

Quên đi nổi khổ tháng ngày cô đơn.

Dân làng thấy bà Phù Thị ở nơi hoang vu rừng núi, chim kêu vượn hú, tối về hổ voi gầm rú suốt đêm, mà bà Phù Thị vẫn bình yên, không hề hấn gì cho là có Thần Linh che chở, nên không coi Phù Thị là người xấu nữa. Có những lần bà Phù Thị xuống đồng mò cua bắt ốc, nhưng không được bao nhiêu.

Bà liền khấn vái rằng: Nếu Trời thương hại mẹ con tôi, thì cho tôi bắt thật nhiều cua ốc, thế là bà mò đến đâu thời có cua có ốc đến đó.

Nên lúc nào cũng bắt được nhiều cua ốc, đổi được nhiều gạo dự trữ nuôi thân, trong lúc những ngày mưa gió. Dân làng thấy bụng bà đã lớn, biết cũng sắp đến ngày sanh nở, có người thương còn cho thêm gạo. Có một hôm bọn trẻ con thấy bà Phù Thị một mình trở lại rừng xanh, bằng hát rằng.

Lanh quanh đường đến rừng xanh

Có người phụ nữ bước chân nặng nề

Vai mang gạo bụng thè lè

Chịu thương chịu khó ai bì được đâu.

Sau có người hỏi:

   Ai dạy cho mà hát như vậy?

Bọn trẻ trả lời:

   Có một Ông Già xuất hiện dạy hát như thế.

Bổng một hôm bà Phù Thị, nghe trong mình khác lạ, bằng tính đi tính lại, mang thai đã tròn mười hai tháng. Thường thường mang bầu chín tháng mười ngày là sinh, có những lần bà Phù Thị nghĩ: Thánh đầu thai nên mới khác thường như vậy. Bà thường nghe có người mang thai đến ba năm mới sanh, và bà vẫn cứ chờ đợi ngày khai hoa nở nhị, và rồi ngày đó cũng đến. Bà thấy trong mình chuyển dạ, lòng bổng lo lắng ở nơi hoang vu rừng núi thời biết nhờ ai giúp đở, bà thở dài thôi thì mặt cho số phận vậy.

Nghe trong dạ từng cơn đau thắt

Như báo rằng con sắp chào đời

Niềm vui quên hết đau thời

Chỉ mong con trẻ rạng ngời bình yên

Kìa rừng đã lặng yêm đêm phủ

Sương đã về ru ngủ tịnh yên

Cô đơn trong lúc đẻ sinh

Chỉ nghe gió thổi rung rinh căn lều

Đèn không có mịt mù tăm tối

Sao chị hằng chậm thế chưa lên

Ruột càng quặn thắt liên miên

Bổng nghe hương tỏa lan thơm khắp cùng

Nghe trong dạ nhẹ nhàng nhẹ bổng

Nhiều nàng Tiên bồng ẳm hài nhi

Mệt nhoài bà đã thiếp đi

Chừng nghe chim hót mới hay sáng trời

Nhìn con trẻ lòng đầy sung sướng

Con của ta là Gióng, Gióng ơi

Bình minh rực rỡ chân trời

Bao la rừng núi tràn đầy ấm êm.

Nói về bà Phù Thị thấy trong mình chuyển dạ, thì đã biết mình sắp sinh, nhưng ở nơi hoang vu rừng núi nầy, biết nhờ cậy ai, trời đã lặng, đèn không có, chỉ còn biết trông chờ ánh trăng lên, bà bổng thấy một con Rồng xuất hiện rồi biến mất, sau đó thời sanh con, hương thơm lan tỏa khắp nơi. Bà thấy Tiên nữ xuất hiện, bồng ẳm hài nhi nhưng vì mệt quá bà đã thiếp đi và không còn biết gì nữa, chừng nghe tiếng chim hót liếu lo giật mình tỉnh giấc, thời mới hay trời đã sáng, ánh bình minh đã tràn về khắp núi non, một ngày mới, một ngày đẹp nhất của đời bà, các nàng Tiên cũng biến đi đâu mất, chỉ còn nghe mùi hương thơm lan tỏa khắp nơi.

**********

PHẦN 21: THÁNH CHÚA RA ĐỜI

Niềm vui lớn nhất của bà Phù Thị là nhìn thấy người con mà mình mang trong bụng bấy lâu, cậu bé dễ thương khôi ngô tuấn đến lạ lùng, lòng dâng trào một niềm vui vô hạn.

Lòng vui sướng nhìn con bé bổng

Mắt sáng ngời như tỏa hào quang

Khôi ngô tuấn tú dễ thương

Trời cho non nước Văn Lang kỳ tài

Bà ôm Gióng vào lòng triều mến

Tình thương con lai láng trào dâng

Cảm ơn trời đất non sông

Cho bà một đấng hùng anh sau nầy.

Nói về Bà Phù Thị cứ mãi ôm Gióng vào lòng, mà quên đi cả đói khát, từ đó bà Phù Thị không đi bắt ốc mò cua nữa, chỉ ở lều chăm sóc con thơ, nhờ tích trữ được khá gạo qua những ngày gian khổ bắt ốc mò cua, chim thú thi nhau đêm thật nhiều hoa quả đến, để bà ăn có sữa nuôi con. Suốt cả năm liền bà chỉ lẩn quẩn túp lều tranh, dân làng không thấy bà đi bắt ốc mò cua, cũng như xuống làng đổi cua ốc lấy gạo, thì nghĩ bà đã bị cọp ăn rồi, sói nuốt rồi, cũng không ít người rơi giọt lệ, vì cảm thương số phận đây gian truân, xót xa đến thế.

Một hôm có người nói:

   Nầy anh ba anh tư, nầy chị bốn chị bảy chúng ta là những người yêu thương bà Thị nhất, nhưng không dám bao che giúp đỡ vì sợ quy ước của làng,  nay bà chết hay còn sống chưa rõ, sao chúng ta không đến đó một chuyến cho biết.

Có người nói:

   Nơi bà ở có nhiều thú dữ lắm, chỉ có thợ săn mới dám đến đó mà thôi.

Người kia trả lời:

   Chú tư, chú ba không thợ săn là gì.

Thế là họ âm thầm tìm đến khu rừng bà Thị đang ở, nơi bà Thị ở là nơi cỏ dại hoang vu rừng núi cây cối rậm rạp, không bao lâu thời họ cũng tới khu rừng xa xa nhìn thấy túp lều tranh. Lòng họ bổng nổi lên bao nổi niềm thương cảm, cho con người bất hạnh, nổi hiu quạnh cô đơn, một mình nơi rừng núi, sống nơi hoang vu không một bóng người, không hiểu bà còn sống hay đã chết. Và họ quá bất ngờ chợt nghe một giọng hát ru con từ xa vọng lại, có người nói hình như là tiếng bà Thị.

À ơi con ngủ đi con

Cho con mau lớn trông nom rừng già

Con lên non núi cỡi voi

Xuống đồng cỡi hạt bay qua ruộng đồng

Trở thành những bậc anh hùng

Cứu dân cứu nước giống nòi Rồng Tiên.

Có người nói:

   Bà sanh rồi, bà đang ru con thì phải.

Và họ đi lần đến túp lều tranh. Nghe tiếng người nói, bà liền im tiếng hát, và cũng nhận ra tiếng nói của những người tìm đến đây. Những người rất thương yêu bà, và thường hay cho gạo bà,vừa bước vào túp lều tranh họ vui mừng reo lên kìa em bé. Thì ra bà sanh con nên không đi mò cua bắt ốc xuống làng đổi gạo. Họ thi nhau xem mặt em bé, người nào người nấy đều kinh ngạc, vì em bé quá khôi ngô tuấn tú, nhất là cặp mắt sáng long lanh.

Chị tư liền nói:

   Con Trời có khác, tôi mà có được đứa con như vầy thời khổ mấy tôi cũng chịu.

Chị bảy nói:

   Kìa cặp mắt em bé giống cặp mắt Ông Đổng.

Chú tư, chú ba nói:

   Tôi tin lời nói của chị Thị khi chị nói trước dân làng, quả đúng là con Ông Đổng.

Chị bảy nói:

   Ông Đổng đầu thai chớ con Ông Đổng gì.

Kẻ nói qua người nói lại người nào cũng có cái lý của mình, nên không ai chịu cho mình là đoán sai. Nhìn em bé quá kháu khỉnh không ai muốn xa rời, chừng nghe tiếng hổ gầm thời ai nấy đều kinh hãi, họ liền từ giã Mẹ con Phù Thị trở về làng. Cũng từ đây tiếng đồn lan xa, bà Phù Thị sanh ra Ông Đổng con, khôi ngôi tuấn tú lạ đời, một đồn mười, mười đồn trăm, trăm đồn nghìn. Thế là khắp nơi dân làng bị đánh thức sự tò mò, nhất là những người không gây ác cảm đối với bà, họ rũ nhau kéo tới một ngày một đông, họ đem cho Phù Thị đủ thứ, bà khỏi phải xuống đồng mò cua bắt ốc đổi lấy gạo nữa.

Nói về Đức ông Đức bà, nghe bà con làng xã bàn tán ca ngợi, Phù Thị có phúc sanh ra bé trai vô cùng kháu khỉnh, tôi chưa chưa từng thấy người nào khôi ngô tuấn tú như thế, hai con mắt sáng như sao, quả đúng là một nhân tài sau nầy, quả đúng là con Ông Đổng, hay Ông Đổng đầu thai cũng vậy, tôi mà có được người con như thế thời sung sướng biết bao. Đức ông Đức bà vô cùng ăn năng qua lối cư xử không mấy sáng suốt của mình, cũng bởi gì không chịu nổi sự tai tiếng mà bỏ đi một cơ hội, hiếm có Trời cho. Nhất là Đức ông cứ tiếc nối mãi, nước đổ khó mà hốt lại, tuổi đã già lại sanh ra nhiều phiền nảo buồn rầu ăn năng không bao lâu sanh bệnh qua đời. Đức ông qua đời không bao lâu, nỗi cô đơn một mình Đức bà cũng theo ông lìa trần thế, dân làng ai cũng thương Ông Bà, nhưng cũng đáng tiếc cho Ông Bà, tiếng lành, tiếng kính Ông Bà không còn như trước nữa, thay vào đó là tiếng ác, tiếng dại.

Rừng công Đức trăm năm chăm bón

Chỉ một mồi lửa nóng đốt tiêu

Tiếng lành đồn khắp bao nhiêu

Biến thành tiếng ác đổi thay vận đời.

Nói về bà Phù Thị, nghe tin Đức ông Đức bà qua đời ôm mặt khóc lóc, dù gì đi nữa Đức ông Đức bà không coi bà là người ở, mà chỉ coi như con, ơn Đức ấy không sao đền đáp đáp được, bà Phù Thị cầu nguyện cho Đức ông Đức bà sớm siêu sanh về Trời. Túp liều không vắng lặng vì có nhiều người đến thăm, nhưng lòng bà đau đớn, vì nỗi thương nhớ Đức ông Đức bà, cũng đúng thôi, vì bà Phù Thị sống với Đức ông Đức bà trên 20 năm, tình nghĩa ấy không dễ gì phai mờ được, nhìn bà khóc như vậy.

Những người đến thăm nói:

   Đức ông Đức bà đối xử với bà không được tốt, thương khóc mà làm gì, kìa em bé nhìn bà kìa. Tên em bé là gì?

Ai nấy chờ nghe câu trả lời của bà. Bà Phù Thị trả lời:

   Tôi đặc tên cho con là Phù Đổng, vì quê tôi ở làng Phù, quê con ở làng Đổng.

Dân làng đến thăm viếng nghe bà Phù Thị đặc tên cho con hay làm sao, ai nấy cũng khen. Có người nói:

   Chị kết hợp bộ ba đặc tên cho con hay quá.

Có người nói:

   Tôi phải thầm phục cho chị Phù, chị kết hợp làng Phù của chị, làng Đổng của con chị, cộng với tên Đổng Cha khổng lồ, ôi cái tên vừa đẹp vừa Linh Thiên, Phù Đổng nghe hay quá.

Có người nói:

   Tên Phù Đổng Linh Thiên quá, vì động đến Ông Đổng Long Đế Khổng Lồ Cha, không ai dám gọi đâu, chi bằng xóm cà là xóm Gióng, thôi đặc cho em một tên phụ là Gióng.

Ai nấy cũng cho là quá phải, từ đó tên bé Gióng lan truyền khắp nơi. Gióng vẫn lớn bình thường như bao em bé khác, nhưng điều khác lạ ở đây là đã gần ba năm mà Gióng không cười không nói, ngoài ăn uống ra gióng không muốn chơi đùa với ai cả. Những người đến thăm viếng thiếu kiên nhẫn, cho đây là điềm chẳng tốt đẹp gì, niềm tin đối với bé Gióng ngày càng càng giảm sút, tiếng đồn lan ra dần dần cũng ít người đến. Bà Phù Thị không lấy đó làm buồn, sự đời là thế, nghe Ông Đổng con thời ai cũng đến, vì con Trời con Thánh, chừng khi nhìn không phải thời ai ai cũng dần dần bỏ đi.

Có quyền có lực có uy

Nghìn non vạn núi người ta cũng tìm

Sa cơ khốn khổ cùng đường

Ở trong đô thị ai mà thấy chi.

Buổi chiều thu tuy rừng núi chưa chìm trong vắng lặng, nhưng lòng bà Phù Thị đã chìm trong nỗi buồn, cảnh nơi đây vốn là u tịch, lại thêm cuộc đời đơn chiếc.

Lòng buồn cảnh có vui đâu

Cảnh buồn người lại âu sầu cô đơn.

Đúng thôi ngay cánh chim kia, khi chiều tắt đã vội vã trở về, thế mà còn ta, ta về đâu nhĩ, thân nghèo lại bị người ta ruồng bỏ, xa lánh.

***********

PHẦN 22: TRỞ LẠI QUÊ LÀNG

Bà Thị nhìn con rồi nói thầm: Hãy đến một nơi khác đi con, nơi mà hai mẹ con mình không ai biết đến, vì không muốn làm phiền đến ai nữa.

Bà bồng con đến sống dưới bóng cây cổ thụ, cách nơi ở chỗ bà khá xa, trên một cái gò nổi giữa đầm. Nơi đây có nhiều hoa quả, dưới đầm thật nhiều cua ốc, bà no đủ qua ngày.

Các Nàng Tiên lại xuất hiện, tắm rửa cho Gióng, và thường nói với Bà:

   GIÓNG là Thiên Long Vương xuống trần đầu thai, sau nầy lớn lên đánh giặc Ân cứu nước.

Hơn ba năm GIÓNG cứ nằm yên hết chỏng tre giờ đến chỏng đá, bà Thị nhìn con mà trong lòng vô cùng thương cảm, lâm râm khấn rằng.

Con là Long Đế giá lâm

Cớ sao con mãi nín câm thế nầy

Bây giờ non nước nầy đây

Giặc Ân xâm lấn ôi nầy khổ dân

Con ôi hãy nói cười lên

Con mau chóng lớn mà đi diệt thù.

Lời cầu khấn Mẹ Gióng vừa xong, Thì GIÓNG mở to đôi mắt, tỏa ra hai đạo hào quang, cất tiếng kêu Mẹ đầu tiên vang lên như sấm, làm chấn động đến núi rừng, làng bản.

Đến lúc đó GIÓNG mới rời khỏi chỏng đá nói với bà Thị rằng:

   Hãy trở về làng sống với dân chúng.

Nói về bà Phù Thị khấn vái xong liền thấy Gióng mở to hai con mắt hai đạo hào quang tỏa ra sáng ngời, bà lấy làm kinh dị, chừng nghe Gióng gọi Mẹ làm chấn động cả núi non làng bản, bà vô cùng mừng ỡ reo lên, con đã nói cười được rồi con của ta bà ôm Gióng vào lòng. Gióng để cho Mẹ lắng dịu qua cơn xúc động, liền nói: Hãy trở về với dân làng đi Mẹ, dân làng đang trông đợi, kiếp nạn đã hết. Đây nói về Huyện Tiên Du trúng mùa một cách kỳ lạ, nhất là hai làng, làng Phù, và làng Gióng, cũng như xóm cà, lúa thời trổ hai bông trĩu hạt, ngô khoai xanh tốt trúng mùa lạ kỳ, nhất là vườn cà dân làng trúng mùa chưa từng thấy, dân chúng Huyện Tiên Du đang thu hạch trúng mùa lấy làm vui sướng vô cùng, cho là điềm lành Trời đãi. Ông Đổng đã ban cho dân chúng trúng mùa, họ liền nhớ đến Ông Đổng con, không hai mẹ con bà Thị hiện bây giờ đang ở nơi đâu. Bổng dân chúng thấy trên bầu trời, nhiều đàng chim bay khắp Huyện Tiên Du hát rằng.

Thánh Gióng về làng, Thánh Gióng về làng

Kìa hai mẹ con, không bao lâu sẽ đến

Hãy mau tiếp đón

Thánh Gióng về làng

Hãy mau tiếp đón

Thánh Gióng về làng.

Đàn chim cứ bay trên bầu trời ca hát như thế, dân chúng nghe theo kéo đến Làng Gióng đông như ngày hội, rồi ra khỏi làng đi đón hai mẹ con Gióng. Dân chúng vừa kéo nhau ra khỏi làng, thì thấy voi, hổ, sư tử, đại bàng, chim điêu đưa Mẹ con Gióng về làng, dân chúng thấy voi, cọp, sư tử, chim điêu, có người sợ đến ngất xỉu.

Gióng nói với dân chúng:

   Không có gì phải sợ.

Tiếng nói như sấm chấn động cả núi non làng bản. Đàn voi, đàn hổ, đàn sư tử, đàn chim điêu, không tiễn Mẹ con Gióng về làng nữa, mà quây trở lại về rừng, dân chúng giờ đây tuyệt đối tin Gióng chính là Ông Đổng đầu thai, bằng thi nhau mà lạy và gọi bé Gióng là Thánh Gióng.

Trời thương Bách Việt sơn hà

Từ trong thảo mãng sanh ra Kỳ Tài.

Dân làng khắp nơi tiếp đón Mẹ con Gióng vô cùng rầm rộ, để chuộc tội ngày xưa lầm lỗi xử oan cho bà Thị. Ông Quan trưởng làng Lạc Điền, dẫn cả nhà đến tạ tội và xin nguyện cùng dân làm nhà cho bà Thị ở. Mẹ con Phù Thị được dân làng khắp nơi sùng kính kẻ góp công người gốp của chỉ trong vòng một ngày thì có một ngôi nhà khang trang sạch đẹp, dân làng nấu cơm dân lên cho Mẹ con Gióng ăn.

Gióng nói:

   Ta sắp đi đánh giặc Ân, dân làng hãy cho ta ăn thật no, ta mới đủ sức đánh giặc Ân được.

Dân làng nói:

   Thánh cứ ăn thật no.

Nhưng lạ thay Gióng ăn cơm với cà hết nồi nầy sang nồi khác mà vẫn không thấy no. Dân làng kinh hãi ăn như thế nầy thì cơm gạo lấy đâu ra ăn cho đủ, dân làng thấy Gióng mau lớn một cách kỳ lạ, chỉ trong vòng ba ngày mà đã cao lớn như đứa trẻ mười tuổi, chuyện kỳ lạ nầy đồn ầm lên khắp Huyện Tiên Du, dân chúng thi nhau gánh cơm gánh gạo, gánh cà đến nấu cho Gióng ăn. Nhất làng Phù, quê bà Phù Thị, cùng làng Đổng thi nhau dâng cơm dâng cà cho Đổng ăn. Chỉ trong vòng có mấy ngày mà tiếng đồn lan đến Kinh Thành.

Xóm Gióng bừng lên Đấng Kỳ Tài

Danh rền vang động đến bên tai

Vua Hùng sai sứ xem hư thiệt

Văn Lang kỳ tích rạng trời mây.

*************

PHẦN 23: TRIỀU ĐÌNH

 

Trời cho Bách Việt Việt Sơn Hà

Lạc Hồng nòi giống sanh ra Kỳ Tài.

Nói về Hùng Vương thứ 6, Hùng Huy Vương, (Pháp Hải Lang) từ năm 961 đến năm 893, trước Công Nguyên. Gặp thời binh đao máu lửa nổi lên khắp Bắc Văn Lang, phần thì giặc nội loạn, nhiều bách tộc Bắc Văn Lang nổi lên đòi tự trị, tự xưng Vua, xưng Chúa, nổi lên chiếm lĩnh từng vùng, làm đau đầu cho triều đình. Nhất là Hùng Huy Vương, ăn không ngon ngủ không yên, ra sức dẹp yên nội loạn nhưng không được, trở thành cảnh nồi da nấu thịt, Bách Việt Bắc Văn Lang tàn sát lẩn nhau, Đây là cảnh đầu tiên xảy ra trên đất nước Bắc Văn Lang, nguyên nhân là bởi hấp thụ nền văn hóa phương Bắc, đi theo chiều hướng của phương Bắc, nổi lên đòi tự trị chia ra nhiều nước nhỏ, không ai chịu dưới quyền ai, dẩn đến thôn tính lẫn nhau, trở thành cảnh Bách Việt nồi da nấu thịt, dân chúng đồ thán khốn khổ vô cùng, cảnh chết chóc xảy ra hằng ngày, lọt vào âm mưu của nhiều thế lực phương Bắc, chờ cho Bắc Văn Lang suy yếu là chúng đưa quân xâm lược. Và điều đó cũng đã đến.

Hùng Huy Vương, đã lấy làm đau đầu cho tình cảnh nội loạn Bắc Văn Lang chưa giải quyết xong, thì quân Ân, quân Hồ, quân Hung Nô, đã tràn qua xâm lược. Với thế mạnh của ngoại xâm tràn qua Bắc Văn Lang như nước lở, tiêu diệt sạch những ông Vua Việt mới nổi lên đòi tự trị, đây là điều đáng mừng cho nước Văn Lang, nhất là Hùng Huy Vương. Nhưng quân xâm lược không chỉ chiếm lấy Bắc Văn Lang, mà muốn nuốt trọn nước Văn Lang, một thứ giặc vô cùng đáng sợ, lại hết sức tàn bạo, chúng đi đến đâu thời dân Văn Lang trở thành nô lệ thảm khốc đến đó, chúng vơ vét sạch chẳng chừa một thứ gì, cảnh sợ hãi làm cho dân Văn Lang ăn ngủ không yên.

Nước non binh lửa dậy khắp nơi

Dân chúng khổ sai hận ngập trời

Móng vuốt sói lang loài ác quỹ

Xốm làng thê thảm chúng nuốt xơi.

Hùng Huy Vương, đưa quân chống trả nhưng đều thất bại, hết Tướng tài, bằng ra cáo thị cầu hiền tài khắp đất nước ai có tài thì ra cứu nước, sẽ được phong Quan Chức lớn,nkhông ít người ra cứu nước nhưng tất cả đều đi vào thất bại. Tin thất trận dồn dập báo về Triều Đình, làm Hùng Huy Vương càng thêm lo lắng, lập đàn cầu Trời, cầu Tổ ngày đêm không dứt.

Thỉnh thoảng nàng mây tự ngẩng ngơ

Quê  hương binh lửa tự bao giờ

Khắp nơi tràn ngập mùi chết chóc

Xốm làng vắng ngắt cảnh xác xơ

Hồn nghe rét buốt luồn trong gió

Quê gầy, làng úa, xốm héo khô

Nước non tan tóc quân giặc xéo

Tràn ngập hung tin nát cơ đồ.

Ngày nào cũng vậy Triều Thần đi dự họp đầy đủ, Quan Văn Quan Võ đủ mặt, lúc nào cũng bàn kế sách chống giặc Ân, có lẽ các Quan Văn Võ cũng đã hết mưu kế, nên mấy ngày nay không ai đưa ra kế sách gì mới.

Hùng Huy Vương lấy làm buồn phiền, nhưng rồi cũng phải hỏi:

   Các Quan Văn Võ có kế sách gì mới không?

Các Quan chỉ biết im hơi lặng tiếng. Khi ấy có một vị Quan Lạc Thư chuyên coi về sổ sách, bước ra tâu rằng:

   Bẩm Quốc Vương, Bệ Hạ. Thần nghe ở Huyện Tiên Du có một cậu em tên là GIÓNG, nói sẽ đi dẹp giặc Ân, theo Thần nghĩ Quốc Vương Bệ Hạ nên cho mời em bé ấy đến ban cho ấn lệnh đi chống giặc Ân.

Triều Thần nghe Quan Lạc Thư tấu trình như vậy thì cười ô lên. Hùng Huy Vương hỏi:

   Các khanh cười chuyện gì?

Các Quan trả lời:

   Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ. Quan Lạc Thư nghĩ giặc Ân toàn là trẻ con chắc, nên mới đề cử chuyện lạ đời như vậy. Tài giỏi như Nguyên Dực, Nguyên Minh, như Cao Sơn, Cao Hải đành phải thất trận, xin thêm 20 vạn quân nữa may ra mới chống trả lại ngăn bước tiến quân Ân. Huống chi chỉ là một trẻ con, lời đồn nầy chỉ là khích lệ tinh thần chiến đấu chống ngoại xâm mà thôi, xin Bệ Hạ minh xét.

Hùng Huy Vương nghe các Quan tâu cũng có lý, ý định cho qua không bàn tới nữa. Bổng có một vị Quan Lạc Hầu lên tiếng:

   Bẩm Quốc Vương, Bệ Hạ. Theo Hạ Thần nghĩ lời Quan Lạc Thư cũng có lý, lúc này là lúc cần người tài ra giúp nước, dù người đó là ai, bà già, trẻ con, người dân bình thường mà nổi tiếng như vậy, thì cũng nên xem xét, thực hư. Hạ Thần sẽ đảm nhiệm việc nầy tới làng Đổng xóm Gióng để xem hư thực ra làm sao.

Thế là Vua Hùng giao nhiệm vụ cho Quan Lạc Hầu Thượng Thư. Đây nói về Quan Lạc Hầu Thượng Thư, đến Huyện Tiên Tu nghe dân chúng đồn ầm khắp nơi, Gióng là người Trời có khác ăn hoài mà chẳng thấy no chỉ trong vòng ba ngày Gióng cao lớn một cách kỳ lạ. Quan Lạc Hầu Thượng Thư đi gần đến làng Gióng thì thấy dân chúng kẻ khiên gạo người khiên cà, tới xóm Gióng tấp nập. Quan địa phương Lạc Điền, nghe có Quan Thượng Thư từ Triều Đình đến, liền tiếp đón tử tế, hành lễ xong.

Quan Lạc Điền hỏi:

   Bẩm Quan trên Quan trên đến làng, xóm nghèo khổ nầy chẳng hay có chuyện gì?

Quan Lạc Hầu Thượng Thư nói:

   Ở đây có chuyện Thánh Gióng thật sao?

Bẩm Quan lớn:

   Quả là đúng như vậy, Thánh Gióng chính là Ông Đổng Khổng Lồ đầu thai, Ông ăn dữ lắm có lẽ Ông ăn hết sạch lúa gạo dân chúng mất.

Quan Thượng Thư càng nghe càng kinh khiếp, sau đó Quan làng Lạc Điền, dẫn Quan Lạc Hầu Thượng Thư đến gặp Gióng, khi ấy Gióng không phải là trẻ con, mà là một thiếu niên. Quan Thượng Thư vừa đến chứng kiến thấy Gióng vừa ăn hết mấy chảo cơm, thì quả lời đồn không sai. Gióng nghe Quan làng giới thiệu vị Quan mới đến là Quan Lạc Hầu Thượng Thư, vị Quan lớn thuộc hàng bậc nhất bậc nhì trong Triều, ai nấy nghe xong cũng đều kinh hãi, Gióng như không nghe lời giới thiệu đó, chỉ thi lễ mời vị Quan Thượng Thư ngồi, vị Quan Thượng Thư không dám khi dễ đáp lễ rồi cùng ngồi. Vị Quan nóng lòng không chờ đợi lâu lên tiếng hỏi, hỏi tới đâu Gióng trả lời thông suốt đến đó, vị Quan đến giờ nầy mới thật sự kinh hãi, liền vái lạy Gióng, cầu xin Gióng hãy cứu lấy nước non.

Thánh Gióng nói:

   Ta lâm phàm xuống trần là để cứu nước cứu non trả lại sự bình yên cho dân chúng, nhưng ta có những yêu cầu Triều Đình phải chu cấp cho thật đầy đủ.

Quan Thượng Thư nói:

   Thánh yêu cầu gì, Thần về sẽ tâu lên Quốc Vương.

Gióng nói:

   Cấp cho ta thật nhiều lương thực, nuôi đủ mười vạn quân trong một tháng, vận chuyển đến đây mười tấn thép, mười tấn sắt, một nghìn thợ rèn giỏi, năm nghìn lượng vàng, một nghìn con ngựa chiến, nghìn cung tên tốt, hàng vạn mũi tên. Nhớ là sắt, thép, vàng, không thiếu một cân, thợ rèn không thiếu một người, ngựa phải đủ không thiếu một con, cung, tên, nhất nhất đều đúng như vậy, phải đúng là trong vòng nửa tháng tất cả đều có đủ không thiếu một món nào, thì ta sẽ đánh tan giặc Ân, trong vòng nửa tháng.

Vị Quan Thượng Thư nghe Gióng nói tới đâu lấy làm kinh hãi đến đó, liền từ biệt Gióng cấp tốc về Kinh Đô trình tấu lên Vua Hùng.

Sau có thơ rằng:

Quan về Quan nói với Vua

Xuất kho mười tấn thép nguyên ta dùng

Chọn cho nghìn vị thợ rèn

Đưa thêm mười tấn sắt, đồng, cho mau

Kim loại sạch đã luyện tôi

Đưa thêm nửa tấn vàng nguyên ta dùng

Cấp cho lương thực thật nhiều

Để ta no bụng tiến hành diệt Ân

Ngựa nghìn con, vạn vạn cung tên

Để cho chiến sĩ xông lên diệt thù

Hãy về tâu với Triều Đình

Không nên để thiếu dù là nửa cân

Trong vòng một tháng không hơn

Thời ta đánh bại quân Ân tơi bời

Giặc Ân khiếp vía kinh hồn

Hết mong xâm lấn cõi bờ Văn Lang

Nước non trở lại bình an

Thái bình thịnh vượng giàu sang yên lành

Mau mau không được trễ chầy

Trong vòng nửa tháng phải thời có ngay.

Nói về Lạc Hầu Quan Thượng Thư lấy làm vui mừng vì chứng bao chuyện lạ của Gióng, bằng nhanh chóng trở về sáng ngày cho kịp buổi Chầu Vua. Hôm nay là ngày đẹp trời không còn u ám như ngày hôm qua, ánh bình minh rực rỡ như báo hiệu nước non sắp yên bình trở lại, các Quan đi chầu rất sớm.

Trên bệ Rồng Hùng Huy Vương nói:

   Trẫm thấy hôm nay khỏe khoắn lạ kỳ có lẽ là điềm lành xuất hiện chăng.

Các Quan cũng đồng thanh nói:

   Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ chúng Thần cũng cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng, không hiểu là có điềm lành gì.

Hùng Huy Vương kiểm lại các Quan thời chỉ thiếu Quan Lạc Hầu Thượng Thư vì còn bận công tác đi đến làng Gióng chưa về. Hùng Huy Vương nói:

   Không hiểu ở làng Gióng hư thật thế nào, Trẫm nóng lòng quá.

Hùng Huy Vương vừa dứt lời thời thấy Quan Lạc Hầu Thượng Thư bước vào. Hùng Huy Vương lấy làm mừng nói rằng:

   Quan Thượng Thư quả thật Linh Thiên, vừa nhắc đến thời có ngay.

Các Quan vô cùng hồi họp chờ lời xác minh của Quan Thượng Thư về đứa trẻ nơi làng Đổng xóm Gióng, với vẻ điềm nhiên của Quan Lạc Hầu Thượng Thư làm cho các Quan càng thêm sốt ruột.

Hùng Huy Vương nói:

   Quan Thượng Thư sao bữa nay ông tấu trình chậm thế.

Đến lúc nầy Quan Thượng Thư mới tấu trình rằng:

   Muôn Tâu Quốc Vương Bệ Hạ, quả xóm Gióng đã xuất hiện Thánh Gióng.

Cả Triều Đình ai nấy cũng đều ồ lên: Có Thánh Gióng xuất hiện thật sao?

Quan Thượng Thư nói:

   Nhưng sự yêu cầu Thánh Gióng không phải là nhỏ.

Hùng Huy Vương nói:

   Thánh Gióng cần bao nhiêu vạn quân, bốn mươi vạn hay năm mươi vạn.

Muôn Tâu Quốc Vương Bệ Hạ:

   Thánh Gióng không yêu cầu thứ đó.

Nghe lời nói của Quan Thượng Thư, không chỉ các Quan Văn Võ, mà ngay cả Hùng Huy Vương cũng bất ngờ phải nói là vô cùng kinh ngạc.

Hùng Huy Vương ngơ ngác:

   Thánh Gióng yêu cầu thứ gì? Quá mức của triều đình ta chăng?

Quan Thượng Thư nói:

   Có thể nói là quá mức, nếu không quyết tâm thì khó mà thực hiện được.

Hùng Huy Vương nóng ruột nói:

   Khanh cứ nói đại ra triều đình ta có đáp ứng được không.

Đến lúc nầy Quan Lạc Hầu Thượng Thư mới đi vào vấn đề chính, kể lại tất cả những gì tai nghe mắt hấy, ai nấy cũng lấy làm kinh dị cho sự xuất hiện một Đấng Trời sanh Thánh Đế nầy, cứu lấy vận mệnh nước Văn Lang.

Bẩm Quốc Vương Bệ Hạ, Thánh Gióng yêu cầu:

   Cấp đủ lương thực nuôi một vạn quân trong vòng một tháng. Một nghìn con ngựa chiến, một nghìn chiếc cung loại tốt, năm vạn mũi tên, nửa tấn vàng.

Nói đến đây Quan Thượng Thư dừng lại. Hùng Huy Vương nghe xong thì cười nói:

   Những thứ yêu cầu đấy đối với nước Văn Lang ta thời chỉ là hạt cát, yêu cầu như thế thời có gì là khó đâu.

Muôn tâu Quốc Vương:

   Nếu chúng ta không quyết tâm thì khó mà được sự yêu cầu đó chỉ trong vòng nửa tháng.

Hùng Huy Vương hỏi:

   Sự yêu cầu đó là gì? Ông hãy nói mau cho ta nghe.

Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ:

   Thánh Gióng yêu cầu Bệ Hạ xuất mười tấn thép, bảy tấn sắt, ba tấn đồng, với một nghìn thợ rèn giỏi, cấp tốc đến làng Đổng, chỉ trong vòng nửa tháng phải có, không được chậm trễ, thép, sắt, đồng, vàng, không được thiếu một cân.

Hùng Huy Vương nghe sự yêu cầu nầy liền ngớ người ra, vì vận nước như dầu sôi lửa bỏng, phải thực hiện cho bằng được, bằng cho mời quan giữ kho thép đến hỏi:

   Còn được bao nhiêu?

Kho thép là kho báu vật Quốc Gia, dùng để chế tạo ra các vũ khí sắc bén, không có thép nước nào sánh lại được thép nước Văn Lang.

Quan giữ kho tâu:

   Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ, trong kho chỉ còn tám tấm.

Hùng Huy Vương liền tức tốc cho thu hồi thép khắp đất nước, chọn một nghìn thợ rèn giỏi cùng khắp đất nước, tất cả đều chuyển đến làng Đổng, trong vòng mười ngày, nếu chậm trễ chém đầu. Thế là các quan mỗi người một việc, ra sức ngày đêm không nghĩ và tất cả đều hoàn thành sau mười ngày.

***************

PHẦN 23: THAO LUYỆN BINH MÃ

Lúc bấy giờ làng Gióng người ta như hội kẻ tới người lui tấp nập, GIÓNG giờ đây tuy mặt còn non trẻ, nhưng cao lớn như người thanh niên vạm vỡ oai phong lẩm liệt, ra sức chỉ huy một nghìn thợ rèn chế tạo rèn đúc áo giáp thép, mão thép, áo giáp ngựa thép, roi thép, áo giáp sắc, áo giáp đồng, áo giáp ngựa sắt, áo giáp ngựa đồng.

Nói về nghìn thợ rèn ngày đêm tốc lực, rèn đúc mài dũa chế tạo ra bộ áo giáp người, giáp ngựa, như vảy con tê tê, tiếng búa đập chan chát, dậy làng dậy xóm dậy núi dậy non, tiếng mài dũa rào rào nghe mà kinh mà khiếp

Tiếng rèn đúc âm vang mấy cõi

Tiếng rào rào mài dũa kinh thiên

Ầm ầm dội đến quân Ân

Làm cho khiếp vía hồn kinh hãi hùng.

Đây nói về khắp Bộ Vũ Ninh, cũng như các Bộ các Châu, các Quận, các Huyện xa gần lân cận Bộ Vũ Ninh, nghe tin Thánh Gióng xuất hiện chuẩn bị xuất quân đi đánh giặc Ân, thời khắp nơi, nhân tài kéo đến lũ lượt xin gia nhập đội quân của Gióng. Nói về ở Hội Xá Gia Ninh, có nhiều đoàn trẻ chăn trâu chân bò, chúng thường chơi nhau lập trận, rước cờ bông lau, đánh trống da ếch số đông lên đến cả trăm, gõ thanh tre, chơi tập trận.

Nhìn bọn trẻ chơi nhau tập trận

Trống dập dồn quân tiến quân lui

Gõ thanh tre bao vây quân dịch

Tiếng xung phong rền núi dậy non

Cỡi trâu các bụi tung bay

Cỡi bò tay phất cờ lau vù vù

Reo hò trống dậy trống dồn

Thanh tre rôm rả vang lừng đồng quê.

Tiếng la hét của bọn trẻ dậy non dậy núi, quân Ân thua rồi, quân Ân thua rồi. Cùng lúc ấy nhiều đoàn trẻ chăn trâu chăn bò, xa gần Hội Xá kéo đến số đông lên đến cả trăm,  chúng hội nhau gia nhập đoàn quân của Gióng. Thế là hơn mấy trăm trẻ chăn trâu chăn bò kéo đến làng Gióng xin gia nhập đội quân của Gióng. Gióng chấp nhận, và cho luyện tập binh mã, mỗi lần GIÓNG phất cờ điều khiển trận pháp, tức thời đàng trẻ chăn trâu, chăn bò lớn lên một cấp, từ thiếu niên vụt lớn thành thanh niên tráng sĩ, thịt bắp vai u sức mạnh vô địch. Gióng lúc nầy tuy mặt vẩn còn trẻ con, đã biến thành một tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẩm liệt. Gióng cho người khiên giáp người giáp ngựa, gươm đao giáo mác đến, trang bị cho đội quân chăn trâu, chăn bò, đã biến thành đội quân dũng sĩ. Đội quân dũng sĩ, trang bị ngựa mặt giáp sắt, giáp đồng, người mặt giáp sắt, giáp đồng, với thanh đại đao trong tay sáng ngời, các dũng sĩ đồng lên ngựa diễn trận, dân chúng xem coi kinh hoàng khiếp vía, ánh đao tuôn ra lạnh cả người, dân chúng la lên ngựa sắt, người sắt, khiếp quá, khiếp quá, đoàn quân ngựa sắt lao tới lao lui nhanh như cuồng phong vũ bảo. Dân chúng hò reo đội quân bách chiến bách thắng, đội quân bách chiến bách thắng.

Nói về làng Môi, làng Mòi, những trai tráng khỏe mạnh cũng xin gia nhập đội quân Gióng, trong đó có ba anh em nhà Ba Chạ, có sức khỏe lạ đời, một tay cầm lấy ba trăm cân như cầm lấy một hòn đá nhỏ.

Nói về một số người thường câu cá trên các dòng sông nghe tin GIÓNG chuẩn bị xuất quân đánh giặc Ân, liền kéo đến xin gia nhập quân binh của Gióng. Những người thợ săn khắp nơi xa gần cũng thế, kéo đến xin gia nhập quân binh của Gióng.

Đây nói về làng Y Na, có một người đàn bà ăn ở phúc Đức, ba đời đều chữa bệnh cho dân, khắp nơi xa gần ai cũng mến phục, người đàn ấy tên là Cao Thị.

Một hôm có một cái cầu vồng năm sắc hiện ra trên bầu trời, và nhắm thẳng người đàn bà sa xuống, bà Cao Thị liền thấy trong mình khác lạ. Từ đó bà mang thai, đến ngày sanh nở bà sanh ra một bọc, sanh ra năm người con trai. Năm anh em khi đến 12 tuổi, bà Cao Thị qua đời, nhưng nhờ gia tộc bà Cao Thị cũng khá giả nên năm người con không lấy gì làm khổ nhọc, năm anh em cùng trong một bọc mau lớn lạ đời nầy tài năng vô cùng, một người tên Kim, một người tên Mộc, một người tên Thủy, một người tên Hỏa, một người tên Thổ.

Hùng Huy Vương ra cáo cầu hiền khắp đất nước, năm anh em xé bản cầu hiền, tức thì Quan dán bản cáo thị báo cho Vua Hùng biết. Hùng Huy Vương cho người đến khảo sát tài năng, thấy năm anh em trong một bọc sanh ra, quả là tài năng vô cùng võ nghệ cao cường thần thông quảng đại, bằng dâng tấu sớ lên Vua Hùng, phong cho Quan tước, cũng như theo sự yêu cầu của năm anh em, nhà Cao Thị, là gia nhập vào đội quân của Gióng. Các bô lão trong làng Y Na lại tiến cử 35 người con trai khỏe mạnh tài giỏi nhất làng theo năm anh em Ngũ Tài. Cả làng mổ trâu, mổ bò, mổ dê, mổ lợn, gà vịt tế lễ trời đất, khao thưởng năm anh em Ngũ Tài, cùng 35 người con trai khỏe mạnh, lên đường đánh giặc Ân xát nhập với quân Gióng nơi làng Đổng.

***************

PHẦN 24: HỘI TỤ TINH HOA

Khi Gióng trở về làng Đổng tuyên bố đánh giặc Ân, những người tin Gióng theo Gióng đầu tiên, là ba vị Kỳ nhân tên là ông Trấn, ông Trâu, ông Bạch Sam ở núi Tiên, theo sự yêu cầu của Gióng, một nghìn thợ rèn dốc sức ngày đêm không nghĩ hơn nửa tháng thì hoàn thành đến lúc nầy GIÓNG mình cao hơn trượng cao lớn như người Khổng Lồ. Gióng hú lên một tiến làm chấn động núi non rừng thẳm, thời từ xa xôi có tiếng ngựa hí đáp lại, trên không trung liền xuất hiện một con ngựa Thần bay tới, to lớn gấp mười lần con ngựa thường, to lớn hơn một con voi to, ngựa đáp chân xuống đất làm rung rinh nhà cửa, dân làng kinh hãi khiếp sợ. Hỡi dân làng giờ xuất trận cũng gần đến dân làng hãy cho quân binh ăn thật no. Riêng nấu cho ta đầy bảy nong cơm, cà muối ba nong.

Sau có thơ rằng.

Bảy nong cơm, ba nong cà

Uống một hơi nước cạn đà khúc sông.

Nói về các thợ rèn chỉ rèn đúc lắp ráp theo lời chỉ bảo của Gióng, chớ không động đậy gì nổi những đồ của Gióng dùng, chỉ cần roi thép của Gióng cũng nặng hơn hai tấn dài to vót như một cây tre, mấy chục thước, không có quân binh nào khiên cho nổi. Gióng bước đến nhiều mảnh áo giáp ngựa, mỗi mảnh giáp nặng gần cả tấn, thế mà Gióng xách lên nhẹ như không, như xách con gà con, ai nhìn thấy cũng phải kinh hồn bạc vía. Gióng ráp xong các mảnh giáp lên mình ngựa xong, biến con ngựa Thần thành con ngựa thép sắt, tức thời hơi thép lành lạnh tuôn ra đến khiếp người. Gióng mặt giáp xong liền biến thành con người thép sắt khổng lồ, Gióng bước tới cây roi thép dài to vót như cây tre, cuối người xuống cầm lên một cách nhẹ nhàng, như cầm một cây roi tre chăn bò, với một sức mạnh chưa từng thấy bao giờ, Gióng múa roi một cái tức thời cuồng phong nổi dậy ầm ầm, cát bay đá chạy, dân chúng nhìn thấy sức mạnh Thần Kỳ của Gióng, có người sợ muốn xỉu, dân chúng nhìn Gióng cỡi lên con ngựa thép, ánh thép sáng ngời ngời tay cầm roi thép, phóng lên yên ngựa tức thời đất đai liền sụt lún xuống, con ngựa dẩm chân làm rung rinh nhà cửa, dân chúng có người sợ đến muốn chết ngất, vì quá khiếp. Gióng vổ vào lưng ngựa, tức thời con ngựa phun ra lửa sấm sét nổi lên. Gióng phi ngựa một vòng, ngựa phi tới đâu, thì thành ao tới đó, kình phong tuông ra ầm ầm làm cho cây cối ngã đổ ai nấy đều kinh hồn bạc vía. Gióng phi ngựa trở về chỗ cũ, bọn trẻ thấy ngựa Gióng vẩn còn chỗ trống hở, liền lấy bông lau dắc vào cho kín. Gióng chưa xuất quân hình như chờ đợi ai đó, khi ấy dân làng nghe tiếng hổ gầm, voi hú, dậy trời như chờ Gióng xuất trận là lao theo. Bổng dân làng thấy mấy người nông dân làm ruộng, mấy người nông dân trồng tre, đến gia nhập đạo quân, Gióng nói tất cả đều đến đầy đủ rồi, chuẩn bị xuất quân Gióng liền vỗ vào hông ngựa con ngựa hí lên rung trời chuyển đất, mồm phun lửa rực đỏ cả bầu trời.

Gióng chỉ roi về hướng Bắc thét lớn:

   Tiến quân.

Tức thì đoàn quân hỗn hợp, cuồn cuộn lao về hướng Bắc. Dân chúng thấy quân Gióng đi nhanh như cơn bão vượt qua núi, không cần đường mòn, vượt qua sông không cần thuyền bè. Sau có thơ rằng:

Quân Gióng là quân nhà Trời

Vượt qua sông núi lạ đời như không

Quân binh cuồn cuộn bão dông

Tiến về phương Bắc quyết tâm diệt thù.

*********

PHẦN 25: DIỆT THÙ

Lại nói về Nguyên Minh, bị quân Ân phá trận ngũ hành đánh bại, quân binh chết vô số kể, kéo tàn quân chạy về Vân Châu, tránh sự truy sát của quân Ân. Cánh quân Cao Hải bị quân Hung Nô đánh bại cũng chạy về Vân Châu, Nguyên Minh, Cao Hải gặp nhau trong tình thế vô cùng bi đát, bại trận thê thảm, than thở mãi không thôi, nhưng sau đó lấy lại khí thế cũng cố lại lực lượng, cố thủ Vân Châu quyết một còn một mất với chúng, Nguyên Minh viết thư báo cáo tình hình quân địch khó mà chống cự cho lại trình lên Hùng Huy Vương, xin viện binh, chờ cơ hội đánh trả, cũng như ngăn bước tiến quân Ân không cho tiếng vào Trung Văn Lang.

Nội dung thư như sau:

Quân giặc nhiều vô số

Tướng giặc lại tài cao

Quân binh như ma quỷ

Khó thắng biết là bao

Quân binh đang cố thủ

Địa phận tỉnh Vân Châu

Viện binh như cứu hỏa

Mới ngăn nổi giặc Ân

Tiến vào Trung Văn Lang

Xin Quốc Vương minh xét.

Nguyên Minh, cùng Cao Hải, đang bàn kế sách ngăn chặng quân Ân tiến vào Trung Văn Lang, và cho người liên lạc với Nguyên Dực.

Thời có quân binh vào báo:

   Bẩm chủ soái quân Thánh Gióng sắp đến Vân Châu rồi.

Nguyên Minh nói:

   Mau đến như thế sao?

Cao Hải nói:

   Nghe nói quân Gióng là quân nhà Trời, không phải là quân Triều Đình, ta mau gia nhập vào đội quân của Gióng, tiến đánh quân Ân.

Anh em cùng ra trận

Hiếu trung nổi tiếng nhà

Quyết một phen tử chiến

Vì dân chết cũng là

Diệt thù quân cướp nước

Quyết tử tiến xông pha

Rồng Tiên niềm bất khuất

Nối gót chí ông cha

Cứu nước cứu non kể chi là

Tình riêng gói lại chí xông pha

Một mất một còn quân cướp nước

Trải lòng trung hiếu diệt yêu ma.

Nguyên Minh, Cao Hải thống lãnh gần mười vạn quân đón quân Gióng đến gia nhập. Nguyên Minh, Cao Hải nghe tiếng quân binh di chuyển ầm ầm, nghe cuồng phong ù ù thời lấy làm kinh hãi, loáng một cái quân Gióng đã tới nơi. Nguyên Minh, Cao Hải vô cùng kinh hãi, vì thấy một đạo quân người sắt, ngựa sắt, đạo quân thiết giáp đi sau, hơi thép tuôn ra lạnh cả người.

Nguyên Minh, Cao Hải, tới lễ lạy Thánh Gióng, gia nhập gần mười vạn quân vào quân Gióng tiến đánh giặc Hồ ở Kiến Giao Châu. GIÓNG vỗ vào lưng ngựa chỉ roi về hướng Kiến Giao Châu tức thời ngựa Thần hí lên rung trời chuyển đất, đoàn quân Gióng lao đi như cơn bão lốc. Nguyên Minh, Cao Hải chỉ còn biết thúc năm nghìn kỵ binh lao theo đoàn quân của gióng mà thôi, còn tất cả thì lẻo đẻo theo sau, đoàn quân loáng một cái là mất hút.

Đây nói về Hồ Nghi Vương quyết lấy thành Kiến Châu cho bằng được chiếm trọn Tây Bắc Văn Lang, với hơn 20 vạn quân, Hồ Nghi Vương chỉ cần khôn khéo là chiếm được ngay, nhưng Châu Tiên con của Quan Trung chính Châu Ân quá lợi hại, lại có một vị Tướng vô cùng tài đó là Cao Khang nên Hồ Nghi Vương chưa thể chiếm thành ngay được, và rồi Hồ Nghi Vương cũng tìm ra kế để phá thành.

Trận chiến bắc đầu mở màn, Hồ Nghi Vương dùng độn tẩm dầu bắn vào thành, rồi bắn lửa vào đốt cháy, hỏa công đánh trước, bộ binh leo tường đánh sau, xạ binh bắn yểm trợ, còn một đạo quân khác mượn thế liên hoàn ròng rọc công phá cửa thành, Thành Kiến Châu chỉ còn chờ chết. Tiến reo hò quân Hồ dậy trời dậy đất.

Hồ Nghi Quân kêu gọi đầu hàng lần cuối:

   Đầu hàng thì còn mạng sống, chống lại thì chết không còn một mạng.

Châu Tiên quát:

   Con quỉ Hồ Ly kia, con cháu Tiên Rồng thà chết quyết không chịu đầu hàng.

Hồ Nghi Vương trợn mắt quát:

   Hãy sang bằng Kiến Châu cho ta.

Tức thời tiếng tù thổi lên rền trời rền đất, quân Hồ chuẩn bị tấn công. Thời bổng nghe đất trời rung chuyển, quân Hồ bổng thấy người sắt, ngựa sắt bổng xuất hiện lao tới đánh xối xả, tới tấp vào quân Hồ. Quân Hồ bị đánh trúng văng đi tứ phía cả người cả ngựa nát như tương. Hồ Nghi Vương kinh hồn bạc vía thấy ngựa sắt Khổng Lồ lao tới phun lửa đốt quân Ân cháy đen, người sắt Khổng Lồ mỗi lần múa roi thép sắt lên là mỗi lần quân Hồ toi mạng cả trăm lớp nát như tương lớp bay như rác. Hổ, Voi, Sư Tử, lao tới xé xác, cảnh tượng xảy ra khiếp vía kinh hồn. Hồ Nghi Vương khiếp quá, ra lệnh cho quân binh bắn tên xối xả vào ngựa sắt, người sắt, nhưng nào có ăn thua gì, ngựa sắt người sắt cứ lao tới, đánh quân Hồ ngã rạp lớp lớp đạp nhầu quân Hồ nát như tương. Hồ Nghi Vương hãi hùng hóa phép bay lên không chạy trốn, nhưng nào có kịp Thánh Gióng chỉ roi lên không một cái, một tia hào quang bắn lên Hồ Nghi Vương liền tan xương nát thịt, 20 vạn quân Hồ chỉ trong chốc lác, tiêu tan thây nằm la liệt.

Sau có thơ rằng:

Nghe động đất đùng đùng ập tới

Nghe cuồng phong bão tố đến nơi

Ầm ầm vó ngựa khiếp kinh

Ầm ầm roi sắt rung rinh đất trời

Quân hỗn hợp Thánh Thần xuất thế

Càn quét nhanh khủng khiếp kinh hồn

Quân Hồ bị đánh tơi bời

Lớp thời nát thịt, lớp thời cháy đen

Lớp thời bị cọp nuốt ăn

Kinh hồn bạc vía hết phương sống còn.

Lại nói về, Quan Trung Chính, Châu An, Châu Tiên, Cao Khang, quyết tử chiến với quân Hồ cho đến phút cuối, bổng nhìn thấy xa xa ở phương Nam xuất hiện một đạo quân, không biết là quân địch hay quân ta, chỉ loáng một cái đoàn quân tốc hành đã đến nơi.

Châu Tiên la lớn:

   Quân người sắt.

Cao Khang, Châu An thấy đoàn quân người sắt lao vào 20 vạn quân Hồ như vào chỗ không người, giống như hàng nghìn cái chổi sằm quét rác, quân Hồ bị quét bay lên tứ tung, trông thấy mà kinh hồn bạc vía, nhất là người sắt Khổng Lồ, ngựa sắt Khổng Lồ, tên, lao, giáo, kiếm, lao tới như mưa, nhưng người ngựa Khổng Lồ không hề hấn gì cả, ngựa phun lửa dữ đốt quân Hồ cháy đen cháy thui, cứ mỗi lần người sắt Khổng Lồ vung roi là cả trăm người tan xác.

Châu Tiên, đứng trên thành la lớn:

   Thánh Gióng Thánh Gióng, kìa cờ đề Thánh Gióng, quân nhà Trời đã xuất hiện.

Quân Trời kinh khiếp làm sao

Tướng Trời xuống thế cứu dân sống còn

Cứu non cứu nước trường tồn

Đánh tan yêu quỷ hết còn xâm lăng

Kinh hồn bạc vía từ đây

Văn Lang có chủ giặc bây đừng hòng

Xâm lăng không có ngày về

Thây phơi chật đất ê hề thây phơi

Quân Hồ bị đánh tả tơi

Làm phân cho đất ôi thôi còn gì

Đây là bài học nhớ đời

Cho quân xâm lược nhớ thời nhớ ghi.

Châu Tiên nhìn thấy cờ chủ soái Nguyên Minh nói:

   Cha nhìn có quân chủ lực Văn Lang nữa kìa.

Thánh Gióng nói tiếng vang như sấm:

   Mau mở cổng thành đem quân tri sát quân Hồ.

Nói xong Thánh Gióng chỉ roi về Ninh Châu tiến, thế là đoàn quân Gióng như cơn bão nổi lên ầm ầm lao đi, loáng cái mất dạng, Châu An nhìn theo khiếp vía: Quân Trời có khác.

*************

PHẦN 26: TIÊU DIỆT QUÂN ÂN

Đây nói về Nguyên Dực thua trận kéo tàn quân chạy về thành Ninh Châu, cố thủ, quân Ân kéo đến bao vây, nhưng không tấn công liền, chờ cho quân binh trong thành Ninh Châu kiệt sức vì đói mới ra tấn công.

Than ôi non nước nạn luôn luôn

Cũng bởi chúng dân lạc Cội Nguồn

Âu bỡi số Trời nên đành thế

Đông tàn xuân đến nạn qua truôn

Còn lòng trung hiếu còn non nước

Đựng dậy hồn thiên, dậy anh linh

Chờ cơ, chờ vận, chờ trời sáng

Rồng Tiên phất phới, rạng anh minh

Độc lập tự do tung đôi cánh

Yên bình hạnh phúc trải xuân Thiên.

Đây nói về Nguyên Dực, bị Sát Sát quân Ân đánh bại rút tàn quân chạy về thành Ninh Châu, đóng cổng cố thủ trong thành, không bao lâu thời quân Ân kéo đến bao vây, có trên 25 vạn quân. Nguyên Dực, Dương Điền, Hầu Thái Công, Lạc Đại Vương, Bạch Tướng Quân, cùng nhiều Tướng Lĩnh khác nữa ở trên thành nhìn thấy quân Ân đông như vậy khó mà đánh cho lại. Hơn nữa Sát Sát thần thông pháp thuật vô biên, thành Ninh Châu quân binh chỉ hơn sáu vạn, nhưng nếu bị bao vây hơn nửa tháng sẽ dẫn đến chết đói, quân Ân không đánh cũng thua. Quân Ân bao vây hơn mười ngày rồi, chỉ cần thêm năm ngày nữa sẽ dẫn đến quân binh kiệt sức vì đói. Nguyên Dực, Hầu Thái Công, Lạc Đại Vương lấy làm lo lắng vô cùng.

Bạch Tướng Quân nói:

   Trước sau gì cũng chết, thay gì lúc còn đang no, đang đêm mở cổng thành ra quyết chiến với chúng một trận chết cũng vui sướng.

Dương Điền nói:

   Bạch Tướng Quân nói phải lắm, chết đói sao cho bằng đánh với một trận chết no cũng vui.

Nguyên Dực nghe cũng có lý nói:

   Thôi thì tận trung Báo Quốc vậy.

Được lệnh mở cổng thành tấn công quân Ân, các Tướng bàn bạc sôi nổi và thống nhất:

   Một giờ đêm nay là mở thành tấn công vào quân Ân tận trung Báo Quốc, coi như chúng ta ăn bửa cơm cuối cùng.

Bằng cho mổ bò mổ lợn, gà vịt khao đãi quân binh, bữa ăn cuối cùng từ giả trần gian.

Một trận chiến lẫy lừng sông núi

Khí hùng anh có chết cũng vui

Tiên Rồng nòi giống uy linh

Sợ gì quân giặc tiến lên diệt thù

Nhìn dân chúng giặc dày giặc xéo

Cảnh ngựa trâu giặc chém giặc đâm

Làm cho máu chảy non sông

Quê hương binh lửa núi non hận thù

Hãy tiến lên chiến sĩ đồng bào

Đánh cho tan tác quân thù tác tan.

Nhìn trời về chiều ánh nắng đã ốm vàng hồng, không bao lâu nữa mặt Trời sẽ lặng về non Tây, các Tướng Lĩnh thấy tâm hồn khoan khoái nhẹ nhỏm không còn nặng nề như mấy bữa trước đây.

Bổng Bạch Tướng Quân la lên:

   Xem kìa! Xem kìa! Chuyện gì thế? Quân Ân kéo binh đến nữa chăng?

Khói bụi mịt mù ở tận xa xa, loáng một cái đoàn quân đã lao tới gần quân Ân, tiếp theo đó là một trận chiến kinh hồn, quân Ân bị đánh bay lên như hốt đá mà ném bay lên tứ hướng nhà Trời, quân Ân kinh hoàng khiếp thi nhau chạy toán loạn.

Ngựa sắt dồn chân chuyển đất trời

Đạp nhầu quân giặc nát tả tơi

Ầm ầm roi sắt rền sông núi

Muôn vạn giặc Ân mạng tơi bời

Kinh hồn bạc vía quân cướp nước

Thịt xương tung tóe xác pháo rơi

Cuồng phong gào thét roi vun vút

Quét sạch xâm lăng giặc đi đời.

Các Tướng trên thành la lớn:

   Người sắt, ngựa sắt, kìa người Khổng Lồ, tay múa roi lớp lớp quân Ân tan xương nát thịt bỏ mạng, ngựa sắt phun lửa đỏ rực bầu trời.

Lạc Đại Vương la lớn:

   Cờ Thánh Gióng, quân binh nhà Trời.

Nguyên Dực cũng la lớn:

   Kìa quân binh chủ lực Văn Lang cờ chủ soái Nguyên Minh phất phới.

Nguyên Dực như đứng tim nhìn sức mạnh của quân Gióng đánh quân Ân như đánh loài chuột. Đây nói về Sát Sát, đang hừng hực khí thế chiến thắng, thì nghe tiếng ầm ầm từ xa vọng lại, loáng một cái nghe quân Ân gào thét sợ hãi chạy toán loạn.

Sát Sát la lớn:

   Chuyện gì thế? Chuyện gì thế?

Nói về Hồ Man Quân, Hồ Mị Hoa, nhìn thấy người sắt từ hướng Tây lao tới xơi sạch quân Hồ. Hồ Mị Hoa hóa phép dông tố nổi lên ầm ầm đánh vào quân người sắt. Không ngờ quân người sắt chẳng hề hấn gì, lao nhanh tới chém sạch quân Hồ. Hồ Mị Hoa sợ quá cỡi ngựa Thần phi lên không trốn chạy, nhưng không còn kịp nữa năm con ngựa sắt bay lên không bao vây, đồng loạt tấn công cả con ngựa Thần cùng Hồ Mị Hoa bị chém đứt ra nhiều mảnh. Quân Ân, quân Hồ nhìn thấy cảnh ấy chỉ còn biết dẫm đạp lên nhau bỏ chạy. Năm con ngựa sắt bay lên không giết chết Hồ Mị Hoa chính là năm anh em Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ.

Cùng lúc ấy Sát Sát thấy người sắt Khổng Lồ đánh quân Ân lớp lớp tơi tả, liền niệm chú phóng kiếm Thần lao tới giết chết người sắt Khổng Lồ. Gióng không hề sợ hãi chút nào kiếm Thần lao tới Gióng đưa roi đánh vào kiếm Thần một cái tức thời một tiếng nổ long trời, kiếm Thần nát ra từng mảnh vụn.

Sát Sát sợ quá la lớn:

   Bắn chết người sắt Khổng Lồ đó cho ta.

Thế là hàng nghìn mũi tên bắn vào người sắt Khổng Lồ, nhưng nào có ăn thua gì. Gióng lao đến đâu quân Ân lớp lớp bỏ mạng đến đó. Sát Sát hóa phép liên miên, nào yêu tinh quỷ dữ hiện ra, cũng không làm gì được Gióng, bị Gióng múa roi đánh yêu tinh quỉ dữ khiếp hồn. Sát Sát hóa cuồng phong ầm ầm cũng không làm gì được Gióng. Sát Sát sợ quá phi ngựa lên không trốn chạy, không ngờ con ngựa sắt Khổng Lồ bay theo. Gióng đánh cho một roi cả người lẫn ngựa nát như tương.

Nguyên Dực cùng các Tướng Lĩnh trên thành Ninh Châu há hốc mồm mà nhìn, cứ tưởng như là một giấc chiêm bao. Chừng nghe nói:

   Hãy mở cổng thành truy sát quân Ân chạy trốn, và cho người đem đồ ăn thức uống dâng lên cho đoàn quân của Gióng.

Người lên tiếng đó chính là Nguyên Minh em của Nguyên Dực. Nguyên Dực như tỉnh giấc mơ liền mở cổng thành cho quân đuổi theo truy sát quân Ân đang chạy trốn tứ hướng, 25 vạn quân Ân giờ đây chỉ là những đống thịt, những cái xác không hồn, la liệt chồng chất lên nhau, cuộc chiến kết thúc thần tốc như thế, không ai dám nghĩ tới, nói gì tận mắt chứng kiến.

***********

 PHẦN 27: QUÉT SẠCH QUÂN ÂN

Sử đời chép lại để coi

Xâm lược rốt cuộc chẳng qua lũ hề

Trò cười muôn ức vạn đời

Ra gì một lũ ngông cuồng xâm lăng.

Nói về quân Gióng sau khi quét sạch 25 vạn quân Ân, thời được Nguyên Dực, Dương Điền, Hầu Thái Công, Lạc Đại Vương, Bạch Tướng Quân, đón rước tất cả vào thành vì trời đã tối, các Quan Tướng đều đến lạy Gióng. Lạc Đại Vương cho người dâng lên đồ ăn thức uống cho đoàn quân của Gióng, không ngờ đoàn quân của Gióng ăn mạnh quá, nốt sạch khẩu phần của hơn sáu vạn quân, chuẩn bị cho bữa cơm tối, bữa cơm cuối cùng cho trận chiến một giờ đêm. Nhất là Gióng ăn liền bảy nong cơm, ba nong cà muối, làm khiếp đảm những người chứng kiến. Quân Gióng ăn no nê rồi đánh một giấc ngủ.

Ông mặt trời đã thức dậy, ngày cuối cùng tiêu diệt giặc Ân. Tất cả quân binh thành Ninh Châu suốt đêm không ngủ vì chuẩn bị đồ ăn thứ uống cho đoàn quân của Gióng ăn sáng trước khi lên đường đánh giặc. Quân dân thành Ninh Châu lại phải chứng kiến quân Gióng ăn uống khủng khiếp, nhất là Gióng nuốt sạch mười nong cơm, năm nong cà.

Nguyên Dực giờ đây đã gia nhập vào đoàn quân của Gióng những kỵ binh giỏi nhất đi theo Gióng quét sạch quân thù xâm lược, còn tất cả binh lính đều ở lại thành Ninh Châu. Quân Gióng ăn uống no nê, chờ lệnh Gióng xuất phát. Gióng cầm roi leo lên lưng ngựa, roi Gióng vót nhọn dài mấy mươi thước to dài như cây tre lồng ngà, nặng hơn hai tấn. Gióng chỉ roi về hướng Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ hét lớn tiến quân, tức thời con ngựa Gióng hí lên vang động đất trời, mồm phun ra lửa dữ, dậm chân ầm ầm lao đi, quân Gióng lao theo ầm ầm như cơn bão, loáng cái đã mất dạng, quân binh Ninh Châu nhìn theo khiếp vía.

Đây nói về quân Ân, quân Hung Nô, ngày đêm ráo riết, đánh chiếm các Châu Quận Huyện hầu như gần nuốt sạch Bắc Văn Lang. Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ sắp mất đến nơi quân Ân bao vây lớp lớp trùng trùng. Hùng Lang Công, Lạc Tướng Cao Giang, Hầu Tướng Việt Yên, biết thế nào quân Ân cũng chiếm được Kinh Đô nhưng thà chết không chịu đầu hàng cố thủ tử chiến. Nhất là Hùng Lang Công vô cùng căm giận Giặc Ân, xâm lược cướp nước, còn giết chết hai người con là Hùng Tướng và Hùng Điền, nên ra lệnh cố thủ thành dù sắp chết đói đến nơi, dân chúng cũng như quân binh đã lai rai chết đói, quân Ân hiểu rõ thời cơ đã chín mùi chỉ cần ra tay là chiếm được được Kinh Đô và ngày giờ đã quyết định là tấn công vào Kinh Đô khi lúc mặt trời lên với hơn ba mươi vạn quân Ân bao vây Kinh Đô đông như kiến, đao kiếm ngùn ngụt, ngựa hí vang trời, quân reo dậy đất.

Hùng Lang Công, Lạc Tướng Cao Giang, Hầu Tướng Việt Yên ở trên cung thành nhìn quê hương non nước như nhìn lần cuối, tay nắm chặt thanh đao như nói thầm rằng hãy quyết tử với chúng.

Nước Văn Lang lửa thù soi giếng hận

Lũ quân thù, lũ tán tận lương tâm

Lũ ngoại xâm, nầy hỡi lũ ngoại xâm

Mi gieo rét, bao ngục tù chết chóc

Giờ quyết tử, ta sẳn sàng chiến đấu

Nguyện theo về, với thế giới Cha Ông

Thân xác nầy, trả lại với non sông

Giờ quyết tử, quyết chiến quyết xông.

Nói về Hùng Lang Công, Lạc Tướng Cao Giang, Hầu Tướng Việt Yên nhìn mặt trời lần cuối trước khi vĩnh biệt cõi trần. Tiếng còi khai trận trên đài quan sát Ân Mao Vương phất cờ lệnh tấn công, tức thời nghìn nghìn thang dây lao tới bắt lên thành, có đội quân xạ tiển yểm trợ bắn lên thành như mưa.

Cùng lúc ấy từ phía Tây một cơn bão lốc cuồn cuộn ập tới, tiếng vó ngựa ầm ầm vang rền trời đất, thoáng chốc đội quân người sắt xuất hiện lao vào hơn 30 vạn quân Ân xơi ráo riết, quân Ân bị đánh văng bay lên trời như giấy, kẻ bể đầu, người nát như tương, với chiếc roi sắc dài mấy mươi thước. Gióng vung lên vù vù quân Ân bỏ mạng lớp lớp. Nghịch Phong kinh hoàng khiếp vía cỡi ngựa bay lên không phóng đao Thần tới người sắt Khổng Lồ chỉ nghe nổ ầm ầm đao Thần nát vụng. Nghịch Phong niệm chú hóa phép yêu tinh quỉ dữ hiện ra lao vào người sắt, ngựa Thần phun lửa đốt sạch, bổng ngựa sắt bay lên không roi sắt đánh tới Nghịch Phong. Nghịch Phong múa kiếm lên đở, nào ngờ một tiếng bộp dữ dội, Nghịch Phong cả người lẩn ngựa nát như tương. Ân Mao Vương nhìn thấy kinh hồn bạc vía, Ân Mao Vương chưa kịp chạy trốn thời Gióng bay đến đánh một roi quan sát đài cao bảy tầng chỉ nghe ầm một tiếng kinh thiên động địa quan sát đài nát vụng. Ân Mao Vương nát như tương. Roi sắt cũng gãy làm ba khúc. Gióng dắt khúc roi còn lại vào lưng, phi ngựa tới bờ tre nhổ lấy tre đánh vào quân Ân tơi tả chết la chết liệt, cây tre nầy hư nát, Gióng lại nhổ cây tre khác cứ thế hết cây tre nầy đến cây tre khác. Quân Ân không còn sống sót để mà trở về quê hương, xác quân Ân la liệt thành gò thành đống. Không ai là không khủng khiếp cho trận chiến diệt quân Ân thần tốc nầy.

Về sau có thơ rằng:

Rầm rầm dậy đất dậy trời

Cuồng phong bão táp ầm ầm kinh thiên

Ngựa Gióng phun lửa liên miên

Roi Gióng cuồn cuộn đảo điên đất trời

Quân Ân lớp lớp tơi bời

Cháy đen, nát thịt, bể đầu, tan thây

Đùng đùng ngựa dẩm quân Ân

Chôn vùi tan xác còn chi cuộc đời

Quân Ân hồn vía rụng rời

Xác văng tứ phía rụng đầu sứt chân

Ào ào muôn trận cuồng phong

Đường roi bão táp cuốn phen quân thù

Đường roi cuồn cuộn ù ù

Ầm ầm nện xuống nát nhừ quân Ân

Quân Ân khiếp vía hồn kinh

Ném gươm ném giáo chui mình trốn chui

Lũ chuột trốn chạy khắp nơi

Chạy đâu cho thoát ôi thôi còn gì

Đáng đời lũ giặc đáng đời

Ngông cuồng xâm lược để rồi mạng toi.

Hùng Lang Công, Lạc Tướng Cao Giang, Hầu Tướng Việt Yên cùng quân binh trên thành ngơ ngác, quên cả chiến đấu chừng thấy quân Ân từ trên thang dây nhảy xuống đất lớp chết lớp gãy tay gãy cẳng, thì mới giật mình, thì quân Gióng đã biến mất lao về hướng Đông thẳng đến thành Xích Linh.

Hùng Lang Công nói:

   Thánh Gióng người thiếu niên Khổng Lồ, Quốc Tổ Thiêng Long Vương Sùng Lãm, đã hiện về cứu nước Xích Quỷ khỏi rơi vào tay giặc.

Ai đời đánh giặc lạ đời

Dùng tre thay giáo tuyệt vời khó tin

Bờ tre khắp chốn khắp nơi

Để cho Thánh Gióng nhổ lên diệt thù

Tre thành roi Thánh nhà Trời

Đánh cho quân giặc rụng rời khiếp kinh

Tre thành gươm giáo uy linh

Đánh cho quân giặc hãi kinh khiếp hồn

Tre là biểu tượng anh hùng

Giặc mà nhìn thấy hãi hùng hoảng kinh.

(Quốc Tổ Thiên Long Vương Sùng Lãm, là Quốc Tổ khai sanh ra nước Xích Quỷ, thời đại Kinh Dương Vương).

***************

PHẦN 28: QUÉT SẠCH HUNG NÔ

Đây nói về thành Xích Linh quân Hung Nô chưa làm gì nổi chỉ ở thế bao vây mà thôi, chờ cho quân Xích Linh đói chết tự đầu hàng, quân Hung Nô sau những lần bại trận chỉ còn không đầy 10 vạn, nay đã hồi phục trở lại lên đến 15 vạn, với tình cảnh nầy quân Hung Nô như con hổ rình mồi. Chờ cho con mồi đói lã, lao tới ăn thịt không cần tốn công mệt sức. Hung Nô Vương cùng hai con là Hung Quân Liệt, Hung Đa Di lấy làm đắc ý vì con mồi đã ở trong tầm tay. Ba cha con Hung Nô, đang hãm hiếp những cô gái đẹp Bắc Văn Lang chúng hãm hiếp hết cô nầy đến cô khác, rồi chúng quăng ra cho binh lính hãm hiếp. Nhìn thấy cảnh ấy không ai là không sôi gan, cho quân tàn bạo cướp nước. Chúng đang hả hê hãm hiếp những cô gái trẻ. Bổng nghe cuồng phong kéo tới ầm ầm, quân Hung Nô giật mình khiếp sợ, không hiểu là có chuyện gì.

Đây nói về Lạc Kim Tiên, trong lúc chợp mắt thời thấy Sư Phụ hiện về nói:

   Khi mặt trời lên sẽ có Thánh Gióng xuất hiện, đánh tan quân Hung Nô, giải thoát khiếp nạn cho Bắc Văn Lang.

Lạc Kim Tiên giật mình tỉnh giất không thấy Sư Phụ đâu cả, khi ấy trời cũng sắp hừng sáng. Lạc Kim Tiên liền nói với cha là Lạc Hầu Vương cũng như anh trai là Lạc Hồng Hầu những gì Sư Phụ đã hiện về nói cho biết là quân Hung Nô sắp bị đánh tan, khi Thánh Gióng xuất hiện, lúc mặt trời lên. Tin nầy được lan truyền nhanh chóng khắp trong thành Xích Linh, binh lính cũng như dân chúng kéo lên tường thành chờ đợi Kỳ Tích xuất hiện.

Mặt trời đã lên cao, nhưng sao chưa thấy Kỳ Tích xuất hiện, niềm tin đã bắt đầu lung lay. Bổng Lạc Kim Tiên la lớn:

   Khói bụi từ hướng Tây đã xuất hiện.

Lạc Hầu Vương la lớn:

   Tới rồi.

Đoàn quân Gióng đã xuất hiện, quân dân trên thành thấy Gióng cầm cây tre múa vù vù đánh vào quân Hung Nô như cơn bão lốc quân Hung Nô bị đánh văng tứ tung lên không như giấy, quân Gióng xơi quân Hung Nô như mèo xơi bầy chuột, chúng bị đánh văng đi tứ tung, bể đầu, gãy chân, gãy tay, người thì nát như tương, người thì bẹp lếp, chết la chết liệt thành gò thành đống. Kim Tiên thấy Thánh Gióng như người Khổng Lồ nhưng mặt còn trẻ con, nhổ lấy tre đánh giặc không khỏi phì cười, đúng là trò trẻ con có một không hai trên trần thế.

Chỉ trong phút chốc quân Hung chết sạch, Hung Nô Vương cùng hai con bỏ mạng. Gióng đánh tan quân xâm lược Gióng liền phi ngựa về hướng Nam mất hút, đoàn quân của Gióng cũng mất hút theo. Nguyên Dực, Nguyên Minh bỏ lại quân binh Tướng Lĩnh theo chân Gióng chỉ còn lại quân Triều Đình, và những quân binh theo Gióng ra trận.

Anh tài hào kiệt anh hùng

Cứu dân cứu nước diệt nầy ngoại xâm

Giữ gìn độc lập non sông

Để cho non nước bình yên thái bình

Gương lành để lại cho đời

Uy danh muôn kiếp sáng ngời anh linh

Hiếu trung sách sử chép ghi

Công lao cứu nước sáng soi đời đời

Lời còn nhớ mãi anh hào cứu dân.

Lạc Hầu Vương, Lạc Hồng Hầu, Lạc Kim Tiên, Đinh Hoàng, Nguyên Thông nhận ra Cao Hải. Nhất là Lạc Kim Tiên vừa nhìn thấy Cao Hải thì lòng vui mừng không sao kể xiết, như vừa nuốt phải một lạng sâm vào bụng ra lệnh cho người mở cổng thành phi ngựa ra gặp Cao Hải.

Nhìn thấy xuân về sau gió đông

Nghìn hoa đua nở đợi bướm ong

Xao xuyến tình duyên lòng con gái

Bến đợi sông chờ, khách qua sông

Đôi môi vừa hé hôn làn gió

Cháy bổng hồn xuân ấm tình nồng

Đa cảm phải đành ôm nỗi nhớ

Bóng dáng người tình mãi đợi trông

Lòng em như vạn mùa xuân

Trời thu trong vắt, biển đông dậy tình

Em nghe ngọt lịm tâm hồn

Đa tình đầy ắp biển trời nhớ thương.

Cao Hải gặp lại Kim Tiên cũng không kìm nỗi lòng xúc động, tưởng như là sẽ không còn gặp lại nhau nữa, Cao Hải giới thiệu một số Tướng Lĩnh cho Lạc Kim Tiên. Lạc Kim Tiên thi lễ chào hỏi xong thời cũng vừa lúc. Lạc Hầu Vương, Lạc Hồng Hầu, Đinh Hoàng, Nguyên Thông vừa tới thi lễ đón rước các Tướng Lĩnh vào thành, thiết đãi ăn mừng chiến thắng cũng như bàn luôn việc Quốc Sự, chính đốn lại trật tự an ninh Bắc Văn Lang, ra lệnh cho quân binh truy nã quân giặc còn đang chạy trốn, cũng như ra cáo thị cho dân chúng, phải tuân theo pháp lệnh của nhà nước Văn Lang, nếu ai không tuân theo sẽ bị xử trảm.

Các Quan Tướng đang bàn việc Quốc Sự thì có quân vào báo:

   Có thư của Hùng Lang Công nơi Kinh Đô Xích Quỷ gởi tới.

Nội dung thư như sau: Các Quan, các Tướng, các bộ, các Châu, các Quận, các Huyện, cũng như các Quan Tướng Triều Đình về Kinh Đô họp gấp, bàn nhiều việc trọng đại.

Theo công văn Bệ Hạ Hùng Huy Vương. Người viết thư Hùng Lang Công. Thế là các Quan Tướng tức tốc lên đường đến Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ để dự họp.

Đây nói về Nam Kinh Xích Quỷ, Kinh Đô Bắc Văn Lang các Quan Tướng ra vào tấp nập, nhanh chóng đi vào cuộc hộp chấn chỉnh lại Bắc Văn Lang đã trải qua một thời gian dài đi vào hổn loạn, nhiều Bộ Lạc nổi lên đòi tự trị khắp nơi. Xưng Vua xưng Chúa, theo trào lưu phương Bắc, Nhà Thương, Nhà Chu. Với chính sách khoan hồng của triều chính Văn Lang, Hùng Huy Vương ân xá tất cả những tội lỗi của những Bộ tộc trong Bách Việt Văn Lang, có sự lầm đường lạc hướng, nổi lên đòi tự trị, gây ra bao cảnh chết chóc, nồi da nấu thịt, làm cho dất nước suy vong. Nếu bộ tộc nào có ý phản loạn, học đòi theo phương Bắc nổi lên xưng Vua, xưng Chúa thì giết chết không tha. Nhờ chính sách khoang hồng ân xá, không làm tổn hại những Bộ Tộc gây ra tội lỗi trước đây, mà còn có chính sách nâng đở, nên được lòng dân, nước Văn Lang vì thế bình yên thêm mấy trăm năm nữa, thái bình an lạc. ( Điều đáng tiếc ở đây, nước Văn Lang thời bấy giờ Văn Hoá Cội Nguồn không còn nên không lấy gì để dạy dân, mà chỉ dạy dân theo thể chế phong kiến, theo xu thế phương Bắc, hết họa nầy nối liền theo họa khác, do phương Bắc thao túng làm hại ).

***************

PHẦN 29: PHƯƠNG BẮC

Đây nói về phương Bắc, thời Chu Mục Vương, nhà Chu. Tạo Thụ, được Mục Vương yêu mến, Vua tôi thường đi tuần thú cảnh Tây, tìm vui chuyện lạ. Ở vào thời ấy đã xuất hiện nhiều nước nhỏ nổi lên chống lại Mục Vương, không chịu quy phục Mục Vương, trong số các nước nhỏ nổi lên chống trả lại Mục Vương, có Vua Từ Yển, Từ Yển giao tranh quyết liệt với Chu Mục Vương, cuối cùng Chu Mục Vương đánh bại, diệt Vua Từ Yển, chiếm lấy đất đai phong cho Tạo Thụ. Tạo Thụ ở thời Mục Vương thế lực rất lớn, nên Tạo Thụ nói gì Mục Vương cũng nghe. Tạo Thụ là con cháu của Ác Lai, Ác Lai thờ Vua Trụ. Con cháu Vua Trụ chính là Ân Mao Vương, vì thế Tạo Thụ luôn luôn tìm cách giúp đỡ Ân Mao Vương, Ân Mao Vương phần lớn nhờ thế lực của Tạo Thụ, dựng nên cơ nghiệp Man Vu vô cùng hùng mạnh, lại kết hợp với quân Hồ, quân Hung Nô, nên càng hùng mạnh thêm nữa.

Chu Mục Vương lấy làm lo lắng, hỏi Tạo Thụ:

   Tình hình phương Bắc nhà Chu ta, các nước đã nổi lên tranh giành quyền bá thôn tính lẩn nhau, có nước chống lại cả ta, liệu Ân Mao Vương có chống trả lại ta không?

Tạo Thụ nói:

   Việc đó để Hạ Thần. Thiên Tử Bệ Hạ khỏi lo.

Chu Mục Vương qua đời, Di Vương nhà Chu lên thay thế cũng giống như Chu Mục Vương, vô cùng lo sợ thế lực Ân Mao Vương, vì lúc bấy giờ thế lực Tam Vương hùng mạnh vô cùng. Chừng Chu Di Vương nghe Ân Mao Vương, cùng Hồ Nghi Vương, Hung Nô Vương bộ ba nầy xâm lược đánh chiếm Bắc Văn Lang. Chu Mục Vương lấy làm mừng, vì Ân Mao Vương không chống trả lại nhà Chu, mà đánh chiếm Bắc Văn Lang.

Di Vương nói:

   Đúng Tổ Tông nào sanh con cháu nấy. Vua trụ Ân Thọ Vương quyết tâm chiếm cho được nước Văn Lang, không ngờ nước Văn Lang đánh bại thê thảm là vì nghe nói hồi đó nước Văn Lang có bảy Bảo Kiếm Trấn Quốc sau khi đánh thắng Ân Trụ Vương phương Bắc chúng ta, thì bảy thanh Kiếm Trấn Quốc đó cũng không còn. Sức mạnh của nước Văn Lang hiện nay đang đà suy yếu, bao đời Đế Vương phương Bắc cũng muốn chiếm lấy nước Văn Lang thống nhất Nam Bắc phương Đông, trở thành vĩ nhân đệ nhất thiên hạ. Nước Văn Lang là một đất nước giàu có đất đai trù phú, nội chỉ cần nền văn minh lúa nước, cũng đã đệ nhất địa cầu rồi, huống chi là nền văn minh sắt, thép, đồng, thau, nhất là nền văn minh luyện thép thì không có một đất nước nào bằng. Nếu quả thật Ân Mao Vương chỉ cần chiếm lấy được Bắc Văn Lang, chia phương Đông thiên hạ làm ba. Bắc Triều, Nam Triều và  Trung Nguyên. Nhưng điều nầy không phải dễ vì nước Văn Lang tiềm ẩn những điều không thể lường trước được.

Tạo Thụ, Triệu Thụ cùng Chu Di Vương đang bàn sôi nổi về Ân Mao Vương sắp chiếm được Bắc Văn Lang, thì có Quan nhất phẩm tên là Triệu Lục, vẻ mặt có vẻ kinh hãi báo cáo với Chu Di Vương rằng:

   Quân Ân, quân Hồ, quân Hung Nô đã bị quân Văn Lang đánh bại xóa sổ.

Tạo Thụ, Triệu Thụ cũng như Di Vương nghe xong vô cùng kinh hãi:

   Nước Văn Lang mạnh như thế sao? Người nào mà tài năng như thế?

Triệu Lục nói:

   Thánh Gióng, đoàn quân người sắt.

Triệu Lục liền kể lại tất cả: Nào là Thánh Gióng cỡi ngựa sắt, chỉ cần múa roi một cái là cả hàng nghìn quân binh tan xương nát thịt. Thánh Gióng đánh gãy roi sắt, Gióng liền phi ngựa đến bụi tre nhổ cả gốc lẫn rễ lên đánh quân Ân chết la chết liệt. Gióng đánh gãy cây tre nầy lại nhổ cây tre khác.

Quân Ân lớp lớp đi đời

Xác phơi chật đất máu thành vũng ao

Đứa thời gãy nát tứ chi

Đứa thời sứt mũi tan thây bể đầu

Đứa thời bẹp lép nát nhừ

Ôi thôi khủng khiếp hãi hùng ôi thôi.

Những người theo Gióng đánh giặc nghe đâu như là binh Tướng nhà Trời, chưa đầy ba ngày toàn bộ quân Ân, quân Hồ, quân Hung Nô coi như đã bị xóa sổ. Thông tin chính xác nầy là do ba nước biên giới với Bắc Văn Lang đó là: Tề, Ngô, Sở kể lại trong nỗi kinh hoàng.

Chu Di Vương cùng các Quan Tướng nghe Thánh Gióng xuất hiện quét sạch giặc xâm lăng chỉ trong vòng có ba ngày thời kinh hồn bạc vía, không còn dám nghĩ đến mông xâm lăng nước Văn Lang nữa. Cũng từ đây phương Bắc nhà Chu cũng dần dần đi vào đại loạn, nhất là sau thời Di Vương, đến Lệ Vương.

Chu Lệ Vương là vị Vua hôn quân mê muội bạo ngược vô cùng làm cho triều chính nội loạn bè chia bè rẽ phái thôn tính lẩn nhau. Chu Lệ Vương bằng chạy trốn sang nước khác, đến ở đất Trệ. Triều Đình nhà Chu không Vua các Quan Đại Thần trong Triều chung nhau làm chính sự, hiệu là Cộng Hòa tạm thời điều hành đất nước nhà Chu.

Từ đây chiến tranh triền miên thôn tính lẫn nhau xảy ra lần lần khắp phương Bắc, dân phương Bắc chạy loạn chạy giặc di cư qua Bắc Văn Lang càng về sau càng lúc càng nhiều, dẫn đến mối họa mất Bắc Văn Lang, biến Bắc Văn Lang thành Trung Nguyên, sau nầy trở thành Trung Quốc.

Bắc Văn Lang chính là Trung Nguyên, Trung Quốc vì thế Việt Nam và Trung Nguyên Trung Quốc là một dải đất liền, trở thành hai nước láng giềng, cùng một điều kiện địa lý. Cho nên người Việt Nam Văn Lang và người Hoa Trung Quốc Bắc Văn Lang đã có quan hệ lịch sử rất lâu đời từ thời đại Kinh Dương Vương chuyển sang thời đại Hùng Vương. Bắc Văn Lang trở thành Trung Nguyên rồi chuyển sang Trung Quốc đều nằm trong chủng tộc lớn Bách Việt. Nói chung nước Văn Lang có Bách Việt. Vì thế ở Trung Nguyên Trung Quốc vào thời đại Hùng Vương đã đánh dấu đặc tên nhiều con sông, như sông Dương, nói về thời đại Kinh Dương Vương sông Âu, sông Lạc. Âu Cơ, Lạc Long Quân nói về thời đại Hùng Vương. Nước Văn Lang chia ra làm ba miền, Nam Văn Lang chính là nước Việt Nam ngày nay. Trung Văn Lang, Bắc Văn Lang chính là Trung Nguyên Trung Quốc hiện nay. Hầu hết miền Giang Nam Lãnh Nam Trung Quốc, từ sông Dương Tử Trường Giang trở vào vì thế người Việt và người Trung Hoa không những cùng một điều kiện về địa lý, mà còn về chủng tộc họ tộc cũng rất giống nhau, trên một nguyên lý cơ bản là cùng chung Bách Việt Văn Lang có niên đại lịch sử hơn 10 nghìn năm, từ thời Kinh Dương Vương, phát nguồn từ thời đại Viêm Đế Thần Nông.

Văn Lang khó nuốt biết dường bao

Quân Gióng vùng lên quét sạch nào

Tham tàn bạo ác quân ăn cướp

Thây phơi chật đất thảm biết bao.

Giặc Hồ, giặc Hung Nô, giặc Ân vô cùng tàn bạo, phần lớn Tướng Lĩnh của quân giặc, phần nhiều là yêu tinh quỉ dữ đầu thai. Nhất là họ hàng của Hồ tinh, họ hàng của Mộc tinh, họ hàng của Ngư tinh đã bị quân Âu Việt, Lạc Việt, theo Quốc Tổ Vua Hùng mở mang bờ cõi vào đất Lãnh Nam, con cái, cháu chắt, chút chút, họ hàng Hồ tinh, Ngư tinh, Mộc tinh đông vô số lên đến hơn mười mấy vạn, đã bị quân Âu Việt, Lạc Việt quét sạch hồn chúng đầu thai về phương Bắc, có cơ hội là chúng đánh chiếm Văn Lang, tàn sát dân Văn Lang, chúng bắt đàn bà con gái, hãm hiếp hoang dâm vô độ, chúng ăn thịt cả trẻ con, uống máu những chàng trai trẻ, chúng bắt dân trồng cây ngược cây chết thì chúng giết, chúng bắt đàn ông con trai làm đủ mọi chuyện nô lệ, nhịn đói nhịn khát, chúng đánh đập hành hạmsống không được, chết cũng không xong, những tội ác của giặc Ân phải nói là khủng khiếp, không có loại tội ác nào mà chúng không làm.

Chúng bắt dân cắm trồng cây ngược

Cây chết thời, chúng lột lấy da

Nấu dầu, đâm, chém, chẳng tha

Chúng chà chúng đạp tan thây nát nhừ

Chúng hãm hiếp đàn bà con gái

Chơi đủ trò đến chết chẳng tha

Trái ý thời chúng lột da

Quăng cho rắn nuốt rắn xơi kinh hồn

Ôi lũ giặc bạo tàn khác máu

Hành hạ dân đủ thứ dã man

Gieo bao tan tóc đau thương

Cơ Trời chuyển hóa Thánh Vương ra đời

Long Vương Thánh Chúa xuống trần

Đoàn quân Thánh Gióng diệt loài xâm lăng

Binh Trời trở lại cõi trên

Văn Lang nhớ mãi công ơn binh Trời.

Đây nói về đoàn quân Thánh Gióng sau khi quét sạch ngoại xâm, phi ngược hướng về hướng Nam rồi lần lần biến đi đâu mất. Nói về Gióng sau khi đánh tan quân Hồ, quân Ân, quân Hung Nô, Gióng phi ngựa về hướng Nam ngựa đi nhanh như cơn bão vượt qua núi, bay qua sông. Gióng không về thăm Mẹ, phi ngựa thẳng đến bồ đề, dừng ngựa lại uống nước bên bờ sông Hồng, dấu chân ngựa Gióng lại in khắp nơi. Gióng vượt qua sông Hồng đến thẳng làng Xác Cáo bên bờ Hồ Tây.

Gióng chỉ xuống Hồ Xác Cáo nói:

   Hỡi các loài Hồ tinh, các ngươi tuy bỏ xác nơi đây, nhưng linh hồn các ngươi đã đầu thai phương Bắc, kết cấu với vô số linh hồn Ngư tinh, Mộc tinh, cùng vô số các loài Yêu tinh khác nữa, khắp địa cầu, các ngươi đã làm hại dân tộc Văn Lang không biết bao lần. Nếu biết khôn hồn thì lo tu tâm dưỡng tánh hướng thiện, thì mong được có ngày về Trời, không nên xâm lược làm hại đất nước Văn Lang nữa. Bằng không Thiên Ấn – Thiên Bút ra đời tiêu diệt linh hồn của các ngươi, thần thức anh linh các ngươi sẽ biến mất, các ngươi sẽ không còn có cơ hội để được làm người, cũng không còn có cơ hội để làm loài cầm thú nữa.

Nói xong Gióng giở cơm nắm ra ăn nghỉ chân một chút rồi phi ngựa về Sóc Sơn, bỏ lại một đoạn roi sắt thép ở đây, ngựa Gióng phi đến đâu thời thành ao thành vũng đến đó, đến chân Sóc Sơn, Gióng ghìm cương ngựa lại, ngựa Gióng hí lên vang động đất trời, dẩm chân lia lịa đi tới đi lui xoay tròn bốn phía, trở thành những ao vũng dày chi chít. Gióng nhìn non xanh nước biếc lần cuối rồi phi ngựa thẳng lên đỉnh núi cao.

Khi ấy có một người dân ở làng Mõ đang cày ruộng gần núi Sóc Sơn thấy Gióng dừng ngựa trước khi phi ngựa lên núi, người dân làm ruộng ấy định chạy tới lạy Gióng,  nhưng ngựa Gióng đã phóng vút lên núi, người làm ruộng chỉ biết đứng nhìn, trên đỉnh núi mây mù che phủ.

Người làm ruộng còn đang phân vân, thì một người cao lớn hiện ra trước mặt mách bảo:

   Ta là Thần Núi Sóc Sơn, anh cứ trèo lên đỉnh núi, Thánh Gióng đã về Trời, áo giáp ngựa, giáp người ở dưới gốc cây Trầm Hương to lớn, còn mão thời treo lên nhánh Trầm Hương, hãy lấy gỗ Hương kia mà tạc tượng Thánh Gióng.

Vu Điền người tạc tượng Gióng, cũng được thờ ngôi phụ bên cạnh Thánh Gióng trong đền thờ Sóc Sơn.

**********

HỒI KẾT

PHONG QUAN TIẾN CHỨC

Đông đã qua rồi xuân lại đến

Phụng về múa hát, Hạt chơi mây

Thôn quê thành thị, qua thời khốn

Thái bình đầm ấm, cánh cò bay

Độc lập Âu ca niềm hạnh phúc

Non xanh nước biếc sắc hương đầy

Kiếp vận xoay vần cơ tạo hóa

Hết suy tới thịnh vốn xưa nay.

Hùng Huy Vương lâm triều, bá Quan văn võ vào chầu đủ mặt, ai nấy nét mặt đầy hân hoan rạng rỡ.

Quan Lạc Hầu Thượng Thư tâu rằng:

   Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ. Đoàn quân Thánh Gióng  sau khi đánh tan quân giặc thì không trở về làng nữa mà tất cả lần lượt biến mất bay về Trời.

Cả Triều Đình nghe Quan Lạc Hầu Thượng Thư tâu như thế ai nấy cũng đều sững sốt:

   Có chuyện như thế sao?

Quan Lạc Hầu Thượng Thư cũng đang trải qua cơn xúc động ngừng giây lác rồi đọc tiếp:

   Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ. Như ba anh em nhà Ba Chạ, ở Làng Môi, Làng Mòi. Đàn trẻ chăn trâu ở Hội Xá. Hai người câu cá trên Sông Hồng. Những người thợ săn. Anh em sinh đôi làm ruộng. Những người trồng tre phi theo Gióng rồi lần lượt biến mất. Nhiều người trông thấy đàn trẻ chăn trâu ở Hội Xá, cũng như các vùng lân cận ở Hội Xá sau khi đánh tan giặc Ân phi ngựa về núi Trâu rồi tất cả đều biến đi đâu mất. Năm anh em cùng sanh ra trong một bọc ngũ tài Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ phi ngựa về núi ngũ hành biến mất. 35 người trai tráng khỏe mạnh Làng Y Na không theo năm anh em Ngũ Hành hiện đang thống lãnh quân binh trấn giữ biên giới Bắc Văn Lang. Ông Trấn, Ông Trâu, Ông Bạch Sam, phi ngựa lên núi Tiên Du biến mất. Đàn Hổ, đàn Voi, đàn Sư Tử, đàn Chim Ưng, cũng biến mất theo. Hai anh em Chủ Soái, Nguyên Dực Nguyên Minh sau khi đánh tan quân giặc ngoại xâm phi ngựa theo Gióng đến Ngô Hạ, núi Độc biến mất. Còn Gióng phi ngựa lên núi Sóc Sơn về trời.

Cả Triều Đình nghe Quan Lạc Hầu Thượng Thư tấu trình những kỳ tích đánh tan giặc Ân, giặc Hồ, giặc Hung Nô chỉ trong vòng có ba ngày tiêu diệt hơn 90 vạn quân đã là kinh hồn bạc vía, lại nghe đoàn quân của Gióng lần lượt biến mất bay về Trời, chuyện lạ đời từ trước đến nay chưa từng có.

Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ:

   Mẹ Gióng quê ở Làng Phù, tên là Thị, tên thường gọi là bà Phù Thị. Phù Thị mang thai Gióng ở Làng Đổng, khi bà Phù Thị sanh ra Gióng, bà đặc tên cho Gióng là Phù Đổng, có nghĩa là liên kết hai làng, Làng Phù và Làng Đổng, những gì liên quan về Gióng Thần cùng các Quan cộng sự làm việc cật lực thu thập thông tin Thần đã báo cáo lên Bệ Hạ, xin Bệ Hạ phán xét phong Quan tiến Chức cho những người có công đối với non sông Tổ Quốc.

Hùng Huy Vương nói:

   Quân Gióng là quân nhà Trời đầu thai mượn xác trần, cứu non sông Tổ Quốc Văn Lang, xong nhiệm vụ tất cả đều đồng loạt về Trời, bỏ lại xác trần một cách bí mật, không ai có thể biết được.

Đến lúc bấy giờ Hùng Lang Công ở Kinh Đô Hợp Phố Giao Chỉ Bắc Văn Lang từ chỗ ngồi đứng dậy, bước ra dâng tấu sớ những người có công đánh đuổi ngoại xâm vì nước vì dâng lên Hùng Huy Vương, xin lãnh ý chỉ Quốc Vương phong Quan tiến Chức, cho những người còn sống cũng như những người đã chết, cũng như ổn định lại Bắc Văn Lang trải qua một thời gian dài bất ổn. Hùng Huy Vương nhận tất cả tấu sớ rồi bãi Triều, rạng ngày hôm sau Hùng Huy Vương lâm Triều. Bá Quan Văn Võ đủ mặt tung hô vạn tuế.

Hùng Huy Vương truyền chỉ. Quan Lạc Hầu Thượng Thư đọc chiếu chỉ phong ấn sắc lần lượt như sau:

–  Trước truy phong Gióng, với công lao to lớn đánh tan quân giặc ngoại xâm, cứu dân cứu nước. Sắc phong Thánh Gióng, Phù Đổng Thiên Vương, và cho lập đền thờ ở quê nhà hai làng, làng Phù và làng Đổng cúng tế hàng năm.

–  Sắc phong Phù Thị mẹ của Gióng, Thánh Mẫu, được phụng dưỡng ngang hàng với bậc Quốc Mẫu Nương Nương, khi qua đời được lập đền thờ ở cạnh đền thờ của Gióng.

–  Truy phong năm anh em ngũ tài, có công đánh tan quân xâm lược cứu dân cứu nước. Sắc phong ngũ Thánh, Kim Thánh, Mộc Thánh, Thủy Thánh, Hỏa Thánh, Thổ Thánh, lập đền thờ nơi làng Y Na, hàng năm cúng tế.

–  Truy phong đàn trẻ chăn trâu, ở Hội Xá, cũng như đàn trẻ chăn trâu các vùng lân cận Hội Xá, có công cứu dân cứu nước đánh tan quân xâm lượt rồi phi về núi Trâu biến mất,  sắc phong Thiên Binh quân Trời, lập dinh thờ khắp nơi cúng Tế hàng năm.

–  Truy phong ba anh em nhà Ba Chạ, có công theo Gióng đánh tan quân xâm lược cứu dân cứu nước. Sắc phong Tam Quan Trung Thần, được lập đình miếu cúng tế hàng năm.

–  Truy phong hai người câu cá trên sông Hồng, có công theo Gióng đánh tan quân xâm lược, cứu dân cứu nước. Sắc phong Nhị Ngư Trung Thần, được xây đình miếu trên sông tế lễ hàng năm.

–  Truy phong những người thợ săn, có công theo Gióng đánh ta quân xâm lược. Sắc phong Sơn Linh Trung Thần, được xây đình, miếu, cúng tế hàng năm.

–  Truy phong những người làm ruộng, những người trồng tre, có công theo Gióng đánh tan quân xâm lược, cứu dân cứu nước. Sắc phong Nông Linh Trung Thần, lập đình, miếu, thờ phụng khắp nơi, cúng tế hàng năm.

–  Truy phong đàn hổ, đàn voi, đàn sư tử, đàn chim ưng, có công theo Gióng đánh tan quân xâm lược, cứu dân cứu nước. Sắc phong, Hổ Thần, Voi Thần, Sư Tử Thần, Chim Ưng Thần, được lập miếu thờ khắp nơi cúng tế hàng năm.

–  Truy phong hai anh em chủ soái Nguyên Dực, Nguyên Minh, có công theo Gióng đánh tan quân xâm lược, cứu dân cứu nước. Sắc phong Nhị Linh Trung Thánh, được lập đền thờ tại Ngô Hạ núi Độc, thờ cúng hàng năm.

Đọc xong chiếu chỉ sắc phong những người theo Gióng về Trời xong, trở về chỗ ngồi, thời kế tiếp Hùng Lang Công đọc chiếu chỉ phong ấn sắc thứ hai. Hùng Lang Công đọc chỉ ấn sắc rằng:

   Những người có công đánh tan quân xâm lược, cũng như có công chống trả lại quân thù, cứu dân cứu nước, người sống cũng như người chết, được tăng phẩm vị lên ba cấp, phong cho đất đai trăm mẫu, hưởng bổng lộc theo luật định của Triều Đình, những Châu Phủ, Quận Huyện, chưa có người bổ nhiệm chủ quản, theo chiếu chỉ phong chức sắc bổ nhiệm về nơi đó mà nhận chức, Quan Phủ, nhận chức Bố Chính.

–  Truy phong Cao Hải, có công theo Gióng đánh tan quân thù cứu dân cứu nước, phong lên hàng Vương, Cao Đại Vương. Sắc phong chủ quản Bộ Châu Diên, bảy Châu, bảy mươi Quận Huyện.

–  Truy phong các Tướng Lĩnh, cố thủ cung thành, cũng như các Tướng Lĩnh theo Gióng đánh tan quân xâm lược, được phong lên ba cấp. Sắc phong: Hàng Tướng bổ nhiệm về các Châu, Tử Dương Châu, Bắc Giang Châu, Lạc Giang Châu, Dương Giao Châu, Kinh Giao Châu, Tây Giang Châu, Tây Tây Châu, Hạ Tây Châu, Giao Giao Châu, Quý Linh Giao Châu, Thất Khê Châu, Đình Hải Châu, Cái Hải Châu, Phúc Hải Châu, Đông Giao Châu, Hạ Hải Châu, Liễu Giao Châu, Lạc Trung Châu, Hạt Linh Châu, Quế Điền Châu, Hợp Linh Châu. vân vân . . . còn nhiều các Châu khác nữa có hơn 30 Châu 200 mấy chục Quận Huyện. Hàng phó Tướng bổ nhiệm về các Quận Huyện, hàng trưởng đội, phó đội bổ nhiệm về các làng Xã.

Hai tháng sau Cao Hải thành hôn với Lạc Kim Tiên, hôn lễ vô cùng long trọng, sanh con đẻ cái đầy đàn. Nước Văn Lang thái bình độc lập, hưng thịnh hơn 300 năm thời có biến loạn trở lại. Muốn biết sự biến loạn đó ra làm sao? Nước Văn Lang sẽ như thế nào? Mời các bạn xem tiếp Văn Lang chiến sự ở các giai đoạn khác, ở vào giai đoạn cuối thời các Vua Hùng thời sẽ rõ.

TRANG SỬ

Văn Lang chiến sự khép lại kết thúc

Xóm dừa nhìn bãi dâu xanh

Gió thu ru nhẹ lá cành làng quê

Cánh cò bay lã bay la

Bay qua xóm nước bờ tre ruộng đồng

Trâu nhìn đò chạy trên sông

Mục đồng chăm chú nhìn trông cánh dều

Khói lam tìm ánh nắng chiều

Đàn chim nhẹ cánh tìm về núi non

Bao la trời nhớ đất thương

Non xanh nước biết vấn vương đất trời

Ánh trăng vằng vặc đêm về

À ơi tiếng hát ngọt lành mẹ ru

Ánh đèn soi dáng người thân

Sạm đen vì bởi gió sương tháng ngày

Đêm về nhớ ánh trăng đầy

Nhớ hừng đông dậy nhớ gà báo tin

Gâu gâu chó hỏi người đi

Vườn cà làng Đổng có ai giữ gìn

Người rằng ! Có một người hiền

Tên là Phù Thị một mình không con

Lâu rồi ở với Đức ông

Vườn cà chăm sóc sớm hôm kể gì

Nết na tứ Đức ai bì

Người tuy xấu xí lòng đầy ngọc châu

Lòng vàng cứ mãi bay xa

Đến tai Thượng Đế Trời Cha Chúa Trời

Huyền cơ chuyển biến đến người

Long Vương Sùng Lãm xuống trần đầu thai

Vườn cà để lại dấu chân

Phù Thị dẩm phải tượng lần bào thai

Huyền cơ chuyển vận éo le

Phúc họa, họa phúc có ai nghĩ lường

Sau đây là chuyện của người

Sử Kinh để lại cho người xem coi

Sử Kinh là tấm gương soi

Cho bao thế hệ đời sau răng mình.

**************

 

LỊCH SỬ VỀ PHÙ ĐỔNG ĐẾN ĐÂY KẾT THÚC.

 

%d bloggers like this: