MÀI ĐAO TRÊN ĐÁ

Ngày xửa ngày xưa vào thời Thượng Hùng Vương, truyền ngôi đến đời Hùng Thục Lang, đời Hùng Vương thứ mười tám.
Khi ấy ở phương bắc Nhà Thương, Vua Thành Thang nối truyền đến đời thứ mười ba Tổ Dân Thiên Tử. Có mộng xâm lấn nước Văn Lang, luôn cho người theo dõi nước Văn Lang.
– Lúc bây giờ nước Văn Lang vẫn còn hùng mạnh, thái bình an lạc, no cơm ấm áo. Tại làng Tân Khánh, Xã Đồng Văn, Huyện An Trạch, Tây Trung Châu.
– Có chàng thanh niên mồ côi tên là A Mẫn không còn cha mẹ, xin đi ở đợ cho một nhà giàu. Nhưng ông chủ từ chối A Mẫn buồn quá lang thang khắp núi rừng, đào củ mài để mà ăn, tối ngủ trong hang đá cho đến một hôm, trời hừng hừng sáng cây cỏ núi đồi vẫn còn chìm trong sương mù, nhưng chim đã kêu, vượn đã hú như chào mừng một ngày mới, mở màn cho cuộc sống tiếp nối hết ngày nầy sang ngày kia.
– A Mẫn trên đường trở lại thôn làng sau đó tìm kiếm việc làm trên Thị Trấn, vì ở trên rừng vừa buồn, vừa hiu quạnh suốt ngày chỉ làm bạn với chim, trái rừng và suối chảy. A Mẫn vừa đi vừa suy nghĩ cầu gặp sự may mắn đến với mình, đang đi trên đường A Mẫn nhìn thấy một cụ già ăn mặc rách rưới, cụ run rẩy đi không nổi liền chạy nhanh tới nói: Để con cõng cụ đi, nhà cụ ở đâu sao chẳng có con cháu nào theo, để cụ đi một mình như thế nầy, tuổi già như trái mít chín trên cây dễ rụng lắm.
Cụ già nghe A Mẫn nói thế càng thên run rẩy.
A Mẫn nói: Cụ có sao không?
Cụ già chỉ lắc đầu mà không đáp
A Mẫn hỏi tiếp: Cụ đi tìm ai lặng lội cực khổ thế nầy ?
Ông cụ trả lời: Thân một mình chẳng còn ai là người thân. A Mẫn nghe xong thương cụ vô cùng, hoàn cảnh giống như mình chẳng còn ai.
Bổng nghe cụ la: Đói, đói quá đi thôi, đói quá đi thôi, tay xoa bụng miệng thời lẩm bẩm, đói quá trời ơi đói quá.
– Nhìn dáng đói run run của cụ A Mẫn động lòng liền lấy trong mình ra củ mài, không dám ăn để dành trên đường đi tìm công việc lúc đói quá mới dám ăn. A Mẫn cầm củ mài nướng từ sớm khi mặt trời chưa lên, dâng hai tay đưa cho cụ nói: Cụ ăn đi.
– Cụ già đưa tay cầm lấy ăn ngấu nghiến, nhìn cụ ăn ngấu nghiến, bụng A Mẫn cũng đã sôi lên vì đói.
A Mẫn nhìn cụ rồi hỏi: Cụ có nhà không?
Ông cụ vừa trả lời vừa tiếp tục ăn, cụ nói: Cụ không có nhà chỉ đi lang thang, ai cho gì ăn nấy.
A Mẫn nói: Cháu cũng chẳng còn ai, thôi thì cụ theo cháu, cháu có gì thời cụ ăn nấy.
Ông cụ nói: Một mình cháu đã khó sống, làm sao nuôi thêm một người như cụ, chỉ biết ăn mà chẳng làm ra tích sự gì.
– A Mẫn nói: Cháu sẽ xin việc làm cụ đừng lo, thế là A Mẫn đi đâu dắt theo Ông cụ đi đó, xin được gì A Mẫn đều dành cho cụ ăn trước, còn mình thời ăn sau, nếu cụ ăn hết thời nhịn đói vậy.
– Thời gian trôi qua được hơn tháng A Mẫn vẫn chưa tìm ra được việc làm. Một hôm Ông Cụ nhìn A Mẫn rồi nói: Tấm lòng thương người của con đã động đến lòng Trời. Cụ có hai vật báu cụ sẽ cho con. Ông cụ lấy trong người ra một thanh đao nhỏ, cụ hô lớn tức thời thanh đao lớn lên cụ mài vào phiến đá, tức thời tiếng mài đao vang dội núi rừng. Cụ lại móc trong người ra tấm lưới nhỏ. Cụ nói: tấm lưới nầy khi quăng xuống sông liền hô biến, tức thời tấm lưới bung ra phủ khắp lòng sông kéo lên thời đầy tôm đầy cá. Cụ lại lấy trong người ra một chiếc hộp nhỏ. Cụ nói: Trong hộp nầy có ba viên Thần Châu Đơn. Cứ một tháng con uống một viên, uống hết ba viên, thời con hãy ra vùng biên giới nơi có giặc đóng quân, lấy đao ra mài trên núi, chừng nào thấy quân giặc rút lui, thời con tìm đến những dòng sông bên kia có quân giặc đồn trú, liền quăng lưới xuống sông bắt cá. Khi nào thấy giặc bên kia đồn trú biến hết thời về Tây Trung Châu làm ăn sinh sống, phát rẫy, chài lưới giúp dân, mở mang thêm ruộng đồng rộng lớn. Ông cụ trao cho A Mẫn ba vật báu vài lượng bạc truyền cho nội công tâm pháp. rồi biến mất.
– A Mẫn mới biết Ông Cụ là Thánh Tiên hiện ra thử lòng tốt của mình.
– A mẫn có bạc có tiền liền mua bộ quần áo mới, việc ăn tiêu vô cùng tiết kiệm, không dám ăn thịt cá, chỉ ăn bát cơm với quả cà. A Mẫn tìm nơi vắng vẻ uống Thần Châu Đơn luyện nội công tâm pháp, được ba tháng Thần Đơn cũng không còn A Mẫn thấy người khỏe mạnh lạ lùng, bằng nhổ thử một gốc cây bằng bắp chân như nhổ cây bắp. A Mẫn kinh ngạc vô cùng như không tin ở đôi mắt mình, bằng nhổ cây to lớn hơn nhẹ như không. A Mẫn đến lúc nầy mới tin mình có sức mạnh vô cùng.
– A Mẫn xuống thị trấn nghe người ta xì xào sắp có chiến tranh, vì quân giặc Nhà Thương đã kéo sát biên giới. Hùng Thục Lang đã chuẩn bị quân binh sẵn sàng chiến đấu. A Mẫn nhớ lại lời chỉ dạy của cụ Ông liền đến biên giới, đi mấy ngày đêm không hề ngủ nghỉ cuối cùng cũng đến được biên giới. A Mẫn nghe bên kia ngựa hí vang trời. A Mẫn liền leo lên một sườn đồi tìm vị trí thích hợp để cho quân giặc dễ nghe thấy. Bằng rút đao Thần ra ngồi mài trên phiến đá, tức thời tiếng mài Đao rung trời chuyển đất vang dội núi rừng.
– Tướng quân Thương tên là Vu Đà đang luyện tập quân binh, chờ lệnh đưa quân vào tấn công nước Văn Lang. Nghe tiếng mài Đao rung trời chuyển đất không hiểu là chuyện gì. Bằng cho quân binh đi thị sát xem chuyện gì đã xảy ra.
– Quân binh phi ngựa đến sườn đồi dọ thám nơi phát ra tiếng động dữ dội, thời thấy một người tiều phu trai trẻ đang mài đao trên đá, phát ra tiếng động ầm ầm. Rền trời rền đất thời vô cùng kinh hãi. Phi ngựa về báo lại cho chủ soái. Chủ soái tướng quân nhà thương là Hầu Đôn nghe quân binh báo như vậy thời kinh hãi nhưng chưa tin lắm bằng cùng tướng quân Vu Đà đến sườn đồi nơi phát ra tiếng động xem thử thiệt hư ra sao. Chủ Soái Hầu Đôn cùng tướng quân Vu Đà nhìn thấy một chàng trai trẻ đang mài đao, tiếng mài đao vang động dậy núi rừng, thời khiếp vía kinh hồn. Nghĩ một người dân tầm thường mà cũng có Thân Thông như vậy. Ôi nước Văn Lang quả thật là nhân tài khắp nơi khắp chốn, không thể nào lường hết được, liền hạ trai rút lui binh, không còn chiếm đóng nơi biên giới nữa.
– A Mẫn thấy quân Thương đường bộ rút hết. Chỉ còn cánh quân binh đường thủy, do tướng soái Dương Phàm chỉ huy nơi khúc sông gần thượng nguồn thuyền bè qua lại lớp lớp. A Mẫn đến chỗ khúc sông ấy quăng lưới bắt cá, lưới chài vừa quăng ra bổng to lớn phủ muốn hết cả lòng sông. A Mẫn niệm chú kéo lưới, tôm cá cả tấn chất đống trên bờ. Thuyền dọ thám quân Thương nhìn thấy kinh hồn bạc vía. Cá tôm bắt xong liền thả hết xuống sông.
– Tướng Soái chỉ huy thủy quân là Dương Phàm, nghe quân binh dọ thám về báo có người chài lưới tài giỏi như vậy liền kinh hãi, Dương Phàm chọn vài ba tướng lĩnh tài giỏi đi thuyền con đến xem thật hư. Khi chứng kiến tận mắt A Mẫn quăng lưới bắt cá, Dương Phàm tái mặt nói: Chỉ là người dân chài lưới bình thường, mà tài nghệ đến kinh hồn bạc vía như vậy thời làm sao xâm lược được nước Văn Lang. Bằng thu quân trở về đất bạc liền tâu lên Vua Thiên Tử Tổ Dân. Bản tấu trình nói: Nước Văn Lang nhân tài như nấm chỉ một người dân chài cũng đã làm khiếp hồn khiếp vía quân binh. Chỉ cần quăng mẻ lưới là phủ hết thuyền quân binh.
– Dương Phàm vừa tấu trình xong, thời có một vị tướng soái vào tấu trình là Hầu Đôn. Hầu Đôn tấu trình: Thưa Bệ Hạ nước Văn Lang không thể suy lường, chỉ nội một người tiều phu khi mài đao thần lực phát ra rung chuyển đất trời. Làm cho quân binh kinh sợ. Nước Văn Lang quả là nhân tài như rừng khó mà xâm lược nổi e bỏ mạng có đi mà không có về. Đưa quân xâm lược nước Văn Lang khác nào lùa dê vào miệng hổ.
– Vua Tổ Dân nghe hai vị nguyên soái tâu như vậy lấy làm khiếp hãi run sợ, từ đó không dám nói tới xâm lược nước Văn Lang nữa.
– Nói về A Mẫn thấy quân Thương rút lui không còn một tên binh lính, liền trở về quê hương Đồng Văn, An Trạch Tây Châu. Giúp dân phát rẫy khai hoang vỡ hóa đất đai thổ canh rộng lớn ngô bắp, lúa thóc đầy đồng. Tiếng tăm A Mẫn vang lừng.
– Nói về Hùng Thục Lang, biết được A Mẫn đẩy lui quân giặc, liền ban cho vàng, bạc, lụa là, châu báu mười xe. Phong cho chức tước làm Đại Nhân Tri Huyện An Trạch. Tây Trung Châu. Thế cho Đại Nhân Tri Huyện Phùng Lương tuổi già về hưu.
– Phùng Lương Đại Nhân Tri Huyện có người con gái xinh đẹp tên là Hạnh Châu gả cho A Mẫn.
– A Mẫn từ đó sống cuộc đời hạnh phúc bên người vợ xinh đẹp, hết lòng vì dân vì nước. Hạnh Châu sanh được sáu người con. Khi mãn kiếp trần gian hai vợ chồng A Mẫn siêu sanh về Non Tiên, Cực Lạc.
***
Long Hoa Lược Truyện, Văn Hóa Cội Nguồn
Câu Chuyện Mài Đao Trên Đá đến đây là hết.
————————————————————