QUYỂN 4

SỰ TÍCH BÁNH CHƯNG BÁNH DÀY

Vào thuở xa xưa thời Hùng Huy Vương, Pháp Hải Lang đời thứ 6 Hạ Hùng Vương từ năm 961 đến 893 trước công nguyên. Hùng Huy Vương thấy mình tuổi đã cao sức khỏe mỗi ngày một suy yếu, không biết chọn ai là người nối ngôi kế vị. Các bà vợ của Vua sanh được hai mươi hai người con, phần đông đều là văn võ song toàn, người nào cũng anh hùng khôn lớn. Con đông lại là con của nhiều bà phải làm thế nào cho chúng nó không tranh giành, sanh ra cảnh tương tàn nồi da nấu thịt. Đây là điều vô cùng quan trọng nhờ các viên quan Lạc Vương, Lạc Hầu, Lạc Tướng bày kế cho Trẫm chọn người kế vị ngôi Vương.
– Các quan tâu rằng: Thời Quốc Tổ Tiên Đế dựng nước Văn Lang. Hàng năm đầu xuân thường cúng Tổ Tiên, Đất Trời, ngày hội của Bách Việt Văn Lang.
– Quốc Vương ra đề thi, cho tất cả Hoàng Tử mỗi người tự bày ra mâm cỗ, dâng cúng Tổ Tiên, Trời Đất. Mâm cỗ nào nói lên đầy đủ ý nghĩa của đạo làm người, bao hàm những triết lý sâu xa Cội Nguồn, cũng như sự sanh thành dưỡng dục của Mẹ Cha. Phải có sự hùng biện nói ra những suy nghĩ triết lý về phẩm vật mà mình đã dâng lên. Được sự thừa nhận các quan trong triều thời người đó sẽ là người kế vị ngôi Quốc Vương.
– Hùng Huy Vương nghe các quan tâu có lý, cách chọn người kế vị bằng khen rằng: Cách nầy hay lắm đây. Người thua cuộc sẽ tùng phục sát đất. Hùng Huy Vương bằng kêu các Hoàng Tử đến nói rằng: Cha nay tuổi cũng đã cao, mặt trời sắp lặng về Tây gần đất xa Trời. Cha muốn truyền ngôi lại cho các con, nhưng không biết chọn ai trong các con, vì các con đứa nào cũng tài giỏi.
Tục truyền từ thời Tiên Tổ truyền lại, từ thời dựng nước đến nay. Cứ hàng năm vào đầu xuân là dâng lên mâm cỗ cúng Cha Mẹ, Ông Bà, Tổ Tiên, Trời, Đất, tưởng nhớ công ơn sanh thành dưỡng dục.
– Các con hãy tự làm mâm cỗ, tìm những món ăn lạ để dâng cúng Tổ Tiên. Ai có món ăn ngon độc lạ, và có nhiều ý nghĩa Cha sẽ truyền ngôi cho người đó.
– Các Hoàng Tử nghe Vua Cha bảo thế liền thi nhau trổ tài với hy vọng mình là người thắng cuộc.
– Mỗi Hoàng Tử đều về bàn với vợ nhờ người đi khắp chân trời góc bể, tìm kiếm món ngon vật lạ, thuộc hàng hiếm quý trên đời, kẻ lên non, người xuống biển, không bỏ sót nơi nào, bỏ công ra sức tìm cho bằng được, những món ăn vừa ngon vừa hiếm quý dâng lên Vua Cha.
– Trong số 22 vị Hoàng Tử có Hoàng Tử Lang Liêu đứng hàng thứ mười tám. Mồ cô Mẹ từ thuở nhỏ, ở với Mẹ nuôi là Cao Thị. Cao Thị ở vậy nuôi Lang Liêu. Cao Thị là người phụ nữ hiền lương, nên Lang Liêu cũng hấp thụ tính Mẹ nuôi, tính tình hiền lành sống có Đạo, có Đức nhất là sự hiếu thảo ít người bằng. Lang Liêu có vợ hơn năm thời Cao Thị qua đời. Vợ chồng còn trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm, vợ Lang Liêu là người con gái tuy xinh đẹp, thông minh, nhưng không có lòng cạnh tranh, lại chẳng hiểu gì về mấy món ngon vật lạ, nên đành bó tay chẳng giúp gì được cho chồng, nên vô cùng lo lắng không biết phải làm sao thở ngắn than dài. Lang Liêu thấy vậy nói: Mọi việc trên đời đều có số. Tiên Vương Quốc Tổ thường dạy như thế truyền mãi cho đến ngày nay.
– Lang Liêu biết mình không tài nào theo kịp các anh, phải chi thi bắn cung, múa kiếm, đua ngựa, thời còn hi vọng đôi chút, đằng nầy dâng mâm cỗ, của ngon vật lạ thời đành chịu thua. Cha vợ Lang Liêu là một vị quan trong triều làm đến chức Ngự Sử, đến thăm con gái, con gái mừng quá ra đón vào nhà rồi hỏi cách nầy, cách kia, món nào ngon, món nào độc lạ. Quan Ngự Sử cũng phải đành lắc đầu, không biết làm sao giúp được cho Lang Liêu.
– Trong khi đó các Hoàng Tử cho người chạy Nam tìm Bắc, hết Đông tới Tây, thậm chí nhờ người nước ngoài tìm những món ngon độc lạ.
– Còn Lang Liêu thời nằm khểnh ở nhà coi như là bỏ cuộc. Chỉ còn ba ngày nữa là đến đầu xuân, cũng là ngày dâng mâm cỗ cúng Tổ Tiên Trời Đất. Lang Liêu vẫn chưa có gì, vợ Liêu cũng rất buồn.
– Đêm hôm ấy Lang Liêu biết mình đã thua cuộc, nhưng không lẽ chẳng có gì dâng cúng Tổ Tiên Trời Đất. Tục lệ từ khi dựng nước mở mang bờ cõi cho đến ngày nay.
Lang Liêu ráng nhớ lại những món ăn thường dùng, bảo vợ làm ít món dâng cúng Tổ Tiên, Trời Đất. Mãi suy nghĩ đi vào giấc ngủ lúc nào không biết. Bổng Lang Liêu thấy một vùng hào quang sáng chói từ trên trời bay xuống hiện ra một người phụ nữ xinh đẹp vô cùng, không thể nào diễn tả nổi sắc đẹp ấy. Lang Liêu chưa kịp thi lễ thời người ấy nói: Ta là Tổ Mẫu Phụng Cơ Vương Mẫu Nương Nương xuống dạy cho con cách làm bánh chưng bánh dày.
– Vương Mẫu nói: To lớn nơi vũ trụ không gì bằng Trời, chỉ có Trời mới chứa hết thiên hạ nhân loại.
– Muôn sanh linh vạn vật không gì bằng Đất. Chỉ có Đất mới dưỡng nuôi hết thảy sanh linh vạn vật.
– Đất dưỡng nuôi thể xác.
– Trời dưỡng nuôi linh hồn
– Của báu nhất trần gian không gì bằng Gạo Nếp. Gạo Nếp chính là hạt ngọc của Trời và Đất, nuôi sống con người.
– Con hãy lấy Gạo Nếp đêm ngâm rồi làm bánh Hình Tròn tượng trưng cho Trời. Làm bánh hình Hình Vuông tượng trưng cho đất. Trời màu xanh, sự phì nhiêu của Đất cũng màu xanh. Non xanh nước biếc đậm tình quê hương.
Hãy lấy lá xanh bọc ngoài Càn, gạo nếp Khôn. Trong Càn Khôn. Lấy năm loại đậu làm nhưng tượng trưng cho ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Nói về Đạo ngũ thường năm loại đậu tượng trưng cho Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nói về Đạo ngũ luân năm loại đậu tượng trưng cho Cha, Con, Anh, Em, Chồng Vợ. Nói về Nhân Loại năm loại đậu tượng trưng cho năm màu da cùng chung một thể Đồng Bào.
– Năm loại đậu trộn chung giã nhiễn tượng trưng cho sự gắn bó hòa hợp cùng nhau, chung sống yên vui đoàn kết.
– Pha trộn vào ít thịt bò, heo, dê, gà, vịt. Tượng trưng cho đời sống thịnh vượng.
– Thêm gia vị Đường, Muối, chanh, Tiêu, Hành, Tỏi . Tượng trưng cho Chua, Ngọt, Mặn, Đắng, Cay, cùng chia cùng hưởng gánh gồng có nhau đậm đà, cuộc sống ấm no. Mặn nồng tình nghĩa, keo sơn thuận hòa.
– Gạo nếp trắng tinh là con Dân. Bọc ngoài lá xanh ví như Vua, Quan bảo bọc cho Dân Chúng.
– Gạo nếp trắng tinh là con cái. Bọc bên ngoài lá xanh ví như Cha Mẹ bảo bọc ôm trọn đàn con trong lòng, thương yêu đùm bọc che chở. Truyền dạy xong cách làm bánh chưng, bánh dày cũng như triết lý sâu xa của nó. Vương Mẫu Nương Nương Phụng Cơ Quốc Tổ Mẫu liền biến mất.
– Lang Liêu tỉnh giấc mừng rỡ vô cùng, kêu vợ dậy kể lại câu chuyện mình vừa nghe. Hai vợ chồng cùng nhau ra sức, hối thúc người ăn kẻ ở. Kẻ chọn Gạo Nếp thật tốt, người chọn lá gói thật xinh, kẻ lo năm loại đậu, người lo gia vị, thịt tươi. Lang Liêu đi vào làm bánh y như những gì Vương Mẫu Nương Nương truyền dạy.
– Đến ngày dâng cỗ đem cúng Tổ Tiên Trời Đất, vào dịp đầu xuân. Các Hoàng Tử đưa món ăn về dự thi, ngày hội đầu xuân náo nhiệt tưng bừng, khắp cả nước nói chung Phong Châu nói riêng. Người đông nghìn nghịt dân Kinh Đô Văn Lang đều nao nức xem Hoàng Tử nào là người được chọn kế vị ngôi Vương. Những món ngon vật lạ do các Hoàng Tử dâng lên.
– Đầu giờ thìn vua cùng các quan đi kiệu đến làm lễ gia tiên, chiêng trống nổi lên, lọng, phướng, cờ xí tưng bừng, rộn tai sáng mắt mọi người, tất cả đều ngong ngóng. Giờ phút quan trọng đã đến, hai mươi hai Hoàng Tử đều dâng lễ cúng. Cỗ nào cỗ nấy sang cả mùi thơm nứt mũi trông đẹp mắt vô cùng.
– Lang Liêu bưng mâm cỗ, trông rất tầm thường chẳng có gì là sang cả, cũng chẳng nghe mùi thơm nứt mũi, thoạt nhìn ai cũng lắc đầu bỉm môi. Vẻ chê bai hiện ra trong đôi mắt các chị dâu cũng như các Hoàng Tử.
– Lễ dâng hương xong Vua Hùng nếm trước, các quan nếm thử sau qua các món ăn, chỉ còn lại món bánh chưng, bánh dày. Vua Hùng nói với các quan: Giờ chỉ còn lại một mâm cỗ nữa là chưa nếm thử. Ta cùng các khanh đồng nếm thử mâm cỗ phẩm vật cuối cùng, tức thời Vua cùng các quan mỗi người ăn mỗi miếng ai nấy đều gật gù tán thưởng khen ngon. Các quan Lạc Hầu. Lạc Tướng nói:
– Đây là một thứ bánh hương vị khác thường, làm từ những thực liệu bình thường, nhưng cách làm ra cũng như cách pha trộn vô cùng đặc biệt.
– Các hoàng tử thay đổi hẳn thái độ không còn coi thường bánh dày, bánh chưng của Lang Liêu. Chỉ còn chờ ban giám khảo các Vương, Quan Lạc Hầu. Lạc Tướng bình giá các món ăn, ai là người thắng cuộc. Tất cả đều chờ đợi kết quả quan trọng nầy.
– Riêng Vua Hùng lấy làm ngạc nhiên về bánh lạ vừa nếm qua thấy vô cùng khác lạ, bằng nếm đi nếm lại đến mấy lần, lật bánh lên, lật bánh xuống, lật qua, lật lại ngắm nghía. Một bánh hình tròn, một bánh hình vuông là ý nghĩa gì đây.
– Vua cho gọi Lang Liêu đến hỏi: Ai bày cho con làm ra hai loại bánh nầy. Triết lý hai loại bánh nầy ra sao, con hãy trình bay ra đây cho Cha cùng bá quan văn võ nghe.
Lang Liêu bằng triết giải những triết lý về Bánh Chưng, Bánh Dày sự cao thâm huyền diệu sâu xa của nó.
– Lang Liêu quỳ lạy thưa: Muôn tâu Phụ Vương trong giấc ngủ mơ màng con thấy Vương Mẫu Nương Nương chính là Quốc Tổ Mẫu từ trên trời bay xuống truyền dạy cho con làm Bánh Dày, Bánh Chưng.
– Vương Mẫu nói: To lớn nơi vũ trụ không gì bằng Trời, chỉ có Trời mới chứa hết thiên hạ nhân loại.
– Muôn sanh linh vạn vật không gì bằng Đất. Chỉ có Đất mới dưỡng nuôi hết thảy sanh linh vạn vật.
– Đất dưỡng nuôi thể xác.
– Trời dưỡng nuôi linh hồn
– Của báu nhất trần gian không gì bằng Gạo Nếp. Gạo Nếp chính là hạt ngọc của Trời và Đất, nuôi sống con người.
– Con hãy lấy Gạo Nếp đêm ngâm rồi làm bánh Hình Tròn tượng trưng cho Trời. Làm bánh hình Hình Vuông tượng trưng cho đất. Trời màu xanh, sự phì nhiêu của Đất cũng màu xanh. Non xanh nước biếc đậm tình quê hương.
Hãy lấy lá xanh bọc ngoài Càn, gạo nếp Khôn. Trong Càn Khôn. Lấy năm loại đậu làm nhưng tượng trưng cho ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Nói về Đạo ngũ thường năm loại đậu tượng trưng cho Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nói về Đạo ngũ luân năm loại đậu tượng trưng cho Cha, Con, Anh, Em, Chồng Vợ. Nói về Nhân Loại năm loại đậu tượng trưng cho năm màu da cùng chung một thể Đồng Bào.
– Năm loại đậu trộn chung giã nhiễn tượng trưng cho sự gắn bó hòa hợp cùng nhau, chung sống yên vui đoàn kết.
– Pha trộn vào ít thịt bò, heo, dê, gà, vịt. Tượng trưng cho đời sống thịnh vượng.
– Thêm gia vị Đường, Muối, chanh, Tiêu, Hành, Tỏi . Tượng trưng cho Chua, Ngọt, Mặn, Đắng, Cay, cùng chia cùng hưởng, gánh gồng có nhau đậm đà cuộc sống ấm no. Mặn nồng tình nghĩa, keo sơn thuận hòa.
– Gạo nếp trắng tinh là con Dân. Bọc ngoài lá xanh ví như Vua, Quan bảo bọc cho Dân Chúng.
– Gạo nếp trắng tinh là con cái. Bọc bên ngoài lá xanh ví như Cha Mẹ bảo bọc ôm trọn đàn con trong lòng, thương yêu đùm bọc che chở. Truyền dạy xong cách làm bánh chưng bánh dày cũng như triết lý sâu xa của nó. Vương Mẫu Nương Nương Phụng Cơ Quốc Tổ Mẫu liền biến mất.
– Nghe Hoàng Tử Lang Liêu kể lại sự truyền dạy của Vương Mẫu Nương Nương, cũng chính là Phụng Cơ Quốc Tổ Mẫu. Cũng như lý giải những ý nghĩa sâu xa của hai loại Bánh Chưng, Bánh Dày. Các quan nghe say sưa, Vua Hùng thời càng thấm thía gật đầu lia lịa: Đúng là Quốc Tổ Mẫu dạy rồi chỉ có đôi Bánh Chưng, Bánh Dày mà mang triết lý cả trời đất, vạn vật, cũng như con người, cái triết lý bao trùm cả Đời lẫn Đạo không ai có thể nghĩ ra đạt đến cảnh giới như vậy, đúng là Quốc Tổ Mẫu hiện về dạy rồi. Đây cũng là Ý Trời.
– Vua Hùng nói rằng: Bánh Chưng Bánh Dày không những ngon, cái quý của bánh chưng bánh dày mang nhiều ý nghĩa đặc biệt, không làm mất đi nền Văn Minh lúa nước, còn bày tỏ lòng tôn kính đối với Trời Đất. Cũng như công Cha, nghĩa Mẹ đùm bọc nuôi nấng các con. Tình hòa thuận đoàn kết anh em, mặn nồng cay đắng có nhau, Trắng tinh bảo bọc Mẫu Hoàng, xanh non xanh nước Phụ Hoàng chở che. Bò, Heo, Gà, Vịt chăn nuôi. Ngô, khoai nếp, đậu càng thêm sang giàu. Hai loại bánh nầy không thể xem thường, của ngon vật quý Đất, Trời ban cho.
– Hoàng Tử thứ 18 Lang Liêu thắng cuộc được truyền ngôi.
– Vua Hùng truyền dạy khắp chúng dân, hàng năm cứ đến đầu xuân, theo niên lịch Đại Nam Văn Lang trở thành ngày hội tết nền Văn Minh Lúa Nước. Làm Bánh Chưng, Bánh Dày cúng Tổ Tiên Trời, Đất. Hoàng Tử Lang Liêu trở thành Hùng Vương thứ bảy Hạ Hùng Vương thay Cha là Hùng Huy Vương trị vì thiên hạ.
– Kể từ đó tục làm Bánh Chưng Bánh Dày đã trở thành tục lệ trong dịp tết nguyên đáng để cúng Ông Bà, Cha Mẹ, Tổ Tiên, Trời, Đất.
***
Long Hoa Lược Truyện, Văn Hóa Cội Nguồn
Câu Chuyện Sự Tích Bánh Chưng, Bánh Dày đến đây là hết.
———————————————————-