THỜ CÚNG THEO VĂN HÓA CỘI NGUỒN

THẦY NHÂN THẬP (Tiến sĩ Cao Đức Toàn)
(biên soạn)

THỜ CÚNG
THEO VĂN HÓA
CỘI NGUỒN

ẢNH THỜ TỰ CHUẨN THEO VĂN HÓA CỘI NGUỒN

263112289_956163528317820_2868718665298004093_n

D396C2E5-E73E-4BC1-8C16-EDF7FA6334C1

CÂU ĐỐI THỜ TỰ VĂN HÓA CỘI NGUỒN

263112289_956163528317820_2868718665298004093_n

LỜI MỞ ĐẦU

Lễ nghi thành kính đức nghiêm trang
Hiếu Đạo phụng thờ ơn Trời Đất
Thờ Trời, Thờ Tổ, Thờ Tiên
Trời cho, Trời đãi, khỏi lo khốn cùng
Thờ truyền thống dậy hào hùng
Ngoại xâm khiếp vía hết còn xâm lăng
Vua Hùng Quốc Tổ đừng quên
Làm cho vận nước càng thêm sang giàu
Lòng thành kính yêu Non yêu Nước
Yêu Cội Nguồn truyền thống Cha Ông
Yêu hồn thiêng, yêu cả muôn dân
Lo gì chẳng được Thánh Thần giúp cho.
* * *
Sự tôn kính thờ phụng TỔ TIÊN, thờ TRỜI, thờ ÔNG BÀ, CHA MẸ, là sự tôn thờ chính đáng, tôn thờ có văn hóa, thể hiện lòng trung hiếu, đầy chính nghĩa, và cũng đầy đức tính đạo đức nhân bản, nhân văn của người dân Đại Việt con cháu Tiên Rồng.
Nói đến tội, thời tội Bất Hiếu là tội đứng đầu. Phạm tội Bất Hiếu, phần nhiều đều bị sa đọa xuống các tầng Địa Phủ. Người nào giữ được Hiếu Thuận đối với Ông Bà, Cha Mẹ thì coi như tu hành rồi.
Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ Cha kính Mẹ chính là chân tu.
Lại biết tôn thờ Ba Ngôi Tối Cao Vũ Trụ (Tổ Tiên Khai Hóa, Cha Trời, Địa Mẫu), hết lòng phụng dưỡng Ông Bà, Cha Mẹ, thì coi như không còn sa đọa xuống các tầng Địa Phủ. Nếu biết hướng thiện làm lành, khi mạng chung thì liền được siêu sanh về Non Tiên Cực Lạc, hay siêu sanh lên các tầng Trời hưởng phước.
* * *
Hỏi: Vì sao Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ là Đạo của Vua thờ, còn dân không được thờ?
Đáp: Đó là cách đây hơn mấy nghìn năm thời Hùng Vương. Còn thời này thì dân có quyền được thờ. Văn Hóa Cội Nguồn là Đại Đạo Tối Cao vũ trụ. Đạo Luật công bằng xã hội, cán công công lý dùng để Trị Quốc, cứu dân độ thế, cái Đạo của Vua thờ. Thế Thiên hành Đạo, Hành theo Đạo Luật vũ trụ.

NHỮNG ÍCH LỢI KHI THỜ TỰ ĐÚNG THEO VĂN HÓA CỘI NGUỒN

Thờ tự là một điều tối linh thiêng trong Văn Hóa Cội Nguồn, khó có người nào hiểu được mà tôn giáo cũng khó có thể vượt qua được. Nó là một trong những Pháp Ấn để mà độ người, độ hàng loạt gia đình.
Thờ tự trong Văn Hóa Cội Nguồn chính là một linh bùa tối linh giúp cho:
+ Gia đình thịnh vượng
+ Khí vận gia đình được giữ vững
+ Làm cho linh khí và âm đức nhiều đời nhiều kiếp của Ông Bà Tiên Tổ hội tụ vào gia đình của mình, khiến cho gia đình cường thịnh về sau, con cháu phát quang, tránh được nhiều họa tai.
+ Cho dù người khác có ếm yểm mảnh đất đó đi chăng nữa, nhưng nhờ khí vận đó mà tạo ra khiên đỡ, làm cho đức năng thắng số, bảo vệ cho toàn bộ gia đình.
+ Nhờ sự tối linh đó mà củng cố đức tin cho những người theo Văn Hóa Cội Nguồn, giúp cho họ tinh tấn và trụ yên nơi Cội Nguồn mà hành đạo.
Nói tóm lại, thờ tự trong Văn Hóa Cội Nguồn chính là một dạng của Kinh Dịch Phong Thủy của Đạo Trời, sử dụng đức năng hội tụ mà thắng số mệnh. Nghĩa là sử dụng đức năng của Trời Đất, Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ giúp giữ vững linh mạng cho gia đình. Người mà đạt tới phong thủy tối thượng là người biết sắp xếp Kinh Dịch theo đúng chu kỳ của Tạo Hóa trước, rồi sau đó mới áp dụng vận mệnh của mình vào bên trong thì người đó mới có thể vận dụng Kinh Dịch như ý được. Thờ tự cũng vậy. Thờ mà không hiểu hết ý nghĩa của nó thì lúc sáng, lúc không. Người mà sắp xếp thứ tự các ngôi thứ trật đi, thờ tự sai thì không được như ý, vẫn đi vào chỗ bế tắc, không hội tụ được linh khí. Nếu các vị không hiểu về thờ tự thì khó mà đạt được như ý thần thông. Cái gì đúng thì mới được như ý, cái không đúng thì không bao giờ như ý. Cũng giống như con người đi ngược lại với lương tâm dù có niệm Nam Mô _ A Men thì cũng mất đi chữ A Men, khó mà được như ý, không cách gì mà viên mãn như ý được.
Trong thờ tự, ngày giờ để khai mở ấn chú cũng rất quan trọng. Nên chọn ngày tốt hợp với cung mạng của người khai mở ấn chú thờ tự, thì mới tốt.
Đối với người Việt, những người mang dòng máu đỏ da vàng, thuộc giống dân Hồng Ngọc thờ tự như vậy là chính xác. Ông Tổ của người Việt máu đỏ da vàng chính là Quốc Tổ Hùng Vương. “Quốc Tổ” mà đảo ngược lại từ, chính là “Tổ Quốc”. Cho nên tổ quốc non sông chính là Quốc Tổ Hùng Vương khai mở. Trên thế giới, không nước nào có Quốc Tổ đâu. Chỉ có nước Việt mới có Quốc Tổ thôi. Đó là điều tối thượng của vũ trụ dành cho dân tộc Việt.
Thầy sẽ nói thêm về ý nghĩa của 3 ngôi trong hình ảnh thờ tự theo Văn Hóa Cội Nguồn.
Ngôi số 1 (Thờ Thiên Ấn): mang ý nghĩa dưỡng nuôi bảo vệ gia đình, hội tụ linh khí, kết nối các linh địa xung quanh nhà, liên thông cơ cảm với Trời Đất, mà dẫn tới linh ứng, quyền năng và thần thông. Khi các vị để hình thờ tự có Thiên Ấn chính là nhịp đập sự sống, trái tim của gia đình mình đều do Thiên Ấn che chở. Nhờ Thiên Ấn này hút linh khí của vũ trụ và dưỡng nuôi âm đức của gia đình, xã hội và đất nước vân vân… mà tạo ra phước đức vô tận, khiến cho gia đình, xã hội và đất nước luôn luôn thịnh vượng và phát triển đi lên, con cháu luôn thuận hòa và xã hội đất nước bình an.
Ngôi số 2 (Thờ Cha Trời, Mẹ Trời) mang ý nghĩa tận độ, phước báu số một. Trên đời này không ai có phước đức hơn được Cha Trời, Mẹ Trời. Chỉ có phước đức của Cha Trời mới tận độ được tất cả nhân loại con người. Ở cõi Âm Phủ, một người chỉ cần tưởng nghĩ tới Trời thì liền siêu thoát khỏi Âm Phủ, cho dù đang ở bất cứ tầng Địa Phủ nào đều được siêu thoát.
Mục Kiền Liên muốn cứu mẹ phải nhờ công đức của mười phương chư Phật, mà mười phương chư Phật chỉ là một phần nhỏ của Trời. Nên phước đức của Trời lớn vô tận vô biên mà không vị Phật nào có phước đức lớn hơn. Vì Đức Phật cũng chưa bao giờ dưỡng nuôi hết muôn loài vạn vật, hay cây cỏ. Như các vị thấy đó, các Ngài vẫn còn ăn chay, chứ đâu có dưỡng nuôi cây cỏ. Không có vị Phật hay Bồ Tát nào có phước đức hơn được Cha Trời, Mẹ Trời, dù cho đó là vị Tổng Đà La Ni đi chăng nữa. Chỉ có Trời mới có thể dưỡng nuôi muôn loài vạn vật, dưỡng nuôi hết tất cả. Nên phước đức của Trời không ai có thể hơn được nữa, không thể nghĩ bàn, tính đếm được.
Cha Trời và Mẹ Trời, một người là chủ của linh hồn, một người là chủ của vật chất, đều dưỡng nuôi hết tất cả. Cho nên khi các vị thờ Trời trong gia đình mình nghĩa là các vị đi vào tận độ, phước báu số một. Con người mà biết thờ Cha Trời Mẹ Trời là người biết ghi ơn, đáp nghĩa, hiếu kính và báo hiếu. Có nghĩa là người đó lần lần đạt tới đại hiếu như Mục Kiền Liên hay các vị Phật tổ, Thánh tổ, Tiên tổ, Chúa tổ, Thần tổ. Cho nên khó có người hiểu được thờ tự trong Văn Hóa Cội Nguồn. Những người thờ tự theo Văn Hóa Cội Nguồn được Thầy hướng dẫn chính thức, họ đều hiểu được mật độ tâm linh lớn mà họ có đức tin và nhận phước báu lớn trong tương lai. Các vị ở cõi Trời Trung Thiên Giới trên đầu đều tôn thờ hai ngôi này, đó là đấng Tổ Tiên Khai Hóa và Cha Trời, Mẹ Trời. Những ai không hiểu được những điều nói trên mà mang tâm coi thường hay sanh tâm bất kính, thì họa tai khó tránh và lần lần mất trí.
Ngôi số 3 (Thờ Quốc Tổ). Quốc Tổ Hùng Vương là anh cả trong một trăm con Trời năm màu da anh em, là Đấng Chí Tôn, người thay thế Cha Trời, Mẹ Trời tổng trì Đà La Ni Tạng Tánh của Vũ Trụ trong năm tiểu Kiếp của cơ Tận Độ (kéo dài 84 triệu năm). Cho nên Quốc Tổ đứng vào ngôi tận độ, phước báu số hai. Phước báu của Quốc Tổ lớn khủng khiếp. Hạnh bố thí của Ngài là phân tâm mình mà cấy vào trong tâm thiên hạ của toàn thể năm màu da anh em trong toàn vũ trụ từ cách đây 75 triệu 600 ngàn năm khi Quốc Tổ dẫn con cháu về Trời. Có nghĩa Ngài đã tu hạnh bố thí từ thời đó, mà gieo hạt giống tâm Đà La Ni trong tâm mọi người. Còn cách đây 5 ngàn năm, Quốc Tổ đã gieo năm hạt giống (Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa) vào tâm của Bách Tộc Văn Lang ở Vườn Cấm nước Xích Quỷ, và thường thuyết giáo trong những ngày quan trọng của tuần, của tháng, và của năm ở Đền Hùng, Phú Thọ. Người thờ Quốc Tổ là người biết ghi ơn, biết đáp nghĩa, hiếu kính và báo hiếu, để rồi tâm linh của họ lần lần đạt tới đạo hạnh của một bậc đại hiếu vũ trụ. Đại hiếu của vũ trụ là một trong 8 muôn 4000 Đà La Ni tạng tánh. Những con người đạt tới đại hiếu là những người trở thành những vị Phật lớn trong vũ trụ này.

* * *

CHƯƠNG I: KINH HIẾU NGHĨA
(trích từ Nhân Luân Hiếu Nghĩa Kinh)

1. KINH HIẾU NGHĨA CHA TRỜI, MẸ TRỜI

Vô lượng kiếp Cha Trời Địa Mẫu
Thường phóng quang cứu khổ hồn linh
Độ cháu con vô số vô biên
Đều chứng quả Phật, Tiên, Thánh, Chúa
Công Cha Trời khắp trong trời đất
Chẳng ai hơn đệ nhất công lao
Lớn vô cùng vô tận biết bao
Dựng cơ nghiệp tam thiên vũ trụ
Chủ nhân Ông quyền năng định đoạt
Đấng chủ trì thiên luật thưởng ban
Cho những người bồi đức lập công
Vì đại nghĩa vì dân vì nước
Vì anh em Tiên Rồng nòi giống
Giúp cho người tỉnh giấc tu hành
Giúp cho người trở lại đường lành
Về thế giới thiên đàng cực lạc
Sống an vui cung vàng điện ngọc
Mãi vĩnh hằng tự tại tự do
Cõi nước trời vô số hà sa
Tùy công đức mà vui mà hưởng
Cõi trần gian huyền cơ biến chuyển
Đầy họa tai lắm cảnh truân chuyên
Ý Cha Trời chuyển vận huyền cơ
Khai Đại Đạo bến bờ tiếp rước
Nghĩa đồng bào Phật, Tiên, Thánh, Chúa
Khắp Ta Bà thế giới năm châu
Ban pháp lành từ cổ chí kim
Bao lời lẽ từ bi bác ái
Phật, Thánh, Tiên, phò trì chánh giáo
Đồng ra kinh cứu vớt cõi trần
Độ nhân sanh về với Cội Nguồn
Lập công lành với đấng Trời Cha
Lưu danh tiếng khắp cõi hà sa
Đức Cha Trời quyền năng trên hết
Chuyển vần xoay tình thế thuận xuôi
Cùng Thánh, Thần, trấn khắp càn khôn
Đồng phóng quang hộ độ cháu con
Về thế giới an khương cực lạc
Nếu những ai trở về Nguồn Cội
Lạy Cha Trời rửa tội một lần
Theo văn hóa sám hối tội tình
Bao kiếp ác chẳng còn tiêu sạch
Hết họa tai an vui hưng thịnh
Mãi về sau ít bệnh ít đau
Đọc kinh đây thời hãy truyền mau
Phát tâm lành bồi công lập đức
Phật, Thánh, Tiên khắp trong trời đất
Đồng phóng quang cứu vớt từng giờ
Tạo nhân hiền dứt khổ an lành
Đạo Hiếu Nghĩa nay đà thành tựu
Về tiên bang hội tụ điền viên
Trăm năm trong cõi người ta
Cũng như sương khói thoáng qua mất liền
Ra thân tu phước thờ Trời
Kính tin Phật, Chúa, Thánh, Thần, chở che
Kinh đây vốn thật cao siêu
Chỉ cần đọc tụng mong chi cũng thành
Công đức không thể nghĩ bàn
Cầu chi đặng nấy chẳng lầm chẳng sai
Nếu như có người thiện nam
Hay là thiện nữ luận bàn giảng ra
Cho người cùng hiểu cùng nghe
Thấm nhuần chân lý Trời Cha dạy truyền
Người nầy sẽ được Tổ Tiên
Cha Trời Địa Mẫu phóng quang độ trì
Khai tâm khai trí khai thần
Muôn nghìn ức kiếp chuyển thành chúa vua
Cháu, con sáng láng thông minh
Hiển vinh, vinh hiển giàu sang, sang giàu
Cũng nhờ Hiếu Nghĩa làm đầu
Công thành danh tọa về Trời an vui.
* * *

2. KINH HIẾU NGHĨA CHA MẸ

Làm người ai cũng biết rằng
Công ơn Cha Mẹ sánh bằng trời cao
Nuôi con khó nhọc biết bao
Năm dài tháng rộng nói sao cho cùng
Thương con thương cái ngập tràn
Tình thương Cha Mẹ ai nào sánh hơn
Con đau Cha Mẹ lo âu
Con bệnh Cha Mẹ buồn rầu không yên
Con khóc Cha Mẹ nhói tim
Xót xa đau đớn lệ tuôn đầm đìa
Con cười Cha Mẹ cũng cười
Con vui Cha Mẹ không gì vui hơn
Thương con Cha Mẹ kể chi
Nhọc nhằn cực khổ cũng vì nuôi con
Hỡi ai còn chút lương tâm
Nghĩ suy cho thấu tấm lòng Mẹ Cha.
Hãy nhớ lại công ơn Cha Mẹ
Chữ cù lao dưỡng dục quên mình
Kể gì gian khổ nhọc nhằn
Nuôi con tháng rộng năm dài biết bao
Thương con từ thuở nào trong bụng
Với hình hài vừa tượng nên thân
Thương con trong bọc mới mang
Tháng ngày yêu mến sớm hôm giữ gìn
Lòng thương con vô cùng vô tận
Kể sao cùng lòng Mẹ lòng Cha
Thương con Cha Mẹ thiết tha
Chăm lo từng phút, từng giây, từng giờ
Nhìn thân Mẹ đứng ngồi lo lắng
Suốt thời gian chín tháng cưu mang
Mong con mong mãi bình an
Mong con toàn vẹn sớm nên hình hài
Lòng Cha Mẹ như trời như biển
Dành cho con tất cả hi sinh
Kể gì thân xác héo hon
Kể gì gian khổ, gian nan khốn cùng
Mẹ sanh con cả giờ đau đớn
Chịu đớn đau trông thấy mặt con
Dẫu rằng Mẹ có chết đi
Miễn sao con trẻ bình yên cõi đời
Ôi người Mẹ biển trời nhân đức
Lòng thương con trên hết vô biên
Thiêng liêng người Mẹ thiêng liêng
Biển trời khó sánh tình thương biển trời
Kìa con trẻ chào đời bật khóc
Kìa người Cha sung sướng làm sao
Tràn đầy yêu mến thương yêu
Nhìn con Cha Mẹ xiết bao vui mừng
Lòng Cha Mẹ mấy tầng yêu dấu
Lòng thương con rộng lớn vô biên
Đất trời chẳng thể rộng hơn
Thương con Cha Mẹ quên đi nhọc nhằn
Lần từng ngón tay bồng tay bế
Niềm thương yêu chăm sóc từng giây
Con đau Cha Mẹ quặng đau
Con rầu Cha Mẹ rầu theo từng hồi
Nghe con khóc hãi hùng lo sợ
Con biếng ăn Cha Mẹ lắng lo
Tháng ngày khổ cực biết bao
Công lao trời biển nói sao cho cùng
Nhìn con lật con bò con nói
Nhìn con đi con lớn lòng vui
Ai ơi nầy hỡi ai ơi
Nghĩ suy cho thấu biển trời Mẹ Cha
Ôi chữ Hiếu thâm sâu vô tận
Nghĩa đáp đền công Mẹ ơn Cha
Chỉ cần con ấm mình lên
Mẹ Cha không ngủ suốt đêm sợ rầu
Nhìn con trẻ ấm mình dạ xót
Tiếng khóc con đau đớn lòng Cha
Cầu Trời khấn Phật suốt đêm
Phù trì hộ độ cho con của mình
Tim sắt đá cũng còn tan chảy
Với tình thương trời bể bao la
Tình thương dành hết cho con
Cả đời như thế công ơn tận cùng
Lòng Cha Mẹ ai nào sánh được
Sự hi sinh tột bực vì con
Kể gì non núi, núi non
Đất trời rộng lớn cũng không so bì
Thử ôn lại có gì không đúng
Công Mẹ Cha năm tháng nuôi con
Gian nan khổ cực gian nan
Vậy mà vui vẻ không than một lời
Ngồi ôn lại mới thời thấy rõ
Lòng thương con như bể như non
Con ốm Cha Mẹ hoang mang
Đút cơn múm sữa biết bao khổ nàn
Nhìn con lớn lòng mừng vô tả
Hơn được vàng hơn cả báu châu
Đưa con đi học sớm hôm
Thương con Cha Mẹ theo chân đến trường
Kìa gió bụi chân trời mưa nắng
Mẹ cùng Cha tìm kiếm gạo cơm
Nuôi con vất vả sớm hôm
Miễn sao con được nên danh làm người
Bao năm tháng miệt mài lao khổ
Thân bọc da bao nỗi truân chuyên
Kiếm tìm của cải nuôi con
Dạn dày gió bụi phong sương cuộc đời
Công ơn ấy có gì sánh được
Tình thương kia muôn vạn núi cao
Sanh thành dưỡng dục cù lao
Biển trời công đức kể sao cho cùng
Khi nghĩ đến lệ trào nước mắt
Công Mẹ Cha ân đức dường
Công lao trời đất công lao
Bao giờ trả được chút ơn sanh thành
Trong trời đất còn gì hơn Hiếu
Mất Hiếu rồi họa đến chẳng sai
Chết đi hồn đọa âm ti
Khó mong trở lại đầu thai làm người
Làm con phải nghĩ thế nào
Công ơn dưỡng dục cù lao biển trời
Nhất là Cha Mẹ về già
Mắt mờ bệnh tật không người tựa nương
Nếu còn chưa mất lương tâm
Phải nên chăm sóc sớm hôm phụng thờ
Bất Hiếu tội lớn vô cùng
Tránh sao quả báo nhãn tiền theo tay
Sống thời hết họa tới tai
Khó nên nghiệp lớn khó xây danh vàng
Bất Hiếu phạm luật Thiên Đình
Tránh đâu cho khỏi luật trời chuyển xây
Chết đi hồn đọa âm ti
Chịu nhiều khốn khổ mấy khi yên lành
Bất Hiếu Trời hại Trời hành
Hồn linh vất vưởng xoay vần họa tai
Quên đi nghĩa Mẹ ơn Cha
Tội nào hơn nữa khó qua nạn trời
Người nào quên Cội quên Nguồn
Công ơn Cha Mẹ cùng là Bề Trên
Lương tâm đánh mất còn chi
Thánh Thần xa lánh tai bay họa cùng
Người nào nhớ đến Cội Nguồn
Công Cha nghĩa Mẹ biển trời công lao
Hiếu Nghĩa là Đạo chí cao
Cha Trời, Địa Mẫu lúc nào cũng khen
Làm con Hiếu Nghĩa vi tiên
Chăm lo phụng dưỡng mới nên con người
Kinh luân đã giải phân trần
Đâu là cội phúc, đâu là họa tai
Công Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ Mẹ kính Cha
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con
Trần gian cõi tạm trường thi
Phạm vào Bất Hiếu hết mong về Trời
Làm con Hiếu đạo vẹn toàn
Lo gì chẳng được sang giàu hiển vinh
Cha Trời lựa lọc Cháu Con
Lựa người có Hiếu thưởng ban phúc lành
Ban cho chói rạng công danh
Vinh hoa phú quý giàu sang, sang giàu
Mãn thân hồn được về Trời
Về nơi tiên cảnh vĩnh hằng tiêu diêu
Ngược lại Bất Hiếu chẳng nghe
Sống thời khốn khổ chết đi ngục tù
Bất Hiếu quả báo hãi hùng
Luân hồi đọa lạc vạn bề đớn đau
Dù vua, hay chúa, đều chung
Để tâm Bất Hiếu hết mong phước lành
Diêm Vương thọ lệnh Thiên Hoàng
Luật Trời phân xử rõ ràng phân minh
Bất Hiếu tội lớn khó dung
Ai mà phạm phải liệu lo sửa mình
Thành tâm cải hối tội tình
Chăm lo trả Hiếu đáp đền công ơn
Công Cha nghĩa Mẹ vô biên
Phải nên phụng dưỡng sớm hôm tôn thờ
Lương tâm sáng tỏ được rồi
Bao nhiêu tội ác tan thời biến tan
Phước trời tự đến trời ban
Ấm no, no ấm giàu sang, sang giàu
Lớn lên đã lập gia đình
Cũng nên lui tới để gần Mẹ Cha
Thành Tiên, Thành Phật, đâu xa
Từ trong Hiếu Nghĩa mà ra chẳng nhầm
Cha già Mẹ yếu mắt mờ
Trông vào con cái biết nhờ cậy ai
Bất Hiếu bỏ Mẹ bỏ Cha
Bơ vơ khốn khổ ngày già hẩm hiu
Dù cho danh lợi bao nhiêu
Để Tâm bất Hiếu còn chi Đạo Người
Phật, Tiên, Thánh, Chúa, bao đời
Tôn thờ Hiếu Đạo đứng đầu xưa nay
Đạo Hiếu đệ nhất cao thâm
Nếu mà bỏ mất còn mong được gì
Được là danh tiếng ngu si
Bất nhân bất nghĩa hồn sa địa đàng
Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ Cha kính Mẹ cũng là chân tu
Làm con quý tại Hiếu Nhân
Phải nên thức tỉnh xét phân tỏ tường
Đạo Hiếu vốn thật nhiệm mầu
Nhơn Đạo thành rồi Thiên Đạo là đây
Thánh Thần Chúa Phật xưa nay
Cũng nhờ Hiếu Nghĩa, phước xây vạn tòa
Thời nay nếu có người nào
Phát tâm truyền tụng hay là ấn in
Cầu cho Cha Mẹ song thân
Sống thêm tuổi thọ chết sanh thiên đàng
Cháu con vinh hiển nhiều đời
Tai qua nạn khỏi, sang giàu bình yên
Chỉ cần truyền tụng in kinh
Nhờ công đức ấy đăng trình vàng son
Huống chi giảng dạy thế gian
Cầu chi đặng nấy hết còn họa tai
Luân hồi chuyển kiếp làm vua
Dân giàu nước mạnh bình an thái bình.
* * *

CHƯƠNG II: NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN VỀ THỜ TỰ TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

1. Đức KHAI HÓA TỔ TIÊN là ai?
Đức Khai Hóa Tổ Tiên là bản thể Linh Giác Tối Cao, Khai Hóa, Tạo Hóa, Tổ Tiên, bản thể Linh Giác Vũ Trụ. Hay còn gọi là Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa, Như Lai. Tuy có nhiều danh từ để gọi nhưng rốt lại chỉ là Khai Hóa Tổ Tiên mà thôi.
Khai Hóa Tối Thượng Tổ Tiên, khai tạo lập lên vũ trụ, tam thiên, đại thiên, thế giới, 28 tầng Trời, 18 tầng Địa Phủ, núi Tu Di, thất sơn châu báu, nhật, nguyệt, tinh tú, thiên hà, ngân hà, bốn cõi trần gian, núi Thiết Vi, địa luân, phong luân, thủy luân, ba cõi vũ trụ, thiên đàng, trần gian, địa phủ, ba giới tâm linh, dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Chuyển vận vũ trụ, tạo ra ngày giờ, năm, tháng, lập lên thế giới vạn vật, côn trùng, thảo, mộc, muôn loài cầm thú, bò sát.
Khai Hóa Tổ Tiên, khai tạo lập lên tất cả xong, rồi hiện thân ra CHA TRỜI, ĐỊA MẪU, sanh con đẻ cái lưu truyền nòi giống con người, tiên rồng, cho đến ngày nay.
Cách đây khoảng hai nghìn năm trăm lẻ ba triệu năm, ở vào khoảng thời gian ấy Vũ Trụ TA BÀ chỉ là một khoảng chân không.
Trong khoảng chân không rộng lớn cùng khắp ấy có một BẢN THỂ LINH GIÁC TỐI CAO, rộng lớn như hư không chỗ nào cũng có, đó là BẢN THỂ LINH GIÁC TỐI CAO, KHAI HÓA, TẠO HÓA, TỔ TIÊN.
Bản Thể Linh Giác Tối Cao Khai Hóa, Tạo Hóa TỔ TIÊN, bản thể ĐỘC LẬP, TỰ DO, BÌNH ĐẲNG.
Bản Thể Khai Hóa TỔ TIÊN, thể tướng như Hư Không, VÔ TƯỚNG. VÔ TƯỚNG chính là thật tướng của TỔ TIÊN, không những thể tướng của Tổ Tiên là thể tướng vô tướng, mà thể tánh của Tổ Tiên là VÔ TÁNH, vô tánh cũng là tánh, thật tánh của TỔ TIÊN.
Bản Thể Linh Giác Tối Cao Tổ Tiên, BẢN THỂ VÔ VI TRONG SẠCH, không cấu nhiễm, ví như hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Chính vì sự không cấu nhiễm trong sạch nầy, là tối đại linh thiêng của LINH GIÁC BẢN THỂ, Linh Giác Tối Linh LIÊN HOA HẢI TẠNG VŨ TRỤ.
Bản thể Linh Giác TỐI CAO TỔ TIÊN, không những vô vi trong sạch, không cấu nhiễm, mà cả CHÂN TÂM, CHÂN TÁNH cũng trong sạch vô vi. Cũng chính vì sự trong sạch vô vi không cấu nhiễm, cũng như sự trong sạch chân tâm chân tánh trở thành bản thể minh tâm kiến tánh vũ trụ. Bản Thể Linh Giác Tối Cao Vũ Trụ, TÂM KHÔNG, trong sạch vô vi, TÁNH KHÔNG trong sạch vô vi, TƯỚNG KHÔNG trong sạch vô vi, Ý KHÔNG, trong sạch vô vi, THỨC KHÔNG trong sạch vô vi. Nên tự Bản Thể Linh Giác Tối Cao Vũ Trụ THẤY – NGHE – HAY- BIẾT, khắp cùng vũ trụ. Sự thấy, nghe, hay, biết, ở đây là sự thấy nghe hay biết toàn Bản Thể Hư Không Vũ Trụ, cái thấy khắp cùng, cái nghe khắp cùng, cái hay khắp cùng, cái biết khắp cùng.
Bản Thể Linh Giác Tối Cao Vũ Trụ, Linh Giác TỔ TIÊN, không những không cấu nhiễm trong sạch vô vi, mà còn trong sạch, không MÀU, không SẮC, không MÙI, không VỊ, và cũng chính sự trong sạch không cấu nhiễm, không màu, không sắc, không mùi, không vị nầy, không những tự Bản Thể Linh Giác thấy, nghe, hay, biết, toàn năng toàn giác toàn bản thể, mà còn PHẢN KHÁNG, CẢM ỨNG, PHẢN TỈNH ĐO LƯỜNG, trở thành CÁN CÂN CÔNG LÝ BẢN THỂ VŨ TRỤ. Cán cân công lý công bằng bình đẳng vũ trụ.
Bản Thể Linh Giác Tối Cao, Linh Giác KHAI HÓA TỔ TIÊN, bản thể Linh Giác ĐẠI ĐỒNG, ĐỘC LẬP, TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, và cũng chính bản thể đại đồng, độc lập, tự do, bình đẳng nầy trở thành bản thể CHÂN LÝ tối cao của sự sống, trở thành Thiên Luật tối cao vũ trụ, trở thành Thiên Ý của Đức Cha Trời. Sự sống tối cao vũ trụ chính là Bản Thể Linh Giác CỘI NGUỒN bản thể tối cao của tất cả sự sống. Bản thể KHAI HÓA TẠO LẬP LÊN TẤT CẢ. Bản thể tối cao lập lên tất cả, là bản thể hợp nhất bản thể ĐẠI ĐỒNG, ĐỘC LẬP, TỰ DO, BÌNH ĐẲNG.
Bản thể đại đồng, độc lập, tự do, bình đẳng, là bản thể Cội Nguồn tối cao HIẾN TẠNG, PHÁP TẠNG, LUẬT TẠNG tối cao vũ trụ, khi chưa khai hóa tạo lập vũ trụ.
Bản Thể Linh Giác Tối Cao HIẾN TẠNG, PHÁP TẠNG, LUẬT TẠNG tối cao vũ trụ, khai hóa tạo lập vũ trụ, khai tạo lập lên tam thiên, đại thiên thế giới, các tầng TRỜI, các tầng ĐỊA PHỦ, TRẦN GIAN. Bốn cõi, thiên hà, ngân hà, nhật nguyệt, tinh tú, muôn sanh linh sự sống, côn trùng, cỏ cây, cầm thú, cho đến con người, vân vân… Thì bản thể HIẾN TẠNG, PHÁP TẠNG, LUẬT TẠNG, CỘI NGUỒN TỐI CAO VŨ TRỤ, chuyển thành THIÊN LUẬT VŨ TRỤ, THIÊN Ý CHA TRỜI, cán cân CÔNG LÝ VŨ TRỤ.
Bản Thể Linh Giác TỔ TIÊN tối cao vũ trụ là bản Thể linh giác tối cao của sự TỰ NHIÊN, không ai sanh ra, cũng không mất đi, trường tồn bất diệt, trước sau như một, không có sự khởi đầu, không có sự kết thúc, không quá khứ chẳng vị lai, một bản thể như hư không bao trùm vũ trụ, bao trùm hoàn vũ, không đi không đến, tất cả sự sống đều nằm trong sự sống Đại Đạo tối cao nầy.
Bản thể linh giác tối cao vũ trụ linh giác TỔ TIÊN, không những như như thường còn, mà còn mãi mãi tột thế vô tận của vị lai, vì vậy danh từ NHƯ LAI TỔ TIÊN vẫn là danh từ khế hợp nhất.
Bản Thể Linh Giác Khai Hóa Tổ Tiên, bản thể BẤT SANH, BẤT DIỆT, BẤT CẤU, BẤT NHIỄM, BẤT TĂNG, BẤT GIẢM, KHÔNG SẮC, KHÔNG MÀU, KHÔNG MÙI, KHÔNG VỊ, Ý KHÔNG, THỨC KHÔNG, TÂM KHÔNG, TÁNH KHÔNG, TỰ NHIÊN TRONG SẠCH VÔ VI chính là bản thể Hiến tạng, Pháp tạng, Luật tạng, Bản Thể Linh Giác Tối Cao Vũ Trụ, Linh Giác ĐẠI ĐỒNG, ĐỘC LẬP, TỰ DO, BÌNH ĐẲNG.
Vì thế nhân loại con người là CON CHÁU của Khai Hóa TỔ TIÊN, hướng về CỘI NGUỒN cũng chính là hướng về CÔNG BẰNG, BÌNH ĐẲNG, ĐỘC LẬP, TỰ DO, đi vào hợp nhất theo luật công bằng, theo luật bình đẳng, theo luật độc lập, theo luật tự do, theo luật tự nhiên tự thể của bản thể ĐẠI ĐỒNG HỢP NHẤT thể.
Hướng về CỘI NGUỒN khác với hội nhập CỘI NGUỒN. Hướng về Cội Nguồn là hướng về công bằng, bình đẳng, hướng về độc lập, tự do. Còn hội nhập Cội Nguồn là sự hội nhập bọt nước hội nhập vào bản thể Nước, Bọt nước trở về là Nước, Linh Thức trở thành Linh Giác, Thức tâm, Thức tánh, trở thành Chân tâm Chân tánh. Chân tâm chân tánh chính là TÂM KHÔNG, TÁNH KHÔNG, TRÍ KHÔNG, Ý KHÔNG, THỨC KHÔNG. LÀM CHỦ CHÂN TÂM CHÂN TÁNH, Cũng có nghĩa là LÀM CHỦ SỰ CÔNG BẰNG, BÌNH ĐẲNG, ĐẠI ĐỒNG, ĐỘC LẬP, TỰ DO, TỐI CAO VŨ TRỤ.
Bản Thể Linh Giác Tối Cao TỔ TIÊN, ví như NƯỚC, còn Linh THỨC, linh hồn muôn sinh linh sự sống, ví như BỌT NƯỚC. Cũng chính vì NƯỚC SANH RA BỌT NƯỚC, LINH GIÁC SANH RA LINH THỨC, CHÂN TÂM CHÂN TÁNH, SANH RA THỨC TÂM THỨC TÁNH, nên nước – bọt nước, linh giác – linh thức, chân tâm chân tánh – thức tâm thức tánh, không khác nhau, đồng tánh thể, bản thể, NƯỚC có những gì, thì BỌT NƯỚC cũng y như vậy, linh giác có những gì, thì linh thức cũng y như thế. Chân tâm chân tánh có những gì, thì thức tâm thức tánh cũng có y nhau, bản thể của NƯỚC, công bằng, bình đẳng, độc lập, tự do, thì BỌT NƯỚC cũng có những đức tánh ấy, ẨN TÀNG TRONG BỌT NƯỚC.
Đây chính là sự tương thông đồng nhất giữa bản thể NƯỚC và BỌT NƯỚC, tương thông giữa Linh Giác TỔ TIÊN ĐẠI LINH HỒN VŨ TRỤ, với LINH THỨC TIỂU LINH HỒN CON CHÁU.
Bản Thể Linh Giác, NƯỚC tối cao vũ trụ, bản thể đại đồng, công bằng, bình đẳng, độc lập tự do, thì linh thể LINH THỨC BỌT NƯỚC, cũng có thể tánh của nước, thành chủng tánh của bọt nước, chủng tánh đại đồng, công bằng, bình đẳng, độc lập tự do.
Nhân loại hướng về ĐẠI ĐỒNG, hướng về CÔNG BẰNG, hướng về BÌNH ĐẲNG, hướng về ĐỘC LẬP, hướng về TỰ DO, chính là hướng về CỘI NGUỒN. Lần lần hội nhập Cội Nguồn theo Hiến Tạng, Pháp Tạng, Luật Tạng tối cao vũ trụ, ẨN TÀNG trong mỗi linh hồn con người.
(xem Long Hoa Thiên Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn)

2. Cha Trời, Mẹ Trời là ai?
ĐỨC KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN, hiện thân ra con người, tức là ĐỨC CHA TRỜI, ĐỨC ĐỊA MẪU MẸ TRỜI, sanh con đẻ cái lưu truyền nòi giống con người. Để cho con cháu cai quản trông coi Thế Giới Vũ Trụ do mình sáng tạo lập ra.
Điều đáng nói ở đây, TỔ TIÊN hiện thân ra đức CHA TRỜI, MẸ TRỜI, bằng cách nào, khi bản thể pháp thân Linh Giác Tổ Tiên là pháp thân linh giác Vô Vi không có tướng hình.
TỔ TIÊN muốn hiện thân ra Đức Cha Trời, Đức Địa Mẫu Mẹ Trời. Tổ Tiên phải dùng đến ý niệm thần thông qua thần lực. Tóm thâu, tiên thiên chơn dương tinh hoa vũ trụ, giống như lực nam châm hút lấy, sắt, thép, kẽm, chì, mà không cần dùng đến tay, chân, gì cả.
TỔ TIÊN dùng ý niệm thần thông qua thần lực, tóm thâu tiên thiên CHƠN DƯƠNG tinh hoa vũ trụ, hiện thân ra Đức Cha Trời 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp cốt Rồng hào quang rực rỡ. ĐỨC CHA TRỜI hay còn gọi là CHÚA TRỜI, TỐI CAO THƯỢNG ĐẾ.
TỔ TIÊN lại tiếp tục dùng ý niệm tóm thâu tiên thiên CHƠN ÂM, tinh hoa vũ trụ, hiện thân ra Đức Mẹ Trời, Địa Mẫu 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp cốt Tiên hào quang rực rỡ.
– Tên tộc bí danh của Đức Cha Trời là LONG HOA.
– Tên tộc bí danh của Đức Mẹ Trời là TIÊN CƠ.
– Uy danh của Đức Cha Trời là ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI.
– Uy danh của Đức Mẹ Trời là ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI.
– Tên khi đã có con của Cha Trời là LẠC LONG QUÂN.
– Tên khi đã có con của Mẹ Trời là ÂU CƠ.
Đức Cha Trời Lạc Long Quân và Đức Địa Mẫu Mẹ Trời Âu Cơ là Chánh Thân – Chánh Mẫu, hiện thân của Đức Tổ Tiên. Ba ngôi TỐI CAO CỦA VŨ TRỤ. Còn Phụ Thân, Phụ Mẫu, cha mẹ hiện tiền là hai bậc sanh thành, tiếp nối lưu truyền nòi giống con người.

3. Quốc Tổ Hùng Vương là ai?
NGUỒN GỐC TIỀN THÂN QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG
Đức Quốc Tổ Hùng Vương chính là Đức Giáo Tổ, Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống trần, là một trong trăm người con của Địa Mẫu ÂU CƠ và Cha Trời LẠC LONG QUÂN, sanh ra tại dãy núi Long Hoa, chốn Hồng Trần, cách đây 75 triệu 600 nghìn năm, giữa tiểu kiếp thứ 5. Một trăm người con của Đức Cha Trời LẠC LONG QUÂN và Địa Mẫu ÂU CƠ hiện đang làm Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Chúa, Mẫu Hoàng, Phật Mẫu, Tiên Mẫu, Thánh Mẫu cai quản khắp tầng Trời, Tam Thiên Đại Thiên vũ trụ. Đức Giáo Tổ Chí Tôn là anh cả, theo di chí Tổ Tiên, làm theo lời dạy của Đức Cha Trời.
Cho đến cách đây hơn năm nghìn năm, nơi tầng Trời thứ 11 trung Thiên Giới, nơi tầng Trời Thiên Vân, cõi Long Vân, Đức Giáo Tổ Chí Tôn ra khỏi Thiên Cung nhìn về chốn trần gian, trong lòng bỗng nhiên hồi hộp, một chuyện lạ chưa từng có, không hiểu chuyện gì sắp xảy ra. Thời thấy vũ trụ bỗng nhiên tối đen như mực, cuồng phong nổi dậy ù ù, tiếng gào thét kêu la thật thảm thiết. Đức Chí Tôn suy nghĩ, đây là cuồng phong chốn nhân gian, tiếng gào thét kêu la từ Địa Ngục sao lại bay lên tới tận Trung Thiên nơi này hay là Đức Cha Trời có điều chi dạy bảo, đang suy nghĩ, thời thấy Chư Thiên nhiều vô số vô biên lâm phàm, bị vô minh vây phủ, không trở về Trời được nữa, không biết bao nhiêu là Chư Thiên rơi luôn xuống Địa Ngục âm phủ thống khổ vô cùng.
Đức Chí Tôn thở dài, bỗng chốn hư không Ba Đạo hào quang, kéo theo hàng loạt tiếng sấm lớn, tức thời màn đêm từ từ biến mất. Vũ trụ giờ đây đã trở lại yên bình, hiện ra vô số hoa sen báu, sau đó thời biến mất. Biết Đức Cha Trời có điều muốn dạy, Đức Chí Tôn liền chấp tay vái lạy chốn hư không khấn rằng. Thưa Đức Cha Trời, hiện tượng vừa hiện ra nơi vũ trụ, con đây chẳng rõ, vừa mừng vừa lo. Xin Đức Cha Trời dạy bảo cho con hiểu.
Lời khấn vái của Đức Chí Tôn xong, thời nơi chốn hư không phát ra tiếng nói. Này A DI ĐA con là anh cả trong 100 người con của ta, nay ta giao cho con việc lớn. Tiểu kiếp thứ 9 sắp kết thúc, chuyển sang tiểu kiếp thứ 10. Con đem Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ truyền xuống chốn nhân gian, mở đường đưa nhân loại về Trời. Qua khỏi sông mê đến bờ giác, mùa gặt hái linh hồn đã đến. Nhân loại tu luyện tiến hóa Linh Hồn đã trải qua 16 triệu 800 nghìn năm, thời kỳ trình độ dân trí tiến hóa lần đến chỗ chí cao. Nhân loại cần có đường để về Trời, tiến lên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Còn những Linh Hồn chậm tiến sẽ ở lại chốn nhân gian, tiếp tục đầu thai chuyển qua tiểu kiếp thứ 10, tiếp tục tu luyện chờ mùa gặt sau.
Nơi chốn hồng trần dãy núi Long Hoa, sau một thời gian sụp lở đã thấp xuống, gãy khúc lổm chổm tạo ra núi non trùng điệp. Nay mực nước biển đã xuống thấp, Địa Long đã lộ ra, dọc theo bờ biển từ Nam cho tới Bắc. Con hãy đầu thai xuống chốn nhân gian, sanh vào dòng dõi KINH DƯƠNG VƯƠNG, lớn lên dùng gươm trí huệ, hàng phục ma quân, đại quỷ yêu quái, hàng phục Thần Giáo lập lên Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ, Đất Nước Văn Lang. Đóng đô ở Đầu Địa Long hình chữ S. Con phải đầu thai ba lần con mới làm xong sứ mệnh.
Lần thứ nhất: Con đem Thiên Ấn Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ xuống nhân gian, lập lên Nền Quốc Đạo Tiên Rồng. ẤN TRUYỀN xuống con cháu thay nhau gìn giữ. Nhưng không bao lâu thời Thiên Ấn thất truyền, con cháu Tiên Rồng nhân loại con người phàm trở lại rơi vào cảnh tối tăm. Cho nên con phải đầu thai lần thứ 2.
Lần thứ hai: Không phải đầu thai làm con Quốc Vương trở thành Thái Tử Điện Hạ, quyền thế uy nghi mà đầu thai vào gia đình trung nông bình thường, mồ côi mồ cút, sống trong cảnh chiến tranh loạn lạc, thiếu ăn thiếu mặc, lang thang khắp chốn, rồi trở thành cư sỉ ẩn dật, chịu nhiều khảo đảo của ác Ma và ác Quỉ, gian truân khốn khổ trăm bề suốt 30 năm. Lúc này nhân loại trên đà văn minh vật chất cao, đã chế tạo ra giấy bút mực tinh xảo, đầy đủ nhân duyên cho con để lại cả ẤN lẫn BÚT. Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ lại tiếp tục ra đời, Long Hoa Hội tiếp tục khai mở. Kinh luân lưu truyền đến tiểu kiếp thứ 15 thời mãn. Thời Long Hoa kéo dài 84 triệu năm, chuyển sang giai đoạn Liên Hoa Hải Tạng.
Lần thứ ba: Con đầu thai xuống chốn nhân gian, giữa tiểu kiếp thứ 10, làm Chuyển Luân Thánh Vương, xuất gia tu hành, làm tổng trì cho Tổ Tiên Khai Hóa, thay Cha Trời, Địa Mẫu chuyển Đại Pháp Luân. Thị hiện Bản Thể, Bất Cấu, Bất Tịnh, Bất Tăng, Bất Giảm, trong sạch, Bản Thể Đại Đồng, Tánh Đại Đồng, Tướng Đại Đồng, Trí Đại Đồng, quá khứ vị lai cũng chỉ là một. Thọ ký cõi nước trang nghiêm cho những người có công lớn trong Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ.
Đức Cha Trời truyền dạy xong, nơi không trung bỗng nhiên ba Đạo Hào Quang hiện ra chiếu xuống đầu Đức Chí Tôn, tức thời nhục kế trên đỉnh đầu Đức Chí Tôn liền trong suốt hóa thành gươm Thiên vũ trụ. Trí Huệ của Đức Cha Trời, thần thông trí huệ quảng đại vô biên.
* * *
Quốc Tổ Hùng Vương: (Cao Hùng Lan) là Chí Tôn Thiên Đế, con cả trong 100 người con của Đức Cha Trời đầu thai xuống trần, dựng nước Văn Lang, mở ra Văn Hóa Cội Nguồn, Nền Quốc Đạo Tiên Rồng, theo Thiên Ý của Đức Cha Trời, nên Quốc Tổ có quyền năng vô hạn.
– Sinh ngày 20 tháng 02 năm Giáp Thìn tức vào năm 2989 trước công nguyên.
– 16 tuổi Quốc Tổ đi tìm chân lý cứu nhân độ thế. Quốc Tổ mất 6 năm thiền định để tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn.
– 22 tuổi Quốc Tổ chuyển đại pháp luân khai hội Long Vân tại
Vườn Cấm nước Xích Quỷ vào ngày 02 tháng 03 năm Ất Sửu.
– 25 tuổi Quốc Tổ dẫn quân Âu Lạc tiến về đất Lãnh Nam vào năm Mậu Thìn. Khai dựng lên nước Văn Lang, cũng như Bách Việt Văn Lang.
– 30 tuổi Quốc Tổ lên ngôi Quốc Vương vào ngày 02 tháng 09 năm Quí Dậu. Cũng như công bố nền Quốc Đạo Văn Hóa Tiên Rồng ra đời.
– Năm 41 tuổi Quốc Mẫu Phụng Cơ sanh Hùng Quí Lân.
– 109 tuổi Quốc Tổ truyền ngôi cho con cả là Hùng Quí Lân 2880 năm Nhâm Thìn trước công nguyên.
– 79 năm Quốc Tổ ở ngôi dựng nước.
– 3 năm ở ngôi Thái Thượng Hoàng Giáo Tổ Quốc Đạo.
– 112 tuổi Quốc Tổ về Trời vào ngày mùng 10 tháng 03 năm Ất Mùi
– Năm 2959 trước công nguyên. Nhà Nước Văn Lang chính thức ra đời.
(xem Long Hoa Mật Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn)
Đức Chí Tôn Thiên Đế, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương, Long Hoa Giáo Tổ, Phật Di Lặc, tuy nhiều danh xưng ở những ngôi vị kiếp sống khác nhau nhưng cũng chỉ là một.
Quốc Tổ Hùng Vương để lại 2 di sản quý cho dân tộc Việt Nam nói riêng và nhân loại thế giới nói chung.
1. là Non Sông đất nước Việt Nam chính là khai mở địa long của nhân loại con người, nơi cái nôi của nhân loại con người ra đời: 5 màu da anh em trở về Nguồn Cội.

2. là Văn Hóa Cội Nguồn chính là khai mở tâm điền của nhân loại con người, dân tộc Việt Nam nói riêng và 5 màu da anh em nói chung đều trở về Nguồn Cội. Nhân loại con người sống theo Thiên Quyền Nhân Chủ. Nền Văn Hóa Tối Cao của nhân loại.

Những kẻ hủy báng Quốc Tổ sẽ bị giảm tuổi, lại gặp bao điều xui rủi, Thần, Thánh, Phật, Tiên không độ mạng, con cháu sanh nghịch tử.
Những người trước đây không hiểu nên đã phạm tội. Nên Long Thần Hộ Pháp, Thần Thánh còn tha thứ. Đã gặp lời Kinh dạy rồi mà còn vi phạm, dù là người ngoại quốc cũng không tránh khỏi đại họa, huống chi là con cháu Tiên Rồng. Chỗ nào cũng Trời, chỗ nào cũng Đất, Thiên La Địa Võng tránh đâu cho thoát.
Tổ Tiên ta thường dạy, dù con cháu có đi đến đâu, nơi đâu, chân trời góc biển cũng mang triết lý lời dạy Ông Bà Tổ Tiên đến đó để thờ phụng, giữ gìn Văn Hóa Cội Nguồn đừng để mất. Lời dạy ấy đã thấm nhuần trong tim của người dân Đại Việt, vì vậy con cháu Đại Việt đi đến đâu, thì đền thờ Cha Trời Lạc Long Quân, đền thờ Địa Mẫu Âu Cơ, đền thờ Hùng Vương đến đó. Dù là ở nước ngoài cũng thế, huống chi là trong nước, có như vậy mới xứng đáng là Con Lạc Cháu Hồng, Con Rồng Cháu Tiên.

Cây có Cội nước có Nguồn
Con Chim có Tổ con người có Tông
Mất đi Nguồn Gốc Tiên Rồng
Như cây mất Gốc, như sông mất Nguồn.

4. Vì sao Đức Long Hoa Cha Trời, còn gọi là Cửu Huyền Thất Tổ?
Chữ CỬU là chín, TỔ TIÊN hiện thân ra con người CHA TRỜI, MẸ TRỜI, có chín khiếu: Hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng, lỗ tiểu, lỗ tiện. Chín khiếu thông thương khắp vũ trụ.
Còn chữ HUYỀN, là nói đến thân người là tinh hoa vũ trụ thu nhỏ, tiểu thiên vũ trụ, không khác gì đại thiên vũ trụ, con người là động vật tối linh của trời đất. HUYỀN LINH không động vật nào linh bằng. Như vậy hai chữ Cửu Huyền là có ý nghĩa như trên.
THẤT TỔ là nói đến CHA TRỜI CỬU HUYỀN khai ra THẤT GIÁO:
1) PHẬT GIÁO, 2) THÁNH GIÁO, 3) TIÊN GIÁO, 4) CHÚA GIÁO, 5) THẦN GIÁO, 6) NHƠN GIÁO, 7) THẦY GIÁO.
Bảy đại giáo nầy, CỬU HUYỀN CHA TRỜI sáng lập truyền xuống nên gọi là Cửu Huyền THẤT TỔ.
TỔ TIÊN KHAI HÓA, HIỆN THÂN RA CHA TRỜI, CỬU HUYỀN THẤT TỔ, hay còn gọi là Chúa Trời ĐẤNG CHA LÀNH ĐỘC TÔN VÔ NHỊ, TỐI CAO VŨ TRỤ.
Ở PHẬT GIÁO có vô lượng PHẬT TỔ,
Ở THÁNH GIÁO có vô lượng THÁNH TỔ,
Ở TIÊN GIÁO có vô lượng TIÊN TỔ,
Ở THẦN GIÁO có vô lượng THẦN TỔ,
Ở THIÊN GIÁO có vô lượng CHÚA TỔ,
Ở ĐỊA GIÁO có vô lượng ĐỊA TỔ (ông Tổ của các ngành nghề),
Ở NHƠN GIÁO có vô lượng THẦY TỔ,
Tuy bảy giáo nhưng thật ra chỉ có một Ông Tổ Tối Cao đó là Đức CHA TRỜI, bảy nhánh chung cùng một Cội.

5. Hồn Thiên Dân Tộc là ai?
Như chúng ta đã biết, những ai có Huệ Nhãn đều thấy rõ thế giới Tâm Linh. Từ khi lập nước Văn Lang đến bây giờ trải qua năm nghìn năm, Nhà nước Văn Lang vẫn tồn tại trong thế giời Vô Hình. Những Vương, Quan anh linh chưa về Trời vẫn thống lãnh cai quản Hồn Thiên Dân Tộc tới bây giờ. Quốc Tổ Hùng Vương là chủ anh linh Hồn Thiên Dân Tộc hơn năm nghìn năm Văn Hiến. Hồn Thiên Dân Tộc đông vô số vô biên không thể tính đếm cho hết được.
Người không vi phạm Thần Linh, thì Thần Linh không hại người. Người tôn trọng Thần Linh, thì Thần Linh phù hộ người. Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang. Luôn phù hộ cho Dân Tộc Bách Việt Văn Lang.
Chỉ khi nào Con Cháu Tiên Rồng quên Cội quên Nguồn. Không nghĩ gì đến Truyền Thống Anh Linh Ông Cha. Thì sự Linh Hiển không còn nữa. Đối với Thế Hệ con cháu Bất Trung, Bất Hiếu. Thời tai họa thường ập xuống. Khó mà thoát khỏi Quỷ xơi, Ma nuốt rơi vào cảnh Nô Lệ.
Đến khi nào con cháu Rồng Tiên trở về Cội Nguồn. Tưởng nghĩ đến Truyền Thống Anh Linh Ông Cha. Thì Khí Thiên Sông Núi trổi dậy. Hồn Thiên Dân Tộc phù trì bảo bọc che chở, tai qua nạn khỏi. Văn minh trở lại, tỏa sáng rực rỡ. Dân giàu, nước mạnh an vui hạnh phúc.
Hữu hình trần gian bao thời đại thay đổi, hết triều đại này đến triều đại khác, hết chế độ này đến chế độ khác nhưng nhà nước Văn Lang ở cõi Vô Hình không gì thay đổi. Chế độ Nhà Nước Cộng Sản, Quốc Gia chỉ ở cõi đời mà thôi. Khi chết đi linh hồn Cộng Sản, Quốc Gia nhập vào Hồn Thiên Dân Tộc, dưới sự cai quản điều hành Nhà Nước Vô Hình Văn Lang.
Nhà Nước Vô Hình Văn Lang đang điều khiển Hồn Thiên Dân Tộc hằng hà sa số bảo hộ Kinh Luân. Những người hủy báng kinh luân thì không tránh khỏi BỊ TAI HỌA GIÁNG XUỐNG, thậm chí sẽ BỊ HỒN THIÊN DÂN TỘC SÁT HẠI. Dù cho đó là ai Bí Thư, Chủ Tịch, Tổng Thống cũng bị tai họa như thường. Con Cháu Tiên Rồng Việt Nam hãy nhớ kĩ những lời nói trên. Còn những thiện nhân tri thức phát tâm đọc tụng, biên, chép, truyền bá cho người. Phước đức người nầy không biết đâu mà lường.
+ TRÊN ĐẦU CÓ CHA MẸ TRỜI PHÙ HỘ
+ ĐI ĐỨNG NẰM NGỒI ĐỀU CÓ PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA CHE CHỞ.
+ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG BẢO BỌC
+ HỒN THIÊN DÂN TỘC PHÙ TRÌ,
+ VƯỢT QUA TẤT CẢ KIẾP NẠN. LÀM GÌ CŨNG THUẬN BUỒM XUÔI GIÓ. CON CÁI HIỂN ĐẠT CÔNG DANH.
Nền Quốc Đạo Tâm Linh Văn Lang linh thiêng, hiển linh kỳ lạ. Cộng với Địa Linh Địa Cầu. Nhất là Địa Long hình chữ S, Nam Văn Lang (NAY LÀ ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM). Các thế lực ngoại xâm khiếp sợ trước sự linh thiêng kỳ bí nầy. Nên ra sức ếm, yểm. Không từ một thủ đoạn nào. Sự ếm, yểm kéo dài hết lần ngoại xâm nầy, đến lần ngoại xâm khác, hàng trăm năm. Vì thế nền Quốc Đạo Tâm Linh Văn Lang giảm đi sự linh thiêng, hiển linh. Dân Tộc Văn Lang phải chịu rơi vào kiếp nạn hơn hai nghìn năm mới hết. Đến khi Thiên Ấn, Thiên Bút ra đời. Thì nền Quốc Đạo Tâm Linh Văn Lang Tỏa Sáng, triển khai thi hành mệnh lệnh Thiên Ấn Thiên Bút. Phán Xét Phân Xử hành sự theo Thiên Ý Luật Tạng Vũ Trụ. Do Đương Kim Vũ Trụ Quốc Tổ Vua Hùng Tái Sanh Chuyển Xoay.
Như những gì đã viết trong Kinh:
+ ĐỌC ĐƯỢC NHỮNG LỜI KINH NẦY THÌ CON CHÁU TIÊN RỒNG PHẢI ĐỀ PHÒNG SỰ ẾM YỂM CÁC LINH HUYỆT (tức là Địa Cuộc quan trọng của Đất Nước từ Bắc vào Nam hình chữ S)
+ CŨNG NHƯ KHƠI DẬY TRUYỀN THỐNG ANH LINH CỘI NGUỒN.
Thì nhất định Dân Tộc Tiên Rồng Việt Nam sẽ nở hoa sang giàu cũng như anh linh văn minh nhất thế giới. Đưa dân tộc Việt Nam tỏa sáng khắp năm châu bốn biển. Gươm thiên trấn quốc, độc lập tự do, thái bình an lạc muôn năm. Mùa xuân mãi mãi nở trong lòng người, xuân giàu sang, xuân hạnh phúc trên khắp đất nước quê hương.

Hình ảnh: THIÊN ẤN – Quả Tim Vũ Trụ thu nhỏ

B69ADCA2-0F9E-4E5A-938D-5D85AFE31C8643027524_312903166205783_698714896145055744_n18741343_1683072678377285_985790683_n

6. THIÊN ẤN LÀ GÌ?

a) Chú giải Thiên Ấn
1, Thiên Ấn là Bảo Vật Tối Linh Vũ Trụ
2, Ấn Linh Vũ Trụ thu nhỏ
3, Nhìn thấy Ấn Linh, coi như đã thấy tổng thể mầu nhiệm Vũ Trụ, tương thông với ba ngôi Tối Cao Vũ Trụ. Tổ Tiên Tạo Hóa Như Lai, Cha Trời, Mẹ Trời.
4, Những điều tối linh, cũng như sự tối may mắn, tối quyền năng, đều ẩn tàng hết trong Thiên Ấn.
5, Thiên Ấn là Quả Tim Vũ Trụ thu nhỏ, nhịp đập sự sống đem lại sự bình yên cho nhân loại toàn Vũ Trụ. Quả Tim Đại Đồng nhân loại Trần Gian và Chư Thiên.
I – Bản thể Cội Nguồn Tối Cao Vũ Trụ là Bản Thể Trường Sanh luôn tạo ra nhịp đập sự sống Vũ Trụ. Sự Sống của Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Sự sống của Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Sự Sống Thiên Hà, Ngân Hà, Nhật, Nguyệt, Tinh Tú, cũng như Thiên Địa Càn Khôn. Quả Tim vận động Tuần Hoàn Vũ Trụ.
– Bản thể sự sống Vũ Trụ ấy đã được thu nhỏ thành Thiên Ấn Vũ Trụ.
– Tổng Thể Thiên Ấn, chính là Quả Tim nhịp đập Vũ Trụ. Liên thông đến tất cả sự sống toàn Vũ Trụ. Từ Quả Tim Vũ Trụ tạo ra vô số sự sống quả tim lớn, nhỏ, như hạt bụi vô tận.
– Quả Tim Thiên Ấn hình Cơ. Quả Tim Huyền Cơ, Quả Tim Cơ Cảm, Quả Tim Cơ May. Quả Tim Thiên Cơ, Quả Tim Tâm Địa Vũ Trụ nẩy mầm lên tất cả sự sống. Tương Thông Quả Tim Mẹ Trời Địa Mẫu Âu Cơ. Quả Tim của sự chân thật, yêu thương lòng Mẹ Âu Cơ.
II – Quả Tim Thiên Ấn được phân làm hai phần. Bên Âm – bên Dương, mỗi bên đều có 9 chấm, tượng trưng cho chín khiếu Vũ Trụ, chín khiếu bên Âm, chín khiếu bên Dương.
Chín khiếu lưu thông toàn Vũ Trụ, nên gọi là Cửu Huyền, Một bên là Cửu Huyền Cha Trời, một bên là Cửu Huyền Địa Mẫu Mẹ Trời. Chín khiếu Vũ Trụ tương thông đến chín khiếu con người. Hai Mắt – Hai Tai – Hai Lỗ Mũi – Lỗ Miệng – Lỗ Tiểu – Lỗ Tiện.
Âm – Dương tương hiệp, vạn vật hóa sinh, lúc nhúc muôn ức vạn hình tạo lên sự sống khắp cùng Vũ Trụ.
Như Vậy: Những ai may mắn nhìn thấy Quả Tim Thiên Ấn Vũ Trụ, mà không có sự thất kính, lại mến mộ thì coi như đã gặp vạn sự may mắn, tiêu tan vô lượng tội lỗi. Đạo Bùa Tối Linh Vũ Trụ.
III – Trong Quả Tim Thiên Ấn là Hình Người, biểu tượng Thập Tự, kéo dài xuống thành Thập Tự Giá. Biểu tượng Hình Người, con người là trung gian giữa Trời và Đất. Đầu đội Trời, chân đạp Đất. Làm chủ cả Thiên – Địa càn khôn. Quyền năng vô tận vô biên, quyền năng điều hành Vũ Trụ. Làm chủ Vũ Trụ.
Hình Nhân Thập, trong quả Tim Vũ Trụ. Có năm ngôi thứ tự từ trên xuống dưới.
1, là Ngôi Tổ Tiên Như Lai Tạo Hóa.
2, là Ngôi Cửu Huyền Cha Trời, Mẹ Trời.
3, là ngôi Ông Bà từ Ông Bà cao cho đến Ông Bà thấp gần nhất.
4, là ngôi Cha Mẹ phụ thân, phụ mẫu.
5 là ngôi con cháu. Kế ngôi con cháu là Đạo Vuông, Tròn.
Để hiểu rõ thứ tự của 5 ngôi từ Tổ Tiên xuống con cháu, câu Thánh Chú như sau:

Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên
Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao
Sanh ra nhân loại Con Người
Ông – Bà, Cha – Mẹ, đến thời Chúng Con
A Men.

Cầu ngôi nào thời bấm vào ngôi ấy trong hình thập tự giá có 5 ngôi từ trên xuống dưới.
IV – kế theo sau ngôi con cháu, là Đạo Hạnh con người, Đạo Vuông, Tròn. Đạo thờ Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời. Trong lễ hội Đền Hùng, bánh dày, bánh chưng, Vuông, Tròn tượng trưng cho Trời và Đất.
V – Hình Thập Tự Giá có biểu tượng hình người, một tay chỉ Trời, một tay chỉ Đất. Nói lên trong Trời, Đất con người là trên hết, chủ nhân của muôn loài vạn vật. Thay thế Trời Cha chủ quản giang san Vũ Trụ.
VI – Con Người là trung gian giao cảm giữa Thiên và Địa, quyền năng vô tận tột cùng. Con số tham Thiên lưỡng Địa là con số 5, con số Trung Ương của Tạo Hóa.
Như vậy Thiên Ấn Vũ Trụ gồm đủ Vô Cực, Thái Cực, Lưỡng Nghi, Âm – Dương, Tứ Tượng, Bát Quái, Ngũ Hành, bộ máy Vũ Trụ. Trong đó hiện rõ hai con số, số 9 và số 5.
Số 9 là con số Cửu Huyền tương thông khắp cùng Vũ Trụ. Mà còn tương thông đến chòm sao, Thủy Diệu, Mộc Đức, không sức mà ăn mà hưởng.
Số 5 không những là con số tham Thiên lưỡng Địa Trung Ương, mà còn tương thông đến chòm sao Thái Dương, Thổ Tú. Vinh Hoa Phú Quý .
Thiên Ấn là cả Huyền Cơ Mật Tạng Vũ Trụ không thể giải cho hết sự mầu nhiệm cũng như uy quyền và sự may mắn. Tương thông hết thảy, nên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa Tôn thờ Thiên Ấn như tôn thờ Ba Ngôi Tối Cao Vũ Trụ.
VII – Thiên Ấn Vũ Trụ là Bùa Hộ Mạng Tối Cao trên tất cả Bùa Hộ mạng. Đeo Thiên Ấn vào người thì không Ma, Quỉ nào xâm nhập được. Dù là bằng chất liệu gì. Đã là con người thì ai cũng có quyền đeo Thiên Ấn, bảo bọc che chở, cầu đâu linh đó, tiêu tan nghiệp chướng, giải trừ kiếp nạn. Còn được Phong Ấn là một chuyện khác. Chỉ có Quốc Tổ mới có quyền Phong Ấn, Phong Ấn chính là Phong Thánh. Hoặc hội Đồng Thánh Đức mới có Quyền Phong Ấn.
* * *
b) QUYỀN NĂNG THIÊN ẤN
Những ai nhìn thấy Thiên Ấn Vũ Trụ, thành tâm sùng kính, hoặc cúng dường Thiên Ấn, thời liền tiêu tan vô lượng ức kiếp tội lỗi. Huống chi phụng lập tôn thờ, hoặc đeo trong người. Thì những người nầy lúc nào cũng có ba ngôi Tối Cao Vũ Trụ hộ độ phù trì. Không còn sa xuống Địa Phủ nữa, mãn kiếp trần gian siêu sanh Thiên Giới.
Những lợi ích của Thiên Ấn Vũ Trụ không bao giờ nói cho hết. Hãy thờ Thiên Ấn và đeo Thiên Ấn. Trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa con Trời, về Trời và làm chủ Vũ Trụ.
Thấy Ấn như thấy Trời Cha
Quyền năng Thiên Ấn tối cao tột cùng
Dù cho tai họa trùng trùng
Biến tan hết thảy không còn tiêu bay
Thấy Ấn như thấy Âu Cơ
Mẹ Trời che chở bến bờ bình yên
Thiên Ấn linh ứng vô biên
Chuyển xoay tất cả cứu nguy linh hồn
Dù cho sa đọa tam đồ
Bái lạy Thiên Ấn tức thời thoát ra
Cúng dường Thiên Ấn Như Lai
Muốn chi đặng nấy không sai tí nào
Mau thành Phật, Thánh, Tiên, Thần
Về Trời hưởng phước vĩnh hằng an vui
* * *

7. Nam Mô _ Amen nghĩa là gì?
Nam Mô _ Amen. Không phải của riêng Phật hay riêng Chúa. Mà là Cội Nguồn của Phật Giáo cũng như Thiên Chúa. Nam Mô: là chỉ cho bản thể Cội Nguồn, hư không Tối Cao Vũ Trụ Tổ Tiên Như Lai Tạo Hóa. Amen: là chỉ cho bản thể Như Ý Tạo Hóa Tổ Tiên Như Lai. Thần thông Như Ý, quyền năng Như Ý, khai lập vũ trụ Như Ý, Tạo Vật Như Ý, Linh Ứng Như ý. Nghĩa của A Men là như vậy.
Khi chúng ta cầu lên ba ngôi Tối Cao Vũ Trụ. Tổ Tiên Như Lai Tạo Hóa, Cha Trời, Mẹ Trời. Nam Mô _ Amen sẽ được Như Ý. Như vậy Nam Mô là cầu lên bản thể Tối Cao Vũ Trụ Tổ Tiên Như Lai Tạo Hóa, Amen là lời cầu nguyện được như ý.
Tóm lại: Nam Mô _ A Men là cầu nguyện lên Cội Nguồn, của Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nơi tối cao tối linh thiêng nhất Vũ Trụ. Sự cầu nguyện chân chính, nhất là sự cầu nguyện cứu nước cứu non, nhất định thành công. Hãy ĐỒNG LOẠT CẦU NGUYỆN đi, huyền cơ sẽ chuyển theo lời cầu nguyện của toàn dân, cũng như tập thể, cá nhân. Tất cả đều nằm trong ĐỨC TIN, NIỀM TIN của chính mình.
Sự cầu nguyện lên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa với Nam Mô _ A Men cũng linh nhưng không bằng cầu lên ba ngôi Bản Thể TỐI CAO VŨ TRỤ, TỔ TIÊN KHAI HÓA, CHA TRỜI, MẸ TRỜI. Cha Trời cũng chính là Chúa Trời. Niệm 4 chữ Nam Mô – A Men bằng niệm hằng hà sa số Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Không có gì lợi ích hơn là niệm Nam Mô – A Men trước và sau khi cầu nguyện, sẽ được Linh Ứng Như Ý.
NAM MÔ – A MEN.
• Nam Mô Khai Hóa Tối Thượng Tổ Tiên Vô Biên Như Lai (lạy)
• Nam Mô Long Hoa Cửu Huyền Thiên Phụ Ấn Quang Tối Thắng Như Lai (lạy)
• Nam Mô Tiên Cơ Đức Mẹ Địa Mẫu Dưỡng Sanh Như Lai (lạy)
• Nam Mô Đức Hư Không Tạng Diệu Không Vô Biên Như Lai (lạy)
 Cầu nguyện: Đức Khai Hóa Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, Đức Hư Không Tạng…..
NAM MÔ _ A MEN.

8. Ý nghĩa của lạy 4 lạy – bái 4 bái?
a. 4 lạy: Chỉ có bốn cấp trên đầu, trên cổ thiên hạ chúng ta, hay còn gọi là bốn ngôi.
1: Đó là Tổ Tiên Khai Hóa. Đấng tạo lập lên Vũ Trụ.
2: Là Hai Đấng Cửu Huyền Cha Trời Lạc Long Quân và
Địa Mẫu Âu Cơ.
3: Ông Bà Tổ chúng ta cũng như ông bà nhiều đời nhiều
kiếp, ông bà hiện tại.
4: Là Cha Mẹ sinh ra chúng ta song thân Phụ Mẫu.
Còn ta là ngôi số 5 ngôi con cháu. Chúng ta lạy bốn lạy là lạy bốn ngôi trên. Bên trong Thiên Ấn thể hiện thứ tự 5 ngôi này, từ trên xuống dưới.
b. 4 bái: Còn bái bốn bái.
1: Là ơn Đồng Bào.
2: Là ơn Tổ Quốc.
3: Là ơn Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
4: Là ơn Thầy, Cô dạy dỗ.
Nói chung 8 ngôi này là 8 ngôi Chí Thánh Chí Linh, công ơn như non như biển. Trong 8 ngôi ấy có 2 ngôi không thể nghĩ bàn. Đó là Ngôi Tổ Tiên Khai Hóa. Ngôi Cửu Huyền Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Hai ngôi này tuy 2 là 1, tuy 1 mà 2, có thể nói Tổ Tiên Khai Hóa khai tạo lập nên vũ trụ rồi hiện thân ra Đức Cha Trời, Đức Địa Mẫu để mà cai quản điều hành vũ trụ, sanh con đẻ cháu. Chánh Thân, Chánh Mẫu của nhân loại con người.

c. Hướng dẫn cách quỳ lạy:
Khi quỳ lạy, các vị gập lưng, cúi đầu của mình đặt vào 2 lòng bàn tay. Lúc này 2 lòng bàn tay đặt sát nhau, ngửa lòng bàn tay lên để nhận ân điển của Trời (như hình). Đây chính là một ấn pháp (ni pháp) thường được sử dụng trong khi cầu nguyện để nhận lại, nhận về thứ gì đó mà người khác hoặc các bậc bề trên cho mình. Khi sử dụng ni pháp này, nếu ngồi thì họ đưa tay ngang ngán. Còn khi quỳ lạy trong lúc làm lễ, quý vị để tay sát mặt đất rồi đưa trán úp vào.

2

Thiên hạ, một số người không hiểu nên họ úp lòng bàn tay xuống đất. Có nghĩa họ sử dụng ấn pháp của âm cảnh. Còn hễ lòng bàn tay ngửa lên là sử dụng ấn pháp của dương khí. Các vị giác ngộ họ đều hiểu được ý nghĩa này nên họ cũng để ngửa 2 lòng bàn tay. Thầy thấy trong những khoá lễ lớn hiện nay, nhiều người không hiểu nên thường đặt 2 tay cách xa nhau, người úp, người ngửa lòng bàn tay, rất lộn xộn.

9. SỰ RA ĐỜI CỦA CON NGƯỜI
(Xem Long Hoa Mật Tạng Kinh, Long Hoa Thiên Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn)
Đức Cha Trời cùng Đức Địa Mẫu, chọn lấy quả Địa Cầu Nam Thiện Bộ Châu. Quả Địa Cầu mà chúng ta đang sanh sống, làm nơi sanh sản con người trước nhất. Từ nơi chốn hư không trung tâm vũ trụ, Hai Đấng Tiên Rồng, Cha Trời, Địa Mẫu từ từ bay đến Trái Đất và đáp hạ xuống đỉnh núi Long Hoa, Long Hình Địa Cốt Trái Đất. Làm cho Trái Đất rung động. Chim muôn vạn thú kinh hoàng hoảng sợ, không biết điều gì đã xảy ra. Mây ngũ sắc bỗng nhiên xuất hiện. Dưới mặt đất muôn hoa chen nhau đua nở, cây cối khô héo lâu ngày bỗng đâm chồi nảy lộc xanh tươi trở lại. Sông suối khô cạn, tự nhiên nguồn mạch sung túc rốc rách chảy tuôn thấm nhuần mặt đất. Bầu Trời mát mẻ trong xanh, Nhật Nguyệt Tinh Tú thi nhau tỏa sáng. Dưới đất trên cây Phụng Hoàng nhảy múa. Rồng uốn khúc ngúc ngoắt vẫy đuôi, 8 muôn 4 nghìn loài như đi vào an lạc mới.
Từ nơi ngọn núi Long Hoa, muôn đạo hào quang tỏa lên rực rỡ, mang theo mùi hương thơm ngát. Loài Cầm Thú nào hít được thì không còn đói khát, như uống phải Cam Lộ, Linh Đơn. Linh Hồn phấn chấn như muốn bay bổng lên Trời. Các loài Cầm Thú có pháp thuật thần thông, thấy ngọn núi Long Hoa, muôn Đạo hào quang tỏa lên rực rỡ thì bốn phương tám hướng quả Địa Cầu, các loài Thần Thú, Thần Cầm lũ lượt bay đến làm cho ngọn núi Long Hoa trên không dưới đất chật nghẹt. Ngày hội của Thú Cầm.
Đây nói về Đức Cha Trời cùng Địa Mẫu đáp xuống ngọn núi Long Hoa gây ra chấn động Địa Cầu. Liền thâu nhỏ thân hình lại cao độ vài mươi trượng mà thôi. Đức Địa Mẫu Âu Cơ liền gồm thâu ngũ khí: Địa, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa ở bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc và Thổ khí linh truyền sâu dưới dãy núi Long Hoa để tạo thành phôi thai trăm trứng cùng trong một cái bọc to lớn trong bụng Đức Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ.
Núi Long Hoa là dãy núi hình Rồng, thu hút Tinh Hoa của Trời Đất hàng triệu triệu năm: Vô Cực, Lưỡng Nghi, Âm Dương gồm đủ, Tứ Tượng đủ đầy, Bát Quái chuyển xoay, Ngũ Hành, Địa Chi không thiếu, một trăm chi khí, trấn khắp ngũ phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung Uơng Thượng, Hạ.
Đức Địa Mẫu Âu Cơ tóm thâu Tinh Hoa, khí hóa Ngũ Địa của dãy núi, chân núi Long Hoa là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ kết tụ thành trăm trứng trong một bọc, trăm trứng vì vậy cũng chia thành năm màu da khác nhau.
Kim trứng da trắng. Mộc trứng da chàm. Thủy trứng da đen. Hỏa trứng da đỏ. Thổ trứng da vàng.
Sự hình thành phôi thai, dưỡng nuôi bào thai phải trải qua một thời gian khá lâu, đúng chu kỳ quy luật tự nhiên ở đỉnh cao tuổi thọ giữa tiểu kiếp thứ 5, con người sanh ra trung bình thọ 60 nghìn tuổi, yểu 40 nghìn tuổi, thọ 80 nghìn tuổi. Nên Địa Mẫu Âu Cơ phải mang thai 9 năm, 9 tháng, 10 ngày thời thai nhi mới phát triển đầy đủ, lục phủ ngũ tạng, sáu căn, chín khiếu hoàn hảo. Trở thành con người hài nhi (xác thân tiểu thiên vũ trụ), Tinh Cha, Huyết Mẹ, Tinh của Trời, Khí của Đất. Đức Địa Mẫu Âu Cơ đã mang thai trăm trứng. Sắp đến ngày khai hoa nở nhuỵ, nhân loại con người sẽ ra đời, chào đời, sắp đến giờ quan trọng ấy.
Đức Địa Mẫu Âu Cơ nói với Đức Long Hoa Cha Trời rằng: Này ông, giờ thì đến lượt ông, ông hãy gọi muôn loài Cầm Thú đến, để chúng đầu thai làm con người, làm con của chúng ta.
Đức Long Hoa Cha Trời nghe Địa Mẫu Âu Cơ nói thế tức thời từ nơi cửa miệng của Đức Long Hoa Cha Trời, trùng trùng điệp điệp lớp lớp hào quang tua tủa phóng ra, tạo ra vô số vô biên âm thanh vi diệu, truyền xa đến tận chân trời góc bể khắp quả Địa Cầu.
Chim muôn vạn thú là những con chúa tể đầu đàn nghe được âm thanh ấy liền cấp tốc lên đường đến nơi Cha Trời đang gọi. Lúc bấy giờ xa gần trên không, xa gần ở đỉnh núi Long Hoa. Lớp lớp mây ngũ sắc biến thành cây báu khổng lồ, các loài Cầm Thú khắp mặt Địa Cầu, loài ở động ở hang, loài ở rừng ở núi, loài ở cây ở đất, loài ở sông ở biển, loài ở tuyết ở lửa, thi nhau bay đến ngọn núi Long Hoa rợp trời rợp đất. Nhìn các loài Cầm Thú đông vô số vô biên, không thể tính đếm không thể nghĩ bàn, lớp ở mặt đất, lớp ở trên cây báu, lớp ở trên không, Chúa Tể của loài bò sát, Cầm Thú đều có mặt.
Các loài Thần Thú, Thần Cầm thấy hai Đấng Tiên Rồng, cao lớn kỳ lạ. Hào quang sáng rỡ muôn màu muôn sắc. Xinh đẹp tôn nghiêm. Nhưng rất hiền lành, có loài bạo dạn đến gần để nhìn cho rõ.
Địa Mẫu Âu Cơ thấy Chúa Tể của muôn loài đến đông đủ, toàn thân của Địa Mẫu Âu Cơ, trỗi dậy vô lượng mùi hương lan tỏa khắp, muôn loài Cầm Thú, Bò Sát chỉ cần hít vào, không những hết đói khát cả tháng mà Linh Hồn cũng sáng suốt minh mẫn lạ thường, nhạy cảm vô biên.
Nhất là loài Rồng, loài Phụng, loài Khổng Tước, loài Kỳ Lân, loài Voi, loài Sư Tử, loài Ngựa, Trâu, Dê, Chó, Mèo v.v… Đức Long Hoa Cha Trời thấy chúng nó đã hít huệ hương, trí hương, giác hương, giới hương, định hương, thiện hương, dũng hương, tín hương, nghĩa hương, lễ hương, nhẫn hương, xả hương, nhịn hương, nhục hương, lạc hương, thiên hương v.v.. Liền dùng trăm nghìn muôn ức hào quang phát ra muôn vạn âm thanh vi diệu, cùng một lúc thuyết giáo nói chuyện với muôn nghìn chủng loại Cầm Thú, Bò Sát.

LỜI TRUYỀN DẠY CỦA ĐỨC CHA TRỜI :
Hỡi các loài Cầm Thú, các loài Bò Sát, ta đây là Đấng Chúa vũ trụ, Đấng tạo lập lên tất cả. Nay ta gọi các ngươi đến đây nói rõ các ngươi từ đâu có ra thì các ngươi phải hiểu để biết đường trở về, thoát khỏi cảnh luân hồi sanh tử, thoát khỏi cảnh ngu si khốn khổ. Khi xưa ta tạo ra Lực, Khí, Lửa, Nước, Đất Ngũ Đại vũ trụ. Thành lập Tam Thiên, Đại Thiên thế giới, ba cõi vật chất Thiên Đàng, Trần Gian, Âm Phủ. Tạo ra Nhật, Nguyệt, Thiên Hà, Ngân Hà, Tinh Tú, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ sau cùng là 4 quả Địa Cầu. Thì ta cũng đã quá mệt nên đi vào giấc ngủ say sưa. Ta có một cái tánh đặc biệt, khi ta thức thì pháp thân ta Quang Minh, nhưng khi ta đi vào giấc ngủ say sưa, không kiểm soát được pháp thân của ta nữa. Pháp thân ta liền trở thành vô minh, xâm nhập vào thế giới vật chất.
Khởi tưởng phân biệt bám lấy vật chất, từ bản thể linh giác Thấy, Nghe, Hay, Biết tự nhiên của ta, nẩy sanh khởi tưởng phân biệt, tức thời thân ta một phần lớn bể ra từng mảnh nhỏ, nhiều vô số vô biên không thể tính đếm, không thể nghĩ bàn như vô số vi trần cát bụi vô tận vô biên. Những mảnh bể Linh Hồn đó đã trải qua vô lượng vô biên số kiếp, tiến hóa ý thức, những mảnh Linh Hồn đó chính là Linh Hồn của các ngươi.
Linh Hồn của các ngươi ví như bọt nước, còn Linh Hồn của ta ví như nước. Bọt nước từ nước sanh ra nhưng bọt nước không biết Cội Nguồn của mình là nước. Ta là Đại Linh Hồn vũ trụ còn các ngươi là Tiểu Linh Hồn vũ trụ. Tiểu Linh Hồn từ Đại Linh Hồn mà ra nhưng Tiểu Linh Hồn các ngươi không biết đường về, bởi vì các ngươi sanh ra mang theo cái tánh vô minh ấy của ta, trở thành tánh ngu si của các ngươi, cũng từ cái tánh ngu si này, dẫn dắt các ngươi đến con đường hung ác, con đường Dục Vọng, cấu xé ăn nuốt lẫn nhau và mãi mãi trong thống khổ, dục vọng điên cuồng.
Không những các ngươi khốn khổ trong cuộc sống sát phạt, ăn nuốt lẫn nhau mà còn khốn khổ trong sanh tử luân hồi đọa đầy khắp nẻo. Khốn khổ trong bộ mấy tuần hoàn vũ trụ, Thành, Trụ, Hoại, Không. Linh Hồn các ngươi phải chìm đắm trong lạnh lẽo, tối tăm ở kiếp Không hàng trăm triệu năm.
Linh Hồn của ta ví như nước, Linh Hồn của các ngươi là bọt nước. Bọt nước với nước chính là một không phải hai, mà là hai vì Linh Hồn của các ngươi là bọt nước còn Linh Hồn của ta là nước mà thôi. Nước không xa rời bọt nước, chính bọt nước không biết đấy thôi, Linh Hồn bọt nước của các ngươi đang sống trong Đại Linh Hồn vũ trụ nước của ta vì bọt nước và nước không tách rời nhau, nếu bọt nước tách rời khỏi nước thì bọt nước sẽ bị hủy diệt. Linh Hồn của các ngươi cũng vậy, nếu tách rời khỏi Đại Linh Hồn vũ trụ của ta thì Linh Hồn các ngươi sẽ bị hủy diệt ngay. Các ngươi nghĩ gì, làm gì ta đều nghe thấy tất cả, cũng giống như cá sống trong nước, cá làm gì, nghĩ gì nước đều thấy rõ.
Thân xác của các ngươi là thân xác Cầm Thú, Bò Sát khó mà tiến hóa lên được nữa, Linh Hồn của các ngươi mãi là Linh Hồn Cầm Thú, Bò Sát, đầu thai qua lại ăn nuốt sát phạt, trả quả cho nhau khổ mãi không ngừng.
Các ngươi nên nhân cơ hội này xả bỏ xác thân Cầm Thú, Bò Sát, Linh Hồn đầu thai vào loài người, một thể xác cao cấp thể xác Tiểu Thiên vũ trụ. Không những Linh Hồn các ngươi tiến hóa rất nhanh trí huệ vô tận, nhờ thân xác con người các ngươi tiến tới làm chủ được mình, làm chủ vũ trụ, không những các ngươi thoát khỏi loài Thú, Cầm, Bò Sát, ngu si đần độn. Mà các ngươi còn được làm người đứng thẳng, đầu đội Trời chân đạp Đất, làm con của ta, thoát khỏi ngu si đần độn, các ngươi sẽ thay ta, trông coi vũ trụ, đầy đủ Thần Thông trí huệ, phước báo pháp lực vô biên, tạo lập lên thế giới Thiên Đàng Cực Lạc, sống mãi không chết, thoát khỏi Sanh, Lão, Bệnh, Tử.
Loài nào đầu thai làm người trước, loài đó sẽ ở ngôi vị Chí Tôn, làm đàn anh của loài người và tiếp theo ngôi vị sẽ phân theo thứ lớp.
Khi Đức Long Hoa Cha Trời thuyết giáo xong, liền có 100 Thần Thú, Cầm, Bò Sát là những Chúa Tể đứng đầu. Thú, Cầm, Bò Sát vui mừng khôn xiết liền xả bỏ thể xác, đầu thai nhập vào bụng Mẹ Âu Cơ.
• Chúa Tể loài Rồng xả bỏ thân xác nhanh chóng, đầu thai trước nhất ở ngôi số 1,
• kế đến là Phụng Hoàng, Khổng Tước, Kỳ Lân ở ngôi số 2,
• kế đến là Voi, Sư Tử ở ngôi số 3
• rồi đến Ngựa, Trâu, Hổ, Gấu, Khỉ, Chó, Mèo v.v..(năm ngôi).
Từ khi Chúa Tể của các loài Cầm, Thú, Bò Sát đầu thai vào bụng Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ để được làm người, làm con Trời phải trải qua chín năm, chín tháng, trăm ngày mới chào đời, trong thời gian ấy Đức Địa Mẫu Âu Cơ phải luôn luôn tóm thâu tinh hoa khí hóa Thiên Địa để nuôi con từng ngày từng giờ. Với công lao ấy không có gì đền đáp nổi.
Đức Cha Trời nhìn sự kham khổ của Địa Mẫu liền ngẫm nghĩ. Vì muốn sanh ra nhân loại con người, lưu truyền nòi giống con người. Để cho muôn loài vạn vật, Côn Trùng, Thảo Mộc muôn loài Cầm Thú tiến hóa lên, được đầu thai làm người. Tiến hóa Linh Hồn trở về Nguồn Cội giải thoát sanh tử, khốn khổ. Địa Mẫu Âu Cơ mang thai theo quy luật tự nhiên của phàm trần, theo thời kỳ ấy, thì những người con của Địa Mẫu mới ở lại sống trong chốn nhân gian, nơi quả Địa Cầu này, một thứ khổ, mang thai, sanh con, nuôi con mà Địa Mẫu Âu Cơ là người đầu tiên trải qua kham khổ, khổ nhọc ấy.
Thật ra mà nói với Thần Lực của Đức Cha Trời và Địa Mẫu thì không cần mang thai đẻ con lâu như vậy (mà chỉ cần nháy mắt là tạo ra hàng loạt con người). Nhưng những con người đó chỉ là những con người bằng pháp thuật không phải con người trần tục, xác thân phàm trần, ăn uống đói khát theo quy luật tự nhiên, sanh con đẻ cháu lưu truyền nòi giống con người, chịu kham khổ tu hành tiến hóa, lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn, tiến lên cảnh giới Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa lối sống có nhân có quả, gieo thiện gặt thiện, gieo ác gặt ác, gieo phúc gặt phúc, gieo họa gặt họa theo quy luật tự nhiên.
Vì vậy để khai tạo ra con người phàm tục, sống chung với muôn loài vạn vật, Đức Địa Mẫu Âu Cơ phải trải qua sự khốn khổ mang thai, nuôi thai, sanh con đều trải qua sự khốn khổ lâu dài 9 năm 9 tháng 10 ngày mới khai hoa nở nhuỵ.
Đức Địa Mẫu Âu Cơ đã biết sắp đến giờ sanh nở, bằng nói với Đức Long Hoa Cha Trời rằng:
Ông hãy ban cho con cái lời nguyền Hồng Phúc đi.
Đức Long Hoa Cha Trời nhìn về vũ trụ giang sang rộng lớn của mình, chưa có người trông coi và sáng tạo thêm cho xinh đẹp. Lập thành các cõi nước Trời trang nghiêm. Đức Cha Trời lại nghĩ rằng. Ta là hiện thân của Đức Tổ Tiên, đấng tối cao vũ trụ, đấng chúa của Linh Hồn và Vật Chất. Ta cũng cần có người kế nghiệp, đó chính là con cái của ta, thay thế ta làm chủ vũ trụ. Đức Cha Trời lại nghĩ, pháp thân ta vô cùng Vi Diệu khó mà nghĩ bàn. Đó là Cội Nguồn của tất cả Trời Đất, vạn vật sanh linh cùng vũ trụ, pháp thân ta là pháp thể Đại Đồng, Tự Do, Bình Đẳng, Hiến Pháp công đạo vũ trụ. Ta cũng cần có người thay thế, duy trì Công Đạo vũ trụ, cầm cân nảy mực phân minh.
NÊN ĐỨC CHA TRỜI PHÁN TRUYỀN RẰNG:
Nầy hỡi các con của Ta, khi các con chào đời sẽ vang tiếng sấm lớn, tiếng sấm trí tuệ, tiếng sấm uy quyền, tiếng sấm chúa tể, tiếng sấm làm chủ muôn loài vạn vật, tiếng sấm làm chủ vận mệnh, tiếng sấm làm chủ vũ trụ, ánh sáng trí huệ các con sáng khắp hư không vũ trụ, không chướng ngại, sáng hơn tất cả ánh sáng của muôn vạn mặt trời, sáng hơn hào quang của Ta.
Các con sẽ trở thành PHẬT, THÁNH, TIÊN, THẦN, CHÚA, làm chủ HIẾN TẠNG, LUẬT TẠNG, PHÁP TẠNG, MẬT TẠNG, THIÊN TẠNG. Vào năm ngôi báu của Ta, ngôi vị THẾ TÔN, ngôi vị CHÍ TÔN. Vào 10 ngôi tối cao VŨ TRỤ, ngôi vị THẾ TÔN PHẬT TỔ, THẾ TÔN THÁNH TỔ, THẾ TÔN TIÊN TỔ, THẾ TÔN THẦN TỔ, THẾ TÔN CHÚA TỔ, CHÍ TÔN PHẬT TỔ, CHÍ TÔN THÁNH TỔ, CHÍ TÔN TIÊN TỔ, CHÍ TÔN THẦN TỔ, CHÍ TÔN CHÚA TỔ. Thay thế Ta chuyển pháp luân vũ trụ tận độ sanh linh. Ta ban cho các con quyền sáng tạo, các con sáng lập lên các cõi nước Trời, thiên đàng cực lạc quốc làm cho vũ trụ, cũng như tam thiên, đại thiên thế giới, mỗi ngày mỗi thêm rực rỡ trang nghiêm hơn.
Lời nguyền của Đức Long Hoa Cha Trời vừa dứt, thì Địa Mẫu Âu Cơ đã sanh ra một bọc to lớn khổng lồ, sau đó là một tiếng nổ kinh thiên động địa, chấn động toàn vũ trụ, (tiếng sấm Đại Đồng). Kế theo là một trăm tiếng sấm nổ làm chấn động liên miên vũ trụ như muốn đến hồi sụp đổ. Như báo hiệu cho tất cả muôn loài vạn vật biết là nhân loại con người đã ra đời thay thế cha ông làm chủ vũ trụ, cai quản thế giới vật chất cũng như thế giới Linh Hồn, kế tục và gìn giữ cơ nghiệp vũ trụ của Ông Cha. Các loài Cầm Thú, Bò Sát vô cùng hoảng sợ, khiếp đảm khi nghe tiếng sấm vang dậy liên tiếp nổ ra làm rung chuyển cả Trời Đất, chấn động không gian vũ trụ, chúng linh cảm là hàng loạt Chúa Tể con người đã ra đời, từ đây chúng sẽ bị cai trị.
Chúng thấy trùng trùng điệp điệp muôn Đạo Hào Quang tỏa lên từ đỉnh núi Long Hoa, và không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chúng liền bay lên không trung hướng về ngọn núi Long Hoa, mỗi lúc một dữ dội. Âm thanh sấm nổ cứ vang rền mãi không dứt, làm rung động cả núi rừng, cả năm châu bốn bể.
Nhất là ba con Quỷ tâm hồn hoảng loạn, run sợ không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chúng liền bay lên không trung hướng về ngọn núi Long Hoa bay tới thì hết sức kinh hoàng. Một trăm người con của Đức Cha Trời đã ra đời. Những tia hào quang tỏa ra từ trăm người con của Đức Cha Trời, làm chúng đau đớn ngạt thở. Như hàng vạn mũi kim đâm vào tim chúng, làm chúng hoảng sợ, khiếp kinh ẩn mình, trốn thoát không dám quay đầu nhìn lại nữa.
Khi ấy những dòng sữa của Đức Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ tuông chảy ra và mọc lên hàng loạt ngũ cốc, dần dần lan ra khắp cùng mặt đất. Khi con người đi đến đâu, thì nơi đó có dòng sữa Mẹ ngũ cốc để sinh sống. * * *

Hình ảnh: BÀN THỜ MẪU THEO VĂN HÓA CỘI NGUỒN

6

5

4

3

10. Lập dựng ban thờ:
– Với ý nghĩa: ĐỒNG QUY NHẤT BỔN – tất cả đều chung một Nguồn Cội, nên trong việc thờ cúng Tổ Tiên, Gia Tiên, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa tại gia đình, chúng ta chỉ cần lập dựng MỘT bàn thờ, chỉ có MỘT lư hương.
– Gia chủ nên Thành Kính, Thành Tâm, tự mình bốc bát nhang, dù cho chủ nhà là Nam hay Nữ.
– Trên ban thờ cần có: Ảnh thờ theo Văn Hóa Cội Nguồn (Thiên Ấn, Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ Hùng Vương), một lư hương, đèn (nến). Thêm hương, hoa, nước, trà, quả… khi dâng cúng.
– Tuy nhiên, việc lập dựng bàn thờ nên thuận duyên mà áp dụng. Nếu chưa có điều kiện, quý vị nên để ảnh thờ Thiên Ấn và có khấn lạy Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ trong tất cả khoá lễ. Đây đều là những việc nên làm để tăng thêm phước báu cho bản thân và gia đình.
– Lưu ý:
+ Một số đồ: thất bảo, tờ hiệu… không cần thiết để trong lư hương.
+ điều quan trọng là ban thờ luôn trang nghiêm, sạch sẽ, thanh tịnh.
– SAU KHI DỰNG BÀN THỜ:
ĐỐT 3 CÂY NHANG LÊN BÀN THỜ, RỒI ĐỨNG TRƯỚC BÀN THỜ NIỆM CHÚ NHƯ SAU:
1. NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (LẠY).
2. NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (LẠY).
3. NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (LẠY).
4. NAM MÔ A MEN
5. NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (LẠY).
(Nếu chúng ta thờ thêm vị Phật, Bồ Tát, Thánh, Tiên nào thì khấn thêm vào đây, rồi đọc tiếp).

6. Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên
Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao
Sanh Ra Nhân Loại Con Người
Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con
Amen
NAM MÔ A MEN
(LẠY 4 LẠY, BÁI 4 BÁI)

– Lưu ý:
Sau khi dựng bàn thờ, thì khi đọc một danh hiệu là lạy xuống. Rồi đứng lên, đọc danh hiệu tiếp theo. Khi đọc xong danh hiệu tiếp theo thì lại lạy. Cứ thế theo đúng pháp chú mà hành.

11. VÌ SAO CHỈ ĐỂ MỘT LƯ HƯƠNG TRÊN BAN THỜ?
Ngày xưa các vị thường thờ rất nhiều lư hương như để trên bàn Phật một lư hương, để trên bàn thờ Gia Tiên một hoặc ba lư hương, để nhiều lư hương khác nữa… Nghĩa là các vị phân định phước họa khác nhau. Có nghĩa phước họa của Gia Tiên tùy thuộc theo họa phúc của Gia Tiên, thờ Phật Bồ Tát thì được phước họa của Phật Bồ Tát. Hoặc để ba lư hương là các vị phân định ra mỗi thứ một phước họa riêng biệt khác nhau. Khi các vị đã sử dụng, kích hoạt Thiên Ấn từ trên xuống dưới, nghĩa là khai mở toàn bộ cơ tận độ từ trên xuống dưới, từ Tổ Tiên Khai Hóa cho đến Ông Bà, Cha Mẹ hiện tại của mình. Có nghĩa là tất cả đều nằm trong sự thông suốt của phước đức từ trên xuống, mà họa tai không còn nữa. Cũng có nghĩa phước của Khai Hóa Tổ Tiên, Cha Trời Mẹ Trời, một trăm vị Ông Bà Tổ Tổ Tổ (một trăm vị con Trời), đặc biệt là Quốc Tổ Hùng Vương, sẽ bao trùm và tận độ, phước báu, bảo hộ, duy trì sự sống. Nếu các vị để một lư hương có nghĩa là MỘT TÂM HƯƠNG. Mỗi con người chỉ có một tâm hương của mình, cho nên tâm hương của mình sẽ ứng hiện vào một lư hương đó và ba cây nhang để mà phân định. Khi các vị thắp hương trên ban thờ gia đình mình có nghĩa là mình sẽ kích hoạt phước đức và bảo hộ cho mình từ Tổ Tiên Khai Hóa cho đến Ông Bà hiện thời của mình. Nếu Cha Mẹ đã qua đời thì họ vẫn đứng vào ngôi như Ông Bà. Nhờ vậy mà linh đức của gia đình và cả Gia Tiên được bao bọc, được duy trì. Nếu gia đình mình có đức mà không thờ tự đúng thì chắc gì đã duy trì được đức độ đó. Muốn duy trì nó thì phải có người giữ đức độ đó chính là Cha Trời, Mẹ Trời, và các vị như Quốc Tổ, những người đứng vào cơ tận độ, họ mới giữ được phước, đức năng đó cho gia đình mình. Cũng giống như quý vị đi làm nhưng ngân hàng giữ tiền cho mình, chứ không để trong nhà vì dễ mất. Quý vị có hiểu vì sao gọi là hương linh? Các vị đọc Long Hoa Thiên Tạng sẽ thấy Cha Trời gọi muôn loài vạn vật bằng cách tạo ra muôn loại hương như huệ hương, trí hương, lạc hương… Sau này người ta muốn gọi linh hồn cũng đều sử dụng hương. Ở Trung Quốc họ không những đốt nhang mà còn đốt trầm hương. Một số vị vua chúa thời xưa thường sử dụng trầm hương mà giúp cho linh hồn của họ khỏe ra. Các vị đọc Long Hoa Mật Tạng sẽ thấy, khi Quốc Tổ Hùng Vương lâm phàm thì các hương hoa tỏa ra, mà khó có người hiểu được. Cho nên khi các vị “thắp nén tâm hương”, chỉ cần sử dụng một lư hương mà thôi.

12. Ý NGHĨA CỦA VIỆC SỬ DỤNG CHIÊNG – TRỐNG – CHUÔNG – MÕ
Ngày nay khó có người hiểu được ý nghĩa của việc gõ chiêng, gõ trống trong đời thường và gõ chuông, gõ mõ trong tu hành, và làm như thế nào để gõ chuông, gõ mõ cho đúng. Vì không hiểu mà nhiều người gõ chuông mõ loạn xạ. Chuông – chiêng, trống – mõ cũng đều có ý nghĩa như nhau.
Chuông, mõ có từ vô lượng xa xưa rồi, từ khi con người sống theo bầy đàn nên cần có cái báo hiệu và cái để thúc giục làm việc và hành.
Chuông mang ý nghĩa là báo. Vì vậy trước khi hành lễ hay tụng niệm kinh luân, người ta thường gõ chuông để báo cho tất cả mọi người xung quanh hoặc khai mở lời kinh. Chuông nhà thờ hay chuông chùa cũng mang ý nghĩa như vậy. Có nghĩa làm cho Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa và tất cả đều hướng về nơi có sự kiện để mà chứng tri công đức hay việc làm nào đó. Thường thì người ta gõ chuông mà không hiểu đúng ý nghĩa của nó. Sau khi đọc xong kinh kệ, người ta lại gõ tiếng chuông, chứ không phải vừa gõ chuông vừa đọc. Việc này có nghĩa là bảo vệ công đức viên mãn.
Còn mõ nghĩa là thúc giục, hay hành. Dù cho mình gõ mõ, tụng kinh ở chùa hay ở trong nhà thì toàn bộ thế giới âm cảnh và các vị long thần hộ pháp họ đều hướng về, chuẩn bị lắng nghe lời kinh kệ đó mà hưởng phước đức của họ. Vậy tại sao vừa tụng kinh lại vừa gõ mõ? Vì ý nghĩa của việc gõ mõ cũng tương tự như gõ trống. Gõ mõ có nghĩa là giục hay khiến cho toàn bộ tạng tánh (bao gồm cả tánh mê, tánh ngộ) của mình hướng về lời kinh đó và giục tâm mình cùng tất cả sở nghiệp của mình hướng theo, khiến cho tâm của người đó buông bỏ tất cả, an nhập vào từng lời kinh mà không cần biết đến mọi thứ xung quanh. Nên sau khi tụng kinh gõ mõ, tụng niệm kinh luân xong, thì tâm họ rất nhẹ nhàng.
Khi các vị tụng kinh thì ma quỷ khó mà xâm nhập được vì các tạng tánh của mình nhờ tiếng mõ mà giục tâm hành theo lời kinh. Đây chính là pháp độ của các vị Phật. Ở chùa, khi gõ chuông tất cả thế giới âm cảnh, ma quỷ khắp cùng đều hiện hữu hướng về, nghe kinh để hưởng phước. Một số người tụng kinh, gõ mõ mà bị các linh hồn âm cảnh quấy phá là do họ không hiểu và tâm của họ không an trụ được vào lời kinh. Các vị thầy đạt tới đỉnh cao, họ dùng tiếng mõ để trị tâm ma, đi thẳng, an trụ vào bên trong mà không sợ ma quỷ. Nếu biết sử dụng tiếng mõ để tụng kinh thì người đó rất mau thành đạo, vì tâm linh, tạng tánh của họ bị giục nên dễ tiến gần đến thanh tịnh. Nhưng mõ cũng chỉ là phương tiện dành cho những người tu chưa ngộ đạo mà thôi.
Chiêng, trống cũng có từ thời rất lâu xa rồi. Trong đời sống, con người sử dụng trống với ý nghĩa là thúc giục, hành động, chiêng mang ý nghĩa là báo. Ngày xưa khi đánh trận, người ta dùng tiếng chiêng để báo hiệu chuẩn bị đánh, dùng tiếng trống để thúc giục toàn quân, tất cả mọi người đều xông lên, đi theo tiếng trống, dù cho đó là binh sĩ già hay yếu cũng đều hành theo, khiến cho thế trận trở nên mãnh liệt nhất. Vào thời Quốc Tổ Hùng Vương, chiêng và trống được kết hợp thành trống đồng. Trên mặt trống đồng thời đó còn mang cả linh bùa nữa (chính là hình vẽ của Thiên Ấn trên mặt trống và vô số dịch kinh trên trông đồng nữa), nên khi xông pha đến đâu là linh địa, khí trận dồn đến đó, phá tan các bùa chú của thiên hạ. Nhờ đó mà khó ai làm gì nổi con Rồng cháu Tiên. Quốc Tổ là bậc đại giác ngộ, nên khó có người hiểu được những lời và việc làm của Quốc Tổ. Các làng mạc, họ đúc trống đồng cũng bởi họ muốn giữ vững sự thịnh trị của các làng mạc đó, vì có linh bùa trên trống.
Chuông kim cang, Trống bát nhã: là tên gọi của hành pháp. Chuông là báo để hướng về thành pháp kim cang. Trống là dục bát thức hành theo lời kinh trở thành trống bát nhã.

13. Ý NGHĨA CỦA VIỆC THỜ CHIM HẠC
Trong kinh Long Hoa Mật Tạng có viết: Chim Hồng Lạc (chim hạc) là loại chim khôn ngoan, hiền lành. Khi Long Lang Sùng Lãm lên ngôi Quốc Vương Hoàng Đế. Thường có các giống Chim quí như Chim Hồng Lạc bay đến đậu khắp kinh thành. Non Sông Đất Nước yên bình, âu ca thịnh trị, thái bình an lạc. Long Lang lên ngôi Quốc Vương lấy niên hiệu là Kinh Dương Vương, đời thứ nhất. Từ đó về sau cứ mỗi lần giống Chim Hồng Lạc xuất hiện, là dân chúng được mùa trúng lớn và cho người vẽ giống chim này ở các nơi thờ tự.
Chim hồng lạc là một trong những biểu tượng linh vật của Việt Nam, tượng trưng cho hòa bình, sự may mắn và nền văn minh lúa nước của người Việt… Nên việc để chim hạc ở những nơi thờ tự như Đền, nhà thờ Tổ đều rất tốt và linh ứng.

14. Ý NGHĨA CỦA ĐÔNG BÌNH TÂY QUẢ.

263073386_450196809803597_281469037431948911_n

NGƯỜI ĐỨNG LỄ

HƯỚNG CỦA BAN THỜ LÀ HƯỚNG VỀ PHÍA LƯNG CỦA NGƯỜI ĐỨNG LỄ.

Tại sao Tây để quả và Đông để bình (hoa)? Điều này có ý nghĩa là:
• Mặt Trời mọc hướng Đông, có nghĩa là buổi sáng chúng ta trổ đoá hoa trí tuệ, để gặt quả về chiều. Như cuối ngày chúng ta sẽ gặt thành quả lao động, nên người ta gọi là Đông Bình – Tây Quả.
• Đông trổ hoa, chính là hương hoa, hoa của trí tuệ, ẩn tàng chính là hương linh, đi vào thế giới của tâm linh. Điều này cũng có nghĩa Đông là chủ về tâm linh.
• Tây trổ quả, kết quả. Tây là chủ về vật chất.
Tuy nhiên, nếu bàn thờ nhỏ, các vị để mâm ngũ quả ở giữa cũng không ảnh hưởng gì.

15. Ý NGHĨA CỦA MÂM NGŨ QUẢ
Trong đạo, mâm ngũ quả tượng trưng cho những người hành đạo mà thành 5 quả vị: quả Phật, quả Thánh, quả Tiên, quả Thần, quả Chúa. Con số 5 mang nhiều ý nghĩa từ thời Quốc Tổ Hùng Vương tới tận bây giờ, như trống đồng thời Hùng Vương có 14 tia cũng là con số 5 (1+4=5). Con số 5 chính là con số của tham thiên lưỡng địa. Trên Thiên Ấn thờ Trời cũng có con số 5 trong đó.
Ngoài ra còn có thể hiểu ngũ quả 5 màu chính là tượng trưng cho sự đoàn kết của 5 màu da anh em, mà màu vàng (hành thổ, thường là nải chuối) ở giữa, chính là vị trí trung tâm của mâm ngũ quả.
16. THỜ NỘI NGOẠI CHUNG MỘT BÀN THỜ
Mang ý nghĩa nhân sinh thì nội hay ngoại đều có công như nhau. Bất kể thứ gì cũng cần có sợi dây kết nối mới không xung khắc. Như sợi dây nối của anh em chính là ông bà, cha mẹ, khiến cho anh em tránh được sự xung khắc. Ngày xưa, các vị thờ theo sự riêng biệt, phước ai nấy hưởng, họa ai nấy chịu, nên cuối cùng sanh ra sự chia rẽ. Nghĩa là bên dương (nội) không chịu bên âm (ngoại), và bên âm cũng không chịu bên dương mà dẫn tới chia rẽ. Vậy muốn đạt tới âm dương dung hòa thì phải có sự kết nối. Ví như bóng đèn sáng cần có điện từ âm, dương và sợi dây tóc bóng đèn để dung hòa và chuyển đổi năng lượng mà tỏa sáng.
Một số vị Thầy nói không nên thờ nội ngoại chung vì có sự chia rẽ bên nội, bên ngoại để rồi cuối cùng dẫn đến sự phân biệt. Mà sự phân biệt chính là nguồn gốc sâu xa của toàn bộ các sở nghiệp (quả nghiệp) sau này. Ví dụ, quý vị có 2 đứa con mà phân biệt đứa học giỏi, đứa học dở, thương nhiều, thương ít thì liền sanh ra sở nghiệp chính là những hành động phân biệt đối xử. Mọi gốc gác linh hồn của con người bể ra khỏi bản thể Linh Giác Vũ Trụ đều là do có sự phân biệt mà tạo ra. Sự phân biệt chính là nguồn gốc của họa và phước.
Để con người trở về nguồn gốc, không còn sự phân biệt nữa cần có mối liên hệ chung. Đó chính là cội gốc con người. Thờ tự cũng vậy, nếu các vị thờ tự theo Văn Hóa Cội Nguồn thì nhờ có sợi dây nối chính là Bản Thể Linh Giác, Cha Trời, Mẹ Trời, Ông Bà Tổ Tổ Tổ mà sự tận độ, bảo dưỡng, độ trì, phước báu đó khiến cho Âm Đức hiệp chuẩn nhau, giúp cho các vị Gia Tiên đều được trở về Non Tiên Cực Lạc, hoặc tái sanh làm người, và làm mất đi các nghiệp quả của sở nghiệp ác, chỉ còn sở nghiệp của thiện lành. Nhờ sở nghiệp của thiện lành đó mà các Âm Đức ĐỒNG QUY NHẤT BỔN, kết nối trở lại, làm cho phước đức, âm đức của gia đình được hội tụ. Có thể nói, thờ tự trong Văn Hóa Cội Nguồn chính là hội tụ linh đức của gia đình. Vì vậy mà bên nội hay bên ngoại đều thờ chung được. Các linh hồn đó đều có dây nhân duyên với nhau hết, lại còn chung dây nối Bản Thể Linh Giác, Cha Trời, Mẹ Trời và Quốc Tổ mà làm cho phước đức của gia đình được tăng lên nhanh chóng và phước quả to lớn vô cùng.

17. THỜ THẦN TÀI, THỔ ĐỊA, ÔNG CÔNG, ÔNG TÁO.
Để tránh nhầm lẫn, Thầy cũng nói thêm, Bàn thờ Gia tiên chỉ dành để thờ các vị từ Cha Mẹ, Ông Bà… Quốc Tổ Hùng Vương (Phật Di Lặc), Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Phật Dược Sư, Chúa Giesu, Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát… (nói chung 100 vị con Trời, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, Ông Bà Tổ Tổ Tổ), ở vào cơ tận độ, cho tới đỉnh cao, nguồn gốc của con người và Vũ Trụ, chính là Cha Trời, Mẹ Trời, Bản Thể Linh Giác Khai Hóa Tổ Tiên Tối Cao của Vũ Trụ. Bàn thờ Gia Tiên đi vào tận độ, phước báu và sự hội tụ linh ứng.
Còn các vị thờ Thần Tài, Thổ Địa, họ giữ thổ cư, là công vụ không phải tận độ nhân loại nên thờ dưới đất, chứ không thờ chung trên ban thờ Gia Tiên. Mặc dù vậy, trong Gia Tiên cũng có nhiều linh hồn được làm Thần Tài, Thổ Địa, hoặc làm Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa khắp cùng.
Còn thờ Ông Công, Ông Táo là thờ tại gian bếp trong gia đình, đi vào sự ứng hiện của nhiệm vụ. Hiện nay, ở một số nơi, họ chưa hiểu hết được ý nghĩa sâu xa của việc thờ tự mà dẫn đến thờ tự lộn xộn, nhầm lẫn nên làm giảm hoặc mất đi sự linh ứng cho chính gia đình mình.

18. Có nên cúng các vị hành khiển, hành binh, phán quan vào đêm giao thừa không?
Việc cúng 12 vị hành khiển, hành binh chi thần, phán quan là có từ thời hậu thiên bát quái ra đời. Người ta mường tượng ra thêm và sử dụng các vị linh thần địa la cả ác lẫn thiện, các vị đó có pháp thuật thần thông, để tạo ra quyền phép cho họ. Cũng giống như con người tạo ra tiền, nhưng tiền lại có linh hồn (do con người tạo ra, vì con người là tiểu thiên vũ trụ) hút lại con người chạy theo vậy. Cho nên họ sử dụng cái đó để làm giàu cho các vị ở bên Trung Hoa. Việc này không nằm trong kinh dịch tự nhiên của Trời, không thuộc về linh khí của Trời, mà đi vào địa la thần trong hậu thiên bát quái, lần lần đi đến mê tín dị đoan. Giống như đi đến một mảnh đất, họ sẽ biết các vị thần ở mảnh đất đó, mà họ sử dụng các vị thần đó đứng vào trong bát quái đó, cho nên họ càng cúng nhiều, các vị đó càng hưởng dương khí nhiều, và có phép thuật càng nhiều. Rồi đến khi các vị không còn cúng theo yêu cầu của họ nữa thì họ sẽ rời bỏ đi dẫn tới không còn linh nghiệm nữa. Còn nếu các vị theo họ, thì họ làm cho các vị lần lần trở thành nô lệ của thế giới tâm linh đó. Hoặc đến một lúc nào đó, xuất hiện những thành phần cao tay hơn, thì họ sẽ phá đi những điều đó. Cho nên nó giống như thắng làm vua thua làm giặc vậy, vì vậy được mất không biết lúc nào. Cho nên cúng 12 vị hành khiển đi vào mê tín dị đoan nhiều hơn, có nghĩa mình đi vào nô lệ thần quyền, chứ không phải là sự giải thoát của đắc đạo, không đúng với kinh dịch của Trời. Con người là tiểu thiên vũ trụ, cũng chính là ông Trời thứ 2, nên con người cũng tạo ra đồng tiền có linh hồn, con người cũng tạo ra hậu thiên bát quái, để mà điều khiển linh địa ở nơi đó, nghĩa là sử dụng các vị thần.
Thầy sẽ giải thích thêm để cho các vị hiểu. Trong Bát Quái có Tiên Thiên bát quái và Hậu Thiên bát quái. Hậu Thiên bát quái, người ta sử dụng Địa La Thần. Nghĩa là họ sử dụng các thần khí, phép thuật của các vị Địa La Thần để trấn giữ vào trong bái quái đó. Khi sử dụng Hậu Thiên bát quái, các vị thường phải cúng vái nhiều lắm. Người Trung Quốc cũng vậy, họ cúng rất nhiều vì thần khí của gia đình đều dựa vào thần khí của địa la thần, của các cung chủ, của các vị thần, các vị atula… trấn giữ các cung, phương hướng, chi của hậu thiên bát quái. Càng cúng nhiều thì các vị thần càng gia hộ nhiều nên dẫn tới linh thiêng khắp cùng. Mỗi lần cúng là mỗi lần linh thiêng nên dẫn đến càng lúc càng mê tín, nhưng được mất không do mình làm chủ mà phụ thuộc vào họ, hoặc sự tranh hùng tranh tài của các vị thầy cúng, chứ không phải tự nhiên của tiên thiên chân khí, không phải tự nhiên của khí hoá vũ trụ. Sức mạnh của hậu thiên bát quái là dựa vào sức mạnh của các vị thần. Cúng càng nhiều thì các vị thần đó hưởng phước càng nhiều, họ thu nạp linh khí càng nhiều nên họ trấn giữ càng nhiều. Nên về sau người Trung Hoa, hay những người sử dụng hậu thiên bát quái, kinh dịch thường đi vào quyền phép cục bộ. Ví dụ đối với nhà của mình, họ thường sử dụng các vị thần ở trong các khu vườn nhà mình để trấn giữ trong các hậu thiên bát quái. Nhưng gặp những người cao cơ hơn, họ phá hết phép thuật trong nhà mình. Cho nên hậu thiên bát quái đánh trận tuỳ thuộc vào con người, do năng lực cao thấp của mỗi con người, tuỳ thuộc vào linh chủ trong địa đất đó, linh chủ trong gia đình đó. Nhờ vậy mà người làm về hậu thiên bát quái họ mới có thể kiếm tiền được. Họ khiến cho những người giàu có phải si mê quyền phép cục bộ của những người đó. Họ cúng kiếng rất nhiều, dần dần dẫn tới mê tín dị đoan khắp cùng mà làm sai lệch đi kinh dịch, lần lần người ta không hiểu kinh dịch lúc nào đúng, lúc nào sai. Khi các vị linh chủ đó quở phạt và không đứng vào hậu thiên bát quái nữa, thì gia chủ cũng tiêu. Sử dụng hậu thiên bát quái lâu dần khiến con người biến thành nô lệ của kinh dịch thần quyền. Đa số mọi người không hiểu được điều này. Khổng Minh cũng vậy, Khổng Minh sử dụng hậu thiên bát quái để triển khai binh hùng tướng mạnh. Nhưng nếu có người khác cao cơ hơn, họ có thể hoá giải hậu thiên bát quái của ông. Cho nên về sau khó có người hiểu hết được kinh dịch.
Còn tiên thiên bát quái đi vào kinh dịch của Trời. Trong Văn Hoá Cội Nguồn, Thầy không sử dụng hậu thiên bát quái. Kinh dịch trong Văn Hoá Cội Nguồn là kinh dịch của thiên, của khí hoá vũ trụ, có nghĩa là sử dụng linh khí tự nhiên của vũ trụ. Mà khi linh khí của vũ trụ hội tụ thì các vị long thần hộ pháp cũng phải theo kinh dịch của Trời, cho nên nó làm chủ cả tiên thiên và hậu thiên bát quái. Người theo Văn Hoá Cội Nguồn không cần phải cúng các vị đó, vì nó đi vào nô lệ thần quyền, không phải đi vào giải thoát linh hồn. Dần dần con người dẫn tới lệ thuộc, mê tín dị đoan khắp cùng, đi vào thần quyền quá lớn và dần dần đi vào lạc cội lạc nguồn.

19. Ý nghĩa của ngày Tết Nguyên Đán trong Văn Hoá Cội Nguồn.
Xu hướng hiện nay, Tết Nguyên Đán đã đi vào thoái trào, khiến cho con người quá nặng nhọc về vật chất, không hiểu ý nghĩa của tâm linh, không hiểu ý nghĩa của văn hoá ngày Tết vì văn hoá đã bị lạc Cội lạc Nguồn. Thầy nghe một phát biểu của GS Võ Tòng Xuân về việc nên gộp Tết Nguyên Đán vào Tết dương lịch và Việt Nam chỉ đón Tết Dương Lịch như các nước trên thế giới, để hội nhập với thế giới. Có nghĩa là bỏ văn hoá của mình, chạy theo văn hoá phương Tây, làm mất đi văn hoá của người Việt. Ở nước ngoài, như ở các trường đại học nước Mỹ, họ nghỉ đón năm mới từ 23/12 đến 05/01, thời gian khoảng 2 tuần. Còn bây giờ Tết của Người Việt bận rộn đủ thứ như quà, biếu, cúng kiếng, ăn nhậu tùm lum… khiến con người thêm bao nhiêu gánh nặng. Đó đều không phải sự thoải mái trong tâm linh, sự thoải mái trong văn hoá. Vì các vị không hiểu và bỏ quên ý nghĩa tâm linh của nó, nên dẫn tới làm sai lệch và chán nản.
Trong xã hội hiện đại bây giờ, một số gia đình giàu có họ thấy ảnh hưởng tới đời sống riêng tư của họ, nên họ bỏ đi nước ngoài du lịch, mà họ không hiểu gì về ý nghĩa của ngày Tết. Những người đó họ sống vì lợi ích cá nhân của mình là chính, chứ không phải sống vì gia đình, vì anh em đồng bào. Có nghĩa là họ là người quên ơn, quên nghĩa, quyên truyền thống văn hóa, không biết gì. Nên cuối năm dẫn nhau đi du lịch cho riêng mình, không biết gì ơn, không biết gì nghĩa. Những gia đình đó không hiểu gì về truyền thống, lạc Cội mất Nguồn, nên thường hết phước rồi tới hoạ.
Ngày mồng 1 Tết là ngày hội tụ của gia đình, để chỉ dạy cho con cái hiểu biết về nhân luân đạo hiếu với ông bà để cho con cháu biết nhớ ơn và tưởng nhớ tới công ơn sanh thành, dưỡng dục. Vì vậy, ngày đó mọi người luôn hướng về gia đình, Tổ Tiên, nhà thờ Họ để tưởng nhớ tới ân đức của các bậc tiền nhân: ơn Tổ tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, ơn Quốc Tổ, ơn đất nước, quê hương, và cả những người có ơn với mình… Nó là ngày hiếu kính, ngày hướng về Ông Bà, Tổ Tiên, Quốc Tổ, Cha Trời, mẹ Trời, Nguồn Cội, chứ không phải như hiện nay, các gia đình thường đi thăm cô, dì, chú, bác, cậu, mợ… mà khiến cho con người mệt mỏi và chán nản. Đó là ngày hội họp, chứ không phải đi tới các gia đình để chúc Tết thăm nhau. Ở phương Tây cũng vậy, vào ngày Christmas, họ tụ hộp về nhà cha mẹ hay ông bà để mà chia sẻ với nhau.
Trong họ tộc, người nào cao nhất còn sống thì đó chính là nơi hội tụ, để anh em, con cháu gặp mặt nhau. Hễ ông bà mất rồi, thì nơi đó chính là nhà của cha mẹ mình. Nhà thờ Tổ bên ngoại, nhà nhờ Tổ bên nội cũng là những nơi hội tụ, nơi giảng truyền nhân luân hiếu nghĩa, giảng truyền đạo đức, truyền thống của gia đình, chúc mừng, hoan hỉ với phước thọ của mỗi con người. Còn thời gian rảnh mới làm những việc khác mà có ý nghĩa cho mình. Gặp nhau không phải để uống rượu, ăn chơi quá đà, mà gặp nhau để truyền dạy cháu con mai sau về nhân nghĩa, cách làm người, hay chia sẽ những kinh nghiệm quý giá về những cách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội cho năm mới, cả những cách báo hiếu cho cha mẹ, bề trên và vân vân…
Theo quan niệm của người Việt xưa thì mồng 1 Tết Cha, mồng 2 Tết Mẹ, mồng 3 Tết Thầy. Trong mọi tôn giáo đều có những người Thầy như Thích Ca Mâu Ni, Thầy dạy đạo, thầy dậy nghề… , nên ngày mồng 3 Tết, chúng ta nên đi đền chùa để tạ ơn. Nếu nhà thờ có thờ Cha Trời, Mẹ Trời, thì con người cũng nên đến nhà thờ để tưởng nhớ công ơn của Cha Trời, Mẹ Trời. Vì lạc Cội lạc Nguồn, lạc mất văn hóa truyền thống, cho nên làm lẫn lộn văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Một số người chán ghét văn hoá Trung Hoa, và thiếu hiểu biết về văn hoá truyền thống, nên tưởng rằng ngày Tết truyền thống của dân tộc là theo văn hoá Trung Quốc chứ họ đâu biết rằng đất nước chúng ta có bề dày lịch sử lâu đời, là cái nôi của nền văn minh văn hoá tâm linh tinh thần từ thời Quốc Tổ Hùng Vương (cách đây 5000 năm). Vì thiếu hiểu biết nên họ mới mong muốn đem văn hoá dân tộc hoà nhập rồi tiến tới hoà tan vào văn hoá phương Tây. Đây đều không phải là điều tốt đẹp gì. Có thể nói, chính họ đã dẫn con cháu vào chỗ bất trung, bất hiếu. Chúng ta nên biết, ý nghĩa tâm linh lớn nhất của ngày mồng 1 chính là biết phụng kính, tưởng nhớ tới 3 ngôi tối cao vũ trụ, ngày hội tụ của các gia đình, ngày hội lớn trên khắp quê hương, đất nước.
Hiểu được những ý nghĩa đó, ngày Tết trở nên thiêng liêng chứ không giống như mọi người vẫn thường làm hiện nay, ngày Tết biến tướng đủ thứ, mang nặng yếu tố vật chất, hơn thua, ganh ghét, thăm mỗi nhà mỗi ly rượu, đó không phải là ly rượu mừng mà là ly rượu giết người, làm hại, suy giảm trí tuệ con người, dẫn tới những vụ tai nạn thương tâm vào những ngày Tết. Ngày Tết người Việt bây giờ không còn linh thiêng nữa, tồn tại khắp nơi sự án ngữ của các vị địa la thần, mất đi văn hoá truyền thống ý nghĩa của người Việt. Đa số người Việt vì không hiểu ý nghĩa tâm linh ngày Tết mà thường đem cái phụ làm cái chính, cái chính thì bị che mất, bị bỏ đi. Mà cái chính mới là cái quan trọng. Cuối cùng sống trong cái phụ: mồng 1 đi đền chùa cúng bái, lễ lạy thần linh mải miết mà quên đi Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời (chánh thân, chánh mẫu), ngày hội tụ gia đình. Nên họ quên mất điều chính yếu, ngày Tết là ngày hội tụ, ngày hưởng lạc, ngày về Nguồn về Cội, nên dẫn tới khổ liên miên. Đa số con người bây giờ vừa bảo thủ, vừa chấp vào trong tâm mình quá nhiều, lại thêm lối sống ích kỷ, cá nhân mà khiến cho gia đình xào xáo, xã hội rối ren, lộn xộn đẫn tới cả tâm linh và thể xác lạc cội lạc nguồn.
Văn Hoá Cội Nguồn chính là văn hoá tối thượng của đất nước Việt Nam. Ngày Tết mở đầu cho mùa xuân, mùa của trăm hoa đua nở, mà mùa xuân là thế giới của đa nguyên, là thế giới của đạo trong Văn Hoá Cội Nguồn. Người nào hiểu được Tết mùa xuân của người Việt, thì người đó hành xử rất văn minh, có trí tuệ, giữ được hiếu hạnh, truyền thống tốt đẹp của bách tộc Văn Lang, chứng được quả đạo của Cội Nguồn.

20. NHỮNG NGÀY LỄ TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN
 Mùng một TẾT:
Cúng giao thừa và làm lễ đầu giờ Thìn (7h – 9h) buổi sáng ngày mùng 1 Tết vô cùng quan trọng. Vì ngày này chính là ngày TỔ TIÊN. Hiện Thân ra CHA TRỜI, MẸ TRỜI. Ba ngôi tối cao vũ trụ.
Cũng chính là ngày vía LONG HOA GIÁO CHỦ, DI LẶC, QUỐC VƯƠNG THỦY TỔ HÙNG VƯƠNG tiếp nối di chí ÔNG CHA. Được coi như là ngày hội tụ, về Cội về Nguồn. Đền ơn đáp nghĩa.

 Ngày RẰM tức là ngày 15 giữa tháng.là ngày Cha Trời Mẹ Trời hiện thân xuống chốn nhân gian sanh con đẻ cái, được coi như là ngày tình thương mang lại an vui cho muôn loài vạn vật. Vì nó là ngày tình thương, ngày đem lại an vui cho nên hồi xưa ở nhà, Thầy thường đem hương, hoa, trà, quả ra ngoài sân cúng để tạ ơn Trời Đất. Rồi Thầy đem công đức của mình mà hồi hướng cho nhân loại, hồi hướng cho cả thế giới của âm cảnh lẫn thế giới của hiện tại. Cho nên trả ơn, trả nghĩa là đem tình thương phân bố cho tất cả. Vào ngày Rằm, hễ ai làm được công đức gì thì nên đem công đức đó mà phân phát cho thế gian, thì đó chính là người chân tu, chứ không phải là giữ nó làm của riêng cho mình. Vì ngày Rằm là ngày tình thương nên cúng ngoài sân thì các vị phải sử dụng pháp thí của cho, còn trong nhà thì các vị sử dụng pháp thí của nhận.

 Ngày mùng 5 tháng 5 là ngày Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ khai hoa nở nhuỵ, sanh ra nhân loại con người, Ông Bà Tổ Tổ Tổ, 5 màu da nhân loại anh em cách đây 75 triệu 600 ngàn năm. Một năm chỉ có một ngày: vừa ngày 5, vừa tháng 5, nghĩa là tròn, là ngày đại đoàn kết 5 màu da anh em, chứ không phải chỉ riêng cho dân tộc Việt Nam. Ý nghĩa lớn hơn, đây chính là ngày đoàn kết tam thiên, đại thiên thế giới. Dân gian gọi là ngày Tết Đoan Ngọ, hoặc Tết giết sâu bọ, nguyên nhân do văn hoá độc hại phương bắc xâm nhập vào giai đoạn Văn Hoá Cội Nguồn thất truyền, nên mới có sự biến đổi phi lý này, nên họ biến ngày 5/5 thành ngày giết sâu bọ, không phải ngày của đại đoàn kết. Các loại cây lá hái trong ngày này, đặc biệt vào giờ ngọ (11h – 13h) thường có tác dụng chữa bệnh tốt nhất, trở thành vị thuốc nam, nên ở một số nơi các thầy thuốc thường lên núi hái thuốc. Nguyên do là khi Đức Mẹ Âu Cơ sanh con, thì dòng sữa chính là 100 loại ngũ cốc ra đời, các linh mộc, cây cối đều được hưởng khí chất rất lớn nên trở thành các loại thuốc để trị bệnh cho con người. Chứ không phải tự nhiên vào ngày 05/05 mà các cây cỏ có dược tính lớn như vậy đâu. Đó chính là sự bí truyền mà lâu nay người ta chưa khám phá được hay hiểu biết về nó.

 Ngày 20 Tháng 2 là ngày sinh Cao Hùng Lan, Quốc Tổ Hùng Vương.
 Mùng 10 tháng 3 ngày giỗ Quốc Tổ về Trời.

 Chủ Nhật:
Là ngày cuối tuần, chính là ngày mở màn cho tuần tiếp theo, là ngày Cha Trời, Mẹ Trời dạy bảo con cái. Chủ nhật được coi là ngày di chí cũng là ngày thuận hiếu, của con cái đối với Cha Trời, Mẹ Trời. 7 ngày, cũng tượng trưng cho 7 giáo, mà Cha Trời sẽ dạy cho 7 giáo này những lời dạy bảo của Trời. Cha Trời cũng chính là bậc thầy lớn nhất của vũ trụ. Nên đền ơn đáp nghĩa, cũng là ngày này, là ngày lắng nghe những lời dạy bảo của Trời, mà để hành xử cho đúng lương tâm.

 Ngày 2 Tháng 9 Năm Quý Dậu, Quốc Tổ Khai sinh ra nhà nước Văn Lang.
 Ngày 2 Tháng 3 Năm Ất Sửu, Quốc Tổ thuyết giáo nói ra Văn Hóa Cội Nguồn Đại Đạo Vũ Trụ.
* * *
CHƯƠNG III. QUỐC BẢO KHAI KINH

723DDE7C-1002-4DA0-9910-05DB43D1E4CC

ĐẠI THỪA QUỐC BẢO KHAI KINH

THIỀN SƯ

TƯỜNG KHÔNG VÂN
THÍCH HẠNH PHONG

——————————————

KHAI KINH SỐ 1: KHAI CƠ

Chuông đánh ba hồi ba tiếng.
Trống đánh ba hồi ba tiếng.
Tiếp theo sau là đánh tiếng chuông, tiếng trống, 3 tiếng chuông 3 tiếng trống.
Sau cùng nhập chuông trống đánh cùng một lúc (thứ 4)

I. KHAI CƠ THÁNH ĐỨC

CHỦ LỄ
Đứng ngay ngắn xướng niệm
Hai bên chủ lễ Tả Hữu phía sau lắng nghe.

1. TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN

Thế giới tịnh yên nhờ có Đạo
Non sông có Đạo mới bình yên
Gia đình xã hội chúng dân
Nếu không có Đạo rối ben khốn cùng
Án lam xóa ha ( 3 lần)

2. TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN

Thân lành thường giúp thế nhân
Khẩu lành không nói hiểm sâu hại đời
Ý lành cứu giúp con người
Làm cho cuộc sống yên bình, bình yên
Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ
Đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần).

Quỳ ngay thẳng : Chủ Lễ cầm 3 cây hương dâng ngang trán xướng niệm. Hai bên Tả – Hửu đứng phía sau chấp tay yên lặng chú ý lắng nghe.

Nguyện đem lòng thành kính
Gởi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tiên Tổ
Cha Trời cùng Địa Mẫu
Long Hoa Giáo Chủ
Di Lặc. Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

3. KỲ NGUYỆN:

Hôm nay nhằm Ngày———-Tháng———–Năm——– Thôn/ Tổ dân phố: ———————Xã/ Phường: ————————-Quận/ Huyện———————Tỉnh/ Thành phố: ———————-Nước Việt Nam.

Tại nơi: Am, Thất, Đền, Chùa————-
Nhớ đến ngày Tổ Tiên. Hiện Thân Cha Trời. Địa Mẫu. Ngày vía Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương.

Chủ Lễ tánh danh:——————-pháp danh————–
Cùng tất cả chúng dân, đệ tử. Đem lòng thành khẩn, thành tâm dâng lên, nhang, đèn, hương hoa, trà, quả… Lập thành nghi thức, cúng dường đảnh lễ. Trì chú, tụng niệm kinh luân. Cầu cho Quốc thới dân an, tai họa tiêu tan dân giàu nước mạnh, hạnh phúc an vui.
Ngưỡng mong ơn trên. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Long Hoa Giáo Chủ. Di Lặc, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, vạn sự bình an. Khai tâm mở trí, sáng láng thông minh. Giác thành Đại Đạo.

(đánh một tiếng chuông đồng bái lạy).

4. KHAI ẤN

CHỦ LỄ cùng hai bên chủ lễ TẢ, HỬU cùng xướng đọc

Thiên Ấn tối cao, Ấn tối linh
Chuyển vận huyền cơ cứu nhân sanh
Nhất tâm lễ bái lòng cung kính
Họa tai tan biến, thoát siêu sinh

Ấn Linh Tối Thắng khắp hư không
Chuyển hóa Linh Căn pháp đại đồng
Vi Diệu Thậm Thâm cơ ứng hóa
Cội Nguồn Đại Đạo Cội Cha Ông

(đánh tiếng chuông đồng bái lạy)

* * *

Thấy Ấn như thấy Cha Trời
Thành tâm lễ bái vãn hồi chân như
Thấy Ấn như thấy Âu Cơ
Mẹ Trời che chở bến bờ bình yên
Ấn Linh ứng hóa vô biên
Chuyển xoay tất cả cứu nguy linh hồn
Hào quang Thiên Ấn bao trùm
Anh Linh tột thế khắp cùng chuyển xoay
Thiên Ấn Tối Thắng Như Lai
Nhất tâm cung kính tội tiêu ức ngàn
Thấy Ấn như thấy Cha Trời
Cầu chi đặng nấy linh thời ứng linh
Nam Mô vô tận hư không
A Men như ý quyền năng tột cùng

(đánh tiếng chuông đồng bái lạy).
* * *

5. KHAI BÚT

CHỦ LỄ cùng hai bên chủ lễ TẢ, HỬU đồng xướng đọc

Thiên Bút cao sâu khó nghĩ bàn
Ứng Linh xuất hiện chốn nhân gian
Cứu khổ ban vui cùng nhân loại
Vi diệu thậm thâm ức vạn ngàn.
Nam Mô Thiên Bút Đạo Tràng.
Linh Linh ứng hóa khắp cùng A Men.

(đánh tiếng chuông đồng bái lạy).
* * *

6. CHÚ NGUYỆN

Nguyện cầu pháp giới sanh linh
Tịnh yên vô nhiễm sạch không bụi trần
Hương giới hương huệ thơm lừng
Hương nhân hương nghĩa tột cùng sáng soi
Khẩu lành tụng niệm kinh luân
Gieo mầm công đức, gieo nhân quả lành
Tịnh khẩu ác nghiệp không còn
Hương thơm lan tỏa Đạo tràn cao bay
Tam nghiệp thanh tịnh an vui
Thân cùng Khẩu, Ý đắp xây quả lành
Trì kinh tụng đọc cúng dường
Dâng lên Tiên Tổ, Cha Trời chứng tri
Nguyện cho kinh pháp chuyển luân
Khắp cùng pháp giới mười phương gieo mầm
Lời kinh tận độ khắp cùng
Làm cho tất cả không còn khổ đau
Làm cho tất cả siêu sanh
Trở về Thiên Giới an lành yên vui.

Nam Mô _ A Men. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa mẫu. Long Hoa Giáo Chủ. Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ hộ độ chúng con. Nam Mô _ A Men.

(đánh tiếng chuông)
(Lạy ba lạy bái bốn bái)

* * *

PHẦN KHAI CƠ THÁNH ĐỨC ĐẾN ĐÂY LÀ HẾT.
TIẾP THEO SAU LÀ PHẦN KHAI KINH

II. KHAI KINH

Đánh tiếng chuông, tiếng mõ
Tiếng chuông tiếng mõ
Tiếng chuông tiếng mõ (3 lần).

1. Chủ Lễ Khai Kinh Xướng Đọc

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

Nhất tâm cung kính: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu Tối Cao Tam Bảo. Khắp hư không, pháp giới mười phương. Bao trùm quá khứ, hiện tại, vị lai, Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

(gõ chuông đồng lạy)

Nhất tâm cung kính: Chí Tôn Thiên Đế. Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

(gõ chuông đồng lạy)

Nhất tâm cung kính: Long Hoa Giáo Chủ. Quốc Vương Thỉ Tổ phân hóa mười phương. Chuyển đại pháp luân. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ, phương tiện vô biên diệu khởi cứu khổ sanh linh khắp Ta Bà thế giới.

(gõ chuông đồng lạy)

2. <TIẾP THEO> TỤNG CHÚ ĐẠI BI
(trang số: 291 – 307)

3. <TIẾP THEO> TỤNG KINH LONG HOA
(trang số: 55 – 65)

(nói về Cha Trời Mẹ Trời sanh ra nhân loại con người, xem Long Hoa Mật Tạng Kinh, Long Hoa Thiên Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn).

4. <TIẾP THEO> TỤNG CHÚ LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH 1, 2, 3.
(trang số: 308 – 314)

5. <TIẾP THEO> TAM NGUYỆN

Chủ Lễ xướng đọc
Cả ba Chủ Lễ, hai bên Tả Hửu đồng đọc

NAM MÔ A MEN
Đương Nguyện Thế Nhân. Quy Kính Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận Theo Kinh Bảo. Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

(đánh tiếng chuông đồng bái lạy)

NAM MÔ A MEN
Đương Nguyện Thế Nhân. Phát Vô Thượng Tâm. Thấu Suốt Kinh Tạng Trí Huệ Như Hải.

(đánh tiếng chuông đồng bái lạy)

NAM MÔ A MEN
Đương Nguyện Thế Nhân. Phát Vô Thượng Tâm. Thống Lý Đại Chúng Không Gì Ngăn Ngại.

(đánh tiếng chuông đồng bái lạy)

Nguyện đem công đức nầy
Hồi hướng khắp tất cả
Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ
Hết khổ tự tại, an vui hạnh phúc
* * *

(Bái xá bốn bái)

Phần khai kinh cũng như phần tụng kinh cơ bản đến đây là hết. Nếu muốn trì tụng kinh rộng lớn hơn. Tiếp theo sau Chú Đại Bi, thời chọn những phần kinh, trong Nhơn Luân Hiếu Nghĩa, Long Hoa Thi Tập, Long Hoa Thiên Tạng, Long Hoa Pháp Tạng, Long Hoa Mật Tạng, Sau Thời Hậu Đế, Quốc Hồn Long Hoa Đại Cương. Và còn những Văn Kinh trong Văn Sử khác nữa vân vân…

————————————-

NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý:
Quốc Bảo Khai Kinh là những phần văn kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt cho phù hợp hành lễ. NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN do người khai kinh. Không cần phải rập khuôn theo Khai Kinh. Tuỳ nghi thêm hay bớt văn kinh cho phù hợp nơi hành lễ. Không làm trở ngại cho việc hành lễ.

* * *

KHAI KINH SỐ 2
GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
________

Ba hồi chiêng – trống khai văn tế

VĂN TẾ DÂNG HOA

Chủ Tế bước tới trước một bước quỳ xuống xuống đọc Văn Tế. Hai bên Tả Hửu chủ lễ phía sau chấp tay chú ý lắng nghe.

Tinh Hoa: rực thắm sắc hương hoa
Thành tâm dâng cúng đức Ông Cha
Việt Nam con cháu lòng đóa tưởng
Công đức Vua Hùng mãi ngợi ca

(đánh tiếng chiêng tiếng trống)
(Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).

VĂN TẾ DÂNG TỬU

Tửu Vị: ấm nồng, tửu vị hương
Thành tâm dâng cúng Tổ Hùng Vương
Việt Nam con cháu lòng thành kính
Ân Đức Vua Hùng sáng hơn gương

(đánh tiếng chiêng tiếng trống)
( Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).

VĂN TẾ DÂNG TRÀ

Thảo mộc: tinh hoa mỹ vị trà
Thành tâm dâng cúng cội Ông Cha
Vua Hùng Quốc Tổ niềm chứng giám
Con cháu Tiên Rồng những thiết tha

( đánh tiếng chiêng tiếng trống)
(Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).

VĂN TẾ KHAI TRỐNG KHAI CHIÊNG

Hồi chuông: trỗi dậy chuyển âm vang
Truyền tấu càn khôn khắp thế gian
Phổ hóa Cha Ông đà ngự giá
Anh Linh truyền thống tỏa hào quang

(đánh tiếng chiêng tiếng trống)
( Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).

VĂN TẾ KHAI TRỐNG

Phúc Âm: sấm dậy chuyển âm vang
Ấn chỉ ban ra khắp thế gian
Tiếng trống phổ truyền chung thinh cáo
Giỗ Tổ Vua Hùng đại vinh quang

( đánh tiếng chiêng tiếng trống)
( Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).

VĂN TẾ TRỐNG CHIÊNG HỢP NHẤT

Âm- Dương Chiêng- Trống hiệp ban ra
Phổ hóa anh linh khắp nước nhà
Truyền tấu càn khôn thông pháp giới
Đương kim Quốc Giáo Đạo Ông Cha

( đánh chiêng trống chiêng trống 3 lần)
( đồng bái lạy)
Đi vào Văn Tế đại lễ
* * *

I. VĂN TẾ ĐẠI LỄ

Chủ Lễ đọc giọng trầm hùng

MỪNG NGÀY HÔM NAY

Trống đồng chuyển thế
Non sông dậy sấm anh hùng
Trống đồng ngân lên!
Việt Nam ngút ngàn linh khí
Rồng Tiên phấp phới!
Dậy sóng đất trời chuyển rung
Toàn dân giỗ Tổ!
Nhớ đến công ơn!
Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương
Cả nước mừng vui Quốc Lễ
Trên non dưới biển
Rợp bóng người đi
Cờ xí uy nghi !
Trống Chiêng thi nhau dục dã
Trăm họ, gái, trai, già trẻ!
Hân hoan muôn dặm trùng phùng
Bừng lên Nhật Nguyệt lẫy lừng
Việt Nam con cháu Tiên Rồng uy linh
Sơn hà trỗi dậy hương thơm
Trên Trời hạt trắng, mây xanh cát tường
Địa Linh non nước diệu kỳ
Núi non trùng điệp, điệp trùng uy nghi
Biển bọc bao la!
Ruộng đồng mênh mông
Thuyền xuôi sóng vỗ!
Núi mây sừng sững công Cha
Hổ Lượn Rồng Bay!
Sông nước tràn đầy nghĩa Mẹ

CÙNG NHÌN LẠI!

41 đời Hùng Vương
Bách Việt Văn Lang
Trăm bộ tộc!
Chầu về một hướng
Đạo Ông Cha muôn trượng cơ đồ
Lòng chuyên nhất triệu người như một
Cuộc mưu sinh khổ cực có nhau
Thế hệ trước tiếp nối thế hệ sau
Dù ngoại xâm!
Hay là Yêu Tinh Ma Quỉ
Tinh thần yêu nước
Vùng lên quật khởi
Dũng cảm mưu trí quật cường
Hiên ngang thay!
Bao phen từng đánh tan quân xâm lược
Thời Tiên Lang !
Khiến quân Ân khiếp nhược!
Anh Linh thay!
Phù Đổng Thiên Vương!
Một trận đánh hậu Ân tan xác
Nước Văn Lang oai hùng có khác
Vẻ vang thay 41 đời
Triều Vương Thế giới!
Nào có ai hơn !
Rực rỡ mấy nghìn năm thịnh trị
Với công lao!
Khai phá dựng nước một thời
Mà uy lực trải dài trăm thế hệ
Lòng yêu nước !
Ngút cao trên chín bệ
Đạo Hiếu Trung !
Nào phân biệt Gái, Trai
Triệu Nữ, Trưng Vương ! Anh hùng cái thế
Trai dũng lược Đinh Tiên, Lý Đế
Sông Bạch Đằng !
Ngô Quyền:
Đánh tan quân Nam Hán
Gió Nam Việt rền vang Truyền Thống
Lý Thường Kiệt!
Khiếp hồn quân Tống
Hội Diên Hồng!
Rung chuyển cả trăng sao
Hưng Đạo Vương !
Trung, Hiếu, Chí, Đức cao
Ba lần đánh Nguyên Mông khiếp vía
Lở đất long trời !
Quang Trung đại phá!
Một trận đánh vùi chôn quân Sĩ Nghị
Tiên Rồng hừng hực!
Năm nghìn năm, Đại Việt Uy Linh

CHÚNG CON NAY

Khắp ba miền Trung-Nam-Bắc
Bốn phương rộng khắp!
Nam – Bắc – Đông – Tây
Trăm họ, già, trẻ, gái, trai
Kính cẩn nghiêng mình Đại Lễ
Trên Quốc Tổ linh thiên chỉ vẽ
Dưới Hồn Thiên cao cả phù trì

XIN CÚI NGUYỆN

Trăm con một bọc !
Đồng Bào ruột thịt !
Yêu thương nhau đùm bọc chan hòa
Một gốc trăm cành!
Gắn bó mãi như keo sơn chặt chẽ
Dựng cơ đồ Chị ngã Em nâng
Cơn hoạn nạn Bầu thương lấy Bí
Chung sức cùng gian khó xẻ chia
Vì thế hệ tương lai !
Nào kể gì sống chết
Mãi hết lòng vì Dân! Vì Nước
Noi gương Cha Ông luôn gắng sức
Tinh thần cao ngút!
Khí thế con cháu Tiên Rồng
Nhớ ơn đời đời Hùng Vương Vạn Tuế
Nhớ ơn đời đời Hùng Vương Cái Thế
Nhớ ơn đời đời trời bể Hùng Vương
* * *
Chiêng trống nổi lên rền vang đại lễ

Chiêng- Trống
Chiêng- Trống
Chiêng- Trống

Hồng Lạc Tinh Hoa năm châu bốn biển ngoại xâm khiếp vía kinh hoàng.

Chủ văn tế Lạy chín lạy chín bái
* * *

Phần văn tế đến đây là hết, tiếp đến phần khai Giáo
Quốc Đạo Nền Văn Hiến Văn Lang Thời khai cơ dựng nước. Nay là Nền Văn Hiến Quốc Giáo Truyền Thống Anh Linh Việt Nam.

II. PHẦN KHAI GIÁO

HỒI CHIÊNG – HỒI TRỐNG
CHIÊNG – TRỐNG
CHIÊNG – TRỐNG
CHIÊNG – TRỐNG

Chủ Lễ xướng đọc Văn Giáo.

Phụng Nguyện Thượng Sớ

Hôm nay ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương.
Nhằm Ngày———-Tháng———–Năm——–
Thôn/ Tổ dân phố: ———————Xã/ Phường: ————————-Quận/ Huyện———————Tỉnh/ Thành phố: ———————-Nước Việt Nam.

Tại nơi: Am, Thất, Đình, Đền, Chùa————-
Trì tụng kinh giáo. Dâng lên Khai Hóa Tổ Tiên. Cha Trời Lạc Long Quân, Địa Mẫu Âu Cơ. Long Hoa Giáo Tổ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Hết thảy Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, Hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Năm châu bốn biển. Hồn Thiên Sông Núi. Hội tụ Linh Thiên về đây. Chứng tri công đức trì tụng Văn Giáo Kinh Luân.
Nguyện ơn trên hộ độ chúng con.

(gõ chuông đồng bái lạy).

KHAI GIÁO

ĐỌC TỤNG TẬP THỂ

Việt Nam Quốc Giáo lẫy lừng
Uy Linh vạn cõi sáng bừng thập phương
Truyền Thống Cha Ông vẻ vang
Năm nghìn năm Văn Hiến vinh quang tột cùng

(gõ tiếng chuông – đồng bái lạy).

KHAI ẤN

Ấn Linh xuất hiện chuyển an bang
Vận chuyển càn khôn chuyển thế gian
Thiên Ý Cha Trời nền Thiên Luật
Duy trì Công Đạo Chiếu Linh Quang

(gõ chuông đồng bái lạy).

KHAI BÚT

Bút Linh xuất hiện chốn nhân gian
Chuyển nguy hóa giải đến bình an
Việt Nam tỏa sáng nền Quốc Giáo
Rực rỡ Sơn Hà dậy vinh quang.

Nam Mô _ A Men. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Long Hoa Giáo Chủ, Chí Tôn Thiên Đế Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, hiện tại, vị lại. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

(gõ chuông đồng bái lạy)
* * *
Đọc tụng tập thể.

SÁM KINH

Quốc Tổ Anh Linh khó nghĩ bàn
Xuống trần khai Đạo cứu thế gian
Nay con thành kính xưng danh tụng
Phổ hóa lời kinh Quốc Đạo Tràng
Trước ảnh tượng Tiên Rồng chóa sáng
Lạc Long Quân cùng với Âu Cơ
Cha Trời Địa Mẫu Tối Cao
Uy Linh tột đỉnh trùm bao uy quyền
Với lòng dạ chí thành cung kính
Xin Trời Cha chứng giám công lao
Thành tâm lễ bái công ơn
Sanh thành dưỡng dục tạo lên muôn loài
Ngày Đại Lễ vang lừng Giỗ Tổ
Khắp cháu con hoa quả dâng lên
Một lòng nhớ đến công ơn
Khai cơ dựng nước dựng lên sơn hà
Ơn Quốc Tổ không gì sánh được
Truyền chân kinh tận độ chúng dân
Lập lên đất nước Văn Lang
Văn Minh hùng mạnh thế gian ai bì
Ơn Quốc Tổ thấm nhuần con cháu
Năm nghìn năm Văn Hiến vinh quang
Văn Lang Bách Việt chúng dân
Đời đời ghi nhớ công ơn của Người
Ngày giỗ Tổ tựu tề đông đủ
Đèn, hương, hoa, trà, quả kính dâng
Tỏ lòng thành kính tri ân
Công lao Quốc Tổ không ai hơn Người
Nền Quốc Đạo sáng ngời chân lý
Ơn Vua Hùng truyền giáo khai kinh
Công ơn trời biển công ơn
Nói sao cho tận kể sao cho cùng
Ngày Giỗ Tổ chí thành lễ bái
Xin bề trên chứng giám công lao
Khí Thiên sông núi khắp nơi
Hồn Thiên dân tộc vạn đời chở che
Là dân tộc Rồng Tiên Hồng Lạc
Vốn giống dân Hồng Ngọc uy linh
Giống dân Trung Hiếu Nghĩa Nhân
Không quên Nguồn Cội không quên giống nòi
Chúng con ý thức được rằng
Như cây có Cội nở nhành nở hoa
Nước kia không cạn vì sao
Còn Nguồn còn Cội đầy sông đầy hồ
Loài Chim có Tổ trường tồn
Loài người có Cội Tiên Rồng uy linh
Dân Tộc Việt năm nghìn năm truyền thống
Trải bao đời tiếp nối đến hôm nay
Giữ gìn bồi đắp dựng xây
Cho non cho nước nở đầy nhành xuân
Nền Văn Hiến lẫy lừng con cháu
Rạng hùng anh tỏa sáng Cha Ông
Rồng Tiên phấp phới cao bay
Năm châu bốn bể đấp xây hòa bình
Nước Việt nam đại gia đình dân tộc
Thể Đồng Bào luôn đùm bọc lẫn nhau
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Lá rách nương nhờ lá lành
Tinh thần đoàn kết bao đời khó phai
Anh Em như thể chân tay
Như chim liền cánh như cây liền cành
Ngày Giỗ Tổ hương trầm thơm ngát
Lời kệ kinh thấu suốt Tam Thiên
Kết thành cam lộ vô biên
Thấm nhuần hết thảy ức muôn vạn loài
Xin Tổ Tiên, Cha Trời, Địa mẫu
Cùng Vua Hùng Quốc Tổ anh linh
Hồn Thiên sông núi chứng minh
Chứng tri công đức chúng con thọ trì
Nguyện cho đất nước an lành
Thái bình độc lập nở nhành giàu xuân.

Nam Mô _ A Men. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Chứng minh công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, vạn sự bình an. Tai qua nạn khỏi, căn lành tăng trưởng. Tinh thần minh mẫn, sáng láng thông minh, hành trì chánh giáo, thuận theo Thiên Ý, hóa độ sanh linh. Nhân loại anh em khắp cùng thế giới đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc an vui. Nam Mô _ A Men.

(đánh hồi chiêng hồi trống kết thúc Khai Giáo)
(Lạy ba lạy bái bốn bái )

* * *
Lễ khai Văn Tế, khai Kinh, khai Giáo, Giỗ Tổ đến đây là hết.

***

KHAI KINH SỐ 3
CẦU AN

_________________

Chuông đánh 3 hồi 3 tiếng
Kế đến
Tiếng chuông tiếng mõ
Tiếng chuông tiếng mõ
Tiếng chuông tiếng mõ

Thắp đèn đốt hương, ban chủ lễ đứng ngay ngắn, chấp tay ngang ngực Chủ Lễ xướng tụng.

Chuông Mõ truyền đi thấu cõi Trời
Truyền rằng Trần Thế tại chúng nơi
Việt Nam tỏ rạng lời Trời dạy
Thiên Ý cam lồ thiện sinh sôi

(gõ chuông đồng bái lạy).

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN

Thế giới: tịnh yên nhờ có Đạo
Non sông: có Đạo mới bình yên
Gia đình xã hội chúng dân
Nếu không có Đạo rối ben khốn cùng
Án lam xóa ha (3 lần)

(gõ chuông đồng bái lạy).

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN

Thân lành thường giúp thế nhân
Khẩu lành không nói hiểm sâu hại người
Ý lành tận độ muôn loài
Làm cho hết thảy không còn khổ đau

Án ta phạ bà phạ, Truật đà ta phạ
Đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần)

(gõ chuông đồng bái lạy).

Chủ Lễ bước tới trước một bước. Quỳ ngay thẳng.
Tả Hửu hai bên chấp tay lắng nghe.
Chủ Lễ cầm 3 cây hương dâng ngang trán xướng đọc.

CẦU NGUYỆN:
Nay có Thánh Đức tên là: ———————Pháp Danh————————-cùng cộng sự đồng Đạo.
Tên Là:————————————————————-
Hôm nay nhằm Ngày————–Tháng————-Năm———Tổ dân phố/ Thôn: —————, Xã/ phường: ——————-Quận/ Huyện: ————————Tỉnh/ Thành phố: ——————– Nước Việt Nam.
Tại nơi Cư Gia, Đền thờ, Chùa chuyền Am Cốc, Miếu, Thất.
Giờ Tốt : Khai Kinh: Chư Chức Sắc. Đức Thầy. Chư Tăng. Đại Đức. Cùng toàn thể, thiện nam, tín nữ, cũng như con cháu, gái trai, già trẻ. Thành tâm cung kính lễ lạy cúng dường. Nhang, đèn, hương, hoa, trà, quả, rượu, nước, tinh khiết lập thành nghi thức dâng lên Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Ngưỡng mong ba ngôi tối cao. Ban xuống ân sâu. Khai tâm mở trí. Sáng láng thông minh. Thừa hành di chí ơn trên. Hành trì chánh giáo. Thuận theo Thiên Ý. Người sống thời được bình an. Người mất siêu sanh. Tất cả chứng thành quả Đạo. An vui tự tại dứt hết não sầu. Lời kinh vang vọng xin cầu.
Tổ Tiên, Địa Mẫu, Cha Trời chứng tri.
Nam Mô_A Men.
(gõ chuông đồng lễ lạy )

Chủ Lễ cùng Tả Hửu hai bên đồng xướng đọc:

KỆ CÚNG HƯƠNG

Đốt nén tâm hương đến Cha Trời
Linh Căn dâng trọn dưới chân Người
Cầu xin bảo bọc cùng che chở
Họa kiếp tai ương dứt tiêu trừ
Đốt nén tâm hương đến Mẹ Trời
Cầu cho nhân thế sống trên đời
Họa tai tan biến tâm an lạc
Gia Đình Xã Hội sống thảnh thơi
Đốt nén tâm hương dứt lòng tà
Nhớ lời truyền dạy Đức Trời Cha
Sống theo Thiên Ý thông đạt giáo
Trở về Thiên Giới sống âu ca

(gõ chuông đồng bái lạy).
* * *

TÁN DƯƠNG

Cha Trời pháp thuật vô biên
Thần thông quảng đại Tam Thiên cúi chầu
Mẹ Trời pháp thuật cao sâu
Tam Thiên cuộc sống Mẹ hầu chở che
Chúng con thành kính lắng nghe
Cúi xin Cha Mẹ chuyển xây yên bình
Nam Mô cuộc sống an lành
A Men như ý không còn khổ đau
Chú pháp Cha Mẹ ban cho
Linh thiên mầu nhiệm họa tai chẳng còn
Chú pháp đem lại cát tường
Thiên La, Địa Pháp hiệp cùng ứng linh
Thiên La Thần, Địa La Thần
Thân ly nạn, Nạn ly thân
Nhất thiết tai ương hóa vi trần
Nam Mô cung thỉnh nguyện cầu
A Men linh ứng nhiệm mầu ứng linh

(gõ chuông đồng bái lạy).
* * *

TÁN DƯƠNG

Lời kinh thấu đến Cha Trời
Đức lành ngào ngạt khắp thời Tam Thiên
Cầu cho nhân loại bình yên
Não phiền dứt sạch keo sơn hiệp hòa
Cội Nguồn truyền thống Ông Cha
Sáng soi nhân đức trổ hoa thái bình
Hiển linh, ứng ứng hiển linh
Lời kinh chuyển hóa muôn nghìn vận may
Nam Mô vô tận hư không
A Men như ý ước mong đạt thành

(gõ chuông đồng bái lạy).
* * *

SÁM GIÁC CA

Một lòng quy kính Tổ Tiên
Cha Trời, Địa Mẫu, Cửu Huyền Long Hoa
Hành thiện điều ác tránh xa
Trăm lành vạn phúc cái vui nào bằng
Hành thiện siêu sanh Thiên Đàng
Cung Trời sống mãi hết còn khổ đau
Cội Nguồn Văn Hóa cao sâu
Thậm thâm vi diệu biết bao cơ mầu
Thiên Luật, Thiên Ý Cha Trời
Chỉ cần làm được một lời cũng linh
Cha Trời hộ độ khai tâm
Phật, Tiên, Thánh, Chúa chẳng tầm đâu xa
Ngộ rồi trí huệ sáng soi
Tử sanh, sanh tử rõ thông an nhàn
Cội Nguồn kinh giáo Đạo Tràng
Như liều Thánh Dược cứu đời khốn nguy
Nghịch Thiên thời được cái chi
Muôn điều tai họa hết mong yên bình
Tai ương khắp chốn khắp cùng
Chỉ vì nghịch lại Ý Trời mà ra
Cầu lên ba đấng Ông Cha
Tối cao vũ trụ khai sinh Đất Trời
Quyền năng vô hạn tột cùng
Khai sinh tất cả vạn loài Tam Thiên
Thuận Trời muôn sự bình yên
Vạn lành muôn phúc việc chi cũng thành
Thuận Thiên tai họa tiêu trừ
Gia đình họ tộc rạng ngời danh thơm
Ông Bà Cha Mẹ siêu thăng
Cũng nhờ công đức Thuận Thiên Cha Trời
Cầu lên ba đấng cao vời
Quyền năng tột đỉnh giúp thời chúng con
Sống thời thường được bình an
Mọi điều suôn sẻ khó khăn cũng lành
Cầu xin Quốc Tổ Vua Hùng
Hiển Linh gia hộ khắp cùng chúng dân
Non sông Tổ Quốc giang sơn
Sanh sôi cuộc sống thênh thang cơ đồ
Khắp nơi phồn thịnh sang giàu
Nơi nào cũng được ngập tràn ấm no
Cầu cho Quốc Thới dân an
Nhà nhà hạnh phúc cháu con thuận hòa
Cầu cho Nam Việt nước nhà
Văn minh cuộc sống rạng ngời anh linh
Theo chân Quốc Tổ Hùng Vương
Nhân quyền dân chủ văn minh tột cùng
Dân giàu nước mạnh anh hùng
Việt Nam con cháu Tiên Rồng muôn năm
Nam Mô vạn sự bình yên
A Men như ý sám nguyền ứng linh
Nam Mô vạn sự đều nên
A Men như ý, ứng linh nhiệm mầu
Nam Mô vạn sự thỉnh cầu
A Men như ý, nguyện cầu ứng linh

Ta bà ha,
Án ,
Tất điện đô mạn đà ra.
Bạt đà gia, ta bà ha.
Yết đế yết đế
Ba la tăng yết đế
Ba la tăng yết đế
Bồ đề tát bà ha

(gõ chuông tất cả đồng lễ lạy)
* * *

Chủ lễ xướng đọc
Cội nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Tả lễ xướng đọc
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Hửu lễ xướng đọc
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Cả 3 hợp nhất cùng xướng đọc
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

* * *

Chủ lễ xướng nguyện
Nam Mô _ A Men
Đương nguyện thế nhân, quy kính Tổ Tiên. Cha Trời Địa Mẫu. thuận theo kinh bảo, Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

Tả lễ xướng nguyện
Nam Mô _ A Men
Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.

Hửu lễ xướng nguyện
Nam Mô A Men
Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.

Cả 3 cùng nguyện
Nguyện cho cuộc sống bình yên
Nguyện cho nhân loại não phiền sạch không
Nguyện cho khắp cả thế nhân
Sớm mau giải thoát siêu sanh Thiên Đàng
Nguyện đem công đức tụng trì
Hướng hồi khắp cả loài người, chúng sanh
Mau thành trí huệ thậm thâm
Chân như Đại Đạo trường sanh an nhàn.
————————
Bái bốn bái.

Phần khai kinh Cầu An số 3 đến đây là hết. Còn cầu an lớn đại sự. Thời phải tụng Đại Bi cùng Bát Nhã. Cũng như Chọn những phần kinh thích hợp trong Quốc Bảo Khai Kinh cho việc trì tụng tiếp theo. Hoặc chọn phần kinh trong những bộ kinh như sau: Kinh Nhân Luân. Kinh Long Hoa. Kinh Thiên Tạng. Kinh Pháp Tạng. Kinh Mật Tạng. Long Hoa Đại Cương. Long Hoa Thi Tập. Sau thời Hậu Đế vân vân…

* * *

KHAI KINH SỐ 4
CẦU SIÊU
____________________

Thắp đèn đốt hương xong.
Khai ba hồi chuông ba tiếng, ba hồi mõ ba tiếng.
Rồi nhập chuông mõ đánh cùng một lúc.
Chủ lễ cũng như Tả Hửu hai bên chủ lễ, đứng ngay ngắn, chấp tay trước ngực.
Chủ lễ bước lên trên một bước, xướng niệm đọc.

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN

Thế giới tịnh yên nhờ có Đạo
Non sông có Đạo mới bình yên
Gia đình, xã hội, chúng dân
Nếu không có Đạo rối ben khốn cùng
Án lam xóa ha (3 lần)

( gõ chuông đồng bái lạy).
* * *

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN

Thân lành thường giúp thế nhân
Khẩu lành không nói hiểm sâu hại người
Ý lành truyền dạy Đạo Trời
Làm cho cuộc sống không còn khổ đau

Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ.
Đạt mạ ta phạ, bà phạ, truật độ hám (3 lần)
( gõ chuông đồng bái lạy).
* * *

Cả ba đồng xướng

Nguyện thắp nén hương lòng
Bay lên khắp tầng Trời
Cúng dường ngôi Tiên Tổ
Cha Trời cùng Địa Mẫu
Quốc Vương Thỉ Tổ
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa
Khắp pháp giới mười phương
Quá khứ hiện tại vị lai
Thiên Đàng Trần Gian Địa Phủ
Ban xuống ân sâu
Cứu khổ hồn linh
Siêu sanh thiên giới
Nam Mô_A Men

( gõ chuông đồng bái lạy).
* * *
Chủ lễ quỳ xuống, xướng đọc.

KỲ NGUYỆN:
Hôm nay Thánh Tử tên là:——————-Pháp danh—————————- kỳ nguyện khai kinh Cầu Siêu
Nhằm Năm————Tháng————Ngày————Giờ———–
Hiện tại Nước——————Tỉnh/ thành phố: —————–Quận/ Huyện: ——————Xã/ phường: —————–Thôn/ tổ dân phố: ————- Xóm/ đường: ————————-
Tại nơi Cư Gia, Am, Thất, Chùa, Đền, Đình, Miếu.
Gia Chủ, Thí Chủ, Tín Chủ tên là: ———————-. Phẩm vật dâng lên: nhang đèn, hương hoa, trà, quả, đồ ăn thức uống, tinh khiết. Lập thành nghi thức.
Chư Thầy Đại Đức, cùng Thiện Nam Tín Nữ quỳ trước anh linh Tối Cao Vũ Trụ. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tụng kinh trì chú, xưng tán hồng danh. Một dạ chí thành.
Nguyện cầu ân trên, phóng quang cứu khổ Hương Linh.
Tên là:——————–. Pháp Danh: ———————- tiêu trừ khổ ách, thường hoạch kiết tường, tai nạn không còn. Âm Siêu Dương Thới, người sống kẻ mất, mê lầm tan biến, đều được lợi ích an vui.

( gõ chuông đồng bái lạy).
* * *

Cả ba chủ lễ

XƯỚNG KỆ TRIỆU HỒN

Thiên Cơ chuyển đến thời đến lúc
Hồn mau mau về đến nghe kinh
Trần Gian bể khổ mông mênh
Mau mau hướng thiện siêu lên cõi Trời
Thiện – Ác đáo đầu chung hữu báo
Nhân nào quả nấy có sai chi
Theo Trời, Trời chuyển, Trời xoay
Tiêu tan tai họa, siêu sanh Thiên Đàng
Phật với Ma, tự mình khai tạo
Nào khó chi, Ác – Thiện rõ thông
Rõ rồi thời phải gieo nhân
Hương Linh thành kính quy y Cội Nguồn
Bể trần khổ khốn, cùng sanh tử
Nào tai ương họa dữ chiến chinh
Mau theo Nguồn Cội Tổ Tiên
Cha Trời, Địa Mẫu anh linh tột cùng
Về Thiên Giới an nhàn vui thú
Cõi Thiên Tiên châu báu giàu sang
Đâu như cõi tạm trần gian
Sanh già bệnh tử, biết bao khốn cùng
Lời Trời dạy phước phần cam lộ
Khi uống vào dứt sạch khổ đau
Mau mau hồn hãy mau mau
Thành tâm lễ lạy quy y Cội Nguồn
Thất Phật diệt tội xong rồi
Hồn Linh siêu thoát về Trời an vui

Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế
Đa ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế
Ma ha già đế, chơn lăng càng đế
Ta Bà Ha.

Gõ một tiếng chuông.
* * *

TUYÊN SỚ:

Cúi đầu đảnh lễ đấng Cha Ông
Cầu mong giải thoát cứu Hương Linh
Vô Biên khổ ải không còn nữa
Thiên Đàng sống mãi dứt tử sinh.

Hôm nay Thánh Tử : Phụng sự cầu siêu, cúng kinh trai tuần, húy kị, kỳ siêu độ sự.
Kim tắc: Thượng khởi sớ chương. Phụng báo Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, duy nguyện hào tướng quang trung phủ thùy minh chứng.
ĐỌC SỚ :

PHỤC DĨ:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu phóng quang cứu khổ tiếp dẫn Hương Linh siêu sanh thiên giới.

BÀI SỚ VỊ:
Việt Nam Quốc, ————————Tỉnh/ thành phố, ——————————-Quận/ Huyện, ———————— Xã/ Phường, hiện cư ngụ tại —————————.
Phụng sự trì chú tụng kinh ( thiên cửu——————( tên người mất ), húy kỵ) khai kinh chi lễ, báo đáp thù ân kỳ siêu độ sự.
Kim cư gia : Tang Chủ.
Đồng gia môn hiếu quyến. Nam Nữ . Nội, Ngoại. Đại tiểu đẳng. Duy nhật bái can. Mong ơn trên Tổ Tiên, Cha Trời, Địa mẫu tiếp độ.

THỐNG NIỆM:
Phụng vị————- Hương Linh: (Phủ quân, nhụ nhơn, chi linh cửu ) chi linh.
(Dịch nghĩa: Phụng vị/ báo —–(tên)——– Hương Linh, tuổi, quê quán, chức vụ lúc còn sống)

TRƯỢNG THỪA:
Cội Nguồn Đại Đạo dĩ siêu thăng. Toàn lại kinh văn nhi giải thoát tư lâm.
Khai Kinh chủ lễ, kiền trượng thiền hòa ( Đạo Tràng) chi niệm phúng tụng. Đại Thừa Thiên Ý Văn Kinh.
Tôn kính gia trì: Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú:

Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha già đa dạ. Đá địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đá. Tất đam bà tỳ. A đi rị Đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá. Tỳ ca lan đa. Già di nị. Già già na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha.

Nguyện Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, chứng minh công đức cầu siêu tận độ. Ứng linh tiếp dẫn Hương Linh siêu sanh Thiên Giới.

• Nếu không sớ thì đọc:
• Kim tắc (1) cung bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Dung nguyện từ bi phủ thì tiếp độ.
• Phụng vị tên—————–Hương Linh. Chi Hương nương theo hào quang Thiên Ý dĩ siêu thăng. Toàn kinh văn nhi giải thoát. Khuông phò tín chủ dĩ bình an. Tỷ hộ toàn gia nhi khương thái. Thiệt lại Tổ Tiên Cha Trời Địa Mẫu ấn chứng minh. Cẩn bạch.

( gõ chuông đồng bái lạy)
* * *

Tam chủ lễ
Đồng xướng kệ

Hương Linh vốn khốn khổ
Do lạc Cội mà ra
Hương linh mãi đọa sa
Là do:
Thân khẩu ý gieo nghiệp dữ
Hương Linh nay lìa bỏ
Hướng thiện mãi làm lành
Hương Linh quy Cội Nguồn
Hương Linh:
Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa
Nam Mô_A Men.

( gõ chuông đồng bái xá).

Phần khai kinh cầu siêu Thánh Tử đến đây là hết.

• Tiếp theo là phần khai kinh tụng kinh trì chú Đức Thầy, Thiện Nam Tín Nữ.

KHAI KINH KỆ

Đức Thầy Xướng đọc

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn ức kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu

( gõ chuông đồng bái lạy).
* * *

• Tiếp Tiếp: Trì tụng Long Hoa Đại Bi Thần Chú.
(trang số: 291 – 307)

• Tiếp theo: Trì Tụng Kinh Long Hoa.
(trang số: 55 – 65)

(Phần kinh nói về Cha Trời Mẹ Trời sanh ra nhân loại con người. Nằm trong các bộ kinh. Như kinh Long Hoa Thiên Tạng. Kinh Long Hoa Mật Tạng.)

• Tiếp theo: Trì Tụng Long Hoa Bát Nhã .
(trang số: 308 – 314)

• Cuối cùng là tụng: sám từ vân.

SÁM TỪ VÂN

Một lòng khổ nhọc không nài
Cầu về Thiên Giới thoát vòng trầm luân
Cha Trời, Địa Mẫu, Tổ Tiên
Cội Nguồn hết thảy ức muôn vạn loài
Lòng con quy kính Cội Nguồn
Nguyện làm Hiếu Đạo tôn thờ Mẹ Cha
Cầu mong quả Đạo thậm thâm
Cầu mong trí huệ vô biên tận cùng
Con nay chí nguyện lòng thành
Cầu mong Cha Mẹ chứng lòng độ cho
Trở về Thiên Giới an vui
Không còn khổ sở bơ vơ luân hồi
Cha Trời cùng với Mẹ Trời
Thương con thời hãy cứu thời chúng con
Trần gian khổ lắm Mẹ ơi
Biển trần lặng hụp biết bao khổ sầu
Chúng con cầu được về Trời
Thuận theo kinh giáo không còn lầm mê
Thiên Đàng đất báu hào quang
Lầu đài cung điện vàng son ngọc ngà
Sống đời trẻ mãi không già
Không đau không bệnh, không là tử sanh
Nguyện rằng con nguyện theo chân
Cha Trời, Địa Mẫu, Tổ Tiên, Cội Nguồn
Phát tâm thương hết muôn loài
Cầu cho nhân loại đồng là siêu sanh
Trở về Cực Lạc quê Tiên
Xa lìa mộng tưởng đảo điên luân hồi
Nam Mô cứu khổ Cha Trời
A Men Đức Mẹ độ thời chúng con

( gõ chuông đồng bái lạy).
* * *

TAM NGUYỆN:

Nam Mô A Men:
Đương nguyện thế nhân, quy kính Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận theo Kinh Bảo Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
( gõ chuông bái lạy)

Nam Mô A Men:
Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm. Thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.
( gõ chuông bái lạy)

Nam Mô A Men:
Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.
( gõ chuông bái lạy)

* * *

Chú Nguyện:

Nguyện đem công đức nầy
Hướng về khắp tất cả
Giải thoát muôn sự khổ
Siêu sanh và an vui
Nam Mô_A Men

( bái xá )
—————————–

Lễ khai kinh số 4 cũng như phần tụng kinh trì chú đến đây là hết.
Nếu muốn tụng thêm thời chọn những phần kinh thích hợp trong Quốc Bảo khai kinh, cho việc trì tụng tiếp theo. Cũng như chọn những phần kinh trong những bộ kinh sau đây cho việc trì tụng tiếp theo: Kinh Nhân Luân. Kinh Long Hoa. Kinh Long Hoa Thiên Tạng. Long Hoa Pháp Tạng. Long Hoa Mật Tạng. Long Hoa Đại Cương. Long Hoa Thi Tập. Sau Thời Hậu Đế vân vân…

***

KHAI KINH SỐ 5
NGHI THỨC KHAI KINH NHẬP ĐẠO
____________________

Con Cháu, Đệ Tử Thiện Nam Tín Nữ. Khi nghe hồi chuông. Tập trung vào chánh điện.
Hội Đồng Thánh Đức Áo Tràng nghiêm chỉnh. Tất cả chấp tay hướng về Thiên Ấn. Tổ Tiên. Cha Trời, Địa Mẫu.
Lắng tâm nghe một hồi Chiêng Trống. Chuông Kim Cang. Trống Bát Nhã. Chuông Mõ khai lễ.
Rồi tất cả điều quỳ xuống nghe Hội Đồng Thánh Đức dâng lên lời phụng báo lên ba đấng tối cao. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Đại diện cho Hội Đồng Thánh Đức. Ban Chủ Lễ gồm 3 vị bước lên trên đại chúng, tới trước anh linh Thiên Ấn, anh linh Cha Trời Địa mẫu đọc văn bút phụng báo như sau.

Ban Chủ Lễ 3 vị
Quỳ ngay thẳng
Chánh Chủ Lễ Đọc Văn Sớ
Còn hai bên Tả, Hửu chủ lễ
Tịnh tâm lắng nghe

Chủ Lễ Xướng kệ sớ như sau

Thành tâm cung kính lạy
Dâng lên lời phụng sự
Kính báo Đấng Cha Ông
Nay dân sứ tâu lên
Tổ Tiên, Cha Trời Địa Mẫu
Long Hoa Giáo Chủ
Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa
Khắp pháp giới hư không
Quá khứ, hiện tại, vị lai
Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ
Chứng tri lễ nhập đạo sanh khai

( đánh tiếng Chiêng, tiếng trống )

Chủ Lễ vẫn quỳ ngay ngắn
Hai bên Tả Hửu chủ lễ Lạy một lạy

Chủ Lễ Xướng đọc tiếp

Kỳ Nguyện:
Hôm nay nhằm ngày——-tháng——–năm———
Tổ dân phố/ Thôn: —————–, Xã/ phường: ——————Quận/ Huyện: —————–, Tỉnh/ thành phố: ——————Nước Việt Nam.
Tại nơi: Am, Thất, Đình, Đền , Chùa. Cầu thỉnh Hội Đồng Thánh Đức, Tác lễ chứng nhận hội nhập thành viên vào Thiên Ý Đại Đạo.
( đánh tiếng Chiêng, tiếng Trống)

Ba Vị Chủ Lễ phụng báo đứng dậy lui qua một bên
Vị Chủ Lễ khai nhập Đạo
Bước ra trước tượng Cha Mẹ Trời lễ lạy
Tuyên đọc uy danh những vị hội nhập Đại Đạo
Đọc xong
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Vị Chủ Lễ khai nhập Đạo lui về một bên
Tiếp đến ba vị chủ lễ phụng báo.
Bước ra trước tượng Cha Mẹ Trời. Quỳ xuống.

Chủ Lễ Xướng đọc tiếp

Thành tâm cung kính. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Lai lâm chứng giám. Phù trì, hộ độ cho ngày hội nhập Thiên Ý Đại Đạo. Tiếp nhận con cháu vào Thiên Luật. Dự phần vào ngôi Thánh Đức. Thừa hành di chí Ông Cha.

Kính mời đại diện tối cao Hội Đồng Thánh Đức Truyền Thánh Chỉ Hội nhập THIÊN Ý ĐẠI ĐẠO, do Hội Đồng Thánh Đức chủ trì ban ra.

( đánh tiếng Chiêng, tiếng Trống)

ban chủ lễ lui qua một bên.
Tiếp đến là lễ hội nhập Thiên Ý Đại Đạo Hết sức trang nghiêm
Xong đâu vào đấy Tam Chủ Lễ Đồng Xướng đọc kệ rằng:
(Kèm theo nhạc cụ: Kèn, đàn, sáo đệm theo)

Đức Tổ Tiên bao trùm rỗng lặng
Mẹ, Cha Trời vô tận hư không
Quyền năng vô hạn vô biên
Chuyển xây vũ trụ, ức muôn vạn loài
Trước Cha Trời tâm con chí nguyện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y
Từ đây giới luật tinh nghiêm
Thừa hành di chí Tổ Tiên, Cha Trời
Lòng Trung Hiếu sáng ngời muôn thuở
Luôn hành theo dạy bảo Trời Cha
Làm cho nhân loại âu ca
Chung hòa hạnh phúc siêu lên cõi Trời
Nam Mô Đại Đạo cao vời
A Men như ý đạt thành ước mong

( đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Cả ba Chủ Lễ đồng bái lạy

Sau đây là: Hội Viên. Đạo Viên đồng xướng kệ rằng:

Hôm nay ngày nhập Đạo
Ngày trở về Nguồn Cội
Khôi phục lại linh căn
Vào ngôi!
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa
Bao lầm mê tội lỗi
Gieo ra từ vô thỉ
Lạc loài trong ác đạo
Xoay vần trong ác nghiệp
Ngược lại ý Trời Cha
Mãi luân hồi đọa sa
Tai ương không kể xiết
Trải qua vô số kiếp
Khốn khổ mãi khôn cùng
Trăm ức muôn vạn nghìn
Đọa lạc thảm thảm thê
Nay dứt sạch lầm mê
Trở về nơi bờ giác
Một lòng thành kính quy y
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu
Long Hoa Giáo Chủ
Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa
Khắp pháp giới mười phương
Chứng tri tấm lòng biết ơn
Hết lòng ra công dạy bảo
Xót thương phù trì che chở
Khai tâm mở trí
Tuệ quang sáng láng
Trí huệ như hải
Chúng con mãi mãi
Nỗ lực làm lành
Nguyện tận độ linh hồn
Chuyển hóa những khổ đau
Chuyển hóa những họa tai
Tiêu tan không còn nữa
Theo di chí !
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu
Sống cuộc sống bình đẳng
Lòng đại nghĩa từ bi
Vì nhân loại anh em
Vì giải thoát khổ đau
Luôn hết lòng tận tuỵ
Nam Mô vô tận Cha Ông
A Men cứu khổ dứt đi đọa đày

( Gõ tiếng chuông tiếng mõ)
Nhạc cụ nổi lên hòa theo Lời xướng tụng sau đây:

Trước Ấn linh, Cha Trời Địa Mẫu
Cúi đầu xin tội lỗi tiêu tan
Linh linh ứng hóa vô biên
Chuyển xây vận mệnh thoát siêu an nhàn
Nay con đã bước vào Đại Đạo
Thời tâm con thành nguyện nghe theo
Cầu cho ác nghiệp tan tiêu
Mau thành chánh quả vào ngôi Thánh Hiền
Lời Trời dạy không gì hơn được
Cao ngút ngàn vi diệu thậm thâm
Nay con nghe thấy nguyền tu học
Nguyện rõ lời Cha lý đạt thông
Lời trì tụng ứng linh cùng khắp
Thân khiêm cung nguyện thoát tai ương
Ý thuần phục nguyện lòng tỏa sáng
Dẫu cho tạo tội to hơn núi
Cũng nguyện tiêu tan, sạch chẳng còn
Nam Mô quy kính Cội Nguồn
A Men Đại Đạo nguyện thành A Men

( đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
( đồng bái lạy)

Tiếp theo: Hội Đồng Thánh Đức:
Thuyết giảng về ý nghĩa quy y nhập đạo

Thưa Đạo Hội:

Quy Y nhập Đạo là gì ?

Quy : Có nghĩa là trở về nương tựa vào ba ngôi Tối Cao Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.

Y : Có nghĩa là không thay đổi, trước sao sau vậy. Trọn lòng tôn thờ hiếu kính đối với Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời.

Khi chúng ta đã quy y trở về với Nguồn với Cội. Là chúng ta tuyệt đối trọn lòng tôn kính hiếu Đạo đối với Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu Mẹ Trời.

Tổ Tiên là gì ? mà chúng ta thành tâm quy y?

Như chúng ta đã biết, và cũng thường nghe Ông Bà chúng ta dạy. Tổ Tiên là trên hết. Sao gọi là trên hết ?
Vì Tổ Tiên là Đấng Tối Cao khai sanh ra tất cả. Khai sanh ra vũ trụ Tam Thiên, Đại Thiên thế giới. Khai sanh ra Thiên Đàng, Trần Gian, Địa phủ. Khai sanh ra Càn Khôn Thiên Địa. Nhật, Nguyệt, Tinh Tú, Thiên Hà, Ngân Hà. Thậm chí khai sanh ra không khí cho chúng ta hít thở. Khai sanh ra Cây Cỏ, Ngũ Cốc, muôn loài vạn vật để nuôi dưỡng sanh mạng chúng ta. Thậm chí Linh Hồn chúng ta cũng từ Đại Linh Hồn Tổ Tiên phân hóa sanh ra tiểu Linh Hồn chúng ta. Như thế Tổ Tiên là Cội Nguồn sanh ra muôn sanh linh cùng vạn vật trong đó có chúng ta. Vì thế chúng ta quy y trở về với Cội với Nguồn, của chúng ta. Là chúng ta vô cùng khôn ngoan, vì chúng ta không còn lạc lõng bơ vơ trong vũ trụ. Lạc loài trong Trời Đất. Luân hồi sanh tử khốn khổ vô cùng. Chúng ta đã trở về với Cội với Nguồn của chúng ta. Là chúng ta như nước có Nguồn, như cây có Cội. Nhất định nở cành xanh ngọn. Muôn phúc vạn lành sẽ đến với chúng ta.

Tóm lại: Tổ Tiên là Cội Nguồn của chúng ta, chúng ta phải quy y trở về Nguồn Cội của chính mình. Đó là sự quy y chân chính nhất, không có sự quy y nào cao hơn nữa. Chúng ta trở về với Cội với Nguồn, là chúng ta không bao giờ sa đọa xuống các tầng Địa Phủ nữa. Mà trở về quê hương Thiên Đàng cực lạc. Tổ Tiên chúng ta đã khai tạo ra các Thiên Giới vô số vô biên cõi nước Trời là để cho chúng ta những người con cháu trở về Nguồn Cội hưởng phước sanh sống an vui tự tại. Không còn khốn khổ luân hồi sa đọa nữa.

Cha Trời, Địa Mẫu là ai ? Mà chúng ta thành kính quy y

Cha Trời, Địa Mẫu là Hiện Thân của Khai Hóa Tổ Tiên
Hai đấng tối cao vũ trụ. Cha Rồng, Mẹ Tiên. Nhân loại con người có ra, là do Cha Trời Mẹ Trời sanh ra. Lưu truyền nòi giống con người cho đến tận bây giờ. Chúng ta đang mang dòng máu trong người, chính là dòng máu của Cha Trời Mẹ Trời.
Nhưng chúng ta đã quên Nguồn quên Cội lạc loài bơ vơ mãi trong chốn bụi trần, lặng hụp mãi trong bể khổ trầm luân. Cũng tại vì chúng ta không biết mình từ đâu sanh ra. Như cây mất gốc nên mãi héo cành rũ ngọn. Như nước không nguồn cạn phước cạn đức khốn khổ triền miên, hết khổ nầy đến khổ khác. Trải qua không biết bao nhiêu số kiếp đọa đày. Nay chúng ta trở về với Nguồn với Cội là chúng ta đại giác ngộ nhận thức được rằng. Cha Trời Mẹ Trời không những là hai Đấng Cội Nguồn của chúng ta. Mà còn là Hai đấng quyền năng vô hạn. Thần thông pháp thuật vô biên chuyện gì làm cũng được. Lại là hai Đấng giàu có nhất vũ trụ. Chủ nhân của tất cả nhất là sự giàu có về ngọc ngà châu báu. Khắp toàn tam thiên đại thiên thế giới. Cũng như thất sơn châu báu hạ thiên vũ trụ.

Tóm lại :
Chúng ta trở về với Cội Nguồn là chúng ta muốn gì được nấy, muốn được giàu có như ý, quyền năng như ý, hạnh phúc như ý thời chúng ta phải biết nghe lời Cha Trời dạy bảo, tùy làm theo lời dạy bảo Cha Trời nhiều hay ít mà hưởng phước Trời lớn hay nhỏ. Công lớn thời làm vua Trời. Công nhỏ thời làm dân Trời. Nói chung làm theo lời Trời dạy đều được lợi ích. Nhất là lợi ích siêu sanh về Thiên Giới sanh sống, không còn sa đọa khốn khổ nữa. Tổ Tiên, Cha Trời Địa mẫu là ba ngôi Tối Cao vũ trụ, không ai cao hơn Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời. Ba ngôi vô thượng Tối Cao nầy. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, cũng chỉ là con cái, con cháu của Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu mà thôi. Ba ngôi Tối Cao nầy quyền năng vô hạn quyền phép vô biên. Sanh vũ trụ, tận diệt vũ trụ theo ý muốn của mình. Ba ngôi hóa công của Tạo Hóa. Có đủ quyền năng ban phước cho những ai làm lành hướng thiện không nghịch lại Thiên Ý Cha Trời. Giáng họa cho những ai hành ác đi ngược lại Thiên Ý Cha Trời.

Chúng ta đã quy y trở về Cội Nguồn là chúng ta từ đây đi vào con đường hết khổ. Chúng ta tuyệt đối tin vào lòng thương yêu của Cha Trời Mẹ Trời đối với chúng ta. Chúng ta càng thành tâm tỏ lòng hiếu kính quỳ dưới chân Cha Mẹ. Cầu mong Cha Mẹ che chở. Và ban ân đức cho chúng ta. Thời chúng ta sẽ được như ý. Nhất là siêu sanh về các cõi Trời sống trên châu báu Thiên Đàng Cực Lạc.

Chúng ta đã quy y Nguồn Cội. Là chúng ta đi vào ngôi vị thừa kế những gì Tổ Tiên, Cha Trời Địa Mẫu đã tạo ra, và tiến đến làm chủ tất cả. Làm chủ vũ trụ. Làm chủ tam thiên, đại thiên thế giới. Làm chủ Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Làm chủ Nhật, Nguyệt, Tinh Tú, Thiên Hà Ngân Hà. Cho đến làm chủ muôn loài vạn vật.

Trong sự làm chủ nhất là làm chủ Thiên Bút Văn Kinh của Trời. Truyền bá lại cho các thế hệ sau. Thời phải nói sự làm chủ nầy không thể nghĩ bàn. Dù cho trăm nghìn ức kiếp cũng không thể nào kể hết những lợi ích của sự truyền bá Thiên Bút cho đời. Có thể nói sự thành đạt như ý.

Chúng ta đã quy y trở về với Cội với Nguồn là sự quy y cao nhất không còn sự quy y nào cao hơn nữa. Lấy Thiên Ý làm kim chỉ nam. Lấy Thiên Luật làm sự sống nhất là Thiên Luật Nhân Quả, gieo giống gì thời trổ ra giống nấy. Vì thế chúng ta phải tuyệt đối gieo ra giống lành những hạt giống Văn Hóa Cội Nguồn mà Cha Trời đã trao cho chúng ta.

Đã nhập Đạo. Thời từ đây luôn yêu thương đồng loại Đồng Bào Anh Em. Làm cho nhân loại anh em hạnh phúc nhất là làm cho Thân – Khẩu – Ý thường trong sạch. Hội tụ đủ Nhân Hạnh, Đức Độ, Tài Năng. Thừa hành di chí Ông Cha. Tận độ nhân loại Anh Em. Siêu sanh về các cõi Trời Đạo Quả Viên Mãn.

Hội Đồng Thánh Đức thuyết giáo xong, đồng phất nước trong cam lộ về phía đại chúng bắt ấn Tí, bắt ấn Ngọ làm phép .

Nguyện rằng:
Cơ Trời ứng hóa
Thuận theo Thiên Ý
Đương nguyện nhơn sanh trở về Nguồn Cội, thấu suốt Đại Đạo. Phát vô thượng tâm.

Cơ Trời ứng hóa
Thuận theo Thiên Ý
Đương nguyện nhơn sanh, thâm nhập chánh kinh, thấu suốt Thiên Ý cha Trời, hành trì Thiên Luật, trí huệ như hải.

Cơ Trời ứng hóa
Thuận theo Thiên Ý
Đương nguyện nhơn sanh, theo bước Cha ông. Thừa hành di chí, thống lý đại chúng nhất thiết vô ngại.

* * *

Lễ khai kinh nhập Hội, nhập Đạo đến đây là hết . Đại chúng bái lạy ấn xá rồi lui ra. Nếu lễ lớn thời Chiêng, Trống, Nhạc. Khai lễ cũng như Bế Mạc long trọng hơn nữa.
———————————-

Những điều cần chú ý:
Quốc Bảo khai kinh là những Văn Kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt Văn Kinh. Cho phù hợp hành lễ. NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN. Thời ban tổ chức khai kinh. Hay người khai kinh, không cần phải khuôn rập theo Văn Kinh. Tuỳ Nghi thêm hoặc bớt Văn Kinh, cho phù hợp nơi hành lễ.

***

KHAI KINH SỐ 6
NGHI THỨC PHONG THÁNH
THEO NGHI THỨC VẠN ĐẠI
__________________

Nghi Thức : giới thiệu thành phần tham dự
Thành phần cao cấp, cũng như chức sắc cao cấp
Nghi Thức : giới thiệu thành phần tài trợ
Nghi thức đi vào đại lễ:
Chuông kim cang. Trống bát nhã hiệp nhau đánh 3 hồi 3 tiếng.
Chủ lễ văn tế 3 vị, tới trước bàn thờ tam cấp. Tổ Tiên Thiên Ấn. Cha Trời, Mẹ Trời. Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương Uy Nghi Trang Nghiêm. Thắp đèn, đốt hương, đứng ngay ngắn trước bàn thờ.
Chủ lễ bước tới một bước, quỳ xuống xướng đọc văn tế.
Hai bên Tả Hửu chủ lễ phía sau lắng nghe.

VĂN TẾ DÂNG HOA
Chủ lễ xướng đọc
Hai bên Tả Hửu chủ lễ lắng nghe

Tinh Hoa rực thắm sắc hương hoa
Thành tâm dâng hiến Cội ! Ông Cha
Thuận Hiếu ! Chúng con lòng đóa tưởng
Cha Trời, Địa Mẫu mãi ngợi ca
Khấu bái

( đánh tiếng Chiêng, tiếng Trống)
Hai bên Tả Hửu chủ lễ lạy xuống
* * *

VĂN TẾ TỬU
Chủ lễ xướng đọc
Hai bên Tả Hửu chủ lễ lắng nghe

Tửu Vị ấm nồng tửu vị hương
Thành tâm dâng hiến Đức Tổ Tiên
Cha Trời, Địa Mẫu lòng thương tưởng
Chúng con thành kính nguyện náo nương
Khấu bái

( đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Hai bên Tả Hửu chủ lễ lạy xuống
* * *

VĂN TẾ DÂNG TRÀ
Chủ lễ xướng đọc
Hai bên Tả Hửu chủ lễ lắng nghe

Thảo Mộc tinh hoa mỹ vị trà
Thành tâm dâng hiến Cội ! Ông Cha
Cầu mong Đại Đạo nguồn Thiên Ý
Thiên Luật bao trùm Đạo Tinh Hoa
Khấu bái

( đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống
* * *

VĂN TẾ KHAI
CHIÊNG – CHUÔNG
Chủ lễ xướng đọc
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe

Kim Cang Chuông kệ chuyển âm vang
Truyền tấu càn khôn khắp hư không
Nay ngày Phong Thánh Ngôi Thiên Ý
Thừa hành di chí Đạo khai thông
Khấu bái

( đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Hai bên Tả Hửu chủ lễ lạy xuống
* * *

VĂN TẾ KHAI TRỐNG
Chủ lễ xướng đọc
Hai bên Tả Hửu chủ lễ lắng nghe

Phúc Thiên Âm Pháp Trống dậy vang
Ấn truyền Đại Đạo khắp thế gian
Phong Thánh, Thiên Quyền ngôi Thiên Ý
Uy linh tột thế, đại vinh quang
Khấu bái

( đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống
* * *

VĂN TẾ CHIÊNG – TRỐNG
HỢP NHẤT

Chủ lễ xướng đọc
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe

Âm Dương Chiêng Trống hiệp ban ra
Truyền tấu Ý Trời, khắp bao la
Vinh quang truyền Ấn ngày phong Thánh
Linh quang chiếu diệu khắp hà sa
Khấu bái

( đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống
* * *

VĂN TẾ KHAI NHẠC
Chủ lễ xướng đọc

Ngày phong Thánh. Sáo, Kèn, Chiêng, Trống
Đờn hòa theo Truyền Thống Thánh Ca
Chung nhau hiệp lực ban ra
Truyền đi Thánh Lễ đăng quang lẫy lừng

( đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Cả 3 chủ lễ đồng lạy xuống

Tất cả lắng nghe : Đàn, kèn, sáo chiêng, trống tấu bài Thánh Lễ. Xong đâu vào đấy, ban Chủ Lễ tiếp tục xướng đọc Văn Tế, Diễn Văn với giọng trầm hùng:
* * *

VĂN TẾ
ĐỌC DIỄN VĂN

Ban chủ lễ quỳ ngay thẳng
Hai bên Tả Hữu chủ lễ chấp tay trước ngực lắng nghe
Chủ lễ xướng đọc văn tế với giọng buồn bi ai
Có đờn bầu cùng các nhạc cụ khác hòa theo

Khổ thay :
Sống ở đời mấy ai là yên ổn
Trần Gian bể khổ!
Chỉ là nơi cõi tạm!
Thế mà hoạn nạn, tai ương, bệnh tật, tử sanh
Một cuộc sống bể dâu!
Lênh đênh ba chìm bảy nổi
Họa vô đơn chí lòng lo mãi
Kiếp con người trần tục
Mấy ai không khổ ải
Nhọc nhằn bươn chải
Nhưng kết quả ra đi, cũng trắng tay
Khéo thương thay
Cuộc sống trần gian
Mãi bám lấy tai ương quanh quẩn
Khổ ơi là khổ
Biết bao thảm cảnh trên đời
Ngậm ngùi rơi lệ kiếp người Trần Gian

( đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Chủ lễ xướng đọc tiếp với giọng kể lể
Đờn tranh sáo trúc hòa theo

Một tấm lòng thương
Một cuộc hy sinh
Xả thân vì đời, vì nhân loại anh em
Nào đợi tập rèn, tài trí siêu nhân
Nào đợi giàu sang, tài ba xuất chúng
Chỉ vì người
Một manh áo vải
Lao vào bể khổ cứu vớt nhân loại anh em
Chỉ một nắm rau ranh
Cũng thấy đà ngon miệng
Màng chi cao lương mỹ vị
Khắp Đông – Tây vạn dặm cứu người
Thời vận may
Gặp Cội gặp Nguồn
Rèn chí lớn trong ngôi nhà Đạo Đức
Gươm nghĩa nhân đầy dũng khí tự tin
Kể chi hiểm nguy
Kể chi bản thân
Kể chi nhọc nhằn gian khổ
Kể chi ngăn cản yêu ma
Chí đại hùng thúc dục
Lòng đại bi nhẫn nhục vượt qua

( đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Với giọng hào khí cao ngút chủ lễ xướng đọc

Nào sợ chi
Tù ngục đao to búa lớn
Liều mình như chẳng có
Làm cho
Yêu Tinh, Quỉ Dữ kinh hồn bạc vía
Gươm trí huệ
Tuy chưa mài
Nhưng vô cùng sắc bén
Bước dọc ngang theo khí thế Ông Cha
Chữ Đức chuyển xây
Chữ Tài ẩn nhẫn
Trước mắt là biển khổ
Sau lưng là phiền não, nghiệp dữ hoành hành
Nhưng luôn vững chí
Tận độ dân tình
Chốn trần đời
Bao trùm u minh Địa Ngục
Khắp nhân sanh tuôn lệ vạn nghìn sầu
Nhìn thế sự lạc vào vinh nhục
Mà quên đi Nguồn Cội Ông Cha
Hỡi mấy ai
Ngược dòng trần thế
Nằm sương gối tuyết
Tắm mưa gội gió
Kể gì thân xác
Vì đại nghĩa
Vượt qua nguy khốn cứu dân
Thà thác mà linh hồn hiển Thánh
Còn hơn sống mà chỉ biết cái ta
Chết đi thành Quỉ thành Ma
Luân hồi sanh tử còn chi Linh Hồn
Phải ra sức!
Ngăn đường Địa Phủ
Thiên Đàng mở cửa khai ra
Chí cứu dân, lòng người Trời tỏ
Trên Ân Thiên nâng đỡ hiển vinh

( đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Chủ lễ xướng đọc giọng trầm hùng cao vút
Nhạc lễ Kèn, trống, chiêng, đàn, sáo hòa theo

Mừng ngày hôm nay!
Ngày anh linh Phong Thánh
Đại lễ bừng lên
Vũ trụ ngút ngàn tỏa sáng
Nổi lên chiêng trống
Đất Trời dậy sóng chuyển rung
Nhạc lễ hòa theo
Đất Trời anh linh tỏa sáng
Tiếp nối di chí.
Cha Ông năm nghìn năm Văn Hiến
Truyền trao Ấn Bút
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đồng vui
Tột thế uy linh.
Nhang đèn khói hương cờ xí
Lời ca tiếng hát, cao ngút trời xanh
Khí thế bừng lên
Truyền thống Cha Ông vang lừng vạn cõi
Anh Linh Quốc Tổ
Sơn hà rực rỡ trổi xuân
Đất Trời chuyển giao
Non sông Rồng Tiên phấp phới
Bừng lên Quốc Giáo
Trổi dậy Hồn Thiên sông núi
Khí thế oai linh
Hổ dậy, Rồng bay Phụng múa
Nhân loại hướng về một mối
Đạo cao tột thế
Cơ đồ Thánh Đức Ông Cha
Nối chí Hùng Vương
Sừng sững công ơn Quốc Tổ

Nhớ thưở xưa!
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu
Khai sanh tất cả!
Vũ trụ, tam thiên, ba cõi
Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ
Nhật, Nguyệt, Tinh Tú
Thiên Địa Càn Khôn
Muôn loài vạn vật sanh linh
Công lao gian nan vất vả
Để lại cháu con thừa hưởng

( đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Chủ lễ xướng đọc với giọng khoang thai, ngân nga.

Đẹp thay !
Những ai có tấm lòng nhớ tưởng
Vẻ vang thay ! Rực rỡ thay!
Những ai bước vào ngôi Thánh Đức
Tiếp nối mặt trời Thiên Ấn
Mãi sáng bừng 84 triệu năm
Chí công lao một thời khó khăn
Mà trải dài muôn ức vạn nghìn thế hệ
Cội Tiên Rồng trên ngôi cao chín bệ
Năm màu da đồng loại anh em
Xin cúi nguyện!
Tình đồng loại, nghĩa Đồng Bào
Mãi thương yêu đùm bọc chan hòa
Một Cội năm nhành !
Năm màu da luôn đoàn kết keo sơn
Nền Thiên Luật Cha Ông, luôn rộng mở
Dựng cơ đồ theo di chí Quốc Tổ Hùng Vương
Hết dạ vì dân
Tiếp Ấn Trời Cha không gì lay chuyển
Hùng khí Cha Ông vạn tuế muôn năm
Sơn Hà trỗi dậy ứng linh
Non Sông Tổ Quốc chuyển mình cao bay

* * *

TIẾP THEO: LỄ PHONG ẤN

DO HỘI ĐỒNG THÁNH ĐỨC TRUYỀN TRAO VÀ
LỜI TUYÊN THỆ NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC PHONG ẤN

1- Là nguyện hết lòng Phụng sự : Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Đời đời kiếp kiếp. Sống theo Thiên Ý hành theo Thiên Luật.

2- Là nguyện hết lòng Phụng sự: nhân loại anh em. Làm cho nhân loại anh em hội nhập Cội Nguồn trở thành chánh đẳng chánh giác, trí huệ như hải.

3- Là nguyện hòa đồng cùng Hội Thánh coi nhau như anh em ruột thịt chan hòa. Keo sơn chặt chẽ. Đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công đại thành công.

LỜI THỀ QUYẾT ĐỊNH
Đã trở thành Đạo Viên. Thiên Đạo Cội Nguồn Tối Cao Vũ Trụ mà phản lại lời Nguyện Thệ của chính mình. Thời căn thân linh hồn sẽ bị hủy diệt. Không mong gì trở lại kiếp con người. Đời đời khốn khổ sa đọa nơi u tối. XIN THỀ, XIN THỀ, XIN THỀ.

NHỮNG VỊ ĐƯỢC PHONG THÁNH
ĐỒNG TỤNG BÀI KỆ TÁN THÁN UY LINH TỔ TIÊN CHA TRỜI MẸ TRỜI
(có nhạc kèm theo)

Đấng Cha Ông Vô Thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Tổ Tiên khắp Trời Người
Nay con nguyện nương về
Dâng lên lời ca ngợi
Ức kiếp không cùng tận
Cội Cha Ông như như rỗng lặng
Cảm ứng linh chẳng thể nghĩ bàn
Pháp Thân vi diệu đạo tràng
Ứng linh, linh ứng khắp cùng ứng linh
Chúng con thệ nguyện quy y
Hành trì Thiên Ý rộng gieo đức lành
Nam Mô vô tận Cội Nguồn
A Men như ý nguyện thành A Men

( đánh hồi Chiêng hồi Trống bế mạc kết thúc)
Các vị Thánh lễ bái rồi lui ra
Lễ phong Ấn, phong Thánh đến đây là hết.
———————————-

Những điều cần chú ý:
Quốc Bảo khai kinh là những phần Văn Kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt. Cho phù hợp tình thế, NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN. Thời ban tổ chức khai kinh. Cũng như cá nhân có trách nhiệm đứng ra tổ chức khai kinh. Không cần phải khuôn rập theo Văn Kinh. Mà tùy nghi thêm, hoặc bớt Văn Kinh. Cho phù hợp nơi tổ chức hành lễ. Không làm trở ngại cho việc hành lễ.
* * *
KHAI KINH SỐ 7
ĐỌC TỤNG NHÂN LUÂN
HIẾU NGHĨA
___________________

Chuông đánh ba hồi 3 tiếng, thắp đèn đốt hương
Chấp tay ngang ngực niệm

Án Lam xóa ha ( 3 lần)

Đánh tiếng chuông niệm tiếp

Án Ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ.
Đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám ( 3 lần)

Tiếp theo: Lạy 3 lạy quỳ ngay thẳng cầm ba cây hương ngang trán niệm.

Nguyện đem lòng thành kính
Cầu lên Đức Tổ Tiên
Cha Trời cùng Địa Mẫu
Cứu khổ chúng chúng con
Tai họa biến tiêu tan
Sống bình yên an lạc

CẦU NGUYỆN:
Nay có Con, Cháu, Đệ Tử tên là:——————–, ở tại Thôn/ Tổ dân phố: —————–, Xã/ phường: ———————Quận/ Huyện: —————————–, Tỉnh/ thành phố: ———————, Nước Việt Nam
Tại nơi Cư Gia , Am, Thất, Miếu, Đình, Đền, Chùa. Tụng kinh trì chú. Nhơn Luân Hiếu Nghĩa. Xả bỏ mê đồ. Siêu sanh thiên giới. Gia đình hạnh phúc, gia đạo yên vui. Nguyện Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu ứng linh chứng giám.
Nam Mô_A Men.

Nhất tâm cung kính: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tối cao Tam Bảo. Pháp Thân vô cùng vô tận khắp pháp giới hư không. Bao trùm quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

( gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nhất tâm cung kính: Chí Tôn Thiên Đế, Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

( gõ tiếng chuông đồng bái lạy )

Nhất tâm cung kính: Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Pháp Thân phân hóa mười phương. Chuyển đại pháp luân. Khắp cả Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ sanh linh khắp Ta Bà thế giới.

( gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
* * *

KHAI KINH

Gõ 5 tiếng Chuông xong.
Gõ 4 tiếng Mõ rời từng tiếng một, nghỉ hai nhịp.
Tiếp theo gõ hai tiếng Mõ liền nhau, rồi nghỉ một nhịp gõ tiếng Mõ cuối cùng, tổng cộng là 7 tiếng Mõ.
Sau đó Chuông – Mõ hòa nhau như sau.
Chuông một tiếng, Mõ một tiếng.
Chuông đủ 3 tiếng, thời ngưng chờ Mõ đánh thêm một tiếng nữa, tiếng thứ 4, thứ 5, thứ 6 liền nhau rồi Chuông gõ cùng lúc với tiếng Mõ thứ 7.
Tiếp theo là xướng kệ, tụng kinh.

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn ức kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu

( gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Tụng kinh công đức thù thắng hạnh
Tiêu tan tai họa chuyển siêu sanh
Phổ nguyện Cha Trời Thiên Ý Luật
Về Trời hưởng phước rạng uy danh

( gõ chuông đồng bái lạy)

Nguyện theo Truyền Thống chí Cha Ông
Phổ hóa Chân Như Cội đại đồng
Tiêu tan nghiệp chướng vô ức kiếp
Diệt trừ phiền não huệ linh thông

( gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nguyện theo Nguồn Cội Đức Trời Cha
Thành Phật, Thánh, Tiên khắp hà sa
Cứu khổ ban vui cùng nhân loại
Từ Bi mở rộng huệ nở hoa
Cha Trời, Địa Mẫu sáng soi
Chứng tri công đức chúng con hành trì
Lời kinh chuyển khắp, Hữu, Vô vi
Gieo nền Chánh Giáo sanh sôi nẩy mầm
Lời kinh tận độ khắp cùng
Xóa tan khốn khổ trở về Thiên Ban
Nam Mô vô tận hư không
A Men như ý ước mong đạt thành

( gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Phần khai kinh đến đây là hết

Tiếp theo là phần tụng kinh. Chọn lấy những phần kinh trong Kinh Nhân Luân, Hiếu Nghĩa. Trì Tụng.
* * *

Tụng kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa xong
Thời xướng tụng đọc tam nguyện.

Nam Mô A Men:
Đương nguyện Thế Nhân, quy kính Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận Theo Kinh Bảo Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
( gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nam Mô A Men:
Đương nguyện Thế Nhân, phát vô thượng tâm thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.
( gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nam Mô A Men:
Đương nguyện Thế Nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.
( gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Ban hộ niệm cũng như ban trì tụng đồng xướng kệ tụng đọc rằng.
Nguyện đem công đức nầy
Hồi hướng đến khắp cùng
Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ
Hết khổ sống hạnh phúc an vui
* * *

Phần khai kinh, cũng như tụng kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa đến đây là hết.

KHAI KINH SỐ 8
NGHI THỨC KHAI KINH CẦU SIÊU
CŨNG NHƯ NGHI THỨC CẦU SIÊU
________________

NGHI THỨC:
Đại chúng tề tựu, ban chủ lễ thắp đèn, đốt hương. Một bên Duyệt chúng (Mõ) một bên duy ma ( chuông) ban chủ lễ đứng ngay ngắn chấp tay trước ngực. Nghe chuông đánh ba hồi 3 tiếng.
Chủ Lễ bước tới trước một bước mật niệm.

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN

Án lam xóa ha (đọc 3 lần)

Gõ tiếng chuông niệm tiếp
* * *

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN

Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ
Đạt mạ ta phạ, bà phạ, truật độ hám (3 lần)

Chủ Lễ lạy quỳ ngay thẳng. Cầm 3 cây hương dâng lên ngang trán xướng niệm.

Nguyện đem lòng thành kính
Dâng lên Đấng Tổ Tiên
Đấng Tối Cao thiêng liêng
Cùng Cha Trời, Địa Mẫu
Phật, Thánh, Tiên, cao cả
Khắp pháp giới mười phương
Nguyện Tối Cao ân trên
Cảm ứng linh gia hộ
Cảm ứng linh tận độ
Xa biển khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác

KỲ NGUYỆN:
Kim ( Nay) có đệ tử chúng con tên là:———————–
Niên ————–nguyệt—————–nhật—————
Kim cứ ( Tại ) Cư Gia, Chùa, Đình, Đền, Thất,
Thôn/ tổ dân phố: ——————–Phường/ Xã: ———————-, Quận/ Huyện: ———————–, Tỉnh/ thành phố: ———————-, Nước Việt Nam.
Gia Đường: Kiến đàn cung phụng Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tu hương phúng kinh————–( phục hồn) Tiên Linh húy kỵ—————-) cầu siêu độ sự.
Kim ( nay) tên gia chủ ——————, phụng vị————-
Tên hương linh. Dứt sạch nghiệp chướng, tốc xả mê đồ siêu sanh Thiên Giới. Cung kính Cha Trời Mẹ Trời. Di nguyện phù trì chứng giám.

TÁN DƯƠNG

Đấng Cha Ông Tối Thượng
Vũ Trụ chẳng ai bằng
Cội Nguồn của muôn loài
Cha Trời luôn truyền dạy
Quy Y về Nguồn Cội
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Siêu sanh trở về Trời
Hưởng phước vô cùng tận.

QUÁNG TƯỞNG

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu
Cảm ứng linh không thể nghĩ bàn
Pháp thân vi diệu Đạo Tràng
Linh linh ứng ứng khắp cùng ứng linh
Cội Nguồn cung kính quy y
Về Trời sống mãi không gì vui hơn.

KÍNH LỄ:
Nhất tâm cung kính:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tối Cao Tam Bảo. Cội Nguồn tất cả. Khắp pháp giới hư không. Bao trùm Trần Gian, Thiên Đàng Địa Phủ. Quá khứ, hiện tại, vị lai.

( gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nhất tâm cung kính:
Chí Tôn Thiên Đế. Long Hoa Giáo Chủ. Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

( gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nhất tâm cung kính:
Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ. Pháp thân phân hóa mười phương. Chuyển đại pháp luân. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ khắp Ta Bà thế giới sanh linh.

( gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Ban Chủ Lễ cũng như ban hộ niệm đồng tụng:
• LONG HOA ĐẠI BI ở trang số: 291 – 307

TÁC BẠCH TIÊN SỚ:

Kế thủ ứng linh Đấng Cha Ông
Cảm tương phước đức khấc từ ân
Vô biên khổ ải, vô biên dứt
Ngũ thể đầu thành tịnh lục căn.

Kim hữu đệ tử chúng con.——————phụng sự tu hương phúng kinh—————–( tịch điện” trai tuần, húy kỵ)————–kỳ siêu độ sự.
Kim tắc: Thượng khởi sớ chương. Cung bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Duy hào tướng quang trung, phủ thùy minh chứng. ( đọc sớ )

PHỤC DĨ:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Ban xuống ân sâu. Ứng linh giải thoát chi môn. Siêu sanh Thiên Đàng Cực Lạc.

BÀI VỊ SỚ:
Việt Nam Quốc.——————-Tỉnh, ——————-Quận/ huyện. Hiện trú ngụ tại Thôn/ Tổ dân phố: —————-Xã/ phường——————-. Phụng sự tu hương phúng kinh ( thiên cửu——————( tên người mất ), húy kỵ ) Khai kinh chi lễ, báo đáp thù ân kỳ siêu độ sự.
Kim đệ tử ( tang chủ) Đồng gia môn hiếu quyến. Nội, Ngoại đại tiểu đẳng.

DUY NHẬT BÁI CAN:
Cội Nguồn Cha Ông phủ thùy tiếp độ

THỐNG NIỆM:
Phụng vị——————( phủ quân, nhụ nhơn, chi linh cửu ) chi linh.
(Dịch nghĩa: Phụng vị/ báo —–(tên)——– Hương Linh, tuổi, quê quán, chức vụ lúc còn sống)

TRƯỢNG THỪA:
Cội Nguồn: Dĩ siêu thăng. Toàn lại Thiên Bút Kinh Văn nhi giải thoát tư lâm————( * )————-khai kinh chi lễ, kiền trượng thiền hòa ( Đạo Tràng) chi niệm phúng tụng Đại Thừa. Đại Đạo Thiên Ý Trời Cha. Gia trì siêu sanh Thiên Giới.

ĐẢNH LỄ:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tập thử hương nhơn cầu siêu độ sự. Kim tắc cẩn cụ sớ văn hòa nam bái bạch. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tác đại chứng minh.
Nam Mô A Men

Chí Tôn Thiên Đế, Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần Chúa. Tác đại chứng minh.
Nam Mô A Men

CUNG PHỤNG:
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Tiếp dẫn. Địa Tạng Từ Tôn, tiếp xuất u đồ chi khổ. Minh Dương Liệt Thánh đồng thùy mẫn niệm chi tâm.

PHỤC NGUYỆN:
Từ bi vô lượng lân mẫn hửu tình . Tiếp hương linh Thiên Đàng Cực Lạc tiêu diêu. Phò dương quyến Nam Sơn thọ khảo.

NGƯỠNG LẠI:
Tổ Tiên, Cha Trời Địa Mẫu chứng minh cẩn sớ.
Tuế thứ —————niên————–nguyệt————–nhật.
Con Cháu đệ tử chúng đẳng:
Hòa Nam Thượng Sớ.

Nếu không sớ thì:
Kim tắc ( 1 ) Cung Bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, duy nguyện từ bi phủ thùy tiếp độ:
Phụng vị ————–tên hương linh—————chi hương linh. Nguyên thừa ơn trên dĩ siêu thăng, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Khuông phò Tín Chủ dĩ bình an. Tỷ hộ toàn gia nhi khương thái. Thiệt Lại hồng ân Cha Trời Địa Mẫu chứng minh cẩn bạch.

LINH CHÚ DIỆT TỘI CHƠN NGÔN

Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế
Đa ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế
Ma ha già đế, chơn lăng càng đế
Ta Bà Ha.
(3 lần)

CHỦ LỄ XƯỚNG:
Thỉnh linh quy y Cội Nguồn
Thỉnh linh quy y Cội Nguồn
Thỉnh linh quy y Cội Nguồn
Đồng niệm: cho đến khi rước linh ảnh, hoặc bài vị đến trước bàn thờ Cha Trời Mẹ Trời.
Nam Mô A Men. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa linh ứng, ứng linh.

CHỦ LỄ XƯỚNG:
Trở về Cội Nguồn. Thành Tâm kính lễ
Đồng Hòa.
Tam Bái
Hữu chức xướng:
Hồ quỳ:
Hương Linh quy y Cội Nguồn
Hương Linh quy y Cha Trời
Hương Linh quy y Địa Mẫu
Hương Linh quy y Cội Nguồn. Hương Linh không còn sanh tử
Hương Linh quy y Cha Trời. Hương Linh không còn khổ não
Hương Linh quy y Mẹ trời. Hương Linh không còn sa vào ác đạo
Hương Linh trở về Cội Nguồn. Hương Linh thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

NGUYỆN:
Tổ Tiên Cha Trời, Địa Mẫu phóng quang tiếp độ ——————Phục vị —————-chi Hương Linh

ĐỒNG HÒA:
Siêu sanh Thiên Giới

CHỦ LỄ SÁM THÁN:
Tội từ tâm khởi, đem tâm sám
Tâm giác ngộ rồi, tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh, thảy đều không
Thế mới thật là chơn sám hối
Nguyện Hương Linh.

ĐỒNG HÒA
Tội ức kiếp biến tan

ĐỒNG TÁN:
Thiện Tài đồng tử
Ngũ phận tam tham
Siêu sanh tử độ hương hồn
Tảo vãng về trời
Nhược nhơn, nhược nhơn quy y Nguồn Cội
Bất đọa tam đồ:
Nam Mô_A Men: Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa chứng minh ( 3 lần )

CHỦ LỄ XƯỚNG:
Linh tại Cửu Huyền , đảnh lễ tạ

ĐỒNG HÒA:
Tam Bái

TẢ CHỨC XƯỚNG:
Thỉnh Linh hoàn cựu sở.

KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

ĐỒNG TỤNG:
Long Hoa bát nhã mật đa tâm kinh ở trang số: 308 – 314

VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN
Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha già đa dạ. Đá địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đá. Tất đam bà tỳ. A đi rị Đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá. Tỳ ca lan đa. Già di nị. Già già na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha.

HỒI HƯỚNG:

Cầu siêu công đức thù thắng hạnh
Vô biên thắng phước giai hồi hướng
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh
Tốc vãng vô lượng quang siêu độ
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu
Nguyện theo Thiên Ý hành Đại Đạo
Nguyện an trụ chân như Nguồn Cội
Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhất thiết
Ngã đẳng dữ chúng sanh
Giai cộng thành Đại Đạo.

PHỤC NGUYỆN:
Đệ Tử Chúng Đẳng: Cập Tín Chủ cung tựu Cha Trời Địa Mẫu, phúng tụng đại thừa kinh chú, xưng tán hồng danh Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Công đức chuyên vì kỳ siêu Hương Linh—————–pháp danh—————tốc xả mê đồ, siêu sanh Thiên Giới. Nhất thành thượng đạt, vạn tội băng tiêu.
Nguyện Hương Linh đắc Đạo cao siêu, kỳ gia quyến hàm triêm lợi lạc. Âm siêu Dương thái , pháp giới chúng sanh, tình dữ vô tình. Nhân Loại anh em khắp cùng, tề thành Đại Đạo.
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu cứu khổ ban xuống ân sâu

TAM TỰ QUY Y:

Tự Quy Y Nguồn Cội : Tổ Tiên, tối cao vô thượng.
Đương nguyện, chúng sanh. Nhân loại anh em thế giải Đại Đạo phát vô Thượng Tâm.

( gõ tiếng chuông đồng lạy 1 lạy)

Tự Quy Y Thiên Ấn, Thiên Bút :
Đương nguyện, chúng sanh. Nhân Loại anh em, thâm nhập kinh tạng trí huệ như hải.

( gõ tiếng chuông đồng lạy 1 lạy )

Tự Quy Y Cha Trời, Địa Mẫu:
Đương nguyện, chúng sanh. Nhân loại anh em thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại.

( gõ tiếng chuông đồng lạy 3 lạy bái bốn bái)
* * *

SỚ LÀM TUẦN
Vạn Đức Từ Tôn. Chững tế u minh chi lộ—————-tuần phủ chi kiền, kỳ tiến bạt chi chương. Nhứt niệm chí thành, thập phương cảm cách.

BÀI SỚ VỊ:
Việt Nam Quốc, ————————–Tỉnh/ thành phố, ——————Quận/ Huyện, ———————Xã/ phường, ——————–Thôn/ tổ dân phố. Cung tự vu———————-Tự Phụng Sự tu hương phúng kinh——————–chi trai tuần báo đức thù ân kỳ siêu độ sự.
Kim đệ tử chúng con————————–
Duy Nhật Bái Can:
Cội Nguồn Tối Cao : Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu phủ thùy tiếp độ.

THỐNG NIỆM:
Phụng vị———————
Trượng Thừa:
Hồng Ân Cha Trời, Địa Mẫu, ban cho các cõi nước Trời. Y diệu pháp cao đăng Thiên Đàng Cực Lạc.
Tư Lâm—————–Chi trai tuần. Chánh tri khôn phủ đệ—————-Điện——————Minh Vương án tiền trình quá. Do thị túc thanh phạm vũ. Tổ Triễn trai nghi, kiền trượng thiền hòa tuyên dương pháp sự. Phúng tụng Đại Thừa. Pháp bảo tôn kinh. Gia thì vãng sanh tịnh độ thần chú.

ĐẢNH LỄ :
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tam Thân Bửu Tướng. Vạn Đức Kim Dung, tập thử Thiện Nhơn. Kỳ cầu siêu độ. Kim tắc cẩn cụ, sớ văn hòa nam bái bạch.
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu hóa độ Linh Căn cảm ứng chứng minh.
Nam Mô A Men:
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Cảm ứng chứng minh

DIÊM PHỤNG:
Tam thừa Thượng Thánh. Tứ Phủ Vương Quan. Thập Điện Tử Vương. Minh Vương Liệt Thánh đồng thùy tiếp độ, cọng chứng vãng sanh.

PHỤC NGUYỆN:
Từ Bi bất xả. Tế độ vô biên. Quá giả xá. Tội giả trừ. Tiếp Hương Linh, suyền đăng siêu sanh Thiên Đàng Cực Lạc. Phước tự tăng, lộc tự chí.
Bảo nhi tôn thọ hưởng Nam Sơn.

NGƯỠNG LẠI:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Chứng minh cẩn sớ
Tuế thứ—————niên—————nguyệt—————
Đệ Tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
——————————————–

Những điều cần chú ý:
Quốc Bảo khai kinh, là những phần Văn Kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt kinh văn. Cho phù hợp khuôn khổ hành lễ. NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN. Thời ban tổ chức khai kinh. Cũng như người tổ chức khai kinh, không cần phải khuôn rập theo Văn Kinh. Mà tùy nghi thêm hoặc bớt Văn Kinh. Cho phù hợp nơi hành lễ. Không làm trở ngại cho việc hành lễ.

* * *

KHAI KINH SỐ 9
NGHI THỨC TANG LỄ CƯ GIA
________________________

LỄ KHAI KINH

CỬ TÁN:
Tâm nhiên ngũ phận
Phổ biến thập phương
Hương yên đồng tử ngộ chơn thường
Tỷ quán thiệt nan lường
Thoại ái trường quang
Kham hiến pháp trung ương.

Nam Mô A Men: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa ( 3 lần )

CỬ TÁN TIẾP:
Hải chấn triều Âm thuyết phổ môn
Cửu liên hoa lý hiện đồng chơn
Dương chi nhất đích chơn cam lộ
Tán tác sơn hà địa địa xuân.

Nam Mô A Men: Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ( 3 lần)

CHỦ LỄ NÓI PHÁP NGỮ:
Phù thử thủy giả
Bát công đức thủy tự thiên chơn
Tiên tẩy chúng sanh nghiệp cấu trần
Biến nhập tỳ lô hoa tạng giới
Cá trung vô xứ bất siêu luân
Thủy bất tẩy thủy
Diệu cực pháp thân
Trần bất nhiễn trần
Phản tác tự kỷ
Quyên trừ Nội Ngoại
Đản địch đàn tràng
Sái khô mộ chi, tác dương xuân( hay phùng xuân)
Kiết uế ban nhi thành tịnh độ
Sở vị Đạo Nội Ngoại
Trung Gian vô trược uế
Thánh, Phàm, u hiển
Tổng thanh lương

CỬ TÁN:
Bồ Tát liễu đầu cam lộ thủy
Năng linh nhất đích biến thập phương
Tinh chuyên cấu uế tận tiêu trừ
Phổ sái pháp diên ( đàn tràng) tất tịnh thanh.

Nam Mô A Men Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu ( 3 lần)

CHỦ LỄ CỬ:
Giáo hữu Đại Bi Chơn Ngôn cẩn trì y tụng.

ĐỒNG TỤNG LONG HOA ĐẠI BI
Ở phần trang số: 291 – 307
Tụng xong Chủ Lễ

CỬU TÁN:
Cha Trời Địa Mẫu: Như tịnh mãn nguyện. Diệt như thiên nhật phóng quang minh.
Viên quang phổ chiếu ư thập phương
Hỷ xả từ bi giai cụ túc
Nam Mô A Men :
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Vô tận hư không cảm ứng linh thiên khắp cùng vũ trụ.

CHỦ LỄ XƯỚNG:
Kê thủ từ bi đấng Giác Tôn
Cảm đương phước đức khất từ ân
Vô biên khổ ải vô biên chứng
Ngũ thể đầu thành sạch nhục căn
Chí Tôn: Đức tướng nan tận tán dương
Kim hửu đệ tử ——————chúng đẳng tu hương hiến cúng phúng kinh—————-( khai kinh——————)
Kỳ siêu độ sự.
Kim tắc cần cụ khai khởi sớ chương: Cung bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Duy nguyện từ bi phủ thùy chứng giám.

( đến đây công văn đọc sớ)

CỬ TÁN:
Cha Trời, Địa Mẫu ứng linh thiên
Cứu độ Hồn Linh khắp mọi miền
Thành tâm cung kính dù một niệm
Siêu sanh thiên giới sống bình yên
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. ( 3 lần).

ĐỒNG TỤNG:
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

ĐỒNG TỤNG
LONG HOA BÁT NHÃ MẬT ĐA TÂM KINH
Ở phần trang số: 308 – 316
Xong rồi tiếp đến tụng vãng sanh quyết định chơn ngôn

Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha dà đa dạ. Đá địa dạ tha. A di lị đô bà tỳ. A di li đá, tất đam bà tỳ. A di li đá, tỳ ca lan đế. A di li đá, tỳ ca lan đa. Dà di nị dà dà na, chỉ đa ca lệ. Ta bà ha ( 3 lần )

ĐỒNG TỤNG:
Nguyện sanh Thiên Giới sống an vui
Cực Lạc trường sanh không già chết
Trở về Nguồn Cội ngộ tâm giải thoát
Hết khổ hết sầu dứt đọa sa.

ĐỒNG HÒA
Nam Mô_A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, ứng linh khắp cả pháp giới hư không cứu khổ Hương Linh siêu sanh Thiên Giới.

ĐỒNG XƯỚNG TỤNG :
Cội Cha Ông hư không rỗng lặng
Cảm ứng linh khó đặng nghĩ bàn
Pháp Thân vi diệu Đạo Tràng
Linh linh ứng ứng khắp cùng ứng linh
Chúng con thệ nguyện quy y
Hành trì Thiên Ý rộng gieo đức lành
Nam Mô vô tận Cội Nguồn
A Men như ý nguyện thành A Men
* * *

GHI CHÚ:
Trước khi làm lễ khai kinh. Trên bàn phải có quyển kinh để sẵn. Trong lúc đại chúng tụng tám câu kinh kệ nầy. Vị Chủ Lễ đưa tay trái mở quyển kinh ra thời mới đúng pháp khai kinh.
—————————-

BÀI SÁM TÁNG
Đưa Tang. Hay Tụng Kinh siêu độ hồn linh

Cõi hồng trần gởi thân trăm tuổi
Kiếp phù sanh thay đổi vô thường
Có thân nên khổ không ngừng
Sanh già bệnh tử có chừa ai đâu
Bởi phàm thân khó mong tránh khổ
Thân mất rồi chôn bỏ nghĩa trang
Hay là tống táng đồng hoang
Hay là chôn cất xóm làng cách xa
Mau giác ngộ thiện tâm giải thoát
Nương Cội Nguồn chuyển kiếp siêu sanh
Cha Trời, Địa Mẫu anh linh
Thần thông vô hạn vô biên tận cùng
Hồn Linh nhớ niệm Cha Trời
Siêu thăng cực lạc phản hồi Thiên Quê
Xa Cội Nguồn lạc lối lầm mê
Vô Minh xoay chuyển ê hề họa tai
Trần gian cõi tạm xưa nay
Sống thời còn đó trắng tay lìa trần
Khi chết đi sang giàu cũng bỏ
Hồn ra đi muôn thuở trở về
Dù cho giàu đến cỡ nào
Cũng đành bỏ lại rốt cùng như không
Còn thân còn cả giang sang
Mất thân đến cả cháu con cũng lìa
Hồn thức tỉnh mau về Nguồn Cội
Niệm Trời Cha hết tội siêu thăng
Không còn sa đọa chuyển luân
Ra vào ba cõi xuống lên sáu đường
Đời dĩ vãng gương người còn đó
Tranh giành nhau nào có được chi
Làm vua đến lúc ra đi
Cung vàng điện ngọc đem theo được nào
Gieo nghiệp ác Âm Tào tới trước
Cõi Âm Ti muôn kiếp khốn nguy
Hồn linh khốn khổ biết bao
Hành hình đủ thứ đớn đau nghìn trùng
Khi còn sống không tìm về Cội
Thân mất rồi Hồn lạc sông mê
Ác nghiệp xây chuyển thảm thê
Luân hồi báo quả biết bao thảm sầu
Hồn mau tỉnh quay đầu bờ giác
Nghe kệ kinh giải thoát họa tai
Mau mau tỉnh giấc u mê
Tìm về Nguồn Cội theo chân Cha Trời
Quyền lực mấy kiếp người giả tạm
Sang đến đâu khó trọn mang theo
Rốt rồi tất cả đều không
Chỉ còn nghiệp ác mang theo đọa đày
Trường danh lợi mưu nầy kế nọ
Án công hầu thủ đoạn đua chen
Sang, giàu, nghèo, khổ tài năng
Chung quy rồi cũng một phen tan tành
Kiếp bụi trần trả lại bụi trần
Hồn lìa khỏi xác thảy đều trắng tay
Bao những kẻ lầm mê tàn bạo
Tưởng đâu rằng sự nghiệp muôn năm
Thủy Hoàng thời được cái chi
HítLe đổ nát biết bao nhọc nhằn
Vậy mới biết sang hèn quyền thế
Dại với khôn giàu có vua quan
Cuối cùng một nấm mồ hoang
Cái thân thối rữa đất ăn còn gì
Ôi sách sử còn ghi phản tỉnh
Họ Thạch giàu hơn cả ông vua
Cuối cùng cũng lại trắng tay
Chết đi hóa kiếp sanh ra thằn lằn
Hồn ơi hỡi phản hồi thức tỉnh
Tám trăm năm Bành Tổ sống lâu
Cuối cùng xác cũng già nua
Xác trần bỏ lại ở nơi cõi trần
Biết bao kẻ xanh mày mặt ngọc
Biết bao người vàng bạc ức muôn
Xem đi xét lại chung quy
Cuối cùng rốt lại còn chi sạch sành
Hãy tỉnh giấc quy về Nguồn Cội
Niệm Trời Cha vạn hội siêu thăng
Thiên Đàng cực lạc an ban
Đất đai châu báu hào quang sáng ngời
Mùi tục lỵ vướng vào là khổ
Bả lợi danh cám dỗ khốn nguy
Sống thời thấy chết còn chi
Mấy ai sống mãi uổng công tranh giành
Còn chút trí xét đời nghĩ lại
Chốn trần gian cõi tạm vô thường
Vắng đi hơi thở còn gì
Xác thân bỏ lại Linh Hồn bơ vơ
Hãy thức tỉnh nương nhờ Nguồn Cội
Niệm Cha Trời hồn đặng siêu thăng
Về Trời sống mãi vô biên
Thiên Đàng Cực Lạc bình yên sang giàu
Lời kệ kinh nghe rồi tỉnh giấc
Muôn việc đời rốt hết là không
Chỉ còn tánh đức thiện căn
Mới là đáng quý linh thiên tột cùng
Xét thân nầy đến hồi tan rã
Thời hết mong khó nổi tu nhơn
Nghiệp trần xoay chuyển hồn linh
Tam đồ sa đọa biết bao khốn cùng
Chờ đến lúc không còn hơi thở
Thời ôi thôi khó thể lo toan
Hồn linh vào cảnh tối tăm
Khó mong thoát khỏi Âm Ti đọa đày
Sống cứ mãi mê lầm trần thế
Mà quên đi cái chết không xa
Trăm năm cũng chẳng đâu là
Cuối cùng nhận lấy nấm mồ nghìn thu
Bóng trăng lu buồn ru ác xế
Tháng ngày qua thăm ghé mộ phần
Cỏ xanh quạnh quẽ vô cùng
Gió, Mưa, Nắng, Tuyết, bão bùng cô đơn
Hồn tỉnh giấc nghe kinh nhẹ gót
Vượt sông mê bờ giác không xa
Kìa là Đức Mẹ Trời Cha
Nương nhờ thần lực vượt qua mê lầm
Nguyện siêu sanh về miền cực lạc
Nguyện xa lìa ác nghiệp trần lao
Thiên Đàng tiên cảnh an vui
Trường xuân tự tại, tiêu dao hưởng nhàn
Nam Mô vô tận Đạo Tràng
A Men giải khổ linh hồn, A Men
**************
KHAI KINH SỐ 10
NGHI THỨC CẦU AN
LỄ THÀNH HÔN
_______________
Những điều cần biết trước:
Trước khi cử hành nghi thức. Cầu an, lễ thành hôn:
Hai Họ. Phải có mặt tại Cư Gia, hay Đền Thờ, Chùa, Thất.
Từ nơi Bệ Thờ Chánh Điện Đại Đạo nhìn ra.
Hai Họ sắp hai hàng:
Nam Giới đứng bên trái.
Nữ giới đứng bên phải.
Cô Dâu, Chú Rể : đứng ở giữa hai họ phía sau ban chủ lễ. Dâu bên phía Nữ. Rể bên phía Nam.
Ban Chủ Lễ : đốt nhang, đèn, xông trầm. Rồi mới thỉnh Đức Thầy. Hay Tôn Sư, ra làm Chủ Lễ Khai Kinh.
Chuông đánh 3 hồi trước. Trống đánh 3 hồi sau.

ĐI VÀO NGHI THỨC HÀNH LỄ
Chuông nhỏ đánh 3 tiếng

Chủ Lễ xướng tụng. Cô Dâu, Chú Rể quỳ xuống lắng nghe lời kinh.
Nhất tâm cung kính:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Pháp Thân Linh Giác Tối Cao Tam Bảo. Khắp pháp giới mười phương. Bao trùm, Trần Gian, Thiên Đàng, Địa Phủ. Quá khứ, hiện tại, vị lai.

( gõ tiếng chuông cô dâu chú rể lạy xuống)

Nhất tâm cung kính :
Chí Tôn Thiên Đế, Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương
Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
Khắp pháp giới hư không, quá khứ, hiện tại, vị lai.
Thiên Đàng, Trần Gia, Địa Phủ.

(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể lạy xuống)

Nhất tâm cung kính:
Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ. Phân Hóa
Mười phương. Chuyển đại pháp luân. Thiên Đàng,
Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ sanh linh khắp Ta Bà thế
Giới.

( gõ tiếng chuông cô dâu chú rể lạy xuống)
Chủ Lễ xướng tụng : cùng ban chủ lễ xướng tụng theo

Nguyện cho đôi phu thê
Luôn bình an vạn sự
Chung một lòng thệ nguyện
Tỏa ngát hương thủy chung
Sống an vui trăm tuổi
Gắn bó mãi yêu thương
Sống hòa thuận yên vui
Nhọc nhằn luôn có nhau
Như dạ xốn lòng đau
Như cờ bay trong gió
Mãi như chim liền cánh
Mãi như cây liền cành
Dù cho biển cạn
Dù cho non mòn
Lòng vẫn ngập tràn
Chung thủy cùng nhau
Dù cho nhan sắc tàn phai
Cũng không thay đổi tình yêu vợ chồng
Nam Mô Tiên Tổ, Cha Trời.
A Men Địa Mẫu chứng thời chứng tri

( gõ tiếng chuông cô dâu chú rể đồng bái lạy)

PHỤNG BẠCH:
Hôm nay Ngày————-Tháng ————-Năm———–
Nước Việt Nam.
Tại nơi : Cư Gia. Đền Thờ. Có cô Dâu, chú Rể.
Thiện Nam Chú Rể tên là——————-pháp danh nếu
Có.—————-
Tín Nữ Cô Dâu tên là——————–pháp danh nếu có-
——————-
Được sự đồng ý hai bên Cha Mẹ. Long trọng tổ chức thành hôn vu quy cho hai con
Nguyện Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
Ban xuống ân sâu, hạnh phúc lứa đôi vạn sự bình yên, trăm năm hảo hợp. Vạn hạnh keo sơn. Sanh con đẻ cái hiếu báo ơn trên Ông Bà Cha Mẹ lưu truyền nòi giống.

( gõ tiếng chuông cô dâu chú rể đồng bái lạy)
Cô dâu chú rể
Hướng về bệ thờ Cha Mẹ Trời
Đồng xướng nguyện rằng:

Đã yêu, yêu đến bạc đầu
Không vì hờn giận chia lìa lẫn nhau
Hiếu nghĩa đối với hai bên
Cũng đều cho trọn mười phân vẹn mười
Tơ duyên là Đạo của Trời
Thương yêu là Đạo của người mình yêu
Chúng con thề nguyện thỉ chung
Trăm năm tơ tóc keo sơn một lòng
Nam Mô vô tận Cội Nguồn
A Men như ý nguyện thành A Men

Cô Dâu, Chú Rể ngâm kệ thệ nguyện xong
Đức Thầy, hay Tôn Sư: bưng chén nước trên bệ thờ xuống.
Dùng một bông hoa. Nhúng vào chén nước Thánh Thủy rồi điểm nhẹ lên trên đỉnh đầu của hai người.

Niệm Chú:
Đát chỉ đá. Ám dà la phạ đá, dà la phạ đá, la dà phạ đá, la dà phạ đá sa ha. Thiên La Thần, Địa La Thần. Nhân ly nạn, nạn ly thân. Nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Hạnh phúc đâm chồi tai họa tiêu tan.

Tiếp theo là phần hai bên trao nhẫn cho con.
Chủ Lễ : xướng đọc kệ rằng

Gói gắm trao con chiếc nhẫn nhà
Rằng đây quà tặng của Mẹ Cha
Báu vật nói lên trong dụng ý
Thương nhau nhường nhịn phước nở hoa
Đạo Nhẫn nhu hòa vật điểm trang
Với ba chữ nhẫn quý hơn vàng
Hạnh phúc bình yên nhờ đức nhẫn
Nhẫn là nhường nhịn nghĩa tào khang
Nhẫn nhịn vì nhau chẳng phải hèn
Gặp phải sự đời lúc khó khăn
Nhớ lấy công phu thường nhịn nhẫn
Vượt qua dông bão đến đất bằng
Tam nhẫn hành trang nhớ công phu
Vợ Chồng nhẫn nhịn rạng đường tu
Thuận hòa hạnh phúc nhờ nhịn nhẫn
Nhẫn nhịn tai qua, võng lọng dù.

Chủ Lễ tuyên bố. Lễ cầu an thành hôn đến đây là kết thúc. Chúc hai Họ vạn sự như ý.

( đánh hồi chuông, hồi trống kết thúc)

**************

QUỐC BẢO KHAI KINH ĐẾN ĐÂY LÀ HẾT.

CHƯƠNG IV: VĂN KHẤN Ở BAN THỜ TẠI GIA.

I. VĂN KHẤN THEO MẪU:
Chúng tôi trình bày ra đây 3 bài văn khấn mẫu theo Văn Hóa Cội Nguồn, tùy vào căn duyên, mục đích và sự mong cầu của mình mà sử dụng một trong 3 bài.
Cũng tùy vào dịp Lễ, Tết mà quý vị tụng, đọc, niệm thêm Kinh, Thơ, Chú cho phù hợp với ý nghĩa của ngày Lễ đó.

BÀI VĂN KHẤN SỐ 1:

o NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (LẠY).
o NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (LẠY).
o NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (LẠY).
o NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (LẠY)
o CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (LẠY)
o CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG. (BÁI)

KINH CHÚ
Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên
Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao
Sanh Ra Nhân Loại Con Người
Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con
A MEN
* * *

KINH CẦU NGUYỆN
Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền
Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con
Huệ khai phước lộc đầy tràn
Gia đình hòa thuận, cháu con sum vầy
* * *

CHÚ NGUYỆN
Nguyện cho tất cả thế nhân
Sớm lên tiên giới, sớm gần Mẹ Cha
Sớm gần cội gốc Long Hoa
Về nơi giải thoát vào nhà rồng tiên
* * *

NAM MÔ _ A MEN (LẠY 4 LẠY, BÁI 4 BÁI)
* * *

BÀI VĂN KHẤN SỐ 2:

 CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
 CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
 CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
 CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN. (lạy)

o CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
o CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG. (bái)

Hôm nay, nhằm ngày——– tháng——–năm——–
Gia đình chúng con ở tại địa chỉ:
Xóm/ đường: —————–, Thôn/ Tổ dân phố: ———————Xã/ Phường: ————————-Quận/ Huyện———————Tỉnh/ Thành phố: ———————-Nước Việt Nam.
• Phụng báo:
+ Cha Trời Lạc Long Quân.
+ Địa Mẫu Âu Cơ
+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương.
Chứng giám: (cho việc gì thì khấn việc đó)

——————————————————————

* * *
NAM MÔ _ A MEN (LẠY 4 LẠY, BÁI 4 BÁI)
* * *

BÀI VĂN KHẤN SỐ 3:

o NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (LẠY).
o NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (LẠY).
o NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (LẠY).
o NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (LẠY)
o CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (LẠY)
o CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG. (BÁI)

Hôm nay, nhằm ngày—— tháng—— năm——, nhớ đến (ngày giỗ/ công ơn của): …..
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:
——————————————————————
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ đường: —————–, Thôn/ Tổ dân phố: ———————Xã/ Phường: ————————-Quận/ Huyện———————Tỉnh/ Thành phố: ———————-Nước Việt Nam.

Đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, trà, quả… cúng dường.
Ngưỡng mong ơn trên.
+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.
+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương.
+ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, vạn sự bình an. Khai tâm mở trí, sáng láng thông minh. Giác thành Đại Đạo.
Nguyện cầu cho Ông Bà, Cha Mẹ, họ hàng người thân, đã mất được siêu sanh về nơi tốt đẹp.
* * *
NAM MÔ _ A MEN (LẠY 4 LẠY, BÁI 4 BÁI)
* * *

LƯU Ý:
– KHI ĐỌC VĂN KINH ĐỂ CÚNG, QUÝ VỊ NÊN ĐỌC GIỌNG VỪA ĐỦ TO ĐỂ NHỮNG LINH HỒN ÂM CẢNH CŨNG ĐƯỢC KHAI TÂM, KHAI TRÍ, LÀM LỢI LẠC CHO CẢ NGƯỜI ÂM LẪN NGƯỜI DƯƠNG.
* * *

II. MỘT SỐ BÀI VĂN KHẤN VÀO CÁC NGÀY LỄ TẾT TRONG NĂM

1. VĂN KHẤN MỒNG 1 TẾT NGUYÊN ĐÁN.
a. Ý NGHĨA CỦA VIỆC LÀM LỄ BUỔI SÁNG GIỜ THÌN NGÀY TẾT.
Theo Kinh dịch âm dương của Tiên Thiên Bát Quái, giờ Thìn thuộc hành thổ. Những người sinh vào giờ hành Thổ (giờ Thìn, giờ Mùi, giờ Tuất, giờ Sửu), thường là những con người đa năng. Vì hành thổ ứng hiện vào tất cả các phương, các chi. Giờ Thìn là giờ hoàng kim, quan trọng, tối linh nhất. Là giờ trổ bông trổ hoa. Hành thổ ứng hiệp với con số 0, 5, 10 mà 3 con số này chính là con số của Trời. Số 5 chính là con số tham thiên lưỡng địa, số của Quốc Tổ Hùng Vương. Cho nên giờ Thìn chính là giờ đặc biệt nhất của ngày mồng 1 Tết.

b. VĂN KHẤN
(gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
(gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
(gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
o CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
o CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG. (bái)
Hôm nay là ngày Mồng 1 Tết, năm… Chính là ngày TỔ TIÊN, hiện thân ra CHA TRỜI, MẸ TRỜI. Ba ngôi tối cao vũ trụ. Cũng chính là ngày vía LONG HOA GIÁO CHỦ. DI LẶC, QUỐC VƯƠNG THỈ TỔ HÙNG VƯƠNG tiếp nối di chí ÔNG CHA. Được coi như là ngày hội tụ. Về Cội về Nguồn. Đền ơn đáp nghĩa.
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:
——————————————————————
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ đường: —————–, Thôn/ Tổ dân phố: ———————Xã/ Phường: ———————–Quận/ Huyện——————Tỉnh/ Thành phố: ——————-Nước Việt Nam.
Dốc lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, nước, trà, quả, bánh, cơm canh… thanh tịnh cúng dường.
• Phụng báo:
+ Cha Trời Lạc Long Quân.
+ Địa Mẫu Âu Cơ
+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương.
Ngưỡng mong ơn trên, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, năm mới bình an, thịnh vượng, cháu con hiếu thuận, thông minh sáng láng, gia đình yên vui, hạnh phúc.
Nguyện cầu cho đất nước Việt Nam sớm chuyển mình đổi mới theo Thiên Ý Trời Cha, rực thắm xuân an vui, xuân giàu sang, hạnh phúc trên khắp đất nước quê hương.
NAM MÔ _ A MEN

(Ngày mồng 1 Tết, Quý vị nên sử dụng Thiên Ấn trang sức để cầu nguyện cho đất nước Việt Nam, vừa làm lợi ích cho bản thân vừa làm lợi ích cho gia đình và xã hội).
* * *

VIỆT NAM
Việt Nam tỏ rạng ánh hồng tươi
Văn hóa mùa xuân khúc nhạc cười
Tiếng nhạc bổng trầm khai ý rạng
Non sông khởi sắc trổ xuân tươi
Dân giàu nước mạnh phun châu ngọc
Rồng Tiên hội tụ trải đức phơi
Độc Lập Tự Do niềm cường thịnh
Địa linh vũ trụ trổ Ông, Tôi.
* * *
TRỜI LÊN
Trời lên lộ bóng quang đầy
Nước non Quốc Đạo chuyển xây vạn loài
Việt nam văn hóa đài cao rộng
Hiếu trung bay đến tận Trời Cha
Việt Nam kết trái đơm hoa
Muôn dân ngộ đức bài ca thanh bình
Khai Nguồn Cội dân tình no ấm
Đường lên mây tỏa sáng Văn Lang
Vua Hùng mở lối quy nguyên
Năm châu, bốn biển bình yên một nhà. * * *
KINH CHÚ
Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên
Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao
Sanh Ra Nhân Loại Con Người
Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con
A MEN
* * *
KINH CẦU NGUYỆN
Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền
Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con
Huệ khai phước lộc đầy tràn
Gia đình hòa thuận, cháu con sum vầy
* * *
CHÚ NGUYỆN
Nguyện cho tất cả thế nhân
Sớm lên tiên giới sớm gần Mẹ Cha
Sớm gần cội gốc Long Hoa
Về nơi giải thoát vào nhà rồng tiên
* * *
NAM MÔ _ A MEN (LẠY 4 LẠY, BÁI 4 BÁI)
* * *
KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

* * *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 291 – 307)

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 308 – 316)

* * *

2. CÚNG DÂNG SAO NGÀY RẰM THÁNG GIÊNG
(Có từ thời Quốc Tổ Hùng Vương)
* * *
HÀNG NĂM ĐÚNG 8H TỐI VÀO NGÀY 15/1 ÂM LỊCH ĐẠI GIA ĐÌNH CON LẠC CHÁU HỒNG, CON RỒNG CHÁU TIÊN DÂNG HƯƠNG HOA, TRÀ, QUẢ LÊN CÁC VỊ THẦN CHỦ QUẢN CHÍN CHÙM SAO CHIẾU LÊN CUNG MẠNG NĂM TUỔI CON NGƯỜI. COI NHƯ TRƯỚC LÀ TẠ ƠN BA NGÔI TỐI CAO: TỔ TIÊN KHAI HÓA, CHA TRỜI, ĐỊA MẪU, SAU LÀ TẠ ƠN CÁC VỊ THẦN CAI QUẢN CHÍN CHÙM SAO ĐÃ PHÙ HỘ CHE CHỞ TAI QUA NẠN KHỎI VÀ BAN PHƯỚC LÀNH ĐẾN: TRƯỚC TIÊN LÀ GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ NỘI NGOẠI BÊN CHỒNG CŨNG NHƯ BÊN VỢ, SAU LÀ CON CHÁU LẠC HỒNG, CON RỒNG CHÁU TIÊN ĐỒNG BÀO TRONG NƯỚC CŨNG NHƯ NGOÀI NƯỚC.
* * *
Việt Nam Quốc, ………….Tỉnh/Thành Phố, ………….Quận/ Huyện, …………Phường/ xã, …………. Tổ dân phố/Ấp/Thôn.

Chí Tâm đảnh lễ
o Nam Mô Khai Hóa Tối Thượng Tổ Tiên Vô Biên Như Lai. (lạy)
Chí Tâm đảnh lễ
o Nam Mô Long Hoa Cữu Huyền Thiên Phụ Ấn Quang Tối Thắng Như Lai. (lạy)
Chí Tâm đảnh lễ
o Nam Mô Tiên Cơ Đức Mẹ Địa Mẫu Dưỡng Sanh Như Lai. (lạy)
Chí Tâm đảnh lễ
o Nam Mô Đức Hư Không Tạng Diệu Không Vô Biên Như Lai. (lạy)

Dâng hương cúng lạy Cửu Huyền
Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con
Của tiền phước lộc đầy tràn
Anh em hòa thuận cháu con sum vầy.

Chí Tâm cung thỉnh
o Nhật Ưng Thái Dương Thiên Tử Tinh Quân Thiên Đình Uất Ly Cung Đại Thánh, Đang Nguyên Hải, Nhật Cung Thái Dương Tinh Quân vị tiến. (bái)
Chí Tâm cung thỉnh
o Nguyệt Cung Âm Hoàng Hậu Tinh Quân Thiên Đình Kiết Lâu Cung Đại Thánh, Tổ Diệu Nguyệt Thái Âm Tinh Quân vị tiến. (bái)
Chí Tâm cung thỉnh
o Đông Phương, Giáp – Ất, Mộc Đức Tinh Quân Thiên Đình Thánh Vân Cung Đại Thánh, Trùng Quan Mộc Đức Tinh Quân vị tiến. (bái)
Chí Tâm cung thỉnh
o Nam Phương, Bính – Đinh, Thiên Đình Minh Lý Cung Đại Thánh, Hòa Đức Vân Hán Tinh Quân vị tiến. (bái)
Chí Tâm cung thỉnh
o Tây Phương, Cang – Tân, Kim Đức Thái Bạch Thiên Đình Hạc Linh Cung Đại Thánh, Kim Đức Thái Bạch Tinh Quân vị tiến. (bái)
Chí Tâm cung thỉnh
o Bắc Phương, Nhâm – Quý, Thủy Đức Kim Nữ Cung Đại Thánh, Thùy Duyên Tinh Quân vị tiến. (bái)
Chí Tâm cung thỉnh
o Trung Ương, Mậu – Kỷ, Thổ Đức Tinh Quân Cung Đình Hoàng Trung Đại Thánh, Thổ Địa, Địa La Thổ Tú Tinh Quân vị tiến. (bái)
Chí Tâm cung thỉnh
o Thiên Cung Thìn Thủ La Hầu Đại Thánh, Thiên Đình Thánh Thủ Tinh Quân vị tiến. (bái)
Chí Tâm cung thỉnh
o Thiên Cung Phân Vĩ Kế Đô Tinh Quân Thiên Đình Bảo Vi Cung Đại Thánh, Kế Đô Tinh Quân vị tiến. (bái)

Chúng con: Là những cháu con, đệ tử, nơi chốn nhân gian thành tâm lễ bái thỉnh cầu Cửu Diệu Tinh Quân Đại Thánh ban phúc lành giảm họa tai, tật ách, khổ nạn, buồn rầu, ốm đau, bệnh tật, ám muội, thị phi. Cầu xin Cửu Diệu Tinh Quân Đại Thánh ban phúc lành, làm ăn phát đạt, vạn sự may mắn, thuận buồm xuôi gió, gia đình hạnh phúc, con cháu yên vui, thông minh sáng láng.
Nguyện cầu ơn trên chứng giám. Kính bái.

Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế
Đa ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế
Ma ha già đế, chơn lăng càng đế
Ta Bà Ha.
Thiên la thần, địa la thần, thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.

Đệ tử, cháu con, chúng con gồm những người sau đây:
——————————————————————
Ngày——Tháng Giêng Năm ——

SAU KHI CUNG THỈNH CÁC VỊ THẦN XONG NHỮNG NGỌN ĐÈN SẼ ĐƯỢC THẮP SÁNG NHƯ SƠ ĐỒ HÌNH VẼ.

147538260_919183181951412_4094180632766531288_n

TIẾP THEO LÀ ĐỒNG CÙNG ĐỌC
QUANG LINH KINH CHÚ

Thắp đèn cúng khắp vì sao
Sáng Trời sáng Đất sáng tiêu tội tình
Thắp đèn thắp sáng hồn linh
Sáng bừng trí tuệ sáng lên yên hòa
Thắp đèn thắp sáng cả nhà
Sáng bừng con cháu sáng là văn minh
Sáng bừng trong ấm ngoài êm
Sáng dòng sáng họ sáng Ông sáng Bà
Đèn sao thắp cúng Trời Cha
Thánh, Thần, Tiên, Phật cùng là Tổ Tiên
Đèn sao sáng khắp thiêng liêng
Giải trừ tai họa sáng lên sang giàu
Giải trừ bệnh tật ốm đau
Sáng lên Phúc, Thọ sang giàu triền miên
Đèn sao cháy sáng linh linh
Sáng cho Gia Đạo bình yên đời đời
Sáng lên ánh sáng rạng ngời
Xóa đi tăm tối cuộc đời trầm luân
Xóa đi mê dại ngu si
Sáng bừng trí huệ hiển vinh cuộc đời
Đèn sao sáng khắp bầu trời
Xóa đi nghèo đói vạn đời ấm no
Đèn tâm, đèn trí, đèn sao
Đèn lòng sáng khắp giải nào khốn nguy
Đèn nhân, đèn nghĩa từ bi
Đèn trung, đèn hiếu sáng lên rạng ngời
Sáng bừng đại nghĩa khắp thời
Cho non cho nước rạng ngời hoa xuân
Thắp đèn thắp sáng thế gian
Sáng bừng nhân thế tiêu tan hận thù
Sáng bừng con cháu Tiên Rồng
Vượt qua khốn khổ lẫy lừng năm châu
Đèn sao sáng khắp vì sao
Ứng linh, linh ứng chuyển xoay vận thời
Lửa thiên lửa của nhà Trời
Bừng lên sự sống cho đời ấm êm
Đèn sao thắp sáng dâng lên
Cúng dường Cửu Diệu Tinh Quân Thánh Thần
Cầu cho Đất Nước yên bình
Cầu cho Gia Đạo vạn lành tai qua
Đèn sao thắp sáng gần xa
Sáng Trời, sáng Đất, sáng soi lòng thành
Thánh Thần chứng giám tấm lòng
Chứng tri công đức cúng dường chúng con.

NAM MÔ KHAI HÓA TỔ TIÊN (lạy)
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN (lạy)
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỊA MẪU (lạy)
Chứng tri công đức cúng dường chúng con

ÁN TẤT ĐẾ HỘ RÔ RÔ, TẤT ĐÔ RÔ, CHỈ RỊ BA, KIẾT RỊ BÀ TẤT ĐẠT RỊ, BỐ RÔ RỊ, TA PHẠ HA.
* * *

3. VĂN KHẤN GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (10/ 03). TẠI BÀN THỜ GIA TIÊN

 (gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
 (gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
 (gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
 CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN. (lạy)

o CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
o CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG. (bái)

Hôm nay là ngày giỗ Quốc Tổ Hùng Vương về Trời, nhằm ngày——– tháng——–năm——–,
Gia đình chúng con ở tại địa chỉ:
Xóm/ đường: —————–, Thôn/ Tổ dân phố: ———————Xã/ Phường: ————————-Quận/ Huyện———————Tỉnh/ Thành phố: ———————-Nước Việt Nam.
• Phụng báo:
+ Cha Trời Lạc Long Quân.
+ Địa Mẫu Âu Cơ
+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương.
Chứng tri công đức trì tụng Văn Giáo Kinh Luân. Nguyện cầu ơn trên hộ độ chúng con, vạn sự bình an. Tai qua nạn khỏi, căn lành tăng trưởng. Tinh thần minh mẫn, sáng láng thông minh, hành trì chánh giáo, thuận theo Thiên Ý, hóa độ sanh linh. Nhân loại anh em khắp cùng thế giới đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc an vui.
* * *
NAM MÔ _ A MEN (LẠY 4 LẠY, BÁI 4 BÁI)
* * *
SÁM KINH

Quốc Tổ Anh Linh khó nghĩ bàn
Xuống trần khai Đạo cứu thế gian
Nay con thành kính xưng danh tụng
Phổ hóa lời kinh Quốc Đạo Tràng
Trước ảnh tượng Tiên Rồng chóa sáng
Lạc Long Quân cùng với Âu Cơ
Cha Trời Địa Mẫu Tối Cao
Uy Linh tột đỉnh trùm bao uy quyền
Với lòng dạ chí thành cung kính
Xin Trời Cha chứng giám công lao
Thành tâm lễ bái công ơn
Sanh thành dưỡng dục tạo nên muôn loài
Ngày Đại Lễ vang lừng Giỗ Tổ
Khắp cháu con hoa quả dâng lên
Một lòng nhớ đến công ơn
Khai cơ dựng nước dựng lên sơn hà
Ơn Quốc Tổ không gì sánh được
Truyền chân kinh tận độ chúng dân
Lập lên đất nước Văn Lang
Văn Minh hùng mạnh thế gian ai bì
Ơn Quốc Tổ thấm nhuần con cháu
Năm nghìn năm Văn Hiến vinh quang
Văn Lang Bách Việt chúng dân
Đời đời ghi nhớ công ơn của người
Ngày giỗ Tổ tựu tề đông đủ
Đèn, hương, hoa, trà, quả kính dâng
Tỏ lòng thành kính tri ân
Công lao Quốc Tổ không ai hơn người
Nền Quốc Đạo sáng ngời chân lý
Ơn Vua Hùng truyền giáo khai kinh
Công ơn trời biển công ơn
Nói sao cho tận kể sao cho cùng
Ngày Giỗ Tổ chí thành lễ bái
Xin bề trên chứng giám công lao
Khí Thiên sông núi khắp nơi
Hồn Thiên dân tộc vạn đời chở che
Là dân tộc Rồng Tiên Hồng Lạc
Vốn giống dân Hồng Ngọc uy linh
Giống dân Trung Hiếu Nghĩa Nhân
Không quên Nguồn Cội không quên giống nòi
Chúng con ý thức được rằng
Như cây có Cội nở nhành nở hoa
Nước kia không cạn vì sao
Còn Nguồn còn Cội đầy sông đầy hồ
Loài Chim có Tổ trường tồn
Loài người có Cội Tiên Rồng uy linh
Dân Tộc Việt năm nghìn năm truyền thống
Trải bao đời tiếp nối đến hôm nay
Giữ gìn bồi đắp dựng xây
Cho non cho nước nở đầy nhành xuân
Nền Văn Hiến lẫy lừng con cháu
Rạng hùng anh tỏa sáng Cha Ông
Rồng Tiên phấp phới cao bay
Năm châu bốn bể đấp xây hòa bình
Nước Việt Nam đại gia đình dân tộc
Thể Đồng Bào luôn đùm bọc lẫn nhau
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Lá rách nương nhờ lá lành
Tinh thần đoàn kết bao đời khó phai
Anh Em như thể chân tay
Như chim liền cánh như cây liền cành
Ngày Giỗ Tổ hương trầm thơm ngát
Lời kệ kinh thấu suốt Tam Thiên
Kết thành cam lộ vô biên
Thấm nhuần hết thảy ức muôn vạn loài
Xin Tổ Tiên, Cha Trời, Địa mẫu
Cùng Vua Hùng Quốc Tổ anh linh
Hồn Thiên sông núi chứng minh
Chứng tri công đức chúng con thọ trì
Nguyện cho đất nước an lành
Thái bình độc lập nở nhành giàu xuân.
* * *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ.
(trang số: 291 – 307)

TỤNG ĐỌC 10 ĐẠI NGUYỆN CỦA QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG.
(Cách đây khoảng 5000 năm, khi Ngài thành đạo, để mở cánh cửa Cội Nguồn, xem kinh Long Hoa Mật Tạng sẽ hiểu rõ hơn).

*- Nguyện thứ nhất:
Khi ta thành Đạo thời Đạo pháp của Trời sẽ tuôn chảy tưới nhuần các Châu Lục. Làm tươi trẻ Linh Hồn nhân loại, trí huệ đều được khai mở, thấu suốt Cội Nguồn vào pháp Đại Đồng Bình Đẳng tự chủ Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc.
*- Nguyện thứ hai:
Khi ta thành Đạo nước pháp Chân Lý, Công Lý, Đạo Lý của Trời sẽ biến thành Nước pháp Cam Lộ, cứu khổ cứu nạn làm vơi đi bao nỗi đau khổ. Khổ sinh, khổ tử, khổ già, khổ bệnh, khổ chia ly, khổ đói nghèo lạc hậu, khổ nỗi hàm oan, khổ áp bức, khổ nghịch cảnh, khổ tù đày, khổ Địa Ngục, khổ dốt dại ngu si. Biến tất cả những thống khổ ấy trở thành an vui an lạc cuộc đời.
*- Nguyện thứ ba:
Khi ta thành Đạo, thời Đạo pháp của Trời Linh ứng vào hàng bật nhất cầu chi đặng nấy. Chỉ cần việc ấy không trái lại lời dạy của Đức Cha Trời Chân Lý, Công Lý, Đạo Lý vũ trụ.
*- Nguyện thứ tư:
Khi ta thành Đạo, thời Đạo Trời biến thành Chủ Nghĩa Đại Đồng, không phân biệt màu da chủng tộc. Các Đảng phái, tôn giáo, các tầng lớp xã hội, giàu nghèo, sang hèn, Ác Thiện, hễ có cảm thì có ứng, có công thì có quả. Phàm Thánh cũng như nhau.
*- Nguyện thứ năm:
Khi ta thành Đạo, thời Đạo Trời thành Đạo Đại Đồng Bình Đẳng, Luật là Thầy, Đạo là Cha, Công Lý Hiến Pháp là Vua. Phàm, Thánh toàn nhân loại, đều đầy đủ các Quyền mà Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu đã ban tặng cho mỗi con người. Như Quyền tự do, Quyền Ngôn Luận, Quyền bình đẳng, Quyền sống, Quyền mưu cầu hạnh phúc, Quyền quyết định vận mệnh của mình. Nhất là Quyền được Hiến pháp, Luật pháp, Đạo pháp, Công Lý cho phép. Còn những Quyền, Hiến pháp, Luật pháp, Đạo pháp, Công Lý không cho phép, đó không gọi là Quyền mà là đi ngược lại lời dạy của Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.
*- Nguyện thứ sáu:
Khi ta thành Đạo, thời Đạo Trời sẽ biến thành những món ăn tinh thần, chuyển hóa Căn Thân Huệ Mạng có công năng giải trừ vô lượng tội ác. Không còn sa đọa Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Sanh về Thiên giới, muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc, Lầu Đài Cung Điện đều theo ý muốn hiện ra. Sống mãi không chết không già không bệnh, không tử.
*- Nguyện thứ bảy:
Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời trôi chảy không ngừng hết tiểu kiếp này sang tiểu kiếp khác. Lưu chuyển khắp ta bà thế giới, khắp năm châu bốn biển, khắp hư không vũ trụ. Làm lợi ích mãi cho nhân loại con người.
*- Nguyện thứ tám:
Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời sẽ trở thành Quốc Đạo Chính Nghĩa của mỗi dân tộc, mỗi chủng tộc, mỗi màu da. Từ Địa Ngục, Trần Gian, Thiên Đàng. Đời Đạo là một dung hòa cuộc sống, Đời vì Đạo, Đạo là Đời tuy hai mà một, tuy một mà hai. Như Lửa và ánh sáng của Lửa.
*- Nguyện thứ chín:
Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời biến thành vô lượng quang ánh sáng soi đường cho nhân loại thoát khổ. Anh sáng Chân Lý, ánh sáng Công Lý, ánh sáng Đạo Đức, ánh sáng vật chất khoa học, vũ trụ, ánh sáng khoa học Tâm Linh Duy Thức chủng tánh, ánh sáng Đại Đồng Bình Đẳng, ánh sáng Chính Nghĩa công bằng văn minh, ánh sáng giải thoát Chánh giác, ánh sáng toàn năng toàn giác và còn vô lượng vô biên ánh sáng không thể tính đếm không thể nghĩ bàn soi đường chỉ lối cho nhân loại con người. Thấu suốt quá khứ tột cùng vị lai.
*- Nguyện thứ mười:
Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời trở thành Đại Đạo vũ trụ, Đạo Chung cho toàn nhân loại. Tam giáo Quy nguyên. Ngũ Chi hiệp nhất. Đồng Ngộ Chân Tánh. Đồng Thành Chánh Giác. Thanh tịnh hư không. Đại Đồng Bình Đẳng.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 308 – 316)

4. VĂN KHẤN 5 THÁNG 5, NGÀY 100 ÔNG BÀ TỔ TỔ TỔ RA ĐỜI.

o (gõ chuông) NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (LẠY).
o (gõ chuông) NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (LẠY).
o (gõ chuông) NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (LẠY).
o NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (LẠY)
o CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (LẠY)
o CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG. (BÁI)

Hôm nay, nhằm ngày—— tháng—— năm——, chúng con nhớ đến ngày ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU ÂU CƠ khai hoa nở nhuỵ, sanh ra Nhân Loại Con Người, 100 ÔNG BÀ TỔ TỔ TỔ năm màu da Nhân Loại Anh Em.
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:
——————————————————————
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ đường: —————–, Thôn/ Tổ dân phố: ———————Xã/ Phường: ————————-Quận/ Huyện———————Tỉnh/ Thành phố: ———————-Nước Việt Nam.

Đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, trà, quả… cúng dường.
Ngưỡng mong ơn trên.
+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.
+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
+ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, vạn sự bình an. Khai tâm mở trí, sáng láng thông minh. Giác thành Đại Đạo.
Nguyện cầu cho đất nước Việt Nam sớm vượt qua vận hạn, hướng về Nguồn Cội, để sau này tạo ra vô số vô biên mạch nguồn trí huệ, tuôn chảy khắp cùng, cứu giúp nhân loại anh em, đồng sanh Thiên Giới.

* * *
NAM MÔ _ A MEN (LẠY 4 LẠY, BÁI 4 BÁI)
* * *
KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

* * *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 291 – 307)

TỤNG ĐỌC KINH LONG HOA
(trang số: 55 đến 65)

(nói về Cha Trời Mẹ Trời sanh ra nhân loại con người, xem Long Hoa Mật Tạng Kinh, Long Hoa Thiên Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn).

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 308 – 316)

* * *

5. VĂN KHẤN RẰM THÁNG 7, TRONG NHÀ

a. Thế nào là bậc tiểu hiếu, trung hiếu và đại hiếu?
Như chúng ta đã biết, con người có hai phần, phần hồn và phần xác, vì thế trả hiếu cũng có hai cách: bằng con đường vật chất và bằng con đường tinh thần.
Tiểu Hiếu: Là phụng dưỡng các bậc bề trên, Ông Bà Cha Mẹ, bằng con đường vật chất như của cải, tiền tài, đồ ăn thức uống.
Trung Hiếu: Là ra sức học tập, thành đạt công danh, đem lại tiếng thơm và biết làm vừa lòng bề trên, Ông Bà, Cha Mẹ, và cả những người có công dạy bảo, nâng đỡ mình.
Đại Hiếu: Là phụng dưỡng bề trên, cũng như Ông Bà Cha Mẹ bằng con đường tinh thần. Như khuyên bề trên, hướng thiện, đi theo con đường đại nghĩa trở về với Cội với Nguồn, cũng như khuyên Ông Bà Cha Mẹ lập nhiều công đức, truyền đạt kinh luân, làm nhiều việc phước thiện, cứu dân độ thế để lại âm đức cho con cháu, chứng quả trí huệ siêu thoát linh hồn về Trời.
Bậc Đại hiếu của Vũ Trụ: là người làm được tất cả những điều này:
• Hiếu Đạo, Hiếu Đời.
Nghĩa là vừa làm tròn bổn phận của một người tu chân chính, phát đại nguyện rộng lớn, cùng với Phật Thánh Tiên Thần Chúa khắp cùng ra sức cứu giúp đồng bào nhân loại anh em. Lại vừa làm tròn bổn phận luân chuyển của mình trong vai trò: ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh chị em ở trong gia đình. Ngoài ra cũng cần làm tròn cả bổn phận của cá nhân với Họ Tộc, với Quê Hương, với Đồng Bào, với Tổ Quốc, với Thầy Cô dạy dỗ, và với ân nhân giúp đỡ mình nữa.

• Hiếu với Sắc Giới, Hiếu với Vô Sắc Giới.
Với vô sắc giới, các vị cần tận tâm, tận lực, hết lòng tôn thờ Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời (chánh thân, chánh mẫu), 3 ngôi tối cao vũ trụ, đưa tâm linh của mình giác ngộ mà trở về với bản thể Linh Giác Vũ Trụ. Còn với Sắc Giới, trước hết là tận tâm, tận lực, hết lòng hiếu kính, báo đáp với: chánh thân chánh mẫu (Cha Trời và Mẹ Trời), Ông Bà, Cha Mẹ (phụ thân và phụ mẫu), Quê Hương và Tổ Quốc, Đồng Bào, Quốc Tổ Hùng Vương (người đã để lại cho dân tộc Việt Nam hai di sản quý báu), Thầy và Cô. Bên cạnh đó, cũng cần luôn ghi nhớ công ơn, đền ơn đáp nghĩa với tất cả những ai đã từng giúp đỡ mình trong hiện tại và vô số kiếp lâu xa.
Thờ cúng đúng theo Văn Hóa Cội Nguồn chính là mật tạng mà ít người hiểu được để thể hiện chữ Hiếu rộng lớn và độ người nơi âm cảnh.

b. Đồ cúng
Quý vị nên dâng những đồ ăn thanh tịnh lên ban thờ Gia Tiên Tiền Tổ như: hương, hoa, trà, nước, quả, xôi, chè, cháo, bánh, cơm, canh, vân vân… Không có điều kiện thì chỉ cần dâng: hương, hoa, trà, quả, nước cũng được. Quan trọng là sự nhất tâm và lòng thành kính.
Nếu làm được nhiều điều phước thiện, quý vị nên hồi hướng hết thảy những công đức đó để giúp cho những vong linh Gia Tiên thêm nhiều phước duyên mà tiêu trừ nghiệp chướng, đầu thai tái kiếp hoặc siêu sanh về thiên giới.

c. Văn khấn
(gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
(gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
(gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
o CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
o CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG. (bái)

Hôm nay, nhằm ngày—— tháng—— năm——
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:
——————————————————————
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ đường: —————–, Thôn/ Tổ dân phố: ———————Xã/ Phường: ————————-Quận/ Huyện———————Tỉnh/ Thành phố: ———————-Nước Việt Nam.

Đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, trà, nước, quả, vân vân… cúng dường.
Phụng báo:
+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.
+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương.

Ngưỡng mong ơn trên, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ cháu con, đồng bào anh em, cả người dương gian lẫn âm cảnh.
Con xin mang hết công đức từ việc làm phước thiện của mình (liệt kê)….. mà hồi hướng cho (ai)…..
Nguyện cầu cho Ông Bà, Cha Mẹ, họ hàng người thân, đã mất, sớm được tái kiếp làm người trở lại hoặc siêu sanh về cảnh giới Non Tiên Cực Lạc.

NAM MÔ _ A MEN (LẠY 4 LẠY, BÁI 4 BÁI)
* * *
KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

* * *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 291 – 307)

TỤNG ĐỌC KINH HIẾU NGHĨA CHA TRỜI, MẸ TRỜI
(trang số: 10 – 14)

TỤNG ĐỌC KINH HIẾU NGHĨA CHA, MẸ
(trang số: 15 – 26)

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 308 – 316)

* * *
VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN
Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha già đa dạ. Đá địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đá. Tất đam bà tỳ. A đi rị Đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá. Tỳ ca lan đa. Già di nị. Già già na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha. ( 3 lần )
* * *

6. VĂN KHẤN NGÀY RẰM THÁNG 7. CÚNG CÔ HỒN NGOÀI TRỜI
a. Cô hồn là ai
Cô hồn là những người đã mất, khi chết đi Linh Hồn thoát ra khỏi thể xác con người trở thành LINH HỒN MA, không bị sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, ở lại cõi trần gian sanh hoạt vào cảnh giới đêm. Hình dạng linh hồn ở âm cảnh không khác gì hình dạng con người lúc tạ thế ở dương gian. Ví dụ như: một người chết già thì thân hình cũng y như vậy, già nua khi sang thế giới của âm cảnh; một người bị mất một chân, khi chết qua thế giới âm cảnh cũng bị mất một chân y như vậy.Vì nhiều lý do mà họ không có người thờ tự, sống lang thang, sống tại đường, tại chợ, tại bờ sông, vách núi, tại bãi chiến trường, ở những lùm cây… hoặc tại những nơi họ chết, đợi đủ phước và duyên để đầu thai chuyển kiếp. Cũng có những vong linh cô hồn sống trong các am, thất, đền, chùa, miếu, vườn ao quanh nhà… Đôi khi họ có thể là những oan hồn trong hàng trăm, hàng ngàn năm, vì ân oán, vì tham đắm tình duyên, vật chất mà ở mãi trong thế giới âm cảnh. Trong số đó có thể là: cha mẹ, con cái, người thân, vong nhi bé đỏ (vì nạn phá thai) của mình ở nhiều kiếp trước. Họ có thể cũng từng có nhân duyên với mình, là người giúp đỡ mình, là hàng xóm, là bạn bè, là đạo hữu, là ân nhân từng cưu mang mình lúc mình hoạn nạn… trong vô số kiếp lâu xa. Trong cô hồn cũng có người thiện, người ác. Nếu họ hành ác, đánh mất lương tâm, lương tri, thời bị thiên luật chuyển xoay mà đoạ xuống các tầng địa phủ. Còn nếu họ hành thiện, lâu dần tăng nhiều phước báu thì được chuyển sanh làm người trở lại hoặc siêu sanh về Non Tiên Cực Lạc.

b. Đồ cúng cô hồn
Không nên cúng quần áo, đồ vật bằng giấy vì vong linh họ có khả năng biến, hiện tùy theo tâm, ý. Những linh hồn ở cõi âm họ thưởng thức đồ cúng bằng hơi vị, hương vị, mùi vị. Vì vậy, quý vị nên dâng cúng những đồ: hương, hoa, trà, nước, quả, xôi, chè, cháo, gạo muối, vân vân… Thêm nữa, các vị cũng nên thắp đèn (dầu), nến lung linh. Tất cả những đồ cúng này nên được đặt trên một cái bàn (chứ không phải đặt sát đất như một số nơi).
Tốt nhất, quý vị đem luôn cả những công đức mình làm được bao nhiêu năm mà cúng dường, hồi hướng cho họ.

c. Thời gian và địa điểm cúng
Không riêng gì ngày Rằm tháng 7, việc cúng cô hồn nên được thực hiện thường xuyên nhiều lần trong năm, vào các ngày như mồng 1 và 15 (ngày rằm) âm lịch của mỗi tháng. Vì hai ngày này, họ được hưởng phước đức của Cha Trời, Mẹ Trời nhiều nhất nên giúp cho vong linh hội tụ phước duyên nhiều nhất.
Thời gian cúng nên là: 18-19h.
Địa điểm cúng thường là ngoài sân/ ngoài trời.

d. Văn khấn
(gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
(gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
(gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
o CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG. (BÁI)

o Nhất tâm triệu thỉnh hết thảy các vong linh, cô hồn quanh khu vực này (1 bái)

Hôm nay, nhằm ngày——– tháng——–năm——–
Tại địa chỉ:
Xóm/ đường: —————–, Thôn/ Tổ dân phố: ———————Xã/ Phường: ————————-Quận/ Huyện———————Tỉnh/ Thành phố: ———————-Nước Việt Nam.
Chúng con thiết lập lễ đàn, trước là phụng báo:
+ Cha Trời Lạc Long Quân.
+ Địa Mẫu Âu Cơ
+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương.
Sau là đền ơn, đáp nghĩa với hết thảy các vong linh chúng sanh.
Cúi xin, Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ anh linh, chứng giám tâm thành, hộ trì hộ độ, cho toàn thể tất cả pháp giới cháu con, nhân loại anh em dương gian và âm cảnh, sớm dứt nghiệp duyên, ác căn tội lỗi, căn lành tăng trưởng, âm cảnh thời mau được chuyển kiếp làm người, hướng về Cội Nguồn, hội ngộ Nhân Luân, chân tâm, chân tánh, siêu sanh thiên giới, an vui tự tại, không còn sa đọa nơi tam đồ khổ, Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, đồng thành Chánh Đẳng Chánh Giác.
NAM MÔ – A MEN.
Nam mô Phật, nam mô Thánh, nam mô Tiên, nam mô Thần, nam mô Chúa, cứu khổ cứu nạn.
Thiên la Phật, thiên la Thánh, thiên la Tiên, thiên la Thần, thiên la Chúa, cứu khổ cứu nạn.
Địa la Phật, địa la Thánh, địa la Tiên, địa la Thần, địa la Chúa, linh linh ứng hóa.
Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
NAM MÔ – A MEN. ( lạy 3 lạy, bái 4 bái )
* * *
KHAI THỊ VONG LINH
Vong linh ơi!
Ta Bà cõi tạm, nơi gửi thân sanh từ trăm năm, Thiên Đàng, Cực lạc quê hương, chốn an lành Niết Bàn muôn thuở.
Vong linh hỡi!
Hãy nên ghi nhớ, sống trên đời có được bao lâu, mới xuân sanh thoáng đã bạc đầu, rồi lại đến quan khâu một nấm. Ngày nay, vong linh đã mãn duyên trần, ấy cũng là lẽ tự nhiên như ngày có sáng tối, có đến ắt có đi. Cũng như cái xác thân tứ đại: đất, nước, gió, lửa này chỉ là cái giả thân do tinh cha huyết mẹ hợp thành. Còn gia đình, thân quyến của vong linh cũng đều là mối duyên nợ theo định luật nhân duyên, đừng vương vấn mà đọa vào cảnh khổ.
Vong linh ơi! Xin hãy hướng tâm về nơi lời dạy của Đức Cha Trời mà sám hối, và nghe tôi truyền lời của thiên ý: KINH NHÂN LUÂN QUẢ BÁO, làm cho tâm thức tỉnh giác mà nghiệp quả tiêu trừ, phước báo tăng trưởng, linh căn hội đủ duyên lành sớm siêu sanh về thiên giới hay chuyển thế làm người, phổ truyền lời dạy của Cha Trời mà lên ngôi Phật Thánh Tiên Thần Chúa:
Đời mạc thế con người hiện tại
Sống cùng nhau cứ mãi hại nhau
Bao nhiêu kế độc mưu sâu
Đem ra dùng hết có nào ngại chi
Cũng vì vậy ở ngay trần thế
Cuộc binh đao chém giết triền miên
Làm cho cuộc sống đảo điên
Khốn cùng khổ sở, lại thêm đói nghèo
Oán trả oán, oán đầy chồng chất
Thù trả thù, muôn kiếp chẳng tha
Cảnh khổ cứ mãi trào ra
Muôn đời vạn kiếp nói sao cho cùng
Nhìn thế nhân lầm đường lạc lối
Nên Trời Cha chuyển pháp khai kinh
Mở đường cứu khổ sanh linh
Thoát cơn nguy biến chuyển mình vượt qua
Nền văn hóa sâu xa vô tận
Đạo Nhơn Luân vô thượng thậm thâm
Chỉ cần truyền bá cho dân
Non sông Tổ Quốc mấy tầng bình yên
Dân có đạo dân hiền dân thảo
Dân có nguồn ít lỗi ít sai
Thái bình độc lập là đây
Nước non giàu đẹp phước xây vạn tòa
Nhơn luân đạo pháp làm người
Giàu, nghèo, quan, chúa, nhất thời đồng tu
Tôn thờ Nguồn Cội sớm hôm
Sống theo Hiến Pháp chẳng ôm độc tài
Giàu đạo đức là giàu vĩnh viễn
Giàu của tiền cũng chỉ tạm giàu
Sống còn chết mất được gì
Của trần trả lại cho trần như không
Cũng vì vậy Cha Ông di giáo
Truyền kinh luân giải thoát hồn linh
Để cho nhân thế tu theo
Rõ đường nhân quả chọn gieo giống lành
Muốn được vậy học hành giáo dục
Sống cho đời học tập siêng năng
Rõ đường thiện ác trong tâm
Tận tường tà chánh chẳng lầm chẳng sai
Giàu, nghèo có đức mới cao
Giúp dân giúp nước kiếp sau thanh nhàn
Giàu nghèo, ác đức lầm đường
Cháu con phải chịu khốn cùng về sau
Nhân quả thiên luật sai đâu
Nhân nào quả nấy lạ nào hiển nhiên
Quả báo xoay vần triền miên
Gieo thiện gặt thiện là điềm xưa nay
Nhân quả vay trả, trả vay
Ác gieo ác gặt xưa nay nào lầm.
* * *
Chửi Trời mắng đất: Nhiều họa đem đến
Chẳng trọng Thánh Thần: Cầu nguyện không linh
Mắng mưa chửi gió : Xui rủi không may
Bội nghịch cha mẹ : Hậu kiếp mồ côi
Khinh khi thân tộc : Bà con xa lánh
Hỗn ẩu anh em : Cô độc một mình
Hại dân, phản quốc : Họa sanh khó cứu
Phản hại chánh giáo : Khó thoát tai ương
Chê người nghèo khó : Chuyển kiếp cơ hàn
Hạch sách dân chúng : Suy sụp cháu con
Ỷ thế hiếp người : Con cháu khiếp nhược
Lời nói chẳng lành : Tai họa khởi sanh
Lấy của hiếp người : Tuyệt đường giàu có
Tham tàn bạo ác : Suy sụp khó cứu
Được sang chê hèn : Đáo đầu bần cực
Bất nghĩa bội ơn : Con cháu ngỗ nghịch
Được khôn chê khờ : Khó mong thành đạt
Xúi kiện hại người : Con cháu bất hòa
Cố ý gạt lường : Người khác gạt mình
Miệng hay nói láo : Khó lập thân danh
Thường hay hại người: Đoạn tuyệt may mắn
Phá hoại vợ chồng : Kiếp sau lẻ bạn
Truyền ngôn bất chính: Trả quả loạn tâm
Thường hay lạm sát : Tuổi thọ giảm suy
Hủy báng kệ kinh : Ngây cuồng đền tội
Thường hay ganh ghét : Con cháu vô duyên
Nói xấu ngạo biếm : Bằng hữu khinh thường
Thọ ân trả oán : Con cháu thất thời
Ếm yểm kinh luân : Tai bay họa gởi
Giết người cướp của : Ác lai quả báo
Hại người đoạt chức : Tai họa trùng lai
Mưu mô bất chính : Bằng hữu bất trung
Giả tâm phản loạn : Tai họa thình lình
Bội ơn bạc nghĩa : Sanh con bất hiếu
Làm ăn bất chính : Con cháu phá gia
Hại dân khuấy chúng, chuyển kiếp sanh ra vô cùng khốn khổ : Câm, đui, liệt, cùi
Tâm tánh bạc ác : Căn khùng đền tội
Ngông cuồng kiêu ngạo : Tạo lập khó thành
Tham ô bất chính : Con cháu hư hỏng
Phản bội Cha Ông : Con cái phản mình
Ép người đường cùng : Họa đầy khó tránh
Hành hung bất chánh : Con cháu sụp suy
* * *
Nhân luân quả báo xưa nay
Khắp trong trời đất có sai bao giờ
Ứng báo quả báo xoay vần
Chỉ mau hay chậm đâu lầm sai chi
Kinh nầy cùng tận hiển linh
Thậm thâm vi diệu khó nên luận bàn
Chỉ cần thành kính một lần
Phát tâm đọc tụng cho người khác nghe
Chỉ là một chữ một câu
Coi như cũng đặng một tàu phước ghi
Huống là in chép truyền đi
Muốn chi cũng đặng cầu chi cũng thành
Ông bà cha mẹ nhiều đời
Siêu sanh thoát ngục về Trời an vui
Còn như tu luyện theo kinh
Cửu Huyền hộ độ có tên bảng vàng
Cháu con thành đạt vinh quang
Gia đình con cháu bình yên, yên bình
Huống chi giảng giải tuyên truyền
Thánh , Thần, che chở phước lành tốt tươi
Mãn thân hồn đặng sanh Thiên
Vào ngôi Phật, Chúa, Thánh, Tiên, Đức Thần.
* * *
Lại nữa, vong linh hỡi:
Trần gian là chốn trường thi
Là nơi cõi tạm luyện tu linh hồn
Ngộ rồi siêu thoát về Trời
Nào đâu phải chốn muôn đời bình yên
Sanh già bệnh tử liên miên
Xoay vần tan hợp não phiền lắm thay
Cõi trần gian tai bay họa gởi
Nào chiến tranh binh lửa chẳng yên
Thiên tai tàn phá kinh thiên
Lắm điều cơ cực biết bao nhọc nhằn
Ở cõi Trời đất vàng đất ngọc
Nào báu châu xinh đẹp lạ thường
Lầu đài cung điện kim cương
Pha lê, mã não, trân châu, xà cừ
Các tầng Trời sang giàu bậc nhất
Chốn trần gian chẳng sánh mảy lông
Thiên Đàng hạnh phúc vô biên
Trần Gian biển khổ đảo điên khốn nàn
Bồng lai cảnh giới Thiên Đàng
Sống lâu trẻ mãi não phiền đều không
Đâu như trần thế Trần Gian
Chia lìa khốn khổ tử sanh luân hồi
Chốn Trần Gian muôn ngàn khốn khổ
Cõi Thiên Đàng sống mãi an vui
Trần Gian bệnh tật ốm đau
Thiên Đàng tự tại sống lâu an lành
* * *
Muốn biết ác gian có hại gì
Phải nên tìm hiểu ở kinh thi
Nhơn luân quả báo đều ghi rõ
Họa phúc thăng trầm có khó chi
Luật nhân quả trước sau, sau trước
Gieo giống gì gặt nấy có sai
Trồng lúa gặt lúa xưa nay
Gieo ác gặt ác, ác vây khốn cùng
Nơi vũ trụ một nền thiên luật
Đạo huyền cơ chuyển vận chuyển xây
Ác thời đọa xuống âm ti
Thiện thời nhẹ bước siêu lên Thiên Đàng
Vì hiểu rõ luật trời như thế
Phật, Thánh, Tiên, chọn đức làm đầu
Ở trong vũ trụ một bầu
Chánh, Tà, hai nẻo vui, buồn, khổ vui
Thiện cùng Ác do người mê ngộ
Tạo nghiệp duyên chuyển vận thọ mang
Gieo nhân kết quả xưa nay
Nhân nào quả nấy có sai bao giờ
Tạo nghiệp ác gieo mầm thọ khổ
Đọa linh hồn địa phủ khó ra
Chịu nhiều quả báo gớm ghê
Gươm đâm, đao chém đứt lìa tan thây
Nơi ngục lửa nướng thui la ré
Ngục âm phong lạnh xé thịt da
Đớn đau khủng khiếp rên la
Chết đi sống lại biết bao hãi hùng
Nơi trần thế hung tàn bạo ác
Cậy thế quyền tàn sát lê dân
Thiên cơ vận hóa hồn linh
Chết đi sa đọa ngục hình địa lao
Hồn linh đói khát biết bao
Quỉ yêu xé xác đớn đau kinh hoàng
Nơi Địa Phủ muôn trùng đày đọa
Đủ cực hình, thảm họa triền miên
Chừng nào hết nghiệp ác gian
Mới mong thoát khỏi thảm thê ngục hình
Tiếng la khóc hãi hùng dậy khắp
Nổi kinh hoàng thịt khét lửa nung
Mới hay Địa Ngục khiếp kinh
Sa chân làm ác hết mong phản hồi
Nơi trần thế xem thường hành thiện
Cứ tham tàn bày biện ác gian
Nào hay Địa Phủ kề bên
Mất thân hồn đọa âm ti mấy tầng
Nơi trần thế dối lừa hại chúng
Xuống âm ti đủ thứ đớn đau
Quỉ ngục đâm chém xé xâu
Đủ điều hành hạ biết bao hành hình
Cũng vì bởi gieo toàn hung ác
Lại xem thường quả báo chuyển xây
Địa ngục hành xử liên miên
Chết đi sống lại biết bao nghìn lần
Nơi trần thế hại người lương thiện
Xuống âm ti muôn vạn cực hình
Giáo đâm gươm chém trùng trùng
Linh hồn nát vụn, nát nhừ như tương
Nơi trần thế hại dân khuấy chúng
Miệng độc xà hại chết người ngay
Chết đi đọa xuống âm ti
Đọa đày khủng khiếp vô phương cứu nàn
Nơi ngục lạnh đọa đày đau đớn
Lưỡi cứng đờ phồng tét thịt da
Răm nứt xé nhỏ xé to
Đớn đau khủng khiếp thét la hãi hùng
Nơi trần thế giết người cướp của
Làm cho người khốn khổ thương đau
Chết đi hồn xuống âm ti
Quỉ Thần hành hạ moi tim nấu nhừ
Vậy mới biết đất trời thiên luật
Hễ hại người Trời lại hại mình
Chuyển xây thiên luật công minh
Gieo ác gặt ác có gì hàm oan
Nơi trần thế mưu gian hại nước
Làm cho dân khốn đốn đói nghèo
Sống trong đao búa ngục tù
Sống trong áp bức khốn cùng đau thương
Gieo đại ác tội cao như núi
Luật Trời kia chuyển hóa đọa đày
Lâm chung hồn xuống địa đàng
Thọ hình quả báo những gì gớm ghê
Lụi, đâm, quay, nướng, lột da
Moi gan, móc ruột, rút gân nấu dầu
Quết, giã, xay, xát, băm nhừ
Búa, rìu, dao rựa, đồng thời bửa, đâm
Quăng hồn cho rắn nuốt ăn
Rừng đao núi lửa cũng quăng liệng vào
Nơi địa ngục âm tào Địa Phủ
Những hồn linh hung dữ vào ra
Nhất là những kẻ hại dân
Nhân luân quả báo xoay vần khốn nguy
Gian tà hại nước hại non
Ỷ quyền ỷ chức hại dân khốn cùng
Lâm chung hồn đọa mấy tầng
Địa Lao chịu mãi cực hình dài lâu
Làm con hại Mẹ hại Cha
Đây là tội lớn phải sa ngục tù
Đọa vào hỏa ngục hành hình
Nghìn muôn ức kiếp biết đời nào ra
Làm người phản hại nước non
Hồn lìa khỏi xác chuyển xây ngục tù
Chìm trong bể ngục đen sì
Làm mồi cho rắn nuốt thời thịt xương
Làm người hủy bán kinh luân
Họa tai, tai họa triền miên đọa đày
Địa ngục thịt nát xương lìa
Đọa vào ngạ quỉ cùng là súc sanh
Muôn đời vạn kiếp chuyển luân
Hết mong trở lại đầu thai làm người
Thất kính đối với Cha Trời
Chết đi phải chịu hành hình gớm ghê
Đói khát nào có được ăn
Đớn đau tra tấn, rút gân nấu dầu
Chết đi sống lại ức ngàn
Ăn đồng uống sắt cháy thời ruột gan
Lại thêm chim sắt mổ ăn
Đớn đau khủng khiếp nát tan linh hồn
Địa ngục khiếp vía kinh hoàng
Bởi do thất kính Cha Trời mà ra
Ác tâm thời đọa âm ti
Thiện tâm thì được sanh lên Thiên Đàng
Trước gian sau lại thiện lành
Cũng thành chánh quả hết vào âm ti
Trước ác sau lại ăn năn
Không sa địa ngục siêu sanh về Trời
Chỉ cần bỏ ác đi rồi
Tâm hồn nhẹ bỗng cuộc đời thênh thang
Siêu đọa đều bởi do tâm
Gieo gì gặt nấy chẳng tầm đâu xa
Gieo ác địa ngục phải sa
Thiện lành thì được sanh lên Thiên Đàng * * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 308 – 316)

* * *
7. VĂN KHẤN ĐÊM GIAO THỪA, NGOÀI TRỜI

a. Ý NGHĨA CỦA VIỆC CÚNG GIAO THỪA CUỐI NĂM.
Ngày giao thừa rất quan trọng mang cả triết lý đời sống lẫn triết lý tâm linh. Là ngày chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Nó được coi là ngày tạ ơn, ngày đền ơn đáp nghĩa. Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh mỗi gia đình, nên cúng khoảng thời gian 18h – 24h đêm tại ban thờ trong nhà. Hay thường thắp nhang nơi bàn thiên ngoài sân vào thời khắc khi chuẩn bị bước sang năm mới.
Ngày cúng giao thừa là ngày Ông Bà Cha Mẹ, con cái đoàn tụ, hỷ xả, an lạc, ngày ân xá, hưởng thái bình cho năm mới, trên con đường về Cội về Nguồn. Cả dương gian lẫn âm cảnh đều như nhau, đó là ngày hội tụ của Ông Bà, Cha Mẹ để chào đón năm mới. Nó cũng mang ý nghĩa là ngày tạ ơn, cho những con người đã hỗ trợ và phù hộ cho mình cả năm để kết thúc năm cũ, mình có được bao nhiêu thành quả thì phải biết tạ ơn cho cả cảnh giới hiện hữu lẫn vô hình. Cũng là ngày thành quả, giống như mình đi làm từ sáng tới chiều thì chiều chính là thành quả của một ngày làm việc của mình. Vào thời khắc giao thừa, chúng ta nên cầu nguyện, tụng kinh luân, đọc chú ấn, làm phước thiện để cầu bình an cho năm mới, hồi hướng công đức cho tất cả (ví dụ như: ông bà cha mẹ con cái, gia đình, quê hương, đất nước vân vân… ) .
Địa điểm cúng: tuỳ thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện của mỗi gia đình. Nhưng thường là: ngoài sân hoặc trên sân thượng.

o NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (LẠY).
o NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (LẠY).
o NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (LẠY).
o NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (LẠY)
o CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ (LẠY)
o CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG. (BÁI)

Nay đang là thời khắc thiêng liêng đêm giao thừa, chuyển giao từ năm cũ….. sang năm mới…..
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:
——————————————————————
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ đường: —————–, Thôn/ Tổ dân phố: ———————Xã/ Phường: ————————-Quận/ Huyện———————Tỉnh/ Thành phố: ———————-Nước Việt Nam.

Đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, trà, quả… cúng dường.
Phụng báo:
+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.
+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thỉ Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

Ngưỡng mong ơn trên, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ cháu con, khắp nơi trên đất nước Việt Nam, đồng bào người Việt trong và ngoài nước, nhà nhà may mắn, bình an, người người hân hoan, hạnh phúc, đồng hướng về Nguồn Cội.

(Tuỳ việc làm phước thiện lớn hay nhỏ, quý vị nên hồi hướng công đức cho ông bà cha mẹ con cái, gia đình, quê hương, đất nước vân vân… )

Nam Mô _ A Men.

KINH CẦU NGUYỆN
Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền
Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con
Huệ khai phước lộc đầy tràn
Gia đình hoà thuận, cháu con sum vầy.

SÁM GIÁC CA

Một lòng quy kính Tổ Tiên
Cha Trời, Địa Mẫu, Cửu Huyền Long Hoa
Hành thiện điều ác tránh xa
Trăm lành vạn phúc cái vui nào bằng
Hành thiện siêu sanh Thiên Đàng
Cung Trời sống mãi hết còn khổ đau
Cội Nguồn Văn Hóa cao sâu
Thậm thâm vi diệu biết bao cơ mầu
Thiên Luật, Thiên Ý Cha Trời
Chỉ cần làm được một lời cũng linh
Cha Trời hộ độ khai tâm
Phật, Tiên, Thánh, Chúa chẳng tầm đâu xa
Ngộ rồi trí huệ sáng soi
Tử sanh, sanh tử rõ thông an nhàn
Cội Nguồn kinh giáo Đạo Tràng
Như liều Thánh Dược cứu đời khốn nguy
Nghịch Thiên thời được cái chi
Muôn điều tai họa hết mong yên bình
Tai ương khắp chốn khắp cùng
Chỉ vì nghịch lại Ý Trời mà ra
Cầu lên ba đấng Ông Cha
Tối cao vũ trụ khai sinh Đất Trời
Quyền năng vô hạn tột cùng
Khai sinh tất cả vạn loài Tam Thiên
Thuận Trời muôn sự bình yên
Vạn lành muôn phúc việc chi cũng thành
Thuận Thiên tai họa tiêu trừ
Gia đình họ tộc rạng ngời danh thơm
Ông Bà Cha Mẹ siêu thăng
Cũng nhờ công đức Thuận Thiên Cha Trời
Cầu lên ba đấng cao vời
Quyền năng tột đỉnh giúp thời chúng con
Sống thời thường được bình an
Mọi điều suôn sẻ khó khăn cũng lành
Cầu xin Quốc Tổ Vua Hùng
Hiển Linh gia hộ khắp cùng chúng dân
Non sông Tổ Quốc giang sơn
Sanh sôi cuộc sống thênh thang cơ đồ
Khắp nơi phồn thịnh sang giàu
Nơi nào cũng được ngập tràn ấm no
Cầu cho Quốc Thới dân an
Nhà nhà hạnh phúc cháu con thuận hòa
Cầu cho Nam Việt nước nhà
Văn minh cuộc sống rạng ngời anh linh
Theo chân Quốc Tổ Hùng Vương
Nhân quyền dân chủ văn minh tột cùng
Dân giàu nước mạnh anh hùng
Việt Nam con cháu Tiên Rồng muôn năm
Nam Mô vạn sự bình yên
A Men như ý sám nguyền ứng linh
Nam Mô vạn sự đều nên
A Men như ý, ứng linh nhiệm mầu
Nam Mô vạn sự thỉnh cầu
A Men như ý, nguyện cầu ứng linh

Ta bà ha,
Án ,
Tất điện đô mạn đà ra.
Bạt đà gia, ta bà ha.
Yết đế yết đế
Ba la tăng yết đế
Ba la tăng yết đế
Bồ đề tát bà ha

* * *
NAM MÔ _ A MEN (LẠY 3 LẠY, BÁI 4 BÁI)
* * *
KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

* * *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 291 – 307)

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 308 – 316)

* * *

8. VĂN KHẤN ĐÊM GIAO THỪA, TRONG NHÀ (18h – 24h đêm).

(gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
(gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
(gõ chuông) CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
o NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN. (lạy)
o CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
o CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG. (bái)

Nay đang là thời khắc thiêng liêng đêm giao thừa, chuyển giao từ năm cũ….. sang năm mới…..
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:
——————————————————————
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ đường: —————–, Thôn/ Tổ dân phố: ———————Xã/ Phường: ————————-Quận/ Huyện———————Tỉnh/ Thành phố: ———————-Nước Việt Nam.
Đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, trà, quả… cúng dường.
• Phụng báo:
+ Cha Trời Lạc Long Quân.
+ Địa Mẫu Âu Cơ
+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương.
Ngưỡng mong ơn trên, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, năm mới bình an, thịnh vượng, cháu con hiếu thuận, thông minh sáng láng, gia đình yên vui, hạnh phúc.

KINH CẦU NGUYỆN
Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền
Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con
Huệ khai phước lộc đầy tràn
Gia đình hoà thuận, cháu con sum vầy.

Nguyện cầu cho Ông Bà, Cha Mẹ, họ hàng người thân, đã mất sớm được tái kiếp làm người hoặc được siêu sanh về nơi tốt đẹp.
NAM MÔ _ A MEN
* * *
Việt Nam Văn Hóa Cội Nguồn
Đơm hoa kết trái đổi màu xuân xanh
Ánh mặt trời bừng lên tỏa sáng
Dạy hào hùng rợp bóng Rồng Tiên
Trời nam rực rỡ thiêng liêng
Gió xuân tràn ngập an vui thái bình
Nền văn hóa tràn đầy hạnh phúc
Lướt ngàn mây ung đúc ấm no
Việt Nam khúc hát tự do
Con Hồng cháu Lạc đơm hoa chuyển mình
Bừng non nước tràn đầy hưng thịnh
Cảnh giàu sang tràn ngập văn minh
Việt Nam rạng rỡ năm châu
Việt Nam hội tụ một bầu anh linh
Nền văn hóa chuyển mình tỏa sáng
Định pháp mầu Thiên Ý Trời Cha
Mưa xuân gió thịnh nở hoa
Trời xuân nở rộ Phụng bay Rồng chầu
Lời vàng ngọc vạn tầng mây báu
Ý diệu huyền rõ thấu huyền cơ
Việt Nam muôn vạn bài thơ
Địa linh thánh địa bến bờ thoát siêu
Cửa Trời rộng mở nơi đây
Đón người trần tục siêu bay về Trời
Việt Nam mãi mãi rạng ngời
Việt nam con Lạc cháu Hồng muôn năm.
* * *
NAM MÔ – A MEN
Nam mô Phật, nam mô Thánh, nam mô Tiên, nam mô Thần, nam mô Chúa, cứu khổ cứu nạn.
Thiên la Phật, thiên la Thánh, thiên la Tiên, thiên la Thần, thiên la Chúa, cứu khổ cứu nạn.
Địa la Phật, địa la Thánh, địa la Tiên, địa la Thần, địa la Chúa, linh linh ứng hóa.
Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế
Đa ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế
Ma ha già đế, chơn lăng càng đế
Ta Bà Ha.

NAM MÔ – A MEN.
(gõ chuông đồng bái lạy. LẠY 4 LẠY, BÁI 4 BÁI)

* * *
KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

* * *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 291 – 307)

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 308 – 316)

* * *

CHƯƠNG V: LONG HOA LƯỢC CHUYỆN SỐ 36
✴BÍ MẬT PHƠI BÀY KHÓ CHE MẮT THÁNH✴

Ngôi nhà cổ ở thôn Vĩnh Tân đang yên lắng bỗng nghe tiếng xe Honda chạy vào trên xe một chàng trai trẻ người ấy là Đạt. Đạt nhanh chóng xuống xe bước vào nhà không thấy Phong liền hỏi người thanh niên già dặn lớn tuổi hơn Đạt. Anh Trực anh đến chơi lâu chưa Phong đâu rồi, Trực chưa kịp trả lời. Phong từ trong phòng bưng bộ ly cùng bình trà bước ra chuyện gì vậy Đạt, Đạt cười nói hôm nay mầy có rảnh không ?
Phong vừa rót trà vừa nhìn Đạt như có vẻ tò mò rảnh thời có rảnh nhưng là chuyện gì nhậu hả.
Đạt nói làm gì có chuyện nhậu chuyện khác kìa, Phong hỏi chuyện gì quan trọng không? Đạt nói quan trọng cũng được mà không quan trọng cũng được, đi với tao đến điện Thánh. Điện Thánh linh lắm cầu gì cũng được miễn là có niềm tin, tín đồ đệ tử rất đông xin xăm bói quẻ để biết trước vận thời. Quan Thánh Đế Quân, thường nhập xác nói cơ sấm rất hay vận mệnh đất nước đều biết rõ, nhất là trị bệnh tà ma giỏi lắm.
Đạt vừa nói vừa tỏ vẻ thành kính khi nhắc đến Quan Thánh Đế Quân, quay sang Trực, Đạt nói anh Trực biết không Quan Thánh chuyện gì cũng biết trước nắm cả quyền lực trần gian địa phủ biết bao nhiêu Linh Hồn được Quan Thánh đưa về Trời.
Phong nghe Đạt ca ngợi Quan Thánh như sấm nổ liền nói từ lâu tao nghe người ta thổi phồng Quan Thánh Quan Công dữ lắm. Đạt nói không phải thổi phồng đâu mà tất cả đều là sự thật mình quy y Điện Thánh hơn năm năm rồi. Quan Thánh hiển linh khắp đất nước chỗ nào cũng có mặt Quan Thánh hễ cầu là có kể gì mấy nghìn Điện Thờ khắp cả nước khối người quỳ lạy cầu Quan Thánh ban cho phúc đức cũng như siêu độ về Trời.
Phong nói theo tao nghĩ toàn là Quan Thánh giả không có Quan Thánh nào là thiệt cả. Đạt nghe Phong nói thế liền cười nói Đạt biết Phong từ lâu rồi đa nghi còn hơn Tào Tháo.
Phong nói không phải là tao không tin, nhưng việc Quan Thánh Đế Quân nhập hồn khắp nơi trên đất nước Việt Nam không có cơ sở để đáng tin. Vì Quan Thánh Đế Quân là người Trung Quốc, không phải là người Việt Nam.
Theo định luật vũ trụ Phật ở nước Phật, Tiên ở nước Tiên không có kiểu Phật đến nước Tiên làm Trời khi chưa cho phép của nước Tiên. Ở trần gian cũng thế thôi dù là Thánh bên Trung Quốc muốn qua Việt Nam làm Trời cũng phải được sự cho phép của truyền thống Anh Linh Dân Tộc. Đằng nầy Quan Thánh người Tàu muốn nhập chỗ nào thời nhập muốn thưởng phạt ai thời thưởng phạt chẳng khác nào là Ông Tổ của nước Việt người dựng lên đất nước nầy.
Phong nhìn Đạt rồi nói, Đạt có nghe nói đến Hồn Thiên Dân Tộc chưa. Hồn Thiên Dân Tộc là nói đến năm nghìn năm Văn Hiến từ thời dựng nước đến giờ. Với chiều dài lịch sử trải qua hàng mấy mươi triều đại, triều đại nào cũng đầy rẫy Vua, Vương, Quan, chưa kể vô số anh hùng tướng lĩnh bảo vệ non sông Tổ Quốc. Nước nào cũng thế không nước nào khác nước nào. Tất cả đất nước đều có chủ quyền người sống bảo vệ chủ quyền theo cách người sống. Hồn Thiên Dân Tộc bảo vệ chủ quyền theo kiểu Hồn Thiên Dân Tộc, trấn giữ khắp nơi. Từ thời Hùng Vương dựng nước tới giờ năm nghìn năm Văn Hiến con cháu Tiên Rồng thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa phải nói là hằng hà sa số nhất là ở thời đầu dựng nước Văn Lang. Lớp thế hệ đầu thời dựng nước khi qua đời số thời siêu sanh trở về Trời, số thời ở lại theo lệnh Quốc Tổ thành lập Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang, cai quản thế giới Tâm Linh. Thời làm sao Quan Thánh Đế Quân người Trung Quốc qua Việt Nam như chỗ không người được. Quan Thánh Trung Quốc muốn qua Việt Nam phải có sự cho phép của Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang. Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang sống theo Luật hành xử theo Luật được Hiến Định trong Hiến Pháp Văn Lang nền Quốc Đạo Dân Tộc.
Quan Thánh Đế Quân người Trung Quốc chứ đâu phải người Việt, muốn làm gì thời làm. Nói cho cùng sống sao thác vậy những linh Hồn ngoại quốc muốn qua Việt Nam đều phải xin phép không có chuyện ngang nhiên như chỗ không người khi đất nước Việt Nam có Nhà Nước Tâm Linh Việt Nam. Tao khẳng định rằng Quan Thánh nhập xác trên khắp đất nước Việt Nam toàn là Quan Thánh giả. Tất cả chỉ là Ma Việt nhập xác xưng Quan Thánh Đế Quân mà thôi.
Phong nói theo như tao nghĩ con cháu Tiên Rồng Việt Nam khi mãn kiếp trần có người siêu sanh về Trời, có người ở lại chốn trần gian trở thành Hồn Thiên Dân Tộc. Đạt nên biết con cháu Rồng Tiên Dân Tộc Văn Lang nay là Dân Tộc Việt Nam có máu chống ngoại xâm dữ lắm như Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung Nguyễn Huệ vân.vân.. Cũng đã cho ta thấy Quan Thánh Đế Quân qua Việt Nam không phải dễ. Làm gì có chuyện bắt con cháu Việt Nam quỳ lạy cũng như ban phước giáng họa cho con cháu Tiên Rồng Việt Nam. Làm Như Quốc Tổ Hùng Vương không bằng. Tao khẳng định lần nữa Quan Thánh Đế Quân nhập xác các nơi điện Thánh trong nước Việt Nam đều là Quan Thánh Giả một trăm phần trăm.
Đến lúc nầy Trực mới lên tiếng nói Phong nói có lý đấy, theo Trực nghĩ Quan Thánh hoạt động nhập xác trên khắp đất nước Việt Nam là Quan Thánh giả. Chỉ là những Hồn Ma người Việt giả làm Quan Thánh Đế Quân nhập xác mà thôi.
Đạt nói Trực có gì làm bằng chứng Quan Thánh nhập xác các điện Thánh trong nước đều là giả. Chỉ là Ma Việt nhập xác xưng Quan Thánh Đế Quân.
Trực nói quá rõ ràng rồi còn gì.
1- Quan Thánh Đế Quân không phải là Dân Tộc Việt Nam, nếu qua Việt Nam phải được Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang cho phép, không có cái kiểu hoạt động khắp đất nước nhập xác nói gì thời nói, ban phước cho ai thời ban, giáng họa cho ai thời giáng mà phải dưới sự quản lý của Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang.
2- Quan Vân Trường, hay còn gọi là Quan Vũ dù cho hiển Thánh trở thành Quan Thánh Đế Quân, cũng chỉ là vị Quan Thánh của thời chiến quốc Trung Quốc không phải là vị Thánh Việt Nam. Nên không được hoạt động trên đất nước Việt Nam như tất cả vị Thánh Việt Nam. Tùy trường hợp Quan Thánh Đế Quân đã nhập Quốc Tịch Việt Nam, thành Hồn Thiên Việt Nam mới được quyền hoạt động trên đất nước Việt Nam.
3- Quan Vân Trường chỉ là vị quan theo phò Lưu Bị thời tam quốc. Không thể sánh với Quốc Tổ cũng như 41 đời Hùng Vương, chưa kể các vị Vương, Vua, Quan từ thời An Dương Vương xuống Hai Bà Trưng đến nay những vị anh hùng tự tôn Dân Tộc chống quân xâm lược.
Với ba ý chính trên cho thấy Quan Thánh Đế Quân hoạt động nhập xác dạy đạo trên đất nước Việt Nam là Quan Thánh giả một trăm phần trăm. Những Linh Hồn nhập xác xưng Quan Thánh Đế Quân ấy là Linh Hồn người Việt lạc Cội lạc Nguồn mê tín tôn thờ ngoại bang, tôn thờ Quan Thánh Trung Quốc. Nhưng vì có chút cải tâm hành thiện khi chết Linh Hồn còn ở lại trần gian vì muốn được siêu thoát về Trời nên nhập xác truyền dạy đạo đức không lẽ xưng ta là Ma nên giả danh xưng Quan Thánh Đế Quân. Những người mê tín dị đoan tưởng Quan Thánh thật nên nghe theo làm theo.
Nói tóm lại: Những người tôn thờ ngoại bang phần lớn sa đọa xuống các tầng Địa Phủ với cái tâm u mê cuồng tín chứa nhiều tội lỗi không phân biệt được đâu là lẽ đúng.
Nghe Trực phân tích có cơ sở khoa học, Đạt nghe cũng có lý nhưng vì theo điện Thánh lâu ngày khó mà nhận thức ra chân giả bằng nói hai bạn nói nghe cũng có lý nhưng tớ vẫn tin người nhập xác kia là Quan Thánh Đế Quân, Quan Công thiệt.
Phong nói muốn biết thật giả cũng dễ thôi, mình hỏi thiệt Đạt có mấy Ông Quan Thánh Đế Quân ? Đạt trả lời ngay không cần suy nghĩ, làm gì có nhiều Quan Thánh Đế Quân.
Phong lại hỏi: Như vậy các điện Thánh thờ Quan Công Quan Thánh trong nước khi nhập xác xưng ta là Quan Thánh đều chỉ một người? Đạt nói đương nhiên là một Quan Thánh Đế Quân rồi.
Phong lại hỏi Như vậy Quan Thánh ở Điện nầy dạy thời Quan Thánh ở Điện kia có biết không ? Đạt nói đương nhiên là biết rồi vì chỉ có một Quan Thánh Đế Quân làm gì có mình nói mà mình không biết. Chỉ trường hợp Quan Thánh giả, Quan Thánh nầy nói Quan Thánh kia mới không biết. Ví như Phong nói gì thời Phong phải biết chớ, chỉ trừ trường hợp Phong là người loạn trí mới nói đằng trước quên đằng sau. Hoặc là nhiều Phong giả nên Phong nầy nói Phong kia không biết.
Phong nói tao muốn đánh cá với Đạt, nếu tao chứng minh là Quan Thánh giả thời Đạt sẽ thế nào? Đạt nói không những tao từ bỏ không theo Quan Thánh mà còn đãi một chầu ra trò. Phong nói Trực làm chứng nhé nếu Phong thua thời Phong sẽ theo Đạt quỳ lạy nghe theo lời dạy Quan Thánh Đế Quân còn đãi một chầu ra trò cho sự thua cuộc của mình.
Trực nghe xong nghĩ trong bụng Phong lấy gì chứng minh là Quan Thánh Đế Quân nhập xác là giả, chứng minh bằng cách nào liền nói Phong có tỉnh táo không vậy. Đạt nói Phong thua là cái chắc khi nhìn thấy Quan Thánh Đế Quân nhập xác dạy đạo.
Phong hỏi: Đạt biết mấy điện Thánh. Đạt nói tao biết ba điện Thánh thuộc tầm cỡ trong huyện nầy. Phong nói thế là đủ rồi Đạt dẫn phong đến điện Thánh thứ nhất đi Phong làm gì thời kệ Phong, Đạt, Trực, làm theo không được hỏi không được nói chỉ chú tâm theo dõi tất cả, mọi sự là do Phong.
Thế là cả ba lên đường Đạt dẫn đến điện Thánh mà xưa nay thường cung phụng tin tưởng đi theo, vừa đến nơi thấy người ta lớp trong lớp ngoài rất đông. Đạt nói vợ ông to bà lớn cũng thường đến đây cúng bái tin theo lời dạy Quan Thánh, Đạt muốn cho Phong, Trực, khẩu phục tâm phục chứng kiến cảnh Quan Thánh nhập xác nên dẫn Phong, Trực đến nơi gần nhất để chứng kiến Quan Thánh nhập xác.
Phong, Trực, nhìn người đàn ông đứng tuổi mà Đạt gọi là xác Thánh. Phong nhìn kỹ người đàn ông gọi là xác Thánh trông có vẻ có gì đó không được bình thường, nhưng ai cũng bái lạy cho là xác Ông. Kề cận xác Ông lúc nào cũng có hai đệ tử để ghi chép lời dạy của Quan Thánh khi nhập xác. Phong bước tới dâng phong bì cúng dường xác Ông, xác Ông chỉ tay nói đưa phong bì cho đệ tử.
Xác Ông bước đến điện thờ, thờ Quan Thánh còn có cả Quan Âm Bồ Tát, Mẹ Diêu Trì Hoàng Mẫu. Quả thật là điện thờ trang nghiêm. Hai đệ tử thắp hương đâu vào đấy đọc hồi kinh kệ tán thán uy danh ca tụng Quan Thánh, Quan Âm Bồ Tát, Mẹ Diêu Trì Hoàng Mẫu.
Xác Ông bước lại cái bàn có để khay thau với đôi đũa lớn đen mun, đệ tử tín đồ đều quỳ xuống, Phong quỳ mọp cúi đầu sát đất trông thành kính lắm. Đạt nhìn Phong cười thầm trong bụng sợ chưa Quan Thánh mà nhập xác thời khiếp vía. Không hiểu xác Ông lâm râm đọc những gì tay cầm đôi đũa tay cầm nhang. Bỗng xác Ông rùng mình đập đôi đũa xống khay cái rầm, dậm chân hét lên. Ta là Quan Thánh Đế Quân từ nơi cung Thái Thượng họp cùng với các chư Tiên bàn việc trần gian xong mới xuống. Thế là các đệ tử xúm nhau cúi đầu mà lạy. Phong lạy lia lạy lịa rồi nói chúng con ngu muội không hiểu thiện ác xin Quan Thánh dạy bảo cho.
Quan Thánh nghe xong rồi nói. Ngươi nghiệp chướng còn nặng lắm may mà ngươi đến đây sớm, nếu không đến đây sớm thời không sao tránh khỏi kiếp nạn. Phong vừa lạy vừa hỏi con phải làm sao cho hết kiếp nạn. Quan Thánh nói ngươi phải làm thế nầy thế nầy. Phong nói Đạt mau ghi lại để khỏi quên.
Đạt được ý nguyện, Phong nói thôi lui ra thế là ba người bước ra ngoài. Ra khỏi nơi chen lấn chật chội Phong thở phào nhẹ nhõm, rồi nói mau chở mình đến ngôi điện Thánh Thứ Hai.
Đạt vì muốn cho Phong, Trực, biết thế nào là quyền năng của Quan Thánh bằng dẫn Phong, Trực, đến điện thánh Phú Xuân nổi tiếng là linh thiêng Đạt cũng thường hay đến đây nghe Quan Thánh Đế Quân truyền dạy. Cũng may Quan Thánh vừa mới nhập xác kẻ quỳ người lạy, Đạt nhờ quen biết với hai đệ tử xác Thánh nên vượt qua số đông đến gần xác Thánh, Phong nhanh chóng móc tiền cúng dường rồi quỳ lạy nói Quan Thánh vừa dạy con cách đây không lâu gần một tiếng con lại quên mất xin Quan Thánh dạy lại cho con để con làm theo.
Quan Thánh nói mấy ngày nay Ta đi khảo sát những tội nhân ở Địa Phủ xem có tội nhân nào nhẹ tội thời đề nghị cho về Trần Gian đầu thai trở lại làm người cho kịp giờ gặp hội Long Hoa làm gì gặp đệ tử mà dạy. Đệ Tử vì nhẹ dạ cả tin, thời mạc pháp nầy thiếu gì những Hồn Ma giả dạng Ta. Ta mới là Quan Thánh Đế Quân, quyền cai quản Trần Gian, Địa Phủ. Ngươi có tánh hay quên vì nghiệp ác còn nặng để Ta hóa giải cho, tức thời Quan Thánh bắt ấn miệng đọc chú phù phép ra toa cho thuốc. Rồi nói nhớ là thường đến đây Ta giải nghiệp cho cũng như ban phước lành thời mọi việc đều tai qua nạn khỏi. Phong, vâng dạ lia lịa rồi lui.
Ra khỏi điện Thánh. Trực nói Quan Thánh nào thiệt Quan Thánh nào giả đây. Đạt chẳng nói gì nhưng sắc mặt thời đã biến đổi. Phong nói Đạt dẫn đến điện Thánh thứ ba đi, nhìn sắc mặt Đạt có vẻ giờ đây hơi khác Phong hiểu rõ điều đó nhưng không nói gì. Đạt nói theo tao thế là ba người đi đến điện Thánh Bà Nhì vì điện Thánh nầy là do Bà Nhì lập lên nghe đâu là người Tàu đến Điện Thánh nầy rất đông. Điện Thánh Bà Nhì trông bề thế còn hơn điện Thánh Đạt thường đến. Cũng may là Quan Thánh chưa đến giờ nhập xác phải chờ nửa tiếng nữa Quan Thánh mới nhập xác.
Cũng như các điện Thánh khác, Phong làm thủ tục cúng dường rồi ngồi chờ đợi Quan Thánh nhập xác truyền dạy. Người đông lớp trong lớp ngoài, nhìn sắc phục hai hộ pháp đệ tử như tướng Trời, nhất là sắc phục xác Quan Công như quan lớn triều đình thời đã khiếp sợ. Ở đây không phải chỉ tụng kinh ca ngợi Quan Thánh, Mẫu Mẹ mà có cả ban nhạc tấu lên làm cho khí thế tôn nghiêm tăng thêm niềm tin tuyệt đối. Trầm hương nghi ngút, đã đến giờ Quan Thánh nhập xác, xác Ông rùng mình đập xuống bàn cái rầm làm khiếp đảm hàng đệ tử. Ta là Quan Thánh Đế Quân từ cung trời Đà La xuống đây giải trừ kiếp nạn cho các hàng đệ tử. Cũng như ban sự may mắn cho các hàng đệ tử. Các hàng đệ tử lạy thôi là lạy. Phong không bỏ qua thời cơ vừa lạy vừa nói con có cái tánh hay quên Quan Thánh mới dạy cho con nhưng con lại quên mất xin Quan Thánh dạy lại cho.
Xác Ông nhìn Phong một hồi rồi nói Ta mới gặp ngươi lần đầu hơn nữa Ta từ cung trời Đà La xuống đây, người ngươi gặp chỉ là Ma giả ra Ta. Tánh hay quên của người là do kiếp trước ngươi có nhiều tội lỗi nên kiếp nầy trí nhớ kém dẫn đến hay quên. Nhưng không sao ta sẽ dùng nước phép hóa giải, xác Ông nhúm hoa bông điệp vào ly nước phất lên đầu của Phong miệng đọc thần chú, sau đó ra toa kê vài vị thuốc về sắc uống thời khỏi. Hai đệ tử theo hầu xác Ông ghi chép rồi đưa cho Phong biểu Phong ra quầy thuốc đưa toa thuốc cho người cắt thuốc với số tiền tùy lòng cúng dường. Quan Thánh nói nhớ là đến đây thường xuyên Ta giải nghiệp ngu si kém trí nhớ cho. Phong chưa chịu lui còn nói Quan Thánh gặp con hai lần rồi mới đây Quan Thánh không nhớ sao.
Xác Ông quát lên làm ai cũng hoảng, cả buổi nay Ta ở cõi Đà La cùng các vị Tiên nghe Mẹ Diêu Trì dạy về Trời làm gì gặp ngươi có lẽ ngươi đã gặp ma quỷ giả ra Ta để gạt ngươi. Ta nói rồi ngươi quên sao, thời đại mạc pháp Ma Quỷ thường mượn danh ta làm mưa làm gió. Cũng may là ngươi đến đây ta nói cho để biết đâu là thiệt đâu là giả. Phong nghe xong bái lạy rồi lui ra.
Ra đến xe Trực nói, một Ông Quan Thánh hội họp ở cung Thái Thượng, Một Ông Quan Thánh phán xét những Linh Hồn nơi Địa Phủ. Một Ông Quan Thánh ở cõi trời Đà La nghe Mẹ Diêu Trì dạy Đạo Trời, biết tin Ông Quan Thánh nào đây.
Đạt thở dài nói tớ đã thua một cách tâm phục khẩu phục, tất cả chỉ là Quan Thánh Đế Quân giả. Đúng là Ma người Việt giả làm Quan Thánh Đế Quân nhập xác khắp cùng Điện Thánh, không con Ma nào biết con Ma nào. Thật tội nghiệp cho những người bị lừa. Vì không có trí huệ để nhận rõ chân tướng. Cũng như không hiểu rõ về Đạo Luật vũ trụ. Phân định chủ quyền của mỗi nước, mỗi quốc gia theo Huyền Cơ Đạo Luật vụ trụ.
Thế là Đạt đãi một chầu ra trò. Đạt rút ra một triệu nói Phong vì muốn chứng minh thật giả mà phải tốn tiền tớ hoàn lại số tiền mà Phong cúng dường. Phong nói tao đã cúng cho Ma Quỷ giả danh rồi tao không nhận lấy tiền của Đạt đâu.
Đạt nhìn Phong hỏi ai bày cho Phong cách phân biệt nhận dạng thiệt giả nầy. Tớ nghĩ Phong không bao giờ nghĩ ra kế sách nầy đâu. Trực xen vào nói tớ cũng nghĩ vậy.
Phong nói Dân Tộc Việt, Nước Việt Nam có Nguồn có Cội, có Truyền Thống Anh Linh năm nghìn năm Văn Hiến, Quốc Tổ khai lập lên đất nước Văn Lang bằng nền Quốc Đạo. Cũng như Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang gìn giữ Quốc Hồn Dân Tộc chờ Quốc Tổ trở lại. Chuyển đại Pháp Luân mở ra Văn Hóa Cội Nguồn đưa Dân Tộc Việt Nam con cháu Tiên Rồng sang trang sử vàng, tỏa sáng khắp năm châu.
Thật ra Tớ theo Văn Hóa Cội Nguồn lâu rồi, trí huệ khai mở nên mới nghĩ ra kế chứng minh Quan Thánh thật, Quan Thánh giả. Thật ra Quan Thánh, hay Quan Công bên Trung Quốc muốn đến Việt Nam thời phải xin phép Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang, Hồn Thiên Dân Tộc đang cai quản lãnh thổ, Hồn Thiên Sông Núi Đại Việt. Nên không có Quan Thánh Đế Quân thật Trung Quốc trên đất nước Việt Nam. Những Hồn Ma nhập xác xưng Quan Thánh Đế Quân ấy là những Linh Hồn tiêm nhiễm Văn Hóa Trung Quốc tôn thờ Quan Thánh. Nhưng vì có chút căn lành nên không bị sa xuống các cõi Địa Phủ ở lại trần gian thọ hưởng hương hoa trà quả nhang khói. Cũng như truyền dạy Đạo lập công hầu mong siêu sanh thiên giới. Được sự cho phép quan sở tại, tướng lĩnh tâm linh địa phương cho phép. Nếu những Hồn Ma nhập xác xưng Quan Thánh ấy làm bậy thời bị bắt như thường. Hoặc bị sa đọa xuống các tầng Địa Phủ.
Đạt nói cảm ơn bạn Phong, đã cứu vớt người bạn lạc Cội lạc Nguồn. Tớ đã ba lần chứng kiến thời không còn nghi ngờ gì nữa. Tớ khẳng định rằng Quan Thánh nhập xác khắp cả nước Việt Nam đều là Quan Thánh giả hiệu, giả dạng Quan Thánh hết thảy. Chỉ tội nghiệp cho những người mê muội không nhận ra sự thật trở thành nô lệ Thần Quyền, nô lệ Văn Hóa Tàu. Đã là nô lệ Thần Quyền thời lấy đâu ra thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Tớ từ nay đi theo Văn Hóa Cội Nguồn, Truyền Thống Ông Cha như bạn Phong đã đi. Không còn nô lệ Văn Hóa Tàu nữa.
Trực xem vào, Văn Hóa Cội Nguồn do Quốc Tổ truyền dạy không đi theo còn đi theo ai nữa. Chúng Ta là con Rồng Cháu Tiên chỉ có thờ Trời, Cha Lạc Long Quân, Mẹ Âu Cơ đi theo con đường Quốc Tổ.
Đạt, Phong, Trực cười vui vẻ trút gánh nặng bấy lâu nay mê tín dị đoan, sai đường lạc Cội.
* * *

CHƯƠNG VI:
THIÊN ĐÀNG, TRẦN GIAN VÀ
ĐỊA PHỦ

1. ĐỊA NGỤC:

Chúng ta nên biết con người thiếu đi văn hóa, nhất là văn hóa đạo đức chính nghĩa, thì không gọi là con người nữa, vì không có lương tâm lương tri của con người, hung tàn, bạo ác, dối trá, giả hình, mánh khóe, thủ đoạn lừa gạt, lòng dạ vô cùng độc hiểm, tham lam, tàn bạo, cướp của giết người không gớm tay, kiêu căng, ngạo mạn, không kể gì đến luân thường đạo lý, chai lì trong tội lỗi, bất nhân, vô ơn, bội nghĩa, biến linh hồn thành quỉ dữ, nhiều khi còn thua loại thú cầm.
Như vậy: xã hội địa ngục là do cái ác nhân xấu của nhiều người, tạo lên một kết quả hiện tại, cũng như tương lai, thành một xã hội địa ngục, xã hội không văn hóa, xã hội không đạo đức, cuộc sống không còn luân thường đạo lý, sống hung bạo, lòng độc hiểm vô cùng, cuộc sống không văn hóa, không đạo đức, là nguyên nhân tạo lên xã hội lạc hậu, khốn khổ vô cùng, chiến tranh, hỗn loạn, tan tóc, cướp bóc, đàn áp, cưỡng bức, thống trị, bóc lột, vơ vét, chiếm đoạt, lao dịch, tù đày, muôn hình vạn trạng của sự cực khổ, khốn khổ, đói khổ.
Xã hội như thế chính là xã hội địa ngục trần gian, xã hội của âm thịnh dương suy, và lẽ đương nhiên những con người lòng dạ độc ác hung bạo mất hết lương tâm lương tri ấy, khi họ chết đi thần hồn của họ mang nhiều ác nghiệp sẽ đưa họ xuống các tầng địa phủ, nơi cõi âm khí hình thành lên xã hội địa ngục, xã hội hung tàn bạo ác gấp hàng trăm lần ở cõi trần gian, xã hội của sự tàn sát xấu xé ăn nuốt lẫn nhau, xã hội của sự tra tấn dã man, không tìm đâu ra chút lương tâm đạo đức.
Như vậy: Những ác tánh là nguyên nhân cội gốc hình thành lên xã hội địa ngục trần gian, cũng như xã hội địa ngục âm phủ.
Có nghĩa là: Cứ một người làm ác là một thành viên, hay một viên gạch xây nên địa ngục trần gian cũng như địa ngục âm phủ. Nhiều người làm ác thì xã hội địa ngục càng rộng, càng đông, càng lớn.
Khai Hóa Tổ Tiên Như Lai, khai lập lên vũ trụ, phân làm ba, Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Trần Gian là cõi tạm, Thiên Đàng, Địa Phủ là cõi chính, nhân loại Trần Gian hành thiện thì sanh lên các tầng Trời, sanh sống trên Thiên Đàng cực lạc, an vui tự tại. Nhân loại Trần Gian hành ác, thì sa đọa xuống các tầng địa phủ, hình thành lên vô số địa ngục, khốn khổ vô cùng. Thiên luật, Thiên Ý của Cha Trời đã như thế, tùy nhân loại lựa chọn, lên Thiên Đàng hưởng phước, hay xuống Địa Phủ thọ tội đủ thứ loại hành hình thì do mình quyết định.
ĐỊA PHỦ CŨNG CHIA LÀM:
ĐÔNG, TÂY, NAM, BẮC, TRUNG ƯƠNG
Nhân loại con người năm màu da anh em khi ở chốn trần gian đến thời Mạc Pháp Mạc Kiếp lạc Nguồn, lạc Cội, lạc vào ác đạo, tham tàn bạo ác cũng chia ra nhiều thành phần, vì thế khi đọa xuống tầng địa phủ, ở từng vùng địa phủ khác nhau. Mỗi tầng địa phủ có vô số địa ngục hành hình các tội nhân. Ví dụ: ngục đâm chém, ngục chảo đồng, ngục cối xay sắt, ngục gà mổ heo xơi, ngục chặt khúc, ngục bỏ vào ao giá, ngục bị cung tên bắn, ngục xẻ thịt phân thây, ngục rút gân đục sườn, ngục lột da nạo mặt, ngục moi gan móc tim, ngục móc mắt cắt lưỡi, ngục cưa xẻ, ngục quếch nem, ngục xối nước sôi, ngục ngậm lửa, ngục nướng quay, ngục kéo lưỡi ra cày…
Nơi Địa Phủ không có ánh sáng mặt trời, bóng đêm bao phủ, đất đai không như ở chốn trần gian, mà đất đai toàn là sắt, thép, kẽm, chì, tanh hôi nồng nặc, âm u lạnh lẽo, không có cây cối chi cả, đồ ăn thức uống khan hiếm, phần nhiều chỉ là rong rêu, Quỷ, Cầm, Thú, cai quản, quỷ có quyền lực nhất chính là quỷ Dạ Xoa, thứ nhì là quỷ đầu trâu, mặt ngựa, nơi đâu cũng thấy bóng Quỷ chập chờn tàn sát ăn nuốt những linh hồn sa đọa xuống Địa Phủ, không ai là Vua, không ai là Dân chỉ có lũ ác quỷ, cũng như cái ác đối đầu với cái ác, và sự ăn nuốt lẫn nhau, tai kiếp trùng trùng, khắp nơi khắp chốn, tiếng gào thét tan thây nát thịt, cảnh moi tim, móc ruột, xé xác, xảy ra khắp nơi, không thể nào diễn tả cho hết.
ÂM PHỦ ĐỊA NGỤC có 3 đường khổ và có 18 tầng:
1 – Địa ngục tù đày.
2 – Luân hồi Ngạ Quỷ.
3 – Luân hồi Súc Sanh.
Từ tầng Địa Phủ thứ 1  10: có mười vị Chư Thiên Đại Thánh phát tâm làm Vua nơi các tầng Địa Phủ, gọi là Thập Điện Diêm Vương.
Theo thông lệ người chết, nhất là người ác Linh Hồn vô cùng sợ hãi. Khi Linh Hồn xuất ra khỏi thể xác liền bị cảnh giới đen luân chuyển, Linh Hồn liền quay ngược đầu trở xuống, sa đọa xuống các tầng Địa Phủ tùy theo ác nghiệp nặng hay nhẹ khác nhau mà sa đọa xuống các tầng Địa Phủ khác nhau. Khi Linh Hồn hoàn Hồn trở lại liền bị Quỷ bắt giam vào ngục. Còn những Linh Hồn nghiệp ác nhẹ hơn tuy không bị bắt giam vào ngục nhưng không bao giờ được yên thân, vì cuộc sống nơi xã hội Địa Phủ vô cùng khốn khổ chém giết cấu xé, tàn sát ăn nuốt lẫn nhau, sống trốn chui, trốn nhủi vào hốc đá nơi hang động đói khát vô cùng, không biết đến chừng nào ra khỏi Địa Phủ để được đầu thai.
Những Linh Hồn lú lẫn là những người già khi còn sống đã lú lẫn, phải trải qua 49 ngày mới hồi phục lại trí giác căn linh trí mạng. Nếu ác Căn lớn liền thấy ác báo kéo tới sợ quá chui trốn vào cảnh giới tối liền bị huyền cơ xoay chuyển xuống tầng Địa Phủ.
Từ tầng Địa Phủ thứ 11  18: là những tầng Địa Phủ ác nghiệp trong tâm thức hiện ra rồi tự xử lấy, chết đi sống lại liên miên, không có một giây ngừng nghỉ, chết đi sống lại trải qua hàng ngàn, hàng triệu năm.
Sự hành hình nơi tầng Địa Phủ thứ 18 quả thật là khủng khiếp, Ác Nghiệp Linh Hồn tự xử lấy Linh Hồn. Chịu đủ thứ khổ sở nào là đao đâm, kiếm chém, tên bắn, chó sắt xé xác, rắn sắt ăn thịt. Đổ chất đồng sôi vào miệng, móc ruột bằm thây. Vì do tạo nghiệp ác sâu dày nên bị hành hình như thế, không lúc nào ngớt trải qua vô số kiếp, chết đi sống lại không biết bao nhiêu vạn ức lần. Những khí cụ hành hình, như là chĩa ba, đao, kiếm, cung tên, dều hâu sắt, chó sắt, gậy nung đỏ áp vào người, cối giã, cối xay, cưa, đục, chảo dầu sôi. Đói thời ăn toàn sắt nóng, khát thời uống nước đồng sôi, khổ sở nối nhau không một giây ngừng nghĩ. Một ngày muôn vạn lần chết. Đến khi nghiệp ác tiêu hết, Linh Giác Linh Hồn trở thành Vô Thức đầu thai làm Côn Trùng ở trên khô, loài cá ở dưới nước. Linh Hồn tiến hóa muôn triệu ức năm may ra mới được đầu thai làm người.
– Nếu phạm 5 tội ngỗ nghịch giết Cha, giết Mẹ thời khó mà đầu thai trở lại làm người, dù hết nghiệp họa tai kiếp Địa Phủ, luân hồi chuyển kiếp làm súc sanh. Sự nặng nhẹ trong một hành vi tội ác có ba cấp như sau,
+ hành vi phạm tội giết CHA MẸ vô ý,
+ hành vi phạm tội giết CHA MẸ, có ý,
+ hành vi giết CHA MẸ ác ý. Người nầy nhất định sa đọa vào địa ngục thứ 18 không có ngày ra.
– Trong một hành vi tội ác đều có sự nặng nhẹ khác nhau, vì thế Linh Hồn sa đọa cũng khác nhau, mức án bị huyền cơ xoay chuyển cũng khác nhau. Ví dụ:
+ Phản nghịch lại Thiên Ý CHA TRỜI chỉ vì sự vô ý, tội nầy tuy có nhưng không cao.
+ Phản nghịch lại Thiên Ý CHA TRỜI, phản nghịch có ý, cố ý tội nầy tuy có nặng, nhưng căn thân Linh Hồn chưa bị hủy diệt.
+ Phản nghịch lại Thiên Ý CHA TRỜI có hành vi ác ý, thời căn thân Linh Hồn nầy nhất định bị hủy diệt, trí huệ ý thức căn thân huệ mạng không còn. Trở lại Linh Hồn Côn Trùng, Thảo Mộc, tiến hóa căn thân ý thức tu hành, tiến hóa lập lại.
+ Hủy báng Cội Nguồn nhưng chỉ là sự vô ý, không nhận thức được lời hủy bán của mình, tuy có tội nhưng không nặng.
+ Phản nghịch lại Văn Hóa Cội Nguồn có hành vi chủ ý, tội nầy tuy có nặng, nhưng biết ăn năng sám hối thời cũng thoát khỏi, có thể tu hành tiến hóa lên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
+ Còn những Linh Hồn có ác ý phản nghịch lại Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ý Cha Trời, Thiên Đạo Vũ Trụ, thời khó mà cứu vãn. Linh Hồn sẽ rơi vào ác đạo tối tăm mãi mãi không biết ngày nào thoát ra.
(xem Long Hoa Pháp Tạng Kinh, Sau Thời Hậu Đế Kinh sẽ nói rõ hơn)

2. TRẦN GIAN:
Nhân loại ở vào thời đại mạc pháp, mạc kiếp nầy, không những lạc Cội, lạc Nguồn, mà còn tiêm nhiễm nặng về chủ nghĩa cục bộ cá nhân, độc quyền, độc tài, độc trị, dẫn đến tham tàn bạo ác, không việc ác nào mà không làm. Thậm chí ăn thịt đồng loại, còn thua cả loài Cầm, Thú, cái ác lên ngôi tuôn ra tràn ngập khắp nơi khắp chốn. Con người không còn lương tâm, lương tri. Thời đạo đức chỉ là đồ bỏ. Linh Hồn con người đã chuyển hóa thành Linh Hồn Ác Quỷ, Linh Hồn Ác Ma.
Lòng quỉ quyệt, dối trá, giả hình, mánh khóe, thủ đoạn, lừa gạt, hiểm độc vô cùng, chỉ biết buông mình trong thú vui dục lạc, lăn lóc mãi trong vũng bùn không hề biết chán, tánh tình dữ tợn, cướp của giết người không gớm tay, tham tàn bạo ác, tham lam vô độ, kiêu căng quá mức xem thường Đạo Trời, không kể gì đến luân thường đạo lý, nhân cách vứt bỏ, phẩm hạnh vùi chôn, không ra thể thống con người nữa. Không những vua, quan, mà ngay cả người dân cũng thế, thời kỳ đen tối bao trùm hiểm họa cùng khắp. Địa Ngục trần gian đã đến hồi cực thịnh.
Cha Trời thường dạy gieo trồng cái nhân Ác sống ngược lại Lương tâm. Chính mình tự đưa mình xuống các tầng Địa Phủ chịu muôn nghìn ức sự khốn khổ.
Nhân loại ở vào thời kỳ mạc vận, mạc pháp, mạc kiếp ác đạo thịnh hành, hầu hết linh hồn con người đã biến thành linh hồn ÁC QUỶ, linh hồn ÁC MA, những người đại gian đại ác tàn bạo quá mức không còn chút lương tâm, lương tri, không kể gì đến đồng loại, tuy là người nhưng Linh Hồn biến thành Linh Hồn Ác Quỷ khi chết đi linh hồn ra khỏi thể xác con người liền sa đọa xuống các tầng Địa Phủ.
Còn những người tuy gian ác nhưng còn chút lương tâm lương tri, chưa đánh mất luân thường đạo lý, khi chết đi Linh Hồn thoát ra khỏi thể xác con người trở thành LINH HỒN MA, không bị sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, ở lại cõi trần gian sanh hoạt vào cảnh giới đêm. Nói đến trần gian cõi tạm, là nói Ma cũng như con Người. Sống trên địa cầu nầy đều là sống trên cõi tạm cả. Cuộc sống của Ma cũng thế cuộc sống của Người cũng thế. Nếu cuộc sống của Ma không còn chút Lương tâm, Lương Tri thời liền bị chuyển xoay sa đọa xuống các tầng Địa Phủ. Cuộc sống của Người cũng vậy. Cuộc sống Dương gian cuộc sống Âm cảnh đồng nhất lý. Chẳng khác gì nhau. Thiện thời siêu lên các Tầng Trời sanh sống. Ác thời đọa xuống các tầng Địa Phủ chịu khổ.
Những Linh Hồn Ma có ba cấp, bậc thượng, bậc trung, bậc hạ.
Linh Hồn Ma bậc thượng là những Linh Hồn còn Lương Tâm, Lương Tri, hay tạo phước đức, hay tạo nghiệp lành, hay giúp người, giúp đời, những người nầy khi chết đi cảnh giới màu xanh hiện ra Linh Hồn liền ẩn mình vào đó ở lại chốn nhân gian không sa đọa xuống các tầng Địa Phủ.
Những Linh Hồn Ma bậc thượng nầy, thường là VUA MA, nếu tái sanh trở lại làm người thường là những bậc giàu sang phú quí, hay Quan, Tướng, được mọi người kính nể.
Linh Hồn Ma bậc trung, là những người còn lương tâm, không đánh mất lương tri, luân thường đạo lý vẫn còn, nhưng ít gieo phúc đức, ít hay tạo nghiệp lành, ít giúp đời giúp người, khi chết đi cảnh giới màu xanh lợt hiện ra, liền ẩn mình vào đó không sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, ở lại cõi trần gian làm Ma Thần, phò giúp Vua Ma. Nếu đầu thai trở lại làm người, thường là những giàu có, bậc trung, cũng được mọi người yêu mến nhưng không kính nể.
Linh Hồn Ma bậc hạ, là những người còn chút ít Lương Tâm, chút ít Lương Tri, tuy ác nhiều hơn thiện, nhưng không sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, vì ánh sáng màu xanh lợt xuất hiện cứu vớt Linh Hồn liền ẩn vào đó khỏi sa xuống các tầng Địa Phủ, ở lại cõi trần gian làm Ma Dân, nếu được đầu thai trở lại làm người, thời phải chịu cảnh nghèo khổ đủ ăn đủ mặc, kém đức hơn nữa thời phải chịu tật nguyền, không mấy ai coi trọng mình.
Nói chung ở thời Mạc Vận, Mạc Pháp, Mạc Kiếp nhân loại con người lạc Cội lạc Nguồn, lạc vào con đường ác đạo. Lại gặp phải chu kỳ Tam Tai khi kiếp nạn hủy diệt muôn loài vạn vật trong đó có con người. Thời những người hung tàn bạo ác đánh mất hết Lương Tâm, đánh mất Lương Tri, Linh Hồn đã hóa thành Linh Hồn Ác Quỷ khi ra khỏi thể xác con người liền sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, chịu nhiều đại họa tai kiếp hành hình khốn khổ vô cùng.
Nói tóm lại: dù Linh Hồn Ma, hay Linh Hồn Quỷ, thành tâm trở về với Cội với Nguồn, cung phụng Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời. Thời Linh Hồn Quỷ, Linh Hồn Ma chuyển hóa thành Linh Hồn Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, ngay.
Nếu có công trong Văn Hóa Cội Nguồn, tức là có công trong Thiên Luật Vũ Trụ, Thiên Ý Cha Trời, cũng như có công cứu khổ nhân loại con người thoát khỏi Địa Ngục thời thành Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ, Thần Tổ, Chúa Tổ, không sai không có gì bàn cãi cả.
Theo Thiên Luật huyền cơ vũ trụ hễ gieo giống gì thời trổ ra giống nấy, gieo ác gặt họa, gieo thiện gặt phúc, gieo giống đại thừa thời gặt quả đại thừa. Hiếu Thuận với Đức Cha Trời thời Cha Trời ban phúc lành cho. Đức Cha Trời dạy hãy sống theo Đạo Luật, thời Thiên Luật Tự Nhiên trợ giúp, gieo giống gì trổ ra giống nấy chuyển xoay vận mệnh của chính mình.
Người nắm rõ Thiên Luật, không phạm Thiên Luật. Sống theo Tự Nhiên chính là nắm quyền tạo hóa muốn gì được nấy. Không hiểu rõ Thiên Luật, hành Ác sẽ bị huyền cơ Thiên Luật xoay chuyển, khó mong thoát khỏi sa đọa, siêu đọa do mình, không ai có quyền làm cho mình siêu, đọa cả, hễ Linh Hồn Thiện thời siêu, Linh Hồn Ác thời đọa, ác thiện do mình tất cả không ai khác, gieo ác thời gặt ác Linh Hồn sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, thời gặt ác họa liên miên không lúc nào dừng nghỉ, đến lúc nầy ăn năn không còn kịp nữa, chịu khổ mãi nơi Địa Phủ.
Còn gieo ác gặt họa nơi trần gian chỉ là sự khởi đầu, bước vào giai đoạn đầu của sự quả báo mà thôi.

3. THIÊN ĐÀNG:
Như chúng ta đã biết hướng Thiện là hướng tới cuộc sống tốt đẹp, cuộc sống giàu sang vui tươi lành mạnh, cuộc sống độc lập, tự do, thái bình, an lạc, cuộc sống dân giàu nước mạnh, văn minh công bằng, bình đẳng, tôn trọng lẽ phải, tôn trọng nhân quyền, tự do mưu cầu hạnh phúc.
Muốn có cuộc sống như thế, thì con người cần có văn hóa, nhất là Văn Hóa Chính Nghĩa, văn hóa Hiến Pháp Luật Pháp, Đạo Pháp, không những một người có văn hóa, mà nhiều người nói chung là toàn xã hội, ai ai cũng nhận thức được văn hóa đạo đức chính nghĩa, là nền tảng xây dựng lên xã hội thiên đàng cực lạc. Trước mắt là xã hội thiên đàng trần gian, sau đó là xã hội thiên đàng trên các cõi Trời.
Có nghĩa là: Cứ một người giác ngộ sống theo Văn Hóa Đạo Đức Chính Nghĩa, sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp đạo đức xã hội, là một thành viên xây dựng lên xã hội thiên đàng cực lạc, thiên đàng trần gian cũng như thiên đàng thiên giới. Càng nhiều người có văn hóa, sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp đạo đức xã hội, thời xã hội đó càng thêm hưng thịnh giàu sang, kéo dài sự độc lập, thái bình an lạc, dân giàu nước mạnh.
Thiên giới (Thiên Đàng) chia làm 3 phần:
1 – Thượng Thiên vũ trụ:
có 4 tầng Trời Vô Sắc Giới, tính từ cao xuống thấp:
4: Phi tưởng phi phi tưởng xứ,
3: Vô sở hữu xứ,
2: Thức vô biên xứ,
1: Không vô biên xứ.

2 – Trung Thiên vũ trụ:
có 18 tầng Trời, tính từ cao xuống thấp:
18: Tầng Trời Sắc Cứu Cánh.
17: Tầng Trời Thiện Hiện.
16: Tầng Trời Thiện Kiến.
15: Tầng Trời Vô Nhiệt.
14: Tầng Trời Vô Phiền.
13: Tầng Trời Vô Tưởng.
12: Tầng Trời Quảng Quả.
11: Tầng Trời Phước Sanh (Thiên Vân), Chỗ Đức Chí Tôn Ngự (xem Long Hoa Thiên Tạng Kinh)
10: Tầng Trời Vô Vân.
9: Tầng Trời Biến Tịnh.
8: Tầng Trời Vô Lượng Tịnh.
7: Tầng Trời Thiểu Tịnh.
6: Tầng Trời Quang Âm.
5: Tầng Trời Vô Lượng Quang.
4: Tầng Trời Thiểu Quang.
3: Tầng Trời Đại Phạm.
2: Tầng Trời Phạm Phụ.
1: Tầng Trời Phạm Chúng

3 – Hạ Thiên vũ trụ:
có 6 tầng Trời cõi Dục là (Tính từ cao xuống thấp):
Tầng 6: Trời Ma La Thiên.
Tầng 5: Trời Tha Hóa Thiên.
Tầng 4: Trời Hóa Lạc Thiên.
Tầng 3: Trời Đâu Suất Thiên.
Tầng 2: Trời Dạ Ma Thiên
Tầng 1: Trời Đao Lợi Thiên.

* * *
Dưới nữa là Tứ Đại Thiên Vương trấn giữ Đông – Tây – Nam – Bắc. Bốn phương lưng chừng núi Tu Di Sơn rồi đến Cung Điện, Cung Động trên núi, dưới núi, trong lòng núi.
Nơi Hạ Thiên vũ trụ 6 tầng Trời cõi Dục. Ở tầng Trời Đâu Suất Thiên. Có vị Phật Tổ Di Lặc Thiên Tôn làm giáo chủ, giáo hóa Thiên chúng làm theo lời dạy của Đức Cha Trời, Long Hoa Cửu Huyền Lạc Long Quân.
Lại nữa ở tầng Trời Đao Lợi Thiên, trên đỉnh núi Tu Di có vị Ngọc Hoàng Huyền Khung Cao Thượng Đế Đại Thiên Tôn (hay còn gọi là Ngọc Hoàng Đại Đế) ngự trị tại Cung Linh Tiêu. Trên cai quản 6 tầng Trời. Dưới cai quản 18 tầng Địa Ngục.
* * *
4. Hạ Hạ Thiên vũ trụ
Hay còn gọi là Tiên Giới, Non Tiên Cực Lạc.
Như vậy từ tầng Trời Đao Lợi Thiên trở xuống, Chư Thiên ở Cung Trời rồi đến Cung Điện, Cung Động. Tổng cộng là 36 Cung Trời, 72 Cung Động Cung Điện trên núi, dưới núi, trong lòng núi cùng khắp Hạ Hạ Thiên vũ trụ.
Có 7 núi chính lớn nhỏ cao to xa gần, Núi Tu Di Sơn nằm ở giữa :
1: Là núi Trì Địa Sơn.
2: Là núi Chướng Ngại Sơn.
3: Là núi Mã Nhĩ Sơn.
4: Là núi Thiện Kiến Sơn.
5: Là núi Đảm Mộc Sơn.
6: Là núi Trì Trục Sơn.
7: Là núi Song Trì Sơn.
Bảy núi nầy xa gần ở giáp vòng núi Tu Di Sơn.
Lại nữa núi Tu Di Sơn không những to, cao, lớn mà xung quanh còn có 7 Kim Sơn bao bọc đó là:
1: Là núi Du Kiện Đà La.
2: Là núi Y Sa Đà La.
3: Là núi Kiệt Địa Lạc Ca.
4: Là núi Tô Đạt Lê Xá Na.
5: Là núi Án Thấp Phược Yết Noa.
6: Là núi Tỳ Na Đát Ca.
7: Là núi Ni Dân Đạt La.
36 Cung Trời 72 Cung Động Cung Điện.

Hạ Hạ Thiên vũ trụ: Thánh – Thần – Phật – Tiên – Tà Giáo – Chánh Giáo phân nhau để ở (xem Long Hoa Thiên Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn). Sống ở Hạ Hạ Thiên vũ trụ từ Cung Trời Đạo Lợi Thiên trở xuống.
* * *
Khai Hóa Tổ Tiên, khai lập lên ba cõi, Thiên đàng, Trần gian, Địa phủ, như chúng ta đã biết trần gian là cõi tạm, thiên đàng, địa phủ là hai cõi chính thức, một cõi cực khổ, một cõi cực vui, sự sống kéo dài tuổi thọ hai cõi nầy vô tận vô biên. Địa Ngục thì khổ mãi. Thiên Đàng thì vui mãi.
Vì thế sống nơi Địa Phủ thì khổ triền miên, sống nơi các tầng Trời hưởng phước vô tận, 28 tầng Trời là cõi dương, 18 tầng Địa Phủ là cõi âm, còn Trần Gian là cõi tạm âm tạm dương nên gọi là Trần Gian cõi tạm, hễ hành thiện thì hợp với chơn dương về Trời, hễ hành ác thì hợp với chơn âm về Địa Phủ. Thiên Ý Cha Trời, Thiên Luật Vũ Trụ đã như vậy, thì mãi mãi như vậy không có gì thay đổi, hễ hướng Thiện thì siêu sanh về Trời, hễ hướng Ác thì sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, nhất định là như thế, đạo luật vũ trụ trước cũng như sau không có gì thay đổi.
Vì thế lên Thiên đàng hay xuống các tầng Địa phủ tự mình quyết định, cũng như xã hội thiên đàng hay xã hội địa ngục do toàn dân quyết định.
Cha Trời, Địa Mẫu, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, luôn ủng hộ cho sự lựa chọn Nhân Thiện, nếu nhân loại quyết định cho việc làm ác, không nghe lời dạy của Cha Trời Địa Mẫu, không nghe lời dạy của Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, thì Cha Trời, Địa Mẫu, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, cũng phải đành bó tay, không thể cứu vớt được, chiếu theo thiên luật mà hành xử.
Như vậy lên Thiên đàng, xuống Địa ngục là do con người quyết định tất cả. Tất cả sự sống muôn loài vạn vật trong đó có sự sống con người. Đều bị Thiên Luật xây chuyển gieo nhân nào hưởng quả nấy không gì để bàn cải nữa, hành Ác về cõi ác, hành Thiện về cõi thiện. Vì thế một khi con người hành Thiện, là lẽ đương nhiên phù hợp với chơn dương rồi, tâm thiện nhiều hay thiện ít, mà phù hợp với các tầng Trời. Nhất định những người nầy, một khi họ qua đời, lẽ đương nhiên họ sẽ siêu sanh lên các tầng Trời để hưởng phước.
Con người ở cõi Trần Gian giả tạm nầy, một khi họ giác ngộ hướng về Cội Nguồn, sống có văn hóa, sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp đạo đức xã hội, không nói chúng ta cũng biết, những người giác ngộ hướng về Cội Nguồn ấy, tất cả linh hồn của họ đều được siêu sanh lên các tầng Trời, tùy theo mức độ giác ngộ Thiện lành của họ mà hưởng phước có thấp cao, đó là lẽ công bằng của Thiên Luật vũ trụ, Thiên Ý của Cha Trời.
Như vậy những người biết tôn trọng lời dạy của Đức Cha Trời, sống theo Thiên Ý Cha Trời, Thiên Luật vũ trụ, quyết tâm hành thiện, dám hi sinh đời mình, xa lìa vui thú dục lạc tầm thường, làm hộ pháp cho Trời, cứu khổ nhân loại anh em, thì những người ấy sẽ được hưởng phước báo xứng đáng, với tầm cỡ vũ trụ, mà Tổ Tiên, Cha Trời đã dành riêng cho họ. Con cháu của họ sẽ đời đời làm vua làm chúa, còn bản thân của những người ấy là chủ nhân của vũ trụ, thay thế Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, kế thừa sự nghiệp của Ông Cha.
* * *

CHƯƠNG VII: NHÂN – NGHĨA – LỄ – TRÍ – TÍN TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN.

1. Ý NGHĨA CỦA NHÂN – NGHĨA – LỄ – TRÍ – TÍN.
Nhân – nghĩa – lễ – trí – tín, không thuộc về tôn giáo đạo giáo nào, mà đó là lẽ sống của con người, mà CHA TRỜI đã dạy cho con cái của người, cái lẽ thường sự sống, như người cần khí để thở, cần cơm để mà ăn, không thở là chết, không ăn là chẳng còn.

Nhân: là lòng thương yêu, trung, hiếu, rộng lớn biết đối nhân xử thế, tôn trọng những quyền cơ bản con người.
Bất nhân: là đi ngược lại nhân luân đạo đức con người. Người Ác.
Nghĩa: là đền ơn đáp nghĩa lòng dạ thủy chung.
Bất nghĩa: là bội bạc bề trên, bội bạc người ân, những người sanh ra mình, những người dạy bảo mình, những người cứu mình, mà mình phản bội lại (Bạc Ác).
Người bất nhân, bất nghĩa, là kẻ Đại Ác. Người trần gian thì đọa xuống địa ngục âm phủ. Người Tiên thì bị sa đọa trở lại trần gian, khó mong trở lại Thiên Đàng được nữa.
Lễ: là khuôn phép của đạo đức con người hành xử tôn nghiêm thành kính, là sự tôn nghiêm cấp bậc, là sự khiêm cung đạo đức con người, là nhân cách ứng xử, đối xử, tôn trọng lẫn nhau của đạo làm người.
Vô lễ: là kẻ vô học ngu si, mất tư cách đạo đức không coi ai ra gì, làm rối loạn kỷ cương đạo đức, vi phạm vào đại kị, tôn nghiêm của cuộc sống, gây rối loạn cuộc sống, ác nghiệp xoay chuyển người trần thời sa đọa vào cầm thú súc sanh. Người Tiên liền sa đọa trở lại Trần Gian, khó mong trở lại Thiên Đàng được nữa.
Trí: không những là trí khôn, mà còn gắn liền với lẽ phải, biết thiện, biết ác, biết phước, biết họa, biết siêu biết đọa, vân vân . . .
Người mất trí khôn không hiểu lẽ phải trái, không phân biệt được thiện ác, phước họa, siêu đọa, thì linh hồn liền tối tăm. Người trần thời sa đọa vào ba đường ác Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Người tiên thì sa đọa xuống Trần Gian, khó mong trở lại Thiên Đàng được nữa.
Tín: là báu vật của uy quyền, niền tin của sự sống, người hay bội tín, là tự mình làm hại lấy mình, dù sanh vào cõi nào cũng trở nên thấp hèn.

2. NHÂN ĐẠO CÁI GỐC TẤT CẢ CÁC ĐẠO
(LONG HOA LƯỢC TRUYỆN SỐ 75)
Vào thời dựng nước nơi thượng viện Quốc Đạo Quốc Tổ truyền giáo cho hàng Vương Quan. Quốc Tổ truyền xong căn bản Nhơn Đạo. Để dễ hiểu, dễ nhớ, Quốc Tổ tóm lại những điều chính yếu cốt lõi cơ bản trong Nhơn Đạo:
1 là có Nhân,
2 là có Nghĩa,
3 là có Lễ,
4 là có Trí,
5 là có Tín,
6 là có Trung,
7 là có Hiếu,
8 là biết Thuận Hòa,
9 là biết Liêm Sỉ,
10 là lòng Quảng Đại Bao Dung.
Những ai chỉ cần làm được ba điều trong 10 điều căn bản Nhơn Đạo, thời không còn sa đọa vào ba đường ác Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Những ai không vi phạm 10 điều căn bản Nhơn Đạo, lại sống theo đó mà hành sự đối nhân xử thế thời nhất định trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Vì sao lại nói như thế, vì Nhơn Đạo là cái Gốc của tất cả Đạo.
Khi ấy có một vị tên là Cao Tổ chấp tay hướng về Chí Tôn Thiên Đế thưa rằng: Thưa Chí Tôn Thiên Đế, đã là con người, con cái nhà Trời, sao còn phải sa đọa vào tam đồ khổ Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh.
Quốc Tổ nói: Khá khen cho Đạo Sư Cao Tổ, Ông vì Vương Quan, cũng như những thế hệ sau nầy hiểu rõ về sa đọa luân hồi mới hỏi như vậy.
Quốc Tổ thuyết giảng rằng : Con người chỉ là bộ máy xác thân tiểu thiên vũ trụ do Tổ Tiên Tạo Hóa Như Lai thâu tóm Chơn Âm, Chơn Dương, Tinh Hoa Vũ Trụ hiện thân ra Cha Trời, Mẹ Trời. Chánh Thân Chánh Mẫu. Rồi từ Chánh Thân, Chánh Mẫu sanh tạo ra con người, con người chỉ là Bộ Máy Xác Thân Tiểu Thiên Vũ Trụ, nên con người không quyết định sự luân hồi, cũng như thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa hay lên Thiên Đàng xuống Địa Phủ, mà chính là Linh Hồn con người quyết định tất cả.
Linh Hồn con người là Tiểu Linh Hồn vũ trụ do Đại Linh Hồn vũ trụ phân hóa pháp thể Linh Giác tạo ra. Ví như Nước tạo ra Bọt Nước. Bọt nước cũng chính là nước. Ví như Lực tạo ra Điện. Điện cũng chính là Lực. Ví như Bột làm ra Bánh, Bánh cũng chính là Bột. Vì vậy Đại Linh Hồn Tổ Tiên Tạo Hóa Vũ Trụ bất tử, không sanh không diệt. Thời mỗi tiểu Linh Hồn cũng bất tử, không sanh không diệt. Không khác gì Đại Linh Hồn Tổ Tiên Vũ Trụ.
Tiểu Linh Hồn đầu thai vào Bộ Máy Xác Thân Tiểu Thiên vũ trụ con người, tu luyện tiến hóa Linh Hồn, cho đến khi thành Đạo làm Người, trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nếu tu luyện tiến hóa chưa thành Đạo làm Người. Có nghĩa là: Linh Hồn đầu thai làm người rồi, nhưng chưa tiến hóa thành Đạo làm người. Linh Hồn tức là Linh Căn còn ở dạng Súc Sanh, Cầm, Thú, Bò Sát. Khi mất thân người rồi, tái sanh đầu thai làm người trở lại tu luyện cho đến khi nào thành Nhơn Đạo làm người, thành tựu 10 điều căn bản như đã nói trên. Thời trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa siêu sanh lên các tầng Trời, cõi Trời sanh sống trong thế giới Thiên Đàng Cực Lạc an vui hạnh phúc tự tại.
Nói cho dễ hiểu, mỗi Tiểu Linh Hồn đầu thai làm người tu luyện chừng nào cho có Lòng Nhân, không còn Bất Nhân. Cũng như tu luyện thành tựu Nhân Nghĩa, không còn Bất Nghĩa. Tu luyện đến khi nào biết đối nhân xử thế lấy Lễ làm đầu không còn Vô Lễ. Tu luyện đến chừng nào tiến hóa Ý Thức Nhận Thức phân biệt được ác – thiện, đúng – sai, phước – họa, sa đọa – siêu thăng. Nói chung là đạt đến cảnh giới trí tri, việc gì nên làm việc gì không nên làm ra khỏi Ngu Si. Trở thành người có Trí. Tu luyện cho đến khi nào thành tựu lòng tin nơi Cội Nguồn cũng như làm việc gì cũng phải giữ chữ Tín. Tu luyện cho đến khi nào đạt đến Lòng Trung Thành, có trách nhiệm đối với Cội Nguồn, non sông, đất nước, dân chúng. Có nghĩa là không phản bội lại Cội Nguồn, Non Sông, Đất Nước, Dân Chúng. Trung thành tuyệt đối với Cội Nguồn, Non Sông Tổ Quốc, Dân Chúng. Tu luyện cho đến khi nào thành tựu chữ Hiếu không quên ơn sanh thành dưỡng dục. Chánh Thân, Chánh Mẫu, Phụ Thân, Phụ Mẫu, công ơn dạy bảo các Bậc Tôn Sư. Tu luyện cho đến khi nào thành tựu Nhân Đức trên Thuận dưới Hòa sống biết Liêm, biết Sỉ. Tu luyện cho đến khi nào thành tựu lòng Quảng Đại, cũng như sự Bao Dung sống vì người không vì mình. Tánh Khiêm Hòa, không Cố Chấp, biết tha thứ, tình thương rộng lớn đối với nhân loại anh em. Thời nhất định trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa trở lại Thiên Đàng Cực Lạc an vui tự tại. Vì sự thành tựu Nhơn Đạo khó khăn như thế nên mỗi Tiểu Linh Hồn phải trả qua không biết bao nhiêu số kiếp. Cứ 16 triệu 800 ngàn năm, một tiểu kiếp cho một đại khóa tu luyện tiến hóa Linh Hồn.
Mười điều căn bản Nhơn Đạo nói trên chính là Phật Tánh, Thánh Tánh, Tiên Tánh, có trong Lương Tâm chính là Lương Tri của mỗi con người. Không cần tìm cầu đâu xa chỉ cần làm sáng mười đều căn bản Nhơn Đạo trong Lương Tâm. Thời trên đầu liền có hào quang. Thậm chí là Vô Lượng Quang.
Những ai hành động trái ngược lại Lương Tâm thời những người ấy còn ngu si, mê muội. Nói chung là Thiếu Hiểu Biết. Thời coi như chưa đắc đạo Nhơn Luân. Nhơn Đạo chưa thành còn ở tánh Thú, Cầm. Phải chịu luân hồi tùy theo ác, thiện nhận lấy quả báo.
Không có Tánh người đương nhiên phải chịu đầu thai trở lại kiếp thú, cầm. Đã không có tánh người còn làm ác hại người đương nhiên phải sa đọa xuống các tầng Địa Phủ hoặc biến thành Ngạ Quỷ. Luật Trời phân định hai cảnh giới rõ ràng Thiện thời siêu sanh Thiên Đàng Cực Lạc. Ác phải chịu sa đọa xuống các tầng Địa Phủ Cực Khổ. Vì Trong cõi Âm Phủ có hình thành vô số Địa Ngục hành hình tội nhân.
Nói tóm lại : Mười điều cơ bản của Đạo Làm Người thành tựu trọn vẹn thời Linh Hồn đã tiến hóa lên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nếu thành tựu được bảy tám điều thời khi mãn kiếp trần chết đi liền đầu thai trở lại làm người, thường có uy quyền cũng như sự giàu có thông minh sáng láng. Nếu tiếp tục tu hành đạt đến mười điều cơ bản Đạo Làm Người, Thời trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa siêu sanh về các tầng Trời, các cõi Trời, hưởng phước sống trong sự giàu sang sung sướng muốn gì được nấy, an vui tự tại.
Lúc bấy giờ trong pháp hội có vị Đạo Sư tên là Cao Tông chấp tay hướng về Chí Tôn Thiên Đế thưa rằng, thưa Đức Chí Tôn Thiên Đế:
Những người xưa nay lầm đường lạc lối rời xa Lương Tâm của chính mình trở thành những người Bất Nhân, Bất Nghĩa, Vô Lễ, không có chữ Tín, chẳng Trung chẳng Hiếu, thường gây gổ, không biết Liêm, Sỉ là gì. Tánh Keo Kiệt lại hung sùng ác sát. Nay nghe được lời dạy bảo của Đức Chí Tôn. Ăn Năn sám hối Tu luyện tiến hóa, biết Phân Biệt Thiện Ác, có Nhân, có Nghĩa, có Lễ, có lòng Khoan Dung Độ Lượng, có Trung có Hiếu, Biết Cội Biết Nguồn, nói giữ lời, biết hòa thuận anh em. Khi mãn trần những người nầy có bị sa đọa xuống các Tầng Địa Phủ cũng như luân hồi trở lại Cầm, Thú không ?
Quốc Tổ nói khá khen cho Cao Tông Ông vì Pháp Hội, cũng như hậu thế về sau mà thưa hỏi như vậy.
Chí Tôn Quốc Tổ dạy rằng: Những người biết sai thời sửa, tự mình lấp cửa sa đọa, lại biết tu hành tiến hóa Linh Hồn, được như vậy thời tội ác trước kia đâu còn, ác căn tiêu trừ hết thảy. Trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa coi như vĩnh viễn không còn luân hồi trở lại loài Cầm, Thú. Mãi Mãi sống trên quê hương Thiên giới. Nghe xong Vương Quan ai nấy cũng chứng quả Nhân Luân thành Đạo Con Người, trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
Khi ấy trong pháp hội có vị Đạo Sư tên là Cao Tằng chấp tay hướng về Chí Tôn Thiên Đế thưa rằng:
Thưa Đức Chí Tôn Thiên Đế:
Những người thành Đạo Nhân Luân trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa có cần phải tu luyện tiến hóa Linh Hồn nữa không ?
Chí Tôn Quốc Tổ nghe xong thời khen rằng. Khá khen cho Cao Tằng, ông vì pháp hội, cũng như vì hậu thế mai sau mà thưa hỏi như vậy, ta sẽ vì Ông mà nói.
Những người đã đắc Đạo Nhân Luân, thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nhưng muốn gặt hái thành quả Phật, quả Thánh, quả Tiên, quả Thần, quả Chúa. Thời phải ra sức cứu khổ cứu nạn nhân loại con người cũng như dìu dắt nhân loại con người trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, tức thời lên ngôi Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ, Thần Tổ, Chúa Tổ thành lập cõi nước Trời, cõi nước Phật, cõi nước Thánh, cõi nước Tiên, cõi nước Thần, cõi nước Chúa thành quả viên mãn an vui tự tại.
Quốc Tổ thuyết giảng xong Vương Quan đều chứng ngộ quả vị Nhơn Đạo cái Gốc thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa trên đầu phát tỏa hào quang.
Khi ấy có vị Vương Quan chấp tay hướng về Quốc Tổ thưa rằng. Thưa Đức Quốc Vương : Về sau nếu ai nghe được Kinh nầy mà không tin có phải là ngu si mê muội đáng tiếc lắm không ?
Quốc Tổ khen, Ông quả thật là người có đức, muốn khai mở thật trí thật chứng về cơ duyên nên mới hỏi như vậy.
Việc khó được, hôm nay đã được.
Việc khó gặp, hôm nay đã gặp.
Nhân duyên tốt đẹp như vậy, may mắn được làm người, may mắn gặp Chánh Pháp. Không lo tu luyện tiến hóa Linh Hồn trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, sanh tâm hành ác phải chịu luân hồi trở lại loài Cầm, Thú, sa đọa Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Thời không có gì đáng tiếc cho bằng. Cơ hội hàng vạn ức kiếp đã bỏ qua. Những người nầy đã đánh mất tất cả, mất cơ hội thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, mất cơ hội làm chủ vũ trụ. Mất cơ hội làm chủ các cõi Thiên Đàng Cực Lạc, tiếc thay tiếc thay.
Nơi Pháp Hội nghe Quốc Tổ truyền dạy như vậy ai nấy cũng phát tâm tu theo Nhơn Đạo cái gốc các Đạo, nền tảng Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Lúc bấy giờ có vị Đại Văn Quan từ chỗ ngồi đứng dậy chấp tay hướng về Chí Tôn Quốc Tổ thưa rằng: Thưa Chí Tôn Quốc Vương, Những người sống theo Đạo Nhơn Luân, vì do nghịch cảnh xảy ra kìm tâm không nổi, gây ra tội lỗi, khi chết đi có bị sa đọa luân hồi Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh không ?
Quốc Tổ khen: Ông quả là người có tâm, có đức nên mới thưa hỏi như vậy, ta sẽ vì Ông mà nói. Những người tu theo Nhơn Luân Hiếu Nghĩa, Đạo Làm Người dù chỉ là một ngày cũng không sa đọa Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh huống chi tu luyện nhiều tháng nhiều năm. Vì nghịch cảnh nghiệt ngã bối cảnh bức xúc, kìm tâm không được gây ra tội lỗi nếu nặng thời phải vào tù nơi chốn nhân gian, nhưng không bỏ Đạo Nhơn Luân. Khi Mãn kiếp trần cũng được siêu sanh về Hạ Thiên Vũ Trụ, Non Tiên Cực Lạc Địa Tiên sống an vui hạnh phúc.
Quốc Tổ thuyết giáo truyền dạy xong trong pháp hội hầu hết đều chứng quả Trí Huệ trên đầu phát tỏa hào quang, trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, nơi chốn trần gian.
* * *

CHƯƠNG VIII: THẦN CHÚ, ẤN CHÚ CỘI NGUỒN
1. LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ

Đồng trì tụng
Nam Mô hắc ra đát na dạ da
Trở về Nguồn Cội kính Cha Mẹ Trời
Lợi ích không thể nghĩ bàn
Chú linh Pháp Tánh MẬT tạng Như lai
NAM MÔ: vô tận hư không
Quy Y kính lễ Tổ Tiên Cha Trời
A RỊ DA học tập nghe lời
Mật tạng linh chú khắp thời ứng linh
BÀ LÔ YẾT ĐẾ: thinh thinh
Quán tâm quán tánh chiếu lên sáng ngời
Rõ thông Thiện Ác ngộ rồi
THƯỚC BÁT RA DẠ linh thời ứng linh
Tự tại an trụ tự nhiên
Chú linh ấn chú vô biên khắp cùng
BỒ ĐỀ: giác tánh cao vời
TÁT ĐỎA sáng ngời đô lại ứng đô
Cha Trời pháp tướng hư vô
Khấu đầu đảnh lễ cầu chi cũng thành
MA HA: vô tận tột cùng
Phát tâm rộng lớn đại hùng vượt lên
Hằng hà số kiếp cứu dân
Làm cho hết khổ vượt qua não phiền
TÁT ĐỎA tận độ khắp cùng
Hiệp vào tạnh tánh nhiệm mầu Như Lai
MA HA: số kiếp vô biên
Nương theo đại nguyện độ dân cứu đời
CA LÔ đức độ sáng ngời
Từ bi thương cả muôn loài chúng sanh
NI CA tâm đại bi tâm
Đại hùng đại lực phá tan não phiền
DA là ân đức Cha Trời
Thành tâm đảnh lễ linh thời ứng linh
ÁN: là đức Mẹ thiêng liêng
Âu Cơ Địa Mẫu Mẹ chung muôn loài
Mẹ Trời Đức Mẹ bao trùm
Chỉ cần một niệm thoát cùng họa tai
Linh chú tạng tánh Như Lai
Chỉ cần một niệm cũng siêu về Trời
TÁT BÀN RA: tự tại cao vời
Tánh không tự tánh não phiền biến tan
PHẠT DUỆ xưng tán hồng danh
Cha Trời Địa Mẫu ứng linh tột cùng
Chú linh không thể nghĩ bàn
Chỉ cần đọc tụng linh thời ứng linh
SỐ ĐÁT NA: pháp tánh vô biên
Thần thông vô hạn khai sanh Đất Trời
Năng lực thù thắng vô cùng
Pháp Bảo Cội Nguồn thù thắng trang nghiêm
ĐÁT TOẢ Thiên Bút lời kinh
Đại Viên cảnh trí ứng linh Cha Trời
Cầu lên Tam Bảo Cội Nguồn
Ứng linh, linh ứng khắp cùng chở che
Tạng tánh linh chú Như lai
Ứng linh cảm ứng không sai bao giờ
NAM MÔ: Tạng tánh Cha Trời
Đà la ni pháp khắp thời hư không
TẤT KIẾN thấy rõ chứng thông
Như Lai mật tánh Cha Ông Cội Nguồn
Thành tâm thành ý một lòng
LẬT ĐỎA bản ngã nhơn hiền uy linh
Y MÔNG pháp nhẫn vô sanh
Hiệp vào tạng tánh Cha Ông nhiệm mầu
Linh linh ứng ứng khắp cùng
Nhất tâm đọc tụng cầu gì cũng linh
A RỊ DA Thánh Giả vô biên
Phật, Tiên, Thánh, Chúa hiệp theo Cha Trời
Ứng linh cùng khắp Đất Trời
Ứng theo tạng tánh Cội Nguồn chuyển xây
BÀ LÔ KIẾT ĐẾ: quán soi
Phát tâm tận độ hà sa khắp cùng
THẤT PHẬT bảy báu giác lòng
RA vào tự tại nghe nhìn viên thông
LĂNG ĐÀ hải đảo núi non
Phổ Đà nam hải Quan Âm tịnh thiền
BÀ là hiển thị uy quyền
Quan Âm đại sĩ đại từ đại bi
Chú nầy linh ứng vô biên
Chỉ cần đọc tụng tiêu tan khổ sầu
Tiêu tan tai họa ngập đầu
Tiêu tan tai họa hận thù tiêu tan
NAM MÔ: thành kính quy y
NA RA một dạ nhớ ghi thiện lành
CẨN TRÌ thương hết chúng sanh
Cứu dân độ thế đền ơn Cha Trời
Chú nầy đọc tụng một lời
Tiêu tan tội ác vạn ngàn ức muôn
HÊ RỊ: thường phải tịnh tâm
Như như vắng lặng không không bến bờ
MA HA rộng lớn vô ngần
Cát tường như ý thường hằng tánh chơn
BÀN ĐÀ là đại bao dung
SA MẾ rực rỡ hào quang sáng ngời
Chiếu cùng khắp chốn khắp nơi
Đà la ni tánh ứng thời ứng linh
TÁT BÀ: tất cả chúng sanh
Đại Đồng Bình Đẳng như nhau, Đại Đồng
A THA ĐẬU phú lạc vô bần
Cầu chi cũng được là nhờ thiện tâm
Không làm mà cũng có ăn
Là nhờ Trời đãi Trời cho phúc lành
DU BẰNG tột thế sang giàu
Trang nghiêm sự nghiệp cũng nhờ luyện tu
Tánh Trời tạng tánh Như Lai
Chú tâm trì niệm ứng linh chẳng cùng
A: là tột thế đứng đầu
THỆ DỰNG tối thắng không gì cao hơn
Cha Trời Địa Mẫu Tổ Tiên
Không gì sánh được anh linh tột cùng
Trở về Nguồn Cội, Cội nguồn
Thành tâm lễ bái linh thời ứng linh
TÁT BÀ TÁT ĐA: căn thân
Linh Căn vô nhiễm sạch trong Bồ Đề
NA MA tạng tánh Cội Nguồn
Trinh Nguyên trong sạch không gì nhiễm ô
BÀ TÁT ĐA thể tánh như như
Không thêm không bớt linh linh nhiệm mầu
Cội Nguồn thể tánh bao trùm
Thượng vô đẳng đẳng, khắp cùng hư không
NA MA đẳng đẳng linh thông
Tối vô thượng chú khắp trong Đất Trời
BÀ TÁT GIÀ tột thế uy quyền
Thượng vô đẳng đẳng, không gì cao hơn
Đà là ni thể tánh vô biên
Tổ Tiên tạng tánh chuyển xoay tột cùng
Chỉ cần một niệm trong lòng
Chú linh ứng chú khắp cùng ứng linh
MA PHẠT: tôn kính Cha Ông
ĐẠT ĐẬU cúi lạy cầu mong Cha Trời
Cúi mong khổ nạn tiêu trừ
Bình an vạn sự, sang giàu, bình yên
Mật chú tạng tánh Tổ Tiên
Linh linh ứng ứng vô biên nhiệm mầu
ĐÁT ĐIỆT THA: Ấn Bút Cha Trời
Nghĩa văn sở vị cõi Trời Phạm Thiên
ÁN là dẫn dắt chú linh
Ứng vô lượng pháp chuyển luân khắp cùng
La ni mật tánh Cha Trời
Ứng vô lượng tánh khắp thời hư không
A BÀ: quán xét sáng soi
LÔ HÊ suy nghiệm giả chân tỏ tường
Chú nầy phá sạch mê lầm
Như Lai tạng tánh chuyển đời khổ đau
LÔ CA ĐẾ: pháp chú tối cao
Đà la ni tánh biết bao nhiệm mầu
CA RA ĐẾ: rộng nhân từ
Tánh nầy hợp với biển lòng Mẹ Cha
Giúp cho hành giả vượt qua
Vô biên tội lỗi thoát siêu về Trời
DI HÊ RỊ: thuận Cội Nguồn
Tự tâm phát nguyện phụng hành ngày đêm
BỒ ĐỀ giác Đạo quy nguyên
Trở về Nguồn Cội vượt lên trí phàm
TÁT ĐỎA dũng mãnh tu hành
Không gì ngăn được một lòng nhất tâm
Chú nầy quả thật cao thâm
Linh linh ứng ứng mong đạt thành
TÁT BÀ: Thiên Ấn Cha trời
TÁT BÀ lợi ích cho người luyện tu
Thiên Ấn quyền năng tối cao
Ứng linh linh ứng chở che cho người
MA RA: tăng trưởng phúc lành
MA RA như ý trọn phần luyện tu
MA HÊ: cực ý vô ngôn
Dạy người đức hạnh, cũng như dạy lời
MA HÊ đức hạnh cao vời
Nhưng mà độ được vạn loài thậm thâm
Nhờ hiệp tánh đức Cha Ông
Chú linh ứng chú linh thông diệu kỳ
RỊ ĐÀ DỰNG sen nở trong lòng
Liên Hoa Hải Tạng sáng ngời trong tâm
Tánh linh vi diệu thậm thâm
Dứt trừ tai họa phá tan não phiền
Chú nầy ác nghiệp không còn
Thân cùng khẩu ý trọng phần uy linh
CU LÔ CU LÔ: nhãn tịnh thanh
Bảo Hoa Nhãn Ấn sáng soi tột cùng
Chú nầy sáng mắt sáng hồn
Thoát qua khổ nạn không còn họa tai
ĐỘ LÔ ĐỘ LÔ: độ hải cứu dân
Thoát qua bể khổ tiêu tan não phiền
Như Lai tạng tánh nhiệm mầu
Ứng linh chú pháp tột cùng ứng linh
PHẠT GIÀ RA ĐẾ chân tâm
Cội Nguồn Đại Đạo dung thông Đất Trời
Đà La ni tánh nhiệm mầu
Như Lai tạng tánh khắp cùng siêu nhiên
Chỉ cần một niệm thành tâm
Cũng linh cũng ứng chuyển xây tận cùng
MA HA: Ấn chú Cội Nguồn
PHẠT GIÀ RA ĐẾ tận cùng công năng
Thù thắng đệ nhất vô biên
Hàng Ma phục Quỉ ứng linh nhiệm mầu
Pháp chú khiếp vía kinh hồn
Thiên la đại pháp khắp cùng bủa vây
ĐÀ LA: thủ ấn tối linh
ĐÀ LA cam lộ, nhành dương, tịnh bình
Rưới lên cùng khắp chúng sanh
Tiêu tan ác nghiệp tiêu tan lòng tà
Chú linh, tịnh thủy cam lồ
Hồi sanh đức tánh, nở nhành thiện căn
ĐỊA RỊ NI: chuyển hóa sanh
Làm cho ác pháp tiêu tan chẳng còn
Chú nầy thị hiện đạo tràng
Phụng hành thiện nghiệp khắp cùng ứng linh
THẤT PHẬT RA DA: phóng quang
Khai thông sáng mắt hết mê hết lầm
Pháp ấn nhã pháp soi cùng
Làm cho hết thảy không còn tối mê
Mật chú tạng tánh Như Lai
Ứng linh linh ứng không sai chút nào
GIÁ RA: mệnh lệnh Cha Trời
GIÁ RA hành động linh thời chú linh
MẠ MẠ: hiệu lệnh tuân theo
Ứng linh, linh ứng biết bao tột cùng
PHẠT MA RA chuyển luân hiện hành
Ứng linh linh ứng khắp cùng ứng linh
Đi vào cảm ứng vô biên
Đi vào hiệu lệnh chú linh Cội Nguồn
MỤC ĐẾ LỆ: Ấn Pháp Cha Trời
Gậy Rồng hiệu lệnh khắp thời tam thiên
Giải thoát phiền não đảo điên
Tiêu tan bệnh tật siêu sanh Thiên Đàng
Tánh linh mật tạng khắp cùng
Chỉ cần tụng niệm linh thời ứng linh
Y HÊ: quy thuận Tổ Tiên
Y HÊ thuận giáo tự nhiên tu trì
Tạng tánh Cội Nguồn diệu kỳ
Chỉ cần đọc tụng siêu thời thoát siêu
THẤT NA: huệ quang cao siêu
THẤT NA cảnh trí vô biên Cội Nguồn
Chỉ cần trì tụng một lời
Ngu si tan biến linh thời ứng linh
Tụng rồi thời chẳng còn quên
Tuệ quang sáng mãi vô biên tận cùng
A RA SAM: Chuyển luân độ đời
PHẬT RA XÁ LỢI sáng ngời giác thân
Hiệp cùng Tạng Tánh Cha Ông
Quyền năng tột thế dung thông tư nghì
Chú nầy vừa niệm trong lòng
Tiêu tan tội ác vạn ngàn ức muôn
PHẠT RA: Hoan hỉ mừng vui
Anh linh Đại Sĩ lừng danh lẫy lừng
Nhờ vào hiệp Cội hiệp Nguồn
Hiệp vào mật tánh Cha Trời Tổ Tiên
PHẠT SÂM thành đại anh linh
Cũng nhờ quy kính Tổ Tiên Cội Nguồn
PHẬT RA : linh tượng với Trời
XÁ DA tối thắng sáng ngời pháp vương
Linh Tượng khế hiệp pháp thân
Hiệp vào tạng tánh Cha Ông Cội Nguồn
Quyền năng vô tận vô cùng
Chuyển luân cứu khổ muôn loài chúng sanh
Cội Nguồn thành kính quy y
Thần thông tự tại vô biên độ đời
HÔ LÔ HÔ LÔ: linh ứng nhiệm mầu
MA NA như ý linh thời ứng linh
HÔ LÔ: linh ứng vô biên
HÔ LÔ pháp tánh tự nhiên ứng cùng
HÊ RỊ linh quang sáng ngời
Chú nầy đọc tụng dứt thời nạn tai
TA RA: kiên cố định tâm
TA RA thanh tịnh thậm thâm cao vời
Ngũ căn ngũ lực dâng trào
Không gì lay chuyển được thời chuyển lay
Hiện cùng tạng tánh Như Lai
Thần thông tự tại ít ai sánh bằng
TẤT RỊ: thù thắng khôn cùng
Hiệp vào tạng tánh Cha Trời uy linh
TẤT RỊ dũng mãnh uy nghi
Muôn loài tùng phục khiếp kinh muôn loài
Cát tường tưởng nghĩ Cha Trời
Ứng linh cảm ứng khắp thời ứng linh
TÔ RÔ: cam lộ trường sanh
TÔ RÔ sống dậy thiện căn bao đời
Tô rô bất tử thường còn
Sống theo Thiên Ý linh thời ứng linh
BỒ ĐỀ DẠ: giác ngộ chân tâm
BỒ ĐỀ DẠ giác hạnh viên mãn, tròn nhân quả đầy
Chú nầy trì niệm hằng ngày
Tu hành mau đến đắc thành đạo cao
BỒ ĐÀ DẠ: trực giác chân như
BỒ DÀ DẠ thức tỉnh quy y Cội Nguồn
Hiệp vào tạng tánh Cha Trời
Đà la ni chú ứng thời ứng linh
DI ĐẾ RỊ: vô số vô biên
Cũng không tính đếm cũng không nghĩ bàn
Nhất tâm tôn kính Cội nguồn
Hà sa phước đức khắp cùng hà sa
NA RA: cảm ứng vô biên
CẨN TRÌ che chở khắp trong muôn loài
Cha Trời cùng với Mẹ Trời
Luôn luôn bảo bọc cho người luyện tu
Nhất là khi đã quy y
Trở về Nguồn Cội hiệp theo Ý Trời
Chú nầy linh ứng tột cùng
Chỉ cần đọc tụng họa thời tiêu tan
ĐỊA RỊ: nguyện lực vô biên
SẮC NI NA hàng phục yêu tinh quỷ thần
Hiệp vào tạng tánh Cội Nguồn
Ứng linh quyền lực khắp cùng hà sa
BÀ DẠ: lừng lẫy tánh danh
MA NA xưng tụng Tổ Tiên Cha Trời
Vô biên cảm ứng tột cùng
Nguyện chi cũng tọa vang lừng khắp nơi
TA BÀ HA: sáu nghĩa ở đời
Cát Tường. Thành Tựu, rạng ngời tánh danh
Viên Tịch đạo quả vô biên
Tiêu tan Kiếp Nạn, ác căn Tiêu Trừ
Vô Trụ. giác tánh cao vời
Chứng thành đạo quả rạng ngời Dương Quang
TẤT ĐÀ DẠ: viên mãn, mãn viên
Tựu Thành chánh quả vẻ vang oai hùng
Biện Tài Hùng Biện lẫy lừng
Lợi Tha xưng tán rạng ngời hồng danh
TA BÀ HA: như ý viên dung
Cát tường rạng rỡ tánh danh sáng ngời
Ác căn nghiệp khổ không còn
Như như vô trụ sáng bừng huệ quang
MA HA thành quả vô biên
TẤT ĐÀ DẠ: viên mãn công danh tròn đầy
TA BÀ HA: như ý cuộc đời
Công thành danh tọa cũng nhờ luyện tu
TẤT ĐÀ: thành tựu lớn lao
Cứu dân độ thế biết bao nhọc nhằn
DU NGHỆ hư không đạo tràng
Vô vi thanh tịnh thường hằng chân như
THÁT BÀ: tự tại an nhiên
RA DA thành tựu vô biên phức lành
TA BÀ HA như ý cuộc đời
Thuận theo Thiên Ý viên thành quả viên
NA RA: lễ lạy Tổ Tiên
CẨN TRÌ ái mộ quyền năng Cha Trời
Chú linh ở tại lòng người
Thành tâm tôn kính niệm thời ứng linh
TA BÀ HA: như ý vô biên
Cũng nhờ bảo bọc chở che Cha Trời
MA RA: như ý nguyện cầu
NA RA tột đỉnh đứng đầu công danh
Chú nầy linh ứng ứng linh
Thành tâm cầu nguyện ứng nhiệm mầu
TA BÀ HA: như ý cuộc đời
Cũng nhờ công đức phản hồi chân như
Hiệp vào tạng tánh Như Lai
Đà la ni Tánh ứng linh tột cùng
Công thành danh tọa lẫy lừng
Hiệp vào Nguồn Cội tròn đầy viên dung
TẤT RA TĂNG: thiện đức bi tâm
Chở che bảo hộ giúp muôn vạn loài
Giúp cho nhân thế con người
Làm cho tất cả sống đời bình yên
A MỤC KHƯ GIA nhớ gắng ghi
Không bỏ điều gì thông thạo độ sanh
TA BÀ HA: như ý thần thông
Vô biên trí huệ tiện phương cứu đời
Hiệp vào bản thể Cha Trời
Biện tài vô ngại không gì ngại ngăn
TA BÀ: kham nhẫn tịnh tâm
MA HA rộng lớn vô biên quả mầu
Thượng thừa đại đạo cao sâu
Vô biên vô tận không sao nghĩ bàn
A TẤT ĐÀ DẠ viên thành
Đạt thành ý nguyện lẫy lừng tánh danh
TA BÀ HA: sáng tỏa vô biên
Cũng nhờ công đức luyện tu độ đời
Hành theo Thiên Ý Cha Trời
Công thành danh tọa rạng ngời công danh
GIẢ KIẾT RA: xây chuyển pháp luân
Kim thân sáng rực huệ quang tột cùng
A TẤT ĐÀ DẠ viên thành
Cũng nhờ công đức cứu người cứu dân
Uy lực vô tận vô biên
Làm cho Ma Quỉ kính tin, phục thuần
TA BÀ HA: viên mãn cát tường
Cũng nhờ công đức cứu đời độ dân
Đại bi tâm đại bi tâm
Anh linh tột thế siêu nhiên tột cùng
BÀ ĐÀ MA: liên hoa sáng bừng
Tánh chơn pháp tánh đại từ đại bi
YẾT TẤT ĐÀ DẠ thiên uy
Trắng hoa sen trắng tinh khôi nhiệm mầu
Sạch trong không nhiễm bụi trần
Ứng linh linh ứng khắp cùng ứng linh
TA BÀ HA: như ý viên dung
Tựu thành viên mãn nhờ công tu hành
Nương nhờ thần lực Cha Trời
Muôn điều thuận lợi không gì ngại ngăn
NA RA: Hiền Giả, Thánh, Tăng
CẨN TRÌ, Chúa, Phật, Thần, Tiên, cứu đời
Giữ gìn Ấn Chú, hộ trì
Làm cho thường trụ khắp thời thế gian
BÀN ĐÀ RA DẠ ứng linh
Khắp cùng mọi lúc mọi nơi khắp cùng
Làm cho nhân thế con người
Không còn sợi hãi, không còn lo âu
MA BÀ LỢI THẮNG: hùng bi
Vượt lên tất cả không gì ngại ngăn
YẾT RA DA sanh tánh kim cang
Đại bi vô ngại anh linh tột cùng
TÁT BÀ HA: như ý đạo tràng
Hiệp vào đức tánh Cha Trời mà ra
Tát bà ha, tát bà ha
Ứng linh, linh ứng hà sa chẳng cùng
NAM MÔ: thành kính Cội Nguồn
Pháp thân rộng lớn Cha Trời hư không
HẮC RA tam bảo Cha Ông
ĐÁT NA thuận ý Thiên Công Cha Trời
ĐÁ RA Pháp thể đại đồng
DẠ DA hội nhập Cội Nguồn dạ da
Chú nầy linh ứng hà sa
Chú tâm trì tụng vượt qua khốn cùng
NAM MÔ: vô tận Cội Nguồn
Hà sa Thánh Giả Thánh Hiền A Men
Phật, Tiên, Thánh, Chúa vô biên
Khắp cùng vũ trụ hư không Đất Trời
Chỉ cần tưởng niệm trong đầu
Cũng linh cũng ứng khắp cùng ứng linh
Nam mô vô tận A Men
LỊ DA quy kính Tổ Tiên Cha Trời
Tôn vinh Nguồn Cội, Cội Nguồn
Thuận theo thể tánh đại đồng thuận theo
BÀ LÔ: quán sát pháp thân
Hư không pháp giới vô vi khắp cùng
KẾT ĐẾ không nhiễm bụi trần
Sạch trong giác tánh hiển phần chân như
THƯỚC BÀN: tự tại sáng soi
RA DẠ ứng khắp, cứu dân độ đời
Anh linh đại sĩ sáng ngời
Từ bi tận độ khắp thời chúng dân
Quán Âm đại sĩ Quán Âm
Chú linh ứng khắp, ứng linh tận cùng
TA BÀ HA: viên mãn cuộc đời
Vô biên công đức sáng ngời vô biên
ÁN: là chú pháp linh thiên
Dẫn đầu linh ứng, ứng linh khắp cùng
TẤT ĐIỆN thành tựu đạo tràng
ĐÔ MẠN lãnh thổ tận cùng khắp nơi
Tam Thiên cõi nước hà sa
Thiên Đàng, Địa Phủ, Trần Gian chủ trì
ĐÀ RA pháp hội Cội Nguồn
BẠT ĐÀ: viên mãn tròn đầy đức công
DẠ: da vô tận công năng
Ứng linh, linh ứng vô biên tận cùng
Họa to biến nhỏ lạ lùng
Họa nhỏ biến thành không lại hoàn không
Chuyển thành phước đức vô biên
Cũng nhờ linh chú, linh thiêng nhiệm mầu
TA BÀ HA: như ý tựu thành
Tròn đầy quả vị, viên thành công lao
Cầu chi cũng được ứng linh
Nguyện cầu như ý mãn viên tròn đầy
Nam Mô vô tận Cội Nguồn
A Men như ý linh thời ứng linh
Nam Mô quy kính Tổ Tiên
Cha Trời, Địa Mẫu ứng linh tột cùng
* * *

Tổ Tiên Pháp Thể Tột đứng đầu
Cội nguồn tạng tánh thật cao sâu
La Ni mật tánh chuyên trì tụng
Linh ứng vô biên, ứng nhiệm mầu.
* * *

( gõ tiếng chuông )
Đồng lạy 3 lạy – Bái bốn bái

Trì Tụng Long Hoa đại bi linh chú đến đây là hết.

Chú Đại Bi: không phải của một vị Phật hay vị Thánh nào cả. Mà là linh chú ĐÀ LA NI PHÁP TÁNH MẬT TẠNG CỘI NGUỒN. Tổ Tiên Cha Trời. Truyền dạy cho Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Long Hoa Đại Bi Chú là linh chú khai mở trí huệ. Hàng phục yêu Ma. Tiêu trừ bách bệnh. Chuyển họa thành phước. Chuyển đổi số mạng. Thoát khỏi Địa Ngục, siêu sanh Thiên Giới. Linh chú lợi ích không bao giờ nói, không thể nghĩ bàn. Thậm thâm vi diệu vô tận. Chỉ cần trì tụng hiệu nghiệm tất thời. Niềm tin là tất cả. Vì mật tạng Đà la ni tánh Cội Nguồn chỗ nào cũng có. Lại khế hiệp vô số vô biên danh tánh Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, quá khứ hội nhập vào Cội Nguồn Như Lai Tạng Tánh. Nên linh ứng không thể nghĩ bàn. Hễ có tụng niệm mật tánh là có ứng linh ngay. Dù cho ở Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ, đều có sự linh ứng như nhau. ĐỨC TIN, NIỀM TIN, TỰ TIN là bí quyết đạt đến mong muốn kết quả như ý.

* * *
2. LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH

LONG HOA
BÁT NHÃ TÂM KINH
1

Nầy tất cả Thiện Nam nghe rõ
Với cùng là Thiện Nữ nghe đây
Muốn thành chánh quả Như Lai
Phải tường phải tận Tổ Tiên Cội Nguồn
Cần phải rõ thấu cùng chân Tướng
Thể Cội nguồn không cấu nhiễm ô
Cội Nguồn Thể Tướng Hư Vô
Bao trùm rộng khắp hư không tận cùng
Cần hiểu rõ Cội Nguồn Chân Tánh
Không Tánh gì mới thấy Tánh Chân
Tánh không, không Tánh Cha Ông
Khắp cùng vũ trụ linh thông Đất Trời
Cần hiểu rõ Cội Nguồn Chân Pháp
Thể giác linh cùng khắp hư không
Ý không, không ý, ý không
Như như độc lập dung thông Đại Đồng
Nào hiểu rõ Cội Nguồn Linh Giác
Không thinh hương xúc pháp mắt tai
Cũng không miệng mũi chân tay
Cũng không màu sắc thinh thinh bao trùm
Thể Linh Giác Cội Nguồn trong sạch
Tối linh thiên không diệt không sanh
Thường hằng thanh tịnh vô vi
Không thêm không bớt như như thường còn
Nầy hiểu rõ cho tường Nguồn Cội
Thể an nhiên vô niệm như như
Còn như động niệm pháp thân
Sanh sanh hóa hóa vô biên tận cùng
Sanh ra ngũ uẩn, lục trần
Cũng như lục thức hình thành lục căn
Sanh ra mười hai nhân duyên
Hợp tan, tan hợp không sao kể cùng
Khởi sanh đủ loại chủng hình
Diệt sanh, sanh diệt tận cùng diệt sanh
Tịnh thời tất cả đều không
Động thời tất cả khởi sanh trùng trùng
Tịnh là chân pháp đại thiền
Như như vắng lặng hiệp vào Chân Như
Vô Niệm phiền não sạch không
Còn đâu vọng chấp còn đâu não phiền
Nếu không hội ngộ Cội Nguồn
Vô minh vọng chấp niếu trì khởi sanh
Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức sanh sôi
Hình thành căn nghiệp ôi thôi trùng trùng
Căn Thân Ngũ Uẩn ra đời
Là do vọng chấp sanh thời khởi sanh
Ngũ Uẩn Nguồn Cội giai không
Tử sanh, sanh tử rõ thông biến bờ
Có – Không làm chủ được rồi
Tử sanh, sanh tử phản hồi tự nhiên
Không thì tất cả đều không
Có thì có cả khắp trong Đất Trời
Chúng con hội ngộ được rồi
Không còn lo sợ sanh thời tử sanh
Vô vi linh thể Cha Ông
Không hình không tướng cũng không sắc màu
Cội Nguồn trong sạch nhiệm mầu
Không hương không vị không mùi không thân
Tự nhiên không đến không đi
Bao trùm vũ trụ hư không tột cùng
Không rờ đụng thể vô hình
Không tai, mắt mũi, muôn nghìn cái không
Không thể sờ mó thấy xem
Hiển linh, linh hiển vô biên tận cùng
Cội Nguồn pháp thể Đại Đồng
Pháp thân bình đẳng khắp cùng mọi nơi
Cội Nguồn pháp thể Cha Ông
Không thêm không bớt như như bao trùm
Thế mà khởi dụng lạ lùng
Sanh sanh hóa hóa khắp cùng khắp nơi
Tạo ra sự sống vô biên
Tạo ra thế giới nhân duyên xoay vần
Từ không sang có nối liền
Lục trần, lục thức cùng là lục căn
Hình thành chứng đắc ngại ngăn
Là do phân biệt ái ưa gieo mầm
Chúng con thức tỉnh được rồi
Giai không ngũ uẩn phản hồi chân nguyên
Không còn sợ hãi tử sanh
Không còn mộng tưởng đảo điên xa lìa
Vô Minh tận diệt được rồi
Cũng không diệt hết phần nào Vô Minh
Cội Nguồn hội ngộ chân như
Ba La thần chú, thậm thâm thượng thừa
Đẳng đẳng minh chú tiêu trừ
Diệt vô lượng khổ hết còn khổ đau
Không còn thần chú nào hơn
Giải thoát tất cả sạch trơn khốn cùng

Yết đế yết đế
Ba la yết đế
Ba la tăng yết đế
Bồ đề tát bà ha

—————————————–

LONG HOA
BÁT NHÃ TÂM KINH
2

Khi hội ngộ Cội Nguồn
Mới giác ngộ ra rằng
Do phân biệt vọng chấp
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức
Cấu kết hiện sanh ra
Năm uẩn Cội trống không
Giác ngộ được điều đó
Sanh tử hết lo xa
Mọi khổ đau ách nạn
Tận diệt mọi tai qua
Cội Nguồn vốn sạch không
Vô vi cùng cùng khắp
Cội Nguồn không hình tướng
Cũng không màu không sắc
Không thêm cũng không bớt
Không ý cũng không thức
Không không và sạch không
Cho nên trong cái không
Vi diệu thậm thậm thâm
Khởi sanh ra tất cả
Vọng chấp luôn thọ tưởng
Khởi sanh ra ngũ uẩn
Sáu trần và sáu căn
Sáu thức cũng như thế
Nhân duyên luôn lôi kéo
Theo định luật nhân quả
Luân hồi sanh sanh tử
Khi hội ngộ làm chủ
Không có Vô Vô Minh
Cũng không hết Vô Minh
An như và tự nhiên
Không đi vào chứng đắc
Không khởi tâm chấp trước
Cội Gốc là không không
Trở về Cội Cha Ông
Nên tâm hết chướng ngại
Nên không còn sợ hãi
Làm chủ sanh sanh tử
Động Tịnh theo tự nhiên
Cảm ứng vô vô biên
Cội Nguồn linh chú lớn
Cao tột đại linh thiên
Không có chú nào hơn
Có thể so sánh được
Cội Nguồn vô vô tận
Diệt tiêu tan tai nạn
Diệt trừ mọi khốn khổ
Cha Trời tuyên tuyên thuyết
Linh chú qua bờ giác
Bát Nhã Mật Đa Tâm Kinh

Yết đế yết đế
Ba la yết đế
Ba la tăng yết đế
Bồ đề tát bà ha

————————————-

LONG HOA
BÁT NHÃ TÂM KINH
3

Nầy Thiện Nam Tín Nữ:
Cội Nguồn Cha Ông. Linh Giác Chân Như, thể tướng rộng lớn như hư không. Linh Giác Tối Cao Cội Nguồn. Chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch. Chẳng thêm chẳng bớt, thể tướng rộng khắp bao trùm tam thiên đại thiên thế giới, Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ chỗ nào cũng có. Linh Giác Cội Nguồn vô nhiễm vô vi. Cội Nguồn Bản Thể Linh Giác Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Pháp thân vô thỉ vô chung. Không có tai, mắt, mũi, lưỡi, không có thân, ý, thậm chí không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Không có vọng chấp phân biệt. Nên không có ý thức giới. Linh Giác Cội Nguồn Tổ Tiên. Thấy – Nghe – Hay – Biết tự nhiên. Nên không có ngũ uẫn. Bản thể linh giác chân như Tổ Tiên rộng khắp vi diệu thậm thâm không thể nghĩ bàn. Muốn hội nhập Cội Nguồn. Không nên có sở trí. Sở đắc. nên không diệt hết vô minh, thế mà vô minh tận. Lão Tử tận. Chân tướng Cội Nguồn. Trong cái không động niệm hiện ra cái có, tất cả cái có Cội Nguồn rối ráo là không. Cho nên không còn sợ hãi. Lìa xa mộng tưởng đảo điên. Cứu cánh hội nhập trở về Cội Nguồn tự nhiên an vui tự tại. Thần thông cảm ứng vô tận. Uy lực vô biên. Đại Minh Thần Chú. Vô Thượng Thượng Chú, Vô Đẳng Đẳng Chú. Tiêu trừ khổ ách nạn tai.

Yết đế, yết đế.
Ba la tăng yết đế, ba la tăng yết đế.
Bồ đề A Men như ý tát bà ha.

* * *

( gõ chuông đồng lạy)
Nam Mô A Men:
Đương nguyện thế nhân, quy kính Tổ Tiên. Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận theo nghĩa cả. Thiên Ý Cha Trời.
Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

( gõ chuông đồng lạy)
Nam Mô A Men:
Đượng nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.

( gõ chuông đồng lạy)
Nam Mô A Men:
Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.

Nguyện đem công đức nầy
Hồi hướng khắp tất cả
Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ
Hết khổ, hạnh phúc, an vui

* * *

Quốc Bảo khai kinh đến đây là hết. Những gì lợi ích trong Quốc Bảo khai kinh là không thể nghĩ bàn. Nơi nào có Quôc Bảo khai kinh. Thời nơi đó có Cha Trời, Địa Mẫu. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Giáng ngự. Hồn Thiên Dân Tộc phò trì. Khí Thiên Sông núi bảo bọc che chở. Quốc bảo khai là báu vật đất trời tối đại linh thiêng chỉ cần thành tâm ca ngợi cũng đặng siêu thoát vô lượng tội ác. Tai họa lớn biến thành tai họa nhỏ. Tai họa nhỏ biến thành tiêu tan. Huống chi là đọc tụng. Dù chỉ là một câu cũng linh ứng vô cùng. Nếu nhớ được một câu, hay một bài khai kinh thời coi như chuyển họa thành phúc. Vì Quốc Bảo khai kinh chính là Thiên Ý, Thiên Bút của Trời.

* * *

3. LONG HOA THIÊN ẤN MẬT TẠNG KIM CANG CHÚ

Thánh Chú Cội Nguồn:
Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên
Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao
Sanh ra nhân loại con người
Ông Bà, Cha Mẹ, đến thời chúng con
A Men.
* * *

Lúc bây giờ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, nơi pháp hội Thiên Vân số lượng lên tới vô tận vô biên, không thể tính đếm không thể nghĩ bàn dù cho trăm nghìn kiếp cũng không thể nào đếm hết.
Bỗng thấy về hư không quá khứ, xuất hiện vô số vô biên, Thiên Ấn kim cang hào quang chói lọi, hộ trì bảo hộ Thiên Ý Cha Trời, làm cho Thiên Ý Cha Trời sáng mãi không bao giờ dứt, những ai chỉ cần nghe được mật danh đại nguyện của các Ngài, thì tâm ý liền được thanh tịnh, tội ác liền được tiêu trừ, ác ma, ác quỉ, không dám đến gần làm hại, ở khắp mười phương hư không quá khứ vũ trụ, hiện thân bay đến chầu ĐỨC CHA TRỜI, nói kệ rằng:
Chúng Con là những Thiên Ấn Pháp. Những Thiên Ấn Chú. Thiên Ấn Hành Pháp, quét sạch ác Ma, ác Quỉ, mê hoặc con Trời, làm hại con cái nhà Trời, bảo hộ Thiên Ý Cha Trời, bảo hộ Thiên Luật vũ trụ, chỉ cần nghe qua pháp chú, nguyện chú, lực chú, của Chúng Con, thì tâm ý liền được thanh tịnh, tội ác đại họa liền được tiêu trừ, không còn đọa lạc vào tam đồ khổ Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, rốt sau thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Pháp chú, ấn chú, là mật ý Cha Trời, kẻ âm người dương đều phải tuân theo, chí tâm trì tụng, thì hàng phục các ma, ngăn chặn phiền não, thoát khỏi các đại họa như dịch bệnh, hỏa tai, phong tai, động đất, khí độc, độc trùng, ác thú, yêu tinh, quỉ quái, v.v…đều chẳng hại được, cầu con được con, cầu thọ được thọ, cầu thông minh sáng láng được thông minh sáng láng, nói chung là cầu chi đặng nấy. Chúng Con là những Thiên Ấn Pháp, Thiên Ấn Chú, Thiên Ấn Hành Pháp, Ấn Chú, Ấn Pháp rằng:

ĐỆ NHẤT ẤN CHÚ

Nam – mô – tát – đát – tha – tô – già – đa – da – a – la – ha – đế, tam – miệu, tam – bồ – đà – tỏa, tát – đát – tha, đà – cu – tri, sắc – ni – sam, nam – mô – tát – bà – bột – dà – bột địa, tát – đa – bệ – tệ, nam – mô – tát – đa – nẩm, tam – miệu – tam – bồ – đà, cu – tri – nẩm, ta – xá – ra – bà, ca – tăng – già – nẩm, nam – mô – lô – kê, Thánh, Thần, Tiên, Phật, Chúa, nẩm, nam – mô – lô – tô – đa – ba – đa – nẩm, nam – mô – ta – yết – rị, dà – già – di – nẩm, nam – mô – Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, lô – kê – tam – miệu – dà – đa – nẩm, tam – miệu – dà – ba – ra – để – ba ra – nẩm, nam – mô – đề – bà – ly – sắc – nỏa, nam –mô – tất – đà – da, tỳ – địa – da – dà – ra – ly – sắc – nỏa, xá – ba noa – yết – ra – ha, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, ta – ra – ta – ha, tha – nẩm – ta – ha, nam – mô – bạc – ra – ha ma – ni, nam – mô – nhơn – đà – ra – da, Thánh, Thần, Tiên, Phật, a men, nam – mô – bà – dà – bà – đế, lô – dà ra – da, ô – ma – bát – đế, ta – hê – dạ – da, nam – mô – bà – già – bà – đế, bàn – giá – ma – ha, tam – mộ – dà – ra, nam – mô – tất – yết – rị – da – da, nam – mô – bà – già – bà đế, ma – ha -ca – ra – da, địa – rị – bát – lặc – na – già – ra, tỳ – đà – ra – ba, noa – ca – ra – da, a – địa – mục – đế, thi – ma – xá – na, nê – bà – tất – nê, ma – đát – rị – già – noa, nam- mô- tất- yết- rị- đa- da, nam – mô – bà – dà – bà – đế, đa – tha- già – da – cu – ra – dạ, nam – mô bạc – đầu – cu – chi – ra – da, nam – mô – bạc – xà – cu – chi – ra – da, nam – mô – ma – ni – cu – ra – da, nam – mô già – xà – cu – ra – na, nam – mô – bà – già – bà – đế, đế – rị – trà – du – ra – tây – na, ba – ra – ha – ra – noa – ra – dà – ra, đa – tha – dà – đa – tha, nam – mô – bà – già – bà – đế, nam – mô – a – di – đa – bà – da, đa – tha – dà – đa – da, a – ha – ra – đế, tam – miệu – tam – bồ – đề – dà – da, nam – mô – bà – già – bà – đế, a – sô – bệ – đa, da – tha – dà – đa da, a – ha – ra – đế, tam – miệu – tam – bồ – đề – da, nam – mô – bà – già – bà – đế, bệ – sa – xà – da, cu – lô – phệ – trụ – rị – da, bác – ra – bà – ra – xà – da, đa – tha – dà – đa – da, nam – mô – bà – già – bà – đế, tam – bổ – sư – tỷ – đa, tát – lân – nại – ra – lặc – xà – da, đa – tha – già – đa – da, a – ha – ra – đế, tam – miệu – tam – bồ – đề – da, nam – mô – bà – già – bà – đế, xá – kê – dã – mẫu – na – duệ, đa – tha – già – đa – da, a – ra – ha – đế, tam – miệu – tam – bồ – đề – da, nam – mô – bà – già – bà – đế, lặc – đác – na – kê – đô – ra – xà – da, da – tha – dà – dà – da, a – ha – ra – đế, tam – miệu – tam – bồ – đề – da, nam – mô – tát yết – rị – đa, ế – đàm – bà – già – bà – da, tát – đát – tha, dà – đô – sắc – ni – sam, tác – đát – đa – bác – đác – lam, nam – mô – a – bà – ra – thị – đam, bác – ra – đế – dương kỳ – ra, tác – ra – bà – bột – đa – yết – ra – ha, ni – yết – ra ha, yết – ca – ra – ha, ni – bát – rị, đát – ra – da, nảnh – yết – rị , tác – ra – bà – bàn – đà, na – mục – xoa – ni, tát – ra – bà – đột – sắc – tra, đột – tất – phạt, bát – na – nể – phạt – ra – ni, giả – đô – ra – thất – đế – nẩm, yết – ra – ha ta – ha, tát – ra – nhả – xà, tỷ – đa – băng – ta, na – yết – rị, a – sắc – tra – băng – xá – đế- nẩm, na – xoa – sát – đát, ra – nhả – xà, ba – ra – tát – đà – na – yết – rị, a – sắc – tra – nẩm, ma – ra – yết – ra – nhả – xà, tỳ – đa – băng – tát – na – yết – rị, tát – bà – xá – đô – lô, nể – bà – ra – ni, tỷ- sa – xá – tất – đác – ra, a – kiết – ni – ô – dà – ca – ra – nhã – xà, a – bác – ra – thị– đa – cu – ra, ma – ha – bác – ra – chiến – trì, ma – ha – diệp – đa, ma – ha – đế – xà, ma – ha – thế – đa – ra – bà – ra, ma – ha – bạt – ra, bàn – đà – ra – bà, tất – nể, a – rị – da – dà – ra, tỳ – rị – cu – tri, thệ – bà – tỳ – xà – da, bạt – xà – ra – ma – lễ – để, tỳ – xá – lô – gia, bột – dằng – võng – ca, bạt – xà – ra – chế – hắt – na – a – giá, ma – ra – chế – bà – bác – ra – chất – đa, bạt – xà – ra – thiện – trì, tỳ – xá – ra – giá, phiến – đa – xá – bệ, đề – bà – bổ – thị – đa, tô – ma – lô – ha, ma – ha – thuế – đa, a – rị da – đa – ra, ma – ha – bà – ra – a – bác – ra, bạt – xà – ra – thương – yết – ra, chế – bà, bạc – xà – ra -cu – ma – rị, cu – lam – đà – rị, bạc – xà – ra – hắc – tát – đa – giá, tỳ – địa – gia – kiền – giá – na, ma – rị – ca, khuất – tô – mẫu – bà -yết – ra – đa – na, bệ – lô – giá – na – cu – rị – đa, dạ – ra – thố – sắc – ni – sam, tỳ – chiết – lam – bà, ma – ni – giá, bạt – xà – ra – ca – đốn – trỉ – giá, thuế – đa – giá, ca – ma – ra – sát – xa – thi – ba – ra – bà, ế -đế – di – đế – mẫu – dà – ra – yết – noa, ta – phệ – ra – sám, quật – phạm – dô, ấn – thố – na – mạ, mạ – tỏa.

Thiên Ấn Đệ Nhất, Ấn Chú nói ra thì vô số vô biên những ai nghe được lời pháp chú nầy, liền hết điên loạn, nhàm cháng ham mê dục lạc tâm hồn yên tỉnh, giải thoát vô lượng vô biên tội ác, không còn sa đọa vào ba con đường khổ nữa, Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, tu hành mau chóng thành chánh quả.
Trên bầu trời hư không vô số vô biên Thiên Ấn Kim Cang, hào quang rực rỡ uy lực vô biên, Đệ Nhất Ấn Chú, Ấn Pháp, vừa chấm dứt, thời vô số vô biên Thiên Ấn Kim Cang Đệ Nhị nói ra.

ĐỆ NHỊ ẤN CHÚ

Ô – hồng – rị – sắc – yết – noa, bác – lặc – xá – tất – đa, tát – đát – tha – già – đô – sắc – ni – sam, hổ – hồng – đô – lô – ung – chim – bà – na, hổ – hồng – đô – lô – ung – tất – đam bà – na, hổ – hồng – đô – lô – ung – ba – ra – sắc – địa – da, tam – bác – xóa – noa – yết – ra, hổ – hồng – đô – lô – ung – tát – bà – dược – xoa – hắc – ra – sát – ta, yết – ra – ha – nhã – xà, tỳ – đằng – băng – tát – ra – yết – na, hổ – hồng – đô – lô – ung, giả – đô
– ra – thi – để – nẩm – yết – ra – ha – ta – ha – tát – ra – nẩm, tỳ – đằng – băng – tát – ra – na, hổ – hồng – đô – lô – ung – ra – xoa, bà – già – phạm – tát – đát – tha, già – đô – sắc – ni – sam, ba – ra – điểm – xà – kiết – rị, ma – ha – ta – ha – tát – ra, bột – thọ – ta – ha – tát – ra, thất – rị – sa, cu – tri – ta – ha – tát – nê – đế – lệ – a – tệ – đề thị – bà – rị – da, tra – tra – anh – ca – ma – ha bạc – xà – lô dà – ra, đế – rị – bồ – đà – na, man – trà – ra, ô – hồng – ta, tất – đế, bạc – bà – đô – mạ – mạ, ấn – thố – na – mạ – mạ – tỏa.

Những tâm hồn cuồng loạn điên đảo, nghiệp chướng sâu dày, cuồng si hoang tưởng, ác mộng đảo điên, ngây ngây dại dại, trải qua vô lượng kiếp, nghe được Thiên Ấn mật chú, uy lực vô biên tức thời ma chướng ác nghiệp trong tâm, liền được tiêu trừ, thoát khỏi cảnh điên cuồng, cuồng tâm loạn trí hàng vạn ức kiếp, vì phạm phải đại nghịch Cha Trời, ngây cuồng đền tội, nhờ uy lực vô biên Thiên Ấn mật chú đã giải thoát vô lượng vô biên linh hồn, trải qua vô lượng vô biên số kiếp đang ngây cuồng đền tội, trở lại bình thường, thông minh lanh lợi, nghe đâu nhớ đó, thấy đâu nhớ đó, học đâu nhớ đó, không còn đọa sa vào con đường ác nữa, mau chóng Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
Lại nghe trong hư không có sự chuyển động rất kỳ lạ, vô số vô biên Thiên Ấn Kim Cang, Uy Lực Vô Biên, hào quang phóng ra rực rỡ, bay đến chầu Cha Trời, đồng loạt nói Đệ Tam Ấn Chú rằng.

ĐỆ TAM ẤN CHÚ

Ra – xà – bà – dạ, chủ – ra – bạc – dạ, a – kỳ – ni – bà – dạ, ô – dà – ca – bà – dạ, tỳ – xa – bà – dạ, xá – tất – đa – ra – bà dạ, bà – ra – chước – yết – ra – bà – dạ, đột – sắc – xoa – bà dạ, a – xá – nể – bà – dạ, a – ca – ra – mật – rị, trụ – bà – dạ, đa – ra – ni – bộ – di – kiến – ba – già – ba – đà – bà, dạ – na già – bà – dạ, tỳ – điều – đát – bà – dạ, tô – ba – ra – noa – bà – dạ, dược – xoa – yết – ra – ha, ra – xoa – tư – yết – ra ha, tất – rị – đa – yết – ra – ha, tỳ – xá – giá – yết – ra – ha, bộ – đa – yết – ra – ha, cưu – bàn – trà – yết – ra – ha, bổ – đơn – na – yết – ra – ha, ca – tra – bổ – đơn – na – yết – ra – ha, tất – kiền – độ – yết – ra – ha, a – bá – tất – ma, ra – yết ra – ha, ô – đàn – ma – đà – yết – ra – ha, xa – dạ – yết – ra ha, hê – rị – bà – đế – yết – ra – ha, xả – đa – ha – rị – nẩm, yết – bà – ha – rị – nẩm, lô – địa – ra ha – rị – nẩm, man – ta – ha – rị – nẩm, mê – dà – ha – rị- nẩm, ma – xà – ha – rị – nẩm, xà – đa – ha – rị – nữ, thị – tỷ – đa – ha – rị – nẩm, tỳ – đa – ha – rị – nẩm, bà – da – ha – rị – nẩm, a – du – giá – ha – rị – nữ, chất – da – ha – rị – nữ, đế – sam – tát – bệ – sam, tát – bà yết – ra – ha – nẩm, tỳ – dà – dạ – xà – sân – dà – dạ – di, kê – ra – dạ – di, ba – rị – bạc – ra – giả – ca – hất – rị – đởm, tỳ – dà – dạ – xà – sân, đà – dạ – di, kê – ra – dạ – di, trà – diễn – ni – hất – rị – đởm, tỳ – đà – dạ – xà – sân, đà – đạ – di, kê – ra – dạ – di, ma – ha – bát – du – bác- đát – dạ, lô – dà – ra – hất – rị – đởm, tỳ – đà – dạ – xà – sân, đà – dạ – di, kê – ra – dạ – di – na – ra – dạ – noa – hất – rị – đởm, tỳ – đà – dạ xà -sân, đà – dạ – di, kê – ra – dạ – di, đát – đỏa – già – lô – trà – tây, hất – rị – đởm, tỳ – đà – dạ – xà – sân, đà – dạ – di, kê – ra- dạ – di, ma – ha – ca – ra – ma – đát – rị – già noa – hất – rị – đởm, tỳ – đà – dạ – xà – sân, đà – dạ – di – ca – ba – rị – ca – hất – rị – đởm, tỳ – đà – dạ – xà – sân, đà – dạ di, kê – ra – dạ – di, xà – dạ – yết – ra, ma – độ – yết – ra, tát – bà – ma – tha, ta – đạt – na – hất – rị – đởm, tỳ – đà – dạ – xà – sân, đà – dạ – di, kê – ra – dạ – di, giả – đốt – ra – bà – kỳ – nễ – hất – rị – đởm, tỳ – đà – dạ – xà – sân – đà – dạ – di, kê – ra – dạ – di, tỳ – rị – dương – hất – rị – tri, nan – đà – kê – sa – ra – dà – noa – bác – đế, sách – hê – dạ – hất – rị – đởm, tỳ – đà – dạ – xà – sân – đà – dạ – di, kê – ra – dạ – di, na – yết – na – xá – ra – bà – noa – hất – rị -đởm, tỳ – đà – dạ – xà – sân – đà – dạ – di, kê – ra – dạ – di, Thánh, Thần, Tiên, Phật, hất – rị – đởm, tỳ – đà – dạ -xà – sân, đà – dạ – di, kê – ra – dạ – di , tỳ – đa – ra – già – hất – rị – đởm, tỳ – đà – dạ – xà – sân – đà – đạ – di, kê – ra – dạ – di – bạc – xà – ra – ba – nể, cu – hê – dạ – ca – địa – bát – đế – hất – rị – đởm, tỳ – đà
– dạ – xà – sân – đà – dạ – di, kê – ra – dạ – di, ra – xoa – võng – bà – già – phạm, ấn – thố – na – mạ – tỏa.

Trong khắp bảy hư không vũ trụ những linh hồn điên đảo, ma chướng sâu dày thất tình lục dục làm hại, điên loạn thần hồn, mất trí khôn, điên đảo, ngược ngã, thất điên bát đảo, điên dại, rồ dại, hóa dại, nhất là điên loạn về tình yêu, ái ố hỉ nộ, mê dại say đắm điên cuồng, điên khùng nổi điên, dẫn đến yêu đương ái, ố, hỉ, nộ, điên rồ, không còn làm chủ hay biết đến sự điên của mình nữa, điên tiết dẫn đến tự sát, ác điên ác loạn, khốn khổ mãi không dứt được, nay bỗng nghe được Đệ Tam Ấn Chú uy lực vô biên, linh hồn liền hiết điên đảo, thất tình, lục dục, không làm hại được nữa, tinh thần ổn định, hồi phục trí nhớ, phân biệt trắng đen khổ vui, ái, ố, hỉ, nộ, chỉ là thường tình trong cuộc sống, thất tình lục dục, yêu, ghét, giận, hờn, cũng chỉ là lẽ thường tình ở đời, không có gì là ghê gớm lắm, nhờ uy lực vô biên của Ấn Chú đã làm tan chảy thất tình lục dục, hỉ, nộ, ái, ố, yêu, ghét, giận, hờn, thương, buồn, si, đắm, quá mức dẫn đến đóng băng, chúng bị Ấn Chú phá tan làm cho tâm hồn định tỉnh trở lại, phản hồi trực giác, nhận thức ra chân tánh giã tánh.
Tánh hỉ, tánh nộ, tánh ái, tánh ố, tánh yêu, tánh ghét, tánh giận, tánh hờn, tánh thương, tánh nhớ, tánh buồn, tánh mê, tánh si, không phải thật tánh chân tánh của mình,
mà chỉ là giả tánh do phân biệt mê vọng tạo ra mà thôi, nên tất cả linh hồn điên loạn khốn khổ ấy, nương nhờ thần lực Cha Trời nghe qua Ấn Chú, mật ấn Cha Trời, cộng với uy lực vô biên hằng hà sa số Thiên Ấn Kim Cang, làm tan chảy, phiền não, điên loạn đã đóng băng trải qua vô số kiếp, điên cuồng khốn khổ, bỗng chốc giải thoát địa ngục tâm linh điên loạn điên cuồng, trở thành, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, vô số vô biên, rốt sau thành Chánh Đẳng Chánh Giác.
Hằng hà sa số Thiên Ấn Kim Cang từ quá khứ hư không vũ trụ lần lượt xuất hiện, đến chầu CHA TRỜI, nói kệ rằng:

Chúng con từ thuở lâu xa
Chúng con không đi không đến
Chúng con là Thiên Ấn
Chúng con là đầu lông của Cha
Ý Cha là ý Chúng Con
Cha hiện thời Chúng Con hiện
Cha không thời Chúng Con không
Cha là đấng Cha Ông
Cha là đấng Hư Không
Cha muốn cứu Cháu Con
Cha thị hiện thần thông
Cha thị hiện đầu lông
Phá tan ngục phiền não,
Phá tan tánh hư ảo
Phá tan tánh điên đảo
Phá tan chấp mê chấp
Thành chánh đẳng chánh giác,
Tự tại mãi an vui
Chúng con là Đệ Tứ, Ấn Chú uy lực vô biên

ĐỆ TỨ ẤN CHÚ
Bà – già – phạm, tát – đát – đa – tát – đát – ra, nam – mô – tý – đô – đế, a – tất – đa – na – ra – lặc – ca, ba – ra – bà – tất – phổ – tra, tỳ – ca – tát – đát – đa – bát – đế – rị, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, Phật, Thánh, Tiên, đà – ra, Phật, Thánh, Tiên , giác – tha, đà – ra – dà – ra, tần – đà – ra, tần – đà – ra, sân – đà – sân – đà, hổ – hồng – hổ – hồng, phấn – tra, phấn – tra, phấn – tra, phấn – tra – ta – ha, hê – hê – phấn – a – mâu – ca – da – phấn, a – ba – ra – đề – ha – da – phấn, ba – ra – ba – ra – dà – phấn, a – tố – ra – tỳ – đà – ra – ba – ca – phấn, tát – bà – đề – bệ – tệ – phấn, tát – bà – na – già – tệ – phấn, tát – bà – dược – xoa – tệ – phấn, tát – bà – kiền – thát – bà – tệ – phấn, tát – bà – bổ – đơn – na – tệ – phấn, ca – tra – bổ – đơn – na – tệ – phấn, tát – bà – đột – lang – chỉ – đế – tệ – phấn, tát – bà – đột – sáp – tỷ – lê – hất – sắc – đế – lệ – phấn – tát – bà – thập – bà – lê – tệ – phấn, tát – bà – xá – ra – bà – noa – tệ – phấn, tát – bà – địa – đế – kê – tệ – phấn, tát – bà – đát
– ma – đà – kệ – tệ – phấn, tát – bà – tỳ – đà – da – ra – thệ -giá, lê – tệ – phấn, xà – dạ – yết – ra – ma – độ – yết – ra, tát – bà – dạ – tha – ta – đà – kê – tệ – phấn, tỳ – địa – dạ – giá – lê – tệ – phấn, giả – đô – ra – phược – kỳ – nể – tệ – phấn, bạt – xà – ra – cu – ma – rị, tỳ – đà – dạ – ra – thệ – tệ – phấn, ma – ha – ba – ra – dinh – dương – xoa – kỳ – rị – tệ – phấn, bạt – xà – ra – thương – yết – ra – dạ, ba – ra – trượng – kỳ – ra – dà – da – phấn, ma – ha – ca – ra -dạ, ma – ha – mạt – đát – rị – ca – noa, nam – mô – ta – yết – rị – đa – dạ – phấn, tỷ – sắc – noa – tỳ – duệ – phấn, bột – ra – ha – mâu – ni – duệ – phấn, a – kỳ – ni – duệ – phấn, ma – ha – yết – rị – duệ – phấn, yết – ra – đàm – tri – duệ – phấn, miệt – đát – rị – duệ – phấn, lao – đát – rị – duệ – phấn, giá – văn – trà – duệ – phấn, yết – la – ra – đát – rị – duệ – phấn, ca – bát – rị – duệ – phấn, a – địa – mục – chất – đa – ca – thi – ma – xá – na, bà – tư – nể – duệ – phấn, diễn – kết – chất, tát – đỏa – bà – tỏa – mạ – mạ – ấn – thố – na – mạ – mạ – tỏa.

Vô lượng vô biên linh căn linh hồn, linh hồn chúng sanh, linh hồn Quỉ, linh hồn Ma, linh hồn Địa Ngục, linh hồn Dạ Xoa, linh hồn Thần Vật, linh hồn Quỷ Vật, linh hồn A Tu La, khắp cả bảy hư không vũ trụ, nương theo thần lực của Đức Cha Trời, nghe Đệ Tứ Ấn Chú, do vô lượng vô biên Thiên Ấn Kim Cang nói ra, uy lực vô biên, làm tan chảy mộng tưởng đảo điên, mê chấp các tướng, các pháp, các tánh, các ý, không thực có, do mê chấp hư vọng tạo ra, tánh giả, pháp giả, thân giả, không thật có, do nhân duyên nhóm hợp sanh ra, như hoa đốm hư không, dối trá lừa dối lẫn nhau, tất cả sống trong cảnh giới mê không thật, cảnh già khú đế, lụ khụ gớm ghiếc, đờm đởm ớn nhợn, che đậy phấn da, sắc ma chất đa, làm sa đọa linh hồn, linh thức chân như vốn vô vi trong sạch không cấu nhiễm, dù trải qua vô lượng vô biên kiếp như hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, nhờ thần lực của Đức Cha Trời, nhờ uy lực vô lượng vô biên Thiên Ấn Kim Cang, và sự huyền diệu công phá của Ấn Chú, làm tan chảy sự mê chấp, nhàm chán sanh, lão, bệnh, tử, chán ngán lầm lẫn giả cứ nghĩ là chân, chán chê không còn ưa thích nữa, chán chường không còn mê chấp luyến tiếc nữa, chán ngấy phát ớn, vì do mê lầm sa đọa vô lượng ức kiếp, bỗng chốc hóa tiêu tan, phản hồi trực giác, thanh tịnh trí, thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, làm chủ chân tâm chân tánh, làm chủ cả chân lẫn giả, thành Chánh Đẳng Chánh Giác, tự tại vô ngại.
Lại hằng hà sa số Thiên Ấn Kim Cang từ hư không quá khứ xuất hiện hào quang trùng trùng trăm ức vạn nghìn châu báu đồng loạt bay tới đảnh lễ chầu ĐỨC CHA TRỜI, nói kệ rằng:

Chúng con là Thiên Ấn
Số lượng hà hà sa
Cha Trời khởi sanh ra
Nói Pháp Ấn Ấn Chú
Diệt trừ ma tâm ma
Phá tan giặc phiền não
Trở về Cội Ông Cha
Chúng Con là Đệ Ngũ
Ấn Chú nói nói ra

ĐỆ NGŨ ẤN CHÚ

Đột – sắc – tra – chất – đa, a – mạt – đát – rị – chất – đa, ô – xà – ha – ra, già – bà – ha – ra, già – bà – ha – ra, lô – địa – ra – ha – ra, bà – ta – ha – ra, ma – xà – ha – ra, xà – đa – ha – ra, thi – tỷ – đa – ha – ra, bạc – lược – dạ – ha – ra, kiền – đà – ha – ra, bố – sử – ba
– ha – ra, phả – ra – ha – ra, bà – tỏa – ha – ra, bác – ba – chất – đa, đột – sắc – tra – chất – đa, lao – đà – ra – chất – đa, dược – xoa – yết – ra – ha, ra – sắt – ta – yết – ra – ha, bế – lệ – đa – yết – ra – ha, tỳ – xá – giá – yết – ra – ha, bộ – đa – yết – ra – ha, cưu – bàn – trà –
yết – ra – ha, tất – kiền – đà – yết – ra – ha, ô – đát – ma – đà – yết – ra – ha, xa – dạ – yết – ra – yết – ra – ha, a – bát – tát – ma – ra – yết – ra – ha, trạch – khê – cách – trà – kỳ – ni – yết – ra – ha, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, đế – yết – ra – ha, xà – di – ca – yết – ra – ha, xá – cu – ni – yết – ra – ha, mộ – đà – ra – nan – địa, ca – yết – ra – ha, a – lam – bà – yết – ra – ha, kiền – độ – ma – ni – yết – ra – ha, mười – phương – chư – Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, thập – yên – ca – hê – ca, trị – đế – dược – ca, đát – lệ – để – dược – ca, giả – bột – thát – ca – ni – để – thập – phạt – ra, tỷ – sam – ma – thập – phạt – ra, bạc – để – ca, tỷ – để – ca, thất – lệ – sắc – mật – ca, ta – nể – bác – để – ca, tát – bà – thập – phạt – ra, thất – lô – kiết – đế, mạt – đà – bệ – đạt – lô – chế – kiếm, a – ỷ – lô – kiềm, mục – khê – lô – kiềm, yết – rị – đột – lô – kìm, yết – ra – ha – yết – lam, yết – noa – du – lam, đản – da – du – lam, hất – rị – dạ – du – lam, mạt – mạ – du – lam, bạt – rị – thất – bà – du – lam, tỷ – lật – sắc – tra – du – lam, ô – đà – ra – du – lam, yết – tri – du – lam, bạt – tất – đế – du – lam, ô – lô – du – lam, thường – già – du – lam, hắc – tất – đa – du – lam, bạt – đà – du – lam, ta – phòng – án – già – bác – ra – trượng – già – du – lam, bộ – đa – tỷ – đa – trà – trà – kỳ – ni – thập – bà – ra, đà – bột – lô – ca – kiến, đốt – lô – kiết – tri, bà – lộ – da – tỳ, tát – bát – lô – ha – lăng – già, du – sa – đát – ra, ta – na – yết – ra – tỳ – sa – dụ – ca, a – kỳ – ni – ô – đà – ca, mạt – ra – bệ – ca – kiến – đa – ra, a – ca – ra – mật – rị, đốt – đát – liểm – bộ – ca, địa – lật – lặc – ca, tỷ – rị – sắc – chất – ca, tát – bà – na – cu – ra, tứ – dẫn – già – tệ – yết – ra – rị – dược – xoa, đác – ra – sô, mạt – ra – thị – phệ, đế – sam – ta – bệ – sam, tất – đát – da – bác – đát – ra, ma – ha – bạc – xà – lô – sắc – ni – sam, ma – ha – bác – lặc – trượng – kỳ – lam, dạ – ba – đột – bà – xá – du – xà – na, biện – đát – lệ – noa, tỳ – đà – da – bàn, đàm – ca – lô – di ,đế – thù – bàn – đàm – ca – lô – di, bát – ra – tỳ – đà, bàn – đàm – ca – lô – di – đát – diệt – tha, án – a – na – lệ, tỳ – xá – đề – bệ – ra – bạc – xà – ra – đà – rị, bàn – đà – bàn – đà – nể, bạt – xà – ra – bàn – ni – phấn, hổ – hồng – đô – lô – ung – phấn , ta – bà – ha.

Nhờ thần lực Cha Trời, nhờ uy lực vô biên của Ấn Chú, nhờ sức mạnh tập thể vô lượng vô biên, Thiên Ấn mật tạng kim cang, đã phá tan địa ngục tâm linh, làm tan biến vô minh, phiền não giải thoát vô lượng vô biên, phàm phu, chúng sanh, quỉ, thần, linh hồn địa ngục, linh hồn linh vật, linh hồn quỷ vật, nhàm chán cảnh luân hồi sanh tử, ưa
thích Thiên Đàng Cực Lạc, hội nhập Cội Nguồn, làm chủ chân tâm chân tánh, xa lìa mộng tưởng mê chấp đảo điên, VÔ MINH DIỆT, VÔ MINH TẬN tất cả linh căn điều hướng về Cội Nguồn. Hội ngộ Tánh Không, chính là chân tánh, tánh toàn năng toàn giác, tánh viên mãn, thường trụ, thường chiếu khắp hư không. Hội ngộ Tâm Không chính là chân tâm vô vi, không cấu nhiễm, dù trải qua vô lượng vô biên số kiếp sanh tử trong vật chất, như hoa sen gần bùn mà chẳng nhiễm bùn. Hội ngộ Không Pháp, chính là Cội Nguồn của tất cả pháp, biến sanh vô tướng pháp, có tướng pháp, sắc pháp, không sắc pháp, khắp pháp giới hư không nhưng không có sự ngăn ngại lẫn nhau, như ánh sáng chồng lên ánh sáng ngang dọc, trùng trùng lớp lớp như sóng điện chồng chất, nhưng không có sự ngăn ngại lẫn nhau, hội ngộ Linh Giác, nhận biết Linh Thức, trở thành viên giác, an trụ chân tâm chân tánh, chân như, huấn tập vô minh vì thế vô minh diệt, vô minh tận thấy rõ diệu dụng chân tâm chân tánh linh minh diệu giác không thể nghĩ bàn.
Từ hồi nào đến giờ Linh Giác CHÂN NHƯ, Linh Giác VÔ MINH cũng chỉ là một, chỉ ở hai cảnh giới thức và ngủ, Mê và Ngộ chánh giác và bất giác, ở cảnh giới thức CHÁNH GIÁC, CHÂN NHƯ, thời Tổ Tiên Khai Hóa, khai lập hư không vũ trụ, ở cảnh giới ngủ BẤT GIÁC, VÔ MINH thì khởi sanh ra Linh Thức vô minh, trùng trùng lúc nhúc linh thức, rồi trở thành Linh Căn, tiến hóa lên cao hơn nữa trở thành Linh Hồn muôn loài vạn vật.
Từ hồi nào đến giờ Linh Thức, Linh Hồn vô minh, vẫn bất tử sống mãi, chỉ vì lạc Cội lạc Nguồn mê chấp sanh ra đủ thứ phiền não, trôi lăng trong sanh tử muôn nghìn vạn ức kiếp, nay nhờ thần lực của Đức Cha Trời hiển hiện thần thông. Ấn Chú Kim Cang đánh tan phiền não. Làm cho tỉnh ngộ hiểu rõ vô minh, hiểu rõ chân tâm chân tánh của mình, nhàm chán cảnh khổ sanh tử, phiền não kết tập khó mong tiêu trừ, nhanh chóng hết được, nên vô lượng vô biên Thiên Ấn Kim Cang, xuất hiện nói ra Ấn Pháp làm tan hoại phiền não, chứng ngộ chân tâm chân tánh, thành chánh đẳng chánh giác, rút ngắn thời gian trải qua vô lượng vô biên số kiếp vi trần tu luyện mau chóng hội ngộ chân tâm chân tánh, hội nhập Cội Nguồn.

* * *

CHƯƠNG IX: LONG HOA LƯỢC TRUYỆN SỐ 78
✴ LINH VỊ THỜ TRỜI✴

Ngày xửa, ngày xưa ở vào thời Thượng Hùng Vương, đến đời Hùng Cao Lang Quốc Vương, đời thứ 6 bắt đầu vào năm 2572 đến 2498 trước công nguyên, trị vì thiên hạ. Ở vùng Giao Châu có một chàng trai tên là Đơn Côi. Cha mất sớm Mẹ có chồng khác, không còn ai thân thích. Bên nội đành phải để Đơn Côi theo Mẹ về ở với Bố Ghẻ tên là Tàn Bạo. Tàn Bạo tánh tình hung dữ coi mẹ con Đơn Côi như tôi tớ thẳng tay mà đánh.
Ngoài làm mấy sào ruộng ra Tàn Bạo thường bắt Đơn Côi lên rừng đốn củi, còn Tàn Bạo thời ở nhà đem củi ra chợ bán. Cha Ghẻ thời no cơm ấm áo còn mẹ con Đơn Côi thời bữa đói, bữa no. Không may gặp năm Trời làm mất mùa, cuộc sống gặp lúc khó khăn cho cái ăn cái mặc. Tàn Bạo nhìn Đơn Côi như nhìn một gánh nặng, đôi lúc muốn vứt đi cho rồi nhưng vứt đi bằng cách nào Tàn Bạo chưa nghĩ ra.
Cho đến một hôm Tàn Bạo dẫn Đơn Côi lên rừng đốn củi, viện lý do rừng núi ở đây Nhà Nước quản lý cấm đốn củi nên dẫn Đơn Côi đi rất xa. Tàn Bạo nói: Đốn củi xong ngồi đây đợi ta đến rồi cùng về.
Đơn Côi chặt xong hai bó củi ngồi đợi Cha Ghẻ đến rồi về, chờ chờ mãi không thấy người Cha Ghẻ đến, mặt trời sắp lặn non tây. Đơn Côi kinh hãi không biết chuyện gì xảy ra bằng đi tìm người Cha Ghẻ Tàn Bạo, tìm khắp nơi nhưng không thấy người Cha Ghẻ đâu cả. Chỉ thấy một ngôi miếu đá trong đó không có ai, chỉ có một Linh Vị hình quả tim có họa hình thập tự giá. Đơn Côi không biết là Linh Vị thờ ai.
Mặt trời đã lặn, màn đêm buông xuống nhìn nơi đâu cũng thấy chập chờn sự rình mò ăn nuốt, tiếng hổ gầm rung chuyển núi non, tiếng sói, beo tru lên nghe thấy mà rởn óc. Đơn Côi sợ quá bằng chui vào Am Đá để trốn. Nào ngờ bầy hổ đánh hơi tìm tới. Chúng nhe nanh, múa vuốt thấy mà phát khiếp, một con hổ định vồ Đơn Côi. Nhưng con hổ hốt hoảng khiếp sợ bỏ đi, con nào nhìn thấy Linh Vị cũng vậy, đều sợ hãi bỏ đi.
Đơn Côi sợ quá ngất đi hồi nào không biết, đến khi tỉnh dậy thời Ông Mặt Trời đã lên cao. Đơn Côi thấy mình còn sống mừng quá la lên: Ta còn sống, Đơn Côi nghĩ: Đàn cọp tha cho mình sao, chuyện gì đã xảy ra. Đơn Côi hồi tưởng lại tất cả như chợt nhớ ra: Linh Vị quả tim trong lúc mình không biết gì nữa. Thời thấy Linh Vị Quả Tim Thập Tự Giá phát tỏa hào quang có lẽ đàn cọp sợ Linh Vị nầy. Đơn Côi không biết ý nghĩa thờ Linh Vị Quả Tim Thập Tự Giá là thờ ai mà Linh Hiển như thế. Bằng cầm lấy Linh Vị Quả Tim Thập Tự Giá làm bùa hộ mạng không sợ đàn hổ ăn thịt nữa. Đơn Côi đi mãi, nơi đâu cũng là rừng núi. Khát thời uống nước suối, đói thời ăn lá cây hoa quả, tối thời ngủ trên cây cứ như thế mười ngày đã trôi qua mà cũng chưa tìm được đường về.
Nói về người Bố Ghẻ ác độc dẫn Đơn Côi vào núi sâu rừng thẳm làm mồi cho cọp, còn mình thời trở về nhà không may trên đường đi gần đến nhà thời bị rắn cắn, nhưng hắn ráng chịu đau lê lếch cái chân sưng tím vừa về đến sân thời hắn gào thê thảm ngã quỵ xuống sân, lăn đùng ra chết. Sau khi chôn cất người chồng sau, Mẹ Đơn Côi khóc lóc kể lể cả tháng, đôi lúc ngồi một mình nhớ đến Đơn Côi có lẽ bị hổ báo ăn thịt rồi: Trời ơi là Trời sao đời tôi khốn khổ thế nầy. Người chồng trước chết bỏ tôi ở lại một mình, tuổi còn trẻ đường đời còn dài nỗi cô đơn không nơi nương tựa, đi thêm bước nữa nương nhờ cây tùng cây bách, nào hay đâu không khác gì đầy tớ. Tuy thế không trách gì ông chồng, an phận chí thú làm ăn, tuy đời sống khó khăn nhưng thuyền có lái, nhà có nóc, nay Ông ấy đã chết thời tôi biết trông cậy vào ai. Còn đứa con thời biệt tăm vô âm tín, không biết chết sống ra sao.
Lại nói về Đơn Côi cuối cùng cũng tìm được về nhà nhìn thấy mẹ ngồi ngoài xó hè gầy ốm trông có vẻ hốc hác ôm mặt than khóc kể lể mới hay người Cha ác độc đã chết. Đơn Côi cũng không cầm được giọt nước mắt, dù sao cũng là người Cha kế của mình. Mẹ Đơn Côi đang ngồi than thở cho số phận của mình chợt nhìn thấy Đơn Côi trở về lao nhanh tới ôm Đơn Côi như sợ Đơn Côi biến mất, miệng thời nói: Con của Mẹ còn sống, cảm ơn Ông Trời. Bà nhìn Đơn Côi tuy hơi ốm nhưng thần khí vẫn tươi tốt. Hai mẹ con đi vào nhà, bà như muốn biết chuyện gì đã xảy ra với Đơn Côi liền hỏi: Con đi đâu hơn cả tháng mới trở về.
Đơn Côi liền kể lại tất cả đầu đuôi, Đơn Côi thở dài nói: Người Cha Ghẻ muốn giết con cho đỡ tốn cơm nên dẫn con đến một nơi rất xa núi non trùng điệp rừng rậm bạt ngàn, nơi có cọp, beo, sói, bỏ con ở lại đó một mình làm mồi cho cọp, sói, báo. Cũng may con nhờ Linh Vị nầy cứu mạng. Bà mẹ Đơn Côi nghe xong không cầm được nước mắt nói: Mẹ đã hại con. Mẹ thề không đi bước nữa dù cho khổ đến đâu cũng ở vậy cùng con. Bà nhìn Linh Vị cứu Đơn Côi là một miếng gỗ hình Quả Tim có chạm khắc hình Thập Tự Giá, có những nốt tròn, nhất là nốt tròn ở dưới chót quả tim, có hình vuông. Bà thường nghe Cha Mẹ Ông Bà kể Trời Tròn, Đất Vuông. Bà chỉ hiểu có vậy thôi còn không hiểu gì nữa.
Từ khi Đơn Côi lập bàn thờ để thờ Linh Vị thời Đơn Côi trở nên thông minh khác thường khỏe mạnh hẳn ra, làm đâu được đó tính gì được nấy không bao lâu thời dư ăn dư để không nói là giàu. Xóm làng ai cũng khen là tài giỏi. Tiếng đồn xa đến tai Quan Phủ. Phong cho chức Lạc Điền quyền thế một vùng Giao Châu.
Một hôm Đơn Côi gặp một Đạo Sĩ thời vô cùng mừng rỡ mời về nhà. Đạo Sĩ nhìn khu vườn rộng nhưng địa cuộc thời không được tốt, ai ở khu vườn nầy thời phải chịu cảnh nghèo đói. Thế mà Đơn Côi giàu có, nhà cửa bề thế lấy làm lạ hỏi: Ông Bà, Cha Mẹ có tu phước thiện gì không? Đơn Côi nói: Không có chỉ là người bình thường không nói là không mấy thiện. Vị Đạo Sĩ làm thinh không nói gì. Đơn Côi nói: Tôi mời Đạo Sĩ là nhờ Đạo Sĩ xem cho tôi một quẻ không hiểu vì sao công chuyện làm ăn thời trôi chảy nhưng đường vợ con thời trắc trở liên miên.
Đạo Sĩ nghe xong nói: Dẫn tôi đến nơi bàn thờ Ông Bà, Cha Mẹ để tôi làm phép thời quẻ mới ứng linh, Đơn Côi liền dẫn Đạo Sĩ đến bàn thờ, thờ Linh Vị. Đạo Sĩ vừa nhìn thấy Linh Vị Hình Quả Tim có chạm khắc Thập Tự Giá, có nhiều nốt tròn cũng như hình chữ S cốt lõi Âm Dương. Trời tròn Đất vuông thời giật cả mình, Linh Vị nầy không phải Linh Vị thờ Trời sao? Đạo Sĩ hỏi: Quan Lạc Điền làm sao có được Linh Vị nầy. Không lẽ Ông Bà để lại, Đơn Côi kể lại tất cả, Linh Vị nầy là tôi thỉnh ở nơi miếu đá trên núi, cũng như những sự Linh Thiên đã xảy ra.
Đạo Sĩ nghe xong ngẫm nghĩ: Thảo nào ở khu vườn tử địa mà vẫn bình yên lại giàu có, là do Linh Vị thờ Trời nầy. Đạo Sĩ nói: Linh Vị nầy là Linh Vị thờ Trời. Có lẽ các vị Tu Tiên lập lên để thờ, người trần phàm không ai có thể hiểu được.
Đạo Sĩ hỏi: Quan có biết ý nghĩa của Linh Vị kia không ? Đơn Côi nói: Tôi không rõ.
Đạo Sĩ nói: Linh Vị nầy chính là biểu tượng Nam Mô- A Men, Linh Ấn Vũ Trụ Uy Danh Của Đức Cha Trời. Linh vị nầy không những linh thiên mà còn làm cho gia chủ thông minh, muốn gì được nấy. Nhưng Gia Chủ ở khu vườn không được tốt có thể nói là khu vườn tuyệt hậu. Muốn có vợ con suôn sẻ thời phải tìm mua một khu vườn khác. Mẹ đơn Côi nói: Tôi có một khu vườn cũ nhỏ hơn khu vườn nầy, khu vườn đời chồng trước của tôi.
Mẹ Đơn Côi dẫn vị Đạo Sĩ đến xem. Đạo Sĩ nhìn khu vườn bỏ hoang nhưng lại là khu vườn đắc địa phong thủy rất tốt. Không nơi nào tốt bằng nơi nầy, bằng nói: Hãy về đây mà ở thời con cháu đầy nhà. Trước khi từ giã Đơn Côi, Đạo Sĩ để lại bài thơ :
Thờ Trời phước đức, chuyện bình thường
Nghịch Trời, tai họa khó nghĩ lường
Chỉ cần thất kính bằng sợi tóc
Chúa Vua cũng phải, chịu tang thương
Thành tâm quy kính, nương Cội Gốc
Còn hơn châu báu, chất đầy rương
Linh Vị thờ Trời, Linh đệ nhất
Vạn kiếp nghìn đời trổ hoa hương.
Đơn Côi nhìn theo Đạo Sĩ khuất dần, khuất dần trên đường đi lòng cảm thấy bâng khuâng như rời xa người thân. Đơn Côi dời nhà đến nơi chôn nhau cắt rún quê Cha nơi sanh ra mình. Từ đó Đơn Côi cưới được một cô vợ xinh đẹp con đàn cháu đống sống cuộc đời an vui hạnh phúc.
* * *

CHƯƠNG X: HỎI – ĐÁP
VỚI THẦY NHÂN THẬP ĐẠI CƯ SĨ TRONG LỚP HỌC
VĂN HÓA CỘI NGUỒN

CÂU HỎI SỐ 1: Thưa Thầy, Thầy có thể giảng giúp con hiểu thêm về ý nghĩa của Ngày Rằm Tháng 7. Con xin cảm ơn Thầy.

THẦY NHÂN THẬP trả lời:

1. Trước hết, nói về ÂM CẢNH:
Ở nơi Âm Cảnh, có vô số linh hồn. Sau khi nhắm mắt qua đời ở Dương Gian, họ sẽ sống nơi Âm Cảnh, lâu vô số vô biên vì thân họ là khí, họ có thể sống tới 500 năm, 1000 năm, lâu hơn nữa… Họ không đọa Âm Phủ vì họ không đánh mất Lương Tâm của mình, nhưng họ cũng chưa đủ phước đức để về Trời hay đầu thai chuyển kiếp, nên họ phải sống nơi Âm Cảnh. Trong số đó có thể là: Cha Mẹ của mình, người thân của mình ở kiếp này hay nhiều kiếp trước. Trong cô hồn cũng có nhiều trẻ nhỏ, đó có thể là con của các vị vì nạn phá thai. Họ có máu thịt với mình. Trong cô hồn cũng có người thiện, người ác. Họ có thể cũng từng có nhân duyên với mình, là người giúp đỡ mình, là hàng xóm, là bạn bè, là đạo hữu, là ân nhân từng cưu mang mình lúc mình hoạn nạn… trong vô số kiếp lâu xa.
2. Nói về ý nghĩa của ngày Rằm tháng 7:
Cúng ngày Rằm tháng 7 là để tưởng nhớ và hiếu kính. Cũng là ngày trả ơn cho:
1. Những người đã phù hộ, và giúp đỡ cho mình.
2. Trả cái ơn, cái hiếu, cái nghĩa lâu đời, lâu kiếp mà nay mình đã tái sanh và quên hết tiền kiếp của chính mình.
Trong Đạo Gia: người tu Tiên thường thấy được cả những người nơi Âm Cảnh, nên họ thấy được rằng, họ còn nợ vô số vô biên ơn nghĩa khắp cùng, vì liên quan đến nhân duyên của họ, nên ngày Rằm tháng 7, nó mang ý nghĩa là ngày cứu người nơi âm cảnh. Đạo Gia khuyên học trò: vào ngày Rằm tháng 7, nên dâng cúng hương hoa trà quả… ở ngoài sân/ ngoài trời cúng cô hồn để tưởng nhớ và đem công đức của mình hồi hướng cho những linh hồn nơi Âm Cảnh, để họ có đủ phước đức đầu thai làm người hoặc về Non Tiên Cực Lạc.
Trong Đạo Phật: một số bậc giác ngộ, trí huệ của họ nương vào thần lực vũ trụ nên họ thấy khắp cùng. Họ lấy câu chuyện Mục Kiền Liên, bậc đại hiếu, đem công đức của mình để giúp cho phụ mẫu thoát khỏi địa ngục. Nên ngày Rằm tháng 7 mang ý nghĩa là ngày báo hiếu, ngày giải thoát cho những phụ thân, phụ mẫu vì đánh mất lương tâm của mình, quên đường tu mà bị nhốt nơi Địa Ngục để trở về Non Tiên Cực Lạc.
Người tu đắc đạo họ thấy được trong vô lượng kiếp của mình, đều mang ơn nghĩa với mọi người mà mình chưa trả được. Do đó, sau khi đắc đạo, họ luôn luôn trả những ơn nghĩa đó hàng ngày, hàng giờ chứ không riêng gì ngày Rằm tháng 7. Họ thường sử dụng phước đức của mình để hồi hướng, cứu cha mẹ muôn đời muôn kiếp trước, hoặc họ đem công đức của mình trả hết ân tình với xã hội và cả những người ở nơi Âm Cảnh.
Vậy tại sao phải làm điều đó?
Vì khi sanh xuống hoặc sanh lên trần gian, các vị mang nợ phụ thân, phụ mẫu mà các vị không bao giờ trả cho hết được hiếu nghĩa đó, nên các vị cần vô lượng ức kiếp để làm điều đó. Là một con người, khi sinh ra đời ai cũng nợ Cha Mẹ mình vì họ đã có công sinh thành, chăm sóc, nuôi nấng và cho mình một thân xác của tiểu thiên vũ trụ. Lớn lên, các vị nợ anh em ruột thịt giúp đỡ mình, nợ Thầy Cô, nợ ơn Tổ Quốc, ơn Đồng Bào ,và vân vân… Trong suốt hành trình lớn khôn, thành vợ thành chồng rồi đi làm, các vị nợ vô số người đã từng giúp đỡ mình. Các vị gánh nợ nhiều khủng khiếp trên thân.
Ngoài ra, ai cũng như ai, tất cả đều nợ Chánh Thân, Chánh Mẫu (Cha Trời, Mẹ Trời). Theo Văn Hóa Cội Nguồn từ thời Quốc Tổ Hùng Vương, vào các ngày mồng Một, ngày Rằm. Đó là những ngày tưởng nhớ đến công ơn của Chánh Thân, Chánh Mẫu. Gốc của Đạo Hiếu là đi từ Hiếu Đạo với Chánh Thân, Chánh Mẫu vì Chánh Thân, Chánh Mẫu đã sanh ra tiểu thiên vũ trụ. Con người chính là con của Chánh Thân, Chánh Mẫu, bản thể Linh Giác Vũ Trụ. Từ bản thể Linh Giác Vũ Trụ sanh ra tâm con người. Nên tâm con người chính là con của Linh Giác Vũ Trụ. Khi hội nhập vào bản thể nghĩa là trở về với Linh Giác Vũ Trụ. Vì thế để tròn được Đạo Hiếu, chữ Hiếu của mình cần đầy đủ với cả Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Nếu hiểu được đầy đủ chữ Hiếu thì nó to vô tận, vô biên, chứ không như Đạo Giáo, Phật Giáo nói. Con người khó ngộ được chân tâm, chân tánh của mình nên khó hiểu được tận cùng của chữ Hiếu, khó mà luận bàn cho hết được.
Có thể nói, cúng cô hồn cũng chính là cúng những người có máu huyết với các vị trong vô lượng ức kiếp. Ngày xưa, họ giúp mình thì giờ mình có cơ hội, mình hồi hướng giúp lại họ. Từ thời Quốc Tổ Hùng Vương đã giảng dạy Đạo Hiếu, cho nên nó ăn sâu vào máu huyết của Người Việt, đó chính là “Lá lành đùm lá rách”. Lấy ví dụ: để Thầy đạt đến đỉnh cao của học hành ở nước Mỹ là Thầy phải nhờ vô số ân nghĩa với các vị Thầy của mình. Nhưng nếu họ qua đời, vì chưa đủ phước duyên phải ở nơi âm cảnh. Thì chính người ở Dương Gian làm phước đức hồi hướng cho họ là tốt nhất.
Dương Gian là trường thi tốt nhất cho sự tiến hóa linh hồn. Chỉ có xuống trần gian, mới tu thành chánh quả được. Không có ai ở cõi Trời mà có thể tu thành chánh đạo. Đức Thích Ca Mâu Ni muốn thành đạo cũng phải xuống Trần Gian. Thầy nói, ở Trần Gian có Ngọc Mâu Ni quý giá vô cùng. Những ai ra công góp nhặt Ngọc Mâu Ni ở trần gian điều trở thành Phật Thánh Tiên Thần Chúa ở các tầng Trời. Người nào dùng giáo pháp đà la ni tận độ nhân chúng về Trời hoặc mở ra giáo pháp đà la ni tận độ nhân chúng về thiên đàng người đó chính là Đấng Chí Tôn. Ngài Mục Kiền Liên là bậc đại hiếu vì Ngài hiểu tuy phụ thân, phụ mẫu không tu hành nhưng họ có công sanh ra thân xác tiểu thiên vũ trụ của Ngài. Nhờ có thân xác đó mà Ngài mới tu thành đạo, đạt tới chánh quả. Nếu Mục Kiền Liên không mượn thân xác tiểu thiên vũ trụ thì muôn đời cũng không bao giờ tu được thành chánh quả. Ở Trần Gian mới có cơ hội tiến hóa linh hồn, linh căn huệ mạng nhanh nhất, giúp cho các vị trả được ơn nghĩa nhanh nhất. Vì sao lại nói thế? Vì về cõi Trời, là nơi các vị hưởng phước duyên của Trời, đâu có gì để tiến hóa linh hồn, nơi cõi Trời đâu có cái ác khảo cái thiện để tiến hóa linh hồn. Nên đâu có tạo ra phước báo gì nhiều nơi Thiên Đàng, các vị chỉ đang tiêu xài những phước đức do mình tạo trước đó, đến khi hết phước lại trở lại trần gian tiếp tục tu hành. Nên các vị lấy phước ở đâu để hồi hướng cho tất cả, để trả cái ơn, cái hiếu, cái nghĩa cho Thiên Hạ, cho Phụ Thân Phụ Mẫu và Chánh Thân Chánh Mẫu. Ví như con cái hưởng tài sản của cha mẹ, lấy phước đâu để trả ơn, trả nghĩa cho cha mẹ. Vì vậy, phải hạ phàm, tạo được phước duyên rồi đem phước duyên đó mà hồi hướng công đức, mới trả được hết tất cả những gì mà mình đã nợ trong vô số kiếp trước. Đó chính là ý nghĩa của ngày Rằm tháng 7.
Nếu mình làm trái lương tâm, có ơn mà quên ơn thì người đó chưa tu thành đạo quả của quả Phật, quả Thánh, quả Tiên, quả Thần, quả Chúa. Người đó cũng chưa thực sự đạt được giác ngộ. Vì có bao ân nghĩa mà mình phủi tay quên hết. Giống như người ta cứu mình khi hoạn nạn, tới khi người ta hoạn nạn mình lại quay đi. Vậy thì người đó có xứng đáng là vị thánh nhân cõi Trời không? Đa số thiên hạ chỉ nhìn thấy trước mắt, chứ chưa thấy được nhiều và xa xôi lắm. Nên con mắt huệ của thiên hạ, tâm kính vẫn bị mờ. Do đó, họ làm việc tâm linh theo mê tín dị đoan. Họ không hiểu ý nghĩa thực sự và sâu xa của việc mình làm, để trả ơn cho tròn, nên họ thường làm ba trúng bảy trật.
Tất cả mọi con người đều bình đẳng như nhau, có 8 muôn 4000 tánh ác và 8 muôn 4000 tánh thiện. 8 muôn 4000 tánh ác này hễ chỉ cần gặp nhân duyên của âm khí là hiện ra liền, vì họ không làm chủ được chân tâm chân tánh (hay không làm chủ lương tâm) của chính họ. Có những người hỏi Thầy:
Tại sao mình ở cõi Trời, đầu thai xuống Trần Gian mà sao tâm tánh giống như loài quỷ mới đầu thai?
Điều này có thể giải thích như sau: vào các thời Quốc Tổ Hùng Vương ra đời, hoặc thời Thích Ca Mâu Ni ra đời, hoặc thời của các vị Giáo Chủ ra đời. Đặc biệt trong thời Quốc Tổ Hùng Vương, vì đất nước của bách tộc Văn Lang, Vua, Quan, Dân đều sống theo Hiến pháp, Luật pháp và Đạo pháp, vậy nên con người sinh ra trong thời Quốc Tổ Hùng Vương họ không có phạm pháp, mà họ nhờ nền giáo dục của Quốc Đạo Tiên Rồng mà họ về Trời, mặc dù họ từ cõi âm cảnh, địa ngục sanh lên. Có nghĩa trong tâm họ chưa đạt giác ngộ nhưng vì hệ thống phát triển của đất nước Văn Lang mà đưa linh hồn của họ về cõi Trời ở. Nên linh hồn của họ chưa tiến hóa được nhiều. Do vậy khi họ đầu thai xuống chốn Trần Gian, ở thời mạc pháp họ liền bị bát phong (Lợi, Suy, Chê, Khen, Ca Tụng, Phỉ Báng, Khổ, Lạc) xoay chuyển, mà tất cả tâm của ma, quỷ hiện ra. Nên họ khó mà trở về Trời được nữa. Thầy lấy ví dụ: các vị ở Việt Nam, làm gì đi nữa thì qua Mỹ vẫn được hưởng nền văn minh của nước Mỹ. Cho nên người ở nền văn minh nước Mỹ, họ đâu có sanh ra một số tánh giống như khi ở Việt Nam.
Khi các vị về cõi Trời, nhưng tâm linh các vị khó mà tiến hóa được. Vì vậy các vị phải lâm phàm để học đạo, trải qua các kỳ thi để tiến hóa linh hồn. Thời mạc pháp, mạc kiếp này, các vị Tiên xuống Trần Gian nếu không gặp được các vị chân sư hỗ trợ về con đường của giáo pháp, thì dưới bát phong xoay chuyển của muôn vạn nẻo đường ác của cõi trần, các vị không thể trở về Trời và các vị sẽ đánh mất lương tâm mà đọa xuống âm phủ. Tại sao các vị đánh mất lương tâm của mình? Vì thời mạc pháp, âm khí ở Trần Gian thịnh nên làm cho a lại di thức của 8 muôn 4000 tánh ác sáng lên vì thế các vị làm việc ác nhưng cho là mình đúng. Người làm ác cho rằng người làm ác là đúng. Họ không hiểu được điều đó ( vì họ không làm chủ được chân tâm chân tánh, không phân biệt được đúng sai, đi ngược lại lương tâm), tâm tánh của họ đã bị nghiệp quả bấy lâu nay che mờ. Do đó khi gặp người thiện là họ nói: tụi bay làm trái Ý Trời rồi, hoặc sanh tâm phỉ báng, nghi ngờ người tu khác mình, dẫn tới phân định đúng sai theo bè phái chứ đâu có đúng sai theo lương tâm hay ý Trời. Vậy nên các vị ở cõi Trời Hạ Hạ Thiên Vũ Trụ và Hạ Thiên Vũ Trụ hạ phàm mà không gặp thời các vị ở Trung Thiên Giới hạ phàm giúp đỡ các vị, hoặc thiếu đi sự hỗ trợ, phù hộ của Cha Trời, Mẹ Trời và bản thể Linh Giác Vũ Trụ thì các vị sẽ đánh mất lương tâm của mình và mãi mãi không về Trời được. Thầy lấy ví dụ: các vị thường nghe nhà Phật nói không được nói khẩu nghiệp ác và cần tu khẩu. Tuy nhiên, các vị lên mạng nói tầm bậy tầm bạ, nói tùm lum khắp cùng. Các vị tưởng rằng các vị đúng, nhưng đó lại là khẩu nghiệp chứ khác gì đâu.
• Tại vì hễ các vị khởi cái gì thì đều sanh ra nghiệp, giống như mình đã khởi tâm phân biệt, liền sanh ra ý, ý nói ra cái khẩu gọi là khẩu nghiệp. Nếu người giác ngộ thì họ luôn làm chủ khẩu nghiệp của mình. Vì họ toàn nói lời của Thiên Ý nên tạo dựng vô lượng phước lành.
• Khẩu mà hành thì sinh ra Nghiệp. Dù cho đó là hành động dùng tay gõ trên bàn phím máy tính. Vì tay mình đã hành động. Mà hễ hành động thì sinh ra nghiệp quả. Mỗi lời nói khẩu ngôn của mình, các vị không hiểu hết được nghiệp quả đâu. Vì thế mà các vị cứ luân hồi mãi mãi.
• Ý mà chưa phát triển gọi là Y Thức.
• Ý Thức mà chưa hành động thì chưa tạo ra Quả Nghiệp. Giống như bông hoa mai mà kết hạt thì sẽ thành nghiệp quả luân hồi, thành a lại di thức của các vị. Cái đó không bao giờ mất đi được đâu, mà chỉ có lặn hay trội mà thôi.
Vì vậy Phật Thánh Tiên Thần Chúa cõi Trời Dục Giới và cõi Non Tiên hạ phàm khắp cùng nhưng vì nghiệp quả bám lấy tâm linh của mình. Gặp bát phong xoay chuyển của Trần Gian mà khiến họ không ngộ được, không phân biệt được đúng sai, chánh tà. Cho nên gọi đó là thiếu Minh Tâm Kiến Tánh.
Bản thể Linh Giác Vũ Trụ là thấy, nghe, hay, biết tự nhiên. Mà
• Thấy, nghe tự nhiên. Đó chính là kiến tánh.
• Hay, biết tự nhiên. Gọi đó là minh tâm.
Nhờ cái Kiến Tánh, Minh Tâm này mà nó mới trở thành cái gì cũng biết, toàn năng toàn giác. Nhưng hễ bản thể Linh Giác này chỉ cần khởi một sự phân biệt thì nó biến thành bọt nước linh hồn ngay.
Lại nói về ngày Rằm tháng 7, do các vị chưa thấu hiểu được hết a lại di thức của mình, những gì đã xảy ra ở kiếp trước nên các vị nghe người ta dạy mà làm theo mê tín dị đoan, và cũng chưa hiểu tại sao phải làm vậy. Khi làm mà hiểu rõ thì mình sẽ làm đúng, không mê tín, không mơ hồ. Thầy lấy ví dụ: mình đi xe ngoài đường mà hiểu luật giao thông thì sẽ đi đúng luật giao thông. Cũng tương tự, khi các vị hiểu được, các vị sẽ làm những điều đúng cho họ. Hiểu được người ở Âm Cảnh cần gì để siêu thoát, người ở Địa Ngục cần gì để siêu thoát thì mình sẽ làm điều ý nghĩa cho họ. Thầy lấy ví dụ: người bơi trên mặt nước cần phao, thì phao mới là điều giá trị với họ; người đi xe từ Sài Gòn ra Hà Nội, thì xe mới là điều giá trị với họ. Vậy, hiểu được họ cần gì để mà cho họ thứ đó. Đó mới là bậc giác ngộ. Con người thấy được, hiểu được thì mới làm đúng được. Nếu con người không thấy được, không hiểu được thì luôn luôn làm trong mơ hồ dẫn tới mê tín dị đoan.
Nhìn vào việc làm của Ngài Mục Kiền Liên, Ngài mang công đức hồi hướng vào mười phương chư Phật, rồi mười phương chư Phật sử dụng công đức của họ để cứu mẹ của Mục Kiền Liên nơi địa ngục thoát khỏi Địa Ngục mà về Non Tiên Cực Lạc hưởng phước. Ngài Mục Kiền Liên còn báo hiếu cho cả Chánh Thân, Chánh Mẫu nữa. Nên Ngài mới được coi là bậc đại hiếu, hiếu tròn từ sắc giới và cả vô sắc giới.
Mình sinh ra cái gì thì là cha mẹ của cái đó. Ví dụ Albert Einstein được gọi là cha đẻ của thuyết tương đối vì ông là người tìm ra thuyết đó. Linh Giác Vũ Trụ sanh ra tiểu thiên vũ trụ thì tiểu thiên vũ trụ chính là con của đại Bản Thể Vũ Trụ. Nói cách khác, thân xác tiểu thiên vũ trụ, con người chính là con của Cha Trời, Mẹ Trời. Vậy nên, chữ Hiếu phải hiểu cho đủ:
• Hiếu Đạo, Hiếu Đời
• Hiếu với Sắc Giới, Hiếu với Vô Sắc Giới.
Ai làm được tất cả những điều trên, người đó chính là bậc Đại Hiếu của Vũ Trụ.
Sắc giới có vô số vô biên biến đổi, nên mình nợ họ vô tận vô biên, vì kiếp nào mình cũng mượn thân xác của tiểu thiên vũ trụ nhưng đâu có trả hết được ân nghĩa đó đâu.
Đa phần, con người thường dùng cái Hiếu có giới hạn để đền đáp với công ơn vô hạn của cha mẹ ví dụ như: một người mang 10 ngàn, một vài triệu, hay tỷ bạc để biếu cha mẹ bằng sự cân đo đong đếm và tính trước tính sau, và cho rằng là tròn chữ hiếu. Việc này được xem như là chữ Hiếu có giới hạn. Trong khi tình thương, công ơn của Cha Mẹ là vô giới hạn. Tại sao nói:
Công Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Tại vì cha mẹ chính là người cưu mang, dưỡng nuôi chúng ta suốt 9 tháng 10 ngày từ lúc trong bụng mẹ. Khi vừa lọt lòng được sinh ra, thể xác con người lúc này yếu đuối nhất, sự sống mong manh nhất, chính cha mẹ là người cho ta từng giọt sữa, nâng niu, chăm sóc, bế bồng, truyền hơi ấm, tình yêu vô điều kiện, giúp ta duy trì sự sống. Nếu cha mẹ không mớm sữa cho thì mình cũng chết liền vì tay mình cầm cái gì cũng không nổi. Khi lớn lên, chính cha mẹ là những người đã dạy dỗ, có công dưỡng dục, chỉ bảo cho mình biết bao nhiêu là nhân nghĩa, đối nhân xử thế ở đời. Còn cha mẹ mà không dạy con cái nhân nghĩa thì họ mất đi chữ Dục. Họ chỉ có công Dưỡng, mà thiếu đi công Dục. Nghĩa là họ được nửa mất nửa. Còn nếu cha mẹ có đầy đủ công ơn dưỡng dục, thì công lao của họ không khác gì Cha Trời, Mẹ Trời. Cho nên người bất hiếu với phụ thân, phụ mẫu cũng là bất hiếu với Cha Trời, Mẹ Trời. Còn các vị nhận con nuôi, mà nuôi đứa trẻ đó từ nhỏ, tức là vừa có công Dưỡng, vừa có công Dục. Nếu bất hiếu với người đó thì cũng như bất hiếu với phụ thân, phụ mẫu, vì họ có công dưỡng dục tương tự như cha mẹ đẻ của đứa trẻ đó, họ nuôi đứa trẻ đó từ thời thơ ấu đến khi lớn lên. Đối với các vị nhận con nuôi mà không nuôi trẻ ngày nào thì chỉ là hữu danh, vô thực, không có nghĩa lý gì trong đó. Vì mình đâu có nuôi họ, chỉ nhận trên danh từ mà thôi. Ở phương Tây họ cũng có sự phân định rõ ràng giữa cha mẹ nuôi và cha mẹ đỡ đầu. Cha mẹ đỡ đầu chỉ là người dẫn đường công danh của họ.
Người mà không hiểu được trên đầu mình có 4 ngôi vị Tối Cao, đó là: Tổ Tiên Khai Hóa, Chánh Thân Chánh Mẫu, ông bà Tiên Tổ và cả ông bà nhiều đời nhiều kiếp, rồi kế đến là phụ thân phụ mẫu, thì chữ Hiếu của mình chỉ như hạt muối bỏ biển. Nên mình mang nợ những ngôi trên suốt đời và mãi mãi.
Các vị tu học giác ngộ, họ đều hiểu được nơi Âm Cảnh, nơi Địa Ngục cần gì để mà trả hiếu cho họ. Nếu mình làm công đức vô tận, vô biên, không biên giới rồi mang công đức đó mà hồi hướng cho ơn nghĩa vô biên đó, có nghĩa vô biên mới trả hết được cho vô biên. Nên mình trả tròn chữ Hiếu, trả tròn Đạo Hạnh, mà không mắc nợ họ. Nên người đó mới thành Phật, thành Đấng Chí Tôn được. Nếu các vị nợ đầy đầu sao thành Phật, thành Đấng Chí Tôn được. Ví như một công ty mà nợ nần chồng chất thì sao gọi là thành công cho được. Nên trả được nợ thì mình mới là người thành công. Trả được nợ mới được gọi là bậc giác ngộ. Các vị muốn trở thành bậc giác ngộ, các vị cũng cần hiểu được làm sao để trả hết được cái nợ đó.
Có một số vị, tự xưng mình là Di Lặc hay xưng danh khắp cùng nhưng thử hỏi các vị đã trả hết nợ ân tình cho sắc giới này chưa? Trong sắc giới, Thầy lấy ví dụ, các vị thấy nhà anh này khác nhà anh kia. Đôi mắt thấy sắc giới biến đổi vô tận, vô biên. Vậy lấy gì để trả được hiếu nghĩa của sắc giới đó? Còn Tâm Đạo, khi con người trở về A La Hán quả, có nghĩa mình đã hiểu được bản thể Linh Giác Vũ Trụ, có nghĩa mình đã trả được một phần chữ Hiếu cho bản thể Linh Giác Vũ Trụ. Quốc Tổ Hùng Vương chính là người đã trả được đầy đủ Hiếu cho Linh Giác Vũ Trụ, vì Ngài đã tận độ khắp cả, tận cùng thế gian, lên ngôi Tổng Đà La Ni Vũ Trụ.
Bản thể Linh Giác Vũ Trụ sanh ra tâm con người nên bản thể Linh Giác Vũ Trụ là cha tâm linh của con người, cha tâm linh của muôn loài vạn vật chúng sanh khắp cùng. Cha Trời, Mẹ Trời sanh ra thân xác tiểu thiên vũ trụ thì họ chính là cha, là mẹ. Còn người tự cho mình là Cha Thiên Hạ, nhưng họ đâu có đẻ ra thiên hạ đâu, có đẻ ra tâm linh thiên hạ đâu. Thêm nữa, mình cũng không biết mình có hiểu chữ Hiếu của mình đã tròn chưa? Có nghĩa là mình đã trả tròn chữ Hiếu cho sắc giới (những người có ơn nghĩa với mình trong vô số kiếp) và vô sắc giới (Linh Giác Vũ Trụ) chưa.
Các bậc giác ngộ, họ hiểu, nên họ thường im lặng mà tận độ cứu người, họ chỉ nói ra pháp đà la ni để tận độ nhân chúng mà thôi. Họ có thể chịu thương, chịu khó, chịu nhẫn nhục khắp cùng để cứu người. Ngoài ra họ không nghĩ gì khác nữa. Họ biết, cho dù họ nói ra cái gì cũng đều là khẩu nghiệp, nên họ chọn khẩu nghiệp thiện lành là nói ra Thiên Ý của Cha Trời để tận độ nhân loại mà thôi. Cho nên các vị khó mà hiểu được các bậc chân tu độ người như thế nào.
Hiểu được điều này, chúng ta mới có thể phân biệt được chân – giả. Ngài Thích Ca Mâu Ni khi thành đạo, Ngài không xưng là gì mà ngày đêm luôn luôn tận độ cứu người. Đức Quốc Tổ Hùng Vương đem tâm linh của mình gieo khắp cùng Trần Gian để cấy vào tâm linh thiên hạ, mang hết tâm đạo thu nạp được để rồi phân phát cho hết thế gian, giúp cho thế gian giác ngộ, trở về linh giác của mình. Vậy nên, trong khắp cùng vũ trụ này, khó ai có thể sánh được với công đức của Quốc Tổ Hùng Vương. Vì không hiểu được Đạo của Trời, cộng với các vị khi hạ phàm đã quên hết mọi thứ, nên dẫn tới tự xưng khắp cùng, nên họ thường mắc vào sai lầm trên con đường tu học và độ sanh của mình.
Lại có một số vị, nói mình tròn đạo Nhân Luân Hiếu Nghĩa trong Văn Hóa Cội Nguồn, có nghĩa các vị chỉ nói trước mắt chứ không thấy được gì trong Kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa. Thầy nay giảng giải rõ đường, thì mọi người hiểu được hiếu nghĩa của mình, từ đó mới trọn được đạo của mình. Trong Đạo Nhân Luân Hiếu Nghĩa thì chữ Nhân đứng đầu, vì chữ Nhân chính là hiểu biết (hiểu biết chính là giác ngộ), là tâm đạo. Vì chưa hiểu hết nên khó mà làm tròn được chữ Hiếu Nghĩa của kinh văn trong Văn Hóa Cội Nguồn nói chung hay ngày Rằm tháng 7 nói riêng.
Lại nữa, nhiều vị vì không hiểu mà đi chùa cúng tiền vào ngày Rằm tháng 7. Các vị cần hiểu, người ở nơi âm cảnh, người ở nơi địa ngục, họ cần gì để mà giải thoát linh hồn của của họ. Hiểu được thì làm được và sẽ làm đúng. Có như vậy, các vị mới đền được cái ơn, cái nghĩa, cái hiếu đó cho sắc giới mà khi mang thân xác phàm, mình đã nợ họ vô số, vô biên.
Còn nếu, các vị vì lợi danh mà đánh mất lương tâm và hành xử ngược lại lương tâm của mình thì sẽ rơi vào nghiệp quả của ác tánh quá lớn (xem kinh Nhơn Luân Hiếu Nghĩa) , các vị sẽ bị đọa vào Địa Ngục từ tầng 11 trở xuống. Ở nơi đó, không có Phật Thánh Tiên Thần Chúa nào cứu được. Một giây cũng phải trả nghiệp quả luân hồi, nên khó mà tưởng nghĩ đến điều thiện lành. Do vậy không thể nào siêu thoát nổi. Linh hồn của các vị sẽ trở thành linh hồn thảo mộc sau này, để rồi tiếp tục lặp lại hành trình tu luyện, tiến hóa linh hồn. May mắn lắm với họ là khi các vị đem công đức của mình mà hồi hướng cho họ thì tự nhiên họ sẽ có một chút giây ngưng nghỉ mà nghĩ về Cha Trời, Mẹ Trời, nghĩ về Nam Mô _ A Men, mà họ được siêu thoát. Nếu họ có thời gian để tưởng nhớ đến điều thiện lành, ác căn cũng dần được tiêu trừ. Còn nếu tưởng nhớ tới các vị Phật, thì nhờ các đại nguyện của các vị Phật đó mà nương nhờ vào thần lực vũ trụ, cũng cứu giúp được họ thoát khỏi địa ngục.
Các vị xuống Trần Gian, thần lực mất đi, bị nghiệp quả luân hồi bao trùm tâm linh của mình nên mình không thấy được sâu xa, nên pháp danh Nhân Thập của các vị không có hiện ra. Thật sự trong tâm của các vị luôn có đầy đủ tất cả các pháp danh, tạng tánh của vũ trụ. Nếu như tâm các vị không còn chạy theo sở nghiệp nữa và tự làm chủ lương tâm của mình, thì tự nhiên trong tâm của các vị đều hiện ra tất cả các pháp danh, nên không cần xưng mà trong tâm mình vẫn hiện ra đầy đủ. Trong chữ Nhân Thập, “Nhân” chính là tâm, “Thập” có nghĩa là toàn giác. Linh giác của vũ trụ là toàn giác, nên tâm của các vị cũng là toàn giác. Khi các vị trở về Đạo, rồi đem lượm lặt tất cả tâm linh khác mà đưa họ trở về với bản thể Linh Giác Vũ Trụ thì đó chính là đạo hạnh của Quốc Tổ Hùng Vương, Quốc Tổ luôn bố thí tâm linh của Ngài ra khắp cùng vũ trụ để cấy vào trong tâm linh của tất cả chúng sanh, rồi giúp cho các tâm linh đó nuôi lớn các chủng tánh của Đà La Ni đến khi đạt thành chánh đẳng chánh giác. Đó chính là pháp môn của Di Lặc. Khi đó tâm của các vị liền có pháp danh của Di Lặc. Tâm của các vị sẽ hiện Phật Tổ, và các vị sẽ nói theo Đạo Trời bằng tâm kinh quán tự tại. Làm được như vậy, Trong tâm các vị cũng có pháp danh Thích Ca Mâu Ni rồi. Chẳng qua là các vị không có vứt bỏ được hết nghiệp quả luân hồi và không làm chủ được lương tâm của mình và không hành theo lương tâm của mình, nên trong tâm của các vị không hiện pháp danh nào hết. Nên các vị mới xưng này xưng nọ. Còn các bậc giác ngộ đều có tất cả các chủng tánh của Đà La Ni. Họ đều có pháp danh của các vị đó vì trong tâm của họ vốn có pháp danh đó, thì cần gì phải xưng danh nữa. Đó mới thực sự là một bậc giác ngộ.
Cuối đời các vị thử ngồi nhẩm tính lại xem mình nợ bao nhiêu ân tình, và nợ bao nhiêu ơn nghĩa. Có khi nào con người chuẩn bị nhắm mắt qua đời tính được tất cả các số nợ mà mình mang theo trong 1 kiếp này không? Có ai tính được không? Một kiếp tính không nổi thì muôn vạn ức kiếp, liệu mình có tính nổi không? Mình giống như những kẻ ăn quỵt, khi nhắm mắt xuôi tay coi như chấm hết. Vậy, những con người đó có tròn đạo Nhân Luân Hiếu Nghĩa không?
Nhân Đạo thành rồi thì Tiên Đạo mới thành. Nhân Đạo chính là nền tảng. Nên nhiều người tu hoài, tu miết mà không mấy người thành Phật. Đôi khi thành Phật, chẳng qua cũng chỉ là danh từ mà mình tự xưng. Chứ thực sự đạt tới tâm Phật và sắc giới của Quả Phật là khó vô cùng. Cho nên thân tướng của các vị trên cõi Trời, có vị bự, có vị nhỏ, có vị lớn. Thân tướng của Phật ở Trung Thiên Giới là như ý. Đóa hoa sen họ ngồi là 8 muôn 4000 cánh ví như 8 muôn 4000 tạng tánh Đà La Ni của Cha Trời. Không phải tự nhiên đóa hoa sen ở Trời Trung Thiên Giới có 8 muôn 4000 cánh đâu. Mà mỗi cánh hoa sen cũng chính là một Đà La Ni chủng tánh của họ.
Các vị muốn trả hiếu được cho Cha Mẹ, hãy trả bằng tất cả tấm lòng tận tâm, tận lực. Các vị tận tâm, tận lực với Chánh Thân, Chánh Mẫu thì đó là các vị trả hiếu cho Chánh Thân, Chánh Mẫu. Các vị tận tâm, tận lực trở về, đưa tâm linh của mình giác ngộ trở về bản thể Linh Giác Vũ Trụ, đó là mình trả hiếu cho bản thể Linh Giác Vũ Trụ. Còn ra công tận lực giảng truyền đà la ni pháp, mở ra con đường đạo pháp và đem tất cả phương tiện để giúp các tất cả anh em còn lưu lạc trở về với Cha Trời và Mẹ Trời và hội ngô chân tâm chân tánh vũ trụ, thì phải nói là đại hiếu ở hàng Chí Tôn hay Tổng Đà La Ni.
Nói về hiếu nghĩa với cha mẹ thì trong cuộc sống, một người ăn xin vẫn trả được chữ hiếu cho cha mẹ như thường. Thầy lấy ví dụ: người ăn xin mà cõng mẹ đi khắp cùng đất Sài Gòn, để xin ăn, nuôi mẹ. Người đó cũng trả được hiếu cho cha mẹ. Vì sao lại thế? Có ai tính được cái công của người này không? Đâu ai tính được. Trời mưa, trời nắng cũng cõng mẹ trên lưng mà đi xin ăn. Người con phải chịu nắng sương để cho cha mẹ ngồi trên lưng mình, và làm thêm cái dù trên lưng để che nắng cho mẹ mình. Vậy các vị ngồi đây có ai tính được công đức của người đó không? Người con này xin ăn được là đưa cho mẹ ăn trước, mình ăn sau. Nước xin được cũng đưa mẹ uống trước, rồi mình uống sau. Các vị đâu có thể tính được tất cả những công lao đó, mà công đức không tính được thì có nghĩa người con đó đã đáp đền được công ơn với mẹ mình rồi. Người con đáp đền vô tận vô biên, sẽ trả được ơn nghĩa vô tận vô biên. Vì hai chữ “vô tận vô biên” trùng khớp với nhau. Còn các vị học đến tiến sĩ, giáo sư mà cả hành động và lời nói đều không tận tâm, tận lực như “ôi mẹ già rồi cần gì đâu”, gửi biếu mẹ 5, 10 triệu mà mỗi lần đưa cứ nói, cứ nhắc hoài. Có nghĩa là trả hiếu của người này còn cân, đo, đong, đếm. Vậy thì cái hiếu có giới hạn làm sao trả được, đền đáp được với cái vô giới hạn. Cho nên rất nhiều người, trả cả đời cũng không trả hết được cái hiếu cho cha mẹ mình.
Còn nói về ân nghĩa với Thầy Cô, các vị trả cả đời cũng không trả hết được ân nghĩa đối với người Thầy của mình đâu. Các vị thử suy nghĩ lại về người Thầy dạy mình. Từ nhỏ đến lớn, mình nhận được biết bao là kiến thức từ những người Thầy đã dạy mình. Vậy mình lấy gì để đền đáp công ơn của họ. Cho nên trên thế gian, người ta chỉ có thể tưởng nhớ công ơn, chứ không có trả nổi. Đó mới là đối với Thầy Cô giáo bình thường. Còn với Thầy giáo dạy mình đạo hạnh nữa. Họ giúp tâm mình giác ngộ và giải phóng nô lệ linh hồn của mình nữa, thì trả cái ân nghĩa đó biết đến chừng nào mới xong?
Tuy khó, nhưng không phải là mình không trả được. Nếu hiểu quy luật, mình sẽ trả được. Cho dù, mình là người ăn mày, hay là một giáo sư, tiến sĩ đều trả được. Mà cũng chưa chắc giáo sư, tiến sĩ đã trả được hiếu nghĩa cho cha mẹ mình đâu. Một người ăn xin vẫn trả được hiếu nghĩa cho cha mẹ như thường, nếu họ hiểu được quy luật của Trời.

Vậy vào ngày Rằm tháng 7, các vị cúng cái gì?
• Trước nhất là 3 ngôi tối cao vũ trụ. Đó chính là Linh Giác Vũ Trụ, hiện thân sắc giới Cha Trời, Mẹ Trời.
• Thứ nhì là công ơn với quê hương, đất nước, và Quốc Tổ Hùng Vương, người đã khai dựng lên non sông và để lại nền Đạo Đức cho Bách Tộc Văn Lang.
• Thứ 3, là tạ ơn Ông Bà, Cha Mẹ từ vô số kiếp lâu xa đến nay.
• Cuối cùng, chính là ơn nghĩa với Thầy Cô và những ân nhân đã giúp đỡ mình trong muôn vạn ức kiếp.
Vậy mình đem cái gì để cúng?
Hãy đem: hương, hoa, trà, quả, nước, cháo, xôi, chè… dâng lên bàn ngoài Trời, và đem luôn công đức mình làm được bao nhiêu năm cúng dường cho họ. Làm như vậy có khó gì đâu. Việc làm này chính là việc làm của một con người đã hiểu được Đạo là gì, Đức là gì, làm có mục đích, hiểu rồi làm, chứ không phải không hiểu mà đi làm. Đem tích đức của mình cho hết, hồi hướng hết là mình đã thực hành được cái đức độ đó. Mà hiểu được nguyên lý của Cội Nguồn là hiểu được tâm đạo của mình. Tuy là cho hết, nhưng người đó có gì đâu mà vướng mắc, buồn phiền hay tiếc nuối. Vì chính họ đã đạt tới đạo giải thoát linh hồn của mình. Trí huệ của người này càng sáng càng tỏ càng thấu hiểu Đạo Nhơn Luân của Trời.
Thầy nghĩ bài giảng về ý nghĩa của ngày Rằm tháng 7 chính là một phần của Đạo Nhân Luân Hiếu Nghĩa vì ngày Rằm tháng 7 các vị chân tu luôn luôn giảng về chữ Hiếu của mình và chữ Hiếu với thế gian. Tùy vào tánh giác ngộ của các vị đó mà họ giảng chữ Hiếu khác nhau. Có người chỉ giảng chữ Hiếu ở mức bình thường. Riêng đối với lớp học Văn Hóa Cội Nguồn, Thầy đã giảng rõ cái Hiếu Đạo từ sắc giới cho tới vô sắc giới, giải thích rõ cho các vị hiểu tại sao mình phải đền ơn, đáp nghĩa, phải trả cái hiếu đó.

* * *

CÂU HỎI SỐ 2: Thưa Thầy, Thầy có thể giảng giúp con hiểu cần làm như thế nào để giúp đỡ, trợ duyên cho những người đã mất? Con xin tri ân công đức của Thầy.

THẦY NHÂN THẬP trả lời: Có 2 phương pháp:

a) Pháp môn bố thí/ hồi hướng công đức
Đây chính là Pháp của Bồ Tát, hạnh của Bồ Tát: đem hết công đức, phước duyên của mình tặng cho thiên hạ. Tuy không còn phước báu, công đức nhưng Trời cho cái mới, đó là trí tuệ của Đà La Ni tạng tánh, rồi dùng nó độ hóa nhân chúng thành Phật Thánh Tiên Thần Chúa, vì thế phước lại sanh ra mãi không dứt và cứ thế mà sanh ra mãi nên tạo ra vô lượng phước đức vô tận vô biên. Ví dụ như: Một tập đoàn Amazon của Mỹ khi đi vào ổn định thì lợi nhuận của nó cứ thế mà sinh ra, nên ông chủ tập đoàn cứ giàu lại càng giàu, nên ông ta trở thành tỷ phú của nước Mỹ. Người mà hành đạo càng nhiều, tích được càng nhiều công đức rồi đem bố thí hết thảy sẽ thị hiện được 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Pháp môn này thực hiện được là do luật nghiệp quả nhân duyên liên hệ sanh ra. Tuy nhiên, thiên hạ này khó mà hiểu được pháp môn bố thí của Bồ Tát. Phước của Bồ Tát lớn vô cùng nên bố thí được nhiều.
Để hiểu pháp môn bố thí, phải hiểu được làm phước thiện nào thì cứu được một người, làm phước thiện nào thì cứu được nhiều người, làm phước đức nào đủ để linh hồn siêu thoát. Phước đức của mình ít mà mang hết cho thiên hạ thì thiên hạ khó mà giải thoát được. Ví như: việc hành thiện phát gạo cứu người nghèo đói, mình chỉ có vài ký gạo thì chỉ cứu được 1 người hoặc vài người, nếu mình có cả kho gạo thì mình cứu được nhiều người. Về bố thí công đức cũng như vậy. Nên nhiều người có quá ít công đức, không đủ để mình hưởng nữa, thì lấy gì mà nói đem cho hết thiên hạ, nên những người này cứu mình còn khó kia mà, nên khó mà cứu cha me nơi địa ngục hay âm cảnh được. Vậy muốn cứu người thì phải tích nhiều công đức lớn để có của mà cho thiên hạ và hồi hướng cho cha mẹ. Nếu mình chỉ có chút ít phước thiện do làm lành tích đức và mang công đức đó hồi hướng cho cha mẹ của mình đã mất thì cha mẹ của người đó từ từ hội đủ công đức và có đủ phước duyên mà chuyển sanh từ âm cảnh thành người nơi dương gian hoặc về Non Tiên Cực Lạc là cao nhất. Còn để siêu sanh về cõi Trời Dục Giới, hạ thiên vũ trụ, thì linh hồn đó phải tu đạo và hành đạo.
Đạo hạnh cao nhất của người tu hành chính là làm hạnh bố thí cho đời và đạo. Khi nào con người tự làm chủ bản thân và chân tâm của mình, liền hiểu ngộ các lý tính tự nhiên của Trời, liền dung hòa được các tôn giáo và làm cho xã hội phát triển thịnh vượng và ổn định. Mặt khác khi hiểu các điều như trên, con người đó liền hiện hữu thần thông của trí tuệ: giao tiếp, kinh doanh, ổn định gia đình và xã hội, phát triển xã hội và đặc biệt là giáo dục ở dạng bậc Thầy. Nên họ trở thành người gắn kết xã hội và đạo thành một khối thống nhất. Vậy một người Việt Nam cần làm gì trước mắt? Muốn truyền và giảng dạy Văn Hóa Cội Nguồn để giúp đời và đạo, thì người ấy phải hiểu thông lý tính của Văn Hóa Cội Nguồn, bằng cách là nghiệm được được tính thực tiễn của nó. Khi làm chủ được như vậy, thì được xem là người có của, để đi làm hạnh bố thí cho đời và đạo bằng cách truyền đà là ni pháp của Văn Hóa Cội Nguồn đến toàn nhân loại anh em, là đạo hạnh cao nhất của người tu hành, không còn đạo hạnh nào cao hơn nữa.
Quốc Tổ Hùng Vương mang hết tâm giác ngộ Đà La Ni Tạng Tánh của Người bố thí cho thiên hạ, nên tâm của Di Lặc hiện thân vào trong các chủng tánh của nhân loại khắp cùng thiên hạ, gieo hạt giống Phật Thánh Tiên Thần Chúa khắp cùng vào tâm con người. Tâm của Quốc Tổ trở về tâm của Cha Trời, rộng lớn vô tận vô biên, do đó Quốc Tổ là người thay thế Cha Trời để thị hiện pháp môn của Di Lặc.

b) Pháp môn tu hành
Dương gian, âm cảnh đồng tu nhất lý. Những linh hồn âm cảnh cũng có thể tự tu được, tuy nhiên sẽ khó khăn hơn người dương gian. Còn những linh hồn ở địa ngục thì không có khả năng tự tu, chỉ có thể dựa vào nghiệp quả và phước đức được hồi hướng mà giảm đi bớt thời gian đọa địa ngục.
Người tu hành cao thì tâm luôn an trụ, thấy nghe hay biết tự nhiên, mật tạng của họ đạt đến đỉnh cao của vũ trụ, nên tâm không phân biệt, tánh từ bi khắp cùng. Họ không sợ ma quỷ, thuyết kinh, giảng kinh, mở kinh để độ cho cả người dương lẫn linh hồn âm cảnh nghe. Long thần, hộ pháp xung quanh cũng đều có thể nghe được, hiểu được.
Trong các chùa, linh hồn âm cảnh thường tới nghe kinh rất nhiều. Vì họ cũng muốn nghe kinh, hiểu đạo, hành thiện để được siêu thoát.
Đối với người tu tại gia, để có thêm phước quả và giúp được những linh hồn âm cảnh, quý hiền nhân cần:
+ Thờ tự đúng. Nhất là theo Văn Hóa Cội Nguồn.
+ Tụng, đọc, phát ra âm thanh của Kinh, Thơ, Sử, Truyện, đạo pháp chân chánh nhất là kinh thơ Văn Hóa Cội Nguồn để khai tâm, khai sáng trí tuệ cho linh hồn.
Đến khi nào những linh hồn âm cảnh có đủ dương khí, phước đức, phước duyên sẽ đầu thai làm người hoặc siêu sanh về các cảnh giới cao hơn như Địa La, Thiên La.
* * *

QUYỂN SÁCH NÀY ĐƯỢC BIÊN SOẠN THEO KINH, TRUYỆN TRONG BỘ SỬ KINH
VĂN HÓA CỘI NGUỒN.

Kính mời Quý đọc giả đón đọc các quyển tiếp theo:

1. KINH NHƠN LUÂN HIẾU NGHĨA
2. KINH LONG HOA ĐẠI CƯƠNG
3. KINH LONG HOA THIÊN TẠNG
4. KINH LONG HOA PHÁP TẠNG
5. KINH LONG HOA LUẬT TẠNG
6. KINH LONG HOA MẬT TẠNG
7. KINH LONG HOA GIỚI ĐỨC
8. KINH SAU THỜI HẬU ĐẾ
9. LONG HOA LƯỢC TRUYỆN
10. SỬ TRUYỆN: VĂN LANG CHIẾN SỰ I
11. SỬ TRUYỆN: VĂN LANG CHIẾN SỰ II
12. SỬ TRUYỆN: VĂN LANG CHIẾN SỰ III
13. TẬP THƠ LỬA THIÊN – 6 tập.

Với mục đích hướng về Cội Nguồn và góp phần nâng cao nét đẹp, truyền thống văn hóa anh linh của Dân Tộc. Thầy rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý Độc Giả, Quý Đồng Bào trong và ngoài nước.
NGƯỜI BIÊN SOẠN
THẦY NHÂN THẬP
TS. CAO ĐỨC TOÀN (toancaoduc@gmail.com).
MỤC LỤC

T.T ĐỀ MỤC Từ trang Đến trang
1 ẢNH THỜ TỰ CHUẨN THEO VĂN HOÁ CỘI NGUỒN 2 2
2 CÂU ĐỐI THỜ TỰ VĂN HOÁ CỘI NGUỒN 3 3
3 LỜI MỞ ĐẦU 4 5
4 NHỮNG LỢI ÍCH KHI THỜ TỰ ĐÚNG THEO VĂN HOÁ CỘI NGUỒN 6 9
5 CHƯƠNG I: KINH HIẾU NGHĨA
1. Kinh hiếu nghĩa Cha Trời, Mẹ Trời 10 14
2. Kinh hiếu nghĩa Cha, Mẹ 15 26
6 CHƯƠNG II: NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN VỀ THỜ TỰ TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN
1. Đức Khai Hóa Tổ Tiên là ai? 27 32
2. Cha Trời, Mẹ Trời là ai? 32 34
3. Quốc Tổ Hùng Vương là ai? 34 40
4. Vì sao Đức Long Hoa Cha Trời, còn gọi là Cửu Huyền Thất Tổ? 40 41
5. Hồn Thiên Dân Tộc là ai? 41 44
Hình ảnh: THIÊN ẤN – Quả Tim Vũ Trụ thu nhỏ 45 45
6. Thiên Ấn là gì? 46 51
7. Nam Mô _ A Men nghĩa là gì? 51 53
8. Ý nghĩa của lạy 4 lạy – bái 4 bái? 53 55
9. Sự ra đời của Con Người 55 65
Hình ảnh: BÀN THỜ MẪU THEO VĂN HOÁ CỘI NGUỒN 66 67
10. Lập dựng ban thờ 68 70
11. Vì sao chỉ để một lư hương trên ban thờ 70 71
12. Ý nghĩa của việc sử dụng Chiêng – Trống – Chuông – Mõ 71 73
13. Ý nghĩa của việc thờ chim hạc 72 73
14. Ý nghĩa của Đông Bình – Tây Quả 74 75
15. Ý nghĩa của mâm ngũ quả 75 75
16. Thờ Nội Ngoại chung một bàn thờ 76 77
17. Thờ Thần Tài, Thổ Địa, Ông Công, Ông Táo 77 78
18. Có nên cúng các vị hành khiển, hành binh, phán quan vào đêm giao thừa không? 78 80
19. Ý nghĩa của ngày Tết Nguyên Đán trong Văn Hoá Cội Nguồn. 80 84
20. Những ngày Lễ trong Văn Hóa Cội Nguồn 84 86
7 CHƯƠNG III: QUỐC BẢO KHAI KINH
Khai kinh số 1: Khai Cơ 88 97
Khai kinh số 2: Giỗ Tổ Hùng Vương 98 110
Khai kinh số 3: Cầu An 111 119
Khai kinh số 4: Cầu Siêu 120 130
Khai kinh số 5: Nghi thức khai kinh nhập đạo 131 142
Khai kinh số 6: Nghi thức phong Thánh. 143 154
Khai kinh số 7: Đọc tụng Nhân Luân Hiếu Nghĩa 155 159
Khai kinh số 8: Nghi thức khai kinh Cầu Siêu 160 173
Khai kinh số 9: Nghi thức tang lễ cư gia 174 182
Khai kinh số 10: Nghi thức Cầu An. Lễ Thành Hôn. 183 187
8 CHƯƠNG IV: VĂN KHẤN Ở BAN THỜ TẠI GIA.
I. VĂN KHẤN THEO MẪU
Bài Văn Khấn Số 1 188 189
Bài Văn Khấn Số 2 190 191
Bài Văn Khấn Số 3 192 193
II. MỘT SỐ BÀI VĂN KHẤN VÀO CÁC NGÀY LỄ TẾT TRONG NĂM
1. Văn khấn mồng 1 Tết Nguyên Đán 194 199
2. Cúng dâng sao ngày Rằm tháng Giêng 200 207
3. Văn khấn Giỗ Tổ Hùng Vương, tại ban thờ Gia Tiên 208 215
4. Văn khấn 5 tháng 5, ngày 100 Ông Bà Tổ Tổ Tổ ra đời 216 218
5. Văn khấn Rằm tháng 7, trong nhà. 219 224
6. Văn khấn Rằm tháng 7, ngoài Trời 225 241
7.Văn khấn Đêm Giao Thừa, ngoài Trời. 242 247
8. Văn khấn Đêm Giao Thừa, trong nhà. 248 252
9 CHƯƠNG V: LƯỢC TRUYỆN “BÍ MẬT PHƠI BÀY KHÓ CHE MẮT THÁNH 253 264
10 CHƯƠNG VI: THIÊN ĐÀNG, TRẦN GIAN VÀ ĐỊA PHỦ
1. Địa Ngục 265 270
2. Trần Gian 270 274
3. Thiên Đàng 274 280
11 CHƯƠNG VII: NHÂN-NGHĨA-LỄ-TRÍ-TÍN TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN
1. Ý nghĩa của Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín 281 282
2. Nhân Đạo Cái Gốc Của Tất Cả Các Đạo 283 290
12 CHƯƠNG VIII: THẦN CHÚ, ẤN CHÚ CỘI NGUỒN
1. Long Hoa Vô Ngại Đại Bi Thần Chú 291 307
2. Long Hoa Bát Nhã Tâm Kinh 308 316
3. Long Hoa Thiên Ấn Mật Tạng Kim Cang Chú 317 333
13 CHƯƠNG IX: LƯỢC TRUYỆN “LINH VỊ THỜ TRỜI” 334 339
14 CHƯƠNG X: HỎI ĐÁP VỚI THẤY NHÂN THẬP
Câu Hỏi Số 1 340 358
Câu Hỏi Số 2 359 362